Showing posts with label Nguyễn Minh Tuấn. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Minh Tuấn. Show all posts

Sunday, March 9, 2014

LÀNG XÃ XƯA VÀ NAY


ThS. Nguyễn Minh Tuấn
(Bài viết đã đăng trên Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 11 và số 12 năm 2004)


(I) Cơ sở hình thành và những hệ quả
của xã hội làng xã từ cổ truyền đến hiện tại
------


Nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hoá chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) qui định (Xem thêm Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, tr.36.).

Xét về vị trí địa lý và khí hậu, Việt Nam nằm ở phía Đông Nam Châu Á, diện tích 312.000 km2, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, đặc thù nắng nóng và mưa nhiều (lượng mưa hàng năm hàng khoảng 1000 mm), với hệ thống sông nước dày đặc, rất thuận lợi cho thực vật phát triển, đặc biệt là lúa nước (Xem Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, tr.12-13.).



Xuất phát từ nền văn hoá nông nghiệp vốn dĩ phải phụ thuộc nhiều vào thời tiết, người nông dân có xu hướng chú trọng tới các mối quan hệ hoà đồng, hình thành lối tư duy cầu an, ưa ổn định, ngại thay đổi.

Từ thời Hùng Vương đến thời Bắc thuộc chúng ta không có chế độ tư hữu về ruộng đất và cũng chưa hề tồn tại trong lịch sử Việt Nam một chế độ xã hội hoàn chỉnh được đặt định trên nguyên lý sở hữu tư nhân về đất đai thực thụ và triệt để.Chính vì không có sở hữu tư nhân thực sự về ruộng đất trong một thời gian dài dẫn đến tư duy “tiểu nông”, “SX nhỏ” và lối kinh doanh "phường hội". Trong cá tính của người Việt, từ yếu tố lịch sử cũng hình thành nên rất nhiều đức tính quí báu rất đáng trân trọng, nhưng cũng hình thành nên những tính cách rất “khác thường”.

Do phải sống chung với kẻ thù quá lâu, ban đầu là thói quen phản kháng ách cai trị của người Hán, ban đầu là chống, chống lâu thành quen, từ đó hình thành nên truyền thống trọng lệ hơn luật, truyền thống chống lại pháp luật “Phép vua thua lệ làng”.

Bên cạnh những ưu điểm của tính linh hoạt, đôi khi thuộc tính này còn bị biến dạng theo chiều hướng tiêu cực dưới những dạng thức như:
- Lối ứng xử linh hoạt trong xã hội làng xã dẫn đến căn bệnh tuỳ tiện, dễ thay đổi ý kiến. (Thí dụ, tật co giãn giờ giấc, giờ "cao su")
- Người làm nông nghiệp sống trong một không gian làng xã khép kín theo một nhịp sống tĩnh tại, ổn định, không vội vã hình thành nên một tác phong đủng đỉnh trong công việc;
- Trong kinh doanh đó là thói quen xấu như chèn ép, nói dối, thất hứa v.v... thói chụp giật, cò con, gian lận...(cạnh tranh không lành mạnh);
- Ngại tiếp xúc, giao lưu với bên ngoài cũng hình thành nên tâm lý bài ngoại, hoài nghi…

Về tổ chức quản lý và sinh hoạt của làng xã, xã có thể cùng là làng hoặc một xã có thể gồm vài làng, xóm cũng có thể cùng là thôn hoặc một thôn cũng có thể có vài xóm (nông thôn Nam bộ còn có ấp [ấp là xã thôn lập ra ở nơi mới khai khẩn hoặc thôn ở biệt lập]).

Làng xã muốn duy trì sự ổn định của mình nên đã hạn chế việc người nông dân bỏ làng đi ra ngoài, cũng như không cho người ngoài vào làng sống.

Dân chính cư trong xã chia thành 5 hạng: Chức sắc gồm những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm; chức dịch gồm những người đang làm việc trong xã; Lão gồm những người thuộc hạng lão trong các giáp; Đinh gồm trai đinh trong các giáp; Ti ấu là hạng trẻ con của các giáp.

Lí dịch quản lý chủ yếu ba hạng dân Lão, Đinh, Ti ấu, dựa vào giáp nên việc tổ chức quản lý hoàn toàn tự nguyện và khá ổn định; đứng đầu ban lý dịch là lý trưởng; dưới đó là phó lí (giúp việc), hương trưởng (công ích) và trương tuần hay xã tuần (lo việc an ninh, tuần phòng). Phương tiện quản lý chủ yếu của lí dịch có hai loại sổ - sổ đinhsổ điền: một tay nắm nhân lực (trai đinh), và một tay nắm kinh tế ruộng đất.

Từ việc tổ chức như vậy, nên đã tạo ra tính cộng đồng tính tự trị.

Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác.

Tính tự trị là sự tồn tại biệt lập giữa các làng, và độc lập cả với trung ương. Mỗi làng là một vương quốc nhỏ khép kín với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước); có hội đồng kì mục (ở miền Bắc và miền Trung do tiên chỉ và lý chỉ đứng đầu và ở các thôn ấp miền Nam sau này gọi là Hội tề do hương cả đứng đầu- cơ quan lập pháp); lí dịch (cơ quan hành pháp).

Nếu như tính cộng đồng có chức năng liên kết các thành viên trong làng xã (hướng ngoại), thì tính tự trị lại xác định sự độc lập của làng (hướng nội).

Chính từ tính cộng đồng nên ai bỏ làng đi bị coi là biến chất, dẫn đến hệ quả là không khuyến khích việc làm giàu, làng xã đã hình thành nên một vách ngăn vô hình khiến người dân quê rất khó “mở mày mở mặt với thiên hạ”.

Chính từ những cơ sở của lịch sử, kinh tế và xã hội đã phân tích cho thấy yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam chưa thực sự được quan tâm chú trọng. Dân chủ trong lịch sử Việt Nam chủ yếu tồn tại ở hai dạng là dân chủ nông dân mà mục tiêu cao nhất của nó là hướng đến bình quân chủ nghĩa, và dân chủ làng xã lấy quan hệ cộng đồng để trói buộc con người, từ đó dẫn đến thủ tiêu vai trò cá nhân.

Người Việt luôn coi trọng tình cảm hơn lý trí, tinh thần hơn vật chất, ưa sự tế nhị kín đáo hơn sự rành mạch mà thô bạo (làm gì cũng sợ rút dây động rừng, nên có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau, chín bỏ làm mười...).

Tính tự trị tạo ra óc gia trưởng, tôn ti, tính ích kỉ, óc bè phái, địa phương. Đồng thời tính cục bộ làng xoá nhoà sự cạnh tranh giữa từng làng lẫn từng cá nhân trong cộng đồng làng (hình thành truyền thống xấu đều hơn tốt lỏi; khôn độc không bằng ngốc đàn; Toét mắt là tại hướng đình, cả làng toét mắt riêng mình em đâu).

Dưới góc độ tâm thức, tâm thức của người Việt dù đi đâu làm gì cũng đều hướng về làng quê, bản quán, sức mạnh của tâm thức bắt nguồn từ những níu kéo của những giá trị đạo đức, của mạch nguồn gốc rễ, dòng họ, chẳng vậy mà đi đâu xa người ta vẫn luôn hướng về dòng họ, mục đích cuối cùng của người dân quê thành đạt cũng đều nhằm làm vẻ vang cho dòng họ của mình. Chẳng vậy mà trong những dòng hồi tưởng của mình người Việt luôn sống bằng những hoài niệm, kí ức, từ đây trong tâm thức của người Việt cũng hình thành thói dựa dẫm, ỷ lại, ngại khó. Thí dụ, tệ đi cửa sau trong giải quyết công việc: nhất thân, nhì quen, tam thần, tứ thế... Từ đó tạo cơ sở cho việc hình thành óc bè phái địa phương, thói ích kỉ, lối sống dựa dẫm, ỷ lại, căn bệnh bằng cấp, háo danh, ham mê bổng lộc, chạy theo dục vọng...

Cho đến nay, mặc dù xã hội đã thay đổi nhưng những thói quen cũ đó nó vô hình nhưng vẫn hiện hữu, tự thân nó đã ngấm sâu, bám rễ vào trong từng cử chỉ, hành vi khiến cho việc cư xử như vậy trở nên bình thường, và được chấp nhận như một lẽ tự nhiên, nó tồn tại trong cách nghĩ, cách làm của rất nhiều người và vấn đề là ở chỗ khi là một thành viên trong xã hội như thế người ta "khó có thể xử xự khác được".

(II). Xây dựng một xã hội công dân, một xã hội pháp quyền từ xã hội làng xã - liên hệ vào điều kiện Việt Nam
-------
Thuật ngữ xã hội công dân ra đời từ thế kỷ IV-III, TCN, gắn liền với triết thuyết chính trị của hai nhà triết học cổ đại Platon (427-347 TCN) và Arixtốt (384 - 322 TCN) từ thời Hy Lạp cổ đại.

Mặc dù vậy thuật ngữ này chỉ sự thịnh hành trong ngôn ngữ chính trị - pháp lý qua các tác phẩm của T. Hốp xơ; G. Lốc-cơ (chủ nghĩa duy vật Anh); của các nhà triết học khai sáng Pháp và đặc biệt là triết học cổ điển Đức như I. Cantơ và G. Hêghen.

Nếu như theo thông lệ, con đường tuần tự mà lịch sử đã đi qua là muốn xây dựng nhà nước pháp quyền, phải bắt đầu từ xã hội công dân. Ở Việt nam, một xã hội công dân không thể được hình thành một cách tự phát, mà đòi hỏi tính tự giác, đặc biệt khi mà những ảnh hưởng của đặc thù xã hội truyền thống như đã phân tích còn khá nặng nề, việc chuyển mình từ xã hội hiện tại - xã hội làng xã lên xã hội công dân càng trở thành một vấn đề lớn đáng được quan tâm.

Ngược với xã hội làng xã, xã hội công dân là xã hội được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân, và giữa các công dân với nhau trên cơ sở pháp luật, là một hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hoá (Xem Charles R.Beitz. Social and cosmopolitan liberalism. International Affairs, page 75, 1999., xã hội công dân trước hết phải là một xã hội dân sự). Xã hội dân sự (Civil society) là những tổ chức phi nhà nước, phi lợi nhuận, được thành lập một cách tự nguyện có mục tiêu giảm nghèo và hướng tới dân chủ thực chất., thừa nhận, bảo vệ và coi trọng quyền tự định đoạt của công dân.

Đi lên từ một xã hội làng xã, để xây dựng một xã hội công dân cần phải giải quyết được các mâu thuẫn căn bản và được thực hiện bằng nhiều giải pháp cụ thể. Trong giai đoạn trước mắt hiện nay, tôi cho rằng cần phải tập trung vào việc thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, cần ưu tiên phát triển một nền kinh tế năng động, xây dựng những chính sách hợp lý, phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội

Muốn xây dựng xã hội công dân không còn cách nào khác hơn nếu không phải là phải đặt việc thúc đẩy quan hệ kinh tế - thị trường lên hàng đầu, vì chính điều này là cội nguồn hiện thực của xã hội công dân.

Khi đã là một thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, Nhà nước cần tạo ra cơ chế nhằm đảm bảo tự do kinh tế, tự do thương mại, lao động; đổi mới cơ cấu tổ chức, cũng như phương thức hoạt động của nhà nước một cách kịp thời; xác lập môi trường, khuôn khổ pháp lý thích hợp; đồng thời nhà nước cũng cần giảm việc can thiệp quá sâu vào quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mà tập trung vào quản lý ở tầm vĩ mô, hạn chế tác động tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường...

Tất cả sẽ hiện thực hoá một chân lý rất giản dị một khi đô thị hoá, công nghiệp phát triển ắt thoát khỏi sự khống chế của nông thôn, đời sống vật chất cao, đầy đủ ắt sẽ thoát khỏi sự nghèo nàn, thiếu thốn; một tốc độ đô thị hoá nhanh, thái độ làm việc khẩn trương, nền nếp sẽ làm cho hàng loạt các tính cách xấu không có lý do để tồn tại.

Thứ hai, bằng nhiều các biện pháp đồng bộ tác động nhằm tăng cường công tác xây dựng lối sống, ý thức tuân thủ chấp hành pháp luật. Ta lâu nay vẫn nghĩ cứ làm luật là dân theo, thực tế không phải như vậy. Chúng ta đầu tư rất nhiều vào việc xây dựng, ban hành ra các đạo luật, nhưng thực tế sự chấp hành pháp luật của người dân chưa được cải thiện là bao; hay nói cách khác sự đầu tư còn có sự chênh lệch giữa đầu tư cho công tác xây dựng luật và đầu tư cho công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật. Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với mối quan tâm làm sao để đưa cuộc sống vào pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân. Do đó không thể tách rời việc đưa cuộc sống vào pháp luật trong xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống trong thực tiễn áp dụng pháp luật - đây là hai mặt của một nhiệm vụ.

Như vậy, tựu trung lại, cần phải có sự kết hợp tổng hợp nhiều yếu tố:

Thứ nhất, Luật pháp đạt tới tiêu chí khách quan công bằng, nhân đạo;

Thứ hai
là mỗi công dân trong xã hội đều tôn trọng và hiểu rõ giá trị, ích lợi đích thực của luật pháp. Một khi lối sống tôn trọng luật pháp trở thành lẽ tự nhiên, như con người sống cần phải thở, thì khi đó lối hành xử theo cảm tính, hoặc do nể nang sẽ không còn.

Thứ ba,
xây dựng một xã hội bình đẳng trước hết là trong mối quan hệ giữa công dân với nhà nước vì lợi ích đa phương. Nhà nước không thể vì bất cứ lý do gì, dựa vào đó mà vi phạm những quyền cơ bản của công dân.


Muốn xây dựng một xã hội công dân không thể còn tồn tại trường hợp một công dân làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước mà không phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương xứng, cũng không còn trường hợp nhà nước có thể ban hành văn bản pháp luật vi hiến, gây thiệt hại cho lợi ích của công dân và xã hội, lại không có chế tài hay bất cứ một cơ chế kiểm soát nào. Tôn trọng sự bình đẳng, thoả thuận, tự do khế ước, nhà nước cũng là một chủ thể bình đẳng trong giao lưu dân sự, và là và chỉ là một chủ thể, một đối thủ quan trọng trong giao lưu kinh tế.

Một nhà nước hiệu năng là một nhà nước không ngừng lắng nghe, suy tư và hành động nhanh nhậy, muốn vậy cần phải tăng cường cơ chế phản biện xã hội, nhà nước không lấy cái đa số để đè bẹp cái thiểu số mà phải tìm trong các nhóm lợi ích đó tiếng nói chung, đưa ra những giải pháp đạt được lợi ích đa phương, vì sự phát triển bền vững.

Vẫn biết rằng xây dựng một xã hội công dân là một quá trình, song nếu quyết tâm đổi mới, dám so mình với thế giới để biết mình đang đứng ở đâu mà nhìn thẳng vào những yếu kém, mặt trái, những tác động nghịch (tuy vô hình nhưng hiện hữu), một xã hội biết suy tư, trăn trở như thế, xã hội đó có quyền để hi vọng về sự phát triển.

NMT

NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA QUI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC


ThS. Nguyễn Minh Tuấn
Khoa Luật, ĐHQGHN
Nguồn: Nghiên cứu Lập pháp,
Số 33(118) Tháng 3/2008 , Hiến kế Lập pháp (tr.49 - 51)


(I)
Cách diễn đạt qui phạm pháp luật
trong Bộ luật Hồng Đức



1. Muốn xây nhà phải có gạch, từng viên gạch trong tòa nhà pháp luật chính là các qui phạm pháp luật. Một qui phạm pháp luật thường rất chặt chẽ vì xét về mặt logic nó gồm có 3 bộ phận là giả định, qui định và chế tài. Giả định trả lời câu hỏi chủ thể nào, thời gian nào, hoàn cảnh nào phải thực hiện pháp luật? Bộ phận qui định trả lời câu hỏi nếu đặt vào hoàn cảnh đã nêu ở phần giả định thì chủ thể đó sẽ phải xử sự như thế nào? và bộ phận chế tài trả lời câu hỏi trường hợp không xử sự đúng yêu cầu đó thì chủ thể sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi như thế nào?
Bộ luật Hồng Đức là bộ luật thành văn nổi tiếng và có giá trị bậc nhất trong cổ pháp Việt Nam. Bộ luật này gồm 722 Điều, được chia làm 13 Chương, đa phần các điều luật được xây dựng theo phương thức cả 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài đồng thời xuất hiện trực tiếp, thậm chí ngay trong cùng một Điều luật.


Chẳng hạn như:
Điều 586 có ghi: “Trâu của 2 nhà đánh nhau, con nào chết thì 2 nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày, trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng.”. Trong đó: trâu của 2 nhà đánh nhau là giả định; con nào chết thì 2 nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày là quy định; trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng là chế tài.
Hoặc, Điều 89: “Trước sau ngày hoàng đế lên ngôi một tháng, cấm các nhà ở trong kinh thành cử hành việc tang, người nào phạm phải thì phạt 50 roi, biếm một tư”. Trong đó: Trước sau ngày hoàng đế lên ngôi một táng là giả định; cấm các nhà ở trong kinh thành cử hành việc tang là qui định; trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng là chế tài.
Với cách mô tả hành vi vi phạm pháp luật và chế tài đối với chủ thể thực hiện hành vi đó rõ ràng như vậy, người dân sẽ biết được hành vi nào nên làm, hành vi nào nên tránh. Quan xử án cũng biết được cần phải xử như thế nào, mức cụ thể ra sao.
Tính chất cụ thể, rõ ràng của cách diễn đạt thể hiện rất rõ ở việc mô tả ngắn gọn lại một tình huống cụ thể. Thí dụ như điều 393: “Người cha lấy vợ trước sinh được một con trai, phần hương hoả đã giao cho giữ; nhưng người con trai ấy lại chỉ sinh được một người con gái; mà cha có vợ lẽ hay nàng hầu lại sinh được một con trai nhưng lại bị cố tật, người con trai cố tật ấy sinh được cháu trai, thì ruộng đất hương hoả phải giao cho người cháu trai con kẻ cố tật, để tỏ ra rằng dòng họ không thể để tuyệt.”. Hoặc thí dụ, Điều 395: “Cha mẹ sinh được hai con trai, người con trai trưởng chỉ sinh con gái, con thứ lại có con trai thì phần hương hỏa giao cho con trai người con thứ; nhưng con trai người con thứ chỉ sinh cháu gái thì phần hương hỏa trước kia lại phải giao trả cho con gái người con trưởng”. Ưu điểm của cách qui định ngắn gọn một tình huống, ngoài việc dễ thuộc, dễ nhớ, dễ vận dụng còn cho thấy từ một vấn đề pháp lý khá phức tạp đã được chuyển hóa thành một tình huống rất đơn giản.
 
2. Một nét đặc sắc khác trong quy phạm pháp luật của Bộ luật Hồng Đức chính là cách qui định chế tài dưới dạng chế tài cố định. Nghĩa là với mỗi một vi phạm cụ thể thì có một hình phạt cụ thể tương ứng; mức độ tăng nặng hay giảm nhẹ cũng được quy định ngay sau đó một cách cụ thể, rõ ràng.

Ví dụ như điều 466 quy định: "Đánh gãy răng, sứt tai mũi, chột 1 mắt, gãy ngón chân, ngón tay, giập xương, hay lấy nước sôi, lửa làm người bị thương và rụng tóc, thì xử tội đồ làm khao đinh. Lấy đồ bẩn thỉu ném vào đầu mặt người ta thì xử biếm 2 tư; đổ vào miệng mũi thì biếm 3 tư. Đánh gãy 2 răng, 2 ngón tay trở lên thì xử tội đồ làm tượng phường binh. Lấy gươm giáo đâm chém người, dẫu không trúng cũng phải lưu đi châu gần (người quyền quý phạm tội thì xử tội biếm). Nếu đâm chém bị thương và làm đứt gân, chột 2 mắt, đoạ thai thì xử tội lưu đi châu xa. Nếu trong khi đương xét hỏi, người bị thương lại bình phục, thì tội nhân được giảm tội 2 bậc. Nếu đánh bị thương 2 người trở lên và nhân bị thương mà thành cố tật, hay đánh đứt lưỡi, huỷ hoại âm, dương vật đều xử tội giảo; và phải đền tiền thương tổn như lệ định. Với chế tài cố định này, nó đã đảm bảo tính chính xác trong việc áp dụng luật của các cơ quan Nhà nước, tránh được sự tuỳ tiện trong việc áp dụng luật”.
 

3. Làm luật quan trọng nhất là dự đoán được các vấn đề phát sinh. Dự đoán tốt, luật sẽ có sức sống lâu dài. Trong Bộ luật Hồng Đức từ một sự kiện hay vụ việc, nhà làm luật đã khéo léo lường tính các vấn đề phát sinh xung quanh vụ việc đó. Thí dụ, Điều 234: “Những quan coi quân đội ở các trấn, lộ hay huyện cùng những quan viên trong các cục các viện, đi lại giao kết với nhau, mưu làm việc phản nghịch, mà quan ty quản giám chẳng lưu tâm xem xét, hay dung túng giấu giếm không tâu lên, thì cùng với người phản nghịch cùng một tội; nếu đã tâu lên mà lại ngầm sai người báo cho kẻ phản nghịch biết thì tội cũng thế. Nếu vì tâu lên không giữ kín đáo để cho kẻ phản nghịch biết thì viên quan tâu được giảm tội 1 bậc. Nếu việc mưu phản nghịch đã lộ, việc hung ác đã rõ, mà quan giám không xét tình thế mà lung bắt và tâu lên, thì bị tội như tội đồng mưu; nếu việc mưu phản chưa lộ thì được giảm nhẹ hai bậc.”.



(II)
Cách diễn đạt qui phạm pháp luật hiện hành



Thực tế qui phạm pháp luật hiện hành thường không xuất hiện đầy đủ, trực tiếp cả ba bộ phận giả định, qui định và chế tài mà thông thường chỉ thể hiện một cách trực quan hai bộ phận trong một qui phạm đó là giả định và qui định hoặc giả định và chế tài.

Ví dụ 1: Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình 2000: “Khi ly hôn, nếu một bên túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng, thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng cấp dưỡng”


Ví dụ 2: Điều 151 Bộ luật hình sự 1999 có quy định: “Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.


Như vậy, ví dụ thứ nhất chỉ xuất hiện trực tiếp 2 bộ phận là Giả định và Qui định. Khá nhiều người dân hiện nay do không có điều kiện tiếp cận một cách cơ bản về luật học nên họ có suy nghĩ rằng qui phạm qui định như ở Điều 60 đến đó là hết, nhiều người còn hiểu rất nguy hiểm rằng như vậy luật chỉ mang tính chất khuyên răn, không cấp dưỡng cũng không sao?! Họ không hề biết rằng, đây là hình thức gửi chế tài, chế tài đã được gửi ở cuối văn bản ở Chương xử lý vi phạm, hoặc được dẫn chiếu đến văn bản pháp luật khác có liên quan, có thể là Bộ luật, Luật hoặc một văn bản hướng dẫn khác. Ai phải thi hành, tuân thủ pháp luật nếu không phải là những người dân, mà cách qui định thường thấy như lâu nay, người dân dễ gì tiếp cận, mà tiếp cận nó thì dễ gì để hiểu, mà chưa hiểu thì nói gì đến việc làm đúng được.


Ví dụ thứ hai, bộ phận qui định đã bị ẩn đi, người ta gọi đó là qui định ẩn, vì theo cách lập luận của các nhà lý luận, bất kì ai cũng hiểu hành vi “ngược đãi ông bà cha mẹ…” là một hành vi bị pháp luật ngăn cấm rồi, vì liền sau nó là chế tài. Người dân thì lại dễ hiểu lầm rằng đây là qui phạm không có qui định.


Phần chế tài của ví dụ 2 là “thì bị xử phạt cảnh cáo….đến ba năm”. Ai đọc đến đây cũng hiểu rằng phần chế tài ở đây không phải là chế tài cố định như Bộ luật Hồng Đức, ngược lại phạm vi áp dụng chế tài ở đây rất rộng “phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Có người cho rằng phạm vi chế tài rộng như thế, sao tránh được tình trạng tùy tiện, tình trạng “xử kiểu gì cũng được”?



(III)
Trao đổi và kiến nghị



Bộ luật Hồng Đức ra đời ở một thời điểm rất xa so với hiện tại, nhiều vấn đề không thể so sánh được, song những giá trị của Bộ luật về kĩ thuật lập pháp thì lại như một hằng số đang liên quan trực tiếp đến những vướng mắc của hiện tại, rất đáng để ta phải suy ngẫm, kế thừa:

1- Việc xây dựng các chế tài cố định trong Bộ luật Hồng Đức ở một chừng mực nhất định rất thuận lợi cho việc áp dụng, và có ưu điểm là tránh được sự tùy tiện trong việc áp dụng. Không nên xây dựng chế tài mà khoảng cách giữa mức thấp nhất và mức cao nhất của chế tài rộng, rất dễ dẫn đến sự tùy tiện trong việc áp dụng. Xây dựng nhà nước pháp quyền thì nguyên tắc “cán bộ, công chức sẽ chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép” phải được tuyệt đối tuân thủ.


2- Pháp luật được đảm bảo thực hiện ngày nay phần quan trọng là ở người dân, nếu vậy luật phải được xây dựng một cách rõ ràng, đầy đủ và cụ thể tất cả các bộ phận (giả định, quy định, chế tài) của quy phạm pháp luật. Có như thế mới tạo điều kiện để toàn thể mọi tầng lớp nhân dân hiểu luật, sống và làm việc theo pháp luật. Cũng nên nghiên cứu và học tập các mô tả tình huống, rồi mở rộng, lường tính tất cả các vấn đề phát sinh trong Bộ luật. Nhà làm luật nên chăng cần suy nghĩ về các vấn đề phát sinh trong cuộc sống, dự đoán, lường tính các vấn đề phát sinh, chứ không phải là đi sửa chữa về mặt câu chữ theo kiểu “làm văn tập thể” như một Đại biểu quốc hội đã nói trước Quốc hội.


3- Lý giải về vấn đề phương thức diễn đạt “gửi chế tài” hay “qui định ẩn” của pháp luật hiện hành, có quan điểm cho rằng làm như thế là vì “muốn tránh việc lặp lại không cần thiết”. Nếu như theo cách lý giải trên thì tại sao Luật tổ chức Quốc Hội năm 2001 có “quá nhiều việc lặp lại không cần thiết”? Cụ thể như Điều 1 của Luật tổ chức Quốc Hội năm 2001 giống với điều 83 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi); cũng như thế điều 2 giống với điều 84, điều 6 giống với điều 90, điều 7 giống với điều 91, điều 43 là sự ghép lại của điều 97 và một ý nhỏ thêm vào, một phần điều 49 giống điều 98, 1 phần điều 58 giống điều 99, điều 62 giống điều 86, điều 65 viết lại theo ngôn ngữ khác của 1 phần điều 86, Hay như Luật tổ chức chính phủ năm 2001 cũng như vậy, có quá nhiều điều lặp lại hoàn toàn hoặc 1 phần của Hiến pháp 92 sửa đổi. Đó không phải là lời giải thích thuyết phục. Để tránh việc “lồng ghép” lợi ích của ngành của Bộ cả trong việc trình dự thảo luật lẫn việc ban hành văn bản hướng dẫn, tại sao chúng ta không nghĩ đến một cơ chế hiệu quả hơn thay thế cách làm lâu nay là ngay trong một văn bản luật ta chia làm hai phần: Phần chung và phần riêng. Phần chung chỉ nêu lên những nguyên tắc chung, còn Phần riêng nêu tất cả các tình huống, các vấn đề phát sinh một cách cụ thể, chi tiết?


Luật của ta hiện nay chủ yếu vẫn là luật khung chứ không phải luật chi tiết. Luật khung tạo cơ hội cho sáng kiến cá nhân phát triển và có khả năng thích ứng cao với những thay đổi trong thực tiễn, nhưng đó cũng chính là thiên đường của sự lạm quyền. Còn luật chi tiết thì hạn chế sự lạm quyền, nhưng lại ít có khả năng thích ứng với thực tiễn thay đổi. Thực trạng “Luật chờ Nghị định, Nghị định chờ Thông tư” hiện nay đã quá phổ biến, làm nảy sinh hiện tượng nhiều vấn đề cụ thể, thậm chí cả vấn đề khó thì dành cho văn bản hướng dẫn thi hành, khó nữa lại đẩy cho cấp thấp hơn. Những người cần đến luật cứ phải ngóng cổ chờ dài và vô tình tiếp tay cho lối tư duy cục bộ ngành, cục bộ Bộ, cục bộ địa phương, dễ cho nhà nước mà khó cho dân . Ngẫm mới thấy, thời nào cũng vậy, Luật càng chi tiết thì người dân càng dễ nắm bắt, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hiểu, dễ vận dụng và thực hiện theo luật. Phải chăng đã đến lúc phải suy nghĩ một cách dũng cảm về việc qui định một cách chi tiết một cách tối đa các vấn đề ngay trong chính văn bản luật?

KỶ NGUYÊN VĂN MINH ĐẠI VIỆT


Nguyễn Minh Tuấn 

Trao đổi:

Vì sao nói Triều Lý đã mở đầu kỷ nguyên văn minh Đại Việt?

Dưới đây là một vài gợi ý trả lời

1. Ngày 2/11/1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, ông là người đã sáng lập vương triều Lý. 

2. Quyết định quan trọng đầu tiên là Lý Thái Tổ đã rời đô từ kinh đô Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long để "tính kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân". [Tên thành Thăng Long đã được đổi thành Đông Đô cuối thời Trần và Hồ; Đông Kinh thời Hậu Lê; Kẻ Chợ theo cách gọi dân gian; Hà nội ngày nay - liên tục là kinh thành của quốc gia].
3. Năm 1054 nhà Lý đặt tên nước là Đại Việt thay cho quốc hiệu Đại Cồ Việt. Nhà Lý đã thiết lập chế độ quân chủ mang tính dân tộc cao kết hợp với tinh thần Phật Giáo. 

4. Nhà Lý có chính sách nhu viễn - mềm mỏng với phương xa. Thời đó Miền núi được chia thành các châu, châu mục là các thổ tù mang chức tước của triều đình và lấy danh nghĩa triều đình để cai quản dân cư. Nhà Lý đã gả công chúa cho một số thổ tù, biến họ thành phò mã của vua và mang tước hiệu triều đình, để giải quyết mưu đồ cát cứ hay chia rẽ dân tộc.

5. Trong phát triển kinh tế, nhà Lý coi trọng nông nghiệp và đề ra nhiều giải pháp tích cực. Vua Lý cày ruộng tịch điền, ban chiếu khuyến nông. Đê Cơ Xá và nhiều công trình thủy lợi được xây dựng và bảo vệ. Các ngành nghề thủ công, thương nghiệp tương đối phát triển. Thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) là nơi buôn bán với thuyền buôn nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á.

6. Về quân sự, thay vì phải tốn kém nuôi đội quân đông như nhà Đinh - Tiền Lê, nhà Lý đã áp dụng chế độ ngụ binh ư nông. Nhà Lý chia quân lính thành phiên để thay nhau về quê làm ruộng nhằm cấp và bảo đảm lực lượng lao động nông nghiệp.

7. Về giáo dục - văn hóa, nhà Lý đã rất quan tâm phát triển giáo dục, mở mang văn hóa. Năm 1070, dựng Văn Miếu, năm 1075 mở khoa thi đầu tiên, năm 1076 lập Quốc Tử Giám trường đại học đầu tiên ở nước ta. Một tầng lớp trí thức Nho học ra đời, góp phần tích cực xây dựng thể chế nhà nước tập quyền. Văn học, kiến trúc, điêu khắc thời Lý cũng đã để lại những di sản vô giá trong kho tàng văn hóa Việt Nam.

NHÀ GIÁO CHU VĂN AN (1292 - 1370)

Nguyễn Minh Tuấn
1. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu, nổi tiếng của nước nhà. Tên tự của thầy là Linh Triệu, hiệu là Tiều Ẩn, quê ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà nội). Thời trẻ, thầy Chu Văn An học rất giỏi, tính tình thẳng thắn, không màng công danh, ở nhà dạy học. Thầy là người nổi tiếng nghiêm khắc, trọng tài năng học trò và coi thường những người cậy giàu ham chơi. Học trò của thầy Chu Văn An có nhiều người giỏi, có công giúp nước như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát v.v..
2. Vua Trần Minh Tông nghe tiếng đã mời ông ra làm Tư nghiệp (thời Trần là Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám và dạy Thái Tử học. Thời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, làm nhiều điều sai trái. Ông đã dâng sớ xin chém 7 nịnh thần (Thất trảm sớ). Tuy nhiên những ý kiến này của Chu Văn An đã không được vua chấp nhận.
Ngay sau đó, ông đã treo ấn từ quan về sống ở núi Phụng Hoàng, núi Chí Linh (Hải Dương), những những khi triều hội lớn vẫn chống gậy về kinh dự bàn. 

3. Một huyền thoại vẫn được lưu truyền nói về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của ông như sau: "Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. Ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho". Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học, quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v... Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này. Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận. Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô. (Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải. Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa). (Chu đình có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An). Câu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại về Chu Văn An để nói rằng tài đức của họ Chu có sức mạnh cảm hóa được cả quỷ thần. Tuy nhiên, qua đó cũng thấy được đức độ của Chu Văn An lúc đương thời là rất lớn. 
4. Vua Trần Dụ Tông giao việc chính sự, ông khước từ. Hoàng Thái Hậu đã từng nhận xét: "Người ấy là người không bắt làm tôi được". Vua sai người đem quần áo đến tặng, ông lạy tạ nhận xong rồi đem cho người khác. Sau khi Trần Dụ Tông qua đời, Trần Nghệ Tông lên thay, Chu Văn An đã chống gậy về kinh yết kiến vua, xong lại xin về làng cũ, không nhận chức tước, cũng không nhận ban thưởng. Không lâu sau, ông ốm nặng và qua đời. Vua Trần Nghệ Tông đã cho người đến tế lễ và ra lệnh thờ ông ở Văn Miếu. Vua còn ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. [Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã giải thích nghĩa hai chữ "Văn Trinh" như sau: (Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã. Văn là sự bên ngoài (thuần nhất )của đức; Trinh là tính chính trực, kiên địch của đức]. Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: "học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được". 
5. Chu Văn An là người thầy chủ trương thực học, thầy đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị như tập thơ "Tiều Ẩn thi tập", "Quốc ngữ thi tập", Bộ Tứ thư thuyết ước, ngoài ra còn có bộ "Y học yếu giải tập chú" là bộ sách quí đúc kết lý luận Đông y cùng nhiều phương thuốc chữa các bệnh ôn nhiệt.
6. Ngày nay, để tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của Thầy, nhân dân Thủ đô Hà Nội đã lấy tên Thầy để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội. Đó là phố Chu Văn An và Trường phổ thông Trung học Chu Văn An. Phố Chu Văn An, nguyên là đại lộ Van Vôlenhôven thời Pháp thuộc, đi từ đường Điện Biên Phủ đến phố Nguyễn Thái Học. Còn Trường trung học Chu Văn An nằm trên đường Thụy Khuê ngay ven Hồ Tây, nơi lưu truyền những giai thoại và truyền thuyết cổ xưa. Trường này nguyên trước là Trường cao đẳng tiểu học Bảo hộ (collège du protectorat) do thực dân Pháp lập từ năm 1907 để chống lại phong trào Đông kinh Nghĩa thục, nhưng nhân dân ta thường vẫn quen gọi là Trường Bưởi. Năm 1945, Cách mạng thành công, các nhà giáo và nhân dân Hà Nội đã nhất trí chọn tên nhà giáo dục mẫu mực Chu Văn An đặt tên cho trường.

DÂN CHỦ TRONG CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM

Nguyễn Minh Tuấn
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 10 (45), 2004, tr.62 - 67

Có nhiều quan điểm hiện nay hoài nghi hoặc phủ nhận về sự xuất hiện và tồn tại một truyền thống dân chủ trong điều kiện của một chế độ quân chủ chuyên chế trong lịch sử phong kiến ở Việt Nam. Trong khi đó lại có nhiều quan điểm khẳng định rằng nước ta từ xưa đã có một truyền thống dân chủ, đó là một trong những truyền thống ưu việt của nhân dân được tạo nên trong quá trình dựng nước và giữ nước, và là một cơ sở thuận lợi để xây dựng chế độ làm chủ tập thể, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vậy trong truyền thống lịch sử ở nước ta đã thực sự có dân chủ chưa? Trong bài viết này, chúng tôi xin được luận bàn về những biểu hiện và rút ra những đặc tính chung nhất từ tư tưởng đến hiện thực của chế độ dân chủ trong lịch sử, trên cơ sở đó, có thể rút ra những bài học trong việc xây dựng nền dân chủ ở nước ta hiện nay.

Tư tưởng tôn dân

Khác với các quốc gia Phương Tây, kể từ khi lập quốc, tư tưởng tôn dân đã được xem như là một đặc trưng điển hình của các quốc gia Phương Đông nói chung và Việt nam nói riêng. Vai trò của nhân dân thể hiện rõ ở mọi mặt của đời sống xã hội, từ những công việc đời thường đến việc lớn như đắp đê, trị thuỷ, ngăn lũ và chống giặc ngoại xâm, nhân dân có một sức mạnh không thể phủ nhận, và sức mạnh ấy bao giờ cũng là sức mạnh của tập thể.
Ngược dòng lịch sử, trong các triều đại phong kiến Việt nam, giai đoạn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là giai đoạn phát triển cao nhất trong việc xây dựng một mô hình chính quyền dân chủ đó là mô hình chính quyền thời Lý - Trần. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, năm 1010 Lý Công Uẩn rời đô về Thăng Long. Tư tưởng trọng dân được khẳng định rõ trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn khi đưa ra nhận định “ý dân” cũng được đặt trong mối liên hệ với “mệnh trời”: “Muốn mưu việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu thì trên phải vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”.
Nhà Lý đã chủ trương xây dựng một mô hình chính quyền thân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, sử dụng kế sách: "ngự binh ư nông". Khác với chính sách cai trị của nhà Đinh, dưới thời vua Lý Công Uẩn, nhà nước không tập trung xây dựng lực lượng quân đội thường trực mạnh mà chú trọng liên kết lực lượng dân đinh trong quần chúng ở khắp nơi. Bản chất của kế sách "ngự binh ư nông" chính là sự vận dụng khéo léo quan điểm "Tĩnh vi nông, động vi binh" khi mà chiến tranh xảy ra có thể huy động được mọi người cùng tham gia quân đội. Điểm tích cực ở kế sách này là xây dựng được lực lượng quốc phòng đủ mạnh, nhưng ngược lại, nhà nước lại không tốn kém nhiều tiền, đồng thời vẫn phát huy được sức mạnh của nhân dân.
Sử cũ chép Nhà Lý đã cho đặt Lầu Chuông trong thành Thăng Long để “dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên”, đây cũng là biểu hiện rất rõ chứng tỏ tư tưởng trọng dân của triều Lý trong lịch sử phong kiến nước ta.
Tiếp đó, thời kỳ từ 1225 - 1400 là giai đoạn cai trị của nhà Trần. Nhà Trần vẫn dựa vào mô hình chính quyền thân dân, thậm chí đạt đến mức độ hoàn thiện. Thời kỳ này nổi lên mô hình coi già làng là người có vai trò lớn trong những quyết sách quan trọng của quốc gia. Dưới thời Trần có hai sự tích khiến cả người nghiên cứu lịch sử trong nước và nước ngoài không khỏi ngạc nhiên đó là tích “Tha tội cho tiểu hiệu Hoàng Cự Đà”
[1] và tích “Hội nghị Diên Hồng”[2]. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến Nhà Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông hung hãn là ở việc nhà Trần biết dựa vào sức mạnh của nhân dân. Có thể nói, tư tưởng dựa vào dân của Trần Hưng Đạo là một minh chứng - một tư tưởng đặc sắc về dân chủ trong lịch sử. Trần Hưng Đạo đưa ra quan niệm “chúng chỉ thành thành” (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước) và tổng kết nguyên nhân thắng lợi như một triết lý dân chủ “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức”, đặc biệt khi Trần Hưng Đạo sắp qua đời được Vua Trần hỏi về kế giữ nước ông đã nói rằng: “Thần nghĩ ta thắng giặc giữ là do trên dưới đồng lòng...vì vậy, khoan thứ sức dân làm kế gốc rễ bền, ấy là thượng sách giữ nước”[3].
Tiếp nối tư tưởng trọng dân trong quan điểm của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đã tiếp tục đưa ra những tư tưởng sâu sắc về vai trò cũng như sức mạnh của dân, nâng tư tưởng này lên tầm triết lý.
Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ tư tưởng an dân và trừ bạo ngược: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
[4] Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh đã được Nguyễn Trãi đúc kết: “Nêu hiệu gậy làm cờ, tập hợp khắp bốn phương dân chúng. Thết quân rượu hoà nước, dưới trên đều một bụng cha con”. Nguyễn Trãi ví dân như nước, các triều đại phong kiến như con thuyền; thuyền nổi được là nhờ nước, nước có tác dụng chở thuyền nhưng cũng có sức mạnh lật thuyền: “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” (thuyền bị lật mới biết sức dân như nước); “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”[5]; khẳng định trách nhiệm của người cầm quyền: “Phàm người có chức vụ coi quan trị dân đều phải theo phép công bằng...đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ”[6].

Sự điều tiết ngược
Khi nói về nhà nước quân chủ trung ương tập quyền trong lịch sử phong kiến nước ta nhiều công trình đã nhấn mạnh đến tính chất chuyên chế, độc tài của các nhà nước đó, mà chưa đánh giá xứng đáng các yếu tố hay tính chất dân chủ hiện diện ngay trong hình thức nhà nước quân chủ ấy, khiến việc đánh giá nhiều khi chưa thực sự toàn diện. Lịch sử đã cho thấy trong mọi quyết sách của nhà cầm quyền dù ở bất cứ thời kỳ nào cũng đều phải xem xét đến lợi ích của nhân dân, sức mạnh của nhân dân. Dân chủ trong lịch sử ở mức độ nhất định đã mạnh đến mức có khả năng tạo ra sự đối trọng lại với quyết sách của nhà cầm quyền. Điều này chúng tôi tạm cho đó là “sự điều tiết ngược”. Việc ra các quyết định chỉ chú ý đến lợi ích của người ban hành quyết định, mà còn cả người thực hiện các quyết định đó.
Thứ nhất, trong chế độ phong kiến, mọi quyết sách của nhà vua không thể không tính đến mối quan hệ làng - nước, không thể không tính đến lợi ích của nhân dân. Vua luôn đặt mình ở vị trí con trời, “thế thiên hành đạo” thay trời để trị dân. Thời kỳ nào nhà cầm quyền không dựa vào sức mạnh của nhân dân thì thời kỳ đó, chính quyền đó không thể được coi là mạnh.
Nhiều triều đại phong kiến Việt Nam coi lòng dân là ý trời và rất quan tâm tới việc kết hợp lòng dân với ý trời. Quan niệm lòng dân tức là ý trời được thể hiện ở các điềm lành (mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt) hay điềm dữ (bệnh tật, mưa bão, lũ lụt, mất mùa...). Người cầm quyền cai trị có đức, làm việc tốt, hợp lòng dân thì trời xuống điềm lành; không có đức, ăn chơi xa xỉ, hoang phí, hại dân, dân oán thì trời xuống điềm dữ để răn bảo.
Sử cũ chép lại: sang đến đầu thế kỷ XI, Hồ Quý Ly chuẩn bị kháng chiến chống quân Minh xâm lược, xây dựng lực lượng quân thường trực khá đông, có súng thần cơ, có nhiều chiến thuyền, nhưng không đoàn kết được toàn dân, lòng dân ly tán nên đã thất bại, cha con Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt, lúc đó Hồ Nguyên Trừng đã chỉ rõ nguyên nhân của sự thất bại chỉ thông qua một câu nói: “Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi [7].
Sử cũ chép lại: Trạng nguyên Giáp Hải, quan đại thần thời Mạc Mậu Hợp, thấy chính sách của nhà Mạc không xuất phát từ lợi ích của nhân dân, gặp khi có bão lớn, ông đã dâng sớ lên vua Mạc và nói rằng: “Trời ra tai không phải vô cớ, chính ở người mà ra. Tai biến về gió bão là trời hiện điềm để răn bảo... Vậy xin bệ hạ lấy sự biến của trời là đáng sợ, coi nhân sự là cần phải sửa...thi hành mọi điều khoan tất cho dân; ban ra ân dụ để tha những dân vô tội bị ức hiếp; đặc biệt sai quan sở tại thăm nom giúp đỡ luôn. Có thế, ơn của trên ban xuống mới thấm đến kẻ dưới. Lòng người đã vui, tai trời sẽ hết...Xin bệ hạ tôn trọng gốc nước, cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm khốn dân; giúp đỡ mà đừng làm hại dân...nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch tức là chính sách của vương đạo đó”[8].
Đại thần Ngô Trí Hoà đã cùng đại thần Lê Tri Bật vào năm 1618 làm tờ khai dâng chúa Trịnh điều trần về chính sách trị dân của triều đình gồm 6 việc có lợi cho dân: “1. Xin sửa đức chính để cầu mệnh trời giúp; 2. Xin đè nén kẻ quyền hào để nuôi sức dân; 3. Xin cấm phu dịch phiền hà để đời sống của dân được đầy đủ; 4. Xin bớt xa xỉ để của dân được thừa thãi; 5. Xin dẹp trộm cướp để dân được yên; 6. Xin sửa sang quân chính để bảo vệ tính mạng cho dân”[9].
Nếu suy xét rộng hơn, về mặt nguồn gốc tư tưởng dân chủ đó, một phần là sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng dân vi bản trong triết lý Nho gia thời Tiên Tần, đó là thuyết “dân quý quân khinh”, thuyết “dân là nước, vua là thuyền” của Tuân Tử... mà điểm đặc sắc nhất có lẽ là ở luận điểm cho rằng an nguy quốc gia, chính trị có bình ổn hay động loạn được quyết định bởi lòng dân thuận hay nghịch “trời sinh ra dân, không phải sinh ra ra vì vua; trời lập ra vua cũng là vì dân”[10].
Thứ hai, nhân dân có khả năng tạo ra sự đối trọng với nhà cầm quyền: Trước thời kỳ phong kiến, trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, làng trong lịch sử Việt Nam là một đơn vị tụ cư, có không gian và chiều sâu văn hoá riêng, được sử dụng như một đơn vị hành chính cơ sở mà nhà nước phải dựa vào. Trong số những dòng phát triển khác nhau của thời kỳ Bắc thuộc ở nước ta (179 TrCN đến 905 SCN), có hai dòng đối nghịch luôn luôn diễn ra một cách quyết liệt trên đất nước ta, đó là Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, trong đó có thể kể đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền đô hộ và Luật pháp cuả nhà Hán[11]. Với một thời gian dài, sự xung đột đó đã tạo ra một hiệu ứng nghịch đó là thái độ phản kháng lại nhà nước và pháp luật thời bấy giờ.
Lịch sử cho thấy nếu chính quyền triều đại nào không giải quyết tốt mối quan hệ Làng - nước, hệ quả tất yếu là sẽ có những cuộc binh biến và các cuộc nổi dậy chống chính quyền triều đại đó. Tư tưởng bạo động chính trị có cả trong những câu nói truyền khẩu dân gian “Được làm vua, thua làm giặc”; “Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa”; “Thà rằng bạo động bất lương, còn hơn chết đói nằm đường thối thây”[12]. Như vậy về mặt chính trị, tư tưởng dân chủ cao nhất của nhân dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng.
Sử cũ chép lại khi Ngô Quyền mất, nội bộ Nhà Ngô mâu thuẫn đã tạo điều kiện cho các thổ hào thứ sử địa phương nổi dậy. Năm 965, khi Xương Văn qua đời, đất nước rơi vào tình cảnh chia cắt, hỗn loạn, nổi lên 12 vùng đất biệt lập, do 12 thủ lĩnh đứng đầu. Đến cuối thời kỳ nhà Lý, nhất là từ đời Lý Anh Tông (1138 – 1175) khi chính sự dần sút kém, vua lên ngôi còn nhỏ, quyền hành nằm trong tay ngoại thích mà không ít là bọn hại nước, hại dân, lộng hành, tham bạo. Các cuộc nổi dậy của dân chúng diễn ra liên miên, như cuộc nổi dậy của Thân Lợi (1140); của Nùng Khải Lai ở Đại Hoàng (1151); cuộc nổi dậy của Hồ Đỗ ở Diễn Châu (1198)[13]

Dân chủ công xã
Nhận định chung về đặc tính dân chủ phong kiến Việt nam là dân chủ công xã. Nếu như ở Phương Tây chủ thể và đồng thời cũng là trung tâm của lý thuyết dân chủ bao giờ cũng là cá nhân độc lập, thì ở nước ta thời kỳ phong kiến, không thể có dân chủ thực sự nếu cá nhân không đặt mình trong một tập thể công xã. Quyền bình đẳng và dân chủ giữa các thành viên được thừa nhận khi họ là thành viên công xã, là bộ phận tạo thành của cộng đồng.
Vậy nên, chúng tôi quan niệm rằng khi nói đến dân chủ cần phải suy xét xem dân ở đây là ai và dân được hình dung trong tập hợp thế nào? Làm chủ cái gì và làm chủ như thế nào?. Dân chủ công xã trong lịch sử có những điểm tích cực (động lực quan trọng để duy trì và phát huy một truyền thống yêu nước, và truyền thống đoàn kết, bất khuất, chống giặc ngoại xâm). Ngược lại, cũng vì đó là dân chủ tập thể, nhưng yếu tố cá nhân dường như bị chìm đi và dân chủ sẽ không tồn tại nếu cá nhân đó không đặt trong quan hệ với tập thể công xã. Rõ ràng dân chủ công xã là một sức mạnh, song sức mạnh ấy không dựa trên sự giải phóng con người và tôn trọng quyền của con người, mà trói chặt con người trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền lợi bình đẳng của con người với tư cách là thành viên cộng đồng. Xét dưới góc độ người dân sống theo nghĩa đồng bào thời kỳ phong kiến, cộng đồng xã hội như vậy, sự làm chủ ở đây có chăng chỉ là việc chủ động làm tròn nghĩa vụ, đền đáp ơn nghĩa tổ tiên, là tình nghĩa đồng bào ruột thịt [14].
Một điểm cũng rất dễ nhận thấy là trong đấu tranh xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh tế – xã hội. Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người nông dân công xã, người sản xuất nhỏ. Dân chủ công xã có mặt chính đáng và tích cực, đó là tạo ra áp lực và đối trọng với triều đình phong kiến chống lại chế độ chuyên chế, chống những bất công của xã hội phong kiến, nhưng ở một khía cạnh khác, tư tưởng dân chủ này cũng bộc lộ sự bất lực của người nông dân trong việc tự giải phóng mình.
Qua việc phân tích và chỉ ra những đặc tính về dân chủ trong lịch sử phong kiến Việt Nam, có thể rút ra được những nhận định sau: Thứ nhất, từ xa xưa trong suốt thời kỳ phong kiến nước ta đã có một truyền thống dân chủ, dân chủ không chỉ dừng lại ở tư tưởng, học thuyết mà đã được hiện thực hoá trong cách thức tổ chức nhà nước và phương thức cai trị của nhà cầm quyền; Thứ hai, đó là sự điều tiết ngược, nhân dân có khả năng tạo ra sức mạnh đối trọng với nhà nước và pháp luật bằng ra các cuộc bạo động về chính trị; Thứ ba dân chủ trong chế độ phong kiến Việt nam là dân chủ công xã.

Kết luận

Mỗi một quốc gia, một dân tộc đều có những đặc tính dân chủ khác nhau vì dân chủ luôn được đặt trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, do vậy cách hiểu về dân chủ sẽ không giống nhau. Trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng, muốn xây dựng dân chủ thực sự cần phải đặt dân chủ trong mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật. Pháp luật là đại lượng và phương tiện của dân chủ. Dân chủ là mục tiêu, điều kiện và động lực hoàn thiện pháp luật và chỉ trong điều kiện pháp luật được tôn trọng, được tuân thủ mới có thể có dân chủ, kỷ cương; ngược lại pháp luật muốn làm tốt được vai trò của mình là đại lượng và phương tiện của dân chủ thì pháp luật phải thực sự phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Hành lang pháp lý và các qui tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội sẽ là giới hạn đảm bảo cho mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức có kỷ cương, có tự do dân chủ và không vi phạm dân chủ.[15] Nhưng hiểu được giá trị quý giá của dân chủ với tư cách là một nguồn chủ yếu của cơ hội xã hội chưa đủ, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu các cách thức và phương tiện để làm cho nó hoạt động tốt và phát huy các tiềm năng của nó. Nói như Amartya Sen thì việc đạt được công bằng xã hội không những tuỳ thuộc vào các hình thức thể chế (kể cả các qui tắc và các qui định dân chủ), mà còn tuỳ thuộc vào việc thực thi dân chủ một cách có hiệu quả[16]. Tóm lại, hiểu rõ đặc tính dân chủ trong lịch sử là vô cùng quan trọng đặc biệt trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, chính vì lẽ đó dân chủ cần phải được xem xét trên nhiều bình diện. Chúng ta tiếp thu những tiến bộ của nhân loại về dân chủ, nhưng cũng phải tính đến điều kiện tiếp nhận, cũng như khả năng tiếp nhận nó trong hoàn cảnh cụ thể ở nước ta./.

------------

Chú thích
[1] Xem Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản in nội các quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), tr174: “Vào năm 1257 (Đinh Tỵ), năm thứ 7 trị vì của Vua Trần Thái Tông có câu truyện: “Trước kia có lần vua Trần Thái Tông ban xoài cho những người hầu cận, đến lượt Cự Đà thì hết, Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên tới Đông Bộ Đầu, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ chạy trốn. Đến Hoàng giang (Khúc sông Hồng ở phía trên Nam Định, khoảng ngã ba Tuần Vương) gặp Hoàng Thái Tử đi thuyền ngược lên, Cự Đà lánh sang bờ sông bên kia, thuyền chạy rất gấp. Quan quân gọi lớn: “Quân Nguyên ở đâu?”. Cự Đà đã trả lời: “Không biết, đi mà hỏi những người ăn xoài ấy”. Thái tử lúc đó đã xin vua cha khép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung”. Vua Trần đã nói: “Cự Đà tội đáng chết cả họ, song xét thấy việc Cự Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội”.

[2] Xem Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản in nội các quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), tr189: “Vào năm 1282 (Nhâm Ngọ), năm thứ 6 trị vì của vua Trần Nhân Tông: “Tháng 12, Trần Phủ từ Nguyên trở về, tâu rằng vua Nguyên sai bọn thái tử Trấn Nam Vương, Thoát Hoan, Bình Chương A Lạt và A Lý Hải Nha đem quân lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp nước ta. Vua Trần Nhân Tông đã triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến tiệc và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đều nói “đánh”, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng.”

[3] Xem Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà nội, tập 1 tr.80

[4] Xem Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1976, tr.201

[5] Xem Nguyễn Trãi, Toàn tập, Sđd, tr. 200

[6] Xem Nguyễn Trãi, Toàn tập, Sđd, tr. 199 

[7] Xem Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr. 235

[8] Xem Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1992, tập 1, tr256 – 257. 

[9] Xem Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr.271 – 272; 

[10] Xem Du Vinh Căn, Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia, Nhà xuất bản nhân dân Quảng Tây, 2002
  
[11] Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43); Bà Triệu (248); Lý Bí (542); Đinh Kiến (687); Mai Hắc Đế (722); Phùng Hưng (791).

[12] Phan Huy Lê. Tìm về cội nguồn. Nhà xuất bản thế giới, Hà nội, 1999, Tập I, tr.112 

[13] Trương Hữu Quýnh (Chủ biên). Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản giáo dục, Hà nội, 2000, tr. 166

[14] Xem Phan Đại Doãn (Chủ biên), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, 1998, tr.107.

[15] Xem Hoàng Thị Kim Quế, Dân chủ và pháp luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số 7 (136) tháng 7 năm 2003; tr3

[16] Amartya Sen (người đạt giải thưởng Nobel về kinh tế học), Phát triển là quyền tự do, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và Nhà xuất bản thống kê phối hợp xuất bản, Hà nội, 2002.

NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA NHO GIÁO TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC


Nguồn:Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà nội,  
Chuyên san Kinh tế - Luật, T.XX, No 4, 2004, trang 39-44

Quốc Triều Hình Luật thời Lê (hay còn được gọi là Bộ Luật Hồng Đức) là bộ luật được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài đánh giá rất cao về nhiều phương diện trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Luật pháp thời này nghiêm đến mức "của rơi ngoài đường không ai nhặt, nhà nhà đêm ngủ mở cửa không phải lo trộm cướp". Đây là Bộ luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, là Bộ luật ra đời trong thời điểm Nho giáo có mức độ, điều kiện và phạm vi ảnh hưởng rộng rãi, sâu sắc nhất. Có thể khẳng định rằng Nho giáo cũng như nhiều hệ tư tưởng khác luôn chứa đựng những giá trị tích cực và hạn chế. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng tích cực cơ bản của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức.


Quốc Triều Hình Luật là công cụ quan trọng để xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền


Các vua nhà Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ (1428-1433) sau khi lên ngôi đều đề cao Nho học. Thời Lê các bộ kinh điển và sách vở liên quan tới Nho giáo được du nhập từ Trung Hoa và được phổ biến rộng rãi, vì vậy Nho giáo có điều kiện để trở thành cơ sở lý luận cho các nhà soạn thảo luật pháp thời Lê.
Sở dĩ thời Lê đặc biệt là dưới thời cai trị của vua Lê Thánh Tông được đánh giá là thời kỳ hưng thịnh nhất trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam vì thoả mãn 3 yếu tố: có một vị minh quân; hệ thống quan lại có tài và có đức; và có một hệ thống pháp luật nghiêm minh. Đây là một thời kỳ dài nhà nước rất mạnh, về lợi ích dân tộc duy trì một khoảng thời gian rất dài vắng bóng xâm lược, từ năm 1427 - 1789 không có chiến tranh, đủ sức để mở rộng cương vực về phía Nam.
Có thể nhận thấy luật pháp thời kỳ nào cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, song với Quốc Triều Hình luật, bảo vệ chủ quyền quốc gia là xuất phát từ yêu cầu bảo vệ chế độ vương quyền của Nho giáo. Quốc Triều Hình Luật đã thể chế quan điểm chính danh của Nho giáo nhằm buộc quan lại thực hiện đúng chức năng chỉ là tư vấn, phụ tá và thực thi quyền lực của nhà vua theo đúng cương vị của mình. Về lĩnh vực hành chính, những điều khoản về chế độ công vụ, quản lý hộ khẩu, đất đai được tập trung chủ yếu trong chương Vi chế, chương Hộ hôn, chương Điền sản, chương Tạp luật. Điều 103 qui định quan lại có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với nhà vua ở cương vị bề tôi như: nghĩa vụ tôn kính nhà vua (Điều 102, 125, 126...); Nghĩa vụ thực hiện mệnh lệnh của nhà vua một cách nhanh chóng, cẩn trọng (Điều 119, 122, 123); Nghĩa vụ phải làm tròn bổn phận ở cương vị được giao và không vượt quá chức phận (Điều 121, 124, 174, 326, 521).
Quốc Triều Hình Luật qui định nghiêm ngặt các nghi thức tế lễ trong triều ở Điều 104, 105, 106, 108, 109 và trừng phạt những hành vi bất kính với nhà vua ở Điều 118, 125, 126, 136; trừng phạt những hành vi tiếm lễ xâm hại đến đặc quyền chỉ thuộc về nhà vua ở Điều 114, 135 nhằm bảo vệ và đề cao lễ vua tôi.
Vượt lên những hạn chế về tính giai cấp, căn cứ vào hiệu quả thực tế của việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước lúc bấy giờ cho thấy nhà Lê, đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông đã xây dựng được một bộ máy hoàn bị nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, phát huy được sức mạnh tập thể - một bộ máy mà trên dưới đồng lòng, vua ra vua – bề tôi ra bề tôi.


Bộ Luật Hồng Đức bảo vệ những giá trị đạo đức Nho giáo, đặc biệt là đạo đức trong gia đình


Khổng Tử đã đưa ra một nhận định nổi tiếng khi luận bàn về vai trò của pháp luật trong mối liên hệ với đạo đức, ông cho rằng: “ luật pháp chỉ là công cụ dẫn dắt bằng chính, chấn chỉnh bằng hình, dân chịu mà vô sỉ. Dẫn dắt bằng đức, chấn chỉnh bằng lễ, biết sỉ lại tiêu chuẩn, dân mới biết tự trọng và vào nề nếp… Pháp luật chỉ khiến người ta sợ mà không dám làm điều ác, còn dùng đức trị thì người ta xúc động tận trong lòng và tự nguyện thực hiện, không phải vì sợ pháp luật mà là vì sợ xấu hổ trước người khác, sợ lương tâm cắn rứt đến chết dần, chết mòn”[1]. Ở Việt Nam và một số nước Á Đông, trong luân lý và đạo đức truyền thống đều hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, lâu dài, một trách nhiệm, một luân lý và đạo đức mà tình cảm cá nhân phải phụ thuộc vào đó. “Con người vừa mới sinh ra đã phải là người con có hiếu và thuận hoà - cả cuộc đời đều hiến thân cho gia đình, lấy công việc xây dựng gia đình làm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Hạnh phúc và danh dự cá nhân được gắn chặt với hạnh phúc và danh dự gia đình.”[2]. Triều Lê đặc biệt chú trọng đến vấn đề gia đình, coi gia đình là cơ sở quan trọng bậc nhất để tạo lập kỉ cương và ổn định xã hội.
Cũng giống như vấn đề chủ quyền quốc gia, luật pháp thời kỳ nào cũng điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng mục đích của việc điều chỉnh vấn đề hôn nhân gia đình trong Quốc Triều Hình Luật là nhằm bảo vệ chế độ tông pháp của Nho giáo. Những chuẩn mực đạo đức ấy được tập trung vào các mối quan hệ cơ bản (Tam cương) với năm đức chủ yếu (Ngũ thường). Quốc Triều Hình Luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản về kết hôn, ly hôn, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái nhằm bảo vệ chế độ tông pháp và cũng là bảo vệ thuần phong mĩ tục của dân tộc.
Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê cho phép người trong gia đình được che chở lẫn nhau, nghiêm cấm sự tố cáo ông bà, cha mẹ - đó là đạo hiếu truyền thống của người Việt từ ngàn đời nay được thể chế hoá vào trong luật. Trong tâm hồn của mỗi người Việt nam, ngay từ thủa lọt lòng đã được giáo dục và ứng xử theo nguyên tắc hiếu - kính, con cái trong gia đình phải kính trọng, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ, biết “kính trên nhường dưới”, người Việt quan niệm rằng “hiếu là nhân cách con người, là gốc của nhân luân, là một giá trị xã hội cao quí”[2; tr.151]. Điều 504 qui định: “Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ, nô tỳ tố cáo chủ có tội lỗi gì đều xử tội lưu đi châu xa, vợ tố cáo chồng cũng bị tội trên. Tố cáo ông bà ngoại, cha mẹ và ông bà cha mẹ về bậc tôn trưởng và hàng cơ thân của chồng, cùng là nô tỳ tố cáo người bậc cơ thân của chủ, dẫu việc có thật cũng phải tội biếm hay tội đồ.”; Điều 485: "Ông bà cha mẹ bị người ta đánh, con cháu đánh lại mà không bị què gẫy, bị thương thì không phải tội.” Đây là đặc điểm rất đặc sắc của Quốc Triều Hình Luật, thể hiện rõ ưu thế của đạo đức, ngay cả trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật và đạo đức thì đạo đức vẫn được coi là cái gốc để điều chỉnh hành vi của con người.
Quốc Triều Hình Luật qui định về thất xuất (bảy trường hợp người chồng được phép bỏ vợ), đây là những căn cứ mà người vợ rất dễ mắc phải. Cũng trong bộ luật này nhà làm luật cũng qui định 3 trường hợp đặc biệt (tam bất khứ) buộc người chồng không được phép bỏ vợ: Đã để tang nhà chồng được 3 năm; Trước khi lấy chồng thì nghèo, sau đó trở nên giàu có; Trước khi lập gia đình có họ hàng thân thích sau đó không còn bà con để trở về. Về mặt kĩ thuật lập pháp, hai điều luật này tưởng chừng như ở rất xa nhau, nhưng chỉ với một điều luật qui định “tam bất khứ” nhà làm luật đã hoàn thành xuất sắc việc bảo vệ sự ổn định của gia đình, bảo vệ chế độ tông pháp, hạn chế việc phá vỡ trật tự gia đình của Nho giáo vì thế mà lưu giữ được những giá trị đạo đức trong gia đình, cũng là những giá trị đạo đức của Nho giáo.


Sự kết hợp giữa Lễ và Hình là một đặc trưng nổi bật của Quốc Triều Hình Luật


Quốc Triều Hình Luật là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Nhà làm luật thời kỳ này chưa có ý thức phân chia thành các ngành luật cụ thể theo cách phân loại của tư duy pháp lý hiện đại, các điều luật điều chỉnh chủ yếu được thể hiện dưới dạng luật hình sự khi điều chỉnh các lĩnh vực pháp luật (nói như GS. Vũ Văn Mẫu thì Bộ luật Hồng Đức là bộ luật mang “tính hàm hỗn”[3]. Quốc Triều Hình Luật ra đời trên cơ sở của đạo Nho, nên trong những qui định của Quốc Triều Hình Luật thể hiện sự tiếp thu các quan điểm của lễ giáo phong kiến, phù hợp với các hình phạt được qui định trong bộ luật. Khổng Tử khẳng định Lễ là phạm trù văn hoá, là cái có sau do bản tính của con người qui định. Vì vậy Lễ trước hết được hiểu là những nghi lễ, những qui phạm đạo đức qui định quan hệ giữa người với người theo trật tự danh vị xã hội chặt chẽ thời nhà Chu. Lễ được xem là lẽ phải, là bổn phận mà mọi người có nghĩa vụ phải tuân theo. Ví như việc hiếu thảo với cha mẹ, việc hoà thuận anh em, việc thuỷ chung cùng chồng vợ, việc tín nghĩa giữa bạn bè, cao hơn Lễ được hiểu đó là kỉ cương phép nước, là trật tự xã hội qui định hành vi của mỗi con người. “Nhờ có Lễ mà mỗi người có cơ sở bền vững để tiết chế nhân tình, thực hiện nhân nghĩa ở đời... Nhờ có Lễ, con người có thể tự mình nuôi dưỡng tính tình thành tập quán, thói quen đạo đức truyền thống“.[4]
Tiếp thu quan điểm Lễ của Nho giáo, các nhà làm luật triều Lê đã đưa ra những qui định và hình phạt chặt chẽ nhằm bảo vệ lễ giáo phong kiến. Trong gia đình, những hành vi vi phạm đạo lý của Nho giáo cũng bị qui định phải chịu hình phạt theo hệ thống hình phạt ngũ hình ở Điều 1, đó là hình phạt từ nhẹ đến nặng như: Suy, trượng, đồ, lưu, tử. Để cho giáo lý của đạo Nho được mọi người tuân theo một cách triệt để, nhà làm luật đã dùng đến những hình phạt rất nặng để trừng trị những hành vi trái với đạo lý Nho giáo. Ngoài xã hội, chịu ảnh hưởng tư tưởng trung quân của Nho giáo, Quốc Triều Hình Luật đưa ra các hình phạt cho những người phạm vào kỉ cương phép nước và trật tự xã hội, mưu mô làm việc đại nghịch, mưu mô theo giặc phản nước phải chịu hình phạt cao nhất là xử tử ở Điều 411, 412.
Việc qui định chặt chẽ những lễ nghi trong gia đình, ngoài xã hội và trừng phạt nghiêm khắc những người xâm hại lễ nghi thì Quốc Triều Hình Luật đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa Lễ và Hình. Qua đó, Bộ luật đã bảo vệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc như lòng hiếu thảo, sự tôn kính ông bà, cha mẹ của con cháu; sự hoà thuận chung thuỷ giữa vợ chồng; sự kính nhường hoà thuận giữa anh chị em, truyền thống tôn sư trọng đạo. Đồng thời các qui định nghiêm khắc áp dụng trong mỗi vi phạm lễ nghi gia đình của Quốc Triều Hình Luật có tác động rất lớn đến sự tự điều chỉnh hành vi trong gia đình khiến họ sớm có ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với bản thân và làm tròn bổn phận ở từng vị trí cụ thể với gia đình mình. Như vậy, bộ luật đã hỗ trợ đắc lực cho sự giáo dục đạo đức trong gia đình, trong xã hội, đã dùng pháp luật để xây dựng, củng cố những chuẩn mực và giá trị đạo đức truyền thống.


Bộ luật Hồng Đức quan tâm đến lợi ích của con người trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội


Cách đây 2500 năm, Khổng Tử đã đề cập đến vấn đề con người. Học thuyết nhân của ông là học thuyết về con người. Khổng Tử là người đã rất chú trọng đến vai trò của con người. Ông đã coi con người là con người cho dù người đó là nô lệ. Đây là quan điểm hết sức tiến bộ, vì cho đến hơn 200 năm sau này, Aritstot vẫn xem nô lệ chỉ là công cụ biết nói (voiced instrument). Như vậy, có thể thấy triết lý của phương Đông nói chung và triết lý của Việt Nam nói riêng là triết lý nhân sinh, là triết lý của chính trị đạo đức, mà hệ tư tưởng của Nho giáo là một trong những hệ tư tưởng tiêu biểu của Phương Đông. Mặc dù không tránh được những ảnh hưởng về giai cấp, nhưng tiến bộ hơn cả là những nhà làm luật triều Lê đã đưa ra nhiều qui định bảo vệ các lợi ích cơ bản của con người trong xã hội đặc biệt là tầng lớp dưới. Những qui định này giúp ta thấy rõ được tính xã hội sâu sắc của nhà nước phong kiến Việt Nam. Thí dụ: Quốc Triều Hình Luật có những điều luật bảo vệ quyền làm dân tự do của dân đinh, và những hình phạt cụ thể nhằm chống lại sự vô lý đối với dân đinh và những thường dân nói chung (Điều 165: Điều 453; Điều 365...); Các điều luật trong bộ luật triều Lê còn xử phạt rất nghiêm khắc đối với những kẻ xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác mà không phân cấp theo địa vị xã hội đối với những kẻ phạm tội (Điều 467; Điều 470...). Bên cạnh đó, Quốc Triều Hình Luật cũng bảo vệ danh dự và nhân phẩm của con người trong xã hội. Đặc biệt là những hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của quan lại, những người thuộc hoàng tộc và họ hàng ruột thịt đều bị áp dụng những hình phạt rất nghiêm khắc (Điều 473). Quốc Triều Hình Luật chịu ảnh hưởng lớn tư tưởng của Khổng - Mạnh, đặc biệt là tư tưởng về trách nhiệm của nhà cầm quyền với dân, vì mục tiêu trị quốc và thái bình thiên hạ. Những điều luật trong Quốc Triều Hình Luật đã xác định trách nhiệm của nhà nước thông qua trách nhiệm của hệ thống quan lại nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người nghèo khổ trong xã hội (Điều 294; Điều 295).


Quốc Triều Hình Luật mang đậm tính chất nhân đạo:


Chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử - nhân học, mà hạt nhân là chữ hiếu - là quan hệ huyết thống tự nhiên của con người, quan hệ huyết thống tự nhiên này là cơ sở cho chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử, đã có ảnh hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam. Nó có tính hợp lý khi Khổng Tử đã kết hợp nhân ái (đạo đức), huyết thống (quan hệ tự nhiên) và chế độ đẳng cấp (chính trị) lại với nhau; và nhân ái là chất keo để gắn chặt mối quan hệ ngang dọc của xã hội [5; tr.215-218]. "Nhân" là phạm trù trung tâm của toàn bộ học thuyết Khổng giáo. Khổng Tử nói nhiều đến chữ “Nhân” và coi “Nhân” là cao ngất, là rộng đến sâu thẳm của đạo đức con người. Tư tưởng nhân đạo thể hiện trong Quốc Triều Hình Luật trước tiên ở các qui định phản ánh chính sách hình sự khoan hồng đối với người phạm tội là người già, người tàn tật và trẻ em cũng như đối với người phạm tội tuy chưa bị phát giác đã tự thú. Thí dụ: Điều 16 Quốc Triều Hình Luật không qui định mức độ khoan hồng chung cho các độ tuổi, mà qui định các mức độ khoan hồng khác nhau tuỳ theo độ tuổi và mức độ tàn tật của họ; Điều 17 Quốc Triều Hình Luật còn qui định: "Khi phạm tội chưa già cả tàn tật, đến khi già cả tàn tật mới bị phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật.Khi ở nơi bị đồ thì già cả tàn tật cũng thế. Khi còn bé nhỏ phạm tội đến khi lớn mới phát giác thì xử tội theo luật lúc còn nhỏ“. Quốc Triều Hình Luật còn thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội tuy chưa bị phát giác và tự thú trước (trừ phạm tội thập ác hoặc giết người ). Điều 18 và điều 19: "Phàm ăn trộm tài vặt của người sau lại tự thú với người mất của thì cũng coi như là thú ở cửa quan". Điều21, 22, 23, 24 của Quốc Triều Hình Luật qui định cho chuộc tội bằng tiền (trừ hình phạt đánh roi vì cho rằng đánh roi có tính chất răn bảo dạy dỗ nên không phải cho chuộc). Biện pháp này mang tính chất nhân đạo, lần đầu tiên được qui định trong Quốc Triều Hình Luật để áp dụng cho những đối tượng được ưu đãi và được khoan hồng.
Đặc biệt hơn nữa trong Quốc Triều Hình Luật đặt ra mức hình phạt dành cho người phạm tội là phụ nữ và hình phạt đối với phụ nữ có thai cũng phản ánh tính chất nhân đạo. Điều 1 qui định trượng hình chỉ đàn ông phải chịu: “Từ 60 cho đến 100 trượng, chia làm 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng, tuỳ theo tội mà thêm bớt. Xử tội này có thể cùng với tội lưu, tội đồ, biếm chức, hoặc xử riêng chỉ đàn ông phải chịu.” Qui định này được đánh giá rất cao về sự tiến bộ của nó, nếu đặt nó trong mối liên hệ với quan niệm phong kiến (chịu ảnh hưởng lớn của tưởng Nho giáo) về địa vị thấp kém của người phụ nữ so với người chồng trong gia đình. Tính nhân đạo còn được thể hiện ở chỗ cho phép hoãn hình phạt đối với phụ nữ đang có thai và 100 ngày sau khi sinh con. Điều 680: "Đàn bà phải tội tử hình trở xuống nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị xử biếm hai tư; ngục quản bị đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi , nhưng chưa đủ hạn một trăm ngày mà đem hành hình, thì ngục quan và ngục lại bị tội nhẹ hơn tội trên hai bậc. Nếu đã đủ 100 ngày mà không đem hành hình, thì ngục quan hay ngục lại bị tội biếm hay tội phạt”..


Quốc Triều Hình Luật thể hiện “tính phản ánh” sâu sắc và tinh tế mà tiêu biểu là ở sự kết hợp chặt chẽ giữa Nho giáo và phong tục tập quán, giữa luật và tục lệ


Sở dĩ Bộ Luật Hồng Đức có được sức sống lâu dài, được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao vì bộ luật này mang tính phản ánh rất sâu sắc. Bộ Luật Hồng Đức đã thể hiện được đặc trưng văn hoá của dân tộc, nhiều qui định trong Bộ luật thể hiện tính sáng tạo cao của nhà làm luật. Mặc dù chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Bộ Đường Luật sớ nghị thời nhà Đường, nhưng trong số 722 Điều của Quốc Triều Hình Luật thì có đến 315 điều (chiếm gần một nửa tổng số điều luật) là không tìm thấy trong Bộ luật của nhà Đường.
Quốc Triều Hình Luật vừa tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo vừa phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc mình. Thí dụ: Điều 40: “Những người miền thượng du (miền núi, miền đồng bào dân tộc ít người cư trú) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người trung châu (miền trung du và miền đồng bằng) thì theo luật mà định tội.”. Có thể nói đây là điều luật thể hiện rõ nhất tính sáng tạo của nhà làm luật, luật pháp dù có hoàn bị đến đâu cũng không thể phủ nhận hoặc thay thế hoàn toàn vai trò của phong tục tập quán vốn dĩ đã tồn tại trước cả khi có luật. Một vấn đề nữa cần phải khẳng định là nhà làm luật thời kỳ này đã nhận thức rõ được sức mạnh của quần chúng nhân dân. Nho giáo đánh giá cao vai trò của dân với việc cai trị và địa vị của nhà vua, của việc củng cố và duy trì địa vị xã hội theo giai cấp phong kiến. Khổng Tử trong sách Luận ngữ đề cao vai trò của lòng dân - đó là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thịnh suy của triều đại trong ba yếu tố lương thực, binh lực, và lòng tin của dân chúng, thì Khổng Tử quan niệm lòng tin của dân chúng là yếu tố quan trọng nhất[5]. Việc coi trọng sức mạnh của quần chúng nhân dân thông qua việc bảo vệ thuần phong mĩ tục của đất nước cũng là một cách để nhà Lê ổn định xã hội và làm cho “dân cường, nước thịnh”, ở một khía cạnh khác ta cũng thấy nhà cầm quyền cũng không dại gì thay đổi hoặc phủ nhận những tập tục đó vì nếu làm vậy tự khắc triều đình sẽ vấp phải sự chống đối mạnh mẽ từ phía dân chúng.
Ngay khi làm thủ tục kết hôn, nhà làm luật rất tôn trọng và thừa nhận những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, các nghi lễ kết hôn gồm: Lễ nghị hôn: Lễ chạm mặt (dạm hỏi); Lễ định thân: Vấn danh; Lễ nạp trưng: Lễ dẫn đồ cưới; Lễ thân nghinh: Lễ đón dâu.Các nghi lễ này dần trở thành phong tục cưới hỏi của người dân Việt Nam và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Điều này hoàn toàn phù hợp với tập quán người Việt và vừa hợp với lễ nghĩa. Quốc Triều Hình Luật tiếp thu những phong tục tập quán của dân tộc đã phản ánh khá trung thực và điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ - chồng phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam được biểu hiện thông qua quyền bình đẳng về tài sản (Điều 374, 375, 376) và quyền sở hữu với tài sản riêng (Điều 374, 377, 375 ,376) quyền sở hữu với tài sản chung (Điều 375) ; bộ luật còn qui định sự ràng buộc trách nhiệm của người chồng với gia đình, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ (Điều 308, 309 , 482, 405)…
Lần đầu tiên trong lịch sử người phụ nữ được pháp luật qui định một loại quyền đặc biệt: quyền bỏ chồng: Điều 308 qui định: "Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng ) thì mất vợ". Tại sao luật qui định rõ quyền này nhưng thực tế số lượng ly hôn trong xã hội phong kiến rất ít. Chúng tôi cho rằng có thể chưa chắc người phụ nữ đã sử dụng những quyền này nhiều, nhưng qui định như vậy quyền lợi của người phụ nữ đã được bảo đảm và quan trọng hơn nó cũng trở thành cơ sở để người chồng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với vợ, với gia đình. Đây là qui định nổi bật phản ánh tính sáng tạo của nhà làm luật nhằm duy trì trật tự ổn định trong gia đình.
Rõ ràng Nho giáo du nhập vào Việt Nam đã trở thành Nho giáo Việt Nam, mang sắc thái của người Việt chứ không còn là thứ Nho giáo nguyên bản nữa. Đúng như một nhà nghiên cứu đã nhận xét Nho giáo ở nước ta như những lớp trầm tích đan xen, bện chặt lấy nhau, gần như một khu rừng nhiệt đới rậm rạp”[6]. Điều đó được chứng minh bằng việc triều Lê đã vận dụng một cách hợp tình, hợp lý những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các giá trị của Nho giáo và thể hiện được tinh thần độc lập và sáng tạo của triều đình trong việc xây dựng Quốc Triều Hình Luật đáp ứng được lòng tự tôn dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân.


KẾT LUẬN


Quốc Triều Hình Luật là bộ luật có những thành tựu to lớn, có những nét riêng biệt, thể hiện độc đáo bản sắc dân tộc và tính độc lập của một quốc gia có chủ quyền. Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị thế của mình trong lịch sử hệ thống pháp lụât của dân tộc và trên thế giới bởi những giá trị tiến bộ của nó vượt trước thời đại bấy giờ, và mang tính nhân đạo nhân văn sâu sắc của người Việt. Những giá trị trong Quốc Triều Hình Luật thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo được in đậm trong nhiều quy phạm pháp luật được ghi nhận trong Quốc Triều Hình Luật, không chỉ dưới khía cạnh như gia đình và xã hội mà nó còn được trải rộng ra dưới khía cạnh kinh tế bằng những chính sách trong nông nghiệp, chính sách quân điền, chính sách an dân, chính sách ổn định sản xuất nông nghiệp. Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Nho giáo trong Bộ Luật Hồng Đức không những giúp ta lý giải một cách sâu sắc nhiều lĩnh vực pháp luật, chế định pháp luật, qui phạm pháp luật mà còn góp phần quan trọng để bổ sung những cơ sở lý luận cần thiết đối với quá trình xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



[1] Luận ngữ (1950), Nxb Trí Đức Tòng Thơ, Sài Gòn, tr.36.
[2] Luận ngữ (1950), Sđd, tr.167.
[3] Vũ Văn Mẫu (1975), Cổ luật Việt nam và Tư pháp sử diễn giảng, Sài gòn, tr.5
[4] Phạm Đăng Hùng, Lê Công Lai (1996), Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb Giao thông vận tải, Hà nội, tr.35
[5] Du Vinh Căn (2001), Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia, Nhà xuất bản nhân dân Quảng Tây, tr.405.
[6] Nguyễn Hùng Hậu (2003), Đặc điểm của Nho Việt. Tạp chí triết học số 3(142)/2003, tr.42

THE POSITIVE VALUE OF


CONFUCIANISM IN HONG DUC CODE



MLL. NGUYEN MINH TUAN


Hong Duc Code is highly remarked about many aspects. This is also the code born when Confucianism impacted the most broadly and profoundly. By researching wholly and systematically the Code, the author analyzed as well as showed out the positive influences of Confucianism expressed in Hong Duc Code such as: on organizing the State power; the ways to maintain the moral values; the humanity, the protection of human interests; and especially the profound reflection. According to the author, these positive factors play extremely important roles in enacting and implementing law in the current stage.


* ThS, Giảng viên Khoa Luật - ĐHQGHN

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code