Showing posts with label Hiến Pháp. Show all posts
Showing posts with label Hiến Pháp. Show all posts

Monday, September 28, 2026

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ III): Tư pháp, tự trị địa phương, sửa đổi hiến pháp, pháp quy tối cao

Tư pháp, tự trị địa phương, sửa đổi hiến pháp, pháp quy tối cao

Hình minh họa cho mục "Sửa đổi"
trong sách: Khi sửa đổi hiến pháp
thì một mình quốc hội không thể
làm được mà quốc dân phải
bỏ phiếu tán thành hay phản đối
"Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
10. Nội các

[...]

11. Tư pháp

“Tư pháp” là công việc xét xử tranh chấp, quyết định xem có tội hay không có tội. “Tòa án” là thứ chỉ công việc tương tự. Cho dù là ai thì cũng có quyền tiếp nhận sự phán xử công bằng để bảo vệ sinh mệnh, tự do, tài sản…của bản thân. Việc nước gọi là tư pháp này là việc rất quan trọng đối với quốc dân vì thế việc xét xử và đưa ra phán quyết công bằng là rất quan trọng.

Ở đó nhà nước có “tòa án” là nơi tiến hành công việc “tư pháp”. Tòa án khi tiến hành công việc này chỉ tuân theo pháp luật mà hiến pháp và quốc hội tạo ra và xét xử một cách công bằng theo quy định của hiến pháp. Ngoài ra không được nói ra bất cứ thứ gì khác. Thêm nữa, người có vai trò xét xử tức là “thẩm phán” không được tùy tiện quyết định.

Đây gọi là “sự độc lập của quyền tư pháp”. Để cho sự phán xử công bằng thì ai cũng có thể nghe và xem xét xử. Cũng giống như quốc hội công việc của tòa án được diễn ra trước sự chứng kiến của quốc dân. Điều này cũng được hiến pháp quy định rõ ràng.

Hiến pháp lần này có một điều thay đổi lớn cần phải nói. Đó là có thể điều tra xem pháp luật do quốc hội tạo ra có hợp với hiến pháp hay không. Nếu như cho rằng pháp luật đó trái với điều hiến pháp quy định thì việc bất tuân pháp luật đó là có thể. Vì vậy tòa án có vai trò rất lớn.

Các bạn thân mến, quốc dân chúng ta cần phải nghĩ rằng quốc hội là nơi thay mặt cho chúng ta và tin tưởng quốc hội đồng thời phải nghĩ rằng tòa án là nơi bảo vệ tự do và quyền lợi của chúng ta đồng thời tôn kính nó.

12. Tài chính

[...]

13. Tự trị địa phương

Trong thời chiến tranh cái gì cũng nói “vì đất nước” vì thế việc của từng người dân đã bị tư duy rất cứng nhắc. Tuy nhiên đất nước là sự tập trung của quốc dân vì vậy từng quốc dân không tốt thì đất nước sẽ không thể tốt. Cũng giống như thế, nước Nhật Bản chia làm rất nhiều địa phương, các địa phương này nếu như không trở nên giàu có thì đất nước cũng không thể nào giàu có.

Để làm được điều đó thì từng địa phương tự mình tiến hành mọi việc là tốt nhất. Bởi vì ở địa phương đó có rất nhiều thông tin và người sống ở địa phương đó là người biết rõ nhất mọi điều. Tự mình làm những việc của mình gọi là “tự trị”. Vì vậy việc nhà nước trao quyền cho từng địa phương tiến hành tự trị được gọi là “tự trị địa phương”.
Trong Hiến pháp lần này, tự trị địa phương này được xem trọng và quy định rõ ràng. Từng địa phương trở thành một đoàn thể và tự mình tiến hành công việc của bản thân.
Thủ đô Tokyo, đạo Hokkaido, các phủ tỉnh, thành phố làng đều là các đoàn thể. Đây  được gọi là “Đoàn thể công cộng địa phương” .
 
Nếu như tiến hành việc nước là dân chủ thì cách tiến hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương cũng phải là dân chủ. Đoàn thể công cộng địa phương có thể nói là bộ phận của đất nước. Giống như nước có quốc hội, đoàn thể công cộng địa phương cũng có “Hội đồng ” làm đại diện cho người dân sống ở địa phương. Thống đốc điều hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương và những người có trách nhiệm quan trọng khác, cả các nghị viên của hội đồng  địa phương tất cả đều do người dân tự mình bỏ phiếu bầu ra.

Và như thế tự trị địa phương đã được quy định rõ trong Hiến pháp vì vậy pháp luật quy định công việc của một đoàn thể công cộng địa phương nào đó khi được tạo ra ở quốc hội muốn biết ý kiến của người dân ở địa phương thì tiến hành bỏ phiếu và nếu như số phiếu không quá bán thì sẽ không thể được.
Các bạn thân mến,  để yêu nước và dốc sức cho đất nước  các bạn hãy yêu địa phương mình sống và dốc sức cho địa phương mình. Hãy nghĩ rằng nếu địa phương giàu có thì đất nước cũng sẽ phồn vinh.

14. Sửa đổi

“Sửa đổi” là chỉ việc thay đổi hiến pháp. Hiến pháp như trước đó đã nói là quy tắc quan trọng nhất trong số các quy tắc của đất nước vì vậy thủ tục sửa đổi nó phải hết sức nghiêm cẩn.
 
Vì vậy, trong Hiến pháp lần này quy định khi sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể làm được mà quốc dân phải bỏ phiếu tán thành hay phản đối.

Trước hết là một viện của quốc hội có trên 2/3 số nghị viện tán thành thì sẽ quyết định thay đổi Hiến pháp. Đây gọi là “đề xuất” sửa đổi Hiến pháp. Sau đó thông báo cho quốc dân biết và quốc dân tiến hành bỏ phiếu tán thành hay phản đối. Khi trên một nửa tổng số phiếu tán thành thì có nghĩa là việc sửa đổi Hiến pháp đã được quốc dân đồng ý. Đây gọi là sự “thừa nhận” của quốc dân. Sự sửa đổi được quốc dân thừa nhận sẽ được công bố dưới tên Thiên hoàng. Đây gọi là sự “công bố”.

Hiến pháp mới do quốc dân tạo ra là của quốc dân vì vậy khi công bố cũng phải dưới danh nghĩa của quốc dân.

15. Pháp quy tối cao

Giống như đã nói ở phần đầu tiên của cuộc trò chuyện này, “Pháp quy tối cao” là quy tắc có vị trí cao nhất nước tức là Hiến pháp. Trong Hiến pháp này với tư cách  là pháp quy tối cao đã nói về hai nội dung là quy tắc quyết định cách tiến hành việc nước và quy tắc quy định các quyền con người cơ bản của quốc dân. Trong đó các quyền con người cơ bản của quốc dân do từ trước đến nay bị tư duy rất cứng nhắc vì vậy Điều 9 của Hiến pháp đã ghi rất nghiêm trang rằng các quyền con người cơ bản này là thứ con người có được sau thời gian dài nỗ lực, được thử thách qua rất nhiều  sự việc và nó là quyền vĩnh viễn không thể xâm phạm.

Hiến pháp này là pháp quy tối cao  vì vậy những gì trái với những điều được quy định bởi Hiến pháp này cho dù là pháp luật hay mệnh lệnh đều không có hiệu lực với tư cách là quy tắc. Điều này được Hiến pháp quy định rõ.  Cả Thiên hoàng, bộ trưởng, nghị viên quốc hội, thẩm phán tất cả đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp này. Thêm nữa, Nhật Bản cũng phải tuân theo cả giao ước giữa Nhật Bản và các nước khác (gọi là “điều ước”), cả các quy tắc về giao lưu giữa các nước (gọi là “pháp quy quốc tế”) và điều này cũng được Hiến pháp quy định.

Các bạn thân mến, Hiến pháp mới là hiến pháp do quốc dân Nhật Bản tạo ra và là hiến pháp của quốc dân. Từ giờ về sau các bạn hãy tuân theo Hiến pháp và làm cho nước Nhật Bản phồn vinh.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ II):Quyền cơ bản của con người, Quốc hội, và chính đảng



Minh họa cho mục "Chính đảng" trong “Trò chuyện
về tân hiến pháp”
“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
5. Thiên hoàng
 
[…]

6. Từ bỏ chiến tranh

[…]

7. Các quyền cơ bản của con người


Hãy thử đến những nơi bị cháy bởi không kích. Từ mặt đất bị cháy những mầm cỏ xanh đang bật lên. Sự sống đang nảy mầm. Cả cỏ cũng sống vươn lên mạnh mẽ. Nữa là các bạn là con người. Các bạn chắc chắn có sức sống mạnh mẽ. Đó là sức mạnh tự nhiên mà trời ban cho. Không ai được cản trở con người sống bằng sức mạnh như thế trong thế giới này. Tuy nhiên con người khác với cây cỏ, con người không chỉ có sống không thôi, con người còn phải sống cuộc sống thật sự là người. Để có cuộc sống thật sự là người thì cần đến hai thứ. Đó là “Tự do” và “Bình đẳng”.

Con người một khi sống trên thế giới này thì cần được sống ở nơi mình thích, được đi đến nơi mình thích, được nói những điều mình nghĩ, được tuân theo những điều dạy bảo mình thích. Những điều này là tự do của con người, tự do này nhất quyết không thể bị tước đoạt. Thêm nữa, không thể tùy tiện dùng sức mạnh của nhà nước để tước bỏ tự do và thi hành hình phạt bừa bãi. Vì vậy Hiến pháp quy định rõ nhất quyết không được xâm phạm tự do.
 
Thêm nữa chúng ta một khi đã là con người thì đều như nhau. Một khi đã là con người thì chắc chắn sẽ không có người vĩ đại và cũng không có người thấp kém dưới con người. Không thể có chuyện nam tốt hơn nữ hay nữ tốt hơn nam. Nếu các bạn đều là con người thì khi sống trong thế giới này không có lý do gì phải gánh chịu sự phân biệt. Việc không có sự phân biệt đó được gọi là “Bình đẳng”. Vì vậy trong hiến pháp cùng với tự do còn quy định cả bình đẳng.

Thứ được công nhận một cách rõ ràng trong quy tắc của quốc gia được gọi là “quyền lợi”. Nếu như tự do và bình đẳng được công nhận một cách rõ ràng và không bị xâm phạm thì tự do và bình đẳng này là quyền lợi của các bạn. Đây được gọi là “quyền tự do”. Thêm nữa, đây là quyền lợi quan trọng nhất của con người. Những quyền lợi quan trọng nhất của con người được gọi là “quyền con người cơ bản”. Hiến pháp mới ghi rằng các quyền con người cơ bản này vĩnh viễn không được xâm phạm. Đây được gọi là “bảo đảm” các quyền con người cơ bản.

Tuy nhiên các quyền cơ bản của con người không phải chỉ có quyền tự do nói tới ở đây. Vẫn còn có nhiều quyền khác. Chỉ có quyền tự do thôi thì con người không thể sống được. Ví dụ như các bạn phải học để trở thành quốc dân tốt. Nhà nước cần phải làm cho tất cả quốc dân học tập. Vì vậy, mọi người có quyền tiếp nhận giáo dục quy định trong Hiến pháp. Trong trường hợp này, từ phía các bạn sẽ đưa ra yêu cầu tiếp nhận giáo dục đối với nhà nước. Đây cũng là quyền con người cơ bản rất quan trọng và được gọi là “quyền đưa ra yêu cầu”. Khi xảy ra tranh chấp thì sẽ nhận được sự xét xử một cách công bằng ở tòa án của đất nước, nó được gọi là quyền yêu cầu xét xử-quyền cơ bản của con người và  đây cũng là quyền đưa ra yêu cầu.

Rồi nữa, trong việc quốc dân trị nước sẽ có rất nhiều thứ có quan hệ và nó là quyền con người cơ bản quan trọng được gọi là “quyền tham gia chính trị”. Việc bầu cử lựa chọn ra nghị viên của quốc hội, thống đốc, thị trưởng, trưởng thôn,… bản thân mình trở thành những người đó được gọi  là quyền tham gia chính trị. Các bạn thân mến quyền con người cơ bản tôi đã nói cho đến lúc này là thứ rất quan trọng vì vậy chúng ta hãy cùng ôn lại nào. Các bạn được Hiến pháp bảo hộ những quyền rất quan trọng gọi là quyền con người cơ bản. Quyền này được chia làm ba. Thứ nhất là tự do. Thứ hai là quyền yêu cầu. Thứ ba là quyền tham gia chính trị.

Khi được trao những quyền tuyệt vời như thế các bạn phải tự mình bảo vệ lấy nó và không được để mất. Thêm nữa không được dùng nó một cách ám muội để làm phiền người khác. Không được quên rằng những người khác cũng có các quyền như các bạn. Hiến pháp viết rằng toàn thể đất nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền con người cơ bản quan trọng này để làm cho toàn thể quốc dân hạnh phúc.

8. Quốc hội

Dân chủ là quốc dân  tự mình trị nước  và vì mình trị nước. Tuy nhiên số lượng quốc dân thật là lớn vì vậy chẳng có cách nào khác là phải có người thay mặt toàn thể quốc dân làm việc nước. Người thay mặt cho quốc dân là “Quốc hội”. Như trước đó đã nói, quốc dân có trong tay sức mạnh trị nước tức là có chủ quyền. Vì quốc hội là người thay mặt quốc dân nắm chủ quyền này vì thế quốc hội có vị trí cao nhất nước và được gọi là “cơ quan tối cao”. “Cơ quan”, cũng giống như con người thì có tay chân, là thứ có chức năng phân theo công việc khác nhau của đất nước. Đất nước có rất nhiều các cơ quan làm việc. Cả nội các và tòa án tôi trình bày ở phần sau cũng là các cơ quan của nhà nước. Tuy nhiên quốc hội là cơ quan có vị trí cao nhất. Đó là vì nó đại diện cho toàn thể quốc dân.

Việc nước rất nhiều nhưng có thể phân chia đại thể làm ba. Thứ nhất là công việc tạo ra các quy tắc của đất nước được gọi là “lập pháp”. Thứ hai là công việc  phân xử các tranh chấp xem xét xem có tội hay không có tội được gọi là “tư pháp”. Thông thường hay nói đến tòa án chính là nói đến công việc này. Thứ ba là công việc nằm ngoài “tư pháp” và “lập pháp” được gọi chung là “hành chính”. Nếu xem xét xem quốc hội làm gì trong ba công việc này thì quốc hội chính là cơ quan lập pháp. Tư pháp thuộc về tòa án. Hành chính thuộc về chính phủ và vô số các cơ quan cấp dưới.

Quốc hội do làm công việc lập pháp cho nên tất cả các quy tắc của đất nước đều được tạo ra ở quốc hội. Quy tắc do quốc hội tạo ra được gọi là “pháp luật”. Các bạn thường xuyên nghe thấy từ “Pháp luật” phải không nào. Tuy nhiên để tạo ra được pháp luật ở quốc hội thì phải trải qua rất nhiều thủ tục vì vậy không thể tạo ra cả các quy tắc chi tiết. Vì vậy hiến pháp cũng trao quyền tạo ra các quy tắc của đất nước cho các cơ quan khác ngoài quốc hội như nội các. Những quy tắc này gọi là “mệnh lệnh”.

Tuy nhiên quy tắc của đất nước càng được tạo ra bởi quốc hội thì càng tốt. Bởi vì quốc hội là nơi tập hợp của những nghị viên do quốc dân bầu ra và đó là những người lắng nghe ý kiến của quốc dân nhiều nhất. Vì vậy hiến pháp mới quy định rằng quy tắc của đất nước chỉ quốc hội mới có quyền tạo ra. Điều này có nghĩa là quốc hội là “cơ quan lập pháp duy nhất”. “Duy nhất” tức là chỉ có một không có cái thứ hai.

Cơ quan lập pháp là cơ quan có vai trò tạo ra quy tắc của đất nước.  Vì vậy trường hợp  cơ quan ngoài quốc hội  có thể tạo ra quy tắc của đất nước cũng được quy định bởi hiến pháp. Thêm nữa ở trong quy tắc của đất nước do quốc hội tạo ra tức là pháp luật thì việc quyết định bằng mệnh lệnh cũng được phép. Việc những đại biểu do quốc dân lựa chọn tạo ra quy tắc trị quốc dân ở quốc hội là tiền đề của dân chủ.

Tuy nhiên quốc hội ngoài tạo ra quy tắc của đất nước còn có một vai trò quan trọng nữa. Đó là giám sát công việc của nội các và các cơ quan công cấp dưới. Công việc của các cơ quan công này được gọi là hành chính như trước đó đã nói vì thế quốc hội giám sát hành chính và đóng vai trò làm cho công việc của các cơ quan không sai sót. Như thế đại biểu của nhân dân đã giám sát công việc của nhà nước. Đây cũng là cách trị nước dân chủ. Quốc hội của Nhật Bản được tạo thành từ hai viện là “Chúng nghị viện” và “Tham nghị viện”. Mỗi viện đó được gọi là “Nghị viện”. Và như thế việc quốc hội được tạo thành từ hai nghị viện được gọi là “Chế độ lưỡng viện”. Có nước chỉ có một nghị viện duy nhất và đó là “Chế độ nhất viện”. Tuy nhiên quốc hội ở phần lớn các nước  được tạo thành từ hai viện. Việc nước do hai viện này cùng quyết định. Tại sao lại phải có hai viện?

Các bạn có biết cái gọi là “back-up” trong các môn thể thao như bóng chày hay không? Khi một tuyển thủ lấy bóng một cầu thủ khác chạy quanh ở phía sau để dõi theo đề phòng sai sót - đó gọi là “back-up”. Quốc hội do tiến hành việc nước cho nên chỉ một mình Chúng nghị viện sẽ xảy ra sai sót cho nên mới có Tham nghị viện để đề phòng sai sót.

Tuy nhiên trong thể thao thì các tuyển thủ  cùng nhau tiến hành “back-up” nhưng ở quốc hội thì công việc chủ yếu được tiến hành bởi Chúng nghị viện còn Tham nghị viện thì chủ yếu làm công việc “back-up” Chúng nghị viện. Do đó Chúng nghị viện được trao quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chúng nghị viện với quyền lực lớn như vậy được gọi là “Đệ nhất viện” và Tham nghị viện được gọi là “Đệ nhị viện”. Tại sao Chúng nghị viện lại có quyền lực lớn hơn? Đó là do như sau:

Cuộc bầu cử ra Chúng nghị viện diễn ra bốn năm một lần. Nghị viên của Chúng nghị viện có nhiệm kì bốn năm một. Tuy nhiên khi mà nội các cho rằng suy nghĩ của Chúng nghị viện không phản ánh đúng đắn suy nghĩ của quốc dân thì nội các, để biết được ý kiến của quốc dân, có thể nói với Thiên hoàng và tiến hành bầu cử lại Chúng nghị viện. Đây được gọi là sự “giải tán” Chúng nghị viện. Bằng cuộc bầu cử sau khi giải tán, quốc dân lại lựa chọn ra Chúng nghị viện mới.

Ở phía Tham nghị viện thì nghị viên có nhiệm kỳ 6 năm  và cứ 3 năm thì bầu cử thay một nửa nghị viên nhưng không có chuyện giải tán giống như Chúng nghị viện. Và như vậy thì thấy Chúng nghị viện phản ánh tốt hơn Tham nghị viện ý kiến của quốc dân ở thời điểm nhất định nào đó. Do đó Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chuyện Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn như thế nào được hiến pháp quy định nhưng nói gọn lại là khi Chúng nghị viện và Tham nghị viện có ý kiến khác nhau thì ý kiến của Chúng nghị viện sẽ được thông qua.

Tuy nhiên cả Chúng nghị viện và Tham nghị viện đều là đại biểu của toàn thể quốc dân vì thế nghị viên đều được lựa chọn từ trong quốc dân. Chúng nghị viên có số nghị viên là 466 người, Tham nghị viện có 250 người. Để lựa chọn được các nghị viên này, đất nước được chia thành các “khu vực bầu cử” ở khu vực bầu cử này tùy theo dân số mà phân ra số nghị viên. Do đó bầu cử được diễn ra theo từng khu vực bầu cử và số nghị viên được lựa chọn ra phù hợp với số nghị viên được phân chia.

Để bầu cử ra nghị viên, vào ngày bầu cử người dân phải đi đến nơi bỏ phiếu, lấy phiếu bầu và viết tên người mình nghĩ là tốt vào phiếu. Sau đó gấp tờ phiếu lại bỏ vào hòm đã khóa kín. Bỏ phiếu là quyền vô cùng quan trọng. Người bầu cử phải tự mình quyết định xem mình bỏ phiếu cho ai. Tuyệt đối không được bị thuyết phục bởi cam kết vật chất hay lợi ích. Sự bỏ phiếu này là bỏ phiếu kín vì thế không có nghĩa vụ nói bỏ phiếu cho ai và cho dù có bị hỏi tại sao lại lựa chọn người đó cũng không cần thiết phải trả lời.

Quốc dân Nhật Bản người từ 20 tuổi trở lên ai cũng có thể tham gia bầu cử ra nghị viên quốc hội, thống đốc, thị trưởng… Đây gọi là “Quyền bầu cử”. Ở nước ta trong một thời gian dài, chỉ có nam giới có quyền bầu cử. Thêm nữa chỉ có những người có tài sản và nộp thuế mới có quyền bầu cử.

Hiện tại do trị nước bằng phương thức dân chủ cho nên những người trên 20 tuổi dù là nam hay nữ đều có quyền bầu cử. Và như thế việc tất cả quốc dân có trong tay quyền bầu cử này được gọi là “bầu cử phổ thông”. Hiến pháp lần này công nhận bầu cử phổ thông là quyền con người cơ bản của quốc dân. Tuy nhiên cho dù nói là bầu cử phổ thông đi nữa thì cũng không phải là cả trẻ em và người điên cũng có quyền bầu cử nhưng ít nhất thì cũng không có sự phân biệt nhân chủng, nam nữ, tôn giáo, tài sản, tất cả mọi người đều có quyền bầu cử một cách bình đẳng.

Thêm nữa, quốc dân Nhật Bản ai cũng có thể trở thành nghị viên quốc hội. Cả nam và nữ đều có thể trở thành nghị viên. Đây gọi là “quyền được bầu cử”. Tuy nhiên về tuổi có sự khác biệt so với quyền bầu cử. Để trở thành nghị viên của Chúng nghị viện thì phải trên 25 tuổi và trở thành nghị viên Tham nghị viện phải trên 30 tuổi. Trong trường hợp quyền được bầu cử này cũng giống như quyền bầu cử đối với những người mà cho dù là ai đi nữa cũng nghĩ là không ổn thì người đó  sẽ không có quyền được bầu cử. Những người muốn trở thành nghị viên quốc hội và tự mình đăng ký thì đó là các “ứng cử viên”. Cũng có thể đăng ký ứng cử cho người khác khi mình nghĩ đó là người tốt. Đây được gọi là “tiến cử”.

Việc đăng ký ứng cử viên này được tiến hành trước ngày bầu cử. Người bỏ phiếu sẽ phải lựa chọn trong số các ứng cử viên này người mà bản thân cho là tốt. Không được viết tên người khác. Và những ứng cử viên có số phiếu cao sẽ trở thành nghị viên. Đó là “trúng cử”.

Các bạn thân mến, dân chủ là toàn thể quốc dân trị nước. Và quốc hội là đại biểu của toàn thể quốc dân. Vì vậy việc bầu cử nghị viên  quốc hội là quyền quan trọng của quốc dân đồng thời là trách nhiệm quan trọng. Quốc dân nhất định phải đi bầu cử. Việc không đi bầu cử là đánh mất quyền lợi quan trọng đồng thời cũng là lãng quên trách nhiệm quan trọng. Việc không đi bầu cử thông thường gọi là “khi quyền”. Có nghĩa là từ bỏ quyền lợi. Quốc dân không được ném bỏ quyền lợi. Các bạn giờ đây có quyền này trong tay vì vậy việc bầu cử tôi đã viết rất kĩ.

Quốc hội tập trung các nghị viên được quốc dân lựa chọn và là nơi quyết định việc nước vì thế khác với các cơ quan công khác là  quốc dân có thể biết tình hình các nghị viên tiến hành công việc của đất nước ở quốc hội. Quốc dân bất cứ khi nào cũng có thể đến quốc hội và xem xét hay nghe ngóng. Thêm nữa có thể xem và nghe qua đài báo.

Tóm lại, công việc của quốc hội được diễn ra trước mắt của quốc dân. Đó là do hiến pháp quy định rằng công việc của quốc hội phải được diễn ra sao cho lúc nào người dân cũng có thể chứng kiến. Đó là công việc rất vất vả. Cho dù hiếm hoi nhưng giả sử như có hội nghị bí mật mở ra thì cần phải có các thủ tục đầy khó khăn. Và nhờ thế quốc dân sẽ hiểu được việc trị nước được tiến hành như thế nào, nhà nước đang tiến hành việc gì, các nghị viên được dân chọn ra đưa ra ý kiến gì trước quốc hội. Sự sáng sủa  và đúng đắn của việc nước sẽ sinh ra từ đây. Nếu như quốc hội mất đi thì đất nước sẽ trở nên tăm tối. Đó là cách làm hay của dân chủ. Quốc hội là thứ không thể thiếu được trong dân chủ.
Quốc hội của Nhật Bản không phải là mở ra suốt cả năm. Tuy nhiên mỗi năm nhất thiết phải mở một lần. Đây gọi là “Họp thường kì”. Họp thường kì được quy định là 150 ngày. Đây được gọi là “Kì họp” của quốc hội. Bên cạnh đó thì khi cần thiết cũng tiến hành họp lâm thời. Đây được gọi là “Họp lâm thời”.

Thêm nữa, khi Chúng nghị viện bị giải tán, trong vòng 40 ngày kể từ ngày giải tán thì bầu cử diễn ra và trong vòng 30 ngày kể từ ngày bầu cử quốc hội mới sẽ họp. Đây được gọi là “Kì họp đặc biệt”. Kì họp lâm thời và Kì họp đặc biệt là do quốc hội tự quyết định. Thêm nữa, kì họp  thường kì của quốc hội cũng có thể kéo dài khi cần thiết. Và điều này cũng là do quốc hội tự quyết định. Khi quốc hội họp thì các nghị viên sẽ bị gọi đến. Cái này quốc hội gọi là “triệu tập”. Quốc hội được triệu tập sẽ tự họp và tiến hành công việc, nếu như kì họp kết thúc thì tự bế mạc và quốc hội có kì nghỉ tạm thời.

Các bạn có biết tòa nhà quốc hội không? Hãy nhìn tòa nhà trắng đẹp đẽ phản chiếu ánh sáng mặt trời kia. Đó là nơi thể hiện quyền lực của quốc dân Nhật Bản. Đó là nơi quốc dân Nhật Bản có trong tay chủ quyền tiến hành trị nước.

9. Chính đảng

“Chính đảng” là chỉ đoàn thể tập trung những người có cùng ý kiến về việc trị nước. Các bạn đã từng nghe đến những cái tên “Đảng xã hội, đảng dân chủ, đảng tự do, Đảng quốc dân hiệp đồng, Đảng cộng sản phải không nào? Tất cả đều là các chính đảng. Các nghị viên xuất thân từ chính đảng có một bộ phận là người tạo ra chính đảng. Vì vậy, khi nói có một chính đảng có nghĩa rằng ở trong nước có rất nhiều người có ý kiến giống với đảng đó.
 
Trong chính đảng có ý kiến quyết định về việc trị nước và họ thông báo điều này cho quốc dân biết. Ý kiến của quốc dân thì thay đổi theo từng người nhưng nếu phân chia đại thể thì nó sẽ phân chia theo các đảng này. Tóm lại, có thể nói chính đảng là thứ thể hiện sự phân chia phong phú ý kiến của toàn thể quốc dân về việc trị nước. Để trị nước bằng dân chủ toàn thể quốc dân cần phải thảo luận ý kiến và đi đến quyết định. Các chính đảng cùng nhau thảo luận về việc nước chính là vì thế.

Ở  Nhật Bản liên quan đến chính đảng có những suy nghĩ sai lầm. Đó là sự nhìn nhận cho rằng các chính đảng trong nước không nên khăng khăng ý kiến của bản thân mình. Đây là sự sai lầm lớn. Bởi vì cách làm dân chủ liên quan đến việc nước là quốc dân phải quyết định sau khi đã thảo luận rất nhiều ý kiến vì vậy sự cạnh tranh giữa các chính đảng không phải là sự cãi nhau. Nếu tiến hành dân chủ thì chắc chắn sẽ có các chính đảng.

Thêm nữa, cần phải có các chính đảng. Có bao nhiêu chính đảng đi nữa cũng tốt. Có thể nghĩ rằng chỉ bằng con số chính đảng thì ý kiến của quốc dân đã phân chia ở mức độ tổng quát. Ở Đức hay Ý đã từng có chuyện chỉ có một chính đảng và ở Nhật cũng có chuyện từ bỏ chính đảng. Kết quả thế nào đây? Chẳng phải là ý kiến của quốc dân đã không còn được nghe nữa thay vào đó là quyền lợi của cá nhân và rồi chiến tranh bắt đầu sao?

Mỗi lần có bầu cử quốc hội các chính đảng lại đưa ra các ứng cử viên từ chính đoàn thể của mình và cho quốc dân biết về ý kiến của bản thân và cố gắng có được càng nhiều nghị viên trong quốc hội càng tốt. Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện cho nên từng chính đảng đều muốn người của mình chiếm số đông nhất trong Chúng nghị viện. Vì vậy đối với các chính đảng thì cuộc bầu cử Chúng nghị viện là việc quan trọng nhất. Quốc dân xem xét ý kiến của các chính đảng này và nếu bỏ phiếu cho ứng cử viên của đảng mà mình cho là tốt nhất thì ý kiến của bản thân thông qua chính đảng sẽ đến được quốc hội.

Người không vào đảng nào cũng có thể trở thành ứng cử viên. Quốc dân tất nhiên cũng tự do bỏ phiếu cho các ứng cử viên này. Tuy nhiên ở trong đảng thì có ý kiến quyết định sẵn và điều đó được thông báo tới quốc dân do đó nếu như bỏ phiếu cho ứng cử viên của chính đảng thì  khi người đó ra quốc hội việc người đó đưa ra ý kiến như thế nào, làm việc như thế nào đã được quyết định rõ ràng. Và cứ thế qua từng cuộc bầu cử công việc của đất nước được  tiến hành bằng ý kiến của chính đảng có số nghị viên đông đảo trong Chúng nghị viện. Điều này nói một cách khác là trong toàn thể quốc dân việc trị nước được tiến hành theo ý kiến của phe đa số.

Các bạn quốc dân cần phải biết cặn kẽ về các chính đảng. Hãy vào đảng mà mình yêu thích, thêm nữa việc tự mình tạo ra các chính đảng là tự do của quốc dân và hiến pháp công nhận đây là “quyền con người cơ bản”. Không ai có thể cản trở điều này.
Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ I):Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân

Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân


“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị.
  Tia Sáng 

xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
1. Hiến pháp

Chào các bạn, Hiến pháp mới đã hoàn thành. Từ ngày 3 tháng 5 năm Showa thứ 22 (năm 1947-ND), quốc dân Nhật Bản chúng ta sẽ phải tuân thủ hiến pháp này. Để có được bản Hiến pháp này, rất nhiều người đã lao tâm khổ tứ.  Nhân tiện đây, các bạn có biết hiến pháp là thứ như thế nào không? Có ai nghĩ nó giống như là thứ không có liên quan gì đến mình không? Giả sử có, thì đó là một sai lầm lớn.

Việc nước không thể một ngày ngơi nghỉ. Thêm nữa, cách tiến hành công việc trị nước cần phải được quyết định rõ ràng. Để làm được điều đó cần đến rất nhiều quy tắc. Các quy tắc này có rất nhiều nhưng trong đó quy tắc quan trọng nhất là Hiến pháp.

Quy tắc cơ bản nhất quyết định trị nước như thế nào, tiến hành việc nước như thế nào là Hiến pháp. Nếu như nhà của các bạn bị mất cột thì sẽ thế nào? Ngôi nhà sẽ đổ sập ngay lập tức. Nếu ví đất nước như ngôi nhà thì cây cột chính là Hiến pháp. Nếu như không có Hiến pháp, thì cho dù trong nước có bao nhiêu người đi chăng nữa cũng không hiểu được phải trị nước như thế nào. Vì vậy cho dù là ở nước nào, Hiến pháp với tư cách là quy tắc quan trọng nhất cũng được tuân thủ chặt chẽ. Quy tắc quan trọng nhất của đất nước nói một cách khác cũng là quy tắc có vị trí cao nhất vì thế  Hiến pháp còn được gọi là “quy tắc tối cao” của đất nước.

Tuy nhiên trong Hiến pháp này, giống như vừa trình bày, bên cạnh cách tiến hành việc nước còn viết về một điều quan trọng nữa. Đó là quyền lợi của quốc dân. Quyền lợi này sẽ được nói chi tiết ở phần sau vì thế ở đây chỉ xin được nói về việc tại sao nó lại quan trọng giống như là quy tắc quyết định cách  tiến hành việc nước.

Các bạn là một thành viên trong quốc dân Nhật Bản. Nếu như từng quốc dân không trở nên thông minh và mạnh mẽ thì toàn thể quốc dân không thể nào trở nên thông minh và mạnh mẽ được. Nguồn gốc của sức mạnh đất nước là nằm ở mỗi người dân. Vì thế mà nhà nước thừa nhận năng lực của từng người dân và bảo vệ nó chu đáo. Để làm được điều đó, Hiến pháp đã quy định  rất nhiều quyền lợi của từng người dân. Quyền lợi quan trọng này của người dân được gọi là “các quyền cơ bản của con người”. Quyền lợi này cũng được ghi trong Hiến pháp.

Vì vậy, một lần nữa tôi lại muốn nói xem Hiến pháp là gì. Hiến pháp là quy tắc quan trọng nhất của đất nước tức là “Pháp quy tối cao” vì vậy ở trong đó có ghi hai việc quan trọng. Thứ nhất là quy tắc quyết định cách trị nước, cách tiến hành việc nước. Thứ hai là quy tắc quy định những quyền quan trọng nhất của quốc dân tức là những “quyền con người cơ bản”. Bên cạnh đó hiến pháp cũng quy định nhiều việc cần thiết khác. Như sẽ được trình bày ở phần sau, Hiến pháp lần này cũng quy định một việc vô cùng quan trọng là không tiến hành chiến tranh.

Hiến pháp có từ trước đến nay là hiến pháp ra đời vào năm Minh Trị thứ 22 (tức năm 1889-ND), là hiến pháp do Thiên hoàng Minh Trị tạo ra và áp dụng cho người dân. Tuy nhiên Hiến pháp mới lần này là do chính bản thân quốc dân tạo ra, là thứ được lập ra một cách tự do bằng ý kiến của toàn thể quốc dân Nhật Bản. Để biết được ý kiến của toàn thể quốc dân, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra vào ngày 10 tháng 4 năm Showa thứ 21 (năm 1946-ND), các đại biểu mới của quốc dân được bầu và những người này đã tạo ra Hiến pháp. Vì vậy Hiến pháp mới là do toàn thể quốc dân lập nên.

Các bạn cũng là một trong số quốc dân Nhật Bản. Nếu vậy Hiến pháp này là do các bạn tạo ra. Các bạn sẽ coi trọng thứ mà bản thân mình tạo ra phải không nào. Nếu như Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ toàn thể quốc dân bao gồm các bạn và là quy tắc quan trọng nhất của đất nước thì các bạn với tư cách là một thành viên của quốc dân phải bảo vệ cho được Hiến pháp. Để làm được điều đó thì trước hết các bạn phải biết rõ những nội dung nào được viết trong hiến pháp này.

Khi quyết định quy tắc cho trò chơi nào đó các bạn cùng nhau viết và đặt kí hiệu cho nó  phải không nào. Quy tắc của quốc gia cũng thế, nó được viết phân theo từng nội dung và có thêm vào kí hiệu như điều số mấy. Hiến pháp lần này có từ điều 1 đến điều 103. Bên cạnh đó  còn có phần viết ở đầu tiên. Đây được gọi là “Lời nói đầu”.

Ở phần “Lời nói đầu” này có ghi những việc như ai tạo ra Hiến pháp này, quy tắc của Hiến pháp này được tạo ra từ tư duy nào… Lời nói đầu nhắm đến hai mục đích. Thứ nhất là khi mọi người đọc Hiến pháp và muốn biết ý nghĩa của nó thì đây là đầu mối. Tóm lại, Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ tư duy được ghi ở lời nói đầu vì vậy không được nghĩ khác với tư duy có ở Lời nói đầu. Tác dụng thứ hai là từ giờ trở đi khi thay đổi Hiến pháp không được trái với tư duy đã được ghi trong Lời nói đầu.

Vậy thì tư duy của Lời nói đầu là như thế nào. Tư duy quan trọng nhất có ba điều. Đó là “dân chủ chủ nghĩa”, “chủ nghĩa hòa bình quốc tế” và “chủ nghĩa chủ quyền thuộc về quốc dân”. Khi sử dụng từ “chủ nghĩa” thì nghe có vẻ khó nhưng nếu nghĩ thì chẳng có gì là khó. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa là cách suy nghĩ về sự vật. Do vậy các bạn cần phải biết về ba nội dung này. Trước hết hãy bắt đầu từ  “Dân chủ chủ nghĩa”

2. Dân chủ là gì

Tư duy số một trở thành nền tảng của Hiến pháp lần này là dân chủ. Vậy tóm lại dân chủ là gì? Các bạn đại thể đã nghe thấy từ này phải không nào? Nếu nói đây là thứ tạo nên nền tảng của Hiến pháp mới thì các bạn cần phải biết rõ về điều này. Thêm nữa cần phải hiểu biết đúng đắn về nó.

Các bạn hãy thử nghĩ đến việc đông đảo mọi người tập trung lại để cùng làm điều gì đó. Mọi chuyện sẽ được quyết định bằng ý kiến của ai? Nếu như ý kiến của mọi người đều giống nhau  thì sẽ không có chuyện gì. Giả sử như khi ý kiến khác nhau thì làm thế nào? Quyết định bằng ý kiến của một người? Quyết định bằng ý kiến của hai người? Hay là quyết định bằng ý kiến của số đông? Cái nào tốt hơn đây? Cũng có trường hợp ý kiến của một người đúng đắn và ưu việt trong khi ý kiến của nhiều người lại sai. Tuy nhiên phần lớn là ngược lại. Khi đó, việc mọi người thảo luận về suy nghĩ của bản thân sau đó quyết định theo ý kiến của số đông là điều hoàn toàn đúng đắn. Và những người còn lại nên tuân theo ý kiến của số đông mọi người. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của số đông mọi người là cách làm dân chủ.

Việc trị nước cũng giống như thế. Việc trị nước theo ý kiến của một số ít người là điều không tốt. Trị nước theo ý kiến của đông đảo quốc dân là tốt nhất. Tóm lại đông đảo quốc dân tiến hành trị nước là cách trị nước dân chủ.

Tuy nhiên đất nước khác với lớp học. Toàn thể quốc dân không thể tập trung lại một chỗ để thảo luận được. Việc đi đến từng nơi lắng nghe ý kiến của từng người cũng không thể làm được. Vì vậy cần phải có người thay mặt cho mọi người quyết định cách trị nước. Đó là quốc hội.

Việc quốc dân bầu cử nên nghị viên quốc hội cũng chính là việc họ lựa chọn ra người thay mặt mình trị nước. Vì vậy ở quốc hội công việc sẽ được quyết định bởi ý kiến của các nghị viên thay mặt quốc dân. Các nghị viên khác sẽ phải tuân theo điều này. Đó là việc quyết định công việc theo ý kiến của toàn thể quốc dân. Đây là dân chủ. Vì vậy dân chủ là toàn dân trị nước. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của mọi người sẽ ít sai sót nhất. Vì vậy nếu trị nước bằng dân chủ thì mọi người sẽ hạnh phúc và đất nước sẽ phồn vinh.

Do đất nước rộng lớn vì thế việc nước được giao phó cho các nghị viên quốc hội cho nên quốc hội thay mặt cho quốc dân. Sự “thay mặt” này được gọi là “đại diện”. Giống như trước đó tôi đã trình bày, dân chủ là toàn dân trị nước nên quốc hội sẽ thay mặt cho toàn thể quốc dân quyết định việc nước do đó người ta gọi đây là “dân chủ theo chế độ đại biểu”.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là không giao phó cho quốc hội mà quốc dân quyết định công việc theo ý kiến của bản thân mình. Trong hiến pháp lần này có giả sử nếu như có sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể quyết định được mà phải bỏ phiếu để biết từng người dân phản đối hay đồng ý. Khi đó, quốc dân trực tiếp quyết định việc nước vì vậy đây được gọi là cách làm “dân chủ trực tiếp”. Hiến pháp mới chọn hai cách trị nước là dân chủ theo chế độ đại biểu và dân chủ trực tiếp nhưng chủ yếu là dân chủ theo chế độ đại biểu, dân chủ trực tiếp chỉ giới hạn trong những việc quan trọng nhất. Vì vậy có thể nói Hiến pháp lần này đại thể là dân chủ theo chế độ đại biểu.

Các bạn là quốc dân Nhật Bản. Tuy nhiên vẫn  đang  còn là học sinh. Khi các bạn 20 tuổi lúc đó các bạn lần đầu tiên mới có thể quyết định được việc nước. Cả việc bầu nghị viên quốc hội hay bỏ phiếu liên quan đến việc nước khi các bạn đủ 20 tuổi các bạn mới có thể bắt đầu. Các bạn có anh trai, chị gái trên 20 tuổi phải không nào? Khi nhìn thấy anh, chị phân vân khi bỏ phiếu các bạn có tâm trạng thế nào? Bây giờ các bạn hãy học hành thật chăm chỉ, tìm hiểu thật kĩ về việc trị nước cũng như là Hiến pháp. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ cùng anh, chị có thể tự mình quyết định việc nước. Việc trị nước sẽ được tiến hành bằng suy nghĩ của các bạn. Không có gì vui hơn việc các bạn hòa thuận và tự mình tiến hành việc nước. Đó là dân chủ.

3. Chủ nghĩa hòa bình quốc tế

[...]

4. Chủ quyền thuộc về quốc dân

Các bạn hãy thử tập trung lại và  chọn ra xem ai là người vĩ đại nhất. Tóm lại “vĩ đại nhất” tức là thế nào? Có phải là học giỏi không? Hay là người khỏe  mạnh? Thật là khó vì có rất nhiều cách quyết định.

Trong đất nước thì có thể nói ai là  người “vĩ đại nhất” đây? Giả sử như việc nước được quyết định bởi ý nghĩ của một người thì phải nói người đó là vĩ đại. Nếu như việc nước được quyết định bằng ý nghĩ của nhiều người thì mọi người sẽ trở nên vĩ đại. Nếu như toàn thể quốc dân quyết định thì người vĩ đại nhất là toàn thể quốc dân. Hiến pháp lần này là hiến pháp dân chủ nên việc trị nước được tiến hành bằng suy nghĩ của toàn thể quốc dân. Và như thế thì rõ ràng toàn thể quốc dân là vĩ đại nhất.
 
Sức mạnh trị nước được gọi là “chủ quyền” và nếu sức mạnh này nằm ở toàn thể quốc dân thì người ta gọi đó là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Hiến pháp lần này giống như tôi vừa trình bày, coi dân chủ là gốc vì vậy chủ quyền đương nhiên là thuộc về quốc dân Nhật Bản. Vì vậy ngay ở phần Lời nói đầu và  ở  Điều 1 của hiến pháp cũng ghi rõ ràng là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Chủ quyền thuộc về quốc dân được gọi là “chủ quyền tại dân”. Hiến pháp mới được tạo thành từ tư duy chủ quyền tại dân vì vậy nó là hiến pháp chủ nghĩa chủ quyền tại dân. Các bạn là một người dân Nhật Bản. Các bạn  sẽ là người nắm chủ quyền trong tay. Tuy nhiên chủ quyền lại nằm trong toàn thể quốc dân Nhật Bản. Nó không phải là thứ từng người riêng biệt nắm trong tay. Chuyện từng người nghĩ rằng mình là vĩ đại và tự ý tiến hành mọi việc chắc chắn không phải là điều tốt. Đó là điều không thích hợp với dân chủ. Các bạn vừa phải tự hào rằng mình là một người dân nắm chủ quyền trong tay vừa phải có tinh thần trách nhiệm. Vừa phải là học sinh tốt vừa phải là quốc dân tốt.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)

Monday, November 4, 2013

Luật Hiến pháp và Chính trị học (1) - Nguyễn Văn Bông

Lời giới thiệu của pro&contra

Cuốn sách này sẽ còn phải chờ một thời gian dài, trước khi lại được xuất bản tại Việt Nam. Vì hai lẽ:

Thứ nhất, vì bản thân nội dung của nó. Ra đời gần một nửa thế kỉ trước tại miền Nam Việt Nam thời Đệ nhị Cộng hòa, nền tảng lí thuyết tổ chức một nhà nước dân chủ và pháp quyền mà nó trình bày đối lập sâu sắc với mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa với độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản trước sau vẫn tồn tại trong thực tế và vẫn chế ngự tư duy chính thống.

Thứ hai, tác giả của nó không phải ai khác, chính là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người bị chính quyền cách mạng ám sát ngày 10-11-1971. Lí do để ở thời điểm ấy, Hà Nội quyết định duyệt lệnh giết một giáo sư luật, Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh tại Sài Gòn, gần đây được bạch hóa trên báo chí Việt Nam với một sự thản nhiên đến lạnh người. Một trong hai người trực tiếp tiến hành và tiến hành thành công vụ ám sát, ông Vũ Quang Hùng kể: “Theo tin tức tình báo, G.33 (tức ông Nguyễn Văn Bông) đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”. Trong một loạt bài vinh danh “chiến công vang dội của An ninh T4″, báo Công an cho biết thêm: “Nguyễn Văn Bông bị tiêu diệt không chỉ làm ‘đổ bể‘ kế hoạch thay đổi nhân sự của ngụy quyền Sài Gòn mà còn làm cho nội bộ địch nghi ngờ lẫn nhau“.

Trong danh sách những nhân vật xuất chúng bị chính quyền cộng sản ám sát hoặc trừ khử trong bóng tối, Nguyễn Văn Bông có nhiều điểm tương đồng với Phạm Quỳnh. Họ đều là những trí tuệ hiếm có, những trí thức có tầm vóc và ảnh hưởng lớn, dấn thân trong trường chính trị cho một nước Việt Nam mới, song họ đều khước từ lựa chọn chủ nghĩa cộng sản. Gần 70 năm sau cái chết của Phạm Quỳnh, tên tuổi ông ở Việt Nam ngày nay không còn là cấm kị, một số tác phẩm của ông đã được tái xuất bản và ngày càng có thêm những công trình nghiên cứu về ông. Lịch sử đã dần bình tĩnh trở lại, tuy nỗi đau từ những tương tàn của cuộc chiến hệ tư tưởng vẫn giày vò các thế hệ đến sau. Còn Nguyễn Văn Bông? Trong cao trào thảo luận về dự thảo sửa đổi Hiến pháp vài tháng trước, Luật Hiến pháp và Chính trị học, tác phẩm chính của ông, cũng được một số người nhắc đến trong phần cước chú hay tài liệu tham khảo, song toàn văn cuốn sách này cho đến nay nằm ngoài khả năng tiếp cận của phần lớn giới độc giả hàn lâm Việt Nam.

Bản điện tử sau đây được thực hiện từ bản chụp của một trong những ấn bản hiếm hoi còn sót lại của cuốn sách này, trong đó một số trang đã bị mất. Để thuận lợi cho độc giả hôm nay, chúng tôi quyết định biên tập theo một số chuẩn mực phổ biến trong tiếng Việt hiện đại. Sự can thiệp này chỉ thuần túy mang tính kĩ thuật, chủ yếu liên quan đến chính tả, tuyệt đối không chạm vào nội dung văn bản. Bên cạnh đó chúng tôi cũng sẽ công bố bản điện tử được thực hiện trung thành với bản in, để truyền đạt nguyên vẹn ấn tượng và cảm xúc về một văn bản mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử của một quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam hiện không còn tồn tại. Nguyên sách có làm mục lục chuyên đề (Index) để dễ dàng tra cứu, trong bản điện tử chúng tôi không thực hiện. Các chú thích có kèm dấu (p&c) là do pro&contra thực hiện. Tất cả còn lại là chú thích của tác giả Nguyễn Văn Bông.

_________________



MỤC LỤC

Lời tựa

Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai

Chương mở đầu

Phần thứ nhất: Lý thuyết đại cương

Thiên thứ nhất : Những khái niệm và nguyên tắc căn bản

Chương I: Chính quyền và quốc gia

Mục I: Quyền lực, uy quyền và hiện tượng chính trị

  1. Quyền lực và quyền uy
  2. Hiện tượng chính trị

Mục II: Khái niệm chính quyền

  1. Chính quyền và cộng đồng chính trị
  2. Ý niệm và vai trò của chính quyền
  3. Những hình thức của chính quyền

Mục III: Quốc gia

  1. Định nghĩa
  2. Những đặc tính pháp lí của quốc gia
  3. Những hình thể của quốc gia

Chương II: Hiến pháp

Mục I: Thế nào là một hiến pháp?

  1. Định nghĩa thực chất và định nghĩa hình thức
  2. Hiến pháp tục lệ và hiến pháp thành văn
  3. Hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính

Mục II: Thiết lập hiến pháp

  1. Quyền lập hiến
  2. Những phương thức thiết lập hiến pháp

Mục III: Tu chính hiến pháp

  1. Nhận xét tổng quát
  2. Ai có quyền đề nghị tu chính hiến pháp?
  3. Những phương thức tu chính hiến pháp

Mục IV: Bảo vệ hiến pháp

  1. Đặt vấn đề
  2. Những hình thức kiểm soát sự hợp hiến
  3. Giá trị pháp lý của “Lời nói đầu”

Chương III: Nguyên tắc dân chủ

Mục I: Khái niệm chính đáng

  1. Hợp pháp và chính đáng
  2. Nguyên tắc dân chủ: Nguyên tắc chính đáng trong xã hội cận đại

Mục II: Khái niệm dân chủ

  1. Định nghĩa
  2. Chủ quyền

Mục III: Đại cương về chế độ chính trị

  1. Định nghĩa về chế độ chính trị
  2. Phân loại các chế độ chính trị
  3. Chế độ dân chủ và không dân chủ
  4. Những hình thức dân chủ

Thiên thứ hai: Tổ chức chính quyền

Chương I: Những cơ quan công quyền

Mục I: Chính phủ

  1. Cá nhân điều khiển
  2. Tập thể điều khiển
  3. Cá nhân và tập thể điều khiển

Mục II: Quốc hội

  1. Vấn đề lưỡng viện
  2. Tổ chức và điều hành Quốc hội

Chương II: Những hình thức tổ chức chính quyền

Mục I: Chế độ phân quyền

  1. Nguyên tắc phân quyền
  2. Tổng thống chế: chế độ áp dụng nguyên tắc phân quyền

Mục II: Chế độ hợp quyền

  1. Khái niệm hợp quyền
  2. Chế độ nghị viện hay nội các chế

Mục III: Chế độ tập quyền

  1. Những hình thức tập quyền cổ điển
  2. Một hình thức mới, chế độ độc đảng

Chương III: Những định luật căn bản của nền dân chủ hiện đại

Mục I: Những hình thức tổ chức chính quyền cổ điển và thực tại chính trị ngày nay

  1. Những biến chuyển của chế độ nghị viện
  2. Những biến chuyển của chế độ tổng thống
  3. Sự thay đổi toàn điện điều kiện sinh hoạt xã hội ngày nay

Mục III: Một vài định luật căn bản

  1. Chính phủ, cơ quan đầu não của quốc gia
  2. Một hệ thống quyết định, tấn phong và trách nhiệm quốc gia
  3. Một hệ thống đối thoại tự do

Thiên thứ ba: Sự tham gia chính trị của công dân trong chế độ dân chủ

Chương I: Tuyển cử

Mục I: Chế độ tuyển cử và đặc tính của đầu phiếu

  1. Chế độ tuyển cử
  2. Những đặc tính của đầu phiếu

Mục II: Thể thức đầu phiếu

  1. Một vài quy tắc tổ chức
  2. Đầu phiếu theo đa số và đầu phiếu theo tỷ lệ

Mục III: Vấn đề bất tham gia cuộc đầu phiếu

  1. Mực độ bất tham gia
  2. Nguyên do của sự bất tham gia

Chương II: Những hình thức tham gia chính trị

Mục I: Công dân chú trọng đến các vấn đề chính trị

  1. Tìm hiểu chính trị
  2. Lập trường chính trị

Mục II: Công dân chú trọng đến các tổ chức chính trị

  1. Chính đảng
  2. Những tổ chức không mục tiêu chính trị

Chương III: Tham gia và bất tham gia

Mục I: Thái độ phi chính trị

  1. Phủ nhận tính cách chính trị trong hoạt động
  2. Đề cao thái độ thụ động của công dân đối với thời cuộc

Mục II: Lập trường Mác-xít: Sự tham gia trong chế độ dân chủ là một trò bịp bợm

  1. Nội dung của lập trường
  2. Nhận xét

Chương IV: Đối lập chính trị

Mục I: Định nghĩa và các quan niệm về đối lập

  1. Định nghĩa
  2. Đối lập được quan niệm như thế nào?

Mục II: Vai trò của đối lập

  1. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền
  2. Vai trò cộng tác với chính quyền

Mục III: Quy chế của đối lập

  1. Những quyền hạn của đối lập
  2. Những nghĩa vụ của đối lập

Mục IV: Đối lập trong các quốc gia chậm tiến

Phần thứ hai: Thế giới chính trị hiện đại

Thiên thứ nhất: Những chế độ dân chủ cổ điển

Chương I: Chế độ chính trị Hoa Kỳ

Mục I: Khung cảnh pháp lý

  1. Một quốc gia liên bang
  2. Một hiến pháp cương tính
  3. Một chế độ tổng thống

Mục II: Thực tại chính trị

  1. Một hệ thống chính đảng duy nhất
  2. Một chính thể đại nghị trá hình
  3. Một nền dân chủ đại diện bởi một cá nhân

Chương II: Chế độ chính trị Anh Quốc  

Mục I: Khung cảnh pháp lý

  1. Một xã hội cổ truyền thời Trung cổ
  2. Một chính thể quân chủ lập hiến

Mục II: Thực tại chính trị

  1. Một hệ thống lưỡng đảng
  2. Một chính quyền thuần nhất và một trách nhiệm quốc gia
  3. Một đối lập hữu hiệu

Thiên thứ hai: Những chế độ chuyên chế

Chương I: Chế độ chính trị Nga Sô

Mục I: Chủ nghĩa Mác-xít

  1. Căn bản triết lý
  2. Chủ thuyết kinh tế
  3. Chủ thuyết chính trị

Mục II: Những định chế chính trị Nga Sô

  1. Tóm tắt lịch sử
  2. Nhà nước Nga Sô

Mục III: Đảng Cộng sản

  1. Đặc tính và tổ chức
  2. Vai trò

Thiên thứ ba: Những chế độ cùng Đông Nam Á

Chương I: Chế độ chính trị Đại Hàn

Mục I: Lược sử chính trị Đại Hàn

  1. Từ 1945 đến 1960
  2. Từ 1960 đến cuộc đảo chính ngày 16-5-1961
  3. Sau cuộc đảo chính

Mục II: Hiến pháp Đại Hàn

  1. Quốc hội
  2. Chính phủ
  3. Pháp viện tối cao

Chương II: Việt Nam

Mục I: Từ đế quốc đến chính thể cộng hòa

  1. Khuynh hướng cộng sản
  2. Khuynh hướng quốc gia

Mục II: Chế độ Ngô Đình Diệm

  1. Phân tích Hiến pháp 26-10-1956
  2. Nhận xét

Mục III: Việt Nam sau Cánh mạng 1-11-1963

  1. Sự hình thành Quốc hội Lập hiến
  2. Quốc hội Lập hiến 1966

Chương III: Nền Đệ nhị Cộng hòa

Mục I: Lời mở đầu và nguyên tắc căn bản

  1. Lời mở đầu
  2. Những nguyên tắc căn bản

Mục II: Quyền lập pháp

  1. Quốc hội, cơ quan lập pháp
  2. Thẩm quyền Quốc hội

Mục III: Quyền hành pháp

  1. Cơ cấu hành pháp trung ương
  2. Nền hành chánh địa phương

Mục IV: Quyền tư pháp

  1. Vấn đề bảo vệ sự độc lập của thẩm phán xử án
  2. Tối cao Pháp viện

Mục V: Các định chế đặc biệt

  1. Đặc biệt Pháp viện
  2. Giám sát Viện
  3. Các cơ quan tư vấn

Mục VI: Tu chính Hiến pháp

  1. Ai có quyền đề nghị tu chính?
  2. Thủ tục tu chính

Tài liệu cần tham khảo

Phụ bản

  1. Hiến pháp của Hiệp chúng Quốc ngày 4-3-1789
  2. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ngày 26-10-1956
  3. Hiến ước Tạm thời số 1 ngày 4-11-1963
  4. Hiến ước Tạm thời số 2 ngảy 7-2-1964
  5. Hiến chương Việt Nam Cộng hòa ngày 16-8-1964
  6. Hiến chương Lâm thời ngày 20-10-1964
  7. Ước pháp Tạm thời ngày 19-6-1965
  8. Hiến pháp 1-4-1967

________________________

LỜI TỰA

Dù Chính trị có được xem là bệnh dịch hạch hay là địa hạt của những xảo trá, xôi thịt, hoặc được quan niệm như cái gì chỉ liên quan đến chính đảng, đến đấu tranh về ý thức hệ, con người không thể thoát vòng kềm tỏa của chính trị.

Dù cố ý sống trong tháp ngà hay vô tình lánh xa xã hội, khung cảnh cũng như trật tự pháp lý và những vấn đề chính trị vẫn chi phối và quấy nhiễu chúng ta.

Ưu thế và tầm quan trọng của chính trị không thể chối cãi.

Trong chiều hướng ấy, quyển sách này nhằm giúp sinh viên một tài liệu học hỏi và đồng thời những ai mong mỏi mở rộng kiến thức về qui tắc căn bản Quốc gia và điều kiện thực tiễn của cuộc sinh hoạt chính trị. Chúng tôi chỉ muốn lưu ý hai điểm:

1. Khi đề cập đến luật Hiến pháp hay Chính trị học, độc giả không nên quên rằng các vấn đề pháp lý hay chính trị không thể tách rời lịch sử tổng quát, rằng Hiến pháp không phải là sáng tác của óc tưởng tượng mà trước hết là sản phẩm của hoàn cảnh, của xã hội, của biến cố;

2. Nghiên cứu cuộc sinh hoạt chính trị hay các vấn đề hiến tính, phần thứ nhất về “Lý thuyết đại cương” có một tầm quan trọng đặc biệt. Chính trong phần này sinh viên tìm thấy những yếu tố ích lợi để có những nhận định khách quan và thực tiễn về các vấn đề trọng đại của Quốc gia, vấn đề mà sự hiểu biết rất cần thiết không những để học và thi mà còn để có dịp bày tỏ lập trường – với tư cách công dân tự do – trong cuộc tham gia vào sinh hoạt chính trị.

Saigon, ngày 10 tháng 3 năm 1967

NGUYỄN VĂN BÔNG

_______________

LỜI NÓI ĐẦU (CHO BẢN IN LẦN THỨ HAI)

Quyển sách này đã được xuất bản lần thứ nhất trong lúc Quốc hội Lập hiến đang thảo luận khung cảnh pháp lý tương lai cho Việt Nam.

Hôm nay, Hiến pháp của nền Đệ nhị Cộng hòa đã được ban hành và những định chế chính trị, dựa trên đạo luật căn bản ấy tuần tự được thiết lập. Nhìn lại quá khứ, khoảng thời gian của giao thời, chuyển tiếp, hỗn loạn, người quốc gia không khỏi hãnh diện đã xây dựng được một cái gì trong hoàn cảnh khó khăn của một cuộc chiến tranh bất qui ước. Mặc dầu kiến trúc có thể có vài khiếm khuyết, sự khai sinh nền Đệ nhị Cộng hòa đánh dấu bước đầu của ổn định và tạo khung cảnh cho một nếp sinh hoạt chính trị dân chủ tương lai.

Tuy nhiên định chế và con người là hai yếu tố hoàn toàn khác biệt. Không định chế, hoạt động của con người thoát vòng kềm tỏa của pháp luật, và chúng ta trở lùi lại thời kỳ của chính quyền cá nhân để bị ảnh hưởng bởi tính hiếu kỳ hay những xúc động tình cảm của kẻ nắm chính quyền. Trái lại, những định chế, tự nó chỉ là khung cảnh, là nguyên tắc điều hướng mà sự thực hiện sống động tùy thuộc vào hoạt động của con người.

Con người có thể – vô tình hay cố ý, giết hẳn tinh thần của định chế và nguy thay – giết luôn cả sự tin tưởng của quốc dân vào định chế.

Đó là mối lo ngại lớn lao trong năm đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa. Thái độ của Quốc hội khi bàn đến vấn đề phụ cấp, tinh thần vô trách nhiệm của một số vị đại diện khi phát biểu cũng như khi vắng mặt ở nghị trường, những chuyến du lịch quanh năm trong lúc địch dồn dập tấn công, những vụ tranh chấp giữa Hành pháp và Lập pháp về một số vấn đề pháp lý mà tầm quan trọng là con số không so với sự sống còn của đất nước, một quan niệm lệch lạc về phương cách tổ chức cơ quan Hành pháp… Tất cả sự kiện vừa nêu làm giảm giá trị của định chế quốc gia và – nếu còn tiếp tục – sẽ có hậu quả không hay cho tương lai nền dân chủ.

*

Với việc tái bản lần thứ hai, ngoài việc sửa chữa và cập nhật hóa thường lệ, tác giả còn dành một phần quan trọng cho việc phân tích và phê bình Hiến pháp ngày 1-4-1967. Nhân dịp, tác giả xin chân thành cảm tạ các phụ giáo tại Học viện Quốc gia Hành chánh, đặc biệt là bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, ông Cung Đình Thanh và Lê Công Truyền đã góp phần vào việc soạn thảo quyển Luật Hiến pháp và Chính trị học này.

Saigon, ngày 10 tháng 3 năm 1969

NGUYỄN VĂN BÔNG

(Còn tiếp)

Nguồn: Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học. In lần thứ hai. Sài Gòn 1969. Bản điện tử do pro&contra thực hiện.

Luật Hiến pháp và Chính trị học (2) - Nguyễn Văn Bông,

Xem kì 1
Chương mở đầu
I. Luật Hiến pháp là môn luật học về Hiến pháp. Mà Hiến pháp là gì? Chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ để bàn đến định nghĩa, hình thức cùng nội dung của Hiến pháp. Hiến pháp thường được gọi là luật căn bản. Tại sao căn bản? Vì Hiến pháp là một văn kiện gồm những luật lệ cơ bản qui định cách tổ chức và điều hành những cơ quan căn bản của quốc gia nghĩa là những cơ quan công quyền. Đọc bản Hiến pháp chúng ta biết thế nào là tổ chức chính quyền của một nước.
Luật Hiến pháp là một môn của ngành Công pháp.
Công pháp hay Tư pháp đều là luật lệ cả. Nhưng thường thường người ta chia luật pháp ra làm hai loại: Tư pháp và Công pháp.
Tư pháp: gồm một số môn như Dân luật, luật Thương mại, luật Tố tụng v.v… là tất cả luật lệ mà đối tượng chi phối tư nhân và mối tương quan giữa tư nhân và tư nhân.
Công pháp: gồm một số môn như luật Hiến pháp, luật Hành chính, luật Tài chính v.v… là tất cả luật lệ mà đối tượng chi phối quốc gia và mối tương quan giữa quốc gia và công dân.
Chúng ta không đề cập đến lý do cùng tiêu chuẩn của sự phân loại này. Giáo sư môn Dân luật thường thường trong bài đầu sẽ giải thích rõ ràng. Tuy nhiên các bạn nên ý thức rằng sự phân loại chỉ có một giá trị tương đối và dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật nhiều hơn.
II. Tóm lại, Hiến pháp là một ngành của Công pháp. Và một ngành tối quan trọng của Công pháp.
Vì trong Công pháp – ở đây là Công pháp nội bộ khác với Quốc tế Công pháp – vấn đề chính là tổ chức chính quyền. Tổ chức ra sao, điều khiển thế nào? Ai là người cầm quyền. Họ được chọn lựa ra sao và quyền hành họ như thế nào? v.v…
Đó là những vấn đề căn bản về tổ chức bất cứ một quốc gia nào: vì thế mà môn Hiến pháp giữ một địa vị quan trọng trong Công pháp và cũng vì thế mà luật Hiến pháp được xem là luật cơ bản.
III. Như chúng ta đã trình bày, luật Hiến pháp gồm những luật lệ qui định cách tổ chức và điều hành những cơ quan công quyền. Và trong một phần lớn các quốc gia, các luật lệ ấy được ghi chép trong một văn kiện tối quan trọng gọi là Hiến pháp.
Học luật Hiến pháp tức là nghiên cứu, giải thích và phê bình những qui luật ghi trong Hiến pháp. Tuy nhiên học luật Hiến pháp không phải chỉ nghiên cứu Hiến pháp. Vì Hiến pháp không bao gồm tất cả các luật lệ liên hệ đến tổ chức chính quyền. Hiến pháp chỉ ghi chép những nguyên tắc đại cương, có tính cách căn bản. Và thường thường trong bản Hiến pháp người ta có thấy rằng “một đạo luật sẽ qui định v.v…“. Đó là những đạo luật liên hệ đến tổ chức chính quyền mà chúng ta phải phân tích và để ý.
Nắm vững Hiến pháp cùng các luật liên hệ đến tổ chức chính quyền, đó là một vấn đề quan trọng. Nhưng tôi xin lưu ý các bạn rằng đó là chỉ khía cạnh pháp lý. Một khía cạnh quan trọng nhưng chưa đủ. Vì đôi khi nó không phản ảnh thực trạng của một quốc gia nào đó. Tại sao?
Vì luật lệ nhiều khi bị uốn nắn, làm mất hẳn mục tiêu nguyên thủy của nó.
Vì luật lệ – nhất là về phương diện chính trị – nhiều lúc chỉ là hình thức hóa một sự kiện, một hiện tượng mà chính sự kiện ấy, hay hiện tượng ấy mới là động lực.
Bởi thế cho nên, tôi đề nghị mặc dù chính thức chúng ta gọi luật Hiến pháp, nên hiểu là luật Hiến pháp và Chính trị học.
Ví dụ nếu các bạn nghiên cứu chế độ chính trị của các quốc gia cộng sản và chỉ chiểu theo Hiến pháp, thì các bạn cho là một thiên đường. Nào là tự do này, tự do nọ, nào là bình đẳng của tất cả, nào là Quốc hội, Thủ tướng v.v… Nhưng nếu chúng ta nhìn với bộ mặt thực tế thì cơ quan chính, cơ quan động lực không phải là Quốc hội, Thủ tướng v.v. mà chính là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản.
Trong các nước dân chủ thực sự cũng vậy. Vai trò của chính đảng, vai trò của các đoàn thể áp lực – dù là tôn giáo, quân nhân hay nghiệp đoàn – vai trò của tuyên truyền chính trị v.v…, tất cả những hiện tượng chính trị có một tầm hết sức quan trọng mà chúng ta cần để ý khi đề cập đến chính thể cùng cuộc sinh hoạt chính trị của một quốc gia.
Tóm lại, luật Hiến pháp cần phải được hiểu là “Luật Hiến pháp và Chính trị học”.
Chúng ta không thể học luật Hiến pháp mà không để ý đến những dữ kiện của cuộc sinh hoạt chính trị.
IV. Chúng ta đã dùng danh từ chính trị học. Thế nào là chính trị?
1. NHỮNG ĐỊNH NGHĨA CHỦ QUAN
Chủ quan ở đây tức là bao hàm một ý tưởng phê phán.
a. Có một quan niệm cho rằng chính trị liên quan đến vấn đề đạo đức. Chính trị tức là sửa chữa những sai lầm cho xã hội được ngay thẳng. Chính trị và đạo đức tương quan mật thiết với nhau. Nói đến chính trị là nghĩ đến dùng đạo đức để sửa chữa, làm cho xã hội trở nên lành mạnh. Và đây là quan niệm của triết gia thời thượng cổ.
b. Cũng trong chiều hướng chủ quan – nhưng lại đối chọi với quan niệm trên, chính trị thường được xem là phản đạo đức. Và đây là quan niệm rất phổ thông trong xã hội ngày nay. Vì chính quyền đi đôi với thế lực và lợi lộc, vì chính khách hay dùng thủ đoạn lưu manh, võ lực cùng dối trá để chiếm chính quyền, cho nên đối với đa số công dân ngày nay, cứu cánh của chính trị không khác gì hơn là tranh giành ngôi thứ, là đoạt lợi, là lưu manh, là xôi thịt.
c. Định nghĩa chủ quan trên phản ảnh một phần nào thực tế. Nhìn cuộc sinh hoạt chính trị chúng ta thấy ngay rằng chính trị quả thật bao gồm đạo đức và phản đạo đức.
Trường chính trị thoạt tiên là trường đấu tranh, chiếm quyền hành, tước vị mà kẻ thắng thế chưa hẳn là người tốt. Tuy nhiên đồng thời chính trị chi phối nhân sinh làm cho con người trong một cộng đồng xã hội cấu kết nhau, sống chung nhau dưới một kỷ luật, một nếp sống được xem là đạo lý của cộng đồng ấy.
Đạo đức và phản đạo đức, hai yếu tố này luôn luôn xen lẫn nhau trong cuộc sinh hoạt chính trị.
2. NHỮNG ĐỊNH NGHĨA KHÁCH QUAN
Để có một ý niệm khoa học về chính trị, chúng ta cần gạt bỏ mọi phê phán và nhìn vào nội dung, bản chất của chính trị. Có 3 quan niệm khác nhau về chính trị dựa trên 3 ý niệm: quốc gia, quyền hành và công việc chung.
a. Đối tượng của chính trị là quốc gia
Chính trị học nghiên cứu về quốc gia. Chính trị học là khoa học về sự cai trị các quốc gia, hay là một nghệ thuật cai trị một quốc gia và điều khiển các mối liên lạc với các quốc gia khác.
Quan niệm này bị một số tác giả chỉ trích:
- Vì quan niệm này bị giới hạn trong thời gian.
- Vì quan niệm này đưa đến những phân tích thiếu sót về thái độ chính trị cũng như về cơ cấu và định chế xã hội.
Thật vậy:
1) Danh từ quốc gia hay bị lạm dụng: dùng để chỉ bất cứ tổ chức chính trị nào ngay cho đến những cơ cấu chính trị của những bộ lạc sơ khai.
2) Quốc gia, dù sao chỉ là một thực thể trừu tượng, có tính cách lịch sử. Căn cứ trên thực thể có tính cách lịch sử ấy để nghiên cứu, phân tích thái độ chính trị, cuộc sinh hoạt chính trị hay cơ cấu cùng định chế xã hội không thể đưa đến những nhận xét khách quan, phù hợp với sự tiến triển của khuynh hướng khoa học hiện tại.
b. Đối tượng của chính trị học là quyền hành
Chính trị học là khoa học về quyền hành. Chính trị học nghiên cứu những hiện tượng phát sinh từ quyền hành, hay do uy quyền tạo ra, hiện tượng liên hệ đến cá nhân và đoàn thể đồng thời cũng liên quan đến một đẳng cấp quyền lực trong nội bộ các cộng đồng đông đảo và phức tạp.
Nhưng quyền hành nào? Nếu đối tượng của chính trị là quyền hành của tất cả đoàn thể thì phạm vi của khoa học chính trị rất là rộng rãi. Trái lại nếu hiểu quyền hành theo nghĩa quyền hành quốc gia, quyền hành liên hệ đến quốc gia, thì khoa học chính trị lại được thu hẹp. Theo ý kiến của nhiều nhà xã hội học thì nếu đối tượng của khoa chính trị học là quyền hành trong tất cả các đoàn thể thì khoa này sẽ giẫm chân lên nhiều địa hạt nghiên cứu khác. Bởi vậy họ tách các quyền hành mà họ gọi là «quyền hành chính trị» hay chính quyền và cho nó là đối tượng của chính trị học, còn các hình thức khác của quyền hành thuộc phạm vi các khoa học xã hội, tâm lý xã hội học v.v…
c. Đối tượng của chính trị là công việc chung
Chính trị là công việc chung của rất nhiều người trong cộng đồng xã hội. Theo một tác giả người Pháp, Jean Bodin «chính trị là việc điều khiển thẳng thắn nhiều gia đình và những cái gì chung cho các gia đình ấy, với một quyền lực chủ tể».
Quan niệm này cũng là quan niệm của Tôn Văn. Trong Tam dân chủ nghĩa, Tôn Văn nói: «Chính là việc của chúng nhân, trị là cai quản, điều khiển. Cai quản, điều khiển việc của chúng nhân là chính trị».
Sau khi xem xét qua 3 quan niệm khách quan về chính trị, ta nhận thấy ngay rằng không một quan niệm nào được xem là hoàn toàn đúng hay sai. Ý niệm quốc gia, quyền hành hay công việc chung tự nó không đủ định nghĩa chính trị.
Thật vậy, vẫn biết rằng đơn vị căn bản của thế giới chính trị là Quốc gia, nhưng hiện tượng chính trị không phải chỉ nằm trong quốc gia và có với quốc gia. Chính trị đã có trước quốc gia và vượt hẳn trên quốc gia. Ý niệm quyền hành cũng vậy. Quyền hành rất cần thiết. Nói đến chính trị không thể không nói đến quyền hành. Nhưng phạm vi quyền hành lại quá rộng rãi. Yếu tố quyền hành được đặt ra cho bất cứ một tổ chức nào chứ không riêng cho quốc gia như chúng ta đã thấy. Còn công việc chung thì ý niệm này tổng quát và trừu tượng.
Tóm lại, mỗi ý niệm – quốc gia, quyền hành, công việc chung – tự nó không đủ để định nghĩa chính trị. Nhưng họp lại 3 ý niệm trên phản ánh rõ ràng danh từ chính trị. Chính trị tức là dùng quyền hành chủ tể để điều khiển công việc chung của một số đông người họp nhau thành một tập thể mà hình thức hoàn bị nhất hiện nay là quốc gia.
V. Luật Hiến pháp và Chính trị học là những khoa học thuộc về loại mà người ta thường gọi là các khoa học về xã hội học (Les sciences sociales). Các khoa học về xã hội học gồm: xã hội học, kinh tế học, chủng tộc học, sử học, địa lý nhân văn, tâm lý xã hội học v.v.
Một sự kiện xã hội, một hiện tượng xã hội thường thường là một sự kiện hay hiện tượng toàn bộ tổng hợp mà mỗi khoa học nhìn dưới những khía cạnh khác nhau, khảo sát những phương diện khác nhau cho nên chúng ta mới có những khoa học khác nhau. Trong lúc đối tượng của cái nhìn là một, mỗi khoa học nhìn đối tượng ấy một cách khác nhau vì thế mới sinh ra sự khác biệt giữa các khoa học.
Ví dụ: trong một quốc gia, nhà sử học nhìn với một cặp mắt liên hệ đến thời gian, đến sự thăng trầm của các chế độ hay sự liên tục của một giống nòi. Nhà luật học lại nhìn những định chế pháp lý, những qui tắc, những tập tục tiêu biểu cho một trạng thái tinh thần, một lối sống. Nhà chính trị học chuyên nhìn những cơ cấu quốc gia, những động lực của cuộc đấu tranh chính trị, v.v… Tóm lại, những cái nhìn khác biệt trong lúc đối tượng vẫn là một.
Ý thức nhận xét trên, chúng ta thấy rằng luật Hiến pháp và Chính trị học là hai khoa học bổ túc cho nhau. Trong lúc luật hiến pháp nghiên cứu các qui tắc pháp lý liên hệ đến việc tổ chức và sử dụng quyền chính trị, việc thiết lập các cơ quan công quyền, việc tham dự vào việc thống trị. Chính trị học đi sâu vào các hiện tượng chính trị, nhận lấy các hiện tượng chính trị và tìm hiểu mối tương quan giữa các hiện tượng này.
Môn luật Hiến pháp sẽ được chia làm 2 phần:
Phần thứ nhất: Lý thuyết đại cương
Phần thứ nhì: Thế giới chính trị hiện đại
*
PHẦN THỨ NHẤT: LÝ THUYẾT ĐẠI CƯƠNG
THIÊN THỨ NHẤT: Những khái niệm và nguyên tắc căn bản
CHƯƠNG I: Chính quyền và Quốc gia
Mục I: QUYỀN LỰC, UY QUYỀN VÀ HIỆN TƯỢNG CHÍNH TRỊ
Mỗi người chúng ta thuộc về nhiều đoàn thể xã hội, hoặc vì chúng ta tự ý tham gia (nghiệp đoàn, hiệp hội v.v.) hoặc vì hoàn cảnh (gia đình, giai cấp xã hội v.v…).
Thuộc về một đoàn thể xã hội, tức là thực tế nhìn nhận rằng đoàn thể này có thể đòi hỏi ở chúng ta một vài hành động, một cử chỉ phù hợp với mục tiêu của đoàn thể; tức là chấp nhận rằng đoàn thể có thể bắt buộc chúng ta một vài hy sinh, một vài cố gắng đáng giá.
Thuộc về một đoàn thể xã hội, tức là mỗi người chúng ta phải thực hiện những đòi hỏi của đoàn thể, chấp nhận những hy sinh và cố gắng ấy.
Uy quyền, quyền lực của đoàn thể bắt nguồn từ đó và cũng từ đó sinh ra bổn phận của nhân viên đoàn thể.
Đoạn 1: QUYỀN LỰC VÀ QUYỀN UY
A. THẾ NÀO LÀ QUYỀN LỰC?
Quyền lực là một sự kiện xã hội. Chúng ta chỉ nhìn bất cứ một đoàn thể nào cũng có thể nhận thấy hiện tượng ấy. Vấn đề được đặt ra là thử hỏi vì sao hễ có đoàn thể xã hội là có quyền lực, tại sao không thể có đoàn thể xã hội không quyền lực?
Bất cứ một đoàn thể xã hội nào cũng có quyền lực. Đó là một điều tất yếu. Con người không phải chỉ có lương tri theo lẽ phải và có tính cách hợp quần. Sự sinh tồn của đoàn thể xã hội luôn luôn bị đe dọa bởi những say mê, khát vọng của con người và những đòi hỏi trái ngược của đoàn thể khác; vì thế mà bổn phận và giới hạn xã hội cần phải được đặt ra và đó chỉ là hậu quả tất nhiên của sự tương phản nói trên.
Các nghĩa vụ xã hội chỉ có tính cách cưỡng bách đối với con người qui phục dưới quyền lực, khi nào có sự xung đột giữa bổn phận tương phản  hoặc giữa bổn phận và những ham mê, khát vọng của họ.
Tuy nhiên quyền lực – một thực tế xã hội – không phải luôn luôn có nghĩa kìm chế, cưỡng bách đối với con người tham gia vào hoạt động của đoàn thể. Nếu sự tham gia ấy không có tính cách cưỡng bách và không đem lại những xung đột về bổn phận hay quyền lợi thì con người cảm thấy hài lòng thay vì khó chịu. Thực tế cho biết rằng con người có thể tìm thấy một nguồn vui lạ khi tận tụy phục vụ cho chính nghĩa của đoàn thể họ; vì ngay khi cùng chung hành động và cùng tuân thủ một kỷ luật, con người thực hiện những tham vọng và thỏa mãn nhu cầu, kết quả mà họ không thể đạt được nếu hành động lẻ tẻ và riêng biệt.
B. THẾ NÀO LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG UY QUYỀN?
Hiện tượng uy quyền là một hiện tượng xã hội phát sinh bất cứ trong nhóm, đoàn thể nào có tổ chức.
Thế nào là một đoàn thể có tổ chức? Trong một đoàn thể có tổ chức, giữa nhân viên có sự liên kết, hàn gắn với nhau bởi một lý tưởng, một mục đích, một hành động chung. Kinh nghiệm xã hội, chính trị cho chúng ta biết rằng ít khi mà chúng ta thấy một nhóm người có thể cùng hành động chung nhau mà không chia sẻ phận sự, mà không có một ý tưởng chỉ đạo định nghĩa rõ ràng ý nghĩa của sự cố gắng và phân chia cố gắng ấy.
Trong một đoàn thể có tổ chức, có chia ra cấp bậc vì không thể có một tổ chức nào mà không có sự phân chia chức vụ, một trật tự ấn định bởi một hệ thống của những người có quyền lực.
Sự phân chia đẳng cấp ấy, sự hiện diện của một uy quyền nghĩa là của một người có quyền quyết định cho kẻ khác, sự kiện ấy chính là hiện tượng uy quyền.
Có hiện tượng uy quyền, khi nào có một sự liên lạc phục tùng, bất bình đẳng giữa những đơn vị của một đoàn thể có tổ chức. Trong một hoàn cảnh mà một nhóm người bắt buộc phải làm sao cho hành động hay thái độ của mình phù hợp với ý chí của kẻ khác. Nói đến uy quyền là phải nghĩ ngay đến mối tương quan giữa cá nhân, mối tương quan trên căn bản bất bình đẳng, là nghĩ ngay đến ưu thế của ý chí kẻ chỉ huy.
Hiện tượng uy quyền có bất cứ trong một tổ chức nào: quân đội, dân chính, nhà trường, chính đảng, tổ chức sinh viên.
C. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA HIỆN TƯỢNG UY QUYỀN
Hiện tượng uy quyền rất phức tạp, nhiều vấn đề được đặt ra liên hệ đến đẳng cấp, tranh chấp, sử dụng uy quyền.
1) Vấn đề đẳng cấp về uy quyền
Người chỉ huy kẻ khác, chính họ phải tuân lệnh của cấp trên. Và ngược lại người nắm quyền lãnh đạo tối cao không bao giờ sử dụng quyền hành một cách trực tiếp. Giữa những mệnh lệnh bậc nhất và ý chí tuân theo của cấp dưới luôn luôn có những bậc trung gian có thể làm đảo lộn sự thi hành mệnh lệnh.
2) Vấn đề tranh chấp quyền uy
Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt – như quân đội hay tôn giáo – mỗi người chúng ta tham gia rất nhiều đoàn thể tùy theo hoạt động hay sở thích của chúng ta. Những đoàn thể ấy có tổ chức nghĩa là có hệ thống; đẳng cấp uy quyền.
Tham gia nhiều đoàn thể tổ chức, có đẳng cấp nghĩa là có thể xẩy ra cho mỗi người chúng ta những cuộc tranh chấp về uy quyền. Rất dễ hiểu vì một người muốn tham gia nhiều đoàn thể thì chắc chắn rằng nhiều mệnh lệnh bắt nguồn khác nhau có thể chạm nhau.
3) Vấn đề sử dụng uy quyền chỉ huy
Cần phải nhận định rằng ít khi cấp chỉ huy quyết định một cách hoàn toàn độc đoán. Ít khi mà một người có uy quyền có thể dùng uy quyền của mình để bắt buộc kẻ khác phải phục tùng bất cứ lúc nào, cái gì hay cách gì. Thường thường những kẻ sử dụng uy quyền chỉ được vâng lời khi mà uy quyền ấy được nhìn nhận. Uy quyền không phải luôn luôn được nhìn nhận. Trái lại uy quyền luôn luôn được đặt lại. Uy quyền chỉ được nhìn nhận khi nào nó được chứng minh.
Vậy công việc khởi thảo, dự bị những quyết định của cấp chỉ huy luôn luôn – lẽ tất nhiên trong một giới hạn nào – có sự hợp tác của những kẻ bắt buộc phải thi hành hay phục tùng những mệnh lệnh ấy.
Đoạn 2: HIỆN TƯỢNG CHÍNH TRỊ
Trong những đoàn thể, có một đoàn thể đặc biệt, có một tầm quan trọng đặc biệt.
A. Đó là cộng đồng chính trị. Là một đoàn thể khác hẳn các đoàn thể có tổ chức, có hệ thống đẳng cấp khác về hai phương diện: tính cách tối cao và tính cách bao quát.
Tối cao:
- Quyền lực do Nhà nước ủy nhiệm
- Nhà nước được quyền sử dụng lực lượng vật chất
- Tất cả các quyền lực phục tùng uy quyền Nhà nước
Bao quát:
- Nhà nước có xu hướng liên hệ đến tất cả hình thức của hoạt động con người (tất cả những đoàn thể ngoài nhà nước, chỉ họp nhân viên của mình cho một mục đích nhất định, giới hạn, trong một phạm vi liên hệ đến một phần nào hoài bão của họ).
Chúng ta có thể không tham gia vào một đoàn thể, không thuộc một tổ chức, nhưng chúng ta không thể không thuộc một quốc gia.
Tóm lại, cộng đồng chính trị là một tổ chức hết sức đặc biệt. Đặc biệt vì tất cả con người có bổn phận, bắt buộc là công dân của một quốc gia nào đó. Quốc gia ấy, mà nhà nước tượng trưng về mặt pháp lý, là một cộng đồng chính trị.
Bởi thế những hiện tượng uy quyền liên hệ đến quyền lực của Nhà nước – cơ quan chính trị – và công dân là một loại hiện tượng uy quyền đặc biệt khác hẳn uy quyền trong tổ chức khác. Đó là hiện tượng chính trị.
Hiện tượng chính trị: Là hiện tượng uy quyền trong khung cảnh của một cộng đồng chính trị. hiện tượng chính trị (H.T.C.T) biểu lộ dưới hình thức nào?
B. Những hình thức biểu hiện của hiện tượng chính trị
Hành vi pháp lý: Một đạo luật, hành vi chính trị là một hình thức sử dụng quyền lực Nhà nước, và đồng thời là một hiện tượng pháp lý. Đạo luật – các bạn cũng thừa hiểu là kết tinh của một thủ tục nhất định, theo những qui tắc nhất định.
Một quyết định của một Hội đồng xã, một quyết định của Tỉnh trưởng, một biểu quyết của Quốc hội, những quyết định của Chính phủ, tất cả đều là những quyết định công khai, hành vi chính trị. Tất cả là hiện tượng chính trị dưới hình thức hành vi pháp lý. (Sắc luật đặt ngoài vòng pháp luật tư nhân đảng phái, hoạt động tuyên truyền cho chủ trương trung lập.)
Hành vi chính trị: Có những hiện tượng chính trị biểu hiện dưới một hình thức không phải hình thức của một hành vi pháp lý, mà trái lại dưới một hình thức hoàn toàn, trực tiếp một hành vi chính trị.
Một cuộc biểu tình, cuộc mít tinh, những hành vi như phát truyền đơn, hô hào cổ võ chống trung lập, đả đảo hay hoan hô một nhân vật hay cơ quan nào, tất cả những sự kiện ấy rõ ràng đều có một đối tượng, một mục tiêu – là thay đổi điều kiện tham gia hay sử dụng chủ quyền chính trị.
Những hành vi chính trị ấy – cá nhân hay đoàn thể – chúng ta nhận ngay là những hành vi nhằm can thiệp vào mối tương quan của uy quyền nhà nước.
Phát biểu ý kiến: Dư luận là một cái lò nung đúc, phác họa và thay đổi những động lực của cuộc sinh hoạt chính trị, những động lực ấy đụng chạm nhau, hàn gắn nhau để trở thành thái độ chính trị.
Hành vi chính trị của cá nhân hay một đoàn thể thường thường phản ảnh những ý tưởng, hay chính kiến của họ và chính kiến hay ý tưởng ấy tự nó bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố phức tạp, nhiều ảnh hưởng của cuộc sống. Ảnh hưởng hay yếu tố ấy có tác động đối với cá nhân hoặc đoàn thể.
Tại sao lại cho rằng ý kiến là một hiện tượng chính trị, tại sao lại nhấn mạnh tầm quan trọng của phát biểu ý kiến?
Ý kiến của con người chỉ là một ý kiến. Phát biểu một ý kiến không có nghĩa là ý kiến ấy đương nhiên thay đổi một phần nào điều kiện phân phát hay sử dụng quyền lực chính trị. Có những ý kiến – dù rằng được phát biểu – nhưng rồi trong chốc lát tan ra mây khói. Vậy ý kiến không phải luôn luôn và lúc nào cũng có tác dụng chính trị.
Nhưng cần phải nhận định rằng có rất nhiều trường hợp mà ý kiến ấn định một hành vi. Trước khi tôi biểu quyết về một điều gì, tham gia một cuộc biểu tình, ghi tên vào một đoàn thể chính trị, tôi có ý kiến về sự kiện ấy. Ý kiến có tác dụng chính trị là khi nào ý kiến có thể thay đổi hẳn ý kiến và thái độ của kẻ khác.
Một ý kiến không được phát biểu không có một ý nghĩa chính trị gì. Nhưng một ý kiến được phát biểu có thể thay đổi cục diện chính trị, và vì thế là một hiện tượng chính trị quan trọng.
Ngoài những hình thức nói trên, chúng ta còn tìm thấy những hiện tượng chính trị không có tính cách chính trị tự bản chất nó mà chỉ là vì những hậu quả gián tiếp trong cuộc sinh hoạt chính trị.
VẤN ĐỀ KHẢO CỨU NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHÍNH TRỊ MỘT CÁCH KHOA HỌC
Thế nào là nghiên cứu một cách khoa học?
Tìm hiểu một cách khoa học, khảo cứu một cách khoa học không có nghĩa là chúng ta đo lường hiện tượng chính trị, sự kiện chính trị một cách tỉ mỉ, từng ly từng phân. Nó cũng không có nghĩa là chúng ta phải theo sát phương pháp của khoa vật lý học. Hiện tượng chính trị và hiện tượng xã hội nói chung là hiện tượng hết sức phức tạp mà yếu tố con người, yếu tố tâm lý chiếm phần quan trọng.
Nói đến nghiên cứu khoa học là chúng ta muốn nói đến vấn đề khách quan trong việc nghiên cứu và sưu tầm. Có nghĩa là chúng ta nên xem hiện tượng chính trị là những sự kiện tự đặt mình ở một vị trí ngoài để nhìn vào sự kiện ấy, và quan niệm một cách rõ ràng rằng sự kiện trước chúng ta là sự kiện chính trị nghĩa là mối tương quan về uy quyền trong một khung cảnh chính trị, mối tương quan giữa cá nhân và Nhà nước hoặc giữa cơ quan công quyền.
Cần phải nhận định rõ là chúng ta đứng trước một sự kiện chính trị, một mối tương quan chính trị. Vì mối tương quan chính trị khác nhiều mối tương quan pháp lý. Trong cuộc sinh hoạt chính trị, có rất nhiều trường hợp mà kẻ có quyền trên mặt pháp lý không nắm quyền thật sự, có rất nhiều trường hợp mà kẻ có thể sử dụng quyền chỉ huy không phải chính là người có quyền trên mặt pháp lý.
Vậy vấn đề lý thú đối với chúng ta trong việc sưu tầm khoa học là thử hỏi ai nắm chủ quyền, sự thật là thế nào và vì lý do gì.
Sự kiện chính trị ấy, hiện tượng uy quyền, hiện tượng chính trị ấy, muốn quan sát một cách khách quan và khoa học, không phải là vấn đề dễ làm.
Không phải chỉ muốn, chỉ nói rằng chúng ta nên có một thái độ khách quan rồi đương nhiên làm được. Mỗi người chúng ta được giáo huấn riêng biệt; có những sở thích không giống nhau, người thì nghiêng về chế độ chính trị này, kẻ khác lại thích một quyết định chính trị như thế kia v.v… Những sự kiện ấy không thể nào mà không có ảnh hưởng đến cách làm việc của chúng ta và nhất là ảnh hưởng đến thái độ khách quan của chúng ta trước hiện tượng chính trị.
Khách quan  tức đứng lùi lại để nhìn đối tượng, là chấp nhận – dù đối với những sự việc mật thiết liên quan đến mình – đứng vào vị trí kẻ khác: khách quan tức là không những phán xét theo quan điểm của mình mà còn để ý đến quan điểm của kẻ khác và quyền lợi chung của đoàn thể.
Vậy khó mà nói rằng chúng ta nên có một thái độ hoàn toàn khách quan, nhưng phải quả quyết rằng trong việc sưu tầm, nghiên cứu hiện tượng chính trị, chúng ta nên tiến lần đến một thái độ khách quan, rằng đó là một cố gắng không ngừng.
Mục II: KHÁI NIỆM CHÍNH QUYỀN
Đoạn 1: CHÍNH QUYỀN VÀ CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ
Đoạn 2: Ý NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN
Đoạn 3: NHỮNG HÌNH THỨC CỦA CHÍNH QUYỀN
Quyền lực xã hội mà chúng ta đã tìm thấy trong bất cứ tổ chức nào được thể hiện qua nhiều hình thức, nhất là trong một xã hội với một nền văn minh dựa trên sự phân công và sự chuyên môn chức vụ xã hội.
Thần quyền, giáo quyền, quyền kinh tế v.v…, đó là những thí dụ cụ thể. Vì chính quyền cũng chỉ là một hình thức riêng biệt của quyền lực xã hội ấy.
Chính quyền – hay là quyền lực về chính trị – là một loại quyền lực xã hội riêng biệt trong một tổ chức thường được gọi là cộng đồng chính trị. Cộng đồng chính trị là nền tảng của chính quyền.
Đoạn 1: CHÍNH QUYỀN VÀ CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ
A. Cộng đồng chính trị nhìn dưới khía cạnh lịch sử, là một toàn bộ xã hội gồm một số đông đoàn thể cùng xen lẫn nhau nhưng không hoàn toàn hỗn hợp. Cộng đồng chính trị là một xã hội toàn diện.
Thật vậy, ngoại trừ trường hợp rất ít của một thị tộc cô lập, giữa người với người, có vô số mối tương quan xã hội khác hẳn, và mọi người – vì thế, thuộc về một số đông đoàn thể. Những đoàn thể này, mặc dù khác nhau về vai trò cũng như về cơ cấu, chung qui gồm một số người tương tự. Mỗi đoàn thể không thể tự túc, tự sống riêng biệt vì hoạt động của nó có tính cách bổ sung. Bởi vậy, giữa đoàn thể có rất nhiều mối tương quan – tiêu cực hoặc tích cực – hỗn hợp trong một hệ thống phức tạp.
Tuy nhiên những đoàn thể xã hội không thể tiến triển và ở trong tình trạng cộng đồng sinh hoạt nếu không có trật tự và thống nhất trong sự giao thiệp hỗ tương.
Chính cái xã hội toàn diện đã được cấu tạo bởi lịch sử và giới hạn trong một địa dư nhất định và bao gồm các đoàn thể khác biệt bổ sung nhau, chính cái xã hội toàn diện ấy là cộng đồng chính trị.
Và vì nhu cầu kết hợp đoàn thể và phối hợp hành động hỗ tương mà nẩy sinh ra một quyền lực đặc biệt: đó là chính quyền.
B. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ
Cộng đồng chính trị là một xã hội đặc biệt vì nó là:
  • Một xã hội toàn diện
  • Một xã hội có tổ chức
Cộng đồng chính trị, trước nhất là một xã hội toàn diện, nghĩa là một tổng thể sai biệt, bao gồm số đoàn thể ở trong một tình trạng cộng đồng hoạt động.
Cộng đồng chính trị là sản phẩm của nền văn minh mà sự tiến triển được gắn liền với nguyên tắc phân công và tính cách chuyên môn của chức vụ xã hội.
Là một công dân, tức là tham dự vào cộng đồng chính trị qua sự trung gian của các đoàn thể. Và như chúng ta đã biết con người là một phần tử của nhiều đoàn thể và chính các đoàn thể tạo thành cộng đồng chính trị.
Sự tham gia vào cộng đồng chính trị không có tính cách trực tiếp. Con người chỉ ý thức là một công dân và hành động như thế qua gia đình, mái trường, hiệp hội, chính đảng v.v… Chính những môi giới này đóng một vai trò quan trọng.
Nếu chúng ta không kể những môi giới này, công dân không còn là con người cụ thể, mà trở thành cá nhân trừu tượng, một phần tử phi nhân cách trong quần chúng. Mọi xóa bỏ những đoàn thể trung gian giữa chính quyền và cá nhân luôn luôn là một sự thương tổn con người.
Đó là đặc điểm thứ nhất: cộng đồng chính trị là một tổng hợp phức tạp toàn diện.
C. BA HIỆN TƯỢNG TRONG MỘT XÃ HỘI TOÀN DIỆN
1. Những tương quan xã hội
Tương quan xã hội ở đây là tương quan giữa người và đoàn thể. Tương quan xã hội là những yếu tố có tính cách động lực, những động cơ của mọi biến cải.
Thật vậy, nhất nhất mọi công tác, mọi hành động gì của con người hay của đoàn thể đều thay đổi hoặc cải biến hoàn cảnh của họ. Ngược lại mọi thay đổi cải biến hoàn cảnh khiến họ phải hành động và đặt cho họ nhiều vấn đề mới mẻ.
Bởi vậy, nhìn dưới khía cạnh của một sự tiến triển lịch sử, nền văn minh chung qui chỉ là kết luận của tất cả những hoạt động hỗ tương ấy.
Những tương quan xã hội cấu thành hạ tầng cơ sở của một xã hội.
2. Những đoàn thể xã hội
Thế nào là một đoàn thể xã hội? Đoàn thể không phải là một nhóm người. Sự kiện xã hội của đoàn thể chỉ xuất hiện khi nào những cá nhân – hay những nhóm nhỏ liên kết lại bởi những mối liên hệ có tính cách hỗ tương, bổ sung hoặc tương phản.
Đoàn thể xã hội ở đây cần phải được xem là những mối liên kết, những “nút dây” trong hệ thống phức tạp của mối tương quan xã hội hơn là những cá nhân góp nhặt lại.
Một đoàn thể là tổng hợp của một số tương quan xã hội nhất định giữa con người hoặc giữa những nhóm trong ấy những tương quan tích cực chiếm ưu thế. Những mối tương quan này có thể tạm thời hay vĩnh viễn, tự phát hay có tổ chức. Một đám đông là một đoàn thể, nhưng là một đoàn thể chỉ gồm những tương quan xã hội tạm thời và tự phát. Một hiệp hội, trái lại, là một đoàn thể cấu thành bởi những tương quan xã hội lâu dài và có tổ chức.
3. Những định chế xã hội
Định chế xã hội là tất cả hệ thống về nguyên tắc, nghi lễ, phong tục cũng như truyền thống, hệ thống ấn định việc tổ chức các cơ cấu xã hội.
Định chế xã hội – nói một cách khác, là thượng tầng cấu tạo về mặt ý thức hệ, pháp lý cũng như giáo lý v.v… Sự hiện diện của định chế xã hội là một điều hết sức cần thiết để duy trì một trật tự trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nếu không những cơ cấu sẽ sụp đổ ngay hoặc tan rã lần đi.
Nói tóm lại, định chế là một cơ cấu xã hội được chỉnh đốn (có ngăn nắp, thứ tự) để thi hành một chức vụ nhất định, theo những qui tắc được ấn định, hoàn toàn độc lập với ý chí của nhân viên đoàn thể và với những tương quan xã hội tự phát của họ.
Phân tích như thế cho chúng ta biết rằng định chế là những yếu tố trật tự xã hội trong lúc đó những tương quan xã hội đắc lực và bộc phát – tương quan xã hội mà chúng ta gọi là hạ tầng cơ sở – là những yếu tố tiến bộ xã hội.
Mọi cộng đồng chính trị cần phải có hai yếu tố nói trên vì chính nó là điều kiện sinh tồn. Thật vậy, mọi cộng đồng chính trị phải có một trật tự tối thiểu nếu không tình trạng hỗn loạn sẽ đưa đến tan vỡ. Vì thế mà không thể có cộng đồng chính trị không có định chế. Đồng thời một cộng đồng chính trị không thể sống và tiến triển nếu không có gì thúc đẩy để tiến bộ đến mức tối đa. Cộng đồng chính trị sẽ ở trong tình trạng suy đồi nếu những tương quan xã hội không được kích thích và tự do tối cần của đoàn thể không được đảm bảo.
Đoạn 2: Ý NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN
A. Ý NIỆM CHÍNH QUYỀN
Chính quyền tức là mối tương quan giữa người và người trong một cộng đồng chính trị. Mệnh đề này – vừa nghe không mấy gì quan trọng – thật ra chứa đựng một chiến thắng vẻ vang, quí báu – và đồng thời luôn luôn bị đe dọa – của nền văn minh cận đại. Vì chính quyền đã được quan niệm và hành xử trong bao thế kỷ như mối tương quan giữa một người và những người khác, những người này được xem là dụng cụ hay đồng hóa cùng sự vật.
Vì thế mà chúng ta phải luôn luôn nhắc mãi rằng trong cộng đồng chính trị chỉ có con người chứ không có nô lệ. Nói như thế có nghĩa rằng mối tương quan căn bản của chính quyền chính là mối tương quan giữa người và người.
Hành vi thay đổi con người bởi con người có tính cách chính trị khi nào nó nhằm những mục tiêu nhất định và dùng những phương tiện thích ứng cho mục tiêu ấy. Khác với giáo quyền hay quyền lực về tinh thần, chính quyền được định nghĩa bởi mục tiêu và kỹ thuật của nó.
Quyền lực có tính cách chính trị khi nào quyền lực ấy đưa những con người cùng chung sống trong một lãnh thổ nhất định đến những mục tiêu tập thể có tính cách nhất thời và lịch sử.
Thật vậy:
  • Chính quyền được hành xử trước hết trong một lãnh vực địa dư nhất định. Chúng ta không nên sao lãng yếu tố không gian. Là khung cảnh của chính trị, không gian đồng thời cũng là một trong những phương tiện của chính trị. Vì chính trị, lịch sử và cụ thể – chỉ phát triển bởi không gian và trong không gian.
  • Chính quyền giúp quốc dân bày tỏ và thực hiện một cách sống chung và đặt những phương tiện để quốc dân – với tính cách một đoàn thể quốc gia – đóng vai trò tích cực và hiệu nghiệm trong sự diễn tiến của đấu tranh và hợp tác giữa các quốc gia.
  • Mục tiêu của chính quyền luôn luôn có tính cách lịch sử và nhất thời. Chính trị không bao giờ mưu cầu vĩnh phúc cho con người, mà trái lại chỉ nhằm diễn đạt và thực hiện mục tiêu của tập thể – những mục tiêu thuộc về lịch sử này và ở trên trái đất này.
Những phương tiện của chính quyền
Chính quyền hành động qua sự ảnh hưởng, sự uốn nắn, sự bắt buộc.
  • Ảnh hưởng: Sự thuyết phục hoặc làm duyên. Thuyết phục là hành động của trí khôn chống trí khôn. Làm duyên bao trùm những cái gì có tính cách mỹ thuật trong hoạt động của con người.
  • Sự uốn nắn: Hành động của con người vào con người qua sự trung gian của sự vật. Mỗi người chúng ta đều được đặt vào một vị trí nhất định, chính giữa một khung cảnh nhất định và chịu hướng dẫn, uốn nắn bởi vũ trụ của sự vật và con người, sự vật và con người mà chính quyền có thể ảnh hưởng trực tiếp.
  • Sự cưỡng chế (có tính cách vật chất): không có một chính quyền nào có thể bỏ qua việc cưỡng chế.
B. TÍNH CÁCH TỐI CAO CỦA CHÍNH QUYỀN
Như đã hiểu, nếu chính quyền là một quyền lực xã hội riêng biệt cho cộng đồng chính trị và của cộng đồng chính trị – như đã biết là những xã hội toàn diện khác hẳn những đơn vị xã hội khác – người ta nhận thấy ngay rằng chính quyền trội hẳn, vượt hẳn các quyền lực xã hội khác. Chính quyền điều khiển toàn thể cộng đồng chính trị. Và nhiệm vụ của chính quyền là điều động, phối hợp những mối tương quan của vô số đoàn thể khác biệt trong cộng đồng chính trị, điều động và phối hợp hầu giữ được tình trạng cộng đồng sinh hoạt đồng thời đưa xã hội tiến lên theo nhịp cầu lịch sử.
Nói như thế, nhìn nhận vai trò ấy của chính quyền, tức là khẳng định tính cách tối cao của chính quyền.
Chính quyền có tính cách tối cao tức là chính quyền độc lập với mọi quyền lực xã hội nào ngoài cộng đồng chính trị và chính quyền có ưu thế trên mọi quyền lực xã hội trong cộng đồng chính trị.
Khái niệm chính quyền tối cao đã xuất hiện từ đời Thượng cổ và nhất là trong các lý thuyết chính trị vào khoảng thế kỷ XVI và XVII. Một trong những lý thuyết chính trị nổi tiếng nhất về chính quyền tối cao là của Jean Bodin khi ông định nghĩa “Chính trị là việc điều khiển thẳng thắn nhiều gia đình và những cái gì chung cho các gia đình ấy, với một quyền lực chủ tế.” Và chúng ta có thể nói rằng khái niệm chính quyền chủ tế này đã chế ngự tư tưởng chính trị từ thế kỷ XVIII đến nay.
Tuy nhiên xác nhận tính cách tối cao của chính quyền không có nghĩa là khẳng định rằng chính quyền là tuyệt đối hay độc đoán. Bất cứ quyền lực nào cũng bị giới hạn bởi những phản ứng, kháng cự của hoàn cảnh.
C. VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN: TRẬT TỰ VÀ TIẾN BỘ
Cộng đồng chính trị là một xã hội toàn diện – gồm những yếu tố trật tự xã hội mà chúng ta gọi là định chế và mối tương quan xã hội.
Chính quyền là quyền lực đặc biệt, riêng biệt cho cộng đồng chính trị. Bởi thế vai trò của chính quyền phải là duy trì một trật tự tối thiểu và hướng đến một tiến bộ tối đa.
Thật vậy, trong một cộng đồng chính trị, chính quyền có bổn phận bảo vệ và duy trì những định chế được thiết lập, và nhất là áp dụng luật lệ hầu bảo đảm cho công dân cùng đoàn thể những điều kiện tối thiểu để hoạt động và phát triển. Điều kiện tối thiểu ấy là: một hoàn cảnh xã hội tương đối ổn định, liên tục và có an ninh. Không điều kiện ấy – nghĩa là không một trật tự xã hội thì không thể nào làm việc được. Và như thế thì không thể có một mối tương quan xã hội tích cực, không thể có văn minh được.
Tuy nhiên, cần phải nhận thức ngay là không có một trật tự xã hội nào hoàn toàn và vĩnh viễn, vì nếu định chế tồn tại thì mối tương quan xã hội thay đổi luôn. Trật tự được thiết lập luôn luôn là trật tự của một tình trạng văn minh nhất định. Những tiến bộ của văn minh càng phát triển bao nhiêu, thì những qui tắc cùng cơ cấu xã hội càng không hợp với thực tế của tương quan xã hội bấy nhiêu. Hậu quả là một tình trạng bất quân bình giữa hạ tầng và thượng tầng cơ sở trong một cộng đồng chính trị. Bởi thế cho nên, bất cứ một trật tự nào được thiết lập luôn luôn không ít thì nhiều là một “vô trật tự được thiết lập”.
Định chế cần phải không ngừng được chỉnh đốn, đổi mới hoặc đổi thay. Và chỉ có chính quyền mới đầy đủ phương tiện cần thiết để đảm nhiệm vai trò cải tổ ấy.
Tóm lại, một trật tự xã hội thật sự phải là một công trình làm đi làm lại mãi trong thời gian chứ không phải một dữ kiện sẵn có và như thế tồn tại mãi.
Đoạn 3: NHỮNG HÌNH THỨC CỦA CHÍNH QUYỀN
Lịch sử đã chứng minh rằng – trong bất cứ một cộng đồng chính trị nào cũng có một sự biến chuyển về hình thái của chính quyền. Sự biến chuyển ấy được thể hiện trong giai đoạn dài hay ngắn, và dưới hai hình thức đặc biệt: chính quyền có tính cách cá nhân và chính quyền được định chế hóa.
A. CHÍNH QUYỀN CÓ TÍNH CÁCH CÁ NHÂN
1. Đặc tính
Những cơ cấu hình thức chính quyền này thay đổi tùy cộng đồng chính trị và, trong mỗi cộng đồng chính trị tùy theo nhịp độ lịch sử của nó. Tuy nhiên, người ta có thể quả quyết rằng đặc tính chung của các chính quyền có tính cách cá nhân là: chính quyền chiếm bởi một người hay một nhóm người, được hành xử và xem như một quyền sở hữu. Chính quyền ở đây – thuộc về một cá nhân hay một số người – vì những người này có những đức tính hay đặc quyền mà kẻ khác không có: ví dụ như uy quyền tôn giáo, tài binh đao, quyền sở hữu về đất đai v.v…
Có chính quyền là làm chủ chính quyền, là sử dụng như một vật sở hữu. Ai chiếm được chính quyền có thể sử dụng tùy ý thích không phải trả lời cho ai, không cần phải theo thủ tục nào, qui tắc hay nguyên tắc nào. Vì chính quyền là của riêng tư. Vì con người ở cương vị chính quyền không đại diện cho ai, không được ai đề cử và chính họ cũng nhận thức rằng họ nắm chính quyền không phải để bảo vệ ai hay sử dụng cho ai, mà trái lại cho chính quyền lợi của họ.
2. Hậu quả
Qua những đặc tính vừa kể trên của chính quyền cá nhân, chúng ta nhận ngay rằng chính quyền cá nhân là một chính quyền bất ổn định. Thật vậy, nếu chính quyền có thể lọt vào tay tất cả những ai có những cá tính đặc biệt hay những tước vị thì bất cứ ai cũng có thể đòi hỏi chủ quyền khi họ chứng minh được những đức tính hay tước vị đặc biệt ấy.
Bất cứ ai có một chút lực lượng hay uy tín sẽ đòi hỏi chính quyền và giật lấy chính quyền ở tay người khác. Như thế, hậu quả rất dễ đoán trước và lịch sử cũng đã chứng minh hậu quả ấy: chính quyền trở thành một “vật” để tranh giành nhau. Cướp bóc, cưỡng đoạt để làm giàu, chinh phục quân sự để mở rộng đất đai, khủng bố để chứng tỏ sức mạnh của mình v.v… chung qui đó là những phương tiện chính để chiếm chính quyền. Lịch sử thời Trung cổ đã chứng kiến những cuộc tranh giành ghê tởm ấy.
Vì là một chính quyền bất ổn định, chính quyền cá nhân dĩ nhiên được hành xử một cách bất liên tục. Chính quyền từ tay người này qua người khác tùy theo thời cơ, tùy theo những chiến thắng nhất thời. Và những người liên tiếp đoạt chính quyền sẽ thống trị tùy theo ý riêng vì lẽ giản dị là không một định chế nào bắt buộc họ phải tuân theo những nguyên tắc nhất định.
Tóm lại, bởi những lý do trên, chính quyền cá nhân là một hình thức chính quyền dễ bị ảnh hưởng bởi tính hiếu kỳ hay những xúc động tình cảm của kẻ nắm chính quyền. Những quyết định quan trọng của họ không còn thể hiện được những đòi hỏi của trật tự và tiến bộ mà trái lại chỉ là kết quả của một trò chơi tham vọng, âm mưu hay sự tương phản giữa quyền lợi riêng tư.
Chính quyền cá nhân rất là tai hại cho sự thống nhất sự chặt chẽ của đoàn thể xã hội cùng sự thịnh vượng của cộng đồng chính trị.
Bởi thế cho nên đến một giai đoạn nào đó trong cuộc tiến triển của nền văn minh, hình thức chính quyền cá nhân đã trở thành thiếu sót, không đáp ứng với nhu cầu lịch sử. Sự kiện này, những lý thuyết gia cùng những nhà chính trị đều ý thức và vấn đề đặt ra là tìm phương thức để tổ chức một bộ máy chính quyền tương xứng với sự tiến bộ của nền văn minh. Và những suy luận đã đưa đến việc định chế hóa chính quyền.
B. CHÍNH QUYỀN ĐƯỢC ĐỊNH CHẾ HÓA
1. Nguyên nhân
Để đáp ứng nhu cầu hàng ngày càng gia tăng và hay thay đổi trong những xã hội dân số đông đúc và đất đai rộng lớn, chính quyền cần phải tạo ra những cơ cấu chuyên môn (hành chính, tư pháp, quân đội v.v…) và chỉ qua sự trung gian của những cơ cấu này mới hoàn toàn làm tròn sứ mạng được.
Trong những quốc gia càng văn minh và rộng lớn bao nhiêu, thì những cơ cấu chuyên môn này càng phức tạp và bành trướng bấy nhiêu.
“Bộ máy chính quyền” khổng lồ này, với số nhân viên đông đảo, với những cơ sở vật chất hay kỹ thuật to lớn, không thể điều hành được nếu không có sự ổn định, một sự liên lạc cùng một sự liên tục tối thiểu. Từ nhu cầu lịch sử này, phát sinh ra lý tưởng định chế hóa chính quyền.
2. Đặc tính
Một chính quyền được định chế hóa có nghĩa là hình thức chính quyền đặt trong một khuôn khổ nhất định, dựa trên những nguyên tắc pháp lý để có một tính cách chính đáng.
Chính quyền cá nhân là một chính quyền theo thực tế, tùy thuộc bất cứ ai chiếm được nó. Trái lại, chính quyền được định chế hóa là một chính quyền theo pháp lý. Những người nắm chính quyền này không còn là sản chủ nữa với tự do sử dụng theo ý riêng mình, mà trái lại, phải chiếu theo những định chế sẵn có.
Một chính quyền được định chế hóa dựa trên một sự phân chia giữa uy quyền cá nhân và hành xử uy quyền. Nghĩa là chính quyền được chuyển từ cá nhân của những người thống trị đến một định chế – thường thường là định chế Nhà nước. Chính định chế Nhà nước mới là chủ của chính quyền. Như thế không có nghĩa là cá nhân hay những kẻ thống trị không còn một vai trò quan trọng. Nhưng thay vì họ chiếm chính quyền và hành xử chính quyền như một đặc quyền riêng tư thì họ chiếm chính quyền theo những nguyên tắc được ấn định và hành xử chính quyền với tư cách nhân viên thừa hành bởi một uy quyền tối thượng.
Bởi thế cho nên, danh từ chức vụ thường được dùng để ám chỉ hoạt động của những người cầm quyền.
Với một chính quyền được định chế hóa, từ nay uy quyền của những kẻ cầm quyền không cần phải chứng minh bởi những đặc tính hay biệt tài của cá nhân họ vì họ đại diện và hành xử một uy quyền của một định chế. Và sự liên tục cũng như sự vĩnh cửu của chủ quyền được bảo đảm mặc dù có sự thay đổi liên hệ đến nhân vật nắm quyền.
Tóm lại, quan niệm một chính quyền được định chế hóa, tức là ý thức rằng cộng đồng chính trị là một thực tại và có một giá trị trên hẳn mọi cá nhân, luôn cả cá nhân nắm quyền.
Mục III: QUỐC GIA
Đoạn 1: ĐỊNH NGHĨA
Đoạn 2: NHỮNG ĐẶC TÍNH PHÁP LÝ CỦA QUỐC GIA
Đoạn 3: NHỮNG HÌNH THỂ CỦA QUỐC GIA
Quốc gia là hiện tượng chính trị quan trọng nhất. Vẫn biết quốc gia không phải là tất cả chính trị. Trước khi có quốc gia, đã có rồi một cuộc sinh hoạt chính trị. Hơn nữa, có những hiện tượng chính trị vượt hẳn khung cảnh quốc gia. Tuy nhiên để hiểu chính trị cần phải đi từ khái niệm quốc gia vì quốc gia là trọng tâm cuộc sinh hoạt chính trị.
Đoạn 1: ĐỊNH NGHĨA
  • Khái niệm quốc gia về phương diện xã hội
  • Khái niệm quốc gia về phương diện pháp lý
  • Quốc gia, một chính quyền được định chế hóa
A. VỀ PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI
Dưới mắt sử gia và các nhà xã hội học, quốc gia được cấu tạo bởi 3 yếu tố: một dân tộc, một lãnh thổ và một chính quyền.
Một dân tộc
Danh từ dân tộc ám chỉ một đoàn thể đông đúc bao gồm một số người cùng chung sống với nhau, với một tình đoàn kết chặt chẽ thường xuyên qua những sự kiện thực tế mà chúng ta thường thấy đa số quốc gia: một chủng tộc, một tôn giáo, một ngôn ngữ.
Song song với khía cạnh có thể nói là vật chất của danh từ dân tộc, chúng ta cần phải ý thức khía cạnh tinh thần: danh từ dân tộc gợi cho ta ý niệm một số người đã cùng có một dĩ vãng nghĩa là đã cùng có một lý tưởng và một ý chí muốn sống chung, một cách sống riêng biệt.
Một lãnh thổ
Khi các bạn nghe các chính trị gia hô hào nào là: từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu… hay là trên dải giang sơn gấm vóc này v.v… đó là ám chỉ lãnh thổ. Lãnh thổ là một dải đất có bờ cõi, biên thùy mà trên đó dân tộc đã và đang cùng chung sống. Không thể có một quốc gia mà không có lãnh thổ. Trường hợp điển hình là nước Do Thái. Dân Do Thái sống rải rác trên thế giới và chỉ thiết lập quốc gia sau khi chiếm được mảnh đất ở Palestine.
Một chính thể
Ở đây là một chế độ chính trị tức là hình thức và cơ cấu tổ chức chính quyền. Như chúng ta đã có dịp nói đến khi đề cập hiện tượng chính trị, khác hẳn các đoàn thể xã hội, tổ chức quốc gia có hai đặc tính: tính cách tối cao và bao quát. Chính những đặc tính ấy đưa đến việc phân công rõ rệt giữa nhà cầm quyền với độc quyền sử dụng lực lượng cảnh bị và quân sự mà những người bị trị bắt buộc phải phục tùng uy quyền quốc gia.
Một dân tộc, một lãnh thổ, một chính thể, đó là 3 yếu tố cấu tạo quốc gia. Tuy nhiên, khi phân tích như thế chúng ta không nên quên rằng:
  • Hình thức quốc gia không phải luôn luôn đã có trong lịch sử. Trước quốc gia đã có những đoàn thể xã hội khác, như bộ lạc, thị tộc v.v… và chính hiện giờ cũng có một số người, một số dân lang thang và chưa có một quan niệm về quốc gia rõ rệt. Hơn nữa có thể một ngày nào, hình thức quốc gia sẽ lùi vào lịch sử và sẽ được thay thế bởi những hình thức mới mẻ khác. Dù sao chúng ta luôn luôn ý thức rằng hình thức quốc gia tượng trưng cho một giai đoạn lịch sử.
  • Nhận xét thứ hai là chính ngay trong những quốc gia được thiết lập, có tổ chức, không phải mọi cá nhân đều ý thức sự hiện hữu của quốc gia. Trong nhiều quốc gia vẫn còn những bộ lạc, những miền, những địa phương nơi đó công dân vẫn thiết tha với địa phương, miền của họ và khái niệm Quốc gia chỉ có tính cách quá xa xăm, trừu tượng.
  • Nhận xét thứ ba là hiện tượng Quốc gia – vì là một hiện tượng lịch sử – có thể biến chuyển theo dòng lịch sử. Thật vậy, lịch sử đã chứng minh rằng từ Á sang Âu, đã có những cộng đồng chính trị vượt lên tới trình độ tổ chức của Quốc gia nhưng rồi sau đó Quốc gia chỉ còn là danh từ, mất hẳn thực chất và nhường bước cho sự lấn áp của địa phương.
  • Nhận xét thứ tư mà chúng ta không nên quên là: những yếu tố mà các nhà xã hội đã phân tích trên đây không phải cùng xuất hiện một lúc hay chỉ một lần. Những yếu tố tạo thành quốc gia từ từ xuất hiện và, từng hoàn cảnh lịch sử, yếu tố này thể hiện trước yếu tố kia v.v…
B. VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ
Dưới mắt các luật gia, quốc gia là một pháp nhân công pháp có chủ quyền.
Một pháp nhân công pháp
Khái niệm pháp nhân là một danh từ giả định rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày.
Là một pháp nhân, Quốc gia – mặc dù bao gồm những yếu tố phức tạp, rời rạc – được xem là một người về phương diện pháp lý, có nghĩa vụ cũng như quyền lợi, có tài sản, có ý chí v.v…
Vì là một pháp nhân, nên những người cầm quyền trong quốc gia, khi điều hành nhiệm vụ, nhân danh quốc gia, một pháp nhân.
Quốc gia không những là một pháp nhân mà còn là một pháp nhân công pháp. Hai chữ công pháp ở đây là phân biệt vị trí quốc gia trong một lãnh vực nhất định. Tưởng cũng nên nhắc rằng không phải chỉ có quốc gia là pháp nhân công pháp. Có rất nhiều đoàn thể xã hội – hành chính địa phương hay công sở – cũng có tư cách pháp nhân công pháp. Tuy nhiên chỉ có quốc gia là một pháp nhân công pháp tối cao và tổng quát. Và vì đặc tính này mà quốc gia có chủ quyền.
Chủ quyền.
Quan niệm pháp lý về quốc gia đặt nền tảng trên ý niệm chủ quyền. Thế nào là chủ quyền? Người ta thường phân biệt chủ quyền trong quốc gia và chủ quyền của quốc gia.
Chủ quyền trong quốc gia là đặc tính của cơ quan cao nhất trong hệ thống đối với các cơ quan khác. Mọi cơ quan khác đều tùy thuộc cơ quan cao nhất này (ví dụ trong chế độ dân chủ quốc dân hay quốc hội; nhà vua trong chính thể quân chủ).
Chủ quyền của quốc gia nói lên sự kiện là quốc gia được đặt trên hết mọi đoàn thể xã hội. Bởi vậy, trên bình diện quốc tế, quốc gia là một thực thể hoàn toàn độc lập không thể bị hạn chế bởi một cơ quan quốc tế nào. Quốc tế công pháp chỉ có thể do sự thỏa thuận của các quốc gia và sự tôn trọng thỏa thuận đó tùy thuộc vào thiện chí của các quốc gia.
Theo thuyết chủ quyền quốc gia, thì chỉ có quốc gia mới có chủ quyền. Mọi đoàn thể khác đều phải lệ thuộc ít nhiều quốc gia. Mọi đoàn thể khác đều do quốc gia ban cho tư cách pháp lý và các đặc quyền, bởi thế các đoàn thể đều phải tuân phục uy quyền quốc gia.
Lý thuyết quốc gia chủ tể này do các luật gia từ cuối đời Trung cổ đề xướng và được xem là một phản ứng mãnh liệt chống lại sự phân tán quyền hành dưới thời phong kiến và đồng thời cũng chống lại chủ trương của của Thánh quốc cho rằng quyền bính lan rộng khắp các quốc gia. Và vào thế kỷ 19, lý thuyết quốc gia chủ tể này lại càng thêm sức mạnh với phong trào dân tộc tự quyết và chủ nghĩa quốc gia.
Tóm lại, chủ quyền quốc gia có nghĩa là:
  • Đối nội, quốc gia có toàn quyền ban hành các luật lệ, mệnh lệnh trong công cuộc tổ chức, tóm lại là chính quyền.
  • Đối ngoại, quốc gia hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc một tổ chức, một mệnh lệnh nào bên ngoài. Tất cả những nghĩa vụ cùng những ràng buộc đối với các tổ chức hay quốc gia khác chỉ là những nghĩa vụ tự ý, hay sau một thỏa hiệp tự do chứ không phải bị ép buộc.
Nhận xét:
Định nghĩa pháp lý vừa nêu đã bị chỉ trích rất nhiều bởi những tác giả thuộc hệ phái thực tế.
Về khái niệm pháp nhân công pháp
Họ cho rằng đó chỉ là một giả định vô ích, một không tưởng. Trong một quốc gia chỉ có những cá nhân là những người cầm quyền chứ không có pháp nhân gì cả.
Người ta có thể trả lời rằng đấy là một chỉ trích quá đáng. Vẫn biết rằng khái niệm pháp nhân là một giả định nhưng là một giả định tối cần. Và thật ra trong xã hội phức tạp ngày nay chúng ta hằng ngày sống chung với nhiều giả định. Ngay trong trường hợp cá nhân, xem cá nhân là chủ thể có quyền lợi, nhìn cá nhân với một khía cạnh, xem cá nhân là trọng tâm của một số quyền lợi đáng bênh vực là trừu tượng hóa rồi.
Hơn nữa nếu muốn tránh không dùng khái niệm pháp nhân để chỉ quốc gia thì người ta bắt buộc phải dùng những danh từ khác để ấn định những điều đòi hỏi như quốc gia có tài sản, có nghĩa vụ, quyền hành v.v… Như thế chỉ là một vấn đề thay đổi danh từ.
Về khái niệm chủ quyền
Các học giả lại cho rằng đó là một sai lần nữa vì khái niệm chủ quyền đưa đến hậu quả là:
  • Quốc gia sẽ đứng trên luật pháp.
  • Một trở ngại cho việc thiết lập một trật tự quốc tế hữu hiệu.
Thật ra, chỉ trích trên là hậu quả của một sự lầm lẫn hình thức cá nhân của chính quyền và chủ quyền. Người ta muốn nhấn mạnh tính cách ưu thế của luật pháp trong một chính quyền được định chế hóa. Khi mà người ta cho rằng chỉ có cá nhân mới là những chủ thể có quyền và chủ quyền có nghĩa là ý chí độc đoán của một người hay một nhóm người, người ta quên rằng luật pháp chung qui chỉ là một số danh từ không ý nghĩa nếu không có một chính quyền áp dụng và dù cho có đã áp dụng đúng luật pháp, chính quyền vẫn luôn luôn có tính cách tối cao nếu nó độc lập với một quyền lực xã hội ngoài cộng đồng chính trị và có ưu thế trên mọi quyền lực xã hội trong cộng đồng chính trị.
Còn về việc hợp tác hóa quốc tế và thiết lập một trật tự quốc tế hữu hiệu, nguyên tắc chủ quyền không phải là một trở lực không vượt qua được.
C. QUỐC GIA, MỘT CHÍNH QUYỀN ĐƯỢC ĐỊNH CHẾ HÓA
Những nhận xét trên đây của sử gia cùng luật gia cho chúng ta thấy những yếu tố quan trọng của khái niệm quốc gia. Tuy nhiên, hai quan điểm trên không làm nổi bật tinh túy của quốc gia.
Như chúng ta đã thấy; quan điểm của các nhà xã hội học chỉ là một sự phân tích của một sự kiện đã có và quan điểm của luật gia trừu tượng hóa sự kiện ấy. Quốc gia không phải là một thực thể trừu tượng mà trái lại là một thực tại cụ thể được cấu tạo từ một giai đoạn lịch sử và trong những điều kiện xã hội nhất định. Nói đến quốc gia là phải nghĩ đến chính quyền. Vì quốc gia chỉ là một hình thức tổ chức, có hệ thống của chính quyền. Quốc gia là một chính quyền được định chế hóa. Định chế quốc gia thay thế sức mạnh cùng uy lực bởi uy quyền trong việc hành xử chính quyền.
Chính nhờ định chế hóa chính quyền mà chúng ta mới thấy rõ sự phân biệt giữa một sở hữu tập thể (chủ quyền và cộng đồng dân sự) và việc hành xử chủ quyền ấy (vai trò của chính phủ). Nhà cầm quyền có thể đi, nhưng quốc gia luôn tồn tại.
Thống trị, cầm quyền không có nghĩa là một đặc ân hay đặc quyền mà là một nhiệm vụ bị ràng buộc bởi những nguyên tắc hành động, những thủ tục cùng những nghi thức nhất định.
Trong một quốc gia – hay một chính quyền được định chế hóa – ý chí của nhà cầm quyền chỉ có hiệu lực và uy quyền với điều kiện là ý chí ấy nhân danh quốc gia. Và chính qui tắc của định chế ấn định trong điều kiện nào một quyết định của những người ở chính quyền có thể được xem là chính đáng và có giá trị. Chính phủ chỉ còn là đại diện của chính quyền, trong khi chính cộng đồng chính trị là “tác giả”.
Đoạn 2: NHỮNG ĐẶC TÍNH PHÁP LÝ CỦA QUỐC GIA
Sau khi đã phân tích quốc gia và ý thức tầm quan trọng của khái niệm quốc gia một cách tổng quát, bây giờ chúng ta thử xem đâu là những đặc tính của quốc gia cận đại. Vẫn biết rằng mỗi quốc gia được hình thành trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau và những nét tân thời của quốc gia không phải chỉ một lần và cùng chung xuất hiện. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nêu lên những đặc tính có thể gọi là chung cho cả các quốc gia trên thế giới hiện nay.
A. TÍNH CÁCH THẾ TỤC CỦA QUỐC GIA
Trước hết, tính cách quan trọng nhất của quốc gia cận đại là tính cách thế tục. Quốc gia và luật pháp ngày nay được xem là những hiện tượng riêng biệt, tách rời khỏi tôn giáo.
Tưởng cũng nên nhắc rằng không phải luôn luôn như thế. Trước đây – và hiện giờ này – đã và đang có một chủ thuyết về quốc gia – được gọi là thuyết thần quyền cho rằng chính quyền luôn luôn có một bản chất tôn giáo. Chính Thượng đế đã tạo chính quyền và tấn phong – trong một quốc gia nào đó – một con người hay một triều đại để sử dụng chính quyền. Hoặc có thể cho rằng chính quyền phát sinh từ Thượng đế, những nhà cầm quyền thì do con người đề cử, nhưng luôn luôn dưới sự điều khiển vô hình của Thượng đế.
Thuyết thần quyền vẫn còn tồn tại trong một số lớn những xứ theo đạo Hồi[i].
Tư tưởng thần quyền đã chế ngự tư tưởng chính trị và nền chính trị của hầu hết các quốc gia thời cổ. Và hậu quả tất nhiên là tôn giáo và chính trị hoàn hoàn hợp nhất. Tất cả mọi người đều nhiệt thành tin nơi sự can thiệp trực tiếp của Thần minh hay Thượng đế vào đời sống hàng ngày và chính lòng tin nhiệt thành này làm cho con người tuân theo những giáo điều và phụng sự tôn giáo. Đời sống chính trị dựa vào tôn giáo; tư tưởng thần quyền có một ưu thế rõ rệt.
Với sự tiến triển của nền văn minh vật chất, và nhất là sự xuất hiện những tôn giáo chủ trương xuất thế, vấn đề phân biệt chính trị và tôn giáo được đặt ra. Tôn giáo chủ trương xuất thế: tôn giáo vượt trên khuôn khổ các quốc gia, dân tộc và xem nhân loại như một khối đồng nhất. Mặt khác, nó xem đời sống hiện tại là hư ảo, tạm thời và nhiệm vụ của tôn giáo là cứu rỗi linh hồn. Nó dạy con người tìm sự siêu thoát bằng cách rời bỏ cuộc đời để tu niệm. Do đó có sự phân biệt rõ rệt tôn giáo và chính trị.
Sự xuất hiện các tôn giáo xuất thế đặt một vấn đề: các tôn giáo có một giáo hội đứng ngoài chính quyền. Và mặc dầu phân biệt chính trị và tôn giáo, chính quyền và giáo quyền, nhưng họ chủ trương chính quyền phải phục tùng và phụng sự giáo quyền.
Trong một tình trạng mà xã hội có nhiều tôn giáo khác nhau: các tôn giáo cũ là tôn giáo phụng sự quốc gia trong khi tôn giáo xuất thế lại chủ trương tôn giáo tách rời quốc gia, thì hậu quả khó tránh là va chạm lẫn nhau. Lịch sử đã chứng minh những cuộc chiến tranh tôn giáo cùng những cuộc xung đột tôn giáo đẫm máu và khốc liệt.
Trước viễn ảnh không tốt đẹp ấy, bắt đầu từ thế kỷ 17, nhiều học giả phát động phong trào chủ trương loại tôn giáo ra khỏi trường chính trị. Phong trào ngày càng phát triển và trong đa số quốc gia ngày nay giáo quyền lần lần nhường lãnh vực chính trị lại cho người tục và chỉ lo hướng dẫn tín đồ trên đường đạo đức.
Dù sao, tính cách thế tục của quốc gia – một chiến thắng của nền văn minh cận đại và là hậu quả của việc định chế hóa chính quyền – có nghĩa là việc hành xử chính quyền tùy thuộc vào những nguyên tắc, qui luật hoàn toàn độc lập[ii] với mọi tham chiếu hay chứng minh tôn giáo.
B. TÍNH CÁCH DÂN SỰ CỦA QUỐC GIA
Đặc tính thứ hai là tính cách dân sự. Hai chữ dân sự ở đây đối chiếu với hai chữ quân sự.
Quốc gia có tính cách dân sự có nghĩa là lực lượng quân sự tách rời chính quyền và lệ thuộc chính quyền. Vì rằng quân lực phải luôn luôn là dụng cụ của chính quyền, dù trong thời chiến.
Nói như thế không có nghĩa là quân nhân – nhất là cấp chỉ huy – không thể ở địa vị chính quyền. Tuy nhiên khi ở cương vị chính quyền, họ không còn hành động với tư cách quân nhân mà trái lại với tư cách lãnh đạo chính trị.
C. TÍNH CÁCH TRƯỜNG CỬU CỦA QUỐC GIA
Quốc gia luôn luôn tồn tại, trong khi[iii] nhà cầm quyền có thể thay đổi luôn, đó là hậu quả cuộc định chế hóa chính quyền như chúng ta đã biết. Do đó cần phải phân biệt rõ hai tư cách của những nhà cầm quyền, tính cách riêng tư và tính cách công vụ. Nguyên tắc này đối với chúng ta rất là hợp lý, thông thường và không chối cãi.
Thật vậy, không ai có thể quan niệm rằng Quốc trưởng hay Thủ tướng có thể lầm lẫn trương mục ngân hàng của mình với Ngân khố Quốc gia, hoặc tiếp tục ngự trị ở Dinh Độc Lập khi mãn nhiệm kỳ.
Với sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng nhân cách của quốc gia chỉ là một sự cấu tạo tinh thần của trí não, một sự trừu tượng. Nhưng sự cấu tạo tinh thần này, sự trừu tượng này lại thể hiện một thực tại pháp lý. Một dân tộc được siết chặt qua lịch sử và trong một tổ chức duy trì mặc dù dân tộc ấy có thay đổi luôn, cộng đồng ấy vẫn là đơn vị bất diệt và một sự sinh tồn trường cửu. Từ nhận thức ấy người ta thấy rằng cộng đồng là một chủ thể pháp lý bất biến, tổng hợp những ý chí, quyền lợi và bổn phận của cá nhân, công dân. Nói cách khác, Quốc gia – trên phương diện pháp lý – là một pháp nhân có thể hoạt động mãi mãi trong thời gian với tất cả hậu quả pháp lý có thể được. Hơn nữa, chính pháp nhân này thể hiện tập thể thống nhất và được ủy nhiệm tối thượng mà trước kia do một hay nhóm người thụ hưởng.
Tóm lại, Quốc gia là một sự thuần nhất trong không gian vừa là một sự liên tục trong thời gian. Quốc gia thể hiện một cộng đồng mà công dân nhận thức và cảm kích.
Đoạn 3: NHỮNG HÌNH THỂ CỦA QUỐC GIA
Quan sát sự sinh hoạt chính trị trên thế giới, chúng ta phân biệt hai hình thể riêng biệt của Quốc gia:
A. QUỐC GIA ĐƠN THUẦN
Thế nào là một Quốc gia đơn thuần? Chúng ta có thể định nghĩa một cách tiêu cực rằng Quốc gia đơn thuần là một Quốc gia không phải chia ra nhiều Tiểu bang. Trong lúc Quốc gia Liên bang là “Quốc gia của những Quốc gia”, Quốc gia đơn thuần là một Quốc gia.
Hình thể Quốc gia đơn thuần là hình thể đơn giản nhất. Trong một Quốc gia đơn thuần, người ta chỉ thấy có những đơn vị hành chính như tỉnh, quận, xã v.v… Những đơn vị hành chính này có thể có tư cách pháp nhân với những hậu quả như có thể có tài sản riêng, sự tự trị trong việc quản trị v.v… Nhưng đó chỉ là một hình thức tổ chức hành chính nhằm thực hiện dễ dàng việc thống trị của nhà cầm quyền trung ương.
Những tập thể địa phương trong một Quốc gia đơn thuần – dù có tự trị – sẽ là những tập thể hành chính nghĩa là chỉ có thẩm quyền về hành chính, luôn luôn bị chi phối bởi luật pháp quốc gia và chịu sự kiểm soát hành chính của cơ quan trung ương.
B. QUỐC GIA LIÊN BANG
Quốc gia Liên Bang là một Quốc gia của những Quốc gia, nghĩa là bao gồm nhiều Quốc gia nhỏ gọi là Tiểu bang. Chế độ Liên bang có thể định nghĩa là một cơ cấu chính quyền trong ấy quyền lực được phân chia giữa chính quyền trung ương và các đơn vị địa phương. Chế độ Liên bang có những đặc điểm sau đây:
1. Trên phương diện quốc tế, các Tiểu bang không có chủ quyền đối ngoại, nghĩa là không có một Tiểu bang nào có quyền cử hoặc có đại diện ngoại giao, có quyền ký kết hiệp ước quốc tế. Giữa các Tiểu bang với nhau, cũng không có sự bang giao được xem như bang giao quốc tế. Tóm lại, chính quốc gia Liên bang mới được xem là một đơn vị trong cộng đồng quốc tế và đại diện cho toàn thể Tiểu bang trong mọi liên lạc ngoại giao.
2. Trên phương diện quốc nội, giữa Quốc gia Liên bang và các Tiểu bang có một sự phân chia thẩm quyền và các Tiểu bang  – vì là những Quốc gia – có một sự tự trị về chính trị lẫn hành chính khá quan trọng.
Sự phân chia thẩm quyền giữa Quốc gia Liên bang và Tiểu bang thường được ấn định trong Hiến pháp Liên bang. Nguyên tắc là tất cả những vấn đề nào mà Hiến pháp không ghi rằng thuộc thẩm quyền Liên bang đều thuộc thẩm quyền của Tiểu bang. Và thẩm quyền các Tiểu bang rất nhiều và rộng rãi. Mỗi tiểu bang có riêng Hiến pháp, Quốc hội và Tòa án. Ngành Hành pháp và các viên chức hành chính đều được giao phó cho đại diện dân cử của Tiểu bang. Tóm lại tổ chức chính trị của một Tiểu bang đúng như một Quốc gia. Tuy nhiên, mỗi Tiểu bang – vì chỉ là một Quốc gia trong một Quốc gia lớn hơn – phải chịu sự chi phối của chính quyền Liên bang. Bởi vậy, thường thường trong một Quốc gia Liên bang, người ta nhìn thấy có hai hệ thống pháp lý cùng áp dụng trong một không gian và chung cho một số người.
Ví dụ bất cứ một công dân Hoa Kỳ nào, bất cứ một lãnh thổ Hoa Kỳ nào cũng bị chi phối bởi Hiến pháp, pháp luật, hành chính, công lý của Quốc gia Liên bang và đồng thời bởi Hiến pháp, pháp luật hành chính, công lý của chính Tiểu bang.
3. Với những nhận xét trên chúng ta thấy rằng Quốc gia Liên bang là một hình thể Quốc gia dung hòa hai hệ thống giá trị: một giá trị địa phương và một giá trị trung ương. Giá trị trung ương tức là tính cách thống nhất của Quốc gia Liên bang được biểu dương bởi cơ quan trung ương, chung cho tất cả Tiểu bang và trên tất cả Tiểu bang. Đặc biệt nhất là về mặt đối ngoại. Giá trị địa phương tức là sự tự trị về nếp sống tinh thần cũng như về phương cách tổ chức của mỗi Tiểu bang.
4. Giải pháp Liên bang thường là một phương tiện để kết hợp nhiều dân tộc không cùng chủng tộc, không cùng ngôn ngữ thành một đơn vị, một Quốc gia nhưng đồng thời vẫn để cho các dân tộc ấy giữ được các đặc tính của họ. Đó là trường hợp của Thụy Sỹ. Giải pháp Liên bang còn là phương tiện thực hiện một nền dân chủ hữu hiệu trong những cộng đồng chính trị quá to lớn, dân cư đông đúc. Thật vậy, trong một quốc gia với hàng trăm triệu dân, quyền bầu cử, sự tham gia chính trị của công dân trở nên quá trừu tượng. Thỉnh thoảng mới có một cuộc bầu cử, nhà cầm quyền trung ương lại đóng đô xa, dân ít biết đến. Trái lại, trong một Quốc gia Liên bang, các Tiểu bang vẫn còn một sự tự trị chính trị và hành chính, người dân có dịp trực tiếp sử dụng quyền công dân và tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị.
(Còn tiếp)
Nguồn: Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học. In lần thứ hai. Sài Gòn 1969. Bản điện tử do pro&contra thực hiện.

[i] Nguyên văn: “đạo Hồi Quốc” (p&c)
[ii] Nguyên văn: “toàn độc lập” (p&c)
[iii] Nguyên văn: “trong lúc ấy” (p&c)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code