Showing posts with label LTM - Lý luận chung. Show all posts
Showing posts with label LTM - Lý luận chung. Show all posts

Wednesday, February 12, 2014

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:
Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng
Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.
Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Thứ hai, về nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng
Cho đến nay, có thể tạm xác định mấy nhóm nguyên nhân sau:
(1) Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, của các khoản cho vay thế chấp nhà đất. Sâu hơn là những bất ổn tín dụng nói chung (cho vay nhà đất tại Mỹ chỉ chiếm khoảng 23% tổng các khoản vay).
(2) Sự yếu kém của hệ thống tài chính – ngân hàng.
(3) Sự mất cân bằng kinh tế toàn cầu sâu sắc kéo dài, phá vỡ các tương quan và cục diện phát triển hiện có. Nguyên lý cân bằng, hài hoà trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước trong vận hành nền kinh tế thị trường bị vi phạm nghiêm trọng.
Dường như cuộc khủng hoảng này một lần nữa trắc nghiệm cuộc đối chọi giữa hai trường phái lý thuyết chủ yếu – trường phái Kên (Keynes), đánh giá cao vai trò của điều tiết nhà nước và trường phái Tân Cổ điển, nhấn mạnh vai trò của cạnh tranh tự do và đề cao quyền lực của “bàn tay vô hình” với Hây-ếc (Hayek) là đại diện.
Có vẻ cuộc khủng hoảng lần này chứng tỏ tính đúng đắn của lý thuyết Kên: nền kinh tế Mỹ bị sụp đổ do thả lỏng quá mức vai trò điều tiết của thị trường tự do, đồng thời việc giải cứu nó theo đúng bài bản Kên: nhà nước tung các gói kích cầu thì mới đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng.
Đúng là như vậy. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ Mỹ cũng như nhiều chính phủ khác của các nền kinh tế phát triển đã “trao” quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do mà lại thiếu sự giám sát. Cục Dự trữ Liên bang đã thả lỏng tín dụng cho sự bùng nổ tăng trưởng “ảo” trong một thời gian quá dài. Kết cục là nền kinh tế sụp đổ. Sự sụp đổ dây chuyền sang các nền kinh tế Tây Âu, Nhật Bản chỉ là hệ quả không tránh khỏi. Lỗi cấu trúc là ở sự mất cân đối nghiêm trọng trong quan hệ chức năng nhà nước – thị trường: khi quá ít nhà nước và quá nhiều thị trường tự do.
Rõ ràng là nếu nhà nước bỏ mặc thị trường, để thị trường tự do chi phối thì nền kinh tế sớm muộn cũng sẽ lâm vào tình trạng bất ổn và khủng hoảng. Đó là một chân lý cần được tuân thủ nghiêm ngặt. Chân lý này hàm chứa một gợi ý mang tầm cỡ đường lối và chiến lược cho Việt Nam: không được buông lỏng vai trò và chức năng quản trị phát triển của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa. Đây là một vấn đề có tính nguyên tắc.
Nhưng ở đây, xin được lưu ý hai điều.
Một là, chân lý nói trên không mới, vấn đề là ở chỗ liều lượng can thiệp nhà nước – thị trường thế nào là hợp lý. Thực tế cho thấy rằng gắn với luận điểm đề cao vai trò điều tiết nhà nước của Kên, còn một luận điểm khác cũng mang tính chân lý: sự can thiệp nhà nước quá mức cũng gây ra những hậu quả to lớn. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một bằng chứng. Cách đây 10 năm, trong một công trình nghiên cứu về cuộc khủng hoảng Đông Á của UNDP, các tác giả đã khẳng định rằng sai lầm trong chính sách và điều hành của chính phủ cũng gây hậu quả cho nền kinh tế to lớn không kém, thậm chí còn lớn hơn sai lầm do điều tiết thị trường gây ra. Cuộc khủng hoảng Đông Á chính là một ví dụ minh họa. Nghiên cứu của UNDP còn nói rằng để mặc thị trường tự do tác động và gây hậu quả, suy đến cùng, cũng là trách nhiệm nhà nước.
Điểm lại lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, có thể thấy rõ tính chu kỳ của các lý thuyết gắn với tính chu kỳ của các cuộc khủng hoảng kinh tế: khi nền kinh tế bị khủng hoảng do vai trò điều tiết của nhà nước bị xem nhẹ, còn thị trường được “thả lỏng” thì lý thuyết Kên được tôn vinh. Còn khi nền kinh tế trì trệ kéo dài, chủ yếu do nhà nước can thiệp quá sâu và kéo dài vào nền kinh tế, tính năng động của các lực lượng thị trường bị kìm hãm thì lúc đó, lý thuyết “bàn tay vô hình” và Trường phái Tân Cổ điển lại được đề cao. Thực ra, đây là một quá trình điều chỉnh để tái lập sự cân bằng chức năng nhà nước – thị trường trong việc điều hành nền kinh tế. Một sự thiên lệch lý luận kéo dài khi áp dụng vào cuộc sống sẽ dẫn đến sự méo mó trong mô hình thực tiễn.
Hai là, như đã nói, cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính lần này có quy mô toàn cầu và chịu sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa kinh tế. Nó có bản chất toàn cầu và do đó, bắt nguồn từ những căn nguyên thuộc về những xu hướng mới của thời đại.
Toàn cầu hóa về thực chất là quá trình tự do hóa. Với toàn cầu hóa, các dòng tài chính, đầu tư và thương mại di chuyển tự do trên phạm vi toàn cầu với tốc độ rất cao. Xu hướng chung là các dòng vận động này tuân thủ “luật chơi toàn cầu”, thực chất là luật chơi thị trường ngày càng tự do hóa. Theo xu hướng đó, sự vận động của các nguồn lực ngày càng vượt ra khỏi sự chế ước của các quy tắc quản trị quốc gia, tức là thoát khỏi sự điều tiết nhà nước ở từng quốc gia cụ thể. Đây là một xu thế tất yếu. Ở cấp độ đó, nó bắt nguồn từ những điều kiện mang tính thời đại, vượt khỏi những giả định truyền thống của cả lý thuyết “Tân Cổ điển” lẫn lý thuyết Kên, vốn lấy phạm vi thể chế quốc gia làm địa bàn hoạt động chính.
Chính theo xu thế đó, trong không gian thể chế toàn cầu – hội nhập quốc tế, kinh tế thế giới đã bùng nổ tăng trưởng. Quá trình này kéo dài liên tục trong hàng chục năm, khẳng định tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Nó cũng khẳng định phải có những luật chơi và thể chế quản trị toàn cầu tương ứng, không bị trói buộc bởi những thể chế quản trị quốc gia vốn rất khác biệt, thậm chí, trái ngược và xung đột nhau. Khủng hoảng thể chế quản trị nền kinh tế toàn cầu cũng có thể xem là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Đến đây, có hai vấn đề đặt ra.
Thứ nhất, những kết quả tăng trưởng “ngoạn mục” của kinh tế thế giới dưới tác động của quá trình “toàn cầu hóa – tự do hóa” đã tạo nên một thứ “men say” thị trường tự do với sự can dự ít hơn của quản lý nhà nước vào nền kinh tế trong nhiều quốc gia. Cơ chế lãi suất thấp mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ do A-lan Grin-span (Alan Greenspan), một con người thông minh và rất cẩn trọng, đứng đầu, được áp dụng kéo dài nhiều năm chính là hệ quả của thứ men say đó.
Ở khía cạnh này, chúng ta có thể ghi nhận sự thiếu hụt năng lực quản trị phát triển của nhà nước trong phạm vi quốc gia.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa quá trình toàn cầu hóa với các quy tắc quản trị quốc gia hiện hành. Cuộc khủng hoảng cho thấy rất rõ nhu cầu của sự phối hợp luật chơi, phối hợp hành động toàn cầu cùng những thể chế quản trị phát triển hữu hiệu ở cấp độ toàn cầu (và khu vực) của tất cả các quốc gia.
Ở khía cạnh này, chúng ta thấy rõ tình trạng thiếu hụt cơ chế và năng lực quản trị phát triển của các thể chế kinh tế quốc tế trên phạm vi toàn cầu và khu vực. Những hoạt động sôi động chưa từng thấy của các cấu trúc G-7, G-8, sự ra đời của G-20, nhóm BRIC (Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) hay “G-2” (Mỹ – Trung Quốc), v.v.. cùng với các thể chế truyền thống như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, v.v.. chứng tỏ nhu cầu và xu hướng toàn cầu hóa quản trị phát triển kinh tế.
Những động thái và xu hướng thực tiễn mới mẻ này rõ ràng đã vượt khỏi – dù ít dù nhiều – biên giới của nhiều lý thuyết kinh tế chủ yếu trên thế giới hiện nay.
Có lẽ đây là điều mà nhà kinh tế học nổi tiếng, Giáo sư Oan-đen Ben-lô (Walden Bello), mới đây viết rằng “Chỉ có Keynes thì chưa đủ”(1).
Thứ ba, về hệ quả của cuộc khủng hoảng
Thế giới hậu khủng hoảng sẽ biến đổi theo những chiều hướng nào và sâu sắc đến mức nào? Đây là một câu hỏi rất lớn. Nó quyết định cả sự lựa chọn chiến lược quốc gia lẫn phương hướng phát triển của các lý thuyết kinh tế.
Về ngắn hạn: sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và sự can thiệp sâu hơn, chặt chẽ hơn của nhà nước (quốc gia) vào nền kinh tế.
Về nguyên tắc, xu hướng ngắn hạn này mâu thuẫn với các xu hướng dài hạn của quá trình toàn cầu hóa – tự do hóa và trong một chừng mực nhất định, cản trở quá trình hình thành các thể chế kinh tế, thể chế quản trị phát triển toàn cầu.
Về dài hạn: Nổi lên mấy xu hướng lớn sau:
Thứ nhất, những xu hướng cơ bản vẫn được khẳng định, nhưng có những biểu hiện, động thái và tác động mới. Những xu hướng đó là:
+ Xu thế phát triển kinh tế tri thức: chuyển sang một nhịp mới về chất, sẽ được thúc đẩy rất mạnh ở các nền kinh tế (“cường quốc”) mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, tạo nên một cuộc đua tranh – cạnh tranh khoa học – công nghệ quyết liệt giữa các nền kinh tế dẫn đầu thế giới.
Xu hướng này sẽ là một động lực phát triển rất mạnh, thậm chí mạnh nhất, của kinh tế thế giới trong những thập niên tới. Nó có tác dụng làm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường toàn cầu, mở ra những cơ hội và lựa chọn mới cho các nền kinh tế.
+ Xu thế toàn cầu hóa: liên kết kinh tế xuyên quốc gia và liên quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh. Vai trò chi phối mạng kinh tế toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tương quan sức mạnh giữa các TNCs; giữa các nhóm TNCs quốc gia đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ, trong đó, đặc biệt nổi lên vai trò của các TNCs Trung Quốc, lực lượng sẽ cạnh tranh trực diện với các TNCs Mỹ, EU và Nhật Bản.
Lĩnh vực quản trị phát triển toàn cầu thay đổi mạnh mẽ theo hai hướng chính:
i) thay đổi các thể chế và các nguyên tắc và luật lệ điều chỉnh, phối hợp, liên kết kinh tế quốc tế;
ii) sự phối hợp các khối liên kết và các chính phủ gia tăng mạnh trong việc ứng phó với các biến cố toàn cầu.
Cùng với sự liên kết này, cuộc đấu tranh để thay đổi trật tự và luật chơi, giữa những đối thủ chính là Mỹ – Trung Quốc – Nhật Bản – EU (có thể tính thêm sự tham dự ngày càng sâu của BRIC) sẽ gia tăng cường độ. Xung đột và tranh chấp tài nguyên, tranh chấp thị trường, tranh chấp không gian trở nên gay gắt, đóng vai trò là cốt lõi của các cuộc xung đột và tranh chấp quốc tế. Suy thoái môi trường toàn cầu nghiêm trọng, trở thành một biến số lớn quy định hành động phối hợp chiến lược toàn cầu và định hình chiến lược quốc gia.
Bên cạnh những xu hướng “vốn có” nêu trên, cuộc khủng hoảng còn làm nổi lên những xu hướng mới:
+ Diễn ra quá trình định vị lại tương quan sức mạnh và cục diện phát triển quốc tế. Hai biến số này sẽ thay đổi nhanh chóng và sâu sắc trong giai đoạn tới, trong đó, điển hình nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc để tranh giành vị trí ảnh hưởng trong hệ thống kinh tế quốc tế.
Cuộc cạnh tranh giành quyền chi phối và phạm vi ảnh hưởng đến kinh tế thế giới và khu vực giữa Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản sẽ diễn ra trên toàn tuyến, công khai và ngày càng quyết liệt.
+ Tái cấu trúc kinh tế toàn cầu, với một số nội dung nổi bật là: i) xu hướng dịch chuyển mạnh các dòng đầu tư, trong đó cần đặc biệt lưu ý đến xu hướng đầu tư của Trung Quốc và từ Trung Quốc ra bên ngoài; và ii) cùng với xu hướng phát triển công nghệ cao được thúc đẩy mạnh mẽ ở các nước phát triển, diễn ra quá trình di chuyển công nghệ trên quy mô lớn (cực lớn) theo hai xu hướng:
i) Một là, di chuyển công nghệ cao về phía BRIC.
ii) Hai là, di chuyển công nghệ thấp từ các nền kinh tế đi trước sang các nền kinh tế đi sau có đẳng cấp thấp hơn.
Các xu hướng di chuyển vốn và công nghệ nói trên tác động rất mạnh đến:
Hướng và chất lượng các dòng đầu tư nước ngoài;
Các hệ quả xã hội (di chuyển lao động) và môi trường (ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên) to lớn, nhất là đối với những nước nghèo đi sau.
+ Hình thành tương quan tiền tệ thế giới mới, trong đó, đồng USD, đồng ơ-rô suy yếu tương đối, bên cạnh sự nổi lên mạnh mẽ của đồng NDT. Sự thay đổi tương quan này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cục diện phát triển toàn cầu, và đặc biệt, có ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đến Việt Nam.
Trên đây chỉ là khái quát một số xu hướng chính của thế giới hậu khủng hoảng. Những xu hướng đó cho thấy rằng trong giai đoạn hậu khủng hoảng, thế giới sẽ biến đổi mạnh mẽ. Nhưng đó không phải là, không chủ yếu là những biến đổi tiệm tiến về lượng. Chúng thực sự mang lại cho thế giới một diện mạo mới, với trục kinh tế trung tâm là toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức.
Nhận thức như vậy quy định cách chúng ta trở lại với các lý thuyết kinh tế hiện có. Sự trở lại này có sứ mệnh định vị rõ hơn giá trị nhận thức luận và định hướng phát triển của các lý thuyết kinh tế, được coi là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại mà nhiều quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị đều áp dụng phù hợp với đặc thù của đất nước mình trong những điều kiện hiện đại. Mặt khác, nó chứa đựng hàm ý rằng cần có sự tìm tòi, tiếp tục khám phá và sáng tạo, nghĩa là vượt thoát khỏi những khung khổ đã trở nên chật hẹp trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay của các lý thuyết này.
Mỗi cuộc khủng hoảng, theo cách nói của Sam-pi-tơ (Sumpeter), đều là một cuộc phá hủy – sáng tạo. Cuộc khủng hoảng lần này, bởi sức phá hủy ghê gớm của nó, lại càng như vậy. Thế giới đang tự lột xác thông qua cuộc khủng hoảng. Đây chính là động lực to lớn hiếm có cho những bước tiến lý luận.
Đối với Việt Nam, nhu cầu và cơ hội đó lại càng được nhân bội lên đối với hoạt động nghiên cứu lý luận. Điều này bắt nguồn từ chính thực tiễn đất nước đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, tận dụng tốt thời cơ, thuận lợi và vượt qua khó khăn, thách thức dưới tác động của một thế giới đang gia tăng tốc độ toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển kinh tế tri thức.
Đất nước đang khẩn trương nhịp bước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vững bước trên con đường đã chọn và lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc thành tựu của nền văn minh nhân loại về kinh tế thị trường và các lý thuyết phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường hiện đại, Đảng ta đang lãnh đạo đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến giữa thế kỷ này trở thành nước công nghiệp phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chịu sự tác động của toàn cầu hóa, nhiều vấn đề phát triển của đất nước đang đòi hỏi các nhà nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về tư duy lý luận, lao động sáng tạo, có bước đột phá mới về lý luận chính trị, góp phần xây dựng hệ thống lý thuyết phát triển cho Việt Nam và của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
——————————————-
(1) Sau khi khẳng định các giá trị cũng như chỉ ra những giới hạn của lý thuyết Keynes, W. Bello nhận định: Nhưng làm sống lại Keynes một cách thiếu óc phê phán có thể sẽ kết thúc bằng việc khẳng định lại câu châm ngôn của Marx: “Lịch sử ban đầu xảy ra như một thảm kịch, sau đó lặp lại chính nó như một tấn hài kịch”. Để giải quyết vấn đề, chúng ta không chỉ cần đến Keynes…
(Nguồn: Chỉ có Keynes thôi thì chưa đủ. Tuần Việt Nam, mạng Việt Nam NET)J
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 19 (187) NĂM 2009

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS.TS. HỒ VĂN VĨNH – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
I. Một số khái niệm về thương mại, dịch vụ
Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể.

Việc coi các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa…thuộc khu vực dịch vụ và được hạch toán trong hệ thống kinh tế quốc dân có thể đuợc lý giải dưới bốn góc độ: Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm đều là hàng hóa, mọi hoạt động đều là kinh doanh, mà kinh doanh là bỏ vốn ra để thu được lợi ích nhất định. Các ngành giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa…muốn hoạt động được cần đầu tư vốn và kết quả mang lại là sự phát triển toàn diện của con người, lợi ích đó còn giá trị hơn nhiều so với lợi nhuận mà một nhà kinh doanh hàng hóa vật thể đem lại. Người làm giáo dục, y tế, văn hóa cũng phải biết tính toán lỗ lãi, thiệt hơn. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, tư nhân được quyền hoạt động giáo dục, khám chữa bệnh, lập các đoàn nghệ thuật, đoàn làm phim thì mục đích không phải chủ yếu là phục vụ không công cho xã hội mà mục đích là thu lợi, trực tiếp là lợi nhuận, tức là kinh doanh, tất nhiên nếu không đạt được mục tiêu xã hội thì cũng không thể kinh doanh được. Thứ ba, trong các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa đều có các doanh nghiệp, mà đã là doanh nghiệp tất yếu phải kinh doanh, như Công ty thiết bị trường học, Công ty dược, Nhà xuất bản… là các doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh; còn các trường học, bệnh viện, đoàn nghệ thuật, câu lạc bộ bóng đá cũng có thể coi là doanh nghiệp. Thứ tư, những người được phục vụ nói chung đều phải trả tiền, phải tính toán thiệt hơn để thụ hưởng sự phục vụ có hiệu quả nhất.

Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ. Luật thương mại quốc tế lại coi hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt động thương mại. Trong ngành thương mại có ba lĩnh vực chính, đó là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư, trong đó thương mại dịch vụ là hoạt động mua bán các loại dịch vụ. Trong hoạt động thương mại lại có các loại hoạt động hỗ trợ như xúc tiến thương mại, dịch vụ thương mại.Dịch vụ thương mại là các dịch vụ phục vụ cho việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, như maketing chẳng hạn.
II. Nội dung của thương mại dịch vụ
a- Ban Thư ký WTO phân thương mại dịch vụ thành 12 khu vực bao gồm:
  1. Dịch vụ kinh doanh,
  2. Dịch vụ thông tin,
  3. Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật,
  4. Dịch vụ kinh tiêu,
  5. Dịch vụ đào tạo,
  6. Dịch vụ môi trường,
  7. Dịch vụ tài chính,
  8. Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội,
  9. Dịch vụ du lịch và các hoạt động có liên quan,
  10. Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao,
  11. Dịch vụ vận tải,
  12. Các dịch vụ khác.
Từ 12 khu vực trên đây lại chia thành 155 tiểu khu vực. Theo GATS thương mại dịch vụ bao gồm các dịch vụ ở bất kỳ khu vực nào trừ dịch vụ do yêu cầu của chính phủ, là những dịch vụ không dựa trên kinh doanh hoặc cạnh tranh.
Thương mại dịch vụ là một bộ phận hợp thành của thương mại quốc tế, nó liên quan đến hoạt động thương mại vượt qua biên giới quốc gia, theo các phương thức chủ yếu sau đây:
-Phương thức1: Thương mại dịch vụ giữa các nước, tức là mua bán dịch vụ qua biên giới giữa các nước, có thể bằng viễn thông hoặc chuyển dịch vụ bằng hiện vật như bản vẽ, băng đĩa…
-Phương thức 2: Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, tức là khách hàng đi sang nước khác để tiêu dùng dịch vụ như đi du lịch, học tập; sửa chữa tàu biển, máy bay ở nước ngoài…
-Phương thức 3: Hiện diện thương mại, tức là đầu tư trực tiếp để thành lập một chi nhánh, công ty con hay đại lý để cung cấp dịch vụ như cung cấp thông tin, tư vấn pháp luật, ngân hàng cho nước sở tại…
-Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân, tức là sự di chuyển tạm thời của cá nhân sang nước khác để cung cấp các dịch vụ như tư vấn, xây dựng, làm nội trợ, chăm sóc sức khỏe…
Trong bốn phương thức trên đây thì phương thức 3 – Hiện diện thương mại có vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại dịch vụ, đây là hình thức hoạt động thông qua liên doanh, chi nhánh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài (FDI) để cung cấp dịch vụ trong nước (ngoại trừ dịch vụ du lịch và vận chuyển), thứ đến là phương thức 1 – Thương mại dịch vụ giữa các nước. Phương thức 2 – Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài có vị trí quan trọng trong du lịch quốc tế. Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân có tỷ trọng không đáng kể trong thương mại dịch vụ, nhưng đối với các nước đang phát triển như nước ta cũng rất quan trọng trong việc xuất khẩu lao động và thuê chuyên gia nước ngoài.
b- Thương mại dịch vụ có một số đặc điểm:
Thứ nhất: Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng. Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau. Có loại xẩy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giá đầy đủ. Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thương mại hàng hóa.
Thứ hai: Thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chất xám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục…, do đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay.
Thứ ba: Thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, do đó tác dụng của thương mại dịch vụ là rất lớn. Người ta tính rằng, nếu thương mại dịch vụ được tự do hóa thì lợi ích của nó còn cao hơn thương mại hàng hóa hiện nay và xấp xỉ bằng lợi ích thu được khi tự do hóa thương mại hàng hóa hoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa công nghiệp.
Thứ tư: Thương mại dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tính của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng hóa, sản phẩm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soát con người trong thương mại dịch vụ, vì thế mà thương mại dịch vụ phải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào thương mại so với thương mại hàng hóa. Các cuộc thương lượng để đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn hơn tự do hóa thương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa của nước cung cấp và nước tiếp nhận dịch vụ đó.
c- Các nguyên tắc của thương mại dịch vụ.
Hoạt động thương mại dịch vụ nói chung phải theo các nguyên tắc cơ bản của WTO đối với thương mại hàng hóa, nhưng có sự vận dụng linh hoạt đối với các nước đang phát triển và đặc điểm kinh tế – xã hội của từng quốc gia. Các nguyên tắc cơ bản của WTO bao gồm:
-Nguyên tắc không phân biệt đối xử, gồm hai quy chế: Đãi ngộ tối huệ quốc và Đối xử quốc gia.
- Nguyên tắc tiếp cận thị trường, bao gồm hai khía cạnh: Một là, các nước thành viên mở cửa thị trường cho nhau thông qua việc cắt giảm từng bước, tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mở đường cho thương mại phát triển; hai là, các chính sách, luật lệ thương mại phải được công bố công khai, kịp thời, minh bạch để có thể dự báo được môi trường và triển vọng thương mại.

- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng, đòi hỏi các nước thành viên WTO loại bỏ bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế, vì nó làm "méo mó thương mại" như hạn ngạch, giấy phép, hạn chế số lượng nhập khẩu…mà chỉ sử dụng công cụ duy nhất là thuế, nhưng các biểu thuế phải được giảm dần trong quá trình hội nhập.
- Nguyên tắc áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, cho phép các nước thành viên khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có những hành động khẩn cấp, cần thiết, được các nước thành viên khác thừa nhận để bảo vệ sản xuất và thị trường trong nước khi bị hàng nhập khẩu thái quá đe dọa hoặc bị phân biệt đối xử gây phương hại cho nước đó.
- Nguyên tắc ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển, nhằm tạo điều kiện cho các nước này từng bước thích nghi với các thể chế của WTO như kéo dài thời gian hoặc giảm mức độ thực hiện các cam kết.
Nói chung, khi đã là thành viên của WTO thì các nguyên tắc cơ bản trên đây phải được tuân thủ cả trong thương mại hàng hóa và trong thương mại dịch vụ. Nhưng do những đặc điểm của thương mại dịch vụ luôn gắn với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thống dân tộc, an ninh quốc gia nên việc thực hiện các nguyên tắc này theo hướng tự do hóa còn nhiều hạn chế. Do đó, các nước đang phát triển được hưởng những "ưu tiên" khi thực hiện GATS nhằm khuyến khích các nước này phát triển kinh tế, từng bước thích nghi với điều kiện và nguyên tắc của WTO và giúp các nước mới gia nhập WTO cải cách kinh tế ở nước mình.
III- Tiếp cận thương mại dịch vụ theo hướng hiện đại
Lâu nay, nước ta đã mở quan hệ dịch vụ với nhiều nước như du lịch quốc tế, xuất khẩu lao động kể cả chuyên gia, thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển dịch vụ, phát triển viễn thông quốc tế… và thu được nhiều ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, riêng xuất khẩu dịch vụ năm 2001 đạt 2,81 tỉ USD, năm 2004 đạt 5,073 tỉ USD, năm 2005 dự kiến đạt 5,6 tỉ USD và đến năm 2010 dự kiến đạt 8 tỉ USD. Nghị quyết 07- NQ/TW của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế đã đề ra nhiệm vụ thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học – công nghệ, vốn, bất động sản…, tức là đã đề cập tới thị trường dịch vụ. Luật Thương mại được Quốc hội khóa 11 thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2005 đã có một chương (chương III) nói tới Cung ứng dịch vụ, trong đó có nhiều điều khoản nói tới cung ứng dịch vụ trong quan hệ quốc tế, tức là thương mại dịch vụ theo quy định của WTO.
Nước ta sắp trở thành thành viên chính thức của WTO, việc thực thi các điều khoản của Tổ chức thương mại thế giới lớn như thế này là điều bắt buộc, trong đó kể cả GATS. Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển thương mại dịch vụ là phù hợp với xu thế chung của thời đại. Hiện nay, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của các nước đã tăng lên đến 60-70%, trong khi ở nước ta ước đạt 38,5% năm 2005. Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú, con người thông minh và năng động, chính trị ổn định là tiềm năng to lớn cho phát triển thương mại dịch vụ, có sức cạnh tranh tương đối cao trong khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, những thách thức và khó khăn không nhỏ, chủ yếu là khả năng thích nghi với nguyên tắc của WTO nói chung và của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ còn hạn chế, cả trong doanh nghiệp cũng như trong quản lý nhà nước.
Để phát huy tiềm năng, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách trong hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia đầy đủ các điều khoản của GATS nhằm phát triển mạnh thương mại dịch vụ cần thực hiện một số giải pháp chính sau đây:
Một là, đổi mới và nâng cao nhận thức về thương mại dịch vụ. Ngày nay, xu thế chung của thế giới cơ cấu kinh tế đang chuyển mạnh sang phát triển dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp, giá trị công nghiệp. Đối với nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhất thiết phải tăng tỷ trọng công nghiệp cả về giá trị và lao động. Nhưng phát triển công nghiệp có bốn trở ngại lớn, đó là vốn lớn, lao động và công nghệ đòi hỏi trình độ cao, quản lý phức tạp, sức cạnh tranh thấp; trong khi phát triển dịch vụ thì bốn trở ngại đó không đến nỗi gay gắt như trong công nghiệp. Như vậy, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành dịch vụ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn. Thời gian qua, nhiều địa phương phát triển công nghiệp nông thôn, đầu tư khá lớn nhưng sản phẩm hàng hóa làm ra do chất lượng thấp, giá thành cao, không thể cạnh tranh với sản phẩm do công nghiệp lớn trong nước sản xuất và hàng ngoại nhập với giá rẻ nên phải chịu lỗ và nhiều nơi bị thất bại. Trong khi đó, một số địa phương làm tốt công tác xuất khẩu lao động đã tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho địa phương. Như vậy, về mặt nhận thức cần nhận rõ vai trò của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế ở nước ta. Thương mại dịch vụ của WTO chủ yếu là quan hệ thương mại quốc tế, nhưng trong xu thế toàn cầu hóa thì sự phân biệt trong nước và nước ngoài chỉ có tính tương đối, do đó mọi hoạt động dịch vụ trong nước cũng phải từng bước tiếp cận và thích nghi với thương mại dịch vụ trong quan hệ quốc tế.

Hai là, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để thích nghi với Hiệp định chung về thương mại dịch vụ. Để từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, cần quan tâm một số chính sách sau đây:
-Về chính sách cơ cấu kinh tế, cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng khai thác hợp lý và có hiệu quả tiềm năng và lợi thế sánh của từng vùng, từng địa phương chú trọng phát triển mạnh ngành dịch vụ. Phát triển dịch vụ và thương mại dịch vụ góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khắc phục tình trạng phân tán, manh mún, năng suất thấp và thiếu bền vững của nông nghiệp hiện nay. Cần nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ tình trạng độc quyền trong kinh doanh của một số doanh nghiệp thuộc kinh tế nhà nước, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
- Đối với các chính sách kinh tế khác, đặc biệt là chính sách thương mại, cần nhanh chóng đổi mới để phù hợp với quy chế của GATS, trong đó đặc biệt tôn trọng nguyên tắc minh bạch , đảm bảo cho mọi cơ chế, chính sách của Nhà nước cũng như của doanh nghiệp được công khai, rõ ràng, kịp thời. Đó không chỉ là nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế mà còn là quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là giải pháp hữu hiệu để phòng và chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Ba là, tạo lập môi trường thuận lợi phát triển thương mại dịch vụ. Môi trường để phát triển kinh tế nói chung và cho thương mại dịch vụ nói riêng là một hệ thống gồm nhiều loại, bao gồm môi trường: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, pháp luật, thông tin, sinh thái…, chúng có quan hệ tác động lẫn nhau, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm nhau và phụ thuộc chủ yếu bởi hệ thống chính sách đã nêu trên đây. Đối với thương mại dịch vụ, nếu có một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, pháp luật nghiêm minh phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì sẽ khuyến khích làm giàu hợp pháp đi liền với xóa đói giảm nghèo, giảm bớt bất công, chống tham nhũng, lãng phí, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại dịch vụ. Đặc biệt, trong thương mại dịch vụ phải rất coi trọng xây dựng môi trường văn hóa – xã hội, môi trường sinh thái để thu hút khách quốc tế đến nước ta.
Bốn là, coi trọng phát huy nhân tố con người trong phát triển thương mại dịch vụ. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội và ở bất cứ giai đoạn nào thì nhân tố con người vẫn giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, khác với thương mại hàng hóa, ở đó, quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng là gián tiếp thông qua hàng hóa vật thể, trong thương mại dịch vụ, quan hệ giữa người cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ nói chung là trực tiếp, do đó vai trò của nhân tố con người càng quan trọng hơn. Con người trong thương mại dịch vụ rất đa dạng về nghề nghiệp và trình độ, nhưng nói chung đều phải có tâm, có đức, có tài. Một người đi làm ở nước ngoài tuy là lao động giản đơn nhưng cũng phải biết ngoại ngữ, hiểu biết tâm lý, phong tục tập quán của nước sở tại, biết cách ứng xử lịch thiệp, giữ đúng quan hệ. Một chuyên gia đi phục vụ ở nước ngoài cần có trình độ uyên thâm, có phẩm chất đạo đức trong sáng, là tấm gương để nước ngoài nhìn nhận và đánh giá trí thức của Việt Nam. Sau khi trở thành thành viên của WTO và để phát triển thương mại dịch vụ thì con người Việt Nam nói chung phải có một sự thay đổi lớn về chất để có thể thích nghi với điều kiện mới.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 108 NĂM 2006

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – Vụ trưởng Vụ tài chính – tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã diễn ra ngày một sâu rộng trong các tháng qua và đã lan rộng ra khắp thế giới, đã có nhiều tác động không thuận đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mức độ phạm vi ảnh hưởng chưa thể đánh giá và dự báo chính xác do tình hình khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đang tiếp tục diễn biến khó lường. Do vậy, trong bài báo này, bước đầu chúng tôi xin phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp ngăn chặn tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đến nền kinh tế nước ta trong thời gian tới.
I.  ĐIỂM LƯỢC TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi Công ty Thế chấp nhà Mỹ (American Home Morgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia, Washington Mutual Inc, Bear Sterns, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Tâp đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIG), Goldman Sachs, Morgan Stanley…).
Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống Hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.
Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưng đến đầu tháng 11 này, các cơ quan của Mỹ đã phải đóng của thêm một ngân hàng nữa là Freedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17 ngân hàng. Đến thời điểm hiện nay thì nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng 10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905 lượt người), tức là mỗi ngày có 4.936 đơn xin phá sản, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2007. Tại một số bang của Mỹ, tình hình người dân lâm vào phá sản rất cao, như tại bang Nevada, số đơn xin phá sản trong tháng 10/2008 tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, bang California và Florida là 80% và 62%. Tóm lại nền kinh tế Mỹ hiện nay là khá trầm trọng và đã lây lan khủng hoảng này sang hầu khắp các nước trên thế giới.
Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnh trước diễn biến thị trường tài chính Mỹ. Đặc biệt, ngày 17/9, bất chấp nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001.
Do mức độ trầm trọng và lan rộng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế trên thế giới đã và đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực và đã có nền kinh tế lâm vào khủng hoảng mặc dù các nước này đã phối hợp sử dụng một nguồn lực tài chính lớn chưa từng có (tới hàng nghìn tỷ USD) và gần như tất cả các biện pháp có thể để hỗ trợ thanh khoản và cứu hệ thống tài chính khỏi sụp đổ.
Đối với châu Á, khủng hoảng kinh tế đã tràn vào và Inđônêxia là nước hứng chịu đầu tiên. Tiếp theo là các nền kinh tế ở châu Á khác cũng đang từng bước bị ảnh hưởng ở mặt này, mặt khác với mức độ nặng nhẹ khác nhau, thể hiện ở hàng loạt thị trường chứng khoán ở châu Á bị rơi tự do, nhiều công ty tài chính, ngân hàng khó khăn, thua lỗ và có nguy cơ phá sản. Nền kinh tế Nhật Bản đang lâm vào khủng hoảng trong những ngày gần đây: giá chứng khoán giảm mạnh, nhiều ngân hàng, công ty đã và đang trên bờ vực thẳm. Như vậy, cuộc khủng hoảng này đã được coi là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Đánh giá ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế Mỹ đến thời điểm hiện nay trên toàn thế giới là rất khó, nhưng có thể thấy đây là một con số khổng lồ. Mới đó mà nhiều quốc gia đã phải bơm ra hàng trăm tỷ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế. Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn và thất nghiệp đang chờ phía trước. Cho tới thời điểm hiện tại, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu.
Nguyên nhân của khủng hoảng lần này ở Mỹ là do một số nguyên nhân chính như: (i) Đầu tư bất động sản và tiêu dùng quá lớn; (ii) Do chính sách tài chính, tiền tệ quá lỏng, nên đã khuyến khích tiêu dùng và trực tiếp là cho vay dưới chuẩn để đầu tư bất động sản; (iii) Chứng khoán hoá tràn lan thiếu kiểm soát: các ngân hàng đầu tư ở Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường; (iv) Sự quản lý, giám sát và điều hành của Chính phủ lỏng lẻo trong suốt thời gian dài, đặc biệt là do chủ thuyết tự do hoá tài chính và thị trường tự do tự điều tiết; (v) Chủ thuyết tân tự do kinh tế Mỹ dựa vào tiêu dùng tư nhân (gần 70% GDP) và chi tiêu Chính phủ (13% GPD).
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đã đặt chính phủ các nước phải đưa ra các biện pháp chống đỡ như: Thứ nhất là sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ rút tiền hàng loạt của dân chúng trong thời gian ngắn (tăng mức bảo hiểm tiền gửi, hoặc cam kết bảo đảm an toàn tiền gửi và chi trả đầy đủ tiền gửi tiết kiệm cho dân chúng, cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính vay tiền; Thứ hai là nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách bơm một lượng tiền lớn cho nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng; giảm lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng khả năng thanh khoản; Thứ ba là quốc hữu hoá, nhà nước mua lại các khoản nợ xấu, mua lại cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành; khuyến khích các ngân hàng, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp mua lại các tổ chức đổ vỡ và phá sản. Tiếp theo là cơ cấu lại các ngân hàng và hệ thống tài chính trong nước; Thứ tư là cơ cấu lại quản trị các ngân hàng, tăng cường hệ thống giám sát bảo đảm an toàn, cơ cấu lại các khoản vay, cắt giảm nhân viên, tiết kiệm chi phí, chấn chỉnh lại các quy định nội bộ…; Thứ năm là vay tiền của IMF để xử lý khó khăn trong nước…; Thứ sáu là thực hiện một số giải pháp hỗ trợ và kích thích sản xuất hoặc đưa tiền ra để đầu tư vào những dự án hạ tầng lớn…
Như vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới lần này đặt chúng ta nhìn nhận lại sự kết hợp hài hoà giữa thị trường tự do và quản lý của nhà nước. Phải chăng việc tập trung hoá quá cao đã không thành công thì việc tự do hoá nền kinh tế thái quá cũng không thành công. Vấn đề không phải là đối lập nhau giữa thị trường tự do với điều tiết của nhà nước mà cần kết hợp hài hoà. Câu hỏi hiện nay là chính sách và liều lượng tự do hoá đến đâu thì thành công và bền vững, vai trò điều tiết của nhà nước cần thiết ở chừng mực nào.
Tình hình kinh tế Mỹ và thế giới từ nay đến cuối năm 2008 và năm 2009 sẽ có nhiều khó khăn, Theo IMF, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008 ở mức 2,8% và 2,2% năm 2009; theo HSBC, tăng trưởng kinh tế Mỹ quý IV năm 2008 là -3,0% và 2009 tăng trưởng Quý I là -0,8%, Quý II là 1,5%, Quý III là 2,6%, Quý IV là 2,8%, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ sẽ tăng lên, cuối năm 2008 ở mức 8% và 2009 là 7,8%. Tốc độ tăng tăng xuất khẩu và nhập khẩu Mỹ sẽ giảm mạnh: cuối năm 2008, xuất khẩu giảm -1,5%, nhập khẩu giảm -3,8%, đầu năm 2009 xuất khẩu giảm -1,7% và nhập khẩu giảm – 7,1%.
II. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NƯỚC TA
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta trên cả góc độ trực tiếp và gián tiếp, tuy nhiên mức độ không giống như các nước khác và chưa thể xác định cụ thể, cũng không quá lo, không hoảng hốt, nhưng không chủ quan mà bình tĩnh để xem xét, xử lý. Mặc dù, đã có nhiều ý kiến và chắc chắn sẽ còn nhiều ý kiến nữa đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế giới đến nước ta, nhưng nhìn chung có thể nói, nền kinh tế nước ta đang có chiều hướng chuyển động tốt, trở lại dần với xu thế ổn định, lạm phát được kiềm chế, tăng trưởng ở mức hợp lý, các cơ chế chính sách đang từng bước được rà soát phù hợp hơn. Nhìn vào các ngành, lĩnh vực cụ thể, chúng tôi xin nêu một số ý ban đầu như sau:
- Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: Mặc dù bị thiệt hại nặng vì lũ lụt, thiên tai ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung gây ra hư hỏng nặng về hoa màu, nhưng khả năng vụ mùa vẫn được bảo đảm. Năm 2009, khả năng sản xuất lương thực thực phẩm cũng ở mức ổn định, không bị ảnh hưởng lớn của khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới.
- Đối với sản xuất công nghiệp cũng có khó khăn, nhưng những khó khăn hiện nay là do lạm phát cao đem lại, đặc biệt là khó khăn trong lĩnh vực xây dựng. Năm 2009, khi giá cả thế giới ở mức thấp và giá trong nước ổn định, đặc biệt đi theo đó là lãi suất tín dụng ngân hàng sẽ giảm xuống tương ứng thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội khôi phục và phát triển sản xuất, ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế thế giới cũng sẽ không nhiều vì sức mua trong dân vẫn cao, mức tiêu thụ hàng hoá trong các tháng vẫn ở trong phạm vi khả quan.
- Đối với dịch vụ, về cơ bản có ảnh hưởng nhưng không lớn vì khi giá cả giảm xuống thì nhu cầu dịch vụ sẽ tăng lên và người tiêu dùng sẽ được hưởng thụ nhiều hơn các loại hình dịch vụ. Đối với dịch vụ tài chính, ngân hàng sẽ tốt hơn khi lãi suất tín dụng ngân hàng giảm xuống, chi phí dịch vụ ngân hàng ở mức thấp thì nhiều doanh nghiệp và cá nhân sẽ có điều kiện vay vốn và sử dụng các dịch vụ này nhiều hơn.
- Đối với xuất – nhập khẩu thì có ảnh hưởng trên các mặt như: do nhập khẩu các nước giảm nên xuất khẩu của ta giảm, hơn nữa giá cả các mặt hàng giảm nên mặc dù tổng sản lượng hàng xuất khẩu vẫn tăng nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm. Đó là chưa kể các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu gặp khó khăn trong huy động vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tháng 8/2008, ta xuất khẩu 6,1 tỷ USD, tháng 9/2008 giảm xuống còn 5,3 tỷ USD. Năm 2009 khả năng xuất khẩu sẽ không tăng cao do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trên các mặt nêu trên. Đối với nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2008 tăng 42,6% và nhập siêu bằng 30,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2009, nhập khẩu sẽ giảm nhưng không nhiều, khả năng nhập siêu sẽ cao.
- Hệ thống ngân hàng: Có 3 chi nhánh ngân hàng Mỹ hiện đang hoạt động tại Việt Nam là JP Morgan Chase, Citibank và FENB. Tuy nhiên chưa có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngân hàng của các chi nhánh này tại Việt Nam. Về hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có một số tác động gián tiếp, tuy nhiên cũng không đáng kể. Một số tác động có thể là: diễn biến của tỷ giá và lãi suất USD. Đô la Mỹ đã có diễn biến phức tạp do tâm lý lo lắng của nhà đầu tư. Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm người dân dự đoán USD sẽ xuống giá nghiêm trọng, và họ có thể rút USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD để mua VND gửi vào. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có một số giải pháp chỉ đạo, điều hành để ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại…
- Về tài chính, ngân sách và bảo hiểm có một số tác động nhẹ như giảm nguồn thu NSNN, hay người dân sẽ giảm các hoạt động bảo hiểm nhưng những vấn đề này về cơ bản là ổn định.
- Đầu tư nước ngoài vào nước ta: có thể được xem xét ở trên các góc độ và các mặt như: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta (FDI); đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán (FII), Viện trợ phát triển chính thức (ODA), Vay nợ nước ngoài và các nguồn khác.
Đến thời điểm hiện nay, Mỹ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ cóá hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 4,1 tỷ USD, các dự án phần lớn còn ở giai đoạn đầu và phần nhiều đầu tư vào hạ tầng dài hạn (khách sạn du lịch, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải bưu điện). 65% đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam là vào lĩnh vực dịch vụ, trong đó khách sạn du lịch chiếm 52%. Đây là khu vực có thể chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng cụ thể còn phụ thuộc vào tốc độ giải ngân của các dự án tại nước ngoài và tiềm lực, chiến lược đầu tư của từng công ty. Luồng vốn FDI thực hiện trong 10 tháng đầu năm đạt 9,1 tỷ USD, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2007. Nhìn chung, các nhà đầu tư đến từ châu Âu và Mỹ chỉ chiếm khoảng 5% trong số 59,3 tỷ USD đăng ký, trong khi các nhà đầu tư châu Á chiếm khoảng 80% (13% từ Nhật Bản và 67% từ các nước châu Á khác). Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới không chỉ gây ra khó khăn cho các nhà đầu tư Mỹ mà còn cho các nhà đầu tư từ các nước khác do sự liên thông và lệ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và các nhà đầu tư.
Đối với nguồn vốn FDI đã bắt đầu bị ảnh hưởng nhẹ. Một số dự án đăng ký mới có xu hướng chững lại, trong tháng 10/2008, chỉ số 68 dự án đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký là 2,02 tỷ USD, thấp hơn so với các tháng đầu năm (bình quân 1 tháng đầu năm số dự án đăng ký mới là trên 98 dự án với tổng số vốn trên 6,25 tỷ USD; 9 tháng đầu năm 2008 có 885 dự án đăng ký với tổng số vốn 56,27 tỷ USD). Tháng 10 năm 2008, tổng số vốn thực hiện chỉ đạt 15% so với số vốn đăng ký mới và tăng thêm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta sẽ sút giảm nhẹ vì các nước đều khó khăn, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ khó khăn hơn vì chi phí vốn sẽ đắt đỏ hơn. Hơn nữa, nhiều công ty mẹ yêu cầu các công ty con đầu tư tại nước ta phải giảm đầu tư rút vốn về để tháo gỡ khó khăn cho công ty mẹ.
Về nguồn vốn ODA, trong tháng 10, giải ngân đạt thấp, năm 2008 giải ngân không đạt như dự báo 2,3 tỷ USD vì các nguồn vốn cũng gặp các khó khăn và hạn hẹp khi các nước đang tập trung chống khủng hoảng tại nước mình. Như vậy, có thể thấy số vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam trong những năm tới sẽ có xu hướng giảm do nguồn lực tài chính của các tổ chức tài chính quốc tế và các nước được dành để cân đối bình ổn thị trường trong từng nước và quốc tế nên sẽ khó khăn hơn trong tài trợ ODA.
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII), chúng ta có thể thấy: trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đang lan rộng ra toàn cầu, các định chế tài chính sẽ phải xem xét lại chiến lược đầu tư và danh mục đầu tư của mình. Điều đó có thể sẽ diễn ra sự điều chỉnh nhất định của dòng đầu tư vào thị trường vốn Việt Nam, giảm bớt đầu tư vào Việt Nam và có xu hướng đầu tư vào các kênh an toàn.
Tính đến thời điểm này, có khoảng 70 quỹ đầu tư quốc tế lớn nhỏ đang thực hiện giải ngân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ khiến các quỹ đầu tư nước ngoài khó huy động vốn hơn hoặc sẽ có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư khi những thị trường lớn của họ đang có vấn đề. Luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng và có khả năng sẽ chảy ngược ra nếu tình hình thế giới tiếp tục xấu đi.
- Thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ thị trường chứng khoán thế giới. Mặc dù tình hình vĩ mô của Việt Nam 10 tháng đầu năm khả quan, nhưng chịu ảnh hưởng từ sự sụt giảm chứng khoán toàn cầu gây tâm lý cho các nhà đầu tư nên VN-Index cũng giảm liên tục. Hiện nay, VN-Index đã xuống dưới mức thấp và niềm tin của các nhà đầu tư cũng bị ảnh hưởng nhiều. Nhà đầu tư nước ngoài không bán chứng khoán ồ ạt nhưng cũng không mua vào nhiều chứng khoán.
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và toàn cầu cũng gây khó khăn cho việc phát hành trái phiếu và chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế vì chi phí tăng cao và ít nhà đầu tư hơn do dòng vốn khan hiếm. Nếu chúng ta phát hành để huy động với lãi suất quá cao thì đưa về đầu tư trong nước sẽ không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sẽ dẫn đến khó có khả năng trả nợ khi đến hạn.
Một nguồn lực tài chính mà chúng ta có thể hy vọng tương đối ổn định là nguồn kiều hối. Trong một vài năm trở lại đây nguồn kiều hối đã vào nước ta ở mức 9 – 10 tỷ USD, ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư kinh doanh, thì trong hai năm qua, nguồn vốn này đưa về nước còn thêm mục đích đầu tư bất động sản và đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, tình hình khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới hiện nay có thể làm cho nguồn này giảm vì tỷ lệ thất nghiệp ở các nước gia tăng, thu nhập của nhiều người sẽ giảm mạnh. Hơn nữa, thị trường chứng khoán và bất động sản ở ta cũng không còn hấp dẫn như trước đây nên khoản đầu tư vào các lĩnh vực này qua con đường kiều hối sẽ giảm mạnh.
Cùng với khó khăn của các nguồn vốn trên, thì nguồn vốn vay nước ngoài cũng sẽ bị hạn chế vì khan hiếm về vốn, chi phí vốn cao và người cho vay cũng sẽ bớt đi. Hơn nữa nếu vay để đầu tư trong giai đoạn này thì hiệu quả rất thấp nên cũng sẽ ít nhà đầu tư cố đi vay nước ngoài về để đầu tư nên khả năng đầu tư từ nguồn vốn này sẽ giảm.
Bên cạnh sự khó khăn và giảm đầu tư nước ngoài tại nước ta trong thời gian tới do khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới như đã nêu ở trên, thì chúng ta cũng thấy những cơ hội để các nguồn vốn này giảm không nhiều, đó là:
- Việt Nam đang được coi là nền kinh tế, đất nước có môi trường đầu tư ổn định nên nhiều nhà đầu tư vẫn muốn đầu tư vào nước ta. Nhiều nhà đầu tư vẫn tin vào tương lai và triển vọng phát triển của nền kinh tế nước ta và cho rằng tác động của khủng tài chính Mỹ và thế giới vào nước ta chỉ ở mức độ nhất định và sẽ khắc phục trong thời gian tới.
- Các nhà đầu tư Nhật Bản, Châu Âu đã nhắm vào khu vực Đông Nam Á và lên chiến lược trong 10 năm tới, trong đó nhấn mạnh nhất vào Việt Nam.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA
Trước tình hình khủng hoảng tài chính, tíán dụng thế giới và nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực, lạm phát tháng 10 đã ở mức -0,19%, tháng 11 là -0,76% so với tháng 10, nhưng vẫn đang ở trong tình trạng lạm phát cao. Do vậy, mục tiêu tổng quát về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009 đã được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 6/11/2008 là: “Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010”. Bên cạnh những khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới vào nước ta, phải kể đến những khó khăn nội tại nền kinh tế như: do thủ tục phiền hà, vướng mắc không được tháo gỡ nên nhiều công trình, dự án, doanh nghiệp gặp khó khăn
Chúng ta cần chuẩn bị các biện pháp tổng thể:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp chống lạm phát, nhất là tiếp tục chíánh sách tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt, thận trọng theo cơ chế thị trường (không đưa các giải pháp sốc). Sử dụng hiệu quả các công cụ tiền tệ với việc điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến của thị trường như: tỷ giá, lãi suất, hạn mức tín dụng… Trước mắt hạ lãi suất xuống một cách phù hợp theo tín hiệu thị trường. Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bảo đảm các khoản nợ này ở mức an toàn. Rà soát và kiểm soát chặt chẽ các khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán. Bên cạnh đổi mới và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, cần đổi mới quản trị nội bộ ngân hàng nhằm lành mạnh hoá hệ thống này tránh tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Thứ hai, tăng cường sự giám sát của Chính phủ đối với hệ thống tài chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán. Rà soát lại và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng. Rà soát lại các ngân hàng cho vay nhiều vào khu vực bất động sản và các dự án có tính rủi ro cao. Kiểm tra chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là tín dụng dành cho các lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm với các tiêu chí cụ thể để có phương án, giải pháp dự phòng đối với biến động xấu từ hệ thống ngân hàng, tài chính.
Thứ ba, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, có chính sách hỗ trợ nông nghiệp khắc phục hậu quả bão lụt, hỗ trợ người dân sản xuất lương thực, thực phẩm và người dân nghèo vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện thuận lợi đến các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Có chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm tiến độ thu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu trong trường hợp lạm phát cao và suy thoái kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tháng cuối năm.
Thứ tư, tiếp tục các chính sách về chặt chẽ chi tiêu Chính phủ và đầu tư khu vực công nhằm tránh xảy ra nguy cơ thâm hụt ngân sách. Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu tư công sang cho khu vực tư nhân sẽ góp phần vào việc giảm thuế cho khu vực doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Các doanh nghiệp sẽ có thêm được nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thị trường. Đẩy mạnh đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật lớn, quan trọng mà trong các thời điểm trước đây chưa có điều kiện đầu tư thì nay đầu tư để kích thích kinh tế phát triển.
Thứ năm, cải cách và tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng, phê duyệt dự án và về giải ngân để tạo điều kiện các dự án, chương trình được triển khai nhanh, đặc biệt là đối với các công ty xây dựng. Đối kinh doanh bất động sản thì bên cạnh đẩy mạnh và khuyến khích đầu tư và xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho sinh viên, học sinh, cần hạn chế và đánh thuế cao vào các trường hợp đầu cơ bất động sản.
Thứ sáu, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu, để tránh bớt tác động từ việc giảm nhập khẩu của Mỹ và một số nước chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính, tín dụng thế giới và tăng cường các thị trường mới, chuyển hướng tới mở rộng thị trường trong nước. Áp dụng các biện pháp chính sách để khuyến khích phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và giảm bớt nhập siêu. Thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt hỗ trợ xuất khẩu và tăng mức tín dụng ưu đãi cho sản xuất hàng xuất khẩu.
Tăng cường và đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước, nhất là trong các khâu thu mua nguyên liệu nông sản bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, phát triển hệ thống phân phối các vật tư quan trọng và hệ thống bán lẻ, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ bảy, theo dõi chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài, trong đó theo dõi việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Mỹ và các nước Châu Âu để có thể hỗ trợ khi cần thiết.
Thứ tám, tổ chức, điều hành và giám sát tốt việc bảo đảm sự thông suốt của cơ sở bán lẻ trong nước, không gây đầu cơ, ách tắc, khan hiếm hàng hoá. Đồng thời khuyến khích tiêu dùng hợp lý và nâng lương tối thiểu sớm cho cán bộ, công chức nhà nước và công nhân ở các doanh nghiệp.
Thứ chín, tăng cường công tác thông tin, quan hệ công chúng. Bám sát thường xuyên, cập nhật thông tin trong và ngoài nước để có đánh giá đúng diễn biến tình hình; qua đó có được phản ứng chính sách thích hợp và kịp thời nhất.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN  ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐỀ KHÁNG CỦA NỀN KINH TẾ

VŨ HOÀN NGUYÊN
Thực hiện các cam kết khi ra nhập WTO là bước hoàn thiện trong việc đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Sau gần hai năm ra nhập WTO, những biến cố kinh tế thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam tác động vào chính mình trong bối cảnh hội nhập đã khách quan chỉ ra cho các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế một ứng xử: nâng cao khả năng đề kháng của nền kinh tế sẽ hạn chế được những bất ổn.
Bất ổn kinh tế toàn cầu và những tác động đến Việt Nam
Hai khu vực kinh tế lớn của thế giới là Mỹ và châu Âu đang có sự biến động bất thường theo xu hướng xấu. Từ sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và trước đó là các cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính tiền tệ Mỹ làm cho hàng loạt ngân hàng, công ty bảo hiểm của quốc gia này phá sản và đe dọa phá sản. Giới chức chính trị Mỹ đã sôi sục đưa ra các giải pháp giải cứu. Kinh tế thế giới nín thở theo dõi động thái tiếp theo sau khi lưỡng viện Mỹ thông qua kế hoạch sử dụng 700 tỉ USD giải cứu nền kinh tế. Các quốc gia có nền kinh tế mạnh của châu Âu cũng đang bất ổn và sự bất ổn cũng bắt đầu từ hệ thống tài chính, tiền tệ.

Tuy tình hình kinh tế thế giới diễn biến xấu như trên, nhưng một số nhà quản lý và chuyên gia kinh tế vẫn lạc quan vì nền kinh tế Việt Nam chỉ chịu tác động gián tiếp ở hai lĩnh vực là xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư. Những đánh giá đó là có cơ sở. Nhiều chuyên gia kinh tế của Việt Nam cập nhật thông tin, đánh giá, nghiên cứu và liệt kê ra những nguyên nhân (thứ tự sắp xếp theo mức độ từ quan trọng đến ít quan trọng) là: nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới chưa sâu đến mức nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới; Việt Nam vẫn thực hiện các thể chế kinh tế, phương pháp quản lý có nhiều khác biệt với các quốc gia khác, trong đó sự can thiệp có hiệu quả của Nhà nước vào nền kinh tế khi phát hiện sớm những biểu hiện xấu; các tổ chức tín dụng của nước ngoài chưa đến thời kỳ được hoạt động sâu rộng tại Việt Nam; kinh tế xuất khẩu Việt Nam vẫn nặng về gia công nên hàm lượng xuất khẩu thực thụ thấp, mặt khác, hàng xuất khẩu của Việt Nam thuộc loại nhu yếu phẩm.
Tuy những cơn bão lớn của kinh tế thế giới ít ảnh hưởng lớn đến Việt Nam nhưng những biến động nhỏ hơn, nhưng thường xuyên của thị trường thế giới lại có những tác động ngay lập tức đến nền kinh tế Việt Nam. Thí dụ như, trong khoảng thời gian từ cuối 2007 đến giữa 2008, giá vật tư, nguyên liệu và nhất là nhiên liệu trên thế giới biến động lớn, biến động từng ngày và có những giai đoạn giá vật tư biến động đột biến… thì nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng xấu do: một là, phải nhập hàng hóa vào thời điểm giá cao nhất; hai là, không tận dụng được thời điểm hàng hóa giá cao nhất để bán hàng hóa của Việt Nam. Một số chuyên gia cho rằng, nguyên nhân của nó là nền kinh tế Việt Nam chưa có tiềm năng dự phòng nên cả nền kinh tế và từng lĩnh vực rất dễ bị tổn thương. Theo các chuyên gia này, mức độ dễ tổn thương được xếp theo thứ tự: ngành nông nghiệp vừa không được bảo hiểm, vừa thường gặp rủi ro về thiên tai và dịch bệnh; ngành công nghiệp tiêu dùng phải cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia có nguồn lao động rẻ, có năng lực sản xuất cao, vật tư và phụ kiện cũng được sản xuất trong chính nước họ.
Ngoài các tác động của kinh tế thế giới thì những vấn đề tầm nhìn kinh tế, tính thiếu tập trung trong quản lý và hoạch định chính sách, việc bình quân các chủ trương và chỉ tiêu giữa các địa phương đã làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả hoặc bị suy giảm nguồn lực.
Một số chuyên gia dẫn ra một vài thí dụ: nhiều địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư bằng cách ban hành chính sách ưu đãi làm giảm nguồn lực quốc gia. Nhiều địa phương phát triển thị trường bất động sản và phát triển khu, cụm công nghiệp không đúng hướng làm cho quốc gia mất khoảng 500.000 ha đất trồng trọt. Thiếu quản lý đầu tư và quản lý sản xuất dẫn đến môi trường bị hủy hoại ở quy mô lớn. Vấn đề quản lý đầu tư kém dẫn đến vốn đã thiếu lại còn ứ đọng ở những công trình dở dang. Các tập đoàn sản xuất chưa mạnh nay lại đầu tư phân tán, giảm hiệu quả của các nguồn lực v.v…
Những việc làm kể trên đã làm nền kinh tế giảm sức để kháng.
Tăng cường khả năng đề kháng, bài học từ nhiều phía
Nhiều quốc gia trước khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới tỏ ra khá bình tĩnh để tự nâng cao năng lực, nâng cao sức đề kháng của mình, đồng thời kiên trì đàm phán quốc tế để ký kết các thỏa ước kinh tế có lợi nhất cho họ. Tùy theo hoàn cảnh từng nước mà các quốc gia này có những cách ứng xử khác nhau. Câu chuyện trước đây và hiện nay của nước Nhật vẫn cần xem là bài học kinh điển cho công cuộc hội nhập.
Các nhà kinh tế Nhật không tuyên bố, nhưng dường như mỗi tập đoàn kinh tế, mỗi doanh nghiệp của họ đều chia sản xuất ra làm 2 khối: sản xuất hàng hóa cho thị trường nội địa và sản xuất hàng hóa cho thị trường xuất khẩu. Hàng nội địa của họ thường có chất lượng cao hơn hàng xuất khẩu. Bài học khác của Nhật là, cả thế giới sử dụng hệ thống điện 220V-50Hz nhưng trên quy mô toàn quốc, nước Nhật sử dụng loại điện áp 100V-60Hz. Chuyện nhỏ như thế thôi, nhưng không một loại hàng hóa điện, điện tử hoặc các loại hàng hóa nào có sử dụng điện của nước ngoài có thể vào được nước Nhật. Mặc dù Nhật tham gia vào các cam kết đơn phương, đa phương nhưng không quốc gia nào có thể kiện được cách làm của họ là hàng rào thuế quan hay phi thuế quan cả.
Nếu Nhật Bản là một giải pháp đặc biệt thì các quốc gia khác lại dùng các giải pháp phổ thông, rất có hiệu quả, đó là phối hợp giữa thu thập thông tin kinh tế phân tích để dự báo vĩ mô và tạo lập quỹ dự phòng quốc gia không chỉ là ngoại tệ mà cả các loại vật tư, nhiên liệu. Phương pháp này tạo ra nền sản xuất khá ổn định, giá hàng hóa rẻ và không thả nổi giá cả nội địa theo giá hàng ngày, hàng tháng của thị trường thế giới.
Quản lý kinh tế thương mại tập trung và có giải pháp linh hoạt hàng ngày, hàng tuần và cho từng loại hàng hóa đối với từng khu vực cửa khẩu là phương pháp quản lý biên mậu của Trung Quốc. Với tầm nhìn quốc gia, thống nhất hành động cho mọi doanh nghiệp khi cùng mua hoặc cùng bán một loại hàng hóa thường tránh được rủi ro cho mỗi doanh nghiệp và mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp của quốc gia mình.
Nhiều quốc gia, cụ thể là Trung Quốc có phương pháp quản lý ngoại hối rất chặt chẽ. Nhà nước và các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều thông qua ngân hàng thương mại trong việc giao dịch ngoại tệ.
Tăng trưởng bền vững, giải pháp tự vệ tốt nhất
Vấn đề tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao đã được nền kinh tế Việt Nam thực hiện liên tục từ 1986 đến nay. Gần đây, chúng ta đã chú ý đến các giải pháp tăng trưởng bền vững, tuy nhiên khi các giải pháp này đang được nghiên cứu và hoạch định một cách bài bản thì chúng ta lại phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao nhất trong nhiều năm nay.
Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước là, trong những tháng còn lại của năm 2008 và năm 2009, phát triển kinh tế – xã hội vẫn phải đồng thời vừa kiềm chế lạm phát, vừa bảo đảm mức tăng trưởng kinh tế 7%, trong đó, kiềm chế lạm phát là cần thiết và được ưu tiên. Do đó, những phương châm và giải pháp quan trọng tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Hội nghị Trung ương 8 từ ngày 2 đến ngày 4-10-2008 đã đánh giá: kinh tế nước ta vẫn còn không ít khó khăn. Lạm phát còn cao, nhập siêu còn lớn, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc; tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, chất lượng, hiệu quả còn thấp; sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân, nhất là những người lao động, cán bộ, công chức, người trong diện hưởng bảo hiểm và trợ cấp xã hội có thu nhập thấp, người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn; việc xử lý một số vấn đề xã hội bức xúc còn hạn chế; cải cách hành chính chậm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm chưa đạt kết quả như mong muốn; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên một số địa bàn vẫn phức tạp; công tác chỉ đạo điều hành tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong thời gian tới.
Trên cơ sở dự báo, phân tích tình hình thế giới và đất nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2006 – 2010), Ban Chấp hành Trung ương đã xác định mục tiêu tổng quát cho năm 2009 là: Tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần, phấn đấu đến năm 2010 đưa tốc độ lạm phát xuống một con số, ổn định dần kinh tế vĩ mô; bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội; duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững; nâng cao hiệu quả hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 do Đại hội X của Đảng đề ra.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, cần tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư hạ tầng kinh tế – xã hội và phát triển sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế; tạo mọi điều kiện để khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu và bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; thực hiện mạnh mẽ các biện pháp tạo việc làm, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục tăng đầu tư ngân sách nhà nước và đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học – công nghệ và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm; tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng công tác thông tin, tư tưởng…/.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (163) NĂM 2008

MỘT SỐ MẢNG CHƯA SÁNG TRONG NỀN KINH TẾ

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa X, XI
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa lên mạng cuối tháng 2/2008 kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2007. Có một số mảng chưa sáng cần được phân tích kỹ, ngoài tỷ lệ lạm phát đã được đề cập nhiều.
1. Liên tục 10 năm qua, chỉ tiêu bội chi ngân sách hàng năm được Quốc hội ấn định là không vượt 5% GDP. Chỉ tiêu này luôn luôn đạt 4,94, 4,95, 5%! Tuy nhiên việc đạt chỉ tiêu này liên tục nhiều năm cũng đồng nghĩa với tích lũy một độ nguy hại nhất định bởi lẽ bội chi ngân sách tự nó không phải là một ưu điểm.
Cảnh báo điều này, tôi và nhiều đại biểu Quốc hội khóa XI đã kiến nghị nên kéo chỉ tiêu xuống 3 – 3,5% GDP, đồng thời tăng cường giám sát để chi ngân sách tiết kiệm hơn, đầu tư công có hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng của phát triển.
Phải chăng tác hại của bội chi ngân sách cao, triền miên và kém hiệu quả đã bắt đầu bộc lộ? Theo Thời báo Kinh tế Sàigòn số 10/2008, đầu năm nay Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đổi một số lượng lớn ngoại tệ ra tiền đồng để bổ sung chi ngân sách.
NHNN chỉ đáp ứng được một phần số ngoại tệ đưa ra vì cơ quan này còn có nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Bộ Tài chính buộc phải rút một số khá lớn tiền đồng gửi ở một số ngân hàng thương mại quốc doanh trong một khoảng thời gian ngắn, ảnh hưởng đến các khoản tài trợ liên ngân hàng dành cho các ngân hàng thương mại cổ phần, dẫn đến các ngân hàng vay mượn lẫn nhau, đua nhau đẩy lãi suất lên, tác động xấu đến lạm phát. Để phát triển bền vững, ngân sách nhà nước phải lành mạnh, cơn lốc bội chi ngân sách kéo dài cần phải được ngăn chặn.
2. Nghèo phải bội chi để phát triển là cần thiết, được con cháu đồng tình và vui lòng trả nợ. Nhưng nhất thiết không thể chấp nhận bội chi ngân sách là hậu quả của “dây chuyền hủy hoại”: tiêu xài lãng phí, đầu tư từ công quỹ kém hiệu quả và tham nhũng.
Báo cáo cũng cho thấy, đà phát triển của các năm trước được tiếp tục. Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 có khả năng sẽ đạt trước thời hạn.
Những kết quả này rất đáng trân trọng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nhiều bất ổn và thiên tai, dịch bệnh dồn dập trong năm qua.
Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đã tăng nhanh và liên tục suốt mấy năm qua. Hơn 21,2% GDP năm 2007. Nếu đầu tư có hiệu quả, ngân sách sẽ nhận được nguồn thu trở lại. Rất tiếc cho tới nay hiệu quả chưa cao, thể hiện qua chỉ số ICOR cao. Để tuân thủ mức bội chi dưới 5% GDP, Chính phủ phải vay trong nước và vay nước ngoài.
Theo báo cáo của Chính phủ, tổng dư nợ trong và ngoài nước vẫn còn trong vùng an toàn, trong khi đó, theo IMF, tổng dư nợ đã lên đến 44% GDP tính đến năm 2005, trong đó nợ nước ngoài chiếm 26,6% GDP. Theo chúng tôi, không chỉ có tổng dư nợ mà động thái của nó, tốc độ tăng tổng dư nợ, cũng rất quan trọng. Quốc hội cần biết rõ, được giải trình, và báo cáo với cử tri vấn đề này.
3. Không thể không nói đến chi tiêu và đầu tư của các “tập đoàn kinh tế nhà nước”. Hiệu quả hoạt động của các tập đoàn trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …) thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi từ các ngân hàng thương mại quốc doanh.
Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm vừa qua là không nhỏ. Trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, thì nhiều “tập đoàn” lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động, kể cả hoạt động ngân hàng, tín dụng và kinh doanh bất động sản một cách ồ ạt.
Làm kinh tế của “tập đoàn” thời hội nhập phải là như vậy hay sao? Bong bóng vỡ thì ai gánh chịu hậu quả? Không ít “tập đoàn” chuẩn bị việc cổ phần hóa, không phải theo hướng tích cực, mà nhằm sớm hợp thức việc tư nhân hóa tài sản công!
Mảng “tập đoàn kinh tế” cần sớm được chấn chỉnh, tháo gỡ những cơ chế ràng buộc đã lỗi thời, lựa chọn bộ máy điều hành trong sạch và có năng lực, để các tập đoàn thực sự là điểm tựa của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Tốc độ phát triển của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là điều mơ ước của nhiều nước. Rất tiếc là nhập siêu ngày càng tăng, năm 2007 là 14,12 tỷ USD, cao nhất cho tới nay.
Có thể vì 2007 là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên của WTO, chưa nắm sát tình hình nên sai số trong ước tính của các bộ ngành chức năng khá cao. Tháng 11/2007, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội kim ngạch nhập khẩu 2007 ước tính57 tỷ USD, tăng 27% so với 2006. Ba tháng sau, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố các con số thực hiện tương ứng là 62,68 tỷ USD và 39,6%.
Kim ngạch nhập nguyên vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng cao, tỷ lệ thuận với kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gia công. Đã nhập khẩu trên 19.000 ô-tô nguyên chiếc và sẽ còn tăng vì nhiều doanh nghiệp FDI chuyển sang nhập nguyên chiếc thay vì lắp ráp (có nghĩa là ngành công nghiệp ô-tô Việt Nam có nguy cơ sẽ cáo chung).
Nhiều mặt hàng tiêu dùng, kể cả nông sản, cũng có mặt ở Việt Nam nhiều hơn và đa dạng hơn. Nếu tình trạng này kéo dài và với tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD như hiện nay, lộ trình để giảm nhập siêu, tăng GDP, chưa phải là trong vài năm tới! Xuất nhập khẩu một năm sau khi gia nhập WTO rất cần được đánh giá khách quan và sâu sắc.
5. Rất ít quốc gia sử dụng ngoại tệ tự do, thoải mái như ở Việt Nam. Ngay cả ở những nước có đồng tiền chuyển đổi được, sự quản lý nhà nước và kỷ luật trong sử dụng ngoại tệ cũng rất nghiêm, khác hẳn với ở ta lỏng lẻo, gần như buông thả mặc dù đã có Pháp lệnh về ngoại hối.
Hiện nay mức độ “đô-la hóa” nền kinh tế Việt Nam đáng báo động. Tình trạng nắm giữ, tích trữ ngoại tệ, thanh toán bằng ngoại tệ trong dân, trong các doanh nghiệp, … gần như để thả nổi.
Rồi đây nếu cho phép bán cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ (mà ý định cho phép hạn chế sẽ bị hai quy tắc NT và MFN của WTO vô hiệu hóa) thì việc quản lý ngoại tệ, chính sách tiền tệ quốc gia sẽ ra sao? Làm thế nào làm chủ được nền tài chính tiền tệ quốc gia trong điều kiện đó?
Năm mảng yếu kém nêu trên đây chưa phải là tất cả nhưng cấp báchcó quan hệ mắt xích với nhau. Mong rằng nguyên nhân của những yếu kém này sẽ được phân tích thấu đáo, và cùng với những bài học kịp thời rút ra từ cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 và cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Ac-hen-ti-na năm 2001, sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam không trượt ngã và vững vàng phát triển.
SOURCE: BÁO TIỀN PHONG

KHÔNG CHỈ LÀ ĐỊA ĐIỂM, ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỊA ĐIỂM

MINH AN (Dịch từ Business Know-how)
Trong kinh doanh bán lẻ, không một doanh nghiệp có thể bỏ qua yếu tố địa điểm kinh doanh. Đây thực sự là một bài toán cần phải có lời giải chuẩn xác nhất. Nhưng có phải tất cả đều chỉ là Địa điểm, Địa điểm và … Địa điểm?
Quyết định địa điểm kinh doanh một trong những quyết định quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể thường xuyên thay đổi các kế hoạch kinh doanh và chiến lược bán hàng, nhưng một khi đặt bút ký một hợp đồng thuê hay mua lại địa điểm kinh doanh đồng nghĩa với một sự ổn định lâu dài và không thể thay đổi dễ dàng. Hãy nghĩ về những yếu tố quyết định địa điểm kinh doanh mới của mình. Câu trả lời sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra địa điểm kinh doanh thích hợp nhất cho sự phát triển lâu dài.
Khoan hãy bàn đến sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp, chìa khoá để tìm kiếm một địa điểm kinh doanh tuyệt vời đó là việc thường xuyên xuống phố. Các doanh nghiệp có thể sử dụng một nhà môi giới bất động sản giúp đỡ tìm ra các địa điểm tiềm năng, nhưng bản thân doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp hay người phụ trách) nên trực tiếp ghé thăm từng địa điểm đó vào các thời điểm khác nhau trong ngày, vào các ngày khác nhau trong tuần, để đảm bảo rằng nó đúng là một địa điểm tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Một địa điểm kinh doanh có thể trông tuyệt vời vào buổi sáng, nhưng khá đơn độc vào buổi trưa, hay xung quanh có thể đông nghịt vào chiều tối thứ Hai vì tắc đường, nhưng đến cuối tuần thì vắng tanh tại các bãi đỗ xe.
Đừng bao giờ nhận định về một địa điểm chỉ qua duy nhất một lần ghé thăm bởi lẽ không phải bất cứ nơi nào cũng là những địa điểm kinh doanh mơ ước. Những giới thiệu từ các nhà môi giới bất động sản chỉ là điều kiện cần, trên thực tế điều kiện đủ chính là việc doanh nghiệp cần dành nhiều thời gian quan tâm để địa điểm kinh doanh của bạn được thích hợp nhất.
Hãy tới đó vào các thời điểm khác nhau trong ngày và đêm, vào các ngày khác nhau trong tuần, và quan sát giao thông xung quanh. Không một ai có thế biết chắc chắn một địa điểm kinh doanh nào đó tốt như thế nào nếu không thực hiện đúng quy trình này.
Khi đến lúc tìm kiếm một không gian cho hoạt động kinh doanh, cho dù là bán lẻ, nhà kho hay làm văn phòng làm việc, các doanh nghiệp không chỉ cần quan tâm địa điểm mà còn cần quan tâm tới một vài yếu tố khác. Không may mắn là các yếu tố này thường bị rất nhiều doanh nghiệp bỏ qua cho đến khi họ nhận ra chúng quan trọng như thế nào.
Tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh của mình, các doanh nghiệp nên quan tâm tới một vài hay tất cả các yếu tố nhất định.
Trước tiên là việc xác định xem có một quy định hay luật lệ nào ràng buộc những thiết kế cửa hàng, bảng hiệu trong khu vực hay không? Các quy định về bảng hiệu luôn thay đổi theo thời gian và doanh nghiệp có thể thấy rằng nhiều hoạt động kinh doanh hiện hữu chịu sự ảnh hưởng của một bộ các quy tắc nhất định trong khi những hoạt động kinh doanh mới lại tuân theo các hướng dẫn hoàn toàn khác biệt. Nếu doanh nghiệp thuê một địa điểm với suy nghĩ rằng bảng hiệu của mình có thể lớn và gần đường phố như các doanh nghiệp khác ở đây, rất có thể đó là một suy nghĩ sai lầm.
Tiếp theo, doanh nghiệp cần xem xét xem có quy định xây dựng hay đô thị nào điều chỉnh các loại hình kinh doanh được phép thực hiện trên địa điểm đó hay không? Doanh nghiệp có thể nghĩ rằng thành phố hay chủ nhà không có vấn đề gì với loại sản phẩm hay dịch vụ của mình, như trừ khi đặt vấn đề, doanh nghiệp có thể thấy rằng mình bị ngăn cấm thực hiện công việc kinh doanh nào đó sau khi đã thuê địa điểm.
Tại mỗi địa phương, chắc chắn sẽ có những địa chỉ hay trang web cung cấp nhanh chóng các dữ liệu, thông tin về khu vực doanh nghiệp quan tâm. Bên cạnh đó, các thông tin về thị trường, về khu vực dân cư xung quanh địa điểm kinh doanh sẽ rất hữu ích giúp doanh nghiệp xác định địa điểm kinh doanh thích hợp.
Mối quan tâm sau đó là liệu địa điểm có đủ chỗ đỗ xe cho các khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp hay không? Một trong những hạn chế của những địa điểm kinh doanh ở trung tâm đó là chỗ đỗ xe quá nhỏ. Với một số lượng nhân viên nhất định và không gian giới hạn, rất có thể sẽ không còn đủ chỗ cho các khách hàng đỗ xe nữa và họ buộc phải gửi xe ở một nơi cách đó khá xa.
Bàn về các nhân viên, các doanh nghiệp cần quan tâm trước tới một không gian vừa đủ cho các nhân viên và những yêu cầu về không gian của họ. Doanh nghiệp cần các phòng làm việc chung rộng rãi hay từng ô làm việc một? Có cần các phòng nghỉ riêng cho nam nhân viên và nữ nhân viên? Có cần phòng thay quần áo hay phòng thư giãn? Sẽ có bao nhiêu nhân viên cần không gian sau quầy bán hàng vào những lúc không tiếp xúc khách hàng? Các nhân viên luôn chiếm khá nhiều không gian vì thế hãy lên kế hoạch thích hợp.
Kế nữa, kế hoạch tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp như thế nào? Mọi doanh nghiệp đều tăng trưởng (hay suy thoái) và một trong những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra đối với một hoạt động kinh doanh thành công đó là phát triển quá nhanh vượt khỏi không gian hiện tại của mình. Địa điểm kinh doanh mà doanh nghiệp đang quan tâm có đảm bảo đủ không gian cho kế hoạch tăng trưởng hay nó có thể trở nên quá nhỏ bé trong ngắn hạn?
Một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là địa điểm kinh doanh có nằm trong một khu vực dân số tăng trưởng, kinh tế phát triển hay là một khu vực người dân có xu hướng ra đi và mang theo túi tiền của họ? Nhiều doanh nghiệp thành công đã quyết định lựa chọn địa điểm này mà không lựa chọn địa điểm khác vì nơi đó dân số không mấy tăng trưởng và hiện có nhiều doanh nghiệp phải vật lộn với sinh tồn.
Tốt nhất, doanh nghiệp nên ghé thăm các cửa hàng xung quanh địa điểm kinh doanh dự định thuê để xem họ bận rộn như thế nào, có thể hỏi xem liệu việc thuê địa điểm tại khu vực này có đáng hay không và doanh số bán ra tại các cửa hàng trong khu vực hiện ở mức độ nào. Rất có thể doanh nghiệp biết được nhiều điều chưa từng được nghe.
Cuối cùng, điều thiết yếu là đừng để bản thân bị mê hoặc bởi một địa điểm trong một thời điểm chiêm ngưỡng địa điểm kinh doanh. Hãy dành thời gian để tìm kiếm những không gian thích hợp nhất cho doanh nghiệp cho một chặng đường dài, chứ không chỉ hôm nay.
SOURCE: BUSINESS WORLD PORTAL

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code