Showing posts with label Luật so sánh. Show all posts
Showing posts with label Luật so sánh. Show all posts

Sunday, January 12, 2014

LUẬT SO SÁNH VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ – ĐHL HÀ NỘI

Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển của mình, luật so sánh có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển của các hệ thống pháp luật trên thế giới. Ở Việt Nam, luật so sánh cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng. Bài viết này xin đề cập những ứng dụng chủ yếu của luật so sánh trong quá trình xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam – lĩnh vực pháp luật được xem là chịu nhiều ảnh hưởng nhất của xu hướng tự do hoá và hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Vai trò của luật so sánh đối với quá trình xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, vai trò của luật so sánh trong lĩnh vực lập pháp nói chung và trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ngân hàng nói riêng được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, luật so sánh cho thấy sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật ngân hàng Việt Nam với pháp luật ngân hàng của các quốc gia khác trên thế giới và pháp luật ngân hàng quốc tế. Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, trước sức ép của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lí cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, các nhà soạn luật Việt Nam buộc phải tiếp cận nhiều hơn với pháp luật nước ngoài (đặc biệt là pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển) và bước đầu sử dụng những kĩ năng mới mẻ của luật so sánh để tìm ra con đường phát triển thích hợp cho nền pháp chế Việt Nam. Với các lợi thế sẵn có của mình, luật so sánh không chỉ là phương tiện hữu ích để các học giả nghiên cứu pháp luật nước ngoài, mà còn là cẩm nang hữu dụng của các nhà soạn luật trong việc xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng.

Thứ hai, luật so sánh cho ta thấy những nguyên nhân và cơ sở dẫn đến sự tương đồng hay khác biệt giữa pháp luật ngân hàng Việt Nam so với pháp luật ngân hàng của các quốc gia khác trên thế giới. Đây có lẽ là vai trò quan trọng nhất của luật so sánh trong “địa hạt” xã hội học pháp luật vì thông qua việc nghiên cứu các căn nguyên dẫn đến sự tương đồng hay khác biệt giữa các trường phái pháp luật, chúng ta mới có dịp tìm hiểu sâu hơn về lịch sử văn minh nhân loại, về sự đa dạng hoá của các nền kinh tế, các thể chế chính trị và các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, với tính cách là những yếu tố chủ yếu tạo nên sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật quốc gia cũng như giữa các dòng họ pháp luật đương đại. Việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của các dòng họ pháp luật, các hệ thống pháp luật quốc gia với những nét đặc thù riêng cho thấy rằng việc nhập khẩu một cách nguyên xi, máy móc các quy định pháp luật của nước khác vào hoàn cảnh của nước mình là điều nên cân nhắc và cần được nghiên cứu kĩ trước khi thực hiện.

Dựa trên việc đánh giá những nguyên nhân và cơ sở dẫn đến sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật ngân hàng của các quốc gia, có lẽ nội dung quan trọng nhất của việc ứng dụng luật so sánh trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ngân hàng chính là tìm kiếm những quy định hợp lí trong pháp luật ngân hàng của các nước cũng như pháp luật ngân hàng quốc tế, từ đó xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam theo hướng tiệm cận với chuẩn mực tiên tiến của pháp luật ngân hàng ở các nước phát triển, phù hợp với thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng.

Thứ ba, luật so sánh trang bị cho những người soạn luật cách tư duy mới về một nền pháp chế hiện đại và cả kĩ thuật lập pháp tiên tiến. Tư duy và kĩ thuật này cần được ứng dụng trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ngân hàng ở nước ta mà kết quả phải là sự tiếp nhận có chọn lọc các quy tắc pháp lí tiến bộ của pháp luật nước ngoài. Chẳng hạn, quy định về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của ngân hàng trung ương, về các loại hình tổ chức tín dụng và cơ chế hoạt động kinh doanh của chúng trong nền kinh tế thị trường. Thực tế cho thấy, hầu hết các quy định cơ bản của pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ pháp luật ngân hàng ở một số nước theo truyền thống án lệ cũng như một số nước theo truyền thống luật thành văn trong đó có Trung Quốc.

Thứ tư, vai trò của luật so sánh đối với quá trình lập pháp ngân hàng còn được thể hiện ở chỗ nó giúp cho các luật gia trong nước làm cho pháp luật của nước mình tương thích với pháp luật quốc tế. Kĩ thuật so sánh luật được các nhà soạn thảo pháp luật sử dụng như một phương tiện trong quá trình xây dựng pháp luật quốc gia, nhằm đáp ứng nhu cầu hài hoà và thống nhất hoá pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chính thức tham gia vào sân chơi toàn cầu, việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế cũng như nắm vững các tập quán, thông lệ quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng để hành xử hợp lí là yêu cầu bức thiết. Nhu cầu này dường như chỉ có thể đáp ứng tốt nhất thông qua con đường ứng dụng luật so sánh.

2. Những yêu cầu cơ bản đặt ra trong quá trình sử dụng luật so sánh vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng

Hiển nhiên, muốn ứng dụng luật so sánh vào việc xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng thì trước hết cần xác định những yêu cầu cơ bản đặt ra đối với hoạt động này. Từ đó, người soạn luật sẽ tìm ra được mô hình lí tưởng, thích hợp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng theo hướng đảm bảo sự hài hòa, thống nhất và tương thích với pháp luật ngân hàng của các nước và pháp luật ngân hàng quốc tế.

Thực tiễn hoạt động xây dựng pháp luật ngân hàng cho thấy để có được sự thành công trong quá trình sử dụng luật so sánh vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng, người soạn luật cần lưu ý các yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là, cần so sánh các quy định pháp lí về ngân hàng trung ương trong pháp luật ngân hàng của các nước, trong đó chú trọng đến nhóm nước phát triển và nhóm nước có hoàn cảnh, điều kiện tương đồng với Việt Nam. Những quy định này thường được thể hiện trong một đạo luật riêng về ngân hàng trung ương của các quốc gia, với nội dung quy định về mô hình tổ chức, cách thức quản lí và điều hành cũng như cơ chế hoạt động của ngân hàng trung ương. Việc so sánh các quy định này không ngoài mục đích tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về địa vị pháp lí của ngân hàng trung ương trong các hệ thống pháp luật trên thế giới, lí giải căn nguyên của sự tương đồng và khác biệt đó cũng như làm rõ ưu điểm và nhược điểm của mỗi mô hình ngân hàng trung ương trên thế giới. Công việc này sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc ứng dụng luật so sánh trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc thiết kế địa vị pháp lí của ngân hàng trung ương sao cho phù hợp với hoàn cảnh của một nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường.

Thứ hai, so sánh các quy định pháp lí về tổ chức tín dụng (các định chế tài chính trung gian) trong pháp luật ngân hàng của các nước. Đây là một nội dung cơ bản trong cấu trúc luật ngân hàng ở bất kì quốc gia nào trên thế giới, bởi lẽ hoạt động ngân hàng luôn được xem là vấn đề trọng tâm trong phạm vi điều chỉnh của luật ngân hàng. Tuỳ thuộc vào mục tiêu ứng dụng của luật so sánh, việc so sánh pháp luật ngân hàng có thể tập trung vào các vấn đề cơ bản như: Xác định giới hạn và cách thức can thiệp của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường; các loại hình tổ chức tín dụng và những hình thức hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó; cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong quan hệ nhận tiền gửi và cơ chế bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng trong quan hệ cấp tín dụng với khách hàng vay… Việc so sánh pháp luật cần đảm bảo tính toàn diện (so sánh giữa các hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới) nhằm có được những kết luận khách quan về bản chất của các mô hình pháp luật đồng thời phải lưu ý đến tính đặc thù của pháp luật ngân hàng ở các nước đang phát triển và nhóm nước có điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – chính trị – xã hội tương đồng với Việt Nam.

3. Các ứng dụng chủ yếu của luật so sánh trong quá trình xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam

Trong vòng khoảng hơn 10 năm trở lại đây, pháp luật ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến dài rất đáng kể. Bằng chứng cho nhận định này là sự ra đời của hai pháp lệnh ngân hàng và gần đây là hai đạo luật về ngân hàng. Dù không được chính thức tuyên bố nhưng không thể phủ nhận vai trò của luật so sánh đối với tiến trình xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua.

Thật vậy, trước năm 1990, về cơ bản hệ thống ngân hàng Việt Nam tồn tại theo mô hình một cấp, gắn với những đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa. Theo mô hình này, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là pháp nhân duy nhất hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, vừa với tư cách là cơ quan quản lí nhà nước về ngân hàng, vừa tiến hành các hoạt động của ngân hàng trung ương trên lãnh thổ Việt Nam đồng thời cũng kiêm luôn chức năng của một ngân hàng thương mại, tức là huy động vốn và cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế tập thể. Mô hình này không có sự tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lí nhà nước về ngân hàng của ngân hàng nhà nước với chức năng kinh doanh ngân hàng của ngân hàng thương mại. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn này không hoạt động theo đúng nghĩa của một ngân hàng trung ương, cũng không thực sự là một ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh ngân hàng chuyên nghiệp.

Kể từ khi nền kinh tế Việt Nam chính thức được chuyển đổi theo hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, việc tìm hiểu, học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài trong nhiều lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng đã dẫn tới hệ quả là sự ra đời của hai pháp lệnh về ngân hàng (bao gồm Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ti tài chính). Đây chính là kết quả ban đầu của việc ứng dụng luật so sánh trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam. Với cơ sở pháp lí đầu tiên là hai pháp lệnh về ngân hàng và gần đây nhất là hai đạo luật ngân hàng, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã có những thay đổi rất cơ bản về tổ chức và hoạt động, so với giai đoạn trước đó. Dựa trên nền tảng pháp lí trực tiếp là các văn bản quy phạm pháp luật này, hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam đã chính thức được hình thành, bao gồm hai bộ phận là ngân hàng trung ương và ngân hàng trung gian, với sự phân tách rạch ròi giữa chức năng “ngân hàng trung ương” của ngân hàng Nhà nước Việt Nam với chức năng “kinh doanh ngân hàng” của các ngân hàng trung gian. Trên thực tế, hệ thống này được thiết lập dựa vào việc tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh của pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng. Trong quá trình soạn thảo các pháp lệnh và các đạo luật về ngân hàng, nhiều tài liệu pháp luật nước ngoài đã được thu thập và dịch sang tiếng Việt để thuận tiện cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh và đối chiếu, với mục tiêu học hỏi và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam.

Dựa vào các kết quả so sánh luật, nhiều quy định của pháp luật nước ngoài đã được du nhập vào Việt Nam và được thể hiện rõ nét trong hai pháp lệnh về ngân hàng ban hành năm 1990, đặc biệt là hai đạo luật về ngân hàng ban hành năm 1997 (bao gồm Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng). Đánh giá khái quát, có thể hình dung việc ứng dụng luật so sánh trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng ở Việt Nam được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

- Về địa vị pháp lí của ngân hàng trung ương

Trên thế giới, ngoài một số nước quy định ngân hàng trung ương là cơ quan độc lập với chính phủ và chỉ trực thuộc quốc hội như Hoa Kì, Đức, Hungary, Úc… thì các đạo luật về ngân hàng trung ương của một số nước khác như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Uzbekistan…() lại quy định ngân hàng trung ương là cơ quan của chính phủ và thuộc sở hữu của nhà nước. Chẳng hạn, Luật về Ngân hàng nhân dân Trung Quốc quy định: “Ngân hàng nhân dân Trung Quốc là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Dưới sự lãnh đạo của Quốc vụ viện, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc thiết lập và thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện thanh tra và kiểm soát toàn bộ hoạt động ngân hàng” (Điều 2); “Toàn bộ vốn của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc do nhà nước cấp và thuộc sở hữu của nhà nước” (Điều 18). Ngoài ra, những quy định tại các điều 5, 6, 7, 49 của đạo luật về Ngân hàng Hàn Quốc cũng ngụ ý rằng cơ quan này trực thuộc chính phủ Hàn Quốc và thuộc sở hữu nhà nước.

Dựa trên kết quả so sánh đối chiếu mô hình ngân hàng trung ương theo pháp luật của một số nước có hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam (ví dụ: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Uzbekistan) và xem xét hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, các nhà soạn luật đã quyết định lựa chọn mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ và do nhà nước sở hữu. Sự lựa chọn này được thể hiện tại Điều 1 Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và sau đó được quy định trong Điều 1 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam.() Đây là ví dụ điển hình về việc sử dụng kết quả so sánh luật vào quá trình xây dựng pháp luật ngân hàng Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.

- Về cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương

Việc thiết kế mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương như thế nào là vấn đề rất được quan tâm ở các nước. Theo thông lệ, hầu hết các nước đều thiết kế ngân hàng trung ương phỏng theo mô hình tổ chức của một doanh nghiệp, dù rằng trong lịch sử, nó luôn tồn tại như là một định chế hỗn hợp của hai tính chất: Doanh nghiệp và chính quyền.() Theo mô hình này, cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương bao gồm cơ quan quản trị, cơ quan điều hành tại trụ sở chính và có hệ thống chi nhánh, văn phòng đại diện, sở giao dịch tại các nơi khác ở trong nước và ở nước ngoài. Đặc biệt, ở ngân hàng trung ương các nước thường tồn tại một cơ quan giữ vai trò đặc biệt, gọi là hội đồng tiền tệ (Hàn Quốc), hội đồng chính sách tiền tệ (Trung Quốc, Pháp), hội đồng chính sách (Nhật Bản), hội đồng các giám đốc (Đài Loan) hoặc hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ (Hoa Kì)()… Cơ quan này có thể được thiết kế nằm trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương (ví dụ ở Pháp) hoặc là một cơ quan độc lập ngoài bộ máy tổ chức của ngân hàng trung ương (ví dụ ở Trung Quốc, Hàn Quốc…).() Trong quá trình soạn thảo hai pháp lệnh ngân hàng và gần đây là hai đạo luật ngân hàng, hầu hết các quy định nêu trên về mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương ở các nước đã được các nhà soạn luật nghiên cứu, so sánh và tìm cách đưa vào pháp luật Việt Nam, xuất phát từ sự tương đồng về điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam với một số nước khác trong khu vực châu Á. Sự du nhập các quy định này về cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương trong quá trình xây dựng pháp luật ngân hàng ở Việt Nam đã có những thay đổi theo thời gian, được thể hiện tại các điều 4, 5 Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước và sau này là Điều 4 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam.()

- Về mục tiêu hoạt động của ngân hàng trung ương

Theo các đạo luật về ngân hàng trung ương của các nước, cơ quan đặc biệt này được thành lập và hoạt động vì mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, ổn định giá trị đồng tiền trong nước và kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế. Ví dụ: Trong khi Luật ngân hàng Liên bang Đức quy định nhiệm vụ của Ngân hàng Liên bang Đức là: “Điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế với mục đích ổn định tiền tệ trong đối nội và đối ngoại…” (Tiết 3) thì Luật Ngân hàng nhân dân Trung Hoa lại quy định: “Mục tiêu của chính sách tiền tệ là duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” (Điều 3). Còn đạo luật Ngân hàng Hàn Quốc thì quy định “Mục tiêu hàng đầu của Ngân hàng Hàn Quốc là: 1) Duy trì sự ổn định giá trị của đồng tiền để phục vụ cho sự phát triển kinh tế của quốc gia, và 2) Thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế và tiếp tục sử dụng một cách hữu hiệu các tài nguyên của quốc gia thông qua hoạt động an toàn và thực hiện chức năng của hệ thống tín dụng và ngân hàng quốc gia” (Điều 3).

Xuất phát từ nhận thức cho rằng các mục tiêu nêu trên là quy định chung trong pháp luật ngân hàng của các nước, các nhà làm luật Việt Nam đã lựa chọn giải pháp xây dựng những quy định tương tự về mục tiêu hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Mục tiêu này bước đầu được ghi nhận trong Điều 1 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và sau đó được quy định rõ ràng hơn tại khoản 2 Điều 1 Luật Ngân hàng nhà nước.()

- Về hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương

Có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các ngân hàng trung ương ở các nước đều thực hiện những hoạt động nghiệp vụ giống nhau, đó là nghiệp vụ phát hành tiền và quản lí, điều tiết lưu thông tiền tệ; nghiệp vụ tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng đối với hệ thống tổ chức tín dụng và chính phủ; nghiệp vụ mua bán ngoại hối và quản lí dự trữ ngoại hối vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia. Trên thực tế, các hoạt động nghiệp vụ này cũng được quy định tương tự trong pháp luật ngân hàng Việt Nam. Đó là một trong những bằng chứng sinh động chứng minh quá trình hội nhập nhanh chóng của pháp luật ngân hàng Việt Nam với pháp luật ngân hàng của nước ngoài và pháp luật ngân hàng quốc tế, dựa trên các kết quả so sánh luật.

- Về địa vị pháp lí của các tổ chức tín dụng

Việc tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của nước ngoài luôn được xem là nhu cầu cần thiết đối với mọi quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Kể từ khi khởi động quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường, các hoạt động so sánh luật trong lĩnh vực ngân hàng đã chính thức được tiến hành tại Việt Nam. Một trong những thành quả của quá trình này chính là sự khái quát hóa về các mô hình ngân hàng đa năng theo kiểu Đức, kiểu Anh hay kiểu Nhật Bản và Hoa Kì.() Kết quả này là cơ sở khoa học để các nhà làm luật Việt Nam lựa chọn một mô hình thích hợp về địa vị pháp lí của các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Theo các quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng, địa vị pháp lí của tổ chức tín dụng tại Việt Nam được thiết kế theo hướng kết hợp giữa mô hình ngân hàng đa năng theo kiểu Anh và kiểu Đức. Những quy định này cho phép mỗi loại hình tổ chức tín dụng được quyền thực hiện các hoạt động ngân hàng trong một phạm vi nhất định, tùy thuộc vào bản chất của tổ chức tín dụng đó là ngân hàng hay không phải ngân hàng. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng này cũng được phép góp cổ phần vào các doanh nghiệp khác bằng vốn tự có của mình với một giới hạn nhất định; được phép tham gia vào các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm thông qua việc thành lập các công ti con trực thuộc có tư cách pháp nhân. Đây chính là sự tiếp nhận có chủ đích các mô hình ngân hàng đa năng theo pháp luật của nước ngoài vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Thực tiễn cho thấy sự tiếp nhận các mô hình này tỏ ra khá thích hợp với xu hướng phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

- Về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng

Ngoài các quy định về việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng và những quy định về cơ cấu tổ chức nói chung của một tổ chức tín dụng, luật ngân hàng của các nước đều tìm cách quy định rõ các hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp mà một tổ chức tín dụng được phép thực hiện. Các hoạt động này bao gồm việc huy động vốn dưới các hình thức nhận tiền gửi kí thác từ công chúng, phát hành các giấy tờ có giá ở trong nước hoặc nước ngoài, nhận các khoản tín dụng ngắn hạn từ ngân hàng trung ương và sử dụng các nguồn vốn huy động này để cấp tín dụng cho khách hàng đồng thời cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Có thể dễ dàng tìm thấy những quy định này trong Luật ngân hàng thương mại Trung Quốc (Điều 2 và Điều 3); Luật về ngành tín dụng Đức (Khoản 1 Tiết 1); Luật ngân hàng Ba Lan năm 1989 (Điều 11.1); Luật các tổ chức tài chính và ngân hàng năm 1989 – Đạo Luật 372 của Malaysia (khoản 2 phần mở đầu).()

Tương tự như luật ngân hàng của các nước, những hoạt động chuyên nghiệp này cũng được ghi nhận khá đầy đủ trong Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam.() Những quy định này được xây dựng từ ý tưởng du nhập hoặc vay mượn các quy định tiên tiến của nước ngoài, nhất là các nước phát triển như Đức, Pháp, Hoa Kì, Nhật Bản hoặc các nước có điều kiện, hoàn cảnh tương tự Việt Nam như Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia…()

Tóm lại, trong gần hai thập kỉ xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam, nhiều quy định pháp luật tiên tiến của nước ngoài đã được du nhập vào Việt Nam nhờ việc sử dụng hữu hiệu luật so sánh. Ngoài việc tiếp thu có chọn lọc các quy định hợp lí của pháp luật nước ngoài, pháp luật ngân hàng Việt Nam cũng thừa nhận sự tồn tại có tính cách tạm thời của một số quy định đặc thù trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi, chẳng hạn như việc duy trì vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại nhà nước trong một giai đoạn nhất định; quy định chức năng quản lí nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với hệ thống ngân hàng…

Sau gần hai mươi năm xây dựng các thiết chế và khung khổ pháp lí cho một nền kinh tế thị trường từ nền tảng của một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ, pháp luật ngân hàng Việt Nam dù chưa được hoàn thiện nhưng sự thừa nhận các nguyên tắc của thị trường trong việc thiết kế các quy định về mô hình tổ chức và hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương cũng như các định chế tài chính trung gian ở Việt Nam, có thể xem như là một bước tiến lớn trong tư duy pháp lí của các nhà soạn luật. Điều này phản ánh rõ nét kết quả ứng dụng luật so sánh vào lĩnh vực xây dựng pháp luật ngân hàng ở nước ta trong hơn thập kỉ vừa qua. Những thành tựu này sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc tiếp tục ứng dụng luật so sánh vào quá trình hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới./.

([1]).Xem: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật ngân hàng trung ương một số nước (tài liệu hội thảo), Hà Nội 1996.
([2]).Xem: Điều 1 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam và Điều 1 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam.
([3]).Xem: Lê Vinh Danh, “Tiền và hoạt động ngân hàng”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1997, tr. 81.
([4]).Xem: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật ngân hàng trung ương một số nước (tài liệu hội thảo), Hà Nội 1996.
([5]).Xem: – Lê Vinh Danh, “Tiền và hoạt động ngân hàng”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1997, tr. 90, 91, 92, 93, 94, 95.
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật ngân hàng trung ương một số nước (tài liệu hội thảo), Hà Nội 1996.
([6]). Theo quy định trước đây của Pháp lệnh ngân hàng nhà nước, cơ quan tư vấn cho Chính phủ về chính sách tiền tệ ở Việt Nam chính là Hội đồng quản trị, được thiết kế nằm trong bộ máy tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, với tư cách là cơ quan giữ quyền quản trị ngân hàng nhà nước (quy định này có lẽ được du nhập từ mô hình Ngân hàng trung ương của Ba Lan, Hungari, Malaysia…). Tuy nhiên, khi soạn thảo Luật ngân hàng nhà nước, nhà làm luật đã có những thay đổi quan trọng về cơ quan này trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của nước ngoài cho phù hợp với tiến trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Theo quy định tại Điều 4 Luật ngân hàng nhà nước, việc quản trị ngân hàng nhà nước được chuyển sang cho Thống đốc và nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ về chính sách tiền tệ được chuyển giao cho Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ, được thiết kế độc lập với bộ máy tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (quy định này được xây dựng dựa trên việc tiếp nhận mô hình tổ chức của Ngân hàng trung ương ở Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước khác ở châu Á).
([7]). Điều 1 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước chỉ ghi nhận mục tiêu chính trong hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam là “ổn định giá trị đồng tiền”. Còn khoản 2 Điều 1 Luật ngân hàng nhà nước lại có những quy định mở rộng và rõ ràng hơn: “Hoạt động của ngân hàng nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
([8]). Theo mô hình ngân hàng đa năng kiểu Đức, các ngân hàng thương mại được phép cung ứng toàn bộ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm, thậm chí còn được phép sở hữu cổ phần trong các doanh nghiệp khác. Đối với mô hình ngân hàng đa năng theo kiểu Anh, ngoài việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng thương mại cũng tham gia vào lĩnh vực chứng khoán nhưng phải thông qua các công ti con có tư cách pháp nhân đồng thời, các ngân hàng này cũng ít nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp thương mại khác và hầu như không có sự kết hợp giữa hoạt động ngân hàng với hoạt động bảo hiểm. Còn đối với mô hình ngân hàng đa năng theo kiểu Nhật Bản và Hoa Kì, điểm khác biệt lớn nhất so với hai mô hình kia chính là sự tách bạch rõ ràng giữa hai ngành công nghiệp ngân hàng và công nghiệp chứng khoán, cùng với khả năng nắm giữ hạn chế hoặc bị cấm nắm giữ các cổ phần trong các doanh nghiệp thương mại. Tuy nhiên, gần đây sự khác biệt này đang có xu hướng mờ nhạt dần bởi sự hài hòa hóa và thống nhất hóa giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tài liệu tham khảo mô hình ngân hàng tại các nước phát triển.
([9]).Xem: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng một số nước”, (tài liệu hội thảo), Hà Nội 1996.
([10]).Xem: Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004).
([11]).Xem: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng một số nước”, (tài liệu hội thảo), Hà Nội 1996.
SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 4/2007

Thursday, August 8, 2013

LUẬT 12 BẢNG


Giới thiệu và dịch sang Tiếng Việt: Nguyễn Minh Tuấn

Luật 12 bảng (Lex duodecim tabularum) ra đời ở thời kỳ đầu của nền cộng hoà La Mã (hay còn gọi là sơ kỳ của nền cộng hòa). Bộ luật này được khắc trên 12 bảng đồng đặt ở quảng trường La Mã, nên Bộ luật này được gọi tắt là "Luật 12 bảng". Do phong trào đấu tranh của bình dân và chủ nô công thương chống lại sự vận dụng tuỳ tiện tập quán trong tư pháp vì lợi ích riêng, năm 450 TCN, sau một năm làm việc, Uỷ ban biên soạn pháp luật gồm 5 quí tộc và 5 bình dân đã soạn Bộ luật này. Ủy ban đã thống nhất: ”Một đạo luật được ban hành thì phải được áp dụng chung với tất cả mọi người, chứ không phải một cá nhân cụ thể nào”. Đây là tư tưởng tiến bộ về sự bình đẳng pháp luật (aequum ius) từ các tác giả của Luật 12 bảng. (Xem: Stephan Meder, Rechts-geschichte, 2. Auflage, 2005, S. 13; Mathias Smoeckel, Stefan Stolte, Examinatorium Rechts-geschichte, 1. Auflage, 2008, S. 8f.). Nghiên cứu luật 12 bảng, chúng ta sẽ phần nào hiểu được đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người La Mã cổ đại. Hình thức và nội dung của bản pháp điển hóa này có ảnh hưởng từ pháp luật Hy Lạp cổ đại. Trên phương diện pháp lý, vượt ra khỏi tính giai cấp, Luật 12 bảng có nhiều giá trị, đặc biệt nhất là đã tạo dựng được nền tảng dân luật cổ (alten ius civile). Về nội dung, Luật 12 bảng chứa đựng nhiều qui phạm tiến bộ về tố tụng, về luật tư và luật hình sự.  Bản gốc của Luật 12 bảng này đã bị thất truyền khi thành La Mã bị phá hủy vào năm 390 SCN. Những gì chúng ta có được ngày nay chỉ là những cứ liệu được ghi chép hoặc trích dẫn lại từ những cuốn sách cổ được viết bởi những tác giả La Mã bằng Tiếng La tinh. Dưới đây xin trân trọng giới thiệu BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT LUẬT 12 BẢNG đến bạn đọc, đặc biệt là các bạn sinh viên Luật. Bản dịch Luật 12 bảng dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo. Do sự bất định và đa nghĩa của ngôn ngữ, cùng với nhiều từ cổ trong Luật, nên mặc dù đã cố gắng, đã trao đổi với cả những đồng nghiệp am hiểu về Tiếng La tinh, nhưng chắc chắn bản dịch dưới đây chưa thể hoàn thiện và không tránh khỏi những sai sót. Bản dịch này và các bản dịch Luật cổ khác sẽ dần được  giới thiệu, chỉnh sửa và hoàn thiện theo thời gian. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí. Tương ứng với mỗi qui phạm, tác giả đều trích dẫn kèm theo nguồn gốc bằng cả Tiếng La tinh, Tiếng Anh và Tiếng Đức để bạn đọc tiện đối chiếu khi có điều kiện. Qua đây, chính từ những nội dung của Luật 12 Bảng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ như: Kỹ thuật lập pháp thể hiện trong Luật 12 bảng và Luật La Mã thời cổ đại; nghiên cứu có tính liên ngành tìm hiểu về thực tiễn áp dụng pháp luật thời La Mã cổ đại; Vấn đề cơ sở kế thừa Luật La Mã trong Luật dân sự hiện đại ở các nước Tây Âu qua từng chế định cụ thể [...].
Nguồn: Bản gốc Tiếng La tinh: Từ Thư viện trực tuyến Bibliotheca Augustana Các bản dịch:
1.  Tiếng Anh: Warmington, Remains of Old Latin, Vol. III Lucilius, The Twelve Tables, 1967
2. Tiếng Đức: R. Düll, Das Zwölftafelgesetz, Texte, Übersetzungen und Erläuterungen, 7. Auflage, 1995; 

LUẬT MƯỜI HAI BẢNG
 (Lex duodecim tabularum/ Twelve tables/ Zwölftafelgesetz)
BẢNG I
(TỐ TỤNG DÂN SỰ - CIVIL PROCEDURE)
1.
Nếu ai đó được triệu tập đến Tòa, người đó phải đến. Nếu người đó không đến [...], anh ta sẽ bị bắt giữ.
(Đối chiếu:
- Tiếng La tinh (Latin/lateinisch):
Si in ius vocat, ito. Ni it, antestamino Igitur em capito.
- Tiếng Anh (English/ englisch) :
If someone is called to go to court, he has to go. If he doesn't go, [...] he should be captured.
- Tiếng Đức (German/ deutsch)
Wenn jemand zu Gericht gerufen wird, soll er gehen. Geht er nicht, [...] soll er festgenommen werden).
2.
Nếu anh ta né tránh hoặc bỏ trốn, anh ta sẽ bị bắt. Nếu do ốm đau hoặc do tuổi già là một trở ngại, anh ta sẽ được đưa đến Tòa bằng xe cáng
(Đối chiếu:
- Tiếng La tinh:
Si calvitur pedemve struit, manum endo iacito. Si morbus aevitasve vitium escit, iumentum dato.
- Tiếng Anh:
If he shirks or flees, he should be captured. If illness or old age is an impediment, let him be given a carriage.
- Tiếng Đức:
Wenn er sich drückt oder flieht, soll er festgenommen werden. Sind Krankheit oder Alter ein Hindernis, soll er eine Trage erhalten).
3.
Chỉ có người chủ đất mới là người bảo lãnh cho một người chủ đất khác. Nhưng bất cứ người dân tự do nào cũng có thể là người bảo lãnh cho người không có tài sản.
(Đối chiếu:
- Tiếng La tinh:
Adsiduo vindex adsiduus esto. Proletario iam civi quis volet vindex esto.
- Tiếng Anh:
Only a landowner should be surety for another landowner. But any citizen can be surety for a proletarian.
- Tiếng Đức:
Nur ein Grundbesitzer kann Bürge für einen Grundbesitzer sein. Jedoch kann jeder Bürger Bürge für einen Proletarier sein).
4.
Nếu các bên đã thỏa thuận giao kèo, thì phải công bố công khai thỏa thuận này. Nếu các bên có tranh chấp, thì họ phải đưa vụ kiện ra nơi công cộng (Forum: nghĩa cổ là chợ, chỗ hội họp) trước buổi trưa. Họ sẽ cùng tự bào chữa cho mình. Sau buổi trưa, thẩm phán sẽ phán quyết. Nếu cả hai đều có mặt, vụ kiện sẽ kết thúc lúc mặt trời lặn.
(Đối chiếu:
- Tiếng La tinh:
Rem ubi pacunt, orato. Ni pacunt, in comitio aut in foro ante meridiem caussam coiciunto. Com peroranto ambo praesentes. Post meridiem praesenti litem addicito. Si ambo praesentes, solis occasus suprema tempestas esto.
- Tiếng Anh:
When parties have made an agreement, announce it. If they don't agree, they shall state their case in the Forum before noon. They shall plead together in person. After noon, let the judge pronounce. If both are present, the case shall end at sunset.
- Tiếng Đức:
Wurde eine Abmachung getroffen, soll sie verlautbart werden. Sind sich die Parteien uneins, sollen sie ihren Fall vor Mittag im Forum einbringen. Sie sollen gemeinsam und persönlich plädieren. Nach Mittag soll der Richter das Urteil verkünden. Sind beide Parteien anwesend, endet das Verfahren zum Sonnenuntergang.)

BẢNG II
(TỐ TỤNG DÂN SỰ - CIVIL PROCEDURE)
1.
Ốm nặng… hoặc vào ngày giao kết hợp đồng (enemy: nghĩa từ cổ là bên giao kết hợp đồng); … nếu bất cứ điều gì trong số những điều này là một trở ngại cho thẩm phán hoặc một bên nào đó, thì vào ngày đó các thủ tục phải dừng lại. Người mà tìm kiếm chứng cứ từ một người khác hiện đang vắng nhà, thì người đó có nghĩa vụ phải đợi trước cửa nhà anh ta ba ngày một lần.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
...morbus sonticus... aut status dies cum hoste;... quid horum fuit unum iudici arbitrove reove, eo dies diffensus esto. Cui testimonium defuerit, is tertiis diebus ob portum obvagulatum ito.
- Tiếng Anh:
Serious illness... or else a day appointed with an enemy; ... if any of these is an impediment for the judge or any party, on that day proceedings must end. One who seeks the testimony from an absent person should wait before his doorway every third day.
- Tiếng Đức:
... schwere Krankheit ... ansonsten einen Tag vereinbart mit dem Gegner; ... ist dies ein Hindernis für den Richter oder eine Partei muss das Verfahren an diesem Tag enden. Wer von einem Abwesenden eine Zeugenaussage sucht, soll jeden dritten Tag vor seiner Tür klagen.)

BẢNG III
(VAY NỢ - DEBT)
1.
Trong trường hợp một khoản nợ đã được xác định trước hoặc khoản nợ mà Tòa án đã tuyên bố buộc phải trả, thì trong thời hạn ba mươi ngày khoản nợ đó phải được thanh toán.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Aeris confessi rebusque iure iudicatis XXX dies iusti sunto.
- Tiếng Anh:
In case of an admitted debt or of awards made by a court, 30 days shall be allowed for payment.
- Tiếng Đức:
Einer Person, die gesteht, Geld zu schulden, oder dazu verurteilt wurde, müssen 30 Tage gegeben werden um die Schuld zu bezahlen.
2.
Người chủ nợ có thể cầm tay con nợ và đưa con nợ đến Tòa. Nếu con nợ không trả được nợ theo phán quyết của Tòa và cũng không có ai bảo lãnh cho anh ta, chủ nợ có thể tống giam con nợ hoặc trói bằng dây xích với trọng lượng không quá 15 pao (1 pao thời La Mã khoảng 450 gam). Nếu con nợ đói khát không thể sống được nữa, lúc đó chủ nợ mới phải cho anh ta một pao lúa mỳ mỗi ngày. Nếu anh ta muốn thêm, chủ nợ được phép cho thêm.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Post deinde manus iniectio esto. In ius ducito. Ni iudicatum facit aut quis endo eo in iure vindicit, secum ducito, vincito aut nervo aut compedibus XV pondo, ne maiore aut si volet minore vincito. Si volet suo vivito, ni suo vivit, qui eum vinctum habebit, libras faris endo dies dato. Si volet, plus dato.
- Tiếng Anh:
After then, the creditor can lay hands on him and haul him to court. If he does not satisfy the judgment and no one is surety for him, the creditor may take the defendant with him in stocks or chains with a weight of no more than 15 lbs. [...] If he does not live on his own, the creditor must give him a pound of wheat a day. If he wants to he may give more.
- Tiếng Đức:
Danach kann ihn der Gläubiger festnehmen und vor Gericht stellen. Ist dieser mit dem Urteil nicht befriedigt und gibt es keine Bürgen für ihn, kann der Gläubiger den Angeklagten in 15 Pfund schwere Ketten legen, jedoch nicht schwerer, aber leichter, wenn er es wünscht. [...] Ist er nicht auf sich selbst gestellt, hat der Gläubiger ihm einen Pfund Weizen pro Tag zu geben. Oder mehr, wenn er das wünscht.)
3.
Đến ngày phiên chợ thứ ba, các chủ nợ có thể tùng xẻo con nợ không trả được nợ. Nếu xử quá mức, họ cũng không bị tội.
(Đối chiếu:
Tiếng la tinh:
Tertiis nundinis partis secanto. Si plus minusve secuerunt, se fraude esto.
Tiếng Anh:
On the third market day, (creditors) may cut pieces. If they take more than they are due, they do so with impunity.
4.
Quyền tài sản có hiệu lực vĩnh viễn, trong quan hệ với chủ thể khác (aeterna/foreigne/ Feind: từ cổ, có nghĩa là tất cả các chủ thể khác).
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Adversus hostem aeterna auctoritas esto.
- Tiếng Anh:
Against a foreigner, the right of property is valid forever.
- Tiếng Đức:
Gegen einen Feind gilt das Eigentum ewig.)

BẢNG IV
(LUẬT GIA ĐÌNH - FAMILY LAW)
1.
Nếu một đứa trẻ sinh ra với một hình hài dị dạng (ad deformitatem/with a deformity/ein offensichtlich verstümmeltes Kind), đứa trẻ đó sẽ bị giết.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Cito necatus insignis ad deformitatem puer esto.
- Tiếng Anh:
If a child is born with a deformity he shall be killed.
- Tiếng Đức
Ein offensichtlich verstümmeltes Kind muss umgehend getötet werden).
2.
Nếu người cha bán con làm nô lệ đến ba lần (sell someone into slavery: nghĩa cổ đưa/ bán đi làm nô lệ khổ sai có điều kiện, không phải vĩnh viễn), người con đó sẽ được tự do khỏi người cha của mình.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Si pater filium ter venum duit, filius a patre liber esto.
- Tiếng Anh:
If a father sells his son into slavery three times, the son shall be free of his father.
- Tiếng Đức:
Verkauft ein Vater seinen Sohn drei mal in die Sklaverei, so soll der Sohn frei von seinem Vater sein).

BẢNG V
(THỪA KẾ - INHERITANCE)
1.
Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế. Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si intestato moritur, cui suus heres nec escit, adgnatus proximus familiam habeto. Si adgnatus nec escit, gentiles familiam habento.
- Tiếng Anh:
If a person dies intestate without heirs, the nearest [male] kinsman shall inherit. If there is no near [male] kinsmen, his clansmen shall inherit.
- Tiếng Đức:
Stirbt eine Person ohne Testament und ohne Erben, soll der nächste männliche Verwandte in das Erbe eintreten. Existiert kein naher männlicher Verwandter, sollen die Stammesmänner erben.
2.
Nếu một người bị điên, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất của người đó sẽ có quyền đối với tài sản của anh ta.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si furiosus escit, adgnatum gentiliumque in eo pecuniaque eius potestas esto.
- Tiếng Anh :
If someone goes mad, his nearest [male] kinsman shall have authority over his property.
- Tiếng Đức:
Wird jemand geisteskrank, soll der nächste männliche Verwandte die Verfügungsbefugnis über dessen Besitz haben).

BẢNG VI
(TÀI SẢN - PROPERTY)
1.
Nếu một người làm một giao kèo hoặc chuyển nhượng và thông báo điều đó bằng lời nói, thì kể từ thời điểm đó quyền lợi được xác lập.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Cum nexum faciet mancipiumque, uti lingua nuncupassit, ita ius esto.
- Tiếng Anh:
When someone makes bond or conveyance and announces it orally, right shall be given.
- Tiếng Đức:
Verpflichtet sich oder manzipiert jemand mündlich, soll dies rechtsgültig sein.
2.
Không ai được di dời cột xà nhà hoặc cột cây nho làm rượu trong vườn.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh :
Tignum iunctum aedibus vineave sei concapit ne solvito.
- Tiếng Anh:
No one has the right to remove beams from buildings or vineyards.
- Tiếng Đức:
Niemand darf Balken von Gebäuden oder Weingärten entfernen.

BẢNG VII
(LIÊN QUAN ĐẾN BẤT ĐỘNG SẢN - REAL PROPERTY)
1.
Một người chủ tài sản phải làm một con đường để đi lại (nếu tồn tại một quyền với lối đi - right-of-way); nếu người chủ từ chối không làm, khách qua đường vẫn có quyền đi qua cùng với gia súc bất cứ chỗ nào mà họ phải đi qua.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Viam muniunto ni sam delapidassint, qua volet iumento agito.
- Tiếng Anh:
[A property owner must] build a road [if there is a right-of-way]; if they become dilapidated, passersby can drive their beasts where ever they want.
- Tiếng Đức:
Baue Straßen; werden sie vernachlässigt, können Straßenbenutzer ihr Vieh treiben wo immer sie wollen).
2.
Nếu đường ống nước mưa từ một ngôi nhà (thuộc tài sản của một người nào đó) gây thiệt hại […], thẩm phán sẽ phán quyết việc người chủ đó phải bồi thường.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si aqua pluvia nocet… iubetur ex arbitrio coerceri.
- Tiếng Anh:
If runoff [from someone else's property] does damage..., he shall be made to fix it by the judge.
- Tiếng Đức:
Wenn Regenwasser schadet ... soll er vom Richter dazu verurteilt werden, den Schaden zu beheben.

BẢNG VIII
(VI PHẠM NGHĨA VỤ NGOÀI HỢP ĐỒNG - TORTS)
1.
Những ai mà hát một bài hát tội lỗi (bài hát này được dịch bởi Cicero như một sự phỉ báng, ở thành phố của thánh thần)…
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh :
Qui malum carmen incantassit…
- Tiếng Anh:
Those who have incanted an "evil song"... (interpreted by Cicero as slander, in City of God)
- Tiếng Đức:
Wer einen bösen Fluch ausgesprochen hat ...
2.
Nếu ai gây thương tích làm tàn tật người khác và không bồi thường, thì việc trả thù ngang bằng (retaliation/gleiche Vergeltung: trả nợ máu) là hợp pháp.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si membrum rupsit, ni cum eo pacit, talio and esto.
- Tiếng Anh:
If one has maimed another and does not buy his peace, there be retaliation in kind.
- Tiếng Đức:
Wenn jemand einen anderen verstümmelt, und nicht Genugtuung leistet, ist gleiche Vergeltung gerechtfertigt.
3.
Bất cứ ai gây thương tích mà làm gẫy xương của người khác phải trả 300 đồng xettec (sesterces: tiền cổ La Mã); đối với một nô lệ là 150 xettec; nếu thương tật nhẹ, phải trả 25 xettec.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Manu fustive si os fregit libero, CCC, si servo, CL poenam subito si iniuriam faxsit, viginti quinque poenae sunto.
- Tiếng Anh:
Someone who breaks another's bone must pay 300 sesterces; for a slave, 150; if he has done simple harm against another, 25.
4.
Ai đó mà làm hại đến vụ mùa của người khác bằng một câu thần chú…
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Qui fruges excantassit… neve alienam segetem pellexeris...
- Tiếng Anh:
Someone who kills crops with a spell, [...] or another's corn…
- Tiếng Đức:
Jemand der das Getreide zerstreut [...] oder eines anderen Korn...
5.
Nếu người đỡ đầu mà lừa dối người được đỡ đầu, thì người đỡ đầu đó sẽ bị mất quyền.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Patronus si clienti fraudem fecerit, sacer esto.
- Tiếng Anh:
If a patron defrauds his client, let him be outlawed.
- Tiếng Đức:
Wenn ein Patron seinen Klienten betrügt, soll dieser rechtlos sein.
6.
Nếu một người được triệu tập làm nhân chứng mà không đưa ra được chứng cứ, thì anh ta sẽ bị coi là không thành thật và không được tiếp tục làm chứng.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Qui se sierit testarier libripensve fuerit, ni testimonium fatiatur, inprobus intestabilisque esto.
- Tiếng Anh:
If one has been called to witness, unless he gives his testimony, let him be dishonoured and incapable of further testimony.
- Tiếng Đức:
Wird jemand als Zeuge berufen, soll er, wenn er nicht aussagt, entehrt sein und unfähig weiter auszusagen.
7.
Nếu một vật tuột khỏi tay không mục tiêu một người nào đó và gây thiệt hại, thì người đó phải bồi thường cho người bị hại một con cừu đực.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si telum manu fugit magis quam iecit, arietem subicito.
- Tiếng Anh:
If an object flies unaimed from your hand rather than aimed [and causes injury], you will owe a ram.
- Tiếng Đức:
Fliegt eine Waffe ungezielt aus deiner Hand, schuldest du einen Widder).

BẢNG IX

4. Thẩm phán sẽ bị xử tử hình nếu có bằng chứng về việc phạm tội nhận hối lộ.
5. Tội phản loạn: Bất cứ ai làm phản hoặc tham gia với tư cách là thành viên của nhóm phản động phải chịu hình phạt tử hình.
6. Cấm xử tử hình một người mà chưa thông qua xét xử.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Privilegia ne irroganto.
- Tiếng Anh:
4. The penalty shall be death for a judge or arbiter legally appointed who has been found guilty of receiving a bribe for giving a decision.
5. Treason: he who shall have roused up a public enemy or handed over a citizen to a public enemy must suffer capital punishment.
6. Putting to death of any man, whosoever he might be unconvicted, is forbidden.
- Tiếng Đức:
4. Wird ein offiziell ernannter Richter oder Schiedsmann der Annahme einer Bestechung für eine Entscheidung für schuldig befunden, ist die Strafe der Tod.
5. Hochverrat: wer einem Staatsfeind Beihilfe leistet oder einen Bürger einem Staatsfeind übergibt, wird mit dem Tode bestraft.
6. Das Töten egal welcher Person, wofür auch immer sie verurteilt wurde, ist verboten).

BẢNG X
(QUI ĐỊNH VỀ TANG LỄ - FUNERAL REGULATIONS)
1.
Không có người quá cố nào được hỏa táng hoặc được chôn ở trong thành phố.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Hominem mortuum in urbe ne sepelito neve urito.
- Tiếng Anh:
No dead man may be cremated nor buried in the City.
- Tiếng Đức:
Tote dürfen in der Stadt weder eingeäschert noch begraben werden).
2.
Nếu người thắng cuộc dành được một phần thưởng hoặc nô lệ hoặc động vật nuôi,…
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Qui coronam parit ipse pecuniave eius honoris virtutisve ergo arduitur ei…
- Tiếng Anh:
When a man wins a crown, or his slave or cattle win a crown for him,…
- Tiếng Đức:
Gewinnt jemand einen Preis, oder sein Sklave oder Vieh für ihn, ...).
3.
Không ai được phép bỏ vàng vào dàn hỏa táng. Ngoại trừ trường hợp nếu răng của người chết bằng vàng được chôn hoặc thiêu cùng.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Neve aurum addito. At cui auro dentes iuncti escunt. Ast in cum illo sepeliet uretve, se fraude esto.
- Tiếng Anh:
No one must add gold to a funeral pyre. But if his teeth are held together with gold, and are buried or burnt with him, it shall be disconsidered.
- Tiếng Đức:
Gold darf nicht auf dem Scheiterhaufen verbrannt werden. Werden aber die Zähne mit Gold zusammengehalten, und mit ihm begraben oder verbrannt, soll es straflos sein.

BẢNG XI
(HÔN NHÂN - MARRIAGE)
Cấm kết hôn giữa người bình dân và quí tộc. Đàn ông phục vụ quân đội không được phép kết hôn cho đến khi việc huấn luyện kết thúc.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Conubia plebi cum patribus sanxerunt.
- Tiếng Anh:
Marriages between plebeians and patricians are prohibited. Men in the army may not wed until training is complete.
- Tiếng Đức:
Ehen zwischen Plebejern und Patriziern sind verboten. Männer der Armee dürfen nicht heiraten, bis die Ausbildung vorbei ist).

BẢNG XII
(TỘI PHẠM - CRIMES)
1.
Nếu nô lệ mà ăn trộm hoặc gây thương tích…
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Si servo furtum faxit noxiamve noxit.
- Tiếng Anh:
If a slave has committed theft or harm…
- Tiếng Đức:
Wenn ein Sklave einen Diebstahl oder Körperverletzung begeht ...)
2.
Nếu bất cứ ai mà kiện tụng về tài sản mà kiện sai sự thật, thì người đó sẽ bị phạt gấp đôi số tiền mà người đó yêu cầu hoặc chịu xử tử nếu người đó không muốn ngồi tù.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh:
Si vindiciam falsam tulit, si velit is… tor arbitros tris dato, eorum arbitrio… fructus duplione damnum decidito.
- Tiếng Anh:
Someone who has brought a false claim [...] shall pay a double penalty or be sent to death if he cannot do the time.
- Tiếng Đức:
Wer eine falsche Behauptung aufstellt, [...] auf das Doppelte verurteilt werden [...]).
-----------------------------------

NMT

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code