Showing posts with label Nguyễn Sỹ Phương. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Sỹ Phương. Show all posts

Tuesday, August 13, 2013

Chuyên đề về hình thức dân chủ gián tiếp

Nghị sĩ công dân

(TBKTSG) - Nền dân chủ sơ khai đầu tiên trong lịch sử loài người bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, tiếng Hy Lạp gọi là “Δημοκρατία”, có nghĩa nhân dân quyết định công việc nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó khái niệm “nhân dân quyết định” cũng chỉ giới hạn vào một nhóm người và loại trừ phụ nữ.

Ngày nay, dân chủ được phân ra dân chủ trực tiếp, nghĩa là mỗi người dân có quyền tham gia trực tiếp vào quyết định của nhà nước (trên thực tế ở cấp trung ương không xảy ra ngoại trừ trường hợp trưng cầu dân ý), và dân chủ đại diện (hay gián tiếp) nghĩa là chỉ những người đại diện do dân bầu ra có quyền đó, như nghị sĩ quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân.

Với dân chủ gián tiếp, ý nghĩa thật sự của nền dân chủ (nhân dân quyết định công việc nhà nước) phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ thực tế giữa người đại diện, chính quyền, người dân, và chỉ đạt tới lý tưởng một khi mối quan hệ đó mang bản chất dân chủ trực tiếp - đích phấn đấu của mọi nhà nước dân chủ trên thế giới ngày nay.

Tuy nhiên, không phải cứ có đích tốt là thực thi được, dân chủ là một quá trình vận động tương tự như quá trình sản xuất, cần có giải pháp công nghệ. Trong thời đại hội nhập toàn cầu, công nghệ thực thi dân chủ cũng như mọi lĩnh vực khác, luật pháp, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật... cho phép các quốc gia phấn đấu, đeo đuổi những thành tựu tiên tiến nhất. Thành tựu công nghệ thực thi dân chủ hiện nay có thể kể đến là “Hội nghị công dân”, được nước Đức áp dụng cho cấp chính quyền địa phương, huyện, thành, do bộ luật cùng tên điều chỉnh, ban hành bởi từng tiểu bang. Theo đó, Hội nghị công dân phải tiến hành mỗi năm Nhân một kỳ, do Hội đồng dân lên kế hoạch, hoặc nếu do 2,5% dân số địa phương thỉnh nguyện thì phải triệu tập trong vòng ba tháng, và Phó hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân chủ tọa.

Mọi công dân có quyền bầu cử đều được quyền dự và phát biểu yêu cầu, đề nghị, chất vấn chính quyền, tương tự như đại biểu quốc hội chất vấn chính phủ ở ta, xoay quanh các chủ đề liên quan tại địa phương, quy hoạch đất đai, phát triển trường học, giao thông công chính, xây dựng cơ sở thể thao, chăm sóc người già, trẻ em...

Luật quy định chi tiết cả chương trình nghị sự: người dự phải trình chứng minh thư, được phát mẫu giấy thống nhất đăng ký phát biểu ghi nhân thân, chủ đề cần nói; chủ tọa thu lại, sắp xếp thứ tự phát biểu theo từng nhóm vấn đề.

Sau khi chủ tọa khai mạc, các ban ngành chính quyền báo cáo tóm tắt phần việc của mình, kế hoạch, kết quả thực hiện và những tồn tại, tiếp theo công dân phát biểu, chất vấn như đã đăng ký, không quá 5 phút/1 diễn giả. Ủy ban cùng từng ban ngành phải trả lời tại chỗ những ý kiến chất vấn; nếu vắng mặt, chủ tọa phải ghi lại câu hỏi chuyển tới họ.

Cuối cùng hội nghị biểu quyết giơ tay từng vấn đề, theo nguyên tắc quá bán, hình thành nên nghị quyết. Nghị quyết này mặc dù không mang tính pháp lý cưỡng chế, chỉ mang tính đề đạt, tư vấn, phản ảnh ý nguyện của dân, nhưng trong vòng ba tháng chính quyền vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đưa ra quyết định cuối cùng đối với từng vấn đề đã đề đạt, và thông báo bằng văn bản đến từng người dự.

Hội nghị công dân về mặt hình thức có thể coi như tiếp xúc cử tri ở ta, nhưng là một bước tiến về chất, chuyển từ dân chủ gián tiếp, người dân ở vị trí thụ động trông mong vào nghị sĩ, sang dân chủ trực tiếp, đứng hẳn vào vị trí nghị sĩ, chủ động tham gia quyết định công việc nhà nước - lý giải cho việc chính sách nước họ được người dân thực thi nghiêm minh, có ý thức, bởi người dân phải chịu trách nhiệm với chính quyết định của mình, không thể thoái thác đổ cho nhà nước áp đặt.

Công nghệ trên được nước Đức hoàn thiện chi tiết cho mọi điều kiện, ở những thành phố đông dân tới cả triệu không thể có hội trường đủ chỗ, hội nghị công dân được chia nhỏ theo lĩnh vực tới vài chục phiên họp.

Một dạng thức khác của công nghệ trên là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân gửi phiếu xin ý kiến tới từng công dân mình, yêu cầu thông tin cho chính quyền ý kiến của họ đối với từng vấn đề cụ thể ở địa phương theo mẫu in sẵn, dưới dạng câu hỏi kiểu thăm dò xã hội học.

Chẳng hạn, trong tháng 12-2008, từng công dân thành phố Leipzig nhận được phiếu xin ý kiến của Chủ tịch Ủy ban thành phố, hỏi về giao thông, trong năm năm qua họ đã chuyển đổi phương tiện đi lại như thế nào giữa hai thời điểm trước kia và hiện nay, trong số tám loại phương tiện: tàu điện, xe buýt, ô tô riêng, xe gắn máy, tàu hỏa, tàu hỏa nội thành, xe đạp, đi bộ. Lý do thay đổi do giá đắt đỏ, do sức khỏe, do ý thức bảo đảm môi trường, do thuận tiện hơn, do công việc thay đổi, hay còn do nguyên nhân khác. Loại và số lượng phương tiện đi lại của từng hộ, ô tô riêng, ô tô của công ty cho dùng, mô tô, xe ga, xe đạp. Thời gian đi từ nhà đến chỗ đỗ phương tiện, đến chỗ làm việc, dưới 2 phút, dưới 5 phút, dưới 10 phút, hay trên nữa?...

Dạng thức này khác Hội nghị công dân, không có chất vấn, không nghị quyết, và cũng không có hồi đáp của chính quyền, nhưng cùng mục đích là thực hiện dân chủ trực tiếp; tổng kết các câu trả lời của công dân là căn cứ cho hoạch định chính sách của chính quyền; công dân gián tiếp đóng vai trò nghị sĩ.

Công nghệ này cho phép tránh được kiểu dự luật cấm người thấp bé nhẹ cân đi xe gắn máy trên 50 phân khối ở ta với lập luận hạn chế tai nạn, bị phản đối dữ dội, do soạn thảo chủ quan, không có căn cứ dữ liệu, thiếu ý kiến từ chính đối tượng bị luật điều chỉnh - họ cũng là nhân dân!

Công nghệ thực thi dân chủ không chỉ quan trọng đối với người dân trong xã hội mà còn rất đặc biệt đối với doanh nhân trong lĩnh vực kinh tế. Của cải xã hội được làm ra không phải trực tiếp từ nhà nước mà từ doanh nghiệp; một cường quốc kinh tế chỉ ra đời với những công ty, tập đoàn có thương hiệu tầm cỡ thế giới. Chính sách kinh tế, vì vậy, chỉ mang lại hiệu quả thực sự khi nó đặt doanh nhân, người chủ sản xuất vào vị trí nghị sĩ, góp phần hoạch định các chính sách đó - một nội hàm của khái niệm dân chủ trong kinh tế.

Có thể nhận biết nguyên lý trên từ ví dụ ở Đức, doanh nghiệp luôn nhận được phiếu xin ý kiến, mẫu các dữ liệu cần khảo sát, từ chính quyền, từ các cơ quan khoa học, các hội đồng tham vấn kinh tế; tổng hợp ý kiến, dữ liệu thu trở lại bảo đảm căn cứ vững chắc cho việc hoạch định các chính sách, quyết định kinh tế của nhà nước.

Ở ta những sự kiện kinh tế nổi bật trong năm, như thiệt hại mất tới nửa giá gạo xuất khẩu do dự báo sai, hay giải pháp cho kinh tế vỉa hè, hàng rong, lưu thông xe tự chế, định giá xăng dầu, ô nhiễm môi trường, nhiễm độc thực phẩm, nhập siêu... đều có phần nguyên do từ thiếu vai trò nghị sĩ kinh tế của giới doanh nhân, nhà sản xuất, người kinh doanh cá thể.

Nguyên lý nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân, hiện không còn là điều bàn cãi trên thế giới, có chăng chỉ còn công nghệ thực thi khác nhau, và sẽ quyết định đích đến khác nhau, trong đó vai trò nghị sĩ của công dân mang tính quyết định. Khai thác được nó chính là đã huy động được “nội lực” lớn nhất - một khái niệm nức lòng người dân được hiệu triệu nhiều ở ta, nhưng lại thiếu công nghệ thực thi!

TS.NGUYỄN SỸ PHƯƠNG - CHLB Đức - http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/13898/

Monday, August 12, 2013

SỰ KIỆN ĐOÀN VĂN VƯƠN VÀ NAN ĐỀ LUẬT HÌNH SỰ

Khu đất bị giải tỏa của gia đình ông Đoàn Văn Vươn
TS.Nguyễn Sỹ Phương
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, 
đăng ngày 5/3/2012,
truy cập đường link gốc tại đây
Không một nhà nước nào, tự nó ban hành nổi một hệ thống văn bản luật đầy đủ công minh cả; mà chỉ có thể tạo ra một quy trình tự động hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, kịp thời, một khi nó tỏ ra bất lực trước những vấn đề xã hội nảy sinh. Tính tự động đó chỉ có ở một thể chế buộc được chính khách, dân biểu vốn đại diện cho lợi ích của người dân phải lên tiếng, mọi cơ quan nhà nước phải hành động, trước tiếng nói của đông đảo dân chúng, của các tổ chức dân sự, của công luận.


Giải thích tại sao ở Đức mỗi năm Quốc hội phải thông qua trên dưới 100 luật, tới 5000 lượt ý kiến phát biểu, cùng chừng đó câu hỏi chất vấn chính phủ, (cần biết quốc hội ta suốt 4 năm nhiệm kỳ trước chỉ ban hành được 68 luật và 12 nghị quyết, tương đương 20 văn bản lập pháp / năm, thua họ 5 lần). Từ vụ một người thanh niên dùng súng giả bắn vào cảnh sát, lập tức bị cảnh sát bắn trả làm người thanh niên chết oan uổng, công luận sôi sục trước tính mạng 1 con người; chỉ sau đó 3 tháng luật vũ khí bổ sung điều khoản cấm lưu hành súng giả trông như thật; tới vụ Tim K cuồng sát ở  Wendlingen, Thủ tướng Đức trên đường đi công tác cũng phải ra tuyên bố, các chính khách, nghị sỹ, đứng đầu các cơ quan công quyền liên quan đều ào ào lên mặt báo, chỉ vài tháng sau, luật đăng kiểm vũ khí được bổ sung. Ở họ bất cứ vụ việc gì, câu hỏi cốt tử bắt buộc phải đặt ra cho cơ quan lập pháp là liệu văn  bản luật hiện hành có lỗi gì trong đó không ? Thiếu câu hỏi này, luật pháp sẽ luôn đứng một chỗ, cả quan chức hành xử lẫn người dân sẽ chịu số phận may rủi, trở thành nạn nhân lẫn thủ phạm của luật pháp bất cứ lúc nào vướng, dù nhà nước đó có tuyên ngôn vì dân do dân của dân tới cỡ nào !


Dưới góc độ hình sự, thực tế bị can Đoàn Văn Vươn bị cơ quan điều tra tố tụng cáo buộc tội danh giết người, quy định tại văn bản luật hình sự Việt Nam 2009 (BLHS), Điều 93 Khoản 1 Điểm L, “phạm tội bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người”, với khung hình phạt tối thiểu 12 năm tù giam, không thể không đặt ra ngờ vực về tính công minh của điều khoản này, khi cả hai dấu hiệu cho tội danh này đều không có: 1- Không một ai chết, 2- Động cơ giết người không có, bởi súng hoa cải và mìn tự tạo tại hiện trường cho thấy không có chức năng công dụng đó. Cùng thời gian trên, ngày 22/2, TAND tối cao xử phúc thẩm, cũng áp dụng điều 93, Khoản 1, với điểm n, “giết ngườicó tính chất côn đồ“,  tuyên phạt bị cáo Hồ Minh Thừa, 19 tuổi, Vĩnh Long,  8 năm tù giam, tội danh Giết người, chỉ vì đâm bạn thương tật mức 4% (chứ không phải chết), do bạn đùa muốn hôn vợ mình. Liệu đã và sẽ còn xảy ra bao số phận tương tự, nếu điều luật này không được xem xét lại tính công minh của nó từ thực tế trên ?


Liên quan tới tính mạng con người, BLHS ta đưa ra 9 điều, quy định 9 tội danh, gồm điều 93 Tội giết người; Điều 94 Tội giết con mới đẻ; Điều 95 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 96 Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 97 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; Điều 98 Tội vô ý làm chết người; Điều 99 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 100 Tội bức tử; Điều 101 Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; Điều 102 Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; Điều 103 Tội đe dọa giết người.


Điều 93 Tội giết người, áp dụng cho 2 vụ án viện dẫn, quy định: 1) Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp (từ a – q) sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Giết nhiều người, phụ nữ có thai, trẻ em, người đang thi hành công vụ, ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, thực hiện tội phạm một cách man rợ, bằng cách lợi dụng nghề nghiệp, bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người, thuê giết người hoặc giết người thuê, có tính chất côn đồ, có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, vì động cơ đê hèn.


Điều 93 không hề định nghĩa khái niệm “giết người“, đây chính là điểm bất cập cơ bản nhất, cần phải bổ sung, nếu không tất dẫn đến bất định trong áp dụng luật tuỳ nhận thức chủ quan, mặc dù có thể suy từ nội dung 9 điều khoản viện dẫn, cho thấy Tội danh giết người phải bao gồm 2 dấu hiệu hành vi cấu thành, như ở mọi quốc gia tiên tiến khác: 1-Có người chết, 2-Có chủ đích chấm dứt cuộc sống của nạn nhân.


Có thể tham khảo BLHS Đức. Để tránh bất định, điều 211 Tội giết người, quy định: “(1) Bị phạt tù chung thân (hình phạt cao nhất, không có tử hình), (2) Kẻ giết người là kẻ làm nạn nhân chết, do thích giết người, hoặc để thoả mãn quan hệ xác thịt, hoặc nhằm chiếm đoạt tài sản, hoặc với những lý do nhỏ nhặt; mang tính chất dã man triệt hạ nạn nhân, hoặc bằng phương tiện nguy hiểm, hoặc để thực hiện hành vi phạm tội khác hay che đậy nó“.


Bị can Đoàn Văn Vươn và bị cáo Hồ Minh Thưà bị áp dụng tội danh Giết người, đều xuất phát từ tính bất định của Điều 93, khái niệm Giết người không được định nghĩa, nên được lập luận: Nạn nhân không chết chỉ do ngoài ý muốn, và trong trường hợp này được hiểu là Tội giết người chưa đạt.


Mỗi tội danh, bao gồm 1 hoặc nhiều hành vi phạm tội đã thực hiện cấu thành. Nghĩa là không đủ hành vi phạm tội cấu thành không được phép khép tội danh đó. Trong trường hợp tội danh đó chưa đạt, nghiã là chưa đủ hành vi phạm tội cấu thành, Điều 18 BLHS ta quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt“ - tức đồng nghĩa với tội danh khác, tên gọi của một tội trạng khác, khung hình phạt cũng khác.


9 điều khoản trên đều áp dụng cho tội đã hoàn thành, không hề có bất kỳ khoản hay điểm bí chú nào áp dụng cho trường hợp chưa đạt cả. Mặc dù vậy, các cơ quan điều tra tố tụng vẫn áp dụng điều 93 Tội giết người đã hoàn thành cho trường hợp chưa đạt, không có người chết, và xưa nay hiếm ai lật lại vấn đề , bởi dựa trên tư tưởng, thoạt nghe rất nhân bản: “Bởi tính mạng con người có giá trị cao hơn mọi thứ vật chất. Người ta cần ngăn chặn việc giết người ngay từ khi nó đang còn manh nha, chứ nếu để tội ác đã hoàn thành (bị hại đã bị chấm dứt sự sống) thì mọi việc đã muộn“. Từ đó đặt ra biệt lệ cho  tội danh giết người: chỉ quy định “hành vi” chứ không nhất thiết bắt buộc hành vi đó đã hoàn thành bằng hành động, như tội ăn cắp hay hiếp dâm quấy rối tình dục, bắt buộc phải có vật chứng mất cắp hay người bị hại. Lập luận trên đã ngộ nhận chức năng của văn bản luật vốn chỉ đưa ra các chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự, ở trên giấy, không hề có chức năng ngăn chặn vốn thuộc cơ quan công quyền hành xử hàng ngày. Xét xử là áp dụng luật cho cái đã xảy ra, nên có tăng hình phạt tới bao nhiêu thì vẫn không thay đổi được thời quá khứ. Mặt khác, bản chất của luật pháp là công minh, đúng người, đúng tội, không thể dùng hình phạt nặng hơn bản thân nó phải chịu (không nhân đạo), để răn đe theo kiểu “giết gà doạ khỉ“, “bóp chết từ trứng nước“, “nhầm còn hơn sót“, để loại bỏ nguy cơ tội phạm, nhằm tạo ra một xã hội hoàn hảo (nhân đạo). Nói cách khác không thể dùng mục đích nhân đạo biện hộ cho hành vi không nhân đạo. Điều đó có thể thấy rõ hơn qua phát biểu Hitler, được cổ vũ nhiệt liệt tại Đại hội Đảng NSDAP, năm 1929, nhằm xây dựng một dân tộc Đức thượng đẳng: “Nước Đức mỗi năm cần đẻ ra 1 triệu  trẻ em để thay thế chừng 700.000 đến 800.000 người Đức yếu kém phải giết đi, có thế mới đạt tới kết qủa thượng đẳng nhảy vọt“. Hậu qủa, chừng nửa triệu người Đức thiểu năng, tàn tật, đồng tính luyến ái, bị giết hại bằng hơi ngạt, những người cộng sản mới chỉ phản đối, chưa hành động gì, đều bị truy bức, giam cầm, hãm hại, tiêu diệt, do phạm tội lật đổ chế độ Phát xít “chưa đạt“, chưa kể cướp đi tính mạng 6 triệu người Do Thái và Zigeune do khác nòi giống họ.


Thực tế bị can Đoàn Văn Vươn, thiếu cả 2 dấu hiệu phạm tội, hoàn toàn không có động cơ hình sự, hậu qủa không ai chết, vẫn bị cáo buộc tội danh giết người, gây bất bình công luận, liệu đã đủ sức thuyết phục các chính khách, các dân biểu, cả hệ thống chính trị lẫn các nhà chuyên môn luật, nhận ra tính bất định của điều khoản 93 Tội danh giết người cần được sửa đổi, vì công minh vì vận mệnh từng con người, vì mục đích tạo dựng một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, hay phải đợi đến bao vụ án khác, bị oan trái hơn nữa, chỉ vì điều khoản này?

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code