Showing posts with label GIOI VA PHAT TRIEN. Show all posts
Showing posts with label GIOI VA PHAT TRIEN. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA PHỤ NỮ

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Vai trò của phụ nữ, vấn đề nữ giới trong việc quyết định các chính sách về đất đai là một yếu tố để đảm bảo thành công việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, xây dựng xã hội dân sự. Đảng và Nhà nước ta đã xác định, tăng cường bình đẳng về giới, lồng ghép các vấn đề giới vào các chính sách, chương trình và dự án phát triển là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo.
Nhìn vào các một số quy định hiện hành, Nhà nước ta không có sự phân biệt về chính sách theo giới, nam/nữ bình đẳng trước pháp luật về đất đai. Điều 105, 106 và 108 Luật Đất đai năm 2003 quy định, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất có các quyền chung của người sử dụng đất. Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ghi nhận: “1- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. 2- Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, phải ghi tên cả vợ và chồng”1. Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Điều 48 khoản 3: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng”. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định “tất cả những giấy tờ, đăng ký tài sản gia đình bao gồm cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được ghi cả tên vợ và chồng”. Tại Điều 5 của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP còn quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng đã đăng ký quyền sở hữu mà chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên cả vợ và chồng. Nếu vợ, chồng không yêu cầu cấp lại giấy đăng ký tài sản thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật đã đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà có ghi tên vợ và chồng, có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: vợ chồng có quyền để lại thừa kế tài sản cho nhau, nhưng con dâu trong gia đình lại không thuộc hàng thừa kế2. Di sản của cha mẹ chồng muốn cho con dâu một phần thì phải viết đích danh tên con dâu trong di chúc. Đây chính là mặt hạn chế trong thực tiễn đời sống cũng như pháp luật dân sự của chúng ta. Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Khi chết, không phân biệt nam hay nữ, đều có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất. Pháp luật cũng không phân biệt nam hay nữ là người nhận thừa kế quyền sử dụng đất. Trong hai vợ chồng, khi có một người chết trước thì người còn lại có quyền hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất. Theo Điều 666 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Điều 31 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: vợ, chồng có quyền để lại thừa kế tài sản cho nhau. Nhưng Điều 669 của Bộ luật Dân sự năm 2005 lại quy định “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, vợ, chồng “được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này”.
Đối với gia đình Việt Nam, dù ở nông thôn hay ở thành phố, nhà ở, đất đai (đất ở, đất canh tác, đất lâm nghiệp) luôn có giá trị đặc biệt lớn và rất quan trọng trong khối tài sản được coi là bất động sản của mỗi hộ gia đình. Trước đây theo truyền thống, phần lớn nam giới là người đứng tên chủ sở hữu các tài sản thuộc về chủ hộ. Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam cho biết, có 79,7% hộ gia đình ở đồng bằng và 82,1% hộ gia đình ở trung du – miền núi do nam giới làm chủ hộ đang đứng tên chủ sở hữu nhà ở và đất ở. Còn tại thành phố, do tỷ lệ phụ nữ được phân nhà dưới thời bao cấp cao, nên số phụ nữ đứng tên chủ sở hữu nhà cao hơn ở nông thôn, tỷ lệ này là 19,2% và chỉ có 49,8% nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở3.
Việc pháp luật quy định tất cả những giấy tờ, đăng ký tài sản gia đình bao gồm cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được ghi cả tên vợ và chồng là yếu tố pháp luật mang tính tiến bộ, là sự minh chứng cho sự bình đẳng giới giữa vợ và chồng. Cũng nhờ vậy, mà trách nhiệm pháp lý của cả vợ và chồng trong việc quyết định sử dụng, quản lý tài sản, nhất là khối tài sản lớn là đất đai, nhà ở sẽ tăng lên, tác động đến khả năng khai thác hiệu quả hơn nguồn tư liệu sản xuất.
Đồng thời, khi quyền sử dụng và sở hữu các tài sản lớn trong gia đình đều được cả vợ và chồng đứng tên, thì người phụ nữ đã có được quyền đồng sở hữu tài sản, quyền được sinh sống và hưởng hạnh phúc trong chính ngôi nhà họ đã tạo lập cùng với các tài sản gia đình. Họ sẽ ổn định về mặt vật chất, tâm lý, tình cảm. Đây chính là ý nghĩa to lớn về mặt pháp lý mà pháp luật đã tạo ra cho người phụ nữ và cho sự bình đẳng giới.
2. Một số kiến nghị bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy pháp luật ngày càng có nhiều quy định bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ, từng bước khẳng định chỗ đứng của họ trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên trên thực tế, những quyền về tài sản, trong đó có quyền sử dụng đất, của người phụ nữ còn nhiều bất cập, như trường hợp vợ làm ruộng, chồng làm cán bộ công tác xa nhà, trong thời gian chung sống họ đã xây dựng trên đất của cha mẹ chồng cho (không làm văn bản) một ngôi nhà, nhưng khi ly hôn, người vợ không được chia tài sản là nhà đất, vì nhà đó xây dựng trên đất của nhà chồng. Có trường hợp, cha mẹ chồng giúp các con, cho các con một phần tiền để làm nhà riêng. Nhưng khi các con ly hôn thì lại coi là nhà xây dựng lên là tiền của mình, nên đã đòi lại con trai và con dâu. Hay có trường hợp khi chồng chết, họ hàng nhà chồng đến lấy hết tài sản, đuổi con dâu đi khỏi nhà. Do đó, để bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, chúng tôi đề nghị:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cần được sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến thủ tục kê khai xin cấp GCNQSDĐ phải có xác nhận của cả vợ và chồng. Trong phần kê khai để cấp GCNQSDĐ phải có phần kê khai tình trạng hôn nhân của chủ sử dụng. Đây chính là một căn cứ quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình xin cấp giấy và sau khi đã được cấp GCNQSDĐ.
Thứ hai, pháp luật cần phải quan tâm hơn đến quyền lợi của nữ giới, quyền của người vợ, người mẹ có một chỗ ở sau khi ly hôn để có thể ổn định cuộc sống, tạo điều kiện chăm sóc con cái và giúp những đứa trẻ sẽ đỡ bị tổn thương, thiệt thòi trong giai đoạn đang học tập và trưởng thành.
Thứ ba, cần nghiên cứu từng bước để pháp luật quy định cụ thể: con dâu được hưởng di sản thừa kế của gia đình nhà chồng. Phần tài sản họ được hưởng sẽ bù đắp một phần công sức đóng góp, duy trì, bảo vệ khối tài sản trong gia đình nhà chồng trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp. Đây là một yêu cầu chính đáng của phụ nữ.
Thứ tư, các quyết định liên quan đến việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng đất, bất động sản do vợ chồng cùng tạo lập, được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân phải được trao đổi, bàn bạc, thoả thuận thống nhất ý kiến bằng văn bản của cả vợ và chồng.
Chú thích:
(1) Xem Khoản 1 và Khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2000.
(2) Nguyễn Thị Mai, Vụ pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp, Công trình nghiên cứu: “Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế đối với phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam”, Chủ nhiệm Ngô Bá Thành, Cuốn 1, tr. 251.
(3) Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu, Đỗ Thị Bình: Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (khu vực phía bắc) Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ
Trích dẫn từ:
http://www.nclp.org.vn/chinh_sach/phap-luat-111at-111ai-va-van-111e-bao-

Friday, November 22, 2013

PHẬN ĐÀN BÀ NGÀY NAY


 BS. NGUYỄN KHẮC VIỆT
Sinh thời, ngoài những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hoá, giáo dục…Đời sống phụ nữ và trẻ em cũng là chủ đề được nhà văn hoá lớn, BS. Nguyễn Khắc Viện đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết. Nhờ tấm lòng nhân ái bao la, vốn kiến thức khoa học xã hội, tâm lý…uyên bác và phong phú, dẫu trải qua nhiều thời gian, không ít bài viết của BS. Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Bài Phận đàn bà ngày nay được BS. Nguyễn Khắc Viện viết từ thập kỷ 60, thế kỷ trước là một thí dụ điển hình.
                         Đau đớn thay phận đàn bà
                                                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                                                   (Kiều – Nguyễn Du)
Thế nào là phận? Phận đàn ông, phận đàn bà, phận làm con, làm tôi, làm vua; đó là cái phận mà cuộc sống trong xã hội dành cho mỗi người. Có thân phận, bổn phận, danh phận, chức phận, phận sang, phận hèn, và nếu có ngẫu nhiên chen vào là số phận.
Phải chăng Nguyễn Du đã đúc kết với hai câu thơ cái phận khổ đau của đàn bà trong xã hội cũ, của mọi người phụ nữ xưa? Cái phận đàn bà xưa là phận của một con người suốt đời là vị thành niên, làm con, làm vợ, làm mẹ để phục vụ cha, chồng, con. Mà không riêng gì ở các nước phương Đông hay Nho giáo; ở Đức ngày xưa người ta cũng chỉ giao phó cho đàn bà ba nhiệm vụ, với khẩu hiệu 3k đó là: Kinder (con), Kuche (bếp) và Kirche (nhà thờ). Không có phận làm công dân, giữa làng, giữa nước. Đàn bà cũng không được làm linh mục, giáo hoàng.
Tôi không bàn đến cái khổ cực của người đàn bà nhà nghèo chịu hai tầng áp bức bóc lột; người đàn bà trung lưu con nhà khá giả, như cô Kiều, cô Vân thì sao? Kiều thì khổ, Vân thì không. Vân rất an phận làm người đàn bà, cả một nền giáo dục, lễ nghi tín ngưỡng đã tạo cho Vân một tâm lý an phận, gặp được bố mẹ nhân từ, chồng thành đạt, con ngoan là thoả mãn không ước mơ gì hơn.
Vì Vân không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu. Xã hội cũ phân chia phần, xếp ghế đâu đấy cho mỗi người, ai chấp nhận cái tôn ti trật tự ấy là sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Chỉ có những người đàn bà có học, có tài mới khổ, mà phải thốt lên
Thân này giả sử làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?
(Hồ Xuân Hương)
Freud cho rằng mỗi em gái đều có những lúc mơ ước làm trai; có lẽ điều ấy trong xã hội xưa chỉ đúng với những người đàn bà có tài. Mơ ước làm đàn ông, theo Freud, ở thời thơ ấu là có được "Con chim", tôi nghĩ rằng mơ ước chủ yếu là có một sự nghiệp giữa xã hội, cho nên lúc còn ngây thơ thì mơ được có "con chim". Trong một xã hội do đàn bà ngự trị, có lẽ con trai mơ ước có cặp vú nở nang.
Hãy xét hoàn cảnh của một người đàn bà tiêu biểu cho thời đại hiện nay: Một cán bộ hay công nhân có sức học khá, có một vị trí nhất định giữa xã hội. Rõ ràng khác hẳn với thân phận người đàn bà xưa; xã hội ít nhất cũng đã phó cho quyền được lập một sự nghiệp riêng, không ai có thể an phận với con cái, bếp núc, nhà thờ nữa. Làm vợ, làm mẹ, xây dựng sự nghiệp, trong cái phận đàn bà không thể bỏ vế nào cả.
Hiến pháp, pháp luật mới cho họ cái quyền có một sự nghiệp riêng. Còn xây dựng được sự nghiệp hay không, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ làm vợ, làm mẹ lại là cả một vấn đề. Được quyền tự do là một chuyện, còn đủ điều kiện để thực hiện quyền tự do ấy lại là chuyện khác. Có thể thất bại, có thể thành công. Đẹp nhất là hoàn thành cả ba vế, trăn trở khổ ải là những lúc nhiệm vụ này mâu thuẫn với nhiệm vụ khác. Và khó mà tránh mâu thuẫn.
Làm vợ, làm mẹ, xây dựng sự nghiệp riêng cả ba nhiệm vụ đều đòi hỏi sự toàn tâm toàn ý. Người ta thường bảo, người mẹ tuy chia tấm lòng cho nhiều đứa con, vẫn hiến cho từng đứa tất cả lòng yêu thương của mình. Chia ra từng phần mà vẫn giữ nguyên vẹn Bài toán khá học búa. Nhất là trong một xã hội quá độ.
Quá độ có nghĩa là mới xác định nguyện vọng, phương hướng, nhưng hạ tầng vật chất còn sơ sài, trong thượng tầng xã hội tư tưởng còn rơi rớt nhiều cái cũ. Nguyện vọng đã giao rồi, và ngày ngày báo chí, đài, phim, sách đề cao những người đàn bà làm nên sự nghiệp, không ai an phận được nữa với cảnh bếp núc.
Trong hoàn cảnh nước ta sự nghiệp của vợ khó mà không mâu thuẫn với sự nghiệp của chồng. Và cũng trong lúc quá độ, thường sự nghiệp của chồng đối với gia đình, với xã hội vẫn quan trọng hơn của vợ, vợ khó mà không buộc phải hy sinh phần của mình. Khách thường là của chồng, nhưng vợ dù có bận gì ở cơ quan xí nghiệp cũng phải chợ búa, nấu nướng đãi khách. Cũng vì còn là quá độ, nên con thường hơn cha, đúng hơn nữa là hơn mẹ. Học hành của con lên đến đại học, ít bà mẹ có thể so sánh được, và thi cử của con nhất định phải đặt lên trên nguyện vọng của mẹ; nói gì lúc con đi học nước ngoài hay thi tiến sĩ! Các bà vợ, bà mẹ đành ôm lấy ước mơ học tập phấn đấu hoàn thành công trình này hay nhiệm vụ khác, câu chuyện phục vụ chồng con vẫn choán hết sức khoẻ và thời gian. Mẹ thôi không nhắm là thư ký công đoàn nữa cũng được, đối với gia đình quan trọng hơn là chồng được lên trưởng phòng hay vụ trưởng hoặc đứa con được vào đại học hay đi nghiên cứu nước ngoài. Không ai nghĩ ngược lại. Con mới học trung học thì mẹ đã giành lấy áo quần mà giặt. Giặt nhưng vẫn ấp ủ ước mơ học thêm một môn nào đó, hoàn thành một công trình khoa học hay văn nghệ, được kết nạp Đảng hay trở thành giám đốc.
Làm vợ, làm mẹ không những chỉ đòi hỏi vất vả thức khuya dậy sớm, không còn thời gian làm gì khác. Quan hệ vợ chồng chung chăn chung chiếu, quan hệ mẹ con, khi cho bú, khi bế bồng tắm rửa là những quan hệ ruột thịt, giữa hai xác thịt với nhau, khác hẳn quan hệ với những người khác. Thông thường quan hệ giữa người và người đều thông qua ngôn ngữ, lời nói chữ viết, một dấu hiệu nào đó; lời nói dùng để truyền đạt ý nghĩa rất thuận lợi, nhưng lời nói cũng là cách dễ nhất để che giấu ý nghĩ của mình. Quan hệ giữa vợ chồng và mẹ con nằm ngoài ngôn ngữ, là trao đổi giữa hai xác thịt, khó che giấu, khó lừa dối nhau được. Đồng sàng mà dị mộng, nằm bên chồng, bên con mà đầu óc suy nghĩ trăm thứ, tâm bất tại, lo đến lời phát biểu ngày hôm sau ở một hội nghị hay một kỳ thi sắp đến, một câu thơ, bức tranh đang thai nghén, người chồng và đứa con nhỏ biết ngay là vợ là mẹ không toàn tâm với mình. Lời nói có dịu dàng ve vuốt đến đâu cũng không che đậy nổi.
Được bao nhiêu ông chồng, đứa con đang sống trong một xã hội còn đầy rẫy tư tưởng xưa thông cảm hết nỗi này. Chưa nói đến những người chồng tàn tệ, những đứa con bội bạc. Biết bao nhiêu người đàn bà có học, có tài rồi cũng đành phải để tài năng mai một trong một cuộc sống không khác thời xưa bao nhiêu, là đành lấy việc phục vụ chồng con, để chồng con hoàn thành sự nghiệp. Không thể lấy một vài trường hợp cá biệt thành công để khẳng định rằng xã hội ta đã giải quyết vấn đề phụ nữ một cách cơ bản. Chưa qua được thời kỳ quá độ, phụ nữ chưa thật sự được giải phóng, đừng lấy khẩu hiệu mà che đậy sự thật ấy. Nếu pháp luật đã công nhận quyền tự do bình đẳng của phụ nữ, và đây là một thành tựu lớn, chúng ta vẫn phải nhìn thẳng vào sự thật là việc thực hiện quyền ấy còn xa xôi.
Và nhiều người phụ nữ ngày nay vẫn còn phải thốt lên:
Vất vả thay phận đàn bà
Bên là sự nghiệp, bên là chồng con
Chúng ta không thể nói liều là trong hoàn cảnh khách quan khó khăn vẫn có khả năng đạt trình độ văn hoá cao; chỉ có thể xác định một chiến lược, nghĩa là khi chưa đủ điều kiện, cần tập trung sức lực vào một khâu chủ yếu, vào một thời gian quyết định. Mà đã nói đến chiến lược tất phải hy sinh một hay những mặt nào đó, không thể như nhiều nghị quyết thường viết ưu tiên mặt này, đồng thời bảo đảm thực hiện mặt kia; đã ưu tiên mặt này tất đành tạm bỏ mặt kia.
Trong đời một người đàn bà, vất vả nhất mà cũng quan trọng nhất là thời gian nuôi con mọn, từ lọt lòng đến 15 – 18 tháng, lúc con biết đi và biết nói thực sự. Trước đó là tuổi bế bồng, đứa con hoàn toàn bất lực, hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ. Trong lòng mẹ, cái thai tiếp nhận tất cả chất liệu để sống từ cơ thể của mẹ, đó là giai đoạn cộng sinh. Lọt lòng, sữa mẹ là thức ăn không gì thay thế được, và nằm trong lòng mẹ, hơi ấm của mẹ toả ấm khắp người, hơi hám của mẹ bao lấy mình, đứa con có cảm giác vừa dễ chịu thoải mái, đây là hạnh phúc tuyệt đối và con người ta lớn lên, mỗi lần ra đời vấp váp gì không vượt qua, cách an ủi hay nhất là trở về ngả đầu vào lòng mẹ; các tôn giáo cũng không nghĩ ra một cảnh thiên đường nào hơn là cho người tín đồ ngả vào lòng một đức Thánh Mẫu.
Em bé không những tiếp nhận từ mẹ những gì để sống về mặt sinh lý, quan trọng hơn nữa là sự trao đổi chơi đùa, trò chuyện giữa mẹ và con suốt ngày hú hí với nhau. Nếu quan hệ giữa hai cơ thể là tiền ngôn ngữ, thì lúc dùng đến ngôn ngữ cũng chưa phải là ngôn ngữ chung của xã hội, mà một thứ ngôn ngữ riêng cho hai mẹ con, chỉ hai mẹ con hiểu lấy nhau, vì thực chất về mặt tâm lý bản ngã của em bé chưa hình thành, chưa tách rời mẹ, đứa con còn ở giai đoạn hoà mình với mẹ. Cạnh một em bé trước 15-18 tháng, luôn phải có một người mẹ với hai đức tính cơ bản:
  • Luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con bất kỳ lúc nào, không thể mượn cớ này, cớ khác trì hoãn sự đáp ứng ấy.
  • Em bé chưa biết nói, người mẹ phải rất nhạy cảm với yêu cầu của con, con chỉ vặn mình hay ú ớ một tiếng là mẹ biết ngay con đang cần gì. Ai cũng biết nhiều bà mẹ có thể ngủ say giữa tiếng ồn ào của xe cộ qua lại, nhưng hễ con kêu lên một tiếng nhỏ là tỉnh ngay.
Có hai đức tính ấy, là người mẹ hiền. Người nào chăm sóc một em bé như vậy, dù không sinh ra nó đối với nó vẫn là mẹ hiền. Đối với những đứa con nhà giàu, bà mẹ thường giao lại cho một bà vú em chăm sóc, thì chính vú em là mẹ. Bertold Brecht trong vở kịch "Vành phấn côcadơ" đã nói rõ quan điểm này.
Không có người mẹ hiền đứa con không khôn lớn lên được. Spitz một nhà Tâm lý học Mỹ, đã theo dõi 91 em bé được mẹ chăm sóc ba bốn tháng đầu, về sau vì lý do này, lý do khác bà mẹ bỏ con, giao lại cho những nhà trẻ. Ở đây các em về mặt ăn uống về sinh được chăm nom rất đầy đủ, nhưng thiếu những bà mẹ hiền ngày ngày hú hí trò chuyện, dần dần nhiều em sinh ra đờ đẫn, bỏ ăn, bỏ chơi, rất nhiều em suy sụp về cơ thể, sinh bệnh. Sau hai năm 34 em trong 91 chết bệnh; đây là một tỷ lệ tử vong khủng khiếp.
Thiếu mẹ hiền trẻ em không thành người được. Ngược lại một người đàn bà không bao giờ nuôi một đứa con mọn, không bao giờ sống hoà mình với một đứa con cũng mất đi một kinh nghiệm sống không gì thay thế được, con người cũng què quặt đi, tình người cũng không được thật hoàn chỉnh. Có thể không thờ chồng đầy đủ, nhưng không thể không chăm nuôi con mọn. Một đứa con nhỏ, một em bé đem lại cho cuộc sống của người lớn những tình cảm không gì thay thế được. Một xã hội chăm nom đến trẻ em nhiều chừng nào, thì trình độ văn minh của xã hội ấy cao chừng ấy. Sau khi hai gia đình gây hấn với nhau, muốn hoà giải dễ nhất là một bên bế theo một em bé sang thăm, không khí sẽ cởi mở dễ nói chuyện với nhau.
Tôi khoanh vấn đề lại chỉ nói đến những người đàn bà có tài, nghiên cứu khoa học hay sáng tác văn nghệ. Cứ cho là đẻ hai con, như vậy trong cả cuộc đời, ít nhất cũng phải tạm ngừng hoạt động ngành của mình mỗi lần 18 tháng, tập trung vào đứa con. Trong một cuộc đời 40 năm, thì thời gian 36 tháng cũng không đến nỗi quá dài. Trong thời gian ấy, gia đình, và đặc biệt đức ông chồng cũng phải tập chung giúp vợ, ông bà cũng vậy. Về phía xã hội, đối với những người phụ nữ có tài năng cũng nên tập trung giúp đỡ trong giai đoạn này về vật chất, về sắp xếp công tác. Có thể cơ quan hay đoàn thể giúp cử người, thuê người đến phụ việc để cho bà mẹ vẫn nuôi con, vẫn tiếp tục theo dõi được những đề tài cần thiết, để lúc trở lại công việc không quá bỡ ngỡ. Tôi không nói đến nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo, dịch vụ thương nghiệp vì đây là những vấn đề chung cho mọi chị em có con mọn.
Với một sự giúp đỡ tích cực ít nhất sẽ có một số chị em có tài không đến nỗi phải qua tấn kịch lựa chọn găy gắt giữa sự nghiệp và tình ruột thịt với con cái. Phận đàn bà bất kỳ ở chế độ nào cũng không thoát được cái vất vả nuôi con mọn, nhưng đó cũng là một điểm mà không có bất kỳ người đàn ông nào, dù có thương yêu con cái đến đâu cũng không thể nào sánh được với phụ nữ, vì lẽ đơn giản là đàn ông không thể cho con bú được; quan hệ ruột thịt giữa bố và con bất kỳ ở chế độ nào cũng không thể in sâu vào con người như giữa mẹ và con được.
SOURCE: TẠP CHÍ TRI THỨC TRẺ
Trích dẫn từ: http://chungta.com/tulieu/tu-lieu-tra-cuu/phan_dan_ban_ngay_nay/default.aspx

ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG TRONG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

DOÃN THỊ NGỌC
Ngày 30 và 31 tháng 6, năm 2013, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo Quốc tế về Công Tác Xã Hội và Sức Khỏe Cộng Đồng. GS Susan Newfield (trường Đại học Y) và GS Neal Newfield (trường Công Tác Xã Hội) thuộc Viện Đại học West Virginia đã trình bày về các quan điểm hệ thống trong liệu pháp gia đình, cụ thể là, những nguyên tắc cốt lõi trong liệu pháp gia đình và làm thế nào giúp các cặp vợ chồng và gia đình tăng khả năng giải quyết vấn đề.
Theo GS Susan and Neal Newfields, giga đình như những hệ thống, gồm nhiều  mối liên hệ qua lại chằng chịt về mặt huyết thống hoặc luật định, cùng chia sẻ những lợi ích, nhiệm vụ và lịch sử gia đình. Vì vậy, để áp dụng hệ thống các quan điểm vào việc giải quyết vấn đề trong gia đình đòi hỏi nhà tham vấn (NTV) phải hiểu hệ thống gia đình là một hệ thống vừa đóng vừa mở và được phân chia thành các tiểu hệ thống có những ranh giới, vai trò, thứ bậc, tầm ảnh hưởng bên trong gia đình, sự liên kết, và bị chi phối bới các luật lệ.
Để làm được điều này đòi hỏi nhà tham vấn phải nắm vững quan điểm về lý thuyết hệ thống, giao tiếp, thay đổi, truyền thông Cybernetics, vai trò, và lý thuyết phát triển để đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Các quan điểm của những trường phái trên có tính đa ngành và có thể vận dụng trong nghiên cứu, trong việc giải quyết những trường hợp cụ thể, cũng như những vấn đề xã hội khác ở lĩnh vực sinh học, tâm lý, giới và phát triển, xã hội, vật lý, hóa học v.v…
Bài viết này chỉ tập trung trình bày các quan điểm lý thuyết hệ thống (systems concepts), lý thuyết thay đổi, cụ thể là mô hình trị liệu mối quan hệ nhân quả một chiều (A > B) và mô hình mối quan hệ nhân quả vòng xoay (tác động qua lại -circular causality), lý thuyết giao tiếp, phương pháp phân tích và đánh giá gia đình bằng biểu đồ gia tộc và sinh thái, và một số qui tắc cơ bản cần ghi nhớ khi làm việc với gia đình.
Thứ nhất, các quan điểm về lý thuyết hệ thống
Hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, bộ phận liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội. Ví dụ, xét về mặt sinh học của cơ thể, khi một cơ quan nào đó bị bệnh (viêm phổi, đau tim, tiểu đường, đau răng, hay đứt tay chẳng hạn) thì bác sĩ y khoa sẽ phải xem xét tiến trình bệnh tại cơ quan đó trong mối liên hệ với cơ quan và bộ phận khác và với toàn bộ cơ thể. Như vậy, nếu có biến động từ một bộ phận thì đều tác động lên các bộ phận khác, tác động lên toàn hệ thống, và tác động theo kiểu quan hệ nhân quả xoay vòng (circular causality). Vì thế, trong liệu pháp gia đình “tổng thể quan trọng hơn bộ phận” (Whole is greater than part).
Ví dụ trên chưa dừng ở đó vì gia đình cũng là một hệ thống có sự tương tác, phụ thuộc và tác động qua lại giữa các thành viên. Nếu một cá nhân bị đau ốm thì không chỉ tác động đến tâm lý, tình cảm của cá nhân đó, mà còn tác động đến các thành viên khác trong gia đình. Khi một cá nhân trong gia đình bị bệnh có thể giúp gia đình thay đổi và sự thay đổi này sẽ tác động đến tất cả những thành viên theo hướng tích cực hay tiêu cực. Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội cần phối hợp với các cơ quan ban ngành khác để hỗ trợ và làm sao giúp các cặp vợ chồng hay gia đình cân bằng trong thay đổi. Đồng thời, phải tìm hiểu xem gia đình đó thuộc vào loại hệ thống nào – đóng (closed) hay mở (open), xa cách (disengaged) hay không gắn bó (enmeshed); tìm hiểu sự phản hồi (feedback) trong gia đình; những ranh giới (boundaries) chức năng phân chia theo vai trò; và các qui tắc (rules) trong gia đình.
Hệ thống đóng (closed) có nghĩa là gia đình đó không giao tiếp tốt với nhau hoặc giao tiếp hạn chế với người trong gia đình và ngoài xã hội, lẩn tránh giải quyết vấn đề, tạo ra bức tường ngăn cách giữa gia đình với cộng đồng xã hội, không tin tưởng hay không nhờ sự hỗ trợ từ bên ngoài. Ví dụ, một gia đình có một người con đi học cấp hai. Em này gần đây học sa sút và nhân viên xã hội tới gặp gia đình để tìm hiểu. Nhưng gia đình em từ chối không tiếp, bỏ ngoài tai những vấn đề học hành và hành vi thay đổi của con, và không chịu gặp gỡ hay hợp tác với nhân viên xã hội trường học.  Họ chăm sóc, bảo bọc, nuông chiều con quá mức và luôn tự hào rằng con mình là con ngoan trò giỏi.
Hệ thống mở (open) giống như cơ thể sinh học và xã hội. Hệ thống này giúp cho các thành viên trong gia đình vừa có tính tự chủ vừa có tính phụ thuộc, cùng có cơ chế duy trì sự ổn định bản sắc trong gia đình, nhưng linh hoạt để thích nghi và có khả năng tự thay đổi với môi trường xung quanh. Đây là sự thăng bằng trong gia đình được duy trì qua sự phản hồi (feedback), ranh giới (boundaries), và quy tắc (rules).
Phản hồi: Phản hồi tích cực làm gia tăng khả năng thay đổi, tăng khả năng tự điều chỉnh, tăng khả năng tổ chức và phát triển. Trái lại, phản hồi không tích cực thì sẽ làm cho cá nhân nản chí, làm giảm nhiệt huyết, làm giảm khả năng thay đổi và giảm khả năng tự điều chỉnh.
Ranh giới: Gia đình là một hệ thống, trong gia đình bao gồm nhiều tiểu hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, mỗi tiểu hệ thống là một cá nhân thực hiện những chức năng riêng để duy trì bản thân và bảo vệ cả hệ thống như một tổng thể thống nhất. Tiểu hệ thống có thể được hình thành dựa trên các thứ bậc, như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, hoặc theo giới như: cha và con trai, mẹ và con gái…
Các tiểu hệ thống được phân chia bằng những ranh giới. Ranh giới bảo vệ tiểu hệ thống và đồng thời cho phép tác động qua lại giữa các tiểu hệ thống. Có ba loại ranh giới – cứng nhắc (rigid), lỏng lẻo (too open), và lành mạnh (healthy).
Ranh giới cứng nhắc thể hiện sự xa cách rõ ràng giữa các thành viên trong gia đình, giao tiếp thường bị tắc nghẽn hoặc khi nói chuyện thường cãi mắng, bảo thủ, không lắng nghe nhau giữa những thành viên trong gia đình, đồng thời cũng không cho người lạ xâm nhập dễ dàng.
Ranh giới lỏng lẻo là ranh giới không rõ ràng, mất tính cách riêng tư của các cá nhân, khiến các thành viên quá phụ thuộc, quá gắn bó dẫn tới khó phân định đâu là cái riêng và đâu là cái chung, mất đi sự phát triển độc lập và mất bản sắc cá nhân.
Ranh giới lành mạnh là ranh giới linh hoạt, uyển chuyển, và rõ ràng. Mọi người trong gia đình có thể tin tưởng, cởi mở trao đổi, tôn trọng, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình nhưng vẫn tạo sự phát triển độc lập, tham gia, tự quyết, mức độ riêng tư, và trưởng thành của từng người.
Tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của gia đình (giai đoạn có con nhỏ, giai đoạn có con vị thành niên..), các ranh giới có thể di chuyển ở trạng thái cứng nhắc, hay lỏng lẻo, hay uyển chuyển. Thông thường bệnh lý của một cá nhân có thể bị khởi phát khi gia đình có những ranh giới cứng nhắc. Trái lại, nếu gia đình có những ranh giới lỏng lẻo thì có thể gia đình bị rơi vào trạng thái hỗn loạn. Những trạng thái quá xa cách, hỗn độn nếu xảy ra thường xuyên và không có chiều hướng thay đổi thì sẽ hình thành nên những vấn đề của gia đình. Lúc đó, gia đình đi gặp nhà tham vấn với sự căng thẳng ngày càng gia tăng.
Qui tắc: là những qui định chung cho phép cá nhân thực hiện những nhiệm vụ trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài vấn đề huyết thống hay luật định, cá nhân trong gia đình còn bị chi phối bới những qui tắc, thứ bậc, cùng với nhưng vai trò của từng thành viên trong gia đình. Có những qui tắc được công khai (phân chia công việc nhà, vợ làm gì, chồng làm gì…) nhưng ngược lại có những qui tắc ngầm hay bất thành văn. Ví dụ, khi ngủ thì vợ hay chồng ngủ bên nào-trái hay phải, và cứ thế mỗi lần đi ngủ thì ta thường ngủ bên đã tự qui định từ trước. Hay khi vào lớp học, chúng ta thường ngồi một chỗ và ít khi di chuyển chỗ ngồi khác và thường ngồi chung với bạn hay người quen. Nói chung, gia đình lành mạnh sẽ có những qui tắc cơ bản chung, nhất quán, rõ ràng, và có thể uyển chuyển thích nghi với sự thay đổi.
Thứ hai, quan điểm về thay đổi trong liệu pháp gia đình
Quan điểm thay đổi cho rằng hành vi của một người không chỉ liên quan đến những đặc điểm cá nhân mà còn liên quan đến bối cảnh tương tác của cá nhân trong môi trường gia đình và xã hội mà cá nhân sống trong đó.
Có hai mô hình về quá trình thay đổi trong hệ thống- mô hình quan hệ nhân quả một chiều (linear causality) và mô hình mối quan hệ nhân quả vòng xoay (circular causality). Về truyền thống, khi gặp một vấn đề thì người ta thường chỉ xem vấn đề đó ở mối quan hệ nhân quả đường thẳng từ A>B>C. Ví dụ, một anh chồng nghiện rượu thì đổ thừa do vợ anh luôn cằn nhằn nên anh ta chán và tìm rượu giải sầu. Vậy là lỗi do cô vợ hay cằn nhằn. Vì vậy, người ta thường nhắm vào người vợ để thay đổi, chứ không phải ông chồng.
Mô hình nhân quả xoay vòng nhấn mạnh đến hành vi của mỗi cá nhân đều có tác động lên cá nhân khác trong gia đình, vấn đề gia đình đi theo một vòng tròn qua lại, vợ chồng không đổ lỗi cho nhau. Mô hình thay đổi mối quan hệ nhân quả xoay vòng trong trị liệu thì căn nguyên vấn đề không phải chỉ do người vợ. Anh chồng đi uống rượu hoài về nhà vợ cằn nhằn, vợ anh cằn nhằn do anh đi uống rượu hoài và còn nhiều yếu tố khác nữa tác động vào vấn đề này dẫn đến gia đình lục đục triền miên. Ngoài ra, nếu bà vợ thay đổi mà ông chồng không thay đổi thì sẽ tạo là một áp lực ngược lại cản trở sự thay đổi của người vợ. Vì vậy, thay đổi là một quá trình và cấp độ thay đổi nhanh hay chậm, cao hay thấp còn tùy thuộc vào từng cá nhân, từng hoàn cảnh. Thuyết thay đổi nhấn mạnh đến trạng thái cân bằng về cấp độ thay đổi giữa những cá nhân trong gia đình, tạo điều kiện cho sự thay đổi thông qua giao tiếp cởi mở, nhận diện hướng mong muốn, kết quả muốn hướng tới và các lực cản trước khi lên kế hoạch thay đổi.
Khi làm việc với cặp vợ chồng, nhà tham vấn phải giữ vai trò trung lập, lắng nghe các bên, có sự hiếu kỳ, tò mò nhưng không phê phán, làm việc dựa trên các mối quan hệ, tạo điều kiện cho từng người bộc bạch về bản thân, trao đổi cởi mở, và củng cố giá trị bản thân. Ví dụ, ở buổi gặp đầu tiên, nên giới thiệu với thân chủ, mời từng cá nhân trong gia đình tự giới thiệu, không để mẹ giới thiệu dùm con, và mời từng người nói về những điều tích cực, điều muốn thay đổi ở bản thân cũng như viễn cảnh thay đổi cho toàn bộ gia đình. Tuyệt đối không đề cập tới vấn đề khi vừa mới gặp. Qua đó có thể tìm hiểu sự khác biệt trong nhận thức của mỗi người về vấn đề đang diễn ra, tìm ra những nhu cầu, mong đợi cụ thể của mỗi cá nhân. Tránh để vợ chồng thân chủ có thể phản bác nhau kịch liệt trước mặt nhà tham vấn và áp dụng những kỹ năng giao tiếp để họ không tranh cãi với nhau, sắp xếp ghế ngồi đối diện với nhà tham vấn, thay vì vợ chồng ngồi đối diện nhau, cho thời hạn bộc bạch, nhìn vào mắt họ… Nếu họ có con nhỏ thì cần có người chăm sóc trong buổi trị liệu. Trước khi kết thúc buổi trị liệu lần đầu thì nhà tham vấn phải tóm tắt lại những thông tin chính, nêu ra những điểm tích cực của mỗi người, điểm chung của những thành viên trong gia đình, vạch ra những mục tiêu cụ thể cho các cá nhân, sắp xếp và lên kế hoạch sẽ làm gì, làm như thế nào, mong muốn đạt kết quả gì cho buổi trị liệu thứ hai.
Thứ ba, quan điểm về giao tiếp trong liệu pháp gia đình
GS. Neal Newfield đưa ra một tình huống giả dụ, “Bạn được một giải thưởng là một vé máy bay khứ hồi và có thể đi đến bất kỳ nước nào mà bạn mong ước. Khi bước lên máy bay, bạn được ngồi ở khoang hạng sang. Xung quanh bạn toàn là những người mà bạn ghét nhưng họ cứ nói chuyện với bạn”. Vậy bạn phải làm gì để tránh những tình huống không muốn giao tiếp nhưng không thể tránh?
Những người tham dự đưa ra nhiều giải pháp như: giả bộ ngủ, giả vờ lắng nghe, đọc sách nhưng thể hiện sự lịch sự bằng cách chào hỏi qua loa rồi đọc tiếp, nói thẳng với người đối diện là mình không muốn nói chuyện với họ.
Theo GS Newfields, ngôn ngữ giao tiếp không lời chiếm 75% và thường người ta hiểu sai và diễn dịch sai. Điều quan trọng chúng ta phải hiểu được giữa lời nói và hành động có phù hợp hay không, hay nói một đường nhưng làm một nẻo. Vì vậy, quan điểm giao tiếp rất quan trọng và được vận dụng nhiều trong trị liệu gia đình. Từ chối giao tiếp cũng là một loại giao tiếp. Nhưng nếu chúng ta từ chối giao tiếp sẽ làm tình hình căng thẳng kéo dài và vấn đề vẫn bị vướng mắc và không được giải quyết. Ví dụ, vợ muốn chồng nói nhưng chồng không nói hay thoái thác sẽ dẫn đến không khi căng thẳng, leo thang. Nếu tình trạng giao tiếp này tái diễn liên tục sẽ dẫn đến đổ vỡ mối quan hệ.
Loại giao tiếp digital và analogic
Giao tiếp theo kiểu digital nghĩa là chỉ đề cập thông tin mang tính sự kiện (fact), kiểu nói bằng lời, điệu bộ chỉ thiên về ý, không có tứ và không theo qui tắc nhất định nên khó đoán và dễ hiểu lầm. Ví dụ, chúng ta dùng tin nhắn (text) mà người nhận không thể giải mã được mối quan hệ cảm xúc của người gửi với thông điệp và dễ đưa đến diễn dịch sai và gây tổn thương trong giao tiếp. Ngược lại, giao tiếp theo kiểu analogic nghĩa là người nhận và người gửi thông điệp đều hiểu được cả ý lẫn tứ, hiểu được nội dung, cảm xúc của người gửi và cả nội hàm trong giao tiếp. Ví dụ, chúng ta dùng tin nhắn nhưng kèm theo những biểu tượng cười. Nhạc, thơ, tranh…là loại giao tiếp analogic không lời.
Loại giao tiếp đối xứng (symmetry) và giao tiếp bổ sung (complementary)
Giao tiếp đối xứng (symmetry) là cả vợ và chồng có đều quyền quyết định bình đẳng như nhau, họ có cùng những suy nghĩ, giá trị, nhận định chung về một vấn đề nào đó. Điều này sẽ dễ dàng cho họ trong giao tiếp vì cả hai bên đều cùng nhìn về một phía. Đối với loại giao tiếp bổ sung (complementary) nghĩa là vợ có điểm mạnh của vợ và chồng có điểm mạnh của chồng. Ví dụ, chồng là người giỏi giao tiếp trong nhà thì người chồng sẽ đảm nhận việc nhận điện thoại khi có ai gọi và giao dịch với những người bên ngoài. Trong khi đó, người vợ lại giỏi về quản lý tài chính trong gia đình thì sẽ đảm nhận vai trò chi thu, cân đối ngân sách trong gia đình. Hai đặc điểm trên của vợ chồng bổ sung cho nhau, giúp gia đình phát triển hài hòa và bền vững.
Vì vậy, khi làm việc với các gia đình, nhà tham vấn cần phải áp dụng loại giao tiếp làm sáng tỏ vấn đề của mỗi cá nhân, tránh việc hiểu lầm trong giao tiếp do nói điều vô nghĩa, nói lạc đề, nói không hết ý.
Thứ tư, phân tích và đánh giá gia đình (family assessment) bằng biểu đồ gia tộc và sinh thái
Nhà tham vấn đánh giá gia đình dựa vào ba điểm chính sau:
·         Tìm hiểu cấu trúc gia đình,
·         Xác định giai đoạn phát triển của gia đình, và
·         Tìm hiểu các chức năng của gia đình.
Về cấu trúc gia đình, nhà tham vấn cần phải xem xét vấn đề của một cá nhân trong một khối thống nhất gồm mối quan hệ bên trong, bên ngoài gia đình và bối cảnh tương tác giữa gia đình và xã hội. Mối quan hệ bên trong cần tìm hiểu xem ai có quyền nhất trong gia đình? Ai có tầm ảnh hưởng nhất trong gia đình? Cách tổ chức gia đình ra sao? Ranh giới giữa các cá nhân trong gia đình thế nào? Về mối quan hệ bên ngoài gia đình, cần tìm hiểu các mối liên hệ với bà con họ hàng và hệ thống cộng đồng xã hội chặt chẽ hay lỏng lẻo? Nhà tham vần cần tìm hiểu về bối cảnh tương tác giữa gia đình và xã hội, họ thuộc sắc tộc, giai cấp xã hội, và tôn giáo nào?
Về xác định giai đoạn phát triển của gia đình, nhà tham vần phải xem xét gia đình này đang ở giai đoạn nào: Giai đoạn người trường thành độc thân, giai đoạn lập gia đình nhưng chưa có con, giai đoạn gia đình có con nhỏ, giai đoạn có con vị thành niên, giai đoạn gia đình có con trưởng thành, hay giai đoạn gia đình lúc cuối đời.
Về chức năng của gia đình, nhà tham vấn cần phác họa được các hoạt động hàng ngày của từng thành viên trong gia đình, ví dụ như phân công lao động theo vai trò giới ra sao, và tâm lý tình cảm của các cá nhân trong gia đình, bao gồm thái độ, các biểu hiện ngôn ngữ có lời và không lời, vai trò của từng người, sắp xếp thứ tự vai vế, các giá trị trong gia đình, ai liên minh với ai?…
Dùng biểu đồ gia tộc (Genogram) and biểu đồ sinh thái (Ecomap)
Biểu đồ gia tộc (genogram) là một bản đồ vẽ ra những tiến trình gia đình cùng những tương tác đã xảy ra trong ít nhất ba thế hệ của một tộc họ. Đi kèm theo sơ đồ này có những sự kiện  quan trọng trong đời sống, bao gồm những thay đổi, các sự kiện, những biến cố trong cuộc sống của mỗi người, các yếu tố quan trọng và những mối quan hệ phức tạp bên trong gia đình.
Nhà tham vấn còn có thể tìm hiểu lịch sử gia đình và các vấn đề của họ thông qua những biểu đồ gia tộc từ đơn giản đến phức tạp.
Cuối cùng, những qui tắc cơ bản khi làm việc với gia đình
Vai trò và nhiệm vụ của tham vấn viên là giúp các thành viên trong gia đình trở nên tích cực thông qua việc tái cấu trúc tổ chức gia đình và giúp họ khơi dậy những điểm mạnh, giá trị cá nhân và gia đình, truyền thông cởi mở để họ tự giải quyết vấn đề gia đình một cách có hiệu quả và có cơ chế, khả năng thay đổi linh hoạt tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của gia đình. Khi cấu trúc tổ chức của gia đình giữ được ổn định, trở nên lành mạnh thì triệu chứng về tâm thần, tình cảm, và xã hội của một cá nhân sẽ thuyên giảm và phục hồi. Vì vậy, nhà tham vấn cần lưu tâm những điểm sau khi làm việc với gia đình:
1.      Làm rõ khái niệm gia đình là khi gia đình có vấn đề sẽ giúp các thành viên gần gũi, gắn kết với nhau hơn,
2.      Xem gia đình cũng là một tiểu hệ thống trong hệ thống xã hội và phải xem xét mối quan hệ của hệ thống gia đình với các hệ thống khác trong bối cảnh chung,
3.      Nhớ về mô hình thay đổi mối quan hệ nhân quả xoay vòng khi nghe thân chủ, khi nghe phải nghe nhiều người, nhiều quan điểm khác nhau và những quan điểm này đều thật với người nói, không phê phán khi nghe các quan điểm khác nhau,
4.      Nêu ra được một vài điểm mạnh của mỗi người, thể hiện sự thân thiện với tất cả, tuyệt đối không bè phái,
5.      Năng động, biết ngắt đúng lúc nếu như tương tác giữa các thành viên trở nên căng thẳng,
6.      Giảm căng thẳng bằng cách giao tiếp trực tiếp với từng thành viên, thay vì để họ giao tiếp với nhau, sắp xếp ghế ngồi hợp lý,
7.      Giúp mọi người cùng hiểu vấn đề, hướng tới những điều mà mọi người đều quan tâm,
8.      Không khuyến kích đổ lỗi và dán nhãn, và
9.      Nhìn, quan sát tương tác (ai nói đỡ cho ai, ai kết tội cho ai, ai đồng minh với ai).
Nhà trị liệu sẽ làm gì với một trường hợp điển cứu sau đây, sau khi đã học những phương pháp trị liệu gia đình ở trên:
“Một bé trai 10 tuổi hay nổi giận với  mẹ của nó. Cậu bé này sống cùng với cha mẹ và một đứa em trong một gia đình. Cậu bé này hay so sánh, phân bì với những người bạn đồng lứa về những gì mà cậu bé không có. Tâm tính của nó thì rất bất thường, lúc thì rất ngoan, lúc khác thì mắng mỏ, giận dữ với mẹ mình. Nếu cậu bé này nhìn thấy người em họ được ôm một cái thì nó liền thể hiện nó muốn được ôm 4 cái. Hình như nó chẳng thích hay muốn bất kỳ những gì có trong gia đình. Cậu bé được đưa đến gặp một nhà trị liệu (NTL) và NTL này khuyên  người mẹ động viên cậu bé và duy trì tình yêu thương vô điều kiện. Mặc dù người mẹ không nói ra rằng bà cảm thấy lo sợ cho sự an toàn của đứa con thứ 2 vì người anh của nó luôn có hành vì bất thường. Người cha thường hăm he, dọa bỏ nhà ra đi vì không khí căng thẳng leo thang trong gia đình. Người cha là người có tính nóng nảy, dù không đánh mắng vợ con nhưng bộc lộ sự khó chịu buồn phiền khi đứa con thường xuyên giận dữ với mẹ nó. Báo cáo cho thấy người mẹ đều chăm sóc yêu thương cả hai người con. Không có chẩn đoán gì về những hành vi của cậu bé.  Quý vị có gợi ý gì cho trường hợp này không? – by Laurel.
Tài liệu tham khảo:
[1] hms-567.blogspot.com
[3] relationshipadvicecafe.com
[4] en.wikipedia.org
[5] hes310spring2012group9.pbworks.com
SOURCE: Cổng thông tin điện tử của Mạng Công tác xã hội Việt Nam

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, NGƯỜI CHUYỂN GIỚI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG & VŨ THỊ THỦY
Ngày 19/7/2010, Ủy ban Quốc tế nhân quyền người đồng tính (International Gay and Lesbian Human Rights Commission – IGLHRC)[1] được thừa nhận có tư cách tư vấn cho Hội đồng Liên hiệp quốc, đã thúc đẩy những người đồng tính (NĐT) quyết định công khai giới tính của mình với mong muốn được thừa nhận các quyền cơ bản của họ. Đối với đa số những người đang sống trên trái đất này, đây là một thông tin đáng quan tâm, nhưng với cộng đồng NĐT, đây là một cái mốc lịch sử.[2]
Ở nước ta, trong thời gian gần đây, nhiều người đã công khai việc chuyển đổi giới tính (CĐGT) cũng như thừa nhận mình là NĐT cho thấy, xã hội đã bớt cái nhìn khắt khe, đồng thời hướng đến việc tôn trọng và công nhận họ như một thành tố bình đẳng trong xã hội.
Mặc dù chưa được Nhà nước thừa nhận, thực tiễn vẫn đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến việc áp dụng các quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự (TTHS) và luật thi hành án hình sự liên quan đến NĐT và người chuyển giới (NCG) như hành vi xâm phạm tình dục NĐT, NCG; hành vi mua dâm, môi giới mại dâm, chứa mại dâm đồng giới; hành vi chung sống như vợ chồng với NĐT, NCG hoặc các thủ tục về khám người, thi hành các biện pháp tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù đối với những người này.
1. Một số khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới
Giới (gender): được sử dụng không chỉ với con người mà còn sử dụng cho động thực vật khác, chỉ giống đực (masculine) và giống cái (feminine). Ở con người, giới hàm nghĩa biểu hiện về mặt hình thức, thực thể xã hội của nam (male) và nữ (female).
Tính hoặc giới tính (sex): ngoài sự bao hàm giới còn được bổ sung về mặt tâm lý học, ý thức và ý chí tính dục (gọi chung là xu hướng tính dục). Thông thường, người ta chia giới tính ra hai đối tượng dị tính: nam/đàn ông và nữ/đàn bà.
Trong thuật ngữ tiếng Anh có từ LGBT dùng để chỉ nhóm người có xu hướng tình dục thiểu số trên thế giới, bao gồm bốn nhóm người: đồng tính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay), NCG tính từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam (transsexual/transgender) và người song tính luyến ái (bisexual).
- Đồng tính nữ và đồng tính nam thuộc nhóm đồng tính luyến ái[3] (homosexual): là người bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. NĐT là người bị hấp dẫn bởi người cùng giới.
- NCG: là NĐT, luôn ám ảnh về việc mình có giới tính trái với “giới tính sinh học” khi được sinh ra, họ đã nhờ sự can thiệp của y học để chuyển giới tính hoặc “tìm lại giới tính thật” của mình.
Ở Việt Nam, khái niệm chuyển giới chỉ mới biết đến trong thời gian gần đây. Trước kia, NCG được gộp chung vào nhóm đồng tính hay thế giới thứ ba. Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của internet và các diễn đàn mạng (đặc biệt như LesKing.com.vn; Thegioithu3.vn…) những người sống giữa hai giới không hoàn toàn hài lòng khi bị xem là NĐT. Thực tế, NCG thường trải qua quá trình bối rối trong việc nhận diện giới của chính mình cũng như đối mặt với những quyết định chuyển đổi, khó khăn liên quan đến sử dụng hoocmon phẫu thuật và công khai thể hiện giới.
Ngoài NĐT và NCG còn có một nhóm người có xu hướng tình dục thiểu số là người song tính luyến ái (bisexual). Đó là người bị hấp dẫn bởi cả hai giới nam và nữ và là một trong bốn thiên hướng tình dục ở con người. Người có thiên hướng tình dục song tính luyến ái có thể bị hấp dẫn về mặt cảm xúc, tình cảm và tình dục với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình. Chúng ta cũng cần phân biệt người song tính luyến ái với người lưỡng tính. Người lưỡng tính (intersexual) là một hiện tượng về giới tính, thường trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn. Đây thường là những trường hợp rất hiếm trong cuộc sống.
Theo các nghiên cứu xã hội học, tỉ lệ cộng đồng NĐT gần như không thay đổi ở mọi xã hội, thời đại: thường chiếm khoảng 3-5% dân số mỗi quốc gia – tỉ lệ này gồm cả người có quan hệ luyến ái với người cùng giới ở mức độ không thường xuyên[4]. Nếu so tỷ lệ trên với bảy tỉ người trên thế giới hiện nay, thì số NĐT, NCG có một số lượng không nhỏ.
Hiện nay pháp luật một số nước công nhận quyền bình đẳng và đối xử với những cặp đồng tính như vợ chồng[5]. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dù không xem quan hệ tình dục đồng tính là hành động phạm pháp thì những NĐT vẫn bị xã hội soi mói, bị kỳ thị, đôi khi bị đánh đập, hành hung, nhất là đối với những người CĐGT. Một số nước khác, như các nước Hồi giáo, không chấp nhận NĐT và người quan hệ đồng tính có thể bị phạt tù hoặc thậm chí, tử hình. Có ít nhất 80 quốc gia trên thế giới, quan hệ tình dục đồng tính vẫn còn bị luật pháp trừng phạt, có nơi phạt tù chung thân, thậm chí tội này còn có thể bị án tử hình (có 7 nước quy định).
2. Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới
Ở Việt Nam, hầu như pháp luật không ghi nhận quyền của NĐT. Tuy nhiên, một số tài liệu về lịch sử ở nước ta đã từng đề cập vấn đề này, như thế kỷ thứ 16 và 17 có một vài vua chúa có thê thiếp là đàn ông[6] hoặc sách sử có chép rằng, vua Khải Định tuy có tất cả 12 bà vợ nhưng bất lực hoặc không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông. Luật Hồng Đức có đề cập đến hành vi hãm hiếp, ngoại tình và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính[7]. Chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa mặc dù xác định mại dâm nữ là phạm pháp. Thời điểm hiện nay, tuy không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính[8], nhưng Luật Hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 quy định: Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau. (Điều 5). Sau đó, Điều 36 quy định quyền xác định lại giới tính: “Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính”.
Để quy định chi tiết Điều 36 BLDS, Chính phủ ban hành Nghị định 88/2008/NĐ-CP, trong đó có quy định những hành vi bị nghiêm cấm: “Thực hiện việc CĐGT đối với những người đã hoàn thiện về giới tính và cấm phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính”. Nghị định đã đề cập việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Những người này hoàn toàn khác với NĐT. Hiện nay, nhiều NĐT rất không đồng tình với những quy định trong Nghị định 88 này, vì đã khép lại cánh cửa CĐGT để được trở về đúng với sự mong muốn của chính họ[9]. Nghị định chỉ quy định là xác định lại giới tính cho những người khuyết tật về giới hay chưa phân biệt được là nam hay nữ chứ không phải là CĐGT cho những người đã hoàn thiện về giới bởi có thể đó là những trường hợp có sự lệch lạc về tâm lý.
Tuy nhiên, vấn đề mà Nghị định đưa ra là quá hẹp, mới chỉ dừng ở xác định lại giới tính chứ không phải là thay đổi giới tính, cho phép "làm rõ giới tính" chứ không phải "xác định lại giới tính" vì nếu không mang gen hoặc cá tính nam thì người nữ cũng không muốn chuyển đổi làm gì, mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng, việc hạn chế xác định lại giới tính xuất phát từ nguyên nhân tránh bị lạm dụng vì nhu cầu thương mại, hoặc trong thi đấu thể thao, hoặc trốn tránh lệnh truy nã sau khi phạm tội…
Việc hạn chế trên phần nào đi ngược với xu hướng trên thế giới, khi nhiều quốc gia công nhận quyền CĐGT như Mỹ, Canada, Serbia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Ấn Độ… Argentina vừa cho phép chuyển giới và thay đổi giới tính trên các giấy tờ liên quan vào ngày 03/10/2012. Hầu hết các nước cho phép chuyển giới không giới hạn cá nhân muốn chuyển giới bắt buộc phải có bộ phận sinh dục của giới tính mình không mong muốn. Ngoài Thái Lan là trung tâm chuyển giới số một thế giới, bất ngờ là vị trí số hai thuộc về đất nước Hồi giáo Iran. 25 năm về trước, lãnh đạo tối cao Iran Ayatollah Khomeini đã ban hành luật cho chuyển giới và thay đổi giới tính trên giấy tờ liên quan, hiện tại Chính phủ Iran chi trả 50% chi phí chuyển giới[10].
Rõ ràng, những người không có khuyết tật về giới tính nhưng đã chuyển giới ở nước ngoài sẽ không được công nhận hoặc người dù đã CĐGT nhưng kiểm tra vẫn không có khiếm khuyết về nhiễm sắc thể mà tự ý CĐGT thì những hệ lụy pháp lý liên quan đến chính họ rất phức tạp, nhất là các quy định về hình sự và TTHS.
Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) 1986 không quy định cấm hôn nhân đồng tính, sau đó có một vài đám cưới đồng tính được tổ chức nhưng không nhận được sự đồng tình của dư luận[11]. Đến Luật HNGĐ năm 2000, có khoản 2 Điều 8 xác định: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Và cũng trong Luật này quy định về những trường hợp cấm kết hôn, trong đó có quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (khoản 5 Điều 10).
Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng chỉ xác định, Việt Nam có hai nhóm giới tính đó là nam và nữ, không có quy định nào xác định giới tính khác (giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ – Điều 5)[12].
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành không thừa nhận sự tồn tại của những người có giới tính thiểu số, NCG (trừ trường hợp người xác định lại giới tính) cũng như mối quan hệ hôn nhân của họ, vì vậy những vấn đề pháp lý phát sinh đang bị bỏ ngỏ do họ không được thay đổi các thông tin cá nhân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của khoa học, của nhận thức nhân loại, đã đến lúc pháp luật cần thừa nhận sự tồn tại của những người có giới tính thiểu số, NCG để tạo sự bình đẳng và công nhận sự tồn tại và vai trò của NĐT trong xã hội. Từ đó chúng ta có thể bảo vệ hiệu quả hơn các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như xử lý hành vi vi phạm của họ.
3. Bảo vệ quyền của người đồng tính và người chuyển giới trong pháp luật hình sự
Trong những năm qua, ở Việt Nam, số NĐT nam, đồng tính nữ công khai xu hướng tình dục của mình và số NCG ngày càng gia tăng. Tình trạng này đã kéo theo vấn đề xâm phạm tình dục giữa những người đồng giới, xâm phạm tình dục NCG và vấn đề mại dâm đồng giới gia tăng, có tính nguy hiểm cho xã hội cao. Tuy nhiên, Nhà nước chưa chính thức thừa nhận NĐT và NCG nên đã gây ra những khó khăn nhất định trong việc xử lý các hành vi vi phạm phạm luật này. Trong Bộ luật Hình sự (BLHS), không có quy định nào liên quan đến NCG, NĐT với tư cách là chủ thể hay nạn nhân của hành vi phạm tội, nhất là các tội xâm phạm tình dục hoặc có liên quan đến hành vi giao cấu (HVGC) như chứa mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm người chưa thành niên… Điều đó đã gây ra những trở ngại trong việc xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội có liên quan đến NCG hoặc NĐT trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, HVGC trái phép với người đã CĐGT.
Theo Nghị định 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính, Nhà nước chỉ cho phép những ngườicó nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hóa hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ, mới được phép xác định lại giới tính (Điều 5). Những người đã được y học can thiệp xác định lại giới tính sẽ được cơ quan quản lý hộ tịch xác định lại giới tính cho họ. Nghị định này nghiêm cấm việc CĐGT đối với những người đã hoàn thiện về giới tính (Điều 4). Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều người Việt Nam đã phát triển hoàn thiện về giới tính (là nam hoặc nữ) đã ra nước ngoài để phẫu thuật CĐGT, kể cả phẫu thuật bộ phận sinh dục (từ nam thành nữ hoặc từ nữ thành nam). Những người này, khi về Việt Nam, theo quy định hiện nay, họ không được phép xác định lại giới tính nên xảy ra thực trạng một số người đã được phẫu thuật chuyển giới có hình dạng bên ngoài và cơ quan sinh dục là nữ nhưng trên chứng minh nhân dân, hộ chiếu và giấy khai sinh, hộ khẩu của họ vẫn ghi là “nam” và ngược lại. Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra việc một người phẫu thuật CĐGT từ nam thành nữ bị một người nam giới khác thực hiện HVGC trái phép[13] gây nên những khó khăn trong việc xử lý hình sự. Trong tình huống này, có quan điểm cho rằng, hành vi đó xâm phạm tình dục phụ nữ nên cấu thành tội hiếp dâm hoặc tội cưỡng dâm; có quan điểm cho rằng về mặt hộ tịch, tại thời điểm bị xâm hại, nạn nhân đang chính thức là nam giới nên hành vi này không thể cấu thành tội hiếp dâm hoặc cưỡng dâm vì hai tội phạm này nạn nhân phải là phụ nữ. Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng, HVGC trái phép với người CĐGT từ nam thành nữ xét về bản chất giống như HVGC trái phép với những người phụ nữ; đều xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người, xâm phạm quyền tự do và bất khả xâm phạm về tình dục của con người nên tùy thuộc vào cách thức thực hiện hành vi phạm tội mà có thể cấu thành tội hiếp dâm hoặc tội cưỡng dâm. Tuy nhiên, nếu chúng ta chính thức thừa nhận NCG và cho phép họ được thay đổi giới tính thì sẽ tránh được những khó khăn và tranh luận không cần thiết khi định tội danh đối với những hành vi nêu trên.
Thứ hai, hành vi tình dục trái phép giữa những người đồng giới.
Trong luật hình sự Việt Nam hiện nay, không có quy định nào cấm hành vi tình dục giữa những người đồng giới. Vì vậy, hành vi tình dục trái phép giữa những người đồng giới ở đây được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác khiến người đồng giới khác phải quan hệ tình dục trái ý muốn của họ; hoặc dùng mọi thủ đoạn khiến người đồng giới lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng quan hệ tình dục; hoặc quan hệ tình dục với người đồng giới chưa đủ 16 tuổi.
Theo Từ điển Tiếng Việt, giao cấu là hành vi giao tiếp giữa bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với bộ phận sinh dục của giống cái, ở động vật[14]. Vì vậy, giữa những người đồng giới không có HVGC, nhưng họ có thể có các hành vi tình dục khác như kích thích vào các cơ quan sinh dục của nhau, quan hệ tình dục qua đường miệng (oral sex) hoặc đường hậu môn (sau đây gọi chung là hành vi tình dục giữa những người đồng giới). Theo quy định của BLHS hiện hành, các tội phạm như hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với trẻ em đều đòi hỏi hành vi khách quan là giao cấu trái phép. Vì vậy, trên thực tế, có một số hành vi dùng vũ lực tấn công hoặc dùng thủ đoạn khác khiến người đồng giới khác phải có hành vi tình dục trái ý muốn của họ hoặc có hành vi tình dục trái phép với trẻ em đồng giới, chúng ta không thể xử lý được.
Hành vi tình dục trái phép của người đồng giới có hai dạng: thứ nhất là NĐT luyến ái nam có hành vi tình dục trái phép với NĐT luyến ái nam hoặc NĐT luyến ái nữ có hành vi tình dục trái phép với NĐT luyến ái nữ. Đối với trường hợp này, thường nạn nhân không muốn dư luận biết mình là NĐT nên không tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nên ít được ghi nhận, trừ khi hành vi tấn công tình dục NĐT dẫn đến chết người hoặc kèm theo hành vi giết người. Thứ hai là NĐT có hành vi xâm phạm tình dục người cùng giới với mình nhưng nạn nhân không phải là NĐT luyến ái (nữ đồng tính xâm phạm tình dục nữ dị tính hoặc nam đồng tính xâm phạm tình dục nam dị tính). Điển hình như một số vụ việc sau đây:
Vụ án 1: Khoảng gần 22h ngày 8/6/2012, anh V. đi xe máy đến cánh đồng đối diện với công viên Hòa Bình (Hà Nội). Anh dừng lại dắt xe vào bãi cỏ để đi vệ sinh. Khi đang đi vệ sinh, anh bất chợt thấy 3 đối tượng là nam cùng đi một xe máy vào cánh đồng. Chúng tắt đèn xe rồi cùng đi thẳng đến chỗ anh V. Thấy ba người lạ mặt cứ lừ lừ đi đến, tưởng là bọn cướp, anh vội vàng chạy ra mở cốp xe máy lấy một con dao nhọn trong cốp xe mang theo phòng thân, rồi vứt chìa khóa vào đám cỏ gần xe máy để chúng không cướp xe được. Sau đó, anh bỏ chạy vào phía trong. Anh V. chạy được khoảng 100m thì ba người này đuổi kịp, khống chế, tước dao và kéo anh đến một tấm tôn ở giữa cánh đồng cỏ. Ngay lập tức, anh bị ba đối tượng lột hết quần áo. Chúng thay nhau nghịch, sờ soạng khắp cơ thể anh V. Để giở trò đồi bại với anh V, khi một tên thực hiện hành vi, hai tên còn lại giữ chặt tay, không cho kháng cự. Anh V. bị một vết đâm ở đùi phải trúng động mạch và một nhát khác ở vùng ngực, thấu phổi[15]. Trong vụ án này, chúng ta chỉ có thể xử các đối tượng nêu trên về hành vi cố ý gây thương tích mà không thể xử lý được hành vi xâm phạm tình dục do không có HVGC, nên không xử được về tội hiếp dâm và BLHS hiện hành không quy định hành vi dâm ô người đủ 16 tuổi trở lên, nên hành vi này không phạm tội. Chúng tôi cho rằng, quy định này của BLHS đã không bảo vệ được nhân phẩm, danh dự của con người.
Vụ án 2: Trưa 15/9/2012, bé Duy (3 tuổi) sang nhà Việt chơi (ở phường Hải Hòa, TP Móng Cái) khi Việt vừa đi uống rượu về. Do buồn tiểu, cháu bé đòi Việt dẫn đi vệ sinh. Việt đã quan hệ tình dục với cháu Duy qua đường hậu môn để thỏa mãn dục vọng. Do đau đớn vì thương tích ở hậu môn, Duy về kể lại chuyện cho bố mẹ biết. Gia đình nạn nhân đã làm đơn tố cáo đến cơ quan công an. Kết quả khám nghiệm cho thấy bé trai bị chảy máu và thương tích ở hậu môn. Tại cơ quan công an, Việt thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Trong trường hợp này, hành vi của Việt được coi là phạm tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 BLHS). Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, tội dâm ô với trẻ em không phản ánh đầy đủ bản chất của hành vi của Việt trong vụ án trên vì sự tổn thất về tâm lý, thể chất do hành vi này gây ra nặng nề hơn rất nhiều so với hành vi sờ mó, hôn hít… bộ phận sinh dục của trẻ em thông thường[16].
Trong những trường hợp trên, do không có HVGC nên chúng ta không thể xử lý những người có hành vi này là tội phạm, mặc dù tính nguy hiểm cho xã hội của những hành vi này rất cao, xâm phạm quyền tự do và bất khả xâm phạm về tình dục của con người, xét về bản chất, nguy hiểm tương ứng với các tội như hiếp dâm, cưỡng dâm hoặc giao cấu với trẻ em. Vì vậy, đã đến lúc cần sửa đổi BLHS theo hướng quy định hành vi khách quan của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em, ngoài HVGC còn cần phải quy định thêm “hoặc có hành vi tình dục khác mà xét về tính chất và hoàn cảnh chung thì tương tự như HVGC” (như quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường miệng) là dấu hiệu khách quan của những tội phạm nêu trên để bảo vệ cả NĐT và người dị tính trước các hành vi xâm phạm tình dục của người đồng giới như hiện nay[17]. Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung thêm trong BLHS tội dâm ô để xử lý đối với trường hợp có hành vi dâm ô đối với người đồng giới hoặc người khác giới từ đủ 16 tuổi trở lên.
Thứ ba, hành vi “mua dâm” người chưa thành niên đồng giới; môi giới mại dâm, chứa mại dâm đồng giới.
Theo Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm (PCMD) năm 2003, bán dâm là HVGC của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu; mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm. Như vậy, để xử lý về các tội mua dâm người chưa thành niên, chứa mại dâm, môi giới mại dâm đòi hỏi phải có người mua dâm dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người khác để “thực hiện HVGC”.
Hiện nay đang diễn ra tình trạng một người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người đồng giới khác để thực hiện hành vi xét về tính chất hoặc hoàn cảnh tương tự như HVGC (như quan hệ tình dục bằng đường miệng hoặc đường hậu môn) – thường gọi là “mại dâm” đồng giới. Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh PCMD thì hành vi trên không bị coi là hoạt động “mại dâm” theo đúng nghĩa luật định vì không có HVGC.
Tình trạng “mại dâm đồng giới”, nhất là mại dâm đồng giới nam (nam bán dâm cho nam) rất phức tạp, gia tăng nhanh chóng và gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, gây mất trật tự trị an. Đặc biệt, hoạt động của nhóm mại dâm đồng tính nam thường diễn ra lén lút để tránh sự kỳ thị của cộng đồng nên khả năng kiểm soát bệnh tật bị hạn chế. Do đó, khả năng lây nhiễm HIV/AIDS của mại dâm nam là cao hơn so với mại dâm nữ. Theo đánh giá của Ủy ban phòng, chống AIDS, tỉ lệ lây nhiễm ở đồng tính nam cao hơn gấp 20 lần so với đối tượng mại dâm nữ và ma túy[18]. Trên thực tế, chúng ta không thể xử lý người môi giới hoặc chứa mại dâm đồng giới, người mua dâm người chưa thành niên đồng giới về các tội phạm tương ứng như chứa mại dâm (Điều 254 BLHS), tội môi giới mại dâm (Điều 255 BLHS) hoặc tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS) vì giữa họ không có HVGC. Thực trạng đó đòi hỏi phải sửa đổi các quy định của Pháp lệnh PCMD để có cơ sở pháp lý cho việc xử lý hành vi mua dâm người chưa thành niên, môi giới mại dâm và chứa mại dâm (đồng giới).
Theo chúng tôi, Điều 3 Pháp lệnh PCMD cần được sửa đổi như sau:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bán dâm là HVGC của một người với người khác hoặc hành vi tình dục mà xét về tính chất và hoàn cảnh chung thì tương tự như HVGC để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu hoặc hành vi tình dục mà xét về tính chất và hoàn cảnh chung thì tương tự như HVGC.
3….”.
Việc sửa đổi Pháp lệnh PCMD như trên sẽ là căn cứ pháp lý để chúng ta xử lý hành vi môi giới hoặc chứa mại dâm đồng giới, hành vi mua dâm người chưa thành niên đồng giới về các tội phạm tương ứng như chứa mại dâm (Điều 254 BLHS), tội môi giới mại dâm (Điều 255 BLHS) hoặc tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS). Điều đó sẽ góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ trật tự trị an xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của những người người chưa thành niên đồng giới.
Thứ tư, hành vi của NĐT đăng ký chung sống với một người mà lại kết hôn với người khác
Hiện nay, theo quy định của Luật HNGĐ thì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn; Nhà nước cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên, trên thực tế, ngày càng có nhiều cặp đồng tính công khai chung sống với nhau như vợ chồng, thậm chí tổ chức cả đám cưới tuy không được Nhà nước và pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, họ cũng tạo lập tài sản chung, có quyền và nghĩa vụ như vợ, chồng (thường sẽ có một người đóng vai trò như là vợ và một người đóng vai trò như người chồng trong quan hệ hôn nhân đồng tính). Việc Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân này đã gây ra những khó khăn khi một trong hai hoặc cả hai người không còn chung sống với nhau nữa hoặc một trong hai người kết hôn hoặc chung sống với người khác. Theo chúng tôi, Luật HNGĐ cần thừa nhận quan hệ hôn nhân đồng tính, cho phép họ đăng ký chung sống như vợ chồng. Khi đó, trong lĩnh vực luật hình sự, nếu một trong hai người trong quan hệ hôn nhân đồng tính mà lại đăng ký kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cần xử về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.
4. Bảo vệ quyền của người đồng tính và người chuyển giới trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự
Khi tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc biện pháp ngăn chặn trong TTHS cũng như trong quá trình thi hành án hình sự, có một số biện pháp cưỡng chế mà khi thực hiện cần căn cứ vào giới tính của đối tượng áp dụng như khám người, tạm giữ, tạm giam trong TTHS; thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân trong TTHS. Thực tiễn áp dụng cho thấy, khi áp dụng các biện pháp này đối với NCG hoặc NĐT đã có một số khó khăn nhất định và có thể xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của những người này.
Trong TTHS, khám người là biện pháp điều tra bằng cách lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc hoặc đồ vật mang theo của bị can, người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người đang có lệnh truy nã nhằm tìm ra các tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án. Theo quy định của Bộ luật TTHS, khi khám người thì nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến (Điều 142). Đối với những người đã phẫu thuật CĐGT (từ nam thành nữ hoặc từ nữ thành nam) nhưng trên các giấy tờ nhân nhân vẫn ghi giới tính cũ của họ, nếu chúng ta để người khám và người chứng kiến đều là người cùng giới với giới tính cũ của họ sẽ xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người bị khám. Vì vậy, trong trường hợp này, theo chúng tôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể: người khám và người chứng kiến cần là người cùng giới với giới tính của họ sau khi đã phẫu thuật chuyển giới.
Tạm giữ trong TTHS là biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người đang bị truy nã hoặc người phạm tội ra tự thú, đầu thú. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do những người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án hình sự.
Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội. Theo quy định của pháp luật TTHS và pháp luật về thi hành án hình sự, khi tạm giữ, tạm giam hoặc thi hành hình phạt tù, chúng ta bố trí, phân loại khu vực giam giữ bị can, bị cáo, người phạm tội theo giới tính: nam giam, giữ riêng; nữ giam, giữ riêng. Trong trường hợp này, đối với NCG, chúng ta thừa nhận giới tính mới của họ và cần giam giữ họ theo giới tính sau khi đã được phẫu thuật chuyển giới.
Đối với NĐT, nhất là đồng tính nam, khi giam giữ họ chung với phòng giam giữ của nam giới, thường sẽ gây nên sự kỳ thị, phỉ báng và phân biệt của những người dị tính trong phòng giam, giữ; thậm chí những người khác có thể tấn công xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm, thậm chí là sức khỏe, tính mạng của những NĐT.
Theo thống kê, những NĐT thường chiếm từ 3 đến 5% dân số. Trong các nhà tạm giữ, tạm giam hoặc các nhà tù, nơi có hàng nghìn người đang chấp hành các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, NĐT và NCG có một số lượng không nhỏ. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của họ, mỗi nhà tạm giữ, tạm giam hoặc trại giam cần bố trí một số phòng giam, giữ riêng dành cho những NĐT, những NĐT nam giam riêng và đồng tính nữ giam riêng.
NĐT và NCG là một nhóm người có số lượng không nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, quyền lợi chính đáng của họ chưa được Nhà nước và xã hội quan tâm một cách đúng mực, dẫn đến việc nhiều người phải sống tủi nhục trong sự kỳ thị của xã hội và chính gia đình họ. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, việc bảo vệ quyền lợi của những NĐT và NCG sẽ góp phần đảm bảo tốt hơn quyền con người nói chung và quyền lợi của NCG, NĐT nói riêng./.


[2]Với việc IGLHRC được tổ chức lớn nhất thế giới công nhận quyền tư vấn, điều đó có nghĩa là cộng đồng NĐT được công nhận như một cộng đồng có quyền lên tiếng và có vai trò xã hội. Trong bản tuyên bố, Chủ tịch điều hành IGLHRC nói: “Quyết định ngày hôm nay xác nhận rằng tiếng nói của những người đồng giới tính, lưỡng giới tính và chuyển giới tính phát biểu tại Liên hiệp quốc là một phần của cộng đồng xã hội dân sự sống động”. Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trên CNN: “Tôi chào đón bước tiến quan trọng trong vấn đề nhân quyền này”[2]. http://sgtt.com.vn/Loi-song/127006/Thoi-cua-gioi-tinh-thu-ba.html
[3] Đồng tính luyến ái là vấn đề đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng mãi đến giữa thế kỷ thứ 19, thuật ngữ đồng tính luyến ái “homosexuality” mới lần đầu tiên được biết đến bởi một bác sĩ người Hungary, Benkart (với bút danh là K.M.Kertbeny)[3]. Xem: J.Lauritsen and D.Thorstad, The Early Homosexual Rights Movement (1864-1935).
[5] Những nước công nhận hôn nhân đồng tính: Argentina, Belgium, Canada, Iceland, Netherlands, Norway, Portugal, South Africa, Spain (2005), Sweden (2009).
[6]Jakob Pastoetter (1997-2001),“The International Encyclopedia of Sexuality: Vietnam (Bách khoa toàn thư quốc tế về tình dục: Việt Nam)”. The Continuum Publishing Company. Truy cập 15 tháng 2 năm 2009.
[7]Helmut Graupner, International Bar Association Conference, Phillip Tahmindjis (2005). Sexuality and Human Rights (Tình dục và quyền con người). Haworth Press. 192. ISBN 1560235551.http://books.google.com/books?id=gem-0JOOWVMC&pg=PP1&dq=1560235551&ei=AmSTSYm-CYrIlQSU0dTBCg#PPA192,M1
[8] Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và Serge Doussantousse, Men who have sex with men and HIV in Vietnam(Những người nam có quan hệ tình dục với nam và HIV tại Việt Nam) (tiếng Anh). AIDS Education and Prevention, 16(1), 45-54, 2004.
[9] Theo BS Nguyễn Thành Như – Trưởng đơn vị Nam khoa, Bệnh viện Bình Dân, TP HCM, Nghị định này thật ra chỉ quy định lại những việc đã thực hiện từ lâu. Bệnh viện Bình dân đã thực hiện rất nhiều ca điều chỉnh lại giới tính cho các bệnh nhân khuyết tật giới hay chưa xác định được là nam hay nữ, bởi đó là bệnh lý nên không có quy định nào là không cho phép. Nhiều người khác tuy đã xác định rõ là nam hay nữ nhưng họ lại mong muốn được sống với giới tính khác và đó là điều hoàn toàn chính đáng, dù hiện nay chưa có cơ sở khoa học chính xác và Nghị định này không cho phép.
[11] Năm 1997, đám cưới đồng tính từng được tổ chức đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh và bị nhiều người dân phản đối. Sau đó, thêm một vụ hai NĐT nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã liệt kê đồng tính luyến ái vào trong các "tệ nạn xã hội" cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy, nhưng đến nay Chính phủ chưa có chính sách nào về quan hệ đồng tính.
[12] Các quốc gia Bỉ, Canada, Hà Lan, Nam Phi, Na Uy, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và năm bang ở Hoa Kỳ đã thừa nhận quyền sử dụng giới tính mới của người dân. Còn ở Việt Nam, cũng như nhiều nước trên thế giới, hiện nay chưa chính thức thừa nhận quyền được sử dụng giới tính mới.
[13] Nội dung vụ việc: Khuya 7/4/2010, tại TP Đồng Hới (Quảng Bình), Nguyễn Văn Tình cùng đồng phạm dùng sức mạnh khống chế, bắt một cô gái đi bộ ven đường lên xe chở đến bãi đất trống thay phiên nhau xâm hại. Người bị xâm hại thừa nhận mình trước đây là nam. Bốn năm trước, cô đã ra nước ngoài phẫu thuật CĐGT. Chuyến này cô đi chơi cùng người yêu. Đêm đó cô và người yêu cãi nhau tại khách sạn, nên cô đi ra ngoài dạo mát, không ngờ gặp sự cố. Cô khẳng định mình bây giờ là phụ nữ 100% và cương quyết yêu cầu xử lý hình sự những kẻ đã xâm hại. (http://phapluattp.vn/20100824122757371p1063c1016/hiep-dam-nguoi-chuyen-doi-gioi-tinh-co-bi-toi.htm.Ngày 01/11/2012).
[14] Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ Việt Nam, 1992, tr.394.
[17] Theo Điều 1 Chương 6 BLHS Thụy Điển, người nào gây thương tích, dùng vũ lực hoặc đe dọa thực hiện một tội phạm, buộc người khác giao cấu hay thực hiện hoặc để cho người phạm tội thực hiện với mình một hành vi tình dục mà xét về tính chất hoặc hoàn cảnh chung thì tương tự như HVGC thì bị xử phạt từ hai năm đến sáu năm tù về tội hiếp dâm.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code