Wednesday, October 21, 2026

CHƯƠNG 7 - ĐỐI THOẠI VỚI NGUYỄN ĐĂNG THỤC - TỪ DÂN TỘC TÍNH ĐẾN TRIẾT LÝ VĂN HÓA: VĂN HÓA CÓ THỂ NÓI THAY MỘT DÂN TỘC?

 

ĐỐI THOẠI VỚI NGUYỄN ĐĂNG THỤC

Quốc học, tư tưởng Việt Nam và câu hỏi: Việt Nam là gì?

CHƯƠNG VII

TỪ DÂN TỘC TÍNH ĐẾN TRIẾT LÝ VĂN HÓA: VĂN HÓA CÓ THỂ NÓI THAY MỘT DÂN TỘC?

1. Luận đề trung tâm: Văn hóa là nơi tư tưởng hình thành, nhưng không phải mọi biểu hiện văn hóa đều là triết học

Muốn hiểu tư tưởng Việt Nam, không thể chỉ đọc những tác phẩm triết học được viết thành hệ thống. Phải đi vào ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, ca dao, tục ngữ, truyền thuyết và những cách người dân tổ chức đời sống. Tuy nhiên, từ việc tìm thấy tư tưởng trong văn hóa đến việc khẳng định rằng một nền văn hóa đã có một hệ thống triết học riêng là một bước chuyển lớn, đòi hỏi lập luận và chứng cứ.

Đây là vấn đề trung tâm khi đối thoại với Nguyễn Đăng Thục.

Qua các công trình như Triết lý văn hóa khái luận và Tư tưởng Việt Nam – Tư tưởng triết học bình dân Việt Nam, Nguyễn Đăng Thục mở rộng phạm vi tìm hiểu tư tưởng ra ngoài những văn bản kinh điển. Hướng tiếp cận ấy đặt ra một khả năng quan trọng: đời sống tư tưởng của người Việt có thể không chỉ nằm trong sách vở của giới trí thức, mà còn hiện diện trong kinh nghiệm sống, cách ứng xử và những hình thức biểu đạt được truyền qua nhiều thế hệ.

Nhưng chính ở đây xuất hiện một câu hỏi cần được giải quyết: khi một câu tục ngữ thể hiện kinh nghiệm sống, một truyền thuyết chứa đựng quan niệm về con người, hay một nghi lễ biểu đạt cách cộng đồng nhìn thế giới, điều gì cho phép ta gọi đó là triết học?

Luận đề của chương này là: văn hóa có thể chứa đựng những quan niệm triết lý, nhưng không thể đồng nhất toàn bộ văn hóa với triết học. Muốn đi từ chất liệu văn hóa đến nhận định về tư tưởng, cần làm rõ ý nghĩa của văn bản, hoàn cảnh hình thành, cách cộng đồng sử dụng và mức độ nhất quán của những quan niệm được rút ra.

Cách tiếp cận ấy vừa giữ được trực giác quan trọng của Nguyễn Đăng Thục, vừa tránh nguy cơ diễn giải mọi di sản văn hóa thành bằng chứng cho một triết học Việt Nam đã tồn tại hoàn chỉnh từ xa xưa.

2. Đối thoại với Nguyễn Đăng Thục: Triết lý có nhất thiết phải được viết thành sách?

Một quan niệm phổ biến về triết học thường gắn lĩnh vực này với những hệ thống khái niệm, những tác phẩm có cấu trúc lập luận và những nhà tư tưởng được ghi nhận trong lịch sử học thuật. Nếu lấy tiêu chuẩn ấy làm giới hạn tuyệt đối, phần lớn kinh nghiệm tư tưởng của những cộng đồng ít có truyền thống ghi chép bằng văn bản sẽ khó được nhìn nhận.

Nguyễn Đăng Thục đặt ra một hướng đi khác khi chú ý đến tư tưởng bình dân và những biểu hiện triết lý trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Có thể đặt trực tiếp với ông câu hỏi sau:

Thưa ông, nếu tư tưởng của một dân tộc chỉ được công nhận khi đã trở thành hệ thống triết học trong sách vở, liệu chúng ta có bỏ qua những quan niệm về đời sống, con người và đạo lý đã tồn tại trong kinh nghiệm của những người không thuộc giới trí thức hay không?

Câu hỏi này giúp nhìn thấy giá trị của việc mở rộng tư liệu nghiên cứu. Những người không viết sách vẫn có thể suy nghĩ về công bằng, nghĩa vụ, hạnh phúc, cái chết, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Họ truyền đạt những suy nghĩ ấy bằng truyện kể, tục ngữ, nghi lễ, tập quán và cách giáo dục con cháu.

Nhưng cần đi thêm một bước.

Nếu một câu tục ngữ nói rằng con người cần sống có tình nghĩa, điều đó cho thấy một chuẩn mực đạo đức được lưu truyền. Nó chưa đủ để chứng minh rằng cộng đồng đã xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về đạo đức. Nếu một truyền thuyết mô tả nguồn gốc của con người và vũ trụ, điều đó cho thấy một cách hình dung về thế giới. Nhưng để xác định nó có cấu thành một hệ thống triết học hay không, cần xem xét quan niệm ấy được triển khai như thế nào, có liên hệ ra sao với những quan niệm khác và có được cộng đồng hiểu theo cùng một cách hay không.

Vì vậy, vấn đề không phải là triết học có nhất thiết phải nằm trong sách hay không. Vấn đề là phải phân biệt các cấp độ tư tưởng.

Một kinh nghiệm sống có thể chứa đựng một nhận xét sâu sắc. Một nhận xét có thể trở thành quan niệm đạo đức. Nhiều quan niệm có thể tạo thành một khuynh hướng tư tưởng. Nhưng không phải mọi khuynh hướng tư tưởng đều đã trở thành một hệ thống triết học.

Sự phân biệt này không làm giảm giá trị của văn hóa bình dân. Trái lại, nó giúp ta đánh giá đúng hơn những gì người bình dân đã suy nghĩ, thực hành và truyền lại.

3. Tục ngữ và câu hỏi về triết lý bình dân

Hãy xem câu tục ngữ quen thuộc:

“Có công mài sắt, có ngày nên kim.”

Ở cấp độ trực tiếp, câu nói đề cao sự kiên trì và khả năng đạt mục tiêu thông qua nỗ lực lâu dài. Nó thể hiện một quan niệm về quan hệ giữa hành động và kết quả, đồng thời có thể được sử dụng để khích lệ con người vượt qua khó khăn.

Có thể xem đây là một biểu hiện của tư tưởng thực hành. Nhưng nếu muốn rút ra một triết lý tổng quát về người Việt từ câu nói ấy, ta phải đặt thêm câu hỏi.

Câu tục ngữ được sử dụng trong những hoàn cảnh nào? Nó khuyến khích sự kiên trì có suy xét hay đôi khi được dùng để yêu cầu con người chịu đựng cả những điều bất hợp lý? Người nghe có luôn hiểu nó theo cùng một nghĩa không? Có những câu tục ngữ khác nhấn mạnh sự khôn ngoan, biết lượng sức hoặc tránh làm việc vô ích hay không?

Chỉ cần đặt những câu hỏi ấy, ta đã thấy văn hóa bình dân không phải một kho tàng gồm những chân lý luôn thống nhất với nhau. Nó là nơi lưu giữ nhiều kinh nghiệm, trong đó có những kinh nghiệm bổ sung, điều chỉnh, thậm chí mâu thuẫn với nhau.

Một câu nói có thể đúng trong hoàn cảnh này nhưng không thích hợp trong hoàn cảnh khác. Kiên trì là phẩm chất cần thiết khi theo đuổi một mục tiêu có giá trị; nhưng kiên trì theo đuổi một mục tiêu sai lầm có thể trở thành cố chấp. Tôn trọng kinh nghiệm của người đi trước có thể giúp tránh sai lầm; nhưng tuyệt đối hóa kinh nghiệm cũ có thể cản trở đổi mới.

Do đó, nghiên cứu triết lý bình dân không nên chỉ sưu tầm những câu nói có thể kết hợp thành một hình ảnh hài hòa về dân tộc. Cần đặt chúng trong mạng lưới kinh nghiệm sống và xem xét cả những giới hạn của chúng.

Đối thoại với Nguyễn Đăng Thục ở đây dẫn đến một yêu cầu quan trọng: không chỉ hỏi văn hóa Việt Nam chứa đựng những tư tưởng gì, mà còn hỏi những tư tưởng ấy vận hành như thế nào trong đời sống và có thể được đánh giá bằng những tiêu chuẩn nào.

4. Truyền thuyết: Ký ức văn hóa hay bằng chứng về thế giới quan cổ đại?

Truyền thuyết là một nguồn tư liệu hấp dẫn vì nó có thể lưu giữ những cách cộng đồng hình dung về nguồn gốc, quyền lực, thiên nhiên và quan hệ giữa con người với cộng đồng.

Tuy nhiên, truyền thuyết không phải một bản ghi chép trực tiếp về thời kỳ mà câu chuyện đề cập. Một truyện kể có thể được hình thành qua nhiều thế hệ, biến đổi theo môi trường xã hội và được ghi chép lại vào một thời điểm muộn hơn thời đại mà nó mô tả.

Điều đó không khiến truyền thuyết trở nên vô giá trị. Nó chỉ đòi hỏi ta xác định đúng loại giá trị mà truyền thuyết có thể cung cấp.

Chẳng hạn, truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ kể về nguồn gốc chung của cộng đồng thông qua hình ảnh một trăm người con và sự phân chia giữa miền núi với miền biển. Trong đời sống văn hóa hiện đại, câu chuyện này thường được liên hệ với khái niệm “đồng bào”, nhấn mạnh sự cùng nguồn gốc và quan hệ giữa các cộng đồng người Việt.

Dữ kiện văn bản: Truyền thuyết về Lạc Long Quân – Âu Cơ được ghi lại trong các nguồn văn bản lịch sử và văn hóa, trong đó có Lĩnh Nam chích quái. Cần phân biệt thời điểm hình thành của các lớp truyện với thời điểm văn bản được biên soạn, chỉnh lý và lưu truyền.

Diễn giải: Câu chuyện có thể được nghiên cứu như một biểu tượng về nguồn gốc chung và sự liên kết cộng đồng. Nhưng chỉ dựa vào truyền thuyết, không thể xác nhận rằng toàn bộ cư dân cổ đại trên lãnh thổ Việt Nam có chung một nguồn gốc sinh học, hoặc rằng câu chuyện phản ánh chính xác cấu trúc xã hội của một thời kỳ xác định.

Ở đây, đối thoại với Nguyễn Đăng Thục đặt ra một câu hỏi có tính quyết định:

Nếu truyền thuyết phản ánh thế giới quan của cộng đồng, chúng ta cần phân biệt thế nào giữa thế giới quan được thể hiện trong câu chuyện và thế giới quan thực sự tồn tại trong toàn xã hội đã lưu truyền câu chuyện ấy?

Không thể trả lời bằng cách lựa chọn giữa hai thái cực: hoặc xem truyền thuyết là sự thật lịch sử theo nghĩa đen, hoặc xem nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng không có giá trị nhận thức.

Một truyền thuyết có thể không cung cấp dữ kiện đáng tin cậy về một sự kiện cụ thể, nhưng vẫn là tư liệu quan trọng để nghiên cứu cách những thế hệ sau hình dung về nguồn gốc và sự thống nhất của cộng đồng. Giá trị lịch sử của nó nằm một phần ở chính quá trình được kể lại, diễn giải và sử dụng qua các thời kỳ.

5. Khi nhà nghiên cứu tìm thấy một triết lý trong văn hóa

Một khó khăn lớn của nghiên cứu tư tưởng là sự khác biệt giữa điều có trong tư liệu và điều nhà nghiên cứu rút ra từ tư liệu.

Giả sử nhiều truyện kể và tục ngữ đề cao sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Nhà nghiên cứu có thể từ đó đề xuất rằng văn hóa Việt Nam có một khuynh hướng coi trọng sự cân bằng và thích nghi.

Đó là một giả thuyết có thể nghiên cứu. Nhưng để biến nó thành kết luận vững chắc, cần xem xét thêm những biểu hiện không phù hợp: các hình thức khai thác thiên nhiên, những xung đột về đất đai và nguồn nước, các quan niệm khác nhau giữa cộng đồng nông nghiệp, ngư nghiệp và miền núi, cũng như sự biến đổi trong quan hệ giữa con người và môi trường qua thời gian.

Nếu chỉ chọn những tư liệu xác nhận giả thuyết, nhà nghiên cứu sẽ tạo ra một hình ảnh nhất quán hơn thực tế.

Đây là nơi cần đối thoại trực tiếp với phương pháp tìm kiếm triết lý văn hóa của Nguyễn Đăng Thục. Khi ông liên kết các biểu hiện văn hóa để nhận diện những khuynh hướng tư tưởng, câu hỏi không phải là liệu cách liên kết ấy có được phép thực hiện hay không. Câu hỏi là mức độ chứng minh của từng mối liên hệ.

Sự tương đồng giữa hai câu chuyện không tự động chứng minh rằng chúng có cùng nguồn gốc. Một quan niệm xuất hiện ở nhiều vùng không nhất thiết có cùng ý nghĩa tại mỗi vùng. Một mô-típ văn hóa được lưu truyền lâu dài cũng không chứng minh rằng nó đã giữ nguyên ý nghĩa ban đầu.

Từ đó, có thể phân biệt ba cấp độ:

  • Tư liệu: văn bản, câu chuyện, tục ngữ, nghi lễ hoặc tập quán thực sự được ghi nhận.
  • Diễn giải: ý nghĩa mà nhà nghiên cứu cho rằng tư liệu biểu đạt trong hoàn cảnh cụ thể.
  • Luận đề triết học: nhận định khái quát về con người, thế giới, đạo đức hoặc xã hội được xây dựng từ nhiều nguồn và nhiều bước lập luận.

Ba cấp độ này liên hệ với nhau nhưng không thể thay thế nhau. Một luận đề triết học cần có cơ sở từ tư liệu, song không thể chỉ dựa vào một vài câu chuyện được lựa chọn riêng lẻ.

6. Một trường hợp đối chiếu: Nguyễn Trãi và giới hạn của việc suy luận từ văn bản

Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một văn bản quan trọng để nghiên cứu tư tưởng chính trị và quan niệm về quốc gia trong lịch sử Việt Nam.

Tác phẩm mở đầu bằng tư tưởng nhân nghĩa, gắn nhân nghĩa với việc yên dân và trừ bạo. Sau đó, văn bản khẳng định vị thế của Đại Việt qua những yếu tố như lãnh thổ, phong tục, nền văn hiến, lịch sử và các triều đại.

Dữ kiện: Bình Ngô đại cáo gắn với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và việc chấm dứt sự cai trị của nhà Minh. Văn bản sử dụng ngôn ngữ chính trị và đạo lý quen thuộc trong không gian tư tưởng Đông Á, đồng thời khẳng định vị thế riêng của Đại Việt.

Diễn giải: Tác phẩm cho thấy một khái niệm có nguồn gốc trong truyền thống tư tưởng rộng lớn hơn vẫn có thể được vận dụng để giải quyết vấn đề chính trị cụ thể của Việt Nam. Nguồn gốc của khái niệm không quyết định toàn bộ ý nghĩa mà nó có trong một hoàn cảnh lịch sử mới.

Tuy nhiên, không nên chỉ từ Bình Ngô đại cáo mà suy ra toàn bộ triết lý của Nguyễn Trãi, càng không thể xem một tác phẩm của một trí thức lớn là bằng chứng đầy đủ cho thế giới quan của toàn thể người Việt.

Điều đáng chú ý là văn bản vừa sử dụng một ngôn ngữ đạo lý có tính khu vực, vừa diễn đạt yêu sách chính trị của Đại Việt trong hoàn cảnh cụ thể. Sự kết hợp ấy mở ra câu hỏi về cách một truyền thống tư tưởng được chuyển hóa trong thực tiễn.

Đây cũng là điểm gặp gỡ với câu hỏi mà Nguyễn Đăng Thục đặt ra khi nghiên cứu tư tưởng Việt Nam: tư tưởng dân tộc có nhất thiết phải bắt nguồn hoàn toàn từ bên trong, hay còn có thể được nhận diện qua cách một cộng đồng lựa chọn và sử dụng những nguồn lực trí tuệ chung?

Câu trả lời hợp lý không phải là khẳng định mọi yếu tố vay mượn đều đã được Việt hóa, mà là nghiên cứu từng trường hợp cụ thể. Có sự tiếp nhận mang tính mô phỏng; có sự tiếp nhận nhằm thích ứng; cũng có trường hợp khái niệm cũ được sử dụng để diễn đạt một yêu cầu mới. Phải phân tích văn bản và bối cảnh mới có thể xác định trường hợp nào đang diễn ra.

7. Triết lý văn hóa và câu hỏi về tính phổ quát

Nếu nghiên cứu văn hóa Việt Nam chỉ nhằm chứng minh rằng người Việt có những đặc điểm hoàn toàn khác các dân tộc khác, ta có nguy cơ biến sự khác biệt thành mục tiêu tự thân.

Nhưng nếu chỉ nhấn mạnh rằng mọi dân tộc đều có những nhu cầu cơ bản giống nhau, ta cũng có thể bỏ qua cách những nhu cầu ấy được diễn đạt và tổ chức khác nhau trong từng xã hội.

Con người ở nhiều nền văn hóa đều phải đối diện với sinh tồn, công bằng, tình thân, quyền lực, cái chết và ý nghĩa cuộc sống. Điều khác nhau nằm ở cách các cộng đồng diễn giải những vấn đề ấy, xây dựng chuẩn mực và tổ chức đời sống để đáp ứng chúng.

Vì vậy, một triết lý văn hóa có giá trị không nhất thiết phải chứng minh rằng dân tộc mình độc nhất vô nhị. Nó cần giải thích được kinh nghiệm cụ thể của cộng đồng, đồng thời cho thấy kinh nghiệm ấy đóng góp gì vào những câu hỏi chung của nhân loại.

Đây là một hướng đối thoại quan trọng với Nguyễn Đăng Thục. Nghiên cứu tư tưởng Việt Nam không nên chỉ là công việc tìm kiếm những gì khác biệt với Trung Hoa, Ấn Độ hay phương Tây. Nó còn cần nhận diện những điểm gặp gỡ, những hình thức tiếp biến và những khả năng đóng góp của kinh nghiệm Việt Nam cho cuộc đối thoại tri thức rộng lớn hơn.

Nếu một quan niệm được xem là có giá trị chỉ vì nó được gọi là truyền thống Việt Nam, thì nguồn gốc dân tộc đã thay thế cho việc đánh giá nội dung. Ngược lại, nếu một quan niệm chỉ được xem là có giá trị khi được xác nhận bởi một trường phái nước ngoài, thì Việt Nam vẫn chưa có được sự tự chủ trong tư duy.

Cần một tiêu chuẩn khác: tư tưởng ấy giải thích được điều gì, có căn cứ đến đâu, giúp con người hiểu rõ hơn những vấn đề nào và có thể được vận dụng ra sao?

8. Từ triết lý văn hóa đến năng lực tự đổi mới của dân tộc

Từ góc nhìn Hưng Quốc Học, việc tìm hiểu triết lý văn hóa không nên dừng lại ở câu hỏi người Việt từng nghĩ gì. Cần tiếp tục hỏi những di sản tư tưởng ấy có thể giúp xã hội hiện nay giải quyết những vấn đề gì, và phần nào cần được điều chỉnh.

Một truyền thống đề cao tình nghĩa có thể góp phần nuôi dưỡng sự tương trợ. Nhưng nếu tình nghĩa được dùng để biện minh cho việc ưu tiên người thân, nó có thể xung đột với công bằng và pháp quyền.

Một truyền thống coi trọng cộng đồng có thể hỗ trợ sự hợp tác. Nhưng nếu cộng đồng không chấp nhận quyền khác biệt, nó có thể hạn chế tự do cá nhân.

Một truyền thống kính trọng người đi trước có thể giúp duy trì sự tiếp nối giữa các thế hệ. Nhưng nếu sự kính trọng biến thành cấm đoán chất vấn, nó có thể làm suy yếu khả năng sửa sai.

Những ví dụ này cho thấy không thể đánh giá di sản văn hóa chỉ bằng nguồn gốc hay tuổi đời. Cần xem xét cả tác dụng, giới hạn và điều kiện vận hành của nó trong xã hội hiện đại.

Hưng Quốc Học đề xuất một nguyên tắc: di sản cần được hiểu, lựa chọn và chuyển hóa; không nên bị tôn thờ chỉ vì nó thuộc về quá khứ. Đây là lập trường của Hưng Quốc Học trong cuộc đối thoại với Nguyễn Đăng Thục, không phải một kết luận được gán cho ông.

Một dân tộc mạnh cần hiểu nguồn gốc tư tưởng của mình, nhưng đồng thời phải có khả năng chất vấn những quan niệm đã trở thành thói quen. Năng lực tự phê bình không phải dấu hiệu của việc từ bỏ bản sắc. Đó là điều kiện để bản sắc không trở thành một hệ thống đóng kín.

9. Kết luận: Văn hóa là điểm khởi đầu, không phải câu trả lời cuối cùng

Nguyễn Đăng Thục có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu tư tưởng Việt Nam ở chỗ ông hướng sự chú ý đến những nguồn tư liệu và những hình thức tư tưởng nằm ngoài phạm vi kinh điển quen thuộc. Cách tiếp cận ấy mở ra khả năng tìm hiểu triết lý trong đời sống, thay vì chỉ giới hạn triết học vào những tác phẩm được công nhận chính thức.

Nhưng từ đó không nên đi đến kết luận rằng mọi biểu hiện văn hóa đều là triết học, hoặc rằng những tư liệu dân gian có thể tự mình chứng minh sự tồn tại của một hệ thống tư tưởng thống nhất qua hàng nghìn năm.

Muốn hiểu tư tưởng Việt Nam, cần đi từ văn bản đến hoàn cảnh, từ hoàn cảnh đến cách diễn giải, rồi từ nhiều trường hợp cụ thể mới xây dựng những nhận định tổng quát. Cần chú ý cả sự tiếp nối lẫn mâu thuẫn, cả những giá trị được truyền lại lẫn những quan niệm đã bị thay đổi hoặc loại bỏ.

Cuộc đối thoại với Nguyễn Đăng Thục vì thế không kết thúc ở việc xác nhận rằng văn hóa Việt Nam có triết lý. Nó mở ra câu hỏi khó hơn: những triết lý nào đã hình thành, chúng phục vụ những nhu cầu nào, được ai duy trì, biến đổi ra sao và có thể giúp con người hôm nay sống tốt hơn như thế nào?

Văn hóa cung cấp chất liệu để tư duy. Lịch sử giúp ta hiểu chất liệu ấy hình thành trong hoàn cảnh nào. Triết học đặt ra câu hỏi về tính nhất quán, căn cứ và ý nghĩa của những quan niệm. Còn một xã hội có năng lực phát triển phải biết chuyển hóa hiểu biết ấy thành giáo dục, thể chế và hành động.

Một dân tộc không trưởng thành chỉ bằng cách kể lại những gì cha ông đã nghĩ. Dân tộc trưởng thành khi biết hiểu di sản, phân biệt điều còn giá trị với điều cần thay đổi, rồi tiếp tục sáng tạo những câu trả lời của chính mình.

Hoàng Phong Nhã 

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đăng Thục, Dân tộc tính, Diễn đàn Văn hóa Vụ, Sài Gòn, 1955.
  2. Nguyễn Đăng Thục, Triết lý văn hóa khái luận, Văn hữu Á Châu, Sài Gòn, 1959.
  3. Nguyễn Đăng Thục, Văn hóa Việt Nam với Đông Nam Á, Văn hóa Á Châu, Sài Gòn, 1961.
  4. Nguyễn Đăng Thục, Tư tưởng Việt Nam – Tư tưởng triết học bình dân Việt Nam, Khai Trí, Sài Gòn, 1964.
  5. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, các tập, Phủ Quốc khanh đặc trách Văn hóa, Sài Gòn, từ năm 1967; cần đối chiếu ấn bản cụ thể khi trích dẫn.
  6. Nguyễn Đăng Thục, Quốc học Việt Nam, Kinh Thi, Sài Gòn, 1974.
  7. Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo; cần xác định ấn bản được sử dụng khi trích dẫn nguyên văn.
  8. Lĩnh Nam chích quái, các bản phiên dịch và khảo cứu văn bản; cần phân biệt lịch sử văn bản với thời điểm của các truyền thuyết được ghi chép.
  9. David G. Marr, Vietnamese Tradition on Trial, 1920–1945, University of California Press, 1981.
  10. Anthony D. Smith, The Ethnic Origins of Nations, Blackwell, 1986.

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code