Showing posts with label con. Show all posts
Showing posts with label con. Show all posts

Wednesday, October 16, 2013

GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

HƯƠNG NGUYỄN
Mới đây, trong 2 ngày (10-11/1)Hội nghị về đăng ký khai sinh (ĐKKS)và quốc tịch cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đã diễn ra tại Hà Nội do Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp chủ trì. Tham dự hội nghị có đại diện của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Công an và đại diện của các Sở tư pháp địa phương. Tại hội nghị, đại diện các bên đã đưa ra những thực tế, các giải pháp và kiến nghị để cùng nhau tìm ra phương pháp giải quyết những bất cập trong quá trình thực thi trong thời gian tới.
Những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong lĩnh vực ĐKKS bao gồm nhóm trẻ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn; nhóm  trẻ được sinh ở nước ngoài, có cha là người nước ngoài, cha mẹ  của trẻ có đăng ký kết hôn nhưng cha mẹ đã ly hôn hoặc ly thân, người mẹ đưa con về Việt Nam sinh sống; nhóm trẻ đang sống cùng mẹ trong trại giam do mẹ vi phạm pháp luật. Do đó điều mà các bên quan tâm đó là tình trạng pháp lý (phức tạp) cũng như thiếu cơ sở để các cháu được đăng ký kết hôn.
Trẻ sẽ được ĐKKS tại nơi cha hoặc mẹ đang tạm trú hoặc làm việc ổn định?
Đó là một trong những kiến nghị mà đại diện của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong bản báo cáo tham luận sáng qua tại hội nghị. Trên thực tế, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có đông dân cư nhất trong cả nước và là một trong những nơi có lượng hồ sơ hộ tịch và quốc tịch được giải quyết hàng năm là rất lớn. Do đó, thành phố này cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết đăng ký khai sinh và quốc tịch cho con lai của các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam và một số trẻ có cha hoặc mẹ là người Campuchia đang sinh sống và lao động tại đây. Các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam thường định cư tại nước ngoài, nhưng khi các mà mẹ quay trở về Việt Nam muốn xin ĐKKS cho con lại gặp nhiều vấn đề vì trẻ em là con lai lại thuộc trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Nhiều người khi muốn làm thủ tục ĐKKS cho con  nhưng lại không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch như không có giấy tờ chứng sinh, khai sinh hoặc có lại cố tình “dấu” đi…
Theo Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, các trường hợp cha mẹ trẻ định cư ở nước ngoài, gửi con về gia đình nuôi dưỡng cần đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho trẻ do cha mẹ làm việc tại các khu công nghiệp  trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng hộ khẩu ở các tỉnh thành khác được hưởng mọi quyền lợi, Bộ Tư pháp cho phép giải quyết ĐKKS theo sự lựa chọn nơi cư trú, thậm chí là tạm trú của cha hoặc mẹ. Để hạn chế việc ĐKKS cho trẻ ở nhiều nơi, thì sau khi ĐKKS, UBND cấp xã nơi đang ký tạm trú gửi thông báo cho UBND cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú của đương sự để biết và theo dõi.
Ngượng không dám ĐKKS cho con
Tình trạng này không phải là hiếm tại tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh có lượng lớn người kết hôn với công dân Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Theo ước tính, có khoảng 5000-6000  trường hợp kết hôn kiểu này tại Vĩnh Long, chiếm một nửa tỷ lệ của cả nước. Và cũng tại đây ngày càng có nhiều trường hợp trẻ sinh ra tại nước ngoài  nhưng do mẹ bị ngược đãi bỏ trốn về Việt Nam sinh sống và ly hôn tại Việt Nam hoặc ly hôn tại nước ngoài ( không mang theo giấy khai sinh hay các giấy tờ chứng minh) về Việt Nam nên không thể ghi chú khai sinh theo điều 55 của NĐ158.  Từ đó dẫn đến thực trạng nhiều trẻ em chưa có khai sinh. Nhiều người cảm thấy mặc cảm, ngượng vì đã bị ngược đãi tại nước ngoài nên  không trình báo với cơ quan nhà nước để xin ĐKKS hay nhập quốc tịch cho con. Một số trường hợp thì nghĩ con còn nhỏ chưa đi học nên chưa cần làm vội…
Cán bộ trại giam tự ĐKKS cho trẻ?
Theo chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua, nhiều nữ bị can, bị cáo, nữ bị kết án tù khi mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được các cơ quan pháp luật cho tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên trên thực tiễn, một số đối tượng này đã lợi dụng điều này để liên tục được “xếp” vào diện được hoãn, đình chỉ, hay tại ngoại. Và nhiều khi những đứa trẻ sinh ra tại trại giam không dễ dàng được UBND cấp xã ĐKKS cho. Tại nhiều địa phương, UBND cấp xã chỉ ĐKKS vì “tình cảm” chứ không theo “ nguyên tắc”, thậm chí còn “ khuyến khích’ cán bộ trại giam tự đi mà …ĐKKS lấy cho trẻ. Theo những uỷ ban này, khi bắt phạm nhân đến  cán bộ trại giam không đăng ký với họ  nên họ không quản lý. Các nguyên nhân của tình trạng này là do những người cha hoặc mẹ đứa trẻ khi bị giam bị bắt không mấy quan tâm đến việc ĐKKS cho con,  nhiều người không có giấy đăng ký kết hôn hay thậm chí không biết cha đứa trẻ là ai…UBND cấp xã chưa nắm vững được các quy định của pháp luật, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho người đến làm thủ tục khai sinh.
Chính những vướng mắc trên mà các đại biểu đều đưa ra kiến nghị cần sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ158 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Bên cạnh đó cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các ban ngành có liên quan như Bộ Công An, Bộ Giáo dục đào tạo… để ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết những bất cập nẩy sinh. Đồng thời nâng cao  hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để mọi người hiểu, nhận thức đúng và chấp hành tốt các quy định đó. Sắp tới, việc soạn thảo đề án sửa đổi Luật Quốc tịch sẽ có thể cho phép người có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng 2 quốc tịch.
Bên cạnh đó, các đại biểu tham gia Hội nghị cũng bàn luận về các vấn đề như thực tiễn việc ĐKKS cho trẻ  bị buôn bán, là nạn nhân bị buôn bán trở về, việc ĐKKS cho trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam, HIV, trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ. Kết thúc hội nghị, Vụ Hành chính Tư pháp nhất trí sẽ nhanh chóng sửa đổi NĐ158 cho phù hợp với tình hình hiện nay, tiến hành rà soát việc thi hành pháp luật về vấn đề ĐKKS cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tại một số tỉnh thành, phối hợp với các Bộ có liên quan đến ban hành các Thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn thi hành các vấn đề còn vướng mắc/.
Hương Nguyễn – MOJ.GOV.VN

TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: XÁC NHẬN CHA ĐÃ CHẾT LÀM SAO CHO ĐÚNG?

ÁI PHƯƠNG
Năm 1991, bà N. (Bình Trị Đông B, quận Bình Tân) có chung sống như vợ chồng với ông T. Sau đó, vì mâu thuẫn nên bà ra khỏi nhà khi đang mang thai. Đứa bé trai sinh năm 1993, được mang họ mẹ. Sau đó, ông T. kết hôn với người khác có hai đứa con trai và ly hôn vào năm 2003.
Vợ cũ phủ nhận con riêng của chồng
Cuối năm 2005, ông T. đột ngột qua đời nên hai mẹ con bà N. trở về dự đám tang. Cháu bé được bà con bên nội coi là cháu đích tôn. Họ lập biên bản xác nhận cháu là con của ông T. và hứa chia cho cháu một phần di sản thừa kế. Trên cơ sở này, bà N. xin chính quyền xác nhận ông T. là cha cháu bé. Bà nộp hồ sơ ngày 13-4-2006 và bốn ngày sau thì được UBND phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân ra quyết định công nhận cha, con.
Người vợ đã ly hôn của ông T. không đồng ý với quyết định trên. Tuy nhiên, UBND phường đã bác đơn khiếu nại của bà. Thấy vậy, bà đã khởi kiện đến TAND quận Bình Tân để yêu cầu hủy quyết định trên. Ngày 31-7-2007, TAND quận Bình Tân đưa vụ án ra xét xử.
Viện dẫn khoản 2 Điều 34 Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ, tòa này cho rằng UBND phường đã làm sai. Lẽ ra sau khi nhận đơn, UBND phường phải thông báo cho những người liên quan biết, nếu sau năm ngày mà không có ai tranh chấp thì mới ra quyết định công nhận cha, con.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 32 Nghị định 158: “Việc nhận cha, con được thực hiện nếu bên nhận, bên được nhận là cha, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, con và việc nhận cha, con là tự nguyện, không có tranh chấp”. Căn cứ điều khoản này, tòa cho rằng vào thời điểm bà N. gửi đơn thì ông T. đã mất nên bà N. không có đủ điều kiện để đăng ký việc nhận cha, con.
Tòa này còn cho rằng việc UBND phường Bình Trị Đông B chỉ căn cứ vào các giấy tờ xác nhận của người thân ông T. để xác nhận mối quan hệ cha con giữa ông T. với cháu bé là không đúng. Muốn chính xác, các bên phải giám định gien theo các điều 63, 64 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau cùng, đại diện của UBND phường đã đồng ý rút lại quyết định công nhận cha, con nêu trên. Bà Phan Ngọc Hà, cán bộ tư pháp phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, giải thích: “Gần hai tháng sau khi ra quyết định công nhận cha, con thì UBND phường nhận được đơn của mẹ ông T. xin nhận cháu nội. Để tránh được những dư luận không hay, phường sẽ giải quyết lại hồ sơ theo trình tự khác”.
Phường đúng, tòa sai?
Do bà N. không kháng cáo và VKSND các cấp cũng không kháng nghị nên bản án sơ thẩm trên đã có hiệu lực. Song nhiều ý kiến cho rằng việc TAND quận Bình Tân thụ lý và giải quyết đơn kiện của người vợ cũ của ông T. là sai quy định.
Theo luật định, người khiếu nại phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại nếu không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại sẽ không được thụ lý, giải quyết. Ở đây, quyết định công nhận cha, con của UBND phường Bình Trị Đông B không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ cũ ông T. Một thẩm phán tòa hành chính TAND TP.HCM nhận xét: “Người vợ cũ chỉ được đại diện theo pháp luật cho hai đứa con chưa thành niên, chứ không thể trực tiếp đứng ra khởi kiện. Nếu chưa ly hôn thì bà mới có tư cách khởi kiện”.
Đồng tình với quan điểm trên, một cán bộ hộ tịch Sở Tư pháp TP.HCM cho rằng: “Khi ra quyết định công nhận cha, mẹ, con, cán bộ tư pháp dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là tự nguyện và không có tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu có một người đàn ông nào đó tự nhận là cha của đứa bé thì các cơ quan chức năng mới xem xét, giải quyết”.
Đi sâu vào nội dung, cách xét xử của tòa cũng không chuẩn xác. Theo khoản 2 Điều 34 Nghị định 158, trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, UBND cấp xã sẽ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp cần phải xác minh, thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá năm ngày. Nghị định này không yêu cầu phải thông báo cho những người liên quan, lại nữa người vợ cũ ông T. không được xem là người liên quan.
Được biết, cách đây hơn một tuần, bà N. lại tiếp tục gửi đơn xin nhận cha cho con. Hiện tại, UBND phường Bình Trị Đông B đang chờ Sở Tư pháp TP.HCM hướng dẫn cách thức giải quyết đối với trường hợp đặc biệt này.
Không thể giám định gien của người chết
Tìm hiểu thêm từ Viện Công nghệ sinh học (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam), chúng tôi được biết cơ quan giám định chỉ có thể giám định xương của người chết.
Nếu đứa bé đó là con trai, ngoài các em cùng cha khác mẹ, cơ quan giám định có thể căn cứ vào kết quả giám định gien của ông nội hay chú, bác ruột của đứa bé (tức cha, anh, em trai ruột của người chết) để kết luận được mối quan hệ cha-con giữa đứa bé với người chết.
Chỉ khi không có những người thân trên thì cơ quan giám định mới áp dụng biện pháp giải mã cuối cùng là giám định xương của người chết. Bấy giờ, các chuyên gia sẽ lấy xương của người chết và mẫu của người sống (như mẫu máu, tế bào, móng tay…) để xác định quan hệ cha-con.
Một bức ảnh, một ý kiến… cũng là chứng cứ
Bà N. hoàn toàn có đủ điều kiện để đăng ký việc nhận cha, con. khoản 2 Điều 32 Nghị định 58 cho phép người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên được làm thủ tục nhận cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
Riêng việc xác nhận cha, mẹ, con có thể nói chứng cứ xác nhận rất rộng. Đó có thể là xác nhận của chính quyền địa phương về việc người cha và người mẹ có chung sống trong khoảng thời gian đứa bé được mang thai; ảnh gia đình chụp chung; ý kiến hai bên nội, ngoại… Hiện nay không có bất kỳ văn bản pháp luật nào bắt buộc phải giám định ADN khi nhận cha, mẹ, con, ngay cả khi đương sự là người nước ngoài.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: "TRUY NHẬN" CHA SAU 20 NĂM

MINH TRÍ
Phường ra quyết định xác nhận cha cho con nhưng tòa bác vì cho rằng làm không đúng. Nếu sự xác nhận là tự nguyện và không có tranh chấp thì phường được quyền công nhận.
Đang mang thai cô S. hơn bảy tháng nhưng giữa năm 1986, mẹ cô vẫn quyết định ly hôn. Dù cha cô không đồng ý vì vợ đang có mang nhưng cuối cùng TAND quận 4 (TP.HCM) vẫn cho người mẹ được như ý. Hai tháng sau, cô S. được sinh ra và được đăng ký khai sinh tại UBND phường 16, quận 4. Trong giấy khai sinh bỏ trống phần người cha. Năm 1991, người cha mất nhưng mẹ S. không hay biết…
Phường công nhận, tòa không chịu
Năm 2007, mẹ cô S. đến UBND phường 16, tình cờ phát hiện thông báo cho biết cha cô chết để lại căn nhà nhưng không có người thừa kế. Biết đây là sự nhầm lẫn, bà vội vàng vào phường hỏi và làm thủ tục nhận cha cho con. Ngày 6-12-2007, UBND phường đã ra quyết định công nhận cha cho S. Biết được tin này, vài người em của cha S. đã khởi kiện ra tòa quận 4 yêu cầu hủy quyết định công nhận này của phường.
Mới đây, xét xử vụ án, tòa cho rằng UBND phường đã ra quyết định chưa đúng pháp luật, cần phải hủy để giải quyết lại. Theo tòa, “Vào thời điểm cô S. lập thủ tục xin nhận cha, UBND phường biết rõ người này chết nhưng không điều tra, xác minh làm rõ quan hệ huyết thống giữa hai người. UBND cũng chưa mời các anh chị em ruột của người cha đến hỏi ý kiến để xác định thẩm quyền giải quyết thuộc tòa hay UBND. Phường chỉ căn cứ vào cam kết của hai người làm chứng mà ra quyết định công nhận cha con là chưa đúng”.
Tòa thụ lý sai?
Theo luật định, người khiếu nại phải là người có quyền lợi liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành vi hành chính. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại nếu không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp của người khiếu nại tòa sẽ không thụ lý. Một thẩm phán Tòa hành chính TAND TP.HCM cho rằng trường hợp này, người có liên quan trực tiếp đến quyết định công nhận cha cho con là người cha, mẹ và S. Em của người cha không phải là người trực tiếp liên quan đến quyết định hành chính. Do vậy, tòa quận có thể từ chối thụ lý vụ án.
Bà Trịnh Thị Bích – Trưởng phòng Hộ tịch-Lý lịch tư pháp-Quốc tịch, Sở Tư pháp TP.HCM cũng đồng tình với ý kiến này. “Mặc dù cha, mẹ S. đã ly hôn nhưng khi đó người mẹ đang mang thai S. Theo pháp luật, S. vẫn là con chung. Khi quyết định công nhận cha, mẹ, con, cán bộ tư pháp dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là tự nguyện và không có tranh chấp. Giả sử có người khác tự nhận là cha của S. thì cơ quan chức năng mới xem xét, giải quyết.”
Ông Hoàng Trung Toàn – cán bộ tư pháp phường 16 cũng cho biết theo Nghị định 70 năm 2001, nếu người vợ mang thai sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực không quá 300 ngày thì đứa con vẫn được công nhận là con chung. S. chỉ sinh ra sau bản án có hiệu lực hơn hai tháng. Đồng thời S. đã làm tường trình và cam kết việc nhận cha. Do vậy phường ra quyết định là đúng thẩm quyền.
Từ những nhận định trên, UBND phường 16 cho biết sẽ kháng cáo bản án. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc diễn biến mới của vụ án này.
Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 11-2-2008 có đăng bài “Xác nhận cha đã chết, làm sao cho đúng?” phản ánh một sự việc tương tự (Đọc bài viết này tại đây). Năm 1991, ông T. và bà N. chung sống như vợ chồng. Mặc dù đang có mang nhưng vì bất hòa nên bà bỏ nhà ra đi. Ông T. kết hôn với người khác, sinh được hai người con. Năm 2005, ông T. qua đời. Đứa con giữa ông T. và bà N. được mọi người trong gia đình ông T. nhận là người thân. Họ lập thành văn bản và hứa cho cháu thừa kế một phần di sản. Bà N. ra UBND phường Bình Trị Đông (quận Bình Tân, TP.HCM) làm thủ tục truy nhận cha cho con. UBND phường ra quyết định công nhận.
Người vợ sau của ông T. đã khởi kiện yêu cầu hủy quyết định này và được Tòa quận Bình Tân đồng ý. Trong bản án, tòa có đưa ra nhiều điều khoản vận dụng. Tuy nhiên, Báo Pháp Luật TP.HCM đã đưa ra nhiều chứng cứ pháp luật chứng minh việc xét xử của tòa chưa hợp lý.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=228933

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA CHO CON

A MA KHƯƠNG
Nhà nghèo, không có tiền đi giám định gien, một phụ nữ đã bị tòa bác yêu cầu truy nhận cha cho con…
Vừa qua, VKSND huyện Sông Hinh (Phú Yên) đã kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND huyện này xử vụ chị T. kiện anh C. yêu cầu truy nhận cha cho con. Theo kháng nghị, việc TAND huyện bác yêu cầu của chị T. là không có cơ sở.
“Quất ngựa truy phong”…
Theo chị T., đầu năm 2006, chị và anh C. yêu thương nhau, mong muốn cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và đã nhiều lần “quan hệ”. Đến giữa năm 2006, thấy mình có thai, chị thông báo và được anh C. chở đi TP Tuy Hòa siêu âm. Thế rồi khi thật sự biết chị mang thai thì anh C. trở mặt, từ chối nhận con và từ đó không còn quan tâm gì đến chị nữa.
Sau đó, gia đình chị nhiều lần đến gia đình anh C. nói rõ chuyện này nhưng không được chấp nhận. Cực chẳng đã chị phải làm đơn gửi UBND xã nhờ giúp đỡ nhưng cũng không giải quyết được gì. Đến tháng 5-2007, chị sinh được bé trai. Nay chị muốn TAND huyện xem xét, buộc anh C. phải chịu chi phí sinh nở và có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu bé đến khi trưởng thành.
Ngược lại, anh C. trình bày rằng anh và chị T. chỉ ở cùng thôn, chỉ là bạn bè, không hứa hẹn yêu đương gì cả và cũng chưa lần nào “quan hệ” với nhau. Việc chị T. có thai, anh hoàn toàn không biết gì. Trước UBND xã và trước tòa, anh đều khẳng định mình không phải là cha cháu bé và đề nghị tòa giải quyết dứt điểm vụ việc để “lấy lại danh dự” cho anh.
Bác đơn vì thiếu giám định gien
Thụ lý vụ kiện, TAND huyện Sông Hinh đã yêu cầu chị T. cung cấp chứng cứ về giám định gien. Tuy nhiên, nhà chị T. nghèo quá, không có tiền để đi giám định. Không thể đáp ứng yêu cầu của tòa, chị đề nghị tòa giúp đỡ thì tòa “làm ngơ” và đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào ngày 28-3-2008.
Tại phiên xử này, TAND huyện Sông Hinh nhận định: Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của các đương sự. Ở đây, chị T. đơn phương trình bày rằng mình và anh C. “quan hệ” dẫn đến có thai, sinh ra cháu bé nhưng chị lại không thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ là kết luận giám định gien để xác định cha cho con. Vì thế, tòa đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.
Không trưng cầu, làm sao có?
Ngay sau đó, VKSND huyện Sông Hinh đã kháng nghị, đề nghị TAND tỉnh Phú Yên xử phúc thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của chị T.
Theo viện, tòa sơ thẩm nhận định chị T. không giao nộp bản kết luận giám định gien nên bác đơn của chị là không có cơ sở. Theo quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì thẩm phán có thể trưng cầu giám định. Ở đây, thẩm phán không ra quyết định trưng cầu giám định gien mà chỉ yêu cầu chị T. cung cấp thì làm sao chị có để cung cấp cho tòa?
Mặt khác, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Trước và trong thời gian chị T. có thai, anh C. là người đàn ông duy nhất thường đi chơi với chị. Anh C. cũng thừa nhận có đưa chị T. đi TP Tuy Hòa siêu âm. Hơn nữa, anh C. không có chứng cứ nào chứng minh trong thời gian trên, chị T. có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác.
Ngoài ra, tòa sơ thẩm không căn cứ vào lời khai của phía chị T., nhân chứng mà chỉ dựa vào lời khai của anh C. để bác yêu cầu của chị T. là không thuyết phục. Trong vụ này, tòa sơ thẩm đã vi phạm trong việc thu thập chứng cứ, thu thập và chứng minh chứng cứ chưa đầy đủ…
Thu thập chứng cứ trong án dân sự
Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì thẩm phán có thể trưng cầu giám định.
(Trích khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự)
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=220363

ĐÔI LỜI VỀ CHUYỆN MANG THAI HỘ


THS. BS HỒ MẠNH TƯỜNG – tổng thư ký hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM
Mang thai hộ được định nghĩa là kỹ thuật giúp người phụ nữ không có khả năng mang thai, có thể được làm mẹ với con của chính mình bằng cách lấy tinh trùng của người chồng và noãn của người vợ thụ tinh trong ống nghiệm để tạo phôi. Phôi sẽ được cấy vào tử cung một người phụ nữ khác, gọi là người mang thai hộ, để mang thai và sinh em bé. Đứa trẻ sinh ra sẽ được chuyển giao cho bố mẹ sinh học (cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ). Người mang thai hộ hoàn toàn không có quan hệ huyết thống với đứa trẻ sinh ra.
Mang thai hộ bị nghiêm cấm thực hiện tại Việt Nam từ năm 2003 theo nghị định của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học. Do nhu cầu mang thai hộ ngày càng có xu hướng tăng ở Việt Nam, việc xem xét cho phép và quản lý kỹ thuật mang thai hộ ở Việt Nam được đặt ra, cho thấy Nhà nước đã nhìn nhận một nhu cầu có thật của người dân và tìm cách đáp ứng nhu cầu này.
Điều 63b của dự thảo quy định “việc cho và nhận tinh trùng, noãn, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật”. Theo tôi, về cho nhận tinh trùng nên chấp nhận cả hai hình thức vô danh (bí mật) hoặc hữu danh (công khai). Trong văn hoá, phong tục của người Việt, huyết thống, dòng tộc là một yếu tố rất nhiều người quan tâm; khi một người nam không có tinh trùng, nhu cầu xin tinh trùng của người trong dòng tộc cần được xem xét. Còn bí mật trong cho nhận noãn khó có thể thực hiện vì: người cho noãn phải đi khám, xét nghiệm, tiêm thuốc và chọc hút noãn với tổng chi phí có thể lên đến 30 – 40 triệu đồng, do đó gần như khó có người tự nguyện cho noãn; do đặc tính sinh học, việc đông lạnh noãn kém hiệu quả hơn nhiều so với đông lạnh tinh trùng và đông lạnh phôi, vì vậy thường phải thụ tinh noãn với tinh trùng chồng người nhận noãn để tạo phôi, sau đó mới chuyển phôi hoặc đông lạnh phôi. Trong một số trường hợp, có thể phải thực hiện quy trình theo dõi lấy noãn và chuẩn bị tử cung cho người nhận noãn cùng giai đoạn và cùng thời điểm. Theo quy định hiện nay, người có nhu cầu nhận noãn sẽ phải tự vận động người cho noãn tự nguyện để điều trị.

Quyền lợi và trách nhiệm của người mang thai hộ
Điều 63d của dự thảo quy định điều kiện về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đưa ra hai phương án, nên chọn phương án hai: người mang thai hộ có thể không phải là người thân, vì các lý do: việc xác nhận người thân thích sẽ phức tạp (cơ quan nào có nhiệm vụ xác nhận?), người nhờ mang thai hộ có thể làm giả hay chứng nhận không đúng về nhân thân mà tổ chức chuyên môn y khoa như bệnh viện không đủ chức năng và điều kiện xác nhận tính xác thực về quan hệ của người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ. Hơn nữa, chẳng lẽ nếu không có người thân hoặc người thân không đủ điều kiện mang thai hộ thì đương sự mất cơ hội được điều trị và có con?
Việc thực hiện mang thai hộ về bản chất là phục vụ chủ yếu cho nhu cầu và quyền lợi của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Do đó, luật pháp các nước có xu hướng quan tâm và bảo vệ quyền lợi cho người mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra. Trong khi đó, các nội dung trong điều 63đ quy định quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ và điều 63e quy định quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ có khuynh hướng ngược lại. Theo tôi, nên xem xét lại các điều khoản trên cơ sở quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi của người mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra hơn là chỉ bảo vệ quyền lợi của cặp vợ chồng người nhờ mang thai hộ. Người mang thai hộ cần được chi trả các chi phí liên quan đến việc theo dõi y tế khi mang thai và các vấn đề về sức khoẻ liên quan đến việc mang thai. Ngoài ra, người mang thai hộ cần được đền bù về tài chính do việc giảm hay mất thu nhập do mang thai và sinh nở. Điều 8 của dự thảo giải thích “mang thai hộ là việc dùng biện pháp kỹ thuật lấy noãn của người phụ nữ và tinh trùng của người đàn ông để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một phụ nữ khác để nhờ người này mang thai và sinh con mà không được trả thù lao”. Nên sửa cụm từ “không được trả thù lao” thành “không mang tính thương mại” vì người mang thai hộ dù tự nguyện vẫn có thể được bù đắp các thiệt hại theo quy định hoặc theo mức thu nhập hiện tại. Đồng thời, người mang thai hộ phải được hưởng các chế độ thai sản như các bà mẹ khác.
Về nghĩa vụ, người mang thai hộ còn phải cam kết đảm bảo thời gian và quan tâm đến sức khoẻ của thai.
Nghĩa vụ của vợ chồng nhờ mang thai hộ
Việc mang thai hộ phát sinh là từ quyền lợi và nhu cầu của cặp vợ chồng người nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra là con sinh học của cặp vợ chồng này. Do đó, cặp vợ chồng người nhờ mang thai hộ phải có trách nhiệm sau cùng đối với các trường hợp xảy ra đối với thai nhi và đứa trẻ sinh ra. Nếu trẻ sinh ra mới phát hiện bị khuyết tật, vợ chồng người nhờ mang thai hộ phải có nghĩa vụ chăm sóc.
Theo tôi, cặp vợ chồng người nhờ mang thai hộ phải cam kết có trách nhiệm đối với đứa trẻ từ lúc sinh ra, nếu không, đứa trẻ sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Ngay cả trường hợp ly dị trong lúc mang thai, hai người này phải chia sẻ trách nhiệm đối với đứa trẻ. Trong trường hợp cả hai người nhờ mang thai hộ chết, người mang thai hộ có quyền quyết định nuôi đứa trẻ hoặc cho con.
Quyền lợi của đứa trẻ sinh ra
Theo tôi, cần có những điều khoản về việc cả cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và cặp vợ chồng mang thai hộ cần phải có những cam kết rõ ràng để đảm bảo thai kỳ được chăm sóc tốt và đứa trẻ sinh ra được chăm sóc tốt và chịu trách nhiệm pháp lý với các cam kết này. Nếu không, sẽ ảnh hưởng đến thai kỳ, sức khoẻ đứa trẻ sinh ra và các hệ luỵ sau này cho xã hội.
Theo các quy định trong dự thảo, nếu có sự bất đồng về thoả thuận giữa hai bên, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và cặp vợ chồng mang thai hộ, trong lúc thực hiện mang thai hộ và sau khi đứa trẻ sinh ra, rõ ràng là đứa trẻ sẽ bị nhiều nguy cơ về sức khoẻ và không được nuôi dưỡng tốt. Theo tôi, dự thảo cần chú trọng nhiều hơn quyền lợi của đứa trẻ vì bản thân trẻ không có khả năng tự bảo vệ.
Một số vấn đề khác cần quan tâm
Giấy khai sinh của trẻ phải ghi tên cặp vợ chồng mang thai hộ vì lúc này cặp vợ chồng mang thai có “quyền và nghĩa vụ như cha mẹ hợp pháp của đứa trẻ” như nội dung trong dự thảo. Cần quy định rõ thủ tục chuyển giao đứa trẻ cho cha mẹ sinh học được thực hiện như thế nào về pháp lý để đảm bảo quyền lợi cho các bên, đặc biệt là đứa trẻ sinh ra. Có nên quy định có thể sửa đổi khai sinh để đứa bé được công nhận là con của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ?
Người mang thai hộ cần phải đã từng có thai và sinh con để có đủ kinh nghiệm quyết định nhận mang thai hộ và kinh nghiệm chăm sóc thai tốt hơn.
Ngoài ra, cũng cần cân nhắc các vấn đề sau: Đứa trẻ sau này có quyền biết thông tin về người mang thai hộ không? Người mang thai hộ có thể tiếp tục liên hệ và tìm hiểu về đứa trẻ sinh ra? Trường hợp thai nhi có nguy cơ bị dị tật hoặc thai kỳ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người mang thai, ai là người có quyết định chấm dứt thai kỳ (bỏ thai)? Ai sẽ quyết định phương pháp sinh, khi cần: sinh thường hay sinh mổ?
SOURCE: BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ ĐIỆN TỬ

THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: TRUY NHẬN CHA CHO CON, KHÓ TRĂM BỀ


LS. ĐINH THỊ QUỲNH NHƯ – Trưởng Văn phòng luật sư An Luật
Vụ án nào cũng có những khó khăn dù ít dù nhiều cho người tiến hành xét xử khi phải thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ.
Với những vụ “truy nhận cha cho con” thì việc xét xử lại càng khó trăm bề.
Trước hết là về mặt chứng cứ. Nếu trong một giao dịch dân sự bình thường nào đó, các bên có thể tiến hành công khai, minh bạch, có giấy trắng, mực đen, có thể có thêm người làm chứng thì những sự vụ như thế này, thường chỉ có người trong cuộc biết rõ với nhau mà thôi.
Chứng cứ mù mờ, gánh nặng giám định
Phần lớn những vụ truy nhận cha cho con bắt nguồn từ một mối quan hệ oái oăm, chẳng hạn người đàn ông ngoại tình khi đang có gia đình. Đối với những vụ việc này, tòa căn cứ vào lời khai và các chứng cứ khác để chứng minh họ có quan hệ tình cảm như thư từ, email, hình ảnh… Tuy nhiên, từ quan hệ tình cảm để khẳng định có quan hệ tình dục để sinh ra đứa bé thì không có một căn cứ nào đảm bảo.
Nếu người cha sau khi được tòa phân tích, thấy được trách nhiệm của mình thì vụ việc còn có thể kết thúc tốt đẹp, bằng không thì đành phải cậy nhờ vào các giám định khác để làm căn cứ xét xử. Một biện pháp phổ biến mà ai cũng nghĩ ngay đến là xét nghiệm ADN. Nhưng chi phí để làm thủ tục xét nghiệm là cả một vấn đề lớn đối với không ít phụ nữ. Ngày nay, chi phí đã giảm khá nhiều (tương đương 10 triệu đồng) mà không ít phụ nữ còn không thể có để ứng ra, nói gì đến trước đây. Bao nhiêu trường hợp sau khi nhận được thông báo của tòa, người mẹ đó chỉ biết ngậm ngùi ôm con về buông xuôi mọi chuyện, chấp nhận con mình không có cha và đứa trẻ buộc phải chấp nhận rằng trong khai sinh của nó có một phần trống ở ô “tên họ người cha” cũng như một khoảng trống trong tâm hồn do thiếu vắng vai trò của người đã tạo ra mình.
Đương sự trốn, từ chối xét nghiệm
Nhiều trường hợp, người mẹ có đủ tiền xét nghiệm ADN nhưng rồi cũng không thể tiến hành để có kết quả cho tòa xét xử bởi người cha đã “nhấn nút” biến mất.

Tôi đang theo đuổi một vụ truy nhận cha cho con mà người cha trong vụ việc đã biến mất ngay khi nghe tin có một đứa trẻ đang tượng hình mang huyết thống của mình. Cô gái trong hoàn cảnh đó một mình sinh con, nuôi nấng và quyết tâm tìm cha cho con.
Nhìn lại, cô cho rằng đó là một thủ đoạn vì người tình giấu nhẹm tất cả, không chịu chụp bất kỳ tấm ảnh chung nào và bỏ việc ngay khi cô thông báo có thai để lẩn trốn. Qua nhiều khó khăn, cô gái đã tìm được thông tin gia đình cha của con mình. Họ là một gia đình có học thức và khá thành đạt ở huyện Châu Thành (Tiền Giang), cũng giống người đã phụ bạc mẹ con cô – một người đàn ông thành đạt, có học vị thạc sĩ. Cô đã đến nơi xin gia đình khuyên lơn để cha bé nhận con nhưng gia đình vẫn cứ trốn tránh trách nhiệm và giấu bặt thông tin con mình. Họ chỉ gửi cho cô vài hộp sữa nuôi cháu rồi sau đó lại thôi.
Tôi hỏi cô có thấy ngại ngùng không khi người khác biết chuyện này và có thể có cái nhìn không đúng về cô. Cô nói mình không ngại gì cả. Người đáng xấu hổ là người cha đã đành tâm dứt bỏ con mình và cái gia đình không dám nhận con, nhận cháu. Tôi vẫn đang cùng cô ấy truy tìm thông tin cha của đứa trẻ để có thể hoàn tất thủ tục nhận con. Khó khăn nhiều và đau lòng cũng lắm khi phải làm điều này nhưng vẫn phải làm vì có một đứa trẻ đang cần biết cha nó là ai. Dù sau khi tòa tuyên cha nó có trách nhiệm với nó hay không thì nó cũng cần biết người đã bỏ rơi nó trên cõi đời này mà không hề đếm xỉa tới.
Ngay cả trong trường hợp tìm ra người cha, có người còn không chịu tiến hành xét nghiệm ADN. Lúc đó, mọi thứ lại không thể giải quyết được vì luật không quy định rằng trong trường hợp này phải xử lý như thế nào. Tòa không thể buộc họ phải phối hợp để xét nghiệm.
Người thân bất hợp tác
Trường hợp người cha còn sống đã khó khăn như vậy thì trong trường hợp người này đã mất, chuyện truy nhận cha lại càng lắm nhiêu khê.
Trong một vụ hai người con xin truy nhận cha tại TP.HCM mà tôi có dịp tiếp xúc, người cha đã mất, anh chị em của người này thì trước sau luôn khăng khăng chối bỏ và từ chối giám định ADN. Vị chủ tọa phiên tòa hôm đó đã đặt một câu hỏi khiến cả khán phòng im bặt. Ông nói với một người chú: “Khỏi cần giám định ADN, ông nhìn thử xem dáng vóc, hình thể của họ có giống người nhà ông không? Ông hỏi thử những người ở phiên tòa này xem người ta nói thế nào?”…
Sau một hồi im lặng, cả khán phòng chợt râm ran: “Giống quá, giống quá!”. Thật sự thì người cháu trai của họ giống y đúc chú bác của mình. Cả cái dáng đứng, nét mặt, đôi mắt, ai nhìn cũng thấy rất rõ. Dù vậy, những người chú, người bác vẫn quyết lạnh lùng ngoảnh mặt.
Trong phiên xử hôm ấy, tòa chưa quyết định được. Nhưng với những gì đã diễn ra, tôi tin rằng nếu kết quả có như thế nào thì những người chú, người bác cũng nói rằng họ không tin kết quả, không bao giờ thừa nhận cháu.
Khoảng trống mênh mông!
Vất vả, gian nan là thế nhưng một người mẹ dù đã hoàn tất thủ tục nhận cha cho con cũng không thể nào tìm được cho con mình một người cha thật sự. Cái họ được chỉ là một quyết định của tòa, một tên cha được cải chính trong giấy khai sinh, còn tình cha con, nghĩa dưỡng dục thì không. Nếu tòa quyết là người cha phải trợ cấp nuôi con thì họ sẽ thực hiện, còn chăm nom, nuôi dạy, dành cho con trẻ một sự quan tâm, yêu thương như một người cha bình thường thì hầu như không thể.
Chắc có người sẽ trách người mẹ của những đứa con không được thừa nhận. Có người sẽ cho rằng vì họ không biết giữ mình, không xem xét tường tận mà tạo ra đứa bé không được đường hoàng, chính thức. Nhưng khoan hãy đổ dồn mọi lỗi lầm lên người phụ nữ vì dù thế nào, họ cũng đang bảo bọc, chăm lo con mình và đương đầu với bao điều tiếng. Trong khi đó, người đàn ông mà họ tin tưởng, thương yêu lại nỡ đang tâm phụ bạc, dứt bỏ tình thân. Vậy ai mới là người đáng trách hơn ai?
Là người, ai cũng cần biết nguồn, biết cội!
Tham gia một phiên tòa, tôi thấy xót lòng khi nghe câu hỏi từ một người ở hàng ghế xét xử: “Sao lúc cha còn sống, cô không yêu cầu truy nhận cha? Bây giờ cha cô chết rồi, cô đòi nhận cha có phải vì muốn quyền thừa kế hay không?”. Cô gái ở phía bên yêu cầu truy nhận cha trả lời rành rọt, không va vấp, không luống cuống như những câu trả lời khác của cô tại phiên tòa nhưng trong giọng nói có phần uất nghẹn: “Tôi là đứa con sinh ra không có cha. Đến khi lớn lên, tôi phải lén lút gặp cha mà không được công khai như người khác. Giờ cha tôi chết rồi, tôi cũng muốn được xem ông là cha, được thờ cúng như một người con. Con người ai cũng cần biết nguồn, biết cội, biết cha, biết mẹ mà!”.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN: CHA MẸ VỊ THÀNH NIÊN ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NHƯ THẾ NÀO?

THANH XUÂN
Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định khá chi tiết các thủ tục cần thiết trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những trường hợp phát sinh nhưng chưa được hướng dẫn giải quyết, khiến cơ quan đăng ký hộ tịch lúng túng.
Mất giấy chứng sinh, đăng ký khai sinh bằng giấy tờ nào?
Điều 15, Nghị định 158 về thủ tục đăng ký khai sinh quy định, người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ (nếu cha, mẹ của trẻ có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Như vậy Nghị định 158 chỉ quy định, trường hợp trẻ sinh trong cơ sở y tế thì khi đăng ký khai sinh thủ tục bắt buộc phải có giấy chứng sinh, không quy định các giấy tờ khác thay thế giấy chứng sinh. Tuy nhiên thực tế đã nảy sinh trường hợp không nằm trong quy định.
Ngày 9.6.2010, chị Đinh Thị Phúc đến UBND xã Tân Dương, huyện Lai Vung, Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Nguyễn Đinh Phú Quý sinh ngày 6.12.2009 tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc. Theo chị Phúc, khi sinh con tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc có giấy chứng sinh do bệnh viện cấp, nhưng trên đường về nhà chị đã làm mất giấy chứng sinh của con nên không thể làm khai sinh. Về phía Bệnh viện thì không thể cấp lại giấy chứng sinh cho con chị được. Nghị định 158 chỉ quy định trường hợp nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trường hợp con chị Phúc sinh trong bệnh viện nhưng mất giấy chứng sinh, cơ quan hộ tịch không biết có thể cho đăng ký khai sinh hay không? Nếu đăng ký khai sinh thì giấy tờ nào sẽ thay thế giấy chứng sinh? Cuối cùng, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã phải cho chị Phúc làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực để giải quyết việc đăng ký khai sinh cho con chị.

Cha mẹ vị thành niên có đăng ký khai sinh cho con được không?
Nghị định 158 quy định cá nhân có quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, Nghị định 158 không quy định cụ thể cá nhân đó phải bảo đảm độ tuổi là bao nhiêu. Do vậy, vấn đề đặt ra là những trường hợp người mẹ chưa đủ tuổi thành niên đi đăng ký khai sinh cho con có được giải quyết không? Đó là trường hợp của chị Trần Thị Mỹ Hiền, sinh năm 1993 đến UBND xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con sinh ngày 1.5.2007. Như vậy, lúc sinh con chị Hiền chỉ mới 14 tuổi, đến cuối năm 2009 đi đăng ký khai sinh cho con, Chị Hiền 16 tuổi. Trường hợp người chưa thành niên không có quyền đăng ký kết hôn, nhưng đã sinh con như chị Hiền không có trong các văn bản hướng dẫn, khiến cán bộ hộ tịch rất lúng túng. Cuối cùng, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch vẫn phải cho Chị Hiền đăng ký khai sinh cho con, nhưng với điều kiện bà ngoại là người yêu cầu đăng ký.
Cũng tương tự, trường hợp Nguyễn Văn Lạc, sinh năm 1996 sống chung với một cô gái như vợ chồng. Tháng 9.2008 cô này sinh con rồi bỏ đi, để lại đứa con cho anh Lạc nuôi. Tháng 12.2009 khi anh Lạc đến UBND xã Tân Hoà, huyện Lai Vung, Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con thì gặp vướng mắc. Lý do, Thông tư 01 hướng dẫn: trong trường hợp cha, mẹ của trẻ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi không xác định được địa chỉ, thì khi người cha làm thủ tục nhận con, không cần phải có ý kiến của người mẹ. Khi đăng ký khai sinh, phần ghi về người mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo Giấy chứng sinh. Trường hợp không có Giấy chứng sinh, thì ghi theo lời khai của người cha; nếu người cha không khai về người mẹ, thì để trống (Tiết a, Điểm 4, Mục II, Thông tư 01). Tuy nhiên, trường hợp anh Lạc mới chỉ 13 tuổi thì có quyền được làm thủ tục cha nhận con và đăng ký khai sinh cho con được hay không? Vấn đề này Nghị định 158 và Thông tư 01 còn bỏ ngỏ.
Trên thực tế, những trường hợp như đã nêu không hiếm, nhưng pháp luật về hộ tịch chưa điều chỉnh, khiến cơ quan hộ tịch gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết yêu cầu nhân đạo cho người dân. Giải pháp là phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch để điều chỉnh những tình huống nảy sinh trong cuộc sống.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:
http://daibieunhandan.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/118662/Default.aspx

BÀN VỀ THẨM QUYỀN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON

TS. LÊ THU HÀ – Học viện tư pháp
1. Theo chị Phan Thị Yến (sinh năm 1984), năm 2003, chị và anh Lê Văn Thanh (sinh năm 1980) chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn, không được cha mẹ anh Thanh đồng ý. Mặc dù không được bố mẹ anh Thanh đồng ý, chị Yến và anh Thanh vẫn về sống chung với gia đình chồng. Đến ngày 31/01/2005 chị Yến sinh bé gái Lê Yến Ngọc. Do không có đăng ký kết hôn nên chị Yến không làm được khai sinh cho bé Ngọc.
Ngày 24/02/2006, anh Thanh bị tai nạn giao thông chết. Tháng 5 năm 2006, chị Yến có đơn ra Tòa án yêu cầu Tòa án xác định anh Thanh là cha cho cháu Lê Yến Ngọc. Bố mẹ anh Thanh cũng thừa nhận cháu Lê Yến Ngọc là con đẻ của anh Thanh, là cháu nội của ông bà. Theo Điều 65 luật hôn nhân và gia đình năm 2000, con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
Trong trường hợp cụ thể của chị Yến là yêu cầu xác định anh Thanh (đã chết) là cha cho bé Ngọc là một yêu cầu chính đáng, được pháp luật thừa nhận. Nhưng yêu cầu của chị Ngọc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không?
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp xác định con theo quy định tại Điều 64: Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
Đối với trường hợp nhận cha, mẹ, con khác, Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định quyền được yêu cầu mà không quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết. Vấn đề này được quy định tương đối chi tiết trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định số 158/2005 có hiệu lực từ ngày 01/04/2006, thay thế nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về đăng ký hộ tịch).
Mục 6, Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, tại Điều 32 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

1. Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.
2. Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ theo quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp.
Điều 33 quy định thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện việc đăng ký việc cha, mẹ, con.
Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, với tình tiết là chị Yến là có nguyện vọng xác định anh Thanh (đã chết) là cha cho con của chị, cha mẹ anh Thanh thừa nhận cháu nội cho thấy việc nhận cha là tự nguyện và không có tranh chấp, nên việc xác định anh Thanh là cha của bé Ngọc được thực hiện theo thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con quy định tại Mục 6 Nghị định số 158/2005. Căn cứ Điều 33, thẩm quyền giải quyết loại việc này là Ủy ban nhân dân cấp xã theo thủ tục đăng ký nhận cha.
Chị Yến có quyền làm đơn yêu cầu gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của mẹ con chị. Nếu nơi mẹ con chị Yến cư trú cũng là nơi gia đình anh Thanh cũng như bản thân anh Thanh cư trú trước khi chết thì đây cũng là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của anh Thanh (trước đây).
Việc chị Yến gửi đơn đến Tòa án nhân dân yêu cầu xác định cha cho con trong trường hợp không có tranh chấp là không đúng với quy định tại Nghị quyết số 158/2005/NQ-CP. Tòa án phải trả lại đơn với lý do yêu cầu của chị Yến không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi trả đơn, Tòa án nên giải thích cho chị Yến rõ quy định của pháp luật, hướng dẫn chị làm đơn gửi Ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền xác nhận cha, mẹ, con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã rõ. Nhưng chính từ quy định đã rõ này nảy sinh một vấn đề mới vô cùng phức tạp trong xã hội. Có thể sẽ là hàng loạt các trường hợp thay đổi quan hệ huyết thống: từ mối quan hệ cha mẹ con có thể thành quan hệ anh, chị em hoặc trở thành người dưng nước lã.
Ví dụ 1: Giấy khai sinh của H đã ghi rõ tên của người cha là A, người mẹ là B. Sau có thỏa thuận tự nguyện và không có tranh chấp về việc C mới thực sự là cha của H. Trong trường hợp này, các bên chỉ cần làm đơn ra ủy ban nhân dân cấp xã làm thủ tục nhận cha, mẹ con theo mục 6 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Căn cứ vào sự tự nguyện và thỏa thuận, không có tranh chấp, Ủy ban nhân dân sẽ ra quyết định xác nhận C là cha của H.
Việc sửa lại giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh theo thủ tục cải chính được quy định tại mục 7 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.
Cũng theo các quy định này, hoàn toàn có thể có việc sau khi đã xác nhận C là cha của H, có thể tiếp tục có thỏa thuận giữa những người liên quan là không phải C là cha của H, mà D mới là cha của H. Nếu có sự thỏa thuận tự nguyện, không có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân hoàn có cơ sở để lại xác định D là cha của H.
Ví dụ 2: Giấy khai sinh của T đã ghi rõ tên của cha là P, tên người mẹ là Q. Sau đó có yêu cầu của M muốn xác định mình mới là mẹ của T. Điều đáng nói là theo mối quan hệ hiện tại thì M là chị gái của T, là con của ông P và bà Q. Nói cách khác, M và T là hai chị em cùng bố, cùng mẹ. Lý do mà M dùng làm cơ sở cho yêu cầu xác định T là con mình là do M sinh con khi mới 15 tuổi. Để tránh dị nghị của làng xóm, M đã nhờ bố mẹ khai sinh cho con mình. Theo M, phải chính là M mới là mẹ của T, còn P và Q là ông bà ngoại của T. Ông P và bà Q cũng thừa nhận những điều mà con gái M của mình đề nghị là đúng và cũng có yêu cầu xác định T là con của M. T cũng công nhận mình là con gái của M và đề nghị xác nhận M là mẹ của mình.
Việc xin nhận cha, mẹ, con diễn ra ở thời điểm bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống, việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp nên căn cứ khoản 1 Điều 32, Điều 33 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, đây là thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Hai ví dụ trên cho thấy theo quy định của pháp luật hiện hành, việc thay đổi quan hệ huyết thống trở nên quá dễ dàng, quá đơn giản. Nhìn ở góc độ cải cách hành chính thì dường như đây là một bước tiến. Nhưng một điều nữa cũng cần phải nói là ở ví dụ 1, mục tiêu của bố mẹ AB là muốn nhờ người bạn C đưa con mình ra nước ngoài định cư. Tương tự, trong ví dụ 2, M hiện mang quốc tịch Úc, việc chuyển mối quan hệ chị em giữa M và T thành mối quan hệ mẹ con thì việc bảo lãnh cho T đoàn tụ với mẹ là chuyện đương nhiên.
Những thực tế này cho thấy Nghị định 158/2005 có khả năng tạo ra sự thay đổi không thể tưởng tượng nổi mối quan hệ huyết thống, mối quan hệ gia đình. Chỉ cần con người thỏa thuận với nhau là các mối quan hệ cha mẹ, con cái, ông bà mang tính huyết thống được xác lập. Đây là việc làm trái tự nhiên. Mối quan hệ cha mẹ và con (đẻ) là mối quan hệ tự nhiên, do tự nhiên tạo ra, không phải là ý chí của con người theo cách thức này. Con người chỉ có thể tạo ra quan hệ nuôi dưỡng (nhận nuôi con nuôi), không thể tạo ra mối quan hệ huyết thống chỉ bằng sự thỏa thuận, không có tranh chấp. Để xác định mối quan hệ tự nhiên, yếu tố cần và đủ là phải có căn cứ về tính huyết thống. Còn sự thừa nhận của các bên chỉ là yếu tố tham khảo chứ không có tính quyết định trng việc xác nhận cha, mẹ, con, nhất là đối với trường hợp xác định lại cha, mẹ. Muốn làm được điều này, phải là một cơ quan chuyên trách trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ do người yêu cầu phải cung cấp. Không một cơ quan nào có thể thay thế được Tòa án trong trường hợp này. Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm vụ của Tòa án là xác định sự thật khách quan, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của tổ chức, của nhà nước.
Điều này cũng không có nghĩa là nếu để Ủy ban nhân dân giải quyết thì không khách quan. Cũng là một cơ quan nhà nước, hoạt động của Ủy ban nhân dân cũng phải thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật, nhưng với tư cách là một cơ quan quản lý, Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ chung của nhà nước là quản lý chính quyền ở cơ sở. Còn Tòa án là cơ quan nhà nước có chức năng xét xử, thẩm phán là người được đào tạo kiến thức pháp luật và nghiệp vụ xét xử. Việc xét xử của Tòa án cũng có quy trình, thủ tục tố tụng để mọi vấn đề được xem xét khách quan nhất. Vì vậy, chúng tôi cho ràng dù với mục tiêu cải cách hành chính nhưng cải cách vấn đề gì, đến đâu và như thế nào lại rất cần được nghiên cứu nghiêm túc dưới góc độ khoa học. Với những lý do đó, chúng tôi cho rằng, cần quy định cho tòa án có thẩm quyền xác định cha cho con đối với trường hợp cụ thể nêu trên.
Điều này cho thấy để cải cách thủ tục hành chính, cần một cái nhìn thấu đáo, toàn diện hơn của nhà soạn thảo luật. Không thể vì tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong cuộc sống mà đưa ra những quy định trái với tự nhiên, tạo ra một kẽ hở lớn về mặt pháp luật, đem đến một hậu quả khó lường cho xã hội như đã phân tích quy định về thẩm quyền xác nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền sẽ có những điều chỉnh vấn đề này khi chỉnh sửa Nghị định về đăng ký và quản lý hộ tịch.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHỀ LUẬT SỐ 6 NĂM 2006

THU HỒI, HỦY BỎ GIẤY KHAI SINH NÀO LÀ HỢP LÝ?

NGUYỄN THANH XUÂN
Điều 78 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện trong quản lý nhà nước về hộ tịch. Theo đó, UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình, có nhiệm vụ và quyền hạn ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định tại Nghị định 158. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết việc thu hồi và hủy bỏ giấy tờ hộ tịch cấp trái quy định pháp luật đã dẫn đến một số khó khăn cho cán bộ hộ tịch và người dân.
Tháng 7.1991, ông Võ Thành Lâm đến UBND xã L.T, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Võ Thành Son với năm sinh 1991. Tháng 5.1997 ông lại đến UBND xã L.T đăng ký tiếp cho con ông một giấy khai sinh nữa với năm sinh năm 1990. Hiện tại Võ Thành Son có hai bản chính giấy khai sinh với hai năm sinh khác nhau là 1990 và 1991. Xuất phát từ việc đăng ký giấy khai sinh thứ hai với năm sinh 1990, con ông Lâm đã xác lập các hoạt động học tập, đăng ký các giấy tờ nhân thân của mình như chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình… với năm sinh là năm 1990. Tháng 3.2009, ông Võ Thành Lâm đến UBND huyện L.V, Đồng Tháp yêu cầu hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 với lý do con ông có hai giấy khai sinh và chỉ sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997. Xem xét hồ sơ học tập cùng các giấy tờ nhân thân khác của Võ Thành Son sử dụng năm sinh  1990, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 để đương sự có thể sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997 cho phù hợp với các giấy tờ nhân thân.
Về sự việc này, nhiều ý kiến cho rằng, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 của Võ Thành Son là không đúng quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 78 Nghị định 158, UBND cấp huyện có quyền ra quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định.

Căn cứ vào điều luật trên để xử lý đúng trường hợp sử dụng hai giấy khai sinh của con ông Lâm thì UBND huyện L.V phải ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1997 với năm sinh của Võ Thành Son là năm 1990, vì giấy khai sinh này cấp trái với quy định pháp luật (cá nhân chỉ được quyền đăng ký khai sinh một lần). Làm như vậy là đúng luật, nhưng lại phát sinh vướng mắc, bởi khi thu hồi hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1997 ghi năm sinh 1990 và sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1991 ghi năm sinh 1991 sẽ không phù hợp với nội dung của các giấy tờ nhân thân khác đã được đăng ký năm sinh là năm 1990; đương sự phải đến UBND huyện L.V xin cải chính năm sinh trong giấy khai sinh đăng ký năm 1991 ghi năm sinh 1991 thành năm sinh 1990.
Thiết nghĩ, đăng ký khai sinh là việc quan trọng, cần phải yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật. Mọi hành vi đăng ký khai sinh không đúng quy định đều dẫn đến hệ quả là sự không hợp lệ trong các giấy tờ nhân thân, gây rắc rối, khó khăn cho bản thân người được khai sinh sau này, đồng thời gây phiền hà cho cơ quan có thẩm quyền khi phải chỉnh sửa, cải chính hộ tịch cùng các giấy tờ nhân thân của đương sự.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG LẮT LÉO CỦA . . . THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

LÝ MẠC
Với những cặp vợ chồng hiếm muộn, thụ tinh trong ống nghiệm (TTON) là cứu cánh cho họ, đem lại niềm vui làm mẹ, làm cha chính đáng trong cuộc đời con người. Tuy nhiên, khi công nghệ càng cao, có thể can thiệp vào cuộc sống của con người thì cùng với đó lại nảy ra những mặt trái ngoài ý muốn, ngoài pháp luật cũng như phi nhân đạo.
Tuổi cao thì… xuất ngoại
Theo luật pháp Việt Nam, các trường hợp làm TTON thì qui định của người phụ nữ phải dưới 45 tuổi. Thực tế cho thấy những vướng mắc mà các bệnh viện hay gặp nhiều nhất chính là tuổi tác của người phụ nữ: do lập gia đình trễ, do tái hôn, do không biết đến phương pháp TTON hoặc ngại ngần khi nhờ đến phương pháp này… Vì thế khi tìm đến với TTON, có rất nhiều phụ nữ đã qua ngưỡng 45 tuổi và bị từ chối cho dù ước nguyện và tình cảnh của họ là chính đáng.
Thế nên nhiều phụ nữ đã chọn giải pháp "xuất ngoại" để thực hiện TTON. Ở một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan hay xa hơn là Mỹ thì các qui định về tuổi tác "thoáng" hơn, thậm chí không cần giới hạn tuổi, miễn là cơ thể người phụ nữ còn cho phép việc tiến hành TTON (còn noãn và sức khỏe đủ để mang thai).
Theo thống kê, kể từ em bé TTON đầu tiên ra đời năm 1998 đến nay, thì cả nước đã có hơn 4.000 em bé sinh ra từ phương pháp này với nhu cầu tăng hàng năm từ 10/15%. Đó là chưa tính nhiều trường hợp sử dụng phương pháp này tại nước ngoài. Giờ đây, những người nghi ngờ về khả năng của công nghệ  TTON giờ gần như là thiểu số.
Tuy nhiên, qui định không phải là không có cơ sở. Theo các bác sĩ, thành công hay thất bại của một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc nhiều yếu tố, chủ yếu là chất lượng của trứng, phôi và sự chấp nhận của nội mạc tử cung với phôi làm tổ.
Ngoài việc tỷ lệ thành công khi làm TTON với những người phụ nữ cao tuổi là rất thấp, thì việc đặt thành công một ca TTON chỉ mới là một chặng đường. Sản phụ còn phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe, những rủi ro trong quá trình mang thai kéo dài trên dưới 40 tuần. Chưa kể, người cao tuổi còn tiềm ẩn rất nhiều bệnh tật mà khi mang thai mới phát hiện ra: tiểu đường, tim, cao huyết áp, sản giật, nhiễm độc thai nghén, nhiễm độc ối v.v…

Về sức khỏe sinh sản, bất cứ một can thiệp nào liên quan đến TTON cũng khiến người phụ nữ khỏe mạnh bị tổn hại sức khỏe và áp lực tinh thần là rất cao. Chị H., 43 tuổi, lấy chồng lần thứ 2 (chồng trước có 1 đứa con gái đã ngoài 20 tuổi) cho biết: chị đã làm TTON lần thứ 3 nhưng đều không thể giữ được thai. "Mỗi một lần kích, chọc noãn, đều rất mệt mỏi và áp lực cả về tinh thần, sức khỏe cũng như vật chất… và mỗi một lần thất bại áp lực tăng gấp bội".
Còn chị L., sinh năm 1961, cũng đã thất bại sau 2 lần làm TTON tại S, tâm sự: "Ở Việt Nam không bệnh viện nào nhận, nghe người bạn giới thiệu sang S làm 2 lần, nhưng cũng không thành công, cho dù tỷ lệ thành công của bệnh viện này rất cao và bà bác sĩ được coi là rất "mát tay". Thực tế là mình nhiều tuổi, đành chấp nhận thôi".
Khi đặt ra vấn đề mang thai hộ với các bác sĩ trong trường hợp dùng trứng của người cao tuổi, các bác sĩ cho biết: "Tuổi của người phụ nữ ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng của trứng và phôi. Và với một chất lượng kém thì dẫu có chuyển phôi vào một cơ thể trẻ trung, khỏe mạnh, tỷ lệ thành công cũng rất thấp, chưa nói đến việc chất lượng phôi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi và đứa con sau này".
TTON để chọn giới tính
Gần đây, một trào lưu xuất ngoại để làm TTON chọn giới tính đã ngày càng lan rộng. Việc chọn giới tính gần đây đã làm đau đầu cho những người làm công tác dân số và khiến cho sự bất cân bằng về giới tính đã ngày càng trở nên báo động.
Trong khi tại Việt Nam, có những luật rõ ràng về việc thông báo giới tính, và trong các ca TTON, người ta được qui định không được chọn giới tính thì ở một số nước trên thế giới việc này không nằm trong qui định và chính đó là điểm đến của những cặp vợ chồng thiếu nếp hoặc thiếu tẻ.
Chị L.A. ở công ty P là một trường hợp. Sau khi sinh cô con gái thứ 2, đứng trước áp lực rất lớn của nhà chồng là phải đẻ bằng được một thằng cu để nối dõi tông đường, chị khăn gói lên đường sang Mỹ và cuối cùng thì cũng "thỏa nguyện" và sinh được một thằng cu cho dòng tộc nhà chồng.
Việc lựa chọn giới tính về công nghệ thì không có gì khó, các bệnh viện sử dụng phương pháp PGD biến phương pháp điều trị được thiết kế để phòng ngừa các gene lỗi, thành một công cụ để xác định và lựa chọn giới tính. Và, Mỹ được coi là điểm đến của những cặp vợ chồng muốn chọn giới tính cho con, miễn là người ta có đủ tiền. Bởi ngoài chi phí làm TTON, chi phí đi lại ăn ở trong thời gian làm TTON thường từ 3-6 tháng thì cho mỗi ca chọn giới tính ở Mỹ sẽ phải chi trả thêm 20.000 USD.
Gần đây T. cũng là một điểm đến được lựa chọn bởi đông đảo người Việt Nam muốn chọn giới tính bởi lẽ nó gần và chi phí "dễ chịu" hơn là Mỹ. Việc sử dụng công nghệ can thiệp vào "ý Trời" này nếu không có những biện pháp hữu hiệu thì sẽ làm cho cán cân giới tính sẽ ngày càng lệch, bởi lẽ người châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng vẫn coi nặng việc đẻ con trai, trong khi đó, tỷ lệ con trai, con gái của Việt Nam đã là 111 bé trai/100 bé gái.
Và những "trò chơi vô nhân tính" của người lớn…
Còn trớ trêu hơn, có nhiều trường hợp đã dùng phương pháp TTON cho một mục đích đi ngược lại tính nhân đạo, nhân sinh của nó, coi TTON và đứa con như một "trò chơi" của người lớn.
Để có con, trong những trường hợp noãn của người vợ hoặc tinh trùng của người chồng không đủ chất lượng, luật định cho phép được xin tặng tinh trùng hoặc noãn để có con. Tuy nhiên, phải theo những qui định chặt chẽ: Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng, hay phụ nữ sống độc thân có nhu cầu có con đã được cơ sở y tế xác định có noãn bảo đảm chất lượng để thụ thai.
Tương tự, noãn của người cho cũng chỉ được sử dụng cho một người. Người nhận noãn phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ có nhu cầu sinh con nhưng không có noãn, hoặc noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai. Về tuổi tác, qui định người cho tinh trùng phải từ 20-55 tuổi, và người cho noãn tuổi từ 20-45.
Ngoài ra, tại Việt Nam việc mang thai hộ là hoàn toàn trái với pháp luật cho dù người mang thai hộ không phải là mua bán mà là anh, chị em hay người có huyết thống.
Tuy nhiên, có nhiều cặp không phải vợ chồng, cũng không hiếm muộn  lại cũng dùng phương pháp này để có một đứa con làm "kỷ niệm" hoặc đáp ứng cho một mục đích cá nhân ích kỷ của mình. Trường hợp cô LHH ở doanh nghiệp F là một ví dụ.
Là người đã có chồng, có 2 đứa con khỏe mạnh, nhưng do quan hệ bất chính với một người đàn ông có vợ khác, muốn chiếm giữ người này, H. bèn ngon ngọt dụ người tình sang T để làm TTON.
Tại đây cô đã lách được những qui tắc về luật pháp liên quan đến tuổi tác (cô H. đã 50 tuổi), liên quan đến những qui định về nguồn gốc người cha (người cho tinh trùng) và cả những ràng buộc về việc mang thai hộ. H. tiến hành việc TTON bằng cách lấy noãn của mình, kết hợp với tinh trùng của người đàn ông  kia sau đó thuê một người mang thai hộ. Nhẫn tâm hơn, vì tuổi tác già nên H. chỉ có thể lấy được một noãn chất lượng kém, sau khi tạo thành phôi là một phôi hạng C.
Thông thường, trong một ca TTON, các bác sĩ cũng chỉ khuyến cáo bệnh nhân nên đặt phôi hạng A vì hạng B và C đem lại khả năng thụ thai rất thấp chỉ 1% và nếu có thành thai, khả năng có thể sinh nở một đứa trẻ bình thường chỉ 10%. Nhưng H. vẫn bất chấp thủ đoạn để định đặt vào người mang thai hộ.
Vụ việc đổ bể bởi người vợ của người đàn ông đã phát hiện ra và có khiếu nại lên bệnh viện nơi H. làm TTON. Bệnh viện này đã đối diện với một ca đau đầu hy hữu, luật sư của bệnh viện này cho biết: Từ trước đến nay chưa hề có việc dùng đến TTON kiểu như vậy, nên họ không kiểm tra kỹ về quan hệ vợ chồng của bệnh nhân.
Tuy nhiên, vị luật sư này cũng nói thêm: "Thực tế đây là ca quá hy hữu. Không ai có thể lường người ta có thể lợi dụng việc làm TTON rất nhân đạo để lấy ra một cái noãn, nhờ người khác mang nặng đẻ đau nhằm có một đứa trẻ làm bàn đạp cho mục đích cá nhân rất phi nhân tính của mình. Đây sẽ là bài học kinh nghiệm cho bệnh viện chúng tôi những ca TTON sau, để tránh những kiện tụng liên quan đến pháp lý quốc tế cho bệnh viện cũng như để không tiếp tay cho những hành vi vô đạo đức liên quan đến con người".
Rõ ràng, công nghệ có thể giúp khắc phục những trở ngại của tạo hóa, khiến con người đạt đến những điều tốt đẹp hơn, nhưng cũng có thể đó là con dao hai lưỡi phục vụ cho nhu cầu của những người muốn dùng tiền, dùng công nghệ để "thay sự sắp đặt của Chúa". Không luật pháp nào qui định được hết những ngõ ngách lắt léo của toan tính con người, vấn đề là ở chính họ.
SOURCE: AN NINH THẾ GIỚI ĐIỆN TỬ
Trích dẫn từ:

ĐĂNG KÝ CHO EM XÁC ĐỊNH ĐƯỢC CHA ĐẺ NHƯNG BỊ MẸ ĐẺ BỎ RƠI: THIẾU HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

PHẠM VĂN CHUNG

Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: “Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

Tại điểm h khoản 1 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP, ngày 02.6.2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì: “Trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, có giấy tờ kèm theo ghi về thông tin của cha, mẹ, nhưng sau khi đã thực hiện việc thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP mà không tìm được cha, mẹ đẻ, thì những thông tin này chỉ ghi chú trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh; phần ghi về người mẹ và người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con được để trống”.

Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp, mặc dù chưa có đăng ký kết hôn nhưng lại xác định được cha đẻ, mẹ đẻ (có giấy chứng sinh) của trẻ em nhưng người mẹ bỏ trốn không nhận con. Vậy cha của đứa trẻ có được đứng tên khai sinh cho trẻ và phần khai về người mẹ bỏ trống có được hay không?. Bởi vì, trong trường hợp này, mặc dù xác định được mẹ đẻ (có giấy chứng sinh xác định) nhưng người mẹ lại bỏ trốn và không nhận con. Vấn đề này giải quyết như thế nào?.

Ví dụ sau đây minh chứng cụ thể: Anh Nguyễn Văn A quan hệ với chị Nguyễn Thị B, giữa hai người chưa có Giấy đăng ký kết hôn. Ngay sau khi sinh con (lấy tạm tên là cháu H)- có giấy chứng sinh, chị B bỏ trốn, đến nay không tìm thấy. Cháu H được bố mẹ của anh A đưa về nuôi và thừa nhận là cháu ruột của mình, anh A cũng thừa nhận cháu H là con đẻ của mình. Nay cháu H đã tròn 01 tuổi nhưng chưa được đăng ký khai sinh. Lý do, là gia đình anh A, muốn anh A là cha đẻ, phần khai trong Giấy khai sinh của cháu H và phần khai của người mẹ là bỏ trống. Nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc này là không thể, vì đây không phải là trường hợp trẻ bị bỏ rơi và không thuộc trường hợp là không xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em.

Theo chúng tôi trong trường hợp này, khi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, dù không có giấy đăng ký kết hôn và mẹ đẻ không thừa nhận thì phần khai về người cha trong giấy khai sinh của bé H phải được thể hiện (theo quy định hiện hành thì phần này trong Giấy khai sinh của trẻ bị bỏ trống)- Đó là anh A, vì anh A không bỏ rơi con mình và phần khai của người mẹ là chị B bỏ trống (do chị bỏ trốn và không nhận con) và tại cột ghi chú, ghi là: “Con ngoài giá thú; cha, mẹ chưa đăng ký kết hôn”. Sau này, nếu chị B trở về và muốn nhận cháu H là con, thì cán bộ hộ tịch căn cứ vào giấy chứng sinh để bổ sung tên chị B vào phần ghi về người mẹ trong Giấy khai sinh của cháu H.

Có như vậy mới bao quát được tất cả các trường hợp phát sinh trong thực tế cuộc sống và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cha đẻ của trẻ em sinh ra ngoài giá thú và bị chính mẹ đẻ bỏ rơi.

SOURCE: BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT

TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: "TRUY NHẬN" CHA SAU 20 NĂM

MINH TRÍ
Phường ra quyết định xác nhận cha cho con nhưng tòa bác vì cho rằng làm không đúng. Nếu sự xác nhận là tự nguyện và không có tranh chấp thì phường được quyền công nhận.
Đang mang thai cô S. hơn bảy tháng nhưng giữa năm 1986, mẹ cô vẫn quyết định ly hôn. Dù cha cô không đồng ý vì vợ đang có mang nhưng cuối cùng TAND quận 4 (TP.HCM) vẫn cho người mẹ được như ý. Hai tháng sau, cô S. được sinh ra và được đăng ký khai sinh tại UBND phường 16, quận 4. Trong giấy khai sinh bỏ trống phần người cha. Năm 1991, người cha mất nhưng mẹ S. không hay biết…
Phường công nhận, tòa không chịu
Năm 2007, mẹ cô S. đến UBND phường 16, tình cờ phát hiện thông báo cho biết cha cô chết để lại căn nhà nhưng không có người thừa kế. Biết đây là sự nhầm lẫn, bà vội vàng vào phường hỏi và làm thủ tục nhận cha cho con. Ngày 6-12-2007, UBND phường đã ra quyết định công nhận cha cho S. Biết được tin này, vài người em của cha S. đã khởi kiện ra tòa quận 4 yêu cầu hủy quyết định công nhận này của phường.
Mới đây, xét xử vụ án, tòa cho rằng UBND phường đã ra quyết định chưa đúng pháp luật, cần phải hủy để giải quyết lại. Theo tòa, “Vào thời điểm cô S. lập thủ tục xin nhận cha, UBND phường biết rõ người này chết nhưng không điều tra, xác minh làm rõ quan hệ huyết thống giữa hai người. UBND cũng chưa mời các anh chị em ruột của người cha đến hỏi ý kiến để xác định thẩm quyền giải quyết thuộc tòa hay UBND. Phường chỉ căn cứ vào cam kết của hai người làm chứng mà ra quyết định công nhận cha con là chưa đúng”.
Tòa thụ lý sai?
Theo luật định, người khiếu nại phải là người có quyền lợi liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành vi hành chính. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại nếu không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp của người khiếu nại tòa sẽ không thụ lý. Một thẩm phán Tòa hành chính TAND TP.HCM cho rằng trường hợp này, người có liên quan trực tiếp đến quyết định công nhận cha cho con là người cha, mẹ và S. Em của người cha không phải là người trực tiếp liên quan đến quyết định hành chính. Do vậy, tòa quận có thể từ chối thụ lý vụ án.
Bà Trịnh Thị Bích – Trưởng phòng Hộ tịch-Lý lịch tư pháp-Quốc tịch, Sở Tư pháp TP.HCM cũng đồng tình với ý kiến này. “Mặc dù cha, mẹ S. đã ly hôn nhưng khi đó người mẹ đang mang thai S. Theo pháp luật, S. vẫn là con chung. Khi quyết định công nhận cha, mẹ, con, cán bộ tư pháp dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là tự nguyện và không có tranh chấp. Giả sử có người khác tự nhận là cha của S. thì cơ quan chức năng mới xem xét, giải quyết.”
Ông Hoàng Trung Toàn – cán bộ tư pháp phường 16 cũng cho biết theo Nghị định 70 năm 2001, nếu người vợ mang thai sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực không quá 300 ngày thì đứa con vẫn được công nhận là con chung. S. chỉ sinh ra sau bản án có hiệu lực hơn hai tháng. Đồng thời S. đã làm tường trình và cam kết việc nhận cha. Do vậy phường ra quyết định là đúng thẩm quyền.
Từ những nhận định trên, UBND phường 16 cho biết sẽ kháng cáo bản án. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc diễn biến mới của vụ án này.
Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 11-2-2008 có đăng bài “Xác nhận cha đã chết, làm sao cho đúng?” phản ánh một sự việc tương tự (Đọc bài viết này tại đây). Năm 1991, ông T. và bà N. chung sống như vợ chồng. Mặc dù đang có mang nhưng vì bất hòa nên bà bỏ nhà ra đi. Ông T. kết hôn với người khác, sinh được hai người con. Năm 2005, ông T. qua đời. Đứa con giữa ông T. và bà N. được mọi người trong gia đình ông T. nhận là người thân. Họ lập thành văn bản và hứa cho cháu thừa kế một phần di sản. Bà N. ra UBND phường Bình Trị Đông (quận Bình Tân, TP.HCM) làm thủ tục truy nhận cha cho con. UBND phường ra quyết định công nhận.
Người vợ sau của ông T. đã khởi kiện yêu cầu hủy quyết định này và được Tòa quận Bình Tân đồng ý. Trong bản án, tòa có đưa ra nhiều điều khoản vận dụng. Tuy nhiên, Báo Pháp Luật TP.HCM đã đưa ra nhiều chứng cứ pháp luật chứng minh việc xét xử của tòa chưa hợp lý.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=228933

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: BI KỊCH TRONG MỘT VỤ "ĐẺ MƯỚN" Ở ẤN ĐỘ

PHAN ANH
DÂN TRÍ - Tương lai của một bé gái 12 ngày tuổi được một phụ nữ Ấn Độ sinh ra đang trở nên mù mịt khi cặp vợ chồng người Nhật, những người đi thuê “đẻ mướn”, đã ly hôn.
Manji Yamada chào đời vào ngày 25/7 vừa qua sau khi các bác sỹ dùng tinh trùng của người đàn ông Nhật Bản, Ikufumi Yamada, 45 tuổi, thụ tinh cho trứng được một phụ nữ Ấn Độ “hiến tặng”, rồi cấy ghép vào tử cung của một phụ nữ “đẻ mướn” Ấn Độ khác.
Nhưng ông Ikufumi Yamada lại ly dị vợ sau đó và người vợ cũ của ông không còn muốn có em bé đó nữa.
Theo như ban đầu, em bé sau khi được sinh ra, có quốc tịch Ấn Độ, sẽ được cha đẻ người Nhật nhận nuôi. Tuy nhiên, luật pháp Ấn Độ lại không cho phép một người cha độc thân nhận nuôi con gái.
“Phức tạp ở chỗ, người cha này mới ly dị vợ, và luật cho nhận con nuôi của Ấn Độ không cho phép đàn ông độc thân nhận nuôi bé gái”, Sanjay Arya, vị bác sỹ hiện đang chăm sóc bé Manji cho biết.

Manji không thể rời Ấn Độ mà không có hộ chiếu. Hiện cô bé đang được bà nội và một người bạn Ấn Độ của bố, nuôi dưỡng ở Jaipur.
“Yamada đã tới phòng cấp hộ chiếu địa phương. Nhưng ông được chỉ đến sứ quán Nhật. Tuy nhiên, tại đây, ông lại bị yêu cầu phải có giấy của tòa án Ấn Độ cho phép ông được nuôi đứa trẻ”, Arya cho biết. “Ông ấy cảm thấy quá mệt mỏi”.
Ông Yamada đã trở về Nhật, được biết sẽ trở lại Ấn Độ khi tình hình được cải thiện. Theo bác sỹ Arya, luật sư của ông Yamada sẽ đệ đơn khẩn cầu tới tòa án để ông có thể nhận bé Manji làm con nuôi và mẹ ông có thể tạm thời trông nom bé.
Báo chí Ấn Độ cho biết, cha của em bé là một bác sỹ phẫu thuật ở Tokyo. Ông đã đưa cô bé tới thành phố Jaipur ở bang Rajasthan sau khi tại Gujarat xảy ra hàng loạt vụ đánh bom khiến khoảng 50 người thiệt mạng.
“Em bé vẫn ổn, nhưng bà nội của em rất lo lắng”, và muốn đưa cháu trở về Nhật càng sớm càng tốt, Araya cho biết.
Và tương lai của em bé 12 ngày tuổi được quan tâm trên trang nhất của nhiều tờ nhật báo Ấn Độ. “Thuyết phục ở Nhật Bản, nhưng bị cản trở ở Jaipur”, tờ nhật báo tiếng Anh bán chạy nhất Ấn Độ The Times of India, chạy dòng tít lớn. Tờ báo này nhận định bé Manji có thể trở thành “trẻ đẻ thuê đầu tiên bị mồ côi” ở Ấn Độ nếu vụ xin nuôi con không được giải quyết.
“Do Ấn Độ nổi lên là “thiên đường” đẻ mướn, nên phải có luật quy định chặt chẽ về việc này”, một luật sư hàng đầu của Ấn cho biết trên tờ Indian Express.
Mặc dù nhiều người phê phán việc “đẻ mướn” nhưng đây vẫn là “ngành nghề” đang nở rộ ở Ấn Độ. Thị trấn Anand tại Gujarat, nơi bé Manji chào đời, được coi là trung tâm “đẻ mướn” của Ấn Độ sau khi xảy ra vụ “bà đẻ ra cháu” hồi năm 2004. Khi đó một phụ nữ đã vô tình đẻ mướn cho chính người con gái đang sống ở Anh của mình.
Được biết các bà mẹ ở Anand được trả khoảng 2.500 USD cho mỗi lần mang nặng đẻ đau. Họ được rất nhiều các cặp vợ chồng người nước ngoài hoặc người Ấn Độ ở nước ngoài thuê vì cái giá 2.500 USD chỉ là một phần nhỏ so với cái giá phải trả ở các nước phương Tây. Những người đi đẻ thuê này thường là những phụ nữ nghèo, muốn có tiền để trang trải chi phí học hành, sinh hoạt cho gia đình mình.
SOURCE: BÁO DÂN TRÍ

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: ẤN ĐỘ KHÔNG THỪA NHẬN CÁC HỢP ĐỒNG ĐẺ THUÊ

HỒNG CẨM (Theo Khaleej Times, Gulf Times, Times of India)
Theo luật Ấn Độ, người độc thân không được nhận con nuôi. Cuối tháng 7-2008, bé gái Manji Yamada chào đời trong một bệnh viện ở Ấn Độ. Tương lai của bé rồi sẽ không bình thường như bao trẻ khác bởi cha mẹ ruột của bé nhờ người mang thai thuê nhưng sau đó họ lại ly hôn nên có nguy cơ bé sẽ không có cha và mẹ.
Ly hôn phải mất con
Cha mẹ ruột của bé Manji Yamada là đôi vợ chồng người Nhật Ikufumi Yamada. Tháng 11-2007, họ đến Ấn Độ ký hợp đồng với một cô gái Ấn Độ nhờ cô này đẻ thuê.
Cô gái Ấn Độ mang thai từ trứng của một phụ nữ Ấn Độ khác kết hợp với tinh trùng của ông Ikufumi Yamada. Hai tuần trước khi bé Manji Yamada ra đời, hai vợ chồng người Nhật ly hôn.
Cô gái Ấn Độ sinh xong đã bỏ bé lại bệnh viện đi mất. Vợ cũ của ông Ikufumi Yamada tỏ thái độ không muốn nhận nuôi con. Ông Ikufumi Yamada dù rất muốn mang con về Nhật nuôi nhưng lại không thể vì chiếu theo luật Ấn Độ, người đàn ông đang trong tình trạng độc thân không được phép nhận con nuôi.
Bé Manji Yamada hiện là một công dân Ấn Độ hợp pháp bởi sinh ra tại Ấn Độ. Nếu không có giấy tờ nhận con nuôi, bé sẽ không được cấp hộ chiếu để rời Ấn Độ.
Ông Ikufumi Yamada đã đi tới đi lui giữa văn phòng làm hộ chiếu tại TP Jaipur, Đại sứ quán Nhật tại Ấn Độ và Tòa án TP Jaipur nhưng đến nay vẫn xôi hỏng bỏng không.
Đại sứ quán Nhật yêu cầu phải có giấy xác nhận con nuôi của tòa án thì mới giải quyết được. Văn phòng làm hộ chiếu cũng đòi phải có giấy xác nhận con nuôi mới có thể làm hộ chiếu cho bé Manji Yamada. Còn tòa án thì bảo không thể xác nhận cho bé Manji Yamada làm con nuôi của ông Ikufumi Yamada vì ông hiện không có vợ.
Có luật mới rạch ròi
Quá mệt mỏi, ông Ikufumi Yamada đã trở về Nhật để tiếp tục công việc và ủy quyền lại cho luật sư tiếp tục lo giấy tờ xin nhận bé Manji Yamada làm con nuôi.
Cách đây vài ngày, luật sư đã đệ trình lên tòa án đơn kiến nghị giải quyết. Tạm thời bà nội của bé phải lặn lội từ Nhật qua chăm sóc cháu tại bệnh viện ở TP Jaipur (bang Rajasthan, miền Tây Ấn Độ) cho tới khi tòa đáp ứng nguyện vọng của ông Ikufumi Yamada hoặc khi ông không còn độc thân nữa.
Trong những ngày này, báo chí Ấn Độ liên tục đưa tin về trường hợp của bé Manji Yamada và mặc sức bình luận về tương lai của bé. Báo Times of India nhận định bé Manji Yamada có khả năng trở thành đứa trẻ mồ côi đầu tiên chào đời từ dịch vụ đẻ thuê ở Ấn Độ.
Theo ý kiến của một số luật sư đăng trên báo, Ấn Độ nổi tiếng là nước có dịch vụ đẻ thuê phát triển mạnh, vì vậy cần phải có luật quy định rõ dịch vụ đẻ thuê và những vấn đề phát sinh để trong tương lai không còn xảy ra những chuyện rắc rối như thế nữa.
Hiện chưa có con số thống kê cụ thể về dịch vụ đẻ thuê ở Ấn Độ nhưng hầu hết bệnh viện trong các TP lớn đều làm dịch vụ này. Ngày càng có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn trên thế giới đổ xô về Ấn Độ để mong có được đứa con. Lý do: giá dịch vụ đẻ thuê ở Ấn Độ khá rẻ.
Dịch vụ đẻ thuê đã phát triển tại Ấn Độ từ năm 2002. Phụ nữ mang thai thuê được cấy trứng và tinh trùng của đôi vợ chồng hợp đồng thuê bụng. Sau khi chào đời, đứa trẻ sẽ được giao lại cho đôi vợ chồng thuê dưới hình thức con nuôi.
Phụ nữ làm nghề cho thuê bụng thường thuộc tầng lớp nghèo, ít học. Mỗi lần đẻ thuê họ nhận 4.500-5.000 USD (72-80 triệu đồng VN). Các cặp vợ chồng hiếm muộn thường phải chi gấp đôi cho chi phí trọn gói để có một đứa con.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code