Showing posts with label luật Mỹ. Show all posts
Showing posts with label luật Mỹ. Show all posts

Sunday, August 11, 2013

Cơ quan công tố hình sự ở Hoa Kỳ




Cơ quan công tố hình sự ở Hoa Kỳ[1]

Tại Hoa Kỳ, cả chính quyền liên bang và chính quyền các bang đều có quyền truy tố tội phạm, đều có hệ thống pháp luật, hệ thống toà án, công tố, cảnh sát riêng. Loại tội cụ thể nào được truy tố theo luật của liên bang hoặc luật của các bang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, rất phức tạp.[2]

Các quy định của luật pháp và thực tiễn áp dụng cho thấy, các tội phạm do cơ quan liên bang truy tố thường là các tội phạm buôn bán, vận chuyển ma tuý, tội phạm có tổ chức, tội phạm về tài chính và gian lận mức độ lớn, những tội phạm xâm hại đến các quyền lợi liên bang như chống lại công chức liên bang, lừa đảo, gian lận… nhằm vào liên bang. Thêm nữa, có một số loại chỉ chính quyền liên bang mới có quyền truy tố, bao gồm các tội phạm trong lĩnh vực hải quan, thuế liên bang, tội gián điệp, phản quốc.

Chính quyền các bang truy tố hầu hết các loại tội phạm nhằm vào cá nhân, như giết người và cố ý gây thương tích, các tội xâm phạm sở hữu như cướp, trộm cắp. Nhìn chung, số vụ án các bang xử lý lớn hơn rất nhiều so với con số của liên bang[3].

Mặc dù các bang có thẩm quyền lớn trong việc truy tố hầu hết các loại tội phạm nêu trên, nhưng họ chỉ có thể điều tra và truy tố các tội phạm xảy ra trên địa bàn lãnh thổ của bang. Thẩm quyền của liên bang thì mở rộng trên phạm vi toàn liên bang. Do vậy, liên bang có khả năng tốt hơn khi điều tra và truy tố các tội phạm phức tạp, xảy ra trên bình diện rộng.

Văn phòng các vấn đề quốc tế (OIA), bộ phận hình sự, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chịu trách nhiệm xử lý tất cả các trường hợp dẫn độ tội phạm với nước ngoài. Khi các chính phủ nước ngoài yêu cầu dẫn độ, họ phải cung cấp chứng cứ cho phía Bộ Tư pháp Hoa Kỳ để Bộ Tư pháp trình bày tại toà khi Quyết định dẫn độ bị kiện, hay bị xem xét tại toà án.

Mặc dù có sự khác nhau trong tố tụng hình sự (TTHS) giữa các bang với nhau, giữa các bang và chính quyền liên bang, nhưng một số các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự được áp dụng thống nhất cho các hoạt động điều tra và truy tố của các bang và liên bang.

Thứ nhất,một nguyên tắc thống nhất là việc điều tra và truy tố thuộc trách nhiệm của nhánh quyền lực hành pháp. Công tố viên, nhân viên điều tra và cảnh sát là các thành viên nhánh hành pháp, không nằm trong nhánh quyền lực tư pháp. ở Hoa Kỳ, không có khái niệm một thẩm phán điều tra - vốn tồn tại ở hệ thống pháp luật lục địa, dân sự. Do đó, vai trò của thẩm phán trong hoạt động điều tra tội phạm hình sự bị hạn chế. Tuy nhiên, một số hoạt động điều tra chỉ có thể được tiến hành sau khi có được sự chấp thuận, cho phép của thẩm phán. Chỉ thẩm phán mới có quyền ra lệnh khám xét và thu giữ chứng cứ về tội phạm, mới có quyền ra lệnh ghi âm các cuộc nói chuyện điện thoại, hay ra lệnh triệu tập nhân chứng hay một người nào đó để cung cấp thông tin, tài liệu và nếu từ chối sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp đặc biệt, chỉ thẩm phán mới có thể ra lệnh bắt người.[4]

Bất cứ khi nào, một công tố viên (hay một nhân viên cảnh sát, trong trường hợp khẩn cấp) thấy cần thiết phải có một quyết định, hay lệnh của toà án để phục vụ hoạt động điều tra, anh ta phải làm một yêu cầu chính thức gửi toà án và trình bày rõ các tình tiết và chứng cứ minh chứng cho tính cần thiết của yêu cầu đó. Một thẩm phán sẽ chỉ ra lệnh hay quyết định nếu ông ta xác định rằng, các căn cứ nêu ra có cơ sở cho việc ra lệnh. Chẳng hạn, để ra lệnh khám xét, thẩm phán phải xác định rằng các chứng cứ nêu ra cho thấy có căn cứ về một tội phạm đã xảy ra và chứng cứ về tội phạm có thể tìm thấy ở nơi cần khám xét.

Thứ hai,một số thủ tục, nguyên tắc tố tụng hình sự được quy định trong Hiến pháp Mỹ và được áp dụng cho tố tụng hình sự của cả các bang và liên bang. Chẳng hạn, một người bị truy tố về một tội nghiêm trọng có quyền được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn và được đại diện bởi một luật sư bào chữa. Tại phiên toà, bị cáo có quyền đối chất chứng cứ với người đã khai báo, làm chứng chống lại anh ta (nguyên tắc chống tự buộc tội - Tu chính án thứ 6). Ngoài ra, không ai có nghĩa vụ phải khai báo chống lại chính mình (Tu chính án thứ 5). Nhìn chung, Hiến pháp quy định không một lệnh nào có thể được ban hành, nếu không dựa trên các bằng chứng đủ để cho thấy có một tội phạm đã xảy ra.

Do đó, một lệnh bắt không được ban hành trừ khi có đủ chứng cứ rõ ràng cho thấy, có một tội phạm đã xảy ra và người bị bắt đã thực hiện hành vi phạm tội đó.

I. Các cơ quan tiến hành tố tụng: điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm hình sự liên bang

1. Bộ Tư pháp

Như đã nêu, trách nhiệm điều tra, truy tố tội phạm ở Hoa Kỳ thuộc nhánh quyền lực hành pháp. Tất cả các công tố viên của Hoa Kỳ đều thuộc Bộ Tư pháp. Thêm vào đó, tất cả các nhân viên của Cục điều tra liên bang (FBI), của lực lượng phòng chống ma tuý (DEA), của lực lượng cảnh sát liên bang (U.S. Marshals) và các điều tra viên của lực lượng phòng chống rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ (BATFE) đều trực thuộc Bộ Tư pháp[5] và toàn bộ các lực lượng này đều thuộc quyền tổng chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (ATTORNEY GENERAL).

Việc truy tố các tội phạm liên bang ở mỗi toà án của quận nào thuộc trách nhiệm của Chưởng lý liên bang của mỗi quận đó (US Attorney for that district). Chưởng lý liên bang của mỗi quận do Tổng thống bổ nhiệm và thông báo tới Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Có 94toà án quận ở Mỹ và có 93 Chưởng lý liên bang. Số lượng các Chưởng lý và công tố viên liên bang ở mỗi quận phụ thuộc vào số lượng các vụ việc ở mỗi quận (cả lĩnh vực hình sự và dân sự). Chẳng hạn, Văn phòng Chưởng lý liên bang quận Nam NewYork (Manhattan) có đội ngũ nhân viên nhiều hơn Văn phòng tư pháp thuộc quận Connecticut. Các nhân viên thuộc Vụ hình sự thuộc Bộ Tư pháp liên bang ở thủ đô có quyền truy tố mọi tội phạm xảy ra trên tất cả các quận toàn nước Mỹ, nhưng đứng đầu đội ngũ công tố viên là 93 giám đốc Chưởng lý liên bang và các chưởng lý dưới quyền, trợ lý chưởng lý liên bang.

2. Cơ quan xét xử của liên bang

Có 3 cấp xét xử các vụ án hình sự. Các thẩm phán sau khi được bổ nhiệm, trừ thẩm phán địa phương, có thể giữ nhiệm kỳ suốt đời. Hiến pháp Hoa Kỳ có quy định bảo đảm chế độ bổ nhiệm suốt đời cho các thẩm phán.

2.1. Các thẩm phán ở Toà án cấp quận

Cấp độ thấp nhất trong hệ thống xét xử là 94 toà án cấp quận. Các thẩm phán ở cấp này là thẩm phán địa phương (cấp thấp nhất của thẩm phán liên bang) hoặc thẩm phán liên bang quận. Tất cả các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền liên bang đều được xét xử tại các toà án quận này.

Những vụ án nhỏ, ít nghiêm trọng có thể được xét xử bởi một thẩm phán địa phương. Các vụ còn lại được xét xử bởi một thẩm phán liên bang quận. Tại phiên toà, các thẩm phán sẽ phán quyết các vấn đề về luật và chứng cứ. Nếu không có bồi thẩm đoàn, họ cũng phán quyết cả các vấn đề thực tế, xác định chứng cứ xem đã đủ kết tội hay không. Việc quyết định hình phạt đối với một người đã được định tội thuộc thẩm quyền của các thẩm phán.

Thẩm quyền của các thẩm phán liên bang quận (district) lớn hơn rất nhiều so với các thẩm phán địa phương (magistrate). Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, thẩm phán liên bang quận có thể giao một số việc cụ thể cho các thẩm phán địa phương. Chẳng hạn, theo quy định, tất cả các phiên xử về việc dẫn độ tội phạm (có được dẫn độ một người hay không) thuộc thẩm quyền xử lý của toà án cấp quận, nhưng thẩm phán cấp quận (trên toàn liên bang) xác định việc xét xử những vụ việc đó có thể do các thẩm phán địa phương tiến hành.

Ngoài việc xét xử ở các phiên toà, các thẩm phán liên bang quận còn có quyền ban hành các lệnh bắt, khám xét và kê biên tài sản, cho phép bị cáo tại ngoại và quyết định tất cả các vấn đề pháp lý khác trước khi xét xử.

2.2. Các toà án phúc thẩm liên bang

Cấp xét xử tiếp theo của hệ thống toà án liên bang là các toà phúc thẩm ở các Hạt. Có 13 Toà phúc thẩm Hạt (Circuit Courts of Appeals). Mỗi một Toà án phúc thẩm phụ trách việc xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự mà các tòa cấp quận thuộc phạm vi mình phụ trách. Chẳng hạn, Toà phúc thẩm Hạt số 2 xét xử phúc thẩm các vụ án đã được xét xử bởi các Toà án quận thuộc địa phận các bang Connecticut, NewYork và Vermont.

Người bị xét xử (sơ thẩm) về các tội phạm liên bang có quyền kháng cáo lên các Toà phúc thẩm có thẩm quyền. Tuy nhiên, các Toà phúc thẩm thường có thái độ tôn trọng đối với các tình tiết thực tế (chứng cứ) đã được xem xét ở Toà sơ thẩm và không xem xét mở rộng đối với các vấn đề thực tế, mà tập trung xem xét các vấn đề về luật. Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm của công tố viên bị hạn chế. Chẳng hạn, công tố viên không thể kháng nghị, nếu Toà sơ thẩm đã quyết định bị cáo vô tội.

Phiên xử phúc thẩm được tiến hành bởi hội đồng gồm 03 thẩm phán. Trong một số* ít trường hợp, quyết định của hội đồng 03 thẩm phán có thể được xem xét lại bởi tất cả các thẩm phán của Toà phúc thẩm. ở cấp phúc thẩm, bên nguyên và bên bị phải đệ trình văn bản nên rõ căn cứ pháp luật áp dụng đối với các tình tiết thực tế của vụ án và lý do, lập luận cho yêu cầu kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử sẽ nghe các bên “tranh luận” hay đưa ra các câu hỏi liên quan đến vụ án. Sau đó sẽ đánh giá mọi tình tiết và ra bản án. Thông thường, toà án sẽ ra phán quyết bằng văn bản và giải thích những lý do mà tòa đưa ra quyết định đó.

2.3. Toà án tối cao liên bang

Toà án tối cao có 9 thẩm phán. Trừ trường hợp đặc biệt xét xử sơ thẩm, toà án tối cao là cấp phúc thẩm cuối cùng, xem xét lại các bản án của các Toà phúc thẩm liên bang (của các Hạt) và các bản án của các Toà án tối cao của các bang. Quyết định của toà án tối cao là quyết định cuối cùng. Trong lĩnh vực hình sự, thông thường các bên không có quyền đề nghị Toà tối cao liên bang xem xét lại bản án. Thay vào đó, các bên có thể trông chờ Toà án tối cao xem xét lại bản án thông qua Đơn kiến nghị gửi lên Toà này giải thích lý do tại sao các vấn đề về luật trong vụ án của họ có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét tại Toà án tối cao. Chỉ một số lượng rất ít các đơn này được Toà án tối cao chấp nhận. Trong 50 năm qua, Toà án tối cao liên bang chưa xem xét lại bất kỳ vụ án nào về dẫn độ tội phạm.

II. Thủ tục tố tụng đối với tội phạm liên bang

1. Điều tra và buộc tội

Khi một trong các cơ quan điều tra liên bang tin rằng, đã có đủ chứng cứ về một tội phạm liên bang đã xảy ra, nhân viên điều tra sẽ trình bày mọi phát hiện của họ tới Văn phòng Chưởng lý liên bang tại quận đó. Một trong những trợ lý của Chưởng lý liên bang sẽ xem xét mọi tình tiết và hỏi lại cơ quan điều tra để xem đã đủ để kết luận một tội phạm đã xảy ra hay không.

Nếu thấy chứng cứ chưa đủ* cấu thành tội phạm, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục cuộc điều tra hoặc quyết định chuyển vụ việc cho Đại bồi thẩm đoàn (grand jury) và Đại bồi thẩm đoàn sẽ tiến hành điều tra vụ việc đó.

Nếu chứng cứ đã đủ, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và yêu cầu họ bỏ phiếu thông qua (hay phê chuẩn) quyết định khởi tố - coi như chính thức truy tố. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không đủ thời gian để trình bày với Đại bồi thẩm đoàn vì cần bắt giữ người phạm tội ngay, thì trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ yêu cầu Toà án ban hành lệnh bắt dựa trên một văn bản đề nghị (có tuyên thệ) trong đó nêu rõ các căn cứ tình tiết, chứng cứ về việc phạm tội của bị can. Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng, thẩm phán thấy rằng đã đủ căn cứ theo yêu cầu về chứng cứ, ông ta có thể ra lệnh bắt người đó. Nếu lệnh bắt đã được ban hành theo thủ tục trên, Chưởng lý liên bang sau đó phải trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và phải có được quyết định phê chuẩn việc khởi tố từ Đại bồi thẩm đoàn.

Đại bồi thẩm đoàn bao gồm 16 - 23 thành viên có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết, chứng cứ đưa ra để bỏ phiếu thông qua quyết định buộc tội. Thông thường, Đại bồi thẩm đoàn chỉ nghe thông tin từ phía cơ quan của Chính phủ. Mục tiêu của một cuộc điều tra (ví dụ một cá nhân mà cuộc điều tra hướng tới) có thể không bị triệu tập ra trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn, nhưng anh ta có thể tự nguyện trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn. Song điều này hiếm khi xảy ra.

Theo quy định, để truy tố một người, ít nhất 12 thành viên của Đại bồi thẩm đoàn phải nhất trí là có đủ tình tiết, chứng cứ chứng tỏ bị can đã phạm tội. Khi Đại bồi thẩm nghị án, các thành viên như công tố viên, điều tra viên và nhân viên thư ký toà án và tất cả những người khác phải rời khỏi phòng của Đại bồi thẩm đoàn.

Theo Hiến pháp, người bị khởi tố về tội có mức hình phạt từ một năm tù trở lên có quyền được quyết định truy tố bởi Đại bồi thẩm đoàn[6]. Đại bồi thẩm đoàn không có quyền phán quyết một người nào đó có tội hay vô tội. Việc đó chỉ được thực hiện tại phiên toà xét xử chính thức sau này.

Công tố viên liên bang không có quyền ra lệnh triệu tập một người nào đó đến để khai báo hoặc cung cấp chứng cứ mà họ đang có, mà Đại bồi thẩm đoàn mới có thẩm quyền ra các lệnh này. Do đó, xét về bản chất, Đại bồi thẩm đoàn có thẩm quyền điều tra. Trong thực tế, các trợ lý Chưởng lý liên bang và các công tố viên liên bang thường ban hành các Lệnh triệu tập nhân danh Đại bồi thẩm đoàn. Còn các Đại bồi thẩm đoàn có thể tự ban hành các Lệnh triệu tập bổ sung nhân chứng theo ý của mình.

Khi nhân chứng được triệu tập ra trước Đại bồi thẩm đoàn, trợ lý Chưởng lý liên bang thường đặt câu hỏi với họ, mặc dù trong nhiều trường hợp, các bồi thẩm cũng đặt câu hỏi. Một nhân chứng khi trình bày trước Đại bồi thẩm đoàn, cũng như nhân chứng trước phiên toà, có thể không bị bắt buộc phải cung cấp chứng cứ nếu chứng cứ đó có thể dẫn đến việc buộc tội chính mình. Như đã nêu trên đây, quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp (Tu chính án thứ năm), gọi là Quyền ưu tiên hay Nguyên tắc chống tự buộc tội.

Hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn được ghi vào biên bản thông qua nhân viên đánh máy và được giữ bí mật. Nếu một công tố viên hay một thành viên bồi thẩm có bất kỳ bình luận gì trước công chúng về hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn sẽ phạm tội hình sự. Công tố viên cũng không được tiết lộ với bất kỳ công tố viên hay điều tra viên nào khác, trừ những người trực tiếp tham gia vụ án, về các hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn. Thông tin về hoạt động của Đại bồi thẩm đoàn chỉ có thể được tiết lộ nếu có Lệnh của một Toà án liên bang. Tuy nhiên, điều đó hiếm khi xảy ra. Tất nhiên, những chứng cứ thu được từ bồi thẩm đoàn có thể được sử dụng tại phiên toà xét xử sau này, nếu Đại bồi thẩm đoàn quyết định truy tố. Trong những vụ án lớn và phức tạp, chẳng hạn các vụ gian lận tài chính lớn, sự tham gia từ đầu của Đại bồi thẩm đoàn có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động điều tra. Trong những vụ như vậy, điều tra viên và công tố viên cũng sẽ phối hợp làm việc chặt chẽ ngay từ giai đoạn điều tra ban đầu.

2. Bắt giữ

Trong hệ thống liên bang, một người có thể bị bắt sau khi Đại bồi thẩm đoàn đã phê chuẩn quyết định khởi tố (truy tố) về một tội. Như đã nêu trên, thẩm phán cũng có thể ra lệnh bắt trước khi có phán quyết phê chuẩn này. Thông thường, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ đề nghị Toà án ra lệnh bắt người có tên trong quyết định truy tố (của bồi thẩm đoàn)[7]. Phụ thuộc vào nhiều tình tiết mà sau khi bị bắt, bị can có thể bị tạm giam hoặc* được nộp tiền bảo lãnh để tại ngoại. Những tình tiết này bao gồm các điều kiện: mức độ nghiêm trọng của vụ việc, tiền án, khả năng bỏ trốn. Thẩm phán sẽ quyết định một người có bị tạm giam hay không hoặc được tại ngoại và nếu tại ngoại thì kèm theo điều kiện gì. Những điều kiện này bao gồm cả yêu cầu bị can, hay người đại diện của bị can, phải đặt bao nhiêu tiền, tài sản và nếu trốn, tiền hoặc tài sản sẽ bị tịch thu.

Ngay sau khị bị bắt, bị can sẽ được đưa tới một thẩm phán. Thẩm phán sẽ thông báo với bị can về việc bị truy tố, buộc tội và hỏi bị can nhận tội hay không nhận tội đã bị truy tố. Quá trình này được gọi là buộc tội.

3. Xét xử

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, một người bị truy tố về tất cả các tội, trừ những tội ít nghiêm trọng, có quyền được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn. Đây là bồi thẩm đoàn có chức năng xét xử, còn gọi là Tiểu bồi thẩm đoàn (petit jury - khác với Đại bồi thẩm đoàn có chức năng buộc tội nêu trên). Bồi thẩm đoàn này có 12 thành viên là những công dân bình thường và phải cùng đồng thuận phán quyết bị cáo có tội hay không. Tại phiên toà, công tố viên phải chứng minh rằng, một người nào đó đã phạm một tội hình sự. Bị cáo không có nghĩa vụ phải khai báo hay phải yêu cầu có mặt nhân chứng ủng hộ mình[8]. Trái lại, nếu anh ta quyết định khai báo thì sẽ phải tuyên thệ và bị truy tố về tội khai báo gian dối như bất kỳ nhân chứng nào nếu khai báo gian dối.

Tại phiên toà có bồi thẩm đoàn, bồi thẩm đoàn sẽ xác định chứng cứ nêu ra liệu có đủ thuyết phục để kết tội bị cáo hay không. Bồi thẩm đoàn khi quyết định chỉ được dựa trên các tình tiết, chứng cứ được trình bày tại phiên toà. Nếu bồi thẩm đoàn có quan điểm cá nhân là một người nào đó đã phạm tội (như đã truy tố), nhưng lại xác định rằng chứng cứ của công tố viên nêu ra tại toà chưa đủ cơ sở để chứng minh bị cáo phạm tội, bồi thẩm đoàn phải tuyên vô tội cho bị cáo.

Thẩm phán chủ toạ điều khiển phiên toà và quyết định những vấn đề về pháp luật, bao gồm cả việc có chấp nhận một chứng cứ nào đó hay không (chẳng hạn quyết định một chứng cứ nào đó có thể được trình bày trước bồi thẩm đoàn hay không). Thẩm phán cũng hướng dẫn bồi thẩm đoàn về các nguyên tắc pháp luật áp dụng trong vụ án để quyết định bị cáo có tội hay vô tội.

Bị cáo có quyền từ bỏ quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn. Thẩm phán khi đó sẽ có vai trò của người “xét xử các tình tiết thực tế” và quyết định với các chứng cứ được trình bày đã đủ để cho rằng bị cáo đã phạm tội hay không.

Thẩm phán có quyền, và thỉnh thoảng, đặt câu hỏi với nhân chứng. Tuy nhiên, việc đặt câu hỏi với nhân chứng là trách nhiệm đầu tiên và cơ bản của công tố viên và luật sư bào chữa. Họ (công tố viên và luật sư) đặt ra hầu hết (nếu không nói là tất cả) các câu hỏi với nhân chứng.

Một nhân viên toà án sẽ ghi chép lại nguyên bản mọi lời nói, câu hỏi đáp tại phiên toà giữa luật sư, công tố viên, thẩm phán và nhân chứng. Những ghi chép này bao gồm cả các đối thoại, tranh luận giữa công tố viên và luật sư bào chữa tại phòng riêng trước thẩm phán - mà không có sự hiện diện của bồi thẩm đoàn về các vấn đề về luật, chẳng hạn tranh luận về một chứng cứ có được chấp nhận (admissible) và được đưa ra tại phòng xét xử chính thức hay không.

Nếu bị cáo bị tuyên có tội, trách nhiệm của thẩm phán chủ toạ là quyết định hình phạt. Bị cáo bị kết tội có quyền kháng cáo phúc thẩm lên Toà phúc thẩm Hạt có thẩm quyền. Nếu bị cáo được tuyên vô tội và được thả tự do, công tố viên không có quyền kháng nghị phúc thẩm. Thông thường, bị cáo có thể kháng cáo về hình phạt đã tuyên.* Công tố viên và bị cáo phải quyết định yêu cầu đoạn biên bản phiên toà nào và chứng cứ nào (đã được xem xét tại toà sơ thẩm) cần được Toà phúc thẩm xem lại. Không có chứng cứ mới nào được phép trình ra tòa phúc thẩm.

3.1. Không truy tố

Một trong những đặc trưng lớn nhất của nền tư pháp Hoa Kỳ là thẩm quyền tuỳ nghi rộng lớn của công tố viên trong các vấn đề hình sự. Chẳng hạn, một công tố viên liên bang có thể quyết định không truy tố một tội phạm, nếu thấy vụ việc quá nhỏ để truy tố theo thẩm quyền liên bang. Chẳng hạn, số lượng ma tuý hay thiệt hại cho nạn nhân không đáng kể. Khi đó, cơ quan điều tra (liên bang) có thể chuyển vụ việc cho một công tố viên của bang (nếu vụ việc đó có thể bị truy tố ở toà án bang) và công tố viên của bang cũng có toàn quyền truy tố hay không truy tố. Tương tự, công tố viên liên bang có thể không truy tố một tội phạm ít nghiêm trọng nếu cho rằng, có giải pháp khác thay thế, chẳng hạn bị cáo đồng ý bồi thường cho nạn nhân.

Bị cáo bị khởi tố về các tội ít nghiêm trọng, không bạo lực, có thể được xử lý theo các cách thức khác, thông thường là bồi thường, khắc phục hậu quả cho nạn nhân. Nếu bị cáo thực hiện xong các biện pháp đó, họ sẽ không bị truy tố nữa và tránh bị lập lý lịch hình sự.

Một cách thức nữa mà công tố viên có thể không truy tố hoặc đề nghị Đại bồi thẩm đoàn rút lại quyết định (phê chuẩn) truy tố là mặc dù có đủ chứng cứ để khởi tố và phê chuẩn việc truy tố, nhưng các chứng cứ dù có bổ sung sau này cũng không thể chứng minh được bị cáo phạm tội tại phiên toà xét xử chính thức. Trong những trường hợp như vậy, công tố viên không bị bắt buộc phải đề nghị ra lệnh bắt. Còn nếu công tố viên đã khởi tố, buộc tội, có phê chuẩn từ Đại bồi thẩm đoàn, đã có lệnh bắt bị can từ toà án, (mà sau đó quyết định không truy tố), thì việc đó được coi như lạm dụng quyền tuỳ nghi của công tố viên.

3.2. Thoả thuận nhận tội

Hầu hết các vụ án hình sự ở Mỹ, trước khi xét xử, thậm chí ngay tại phiên xử, được xử lý /giải quyết theo thủ tục bị cáo nhận tội. Thông thường, việc nhận tội của bị cáo có được sau khi có thương lượng giữa luật sư đại diện cho bị cáo và công tố viên. Thủ tục này được gọi là Thoả thuận nhận tội (hay thú tội). Theo thủ tục này, bị cáo, thường thông qua luật sư, đồng ý nhận tội theo một hay tất cả các tội mà công tố viên khởi tố /buộc tội để đổi lại một số hoạt động nhất định của công tố viên. Công tố viên có thể đồng ý không truy tố một hay một số tội danh đã khởi tố /buộc tội, hay thậm chí sẽ đưa ra đề nghị về mức án với thẩm phán, hoặc không phản đối mức án mà luật sư bào chữa đưa ra[9]. Thoả thuận của công tố viên (với phía bị cáo) có hiệu lực pháp luật trên toàn liên bang. Là một phần của thoả thuận nhận tội, bị cáo có thể đồng ý khai báo sự thật về các tội phạm mà anh ta biết được. Do vậy, công tố viên có thể sử dụng thoả thuận nhận tội để có được lời khai từ những kẻ phạm tội ít nghiêm trọng trong vụ án, để có chứng cứ kết tội những kẻ phạm tội nghiêm trọng hơn.

Thoả thuận nhận tội phải được lập trước một thẩm phán. Một nhân viên toà án sẽ viết biên bản về tất cả mọi điều nêu ra trong khi thoả thuận. Trước khi thẩm phán chấp thuận thoả thuận, ông ta sẽ đặt câu hỏi với bị can (tại một phiên họp /xử công khai) để đảm bảo rằng, bị cáo hiểu hết về quyền của anh ta không phải nhận tội và có quyền yêu cầu một phiên xét xử chính thức; rằng anh ta nhận tội hoàn toàn tự nguyện, hiểu hết mọi điều khoản trong Thoả thuận và hậu quả của việc nhận tội; rằng anh ta không bị ép buộc hay bị hứa hẹn, lừa dối không đúng pháp luật từ phía công tố; và có cơ sở thực tế của Thoả thuận nhận tội. Nếu thẩm phán không thoả mãn, hài lòng với trả lời từ phía bị can, thẩm phán sẽ không chấp nhận lời nhận tội của bị can.

3. 3. Miễn trừ truy tố

Để có được chứng cứ cần thiết truy tố một tội phạm liên quan đến các vụ phạm tội có tổ chức là một điều đặc biệt khó khăn. Tính chất bí mật của các tổ chức này và sự* đe dọa sẽ làm cho việc có được chứng cứ - những lời khai cần thiết chống lại những kẻ cầm đầu - là điều đặc biệt khó khăn cho các công tố viên. Nhân chứng ngoài các tổ chức này thông thường rất sợ hãi khi phải khai báo. Những thành viên trong tổ chức thì không chỉ không muốn khai báo, mà còn viện dẫn Tu chính án thứ 5 về nguyên tắc chống tự buộc tội và từ chối khai báo về bất cứ tội phạm nào mà họ tham gia. Quyền lực đặc biệt của công tố viên để miễn trừ truy tố cho các nhân chứng, thường sẽ tạo điều kiện cho họ có được lời khai đặc biệt có giá trị, đặc biệt khi truy tố* các vụ án loại này.

Thứ nhất, công tố viên sẽ xác định sự hợp tác hoặc những lời khai có giá trị đến mức nào và tầm quan trọng của lời khai hay sự hợp tác của một người nào đó có giá trị, trọng lượng cao hơn yêu cầu, đòi hỏi phải truy tố người đó về những tội nhẹ, ít nghiêm trọng mà họ tham gia. Trong trường hợp đó, công tố viên sẽ đồng ý không truy tố người đó về tội phạm mà họ sẽ khai ra hoặc sẽ hợp tác, chẳng hạn sẽ cung cấp thông tin và hợp tác trong hoạt động điều tra. Do vậy công tố viên sẽ trao (xác nhận) miễn trừ truy tố đối với một số tội mà họ đã phạm.

Thứ hai, công tố viên có thể xác định phạm vi, mức độ miễn trừ. Trường hợp này được quy định nhằm bỏ qua hay bác lập luận của nhân chứng về nguyên tắc chống tự buộc tội. Trong trường hợp này, công tố viên đề nghị tòa án bắt buộc nhân chứng phải khai báo và nhân chứng sẽ được đảm bảo rằng lời khai đó (và bất kỳ thông tin nào có được từ lời khai đó) sẽ không được sử dụng để truy tố chống lại anh ta. Cách thức miễn trừ này được quy định trong các luật do Quốc hội thông qua, nhằm giải quyết thực tế khó khăn cần có được chứng cứ trong các vụ phạm tội có tổ chức. Công tố viên vẫn có quyền truy tố người đã được hưởng quyền miễn trừ này với điều kiện các chứng cứ (mới) chống lại anh ta không sử dụng hay không có được từ những lời khai trước đó.

III. Phân loại nghề nghiệp thẩm phán, công tố viên và luật sư bào chữa

1. Điều kiện

Tòa án cao nhất của mỗi bang trong năm mươi bang và của quận Columbia thiết lập các tiêu chuẩn cho việc hành nghề luật trong các Tòa án thuộc thẩm quyền. Trong thực tế, tất cả các bang đều đòi hỏi các luật sư tương lai phải có bằng đại học 4 năm (không quy định bắt buộc phải có bằng đại học chuyên ngành cụ thể nào), sau đó phải tiếp tục 3 năm học trong trường chuyên ngành luật.

Để được chấp nhận hành nghề luật tại một bang nào đó hoặc tại quận Columbia, một người phải được chấp nhận bởi một Hội đồng xem xét đạo đức của bang đó và phải trải qua một kỳ thi về luật của Hoa Kỳ nói chung bao gồm cả luật hiến pháp, các quy tắc đạo đức nghề luật, luật nội dung và tố tụng của bang đó.

Những người vượt qua các kỳ thi và có đủ đạo đức để hành nghề luật, sẽ được phép hành nghề luật tại các tòa án. Để được hành nghề tại các tòa án liên bang, họ sẽ phải đăng ký hành nghề tại tòa án cấp quận và các tòa án phúc thẩm cấp Hạt của liên bang. Thông thường họ không phải dự thêm các kỳ thi để hành nghề tại các tòa án liên bang. Rất nhiều luật sư của Mỹ đăng ký thuộc nhiều đoàn luật sư của các bang khác nhau; nhiều bang chấp thuận luật sư của bang này được hành nghề tại bang kia theo nguyên tắc có đi có lại nếu luật sư đã hành nghề một số năm, thông thường là năm năm và có đủ đạo đức phẩm chất.

2. Thuật ngữ

Khi một người được chấp thuận vào một đoàn luật sư, anh ta được coi là thành viên của đoàn đó và được coi là luật sư hoặc luật gia. ở Mỹ, các khái niệm này có cùng một nghĩa và được sử dụng như nhau. Từ esquire (ngài)đặt đằng sau tên của một người Mỹ có nghĩa người đó là một luật sư. Việc sử dụng từ esquire như vậy tuy không chính thống nhưng lại được áp dụng rất phổ biến. Ngoài ra, khái niệm counsel (luật sư) hay counsellor at law (cố vấn pháp luật) cũng được sử dụng cho các luật sư và cũng được hiểu người được gọi như vậy là một luật sư.

3. Phân loại nghề nghiệp

Một luật sư (luật gia) có thể đăng ký hành nghề trong khu vực tư nhân, có nghĩa là họ có thể đại diện cho bất kỳ ai nếu được yêu cầu. Một luật sư cũng có thể được thuê làm việc cho chính quyền thành phố, chính quyền bang hay chính quyền liên bang trong hàng loạt các công việc đòi hỏi phải có hiểu biết về pháp luật. Riêng các công tố viên thì luôn là luật gia và là công chức của chính quyền bang, liên bang hay thành phố.

Các luật sư (luật gia) đang hành nghề tư nhân cũng có thể làm cho các cơ quan của chính phủ, kể cả việc trở thành công tố viên. Ngược lại, các công tố viên có thể rời khỏi cơ quan chính phủ để hành nghề trong khu vực tư nhân và lại trở thành luật sư bào chữa.

Thẩm phán thì thường được chọn từ hai nguồn: những luật gia đã hành nghề trong khu vực tư nhân và những công tố viên có kinh nghiệm. Đôi khi, cả những luật gia (không phải là công tố viên) đang làm việc cho các cơ quan khác của chính phủ cũng được chọn. Họ cũng thể được chọn từ những giảng viên luật.

Thẩm phán của tòa án các bang thường được bầu và hoạt động theo nhiệm kỳ. Các thẩm phán liên bang và thẩm phán của các tòa cấp quận ở Columbia do tổng thống bổ nhiệm theo khuyến nghị và sự chấp thuận của Thượng viện Mỹ. Các thượng nghị sỹ giới thiệu các ứng cử viên thẩm phán cho các Tòa án liên bang (cấp quận hay hạt) nằm trên địa phận bang của họ. Các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm suốt đời. Rất hiếm khi các thẩm phán liên bang từ bỏ nghề xét xử để hành nghề trong khu vực tư nhân.

Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA) là một tổ chức mang tính chất tư nhân của các luật gia, bao gồm cả những người hành nghề tư nhân, những luật gia làm việc trong khu vực nhà nước (bao gồm cả các công tố viên) và các thẩm phán là thành viên của tổ chức này. ABA tự xếp hạng cho các ứng cử viên vào các vị trí thẩm phán liên bang. Mặc dù việc xếp hạng của ABA là không chính thức, nhưng Thượng viện Mỹ gần như chưa bao giờ chấp thuận một ứng cử viên mà ABA xếp hạng thấp để giới thiệu làm thẩm phán liên bang.

Trung tâm tư pháp liên bang tại thủ đô Washington thực hiện các khóa đào tạo ngắn hạn cho các thẩm phán liên bang mới được bổ nhiệm. Ngoài ra cũng có một trung tâm tại Reno (Nevada) mở cửa cho các thẩm phán từ bất kỳ bang nào. Một điều thú vị là, thẩm phán của Tòa án tối cao liên bang không bắt buộc phải là luật gia, tuy nhiên trong thực tế họ luôn là các luật gia.


[1] Nguyên bản: Guide to criminal prosecutions in the United States, trong Websites: ww.oas.org

[2] Cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của liên bang rất phức tạp và chỉ có thể thấy ở Mỹ. Chẳng hạn, một vài loại tội đòi hỏi để được truy tố tại toà án liên bang phải có yếu tố liên bang như sử dụng bưu điện, điện thoại, liên lạc viễn thông, giao thông qua nhiều bang. Thậm chí còn được quy định trong các hiệp định dẫn độ tội phạm với nước ngoài.

[3] Sự kết hợp cả hai cơ chế tư pháp liên bang và bang nêu trên tạo nên tổng thể về hệ thống tư pháp liên bang của Mỹ.

[4] Theo luật liên bang, một nhân viên toà án (a clerk of the court) có thể ra lệnh bắt bị cáo sau khi đã có quyết định truy tố.

[5] Ngoài ra còn có các lực lượng điều tra chuyên trách thuộc các Bộ, ngành khác có thẩm quyền điều tra theo lĩnh vực quản lý ngành, chẳng hạn tất cả các điều tra viên thuộc Văn phòng về các dịch vụ bí mật (điều tra tiền giả), Văn phòng hải quan và nhập cư, lực lượng tuần tra biên phòng… đều thuộc quyền quản lý của Bộ An ninh nội địa. Bộ Ngân khố quốc gia có lực lượng điều tra chuyên tội phạm về thuế.

[6] Tuy nhiên, họ có quyền từ bỏ quyền này và được truy tố theo thủ tục khác, thủ tục* “Information”.

[7] Lệnh bắt người không có ý nghĩa để buộc tội hay truy tố.

[8] Thức tế, công tố viên bị cấm có bất kỳ bình luận nào về việc bị cáo không khai báo, không thể trả lời, và thẩm phán phải thông báo với bồi thẩm đoàn rẳng, việc bị cáo im lặng không được coi là bị cáo phạm tội.

[9] Thẩm phán không có nghĩa vụ phải nghe theo đề nghị của công tố viên về mức hình phạt. Khi đó, thẩm phán sẽ cảnh báo trước với phía bị cáo về mức án có thể sẽ tuyên (trước khi bị cáo chấp nhận thoả thuận), để hai bên công tố và phía bị cáo không hiểu lầm toà án bắt buộc phải theo đề nghị hình phạt của công tố viên. Tuy nhiên, nếu công tố viên từ chối truy tố một tội nào đó, điều đó có ý nghĩa bắt buộc đối với toà án.

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 91, tháng 2/2007)

Trần Đại Thắng

-----

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

HẾ ĐỘ TỔNG THỐNG DO HOA KỲ KHAI SINH


Phạm Vũ
Nhân cuộc bầu cử vào ngày 6-11-2012 tại Mỹ, chúng ta thử cùng nhau tìm hiểu các Thể chế điều hành Chính Phủ trên thế giới, nhất là Tổng Thống chế ở Hoa Kỳ.
I.- CÁC THỂ CHẾ CHÍNH PHỦ TRÊN THẾ GIỚI
A/ THỂ CHẾ ĐỘC TÀI
Thể chế này do một cá nhân độc đoán cai trị, độc hành và có quyền hạn vô hạn. Đó là chế độ Quân Chủ Chuyên chế, chế độ Độc tài – Quân Phiệt, chế độ Phát Xít, chế độ các nước Hồi Giáo…
. Chế độ Quân chủ chuyên chế:
- Các nước Quân chủ phong kiến ở các châu Âu, châu Á thuở trước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ…
- Tòa thánh Vatican: Giáo Hoàng nắm quyền tối cao, thâu tóm 3 quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Tuy có Hội đồng Hồng y Giáo chủ nhưng chỉ đón vai trò tư vấn cho Giáo Hoàng.
- Saudi Arabia: không có Quốc hội, chỉ có Hội đồng Tư vấn từ tháng 12-1993, do Quốc vương bổ nhiệm và toàn quyền định đoạt Chính phủ.
- Brunei: phải đến tháng 9-2004 Hội đồng Lập pháp mới được thành lập, do Quốc vương nắm toàn quyền bổ nhiệm, sau đó sẽ được thay thế bằng một Quốc hội mới được bầu.
. Chế độ Độc tài – Quân phiệt: do một người hoặc một sĩ quan Quân đội nắm giữ cả ba quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.
. Chế độ Phát xít: Đức, Ý và Nhật thời Thế chiến thứ 2 sống dưới chế độ này, gây biết bao tang thương, tội ác với nhân dân và các nước nạn nhân khác.
. Chế độ ở các nước Hồi giáo: Iran, Maroc, Butan, Kuwait…quyền lực tối cao nằm trong tay Giáo chủ, dù có Quốc hội và Chính phù nhưng chì có thẩm quyền tư vấn.
B/ CÁC THỂ CHẾ DÂN CHỦ
Trong thể chế này, phương thức cai trị là tôn trọng và thực hiện để mọi công dân bàn bạc và quyết định mọi công việc quốc gia, thông qua các cuộc bầu cử tự do. Các nước theo thể chế Dân chủ có thể là nước Quân chủ Lập hiến hoặc đa số là nước Cộng Hòa (chính thể trong đó quyền lực tối cao thuộc về các cơ quan dân cử với quyền hạn thật sự).
1. CHẾ ĐỘ QUỐC HỘI CỦA THỤY SĨ
Thụy Sĩ đã theo chế độ Dân chủ Trực tiếp từ lâu đời, đó là chế độ Cộng hòa Liên bang với 26 tiểu bang nhỏ, tất cả do Quốc hội gồm hai viện: Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện, nắm quyền quyết định nền chính trị, xã hội và bầu ra 7 Thủ tướng đảm trách 7 lãnh vực: ngoại giao, quốc phòng, kinh tế , văn hóa, giáo dục, du lịch và y tế. & 7 vị này lần lượt thay nhau làm Tổng thống đại diện Quốc gia, nhưng không có nhiều quyền hạn. Vì là chế độ Dân chủ Trực tiếp nên có rất nhiều cuộc bầu cử trong năm đễ người dân có quyền quyết định việc nước, vì thế từ xa xưa Thụy Sĩ khai sinh ra chế độ Quốc Hội.
2. CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ CỦA ANH QUỐC
Dù là một nước Quân chủ Chuyên chế, nhưng sau đó do lịch sử, Anh Quốc cũng là nơi khai sinh ra chế độ Quân chủ Lập hiến tức Đại Nghị chế (chế độ do nhân dân chọn đại biểu để tham dự chính trị). Năm 1066 là một trong thời gian nổi tiếng trong lịch sừ Anh. Nước Anh lại bị xâm lăng và William the Conquer, một quận công xứ Norman (dân tộc từ Normandy ờ bắc nước Pháp) chiến thắng và trờ thành Vua Anh, ông làm vua được 21 năm. Vua và các cận thần không biết nói tiếng Anh, và vì thế trong 200 năm, tất cả văn kiện quan trọng ban hành đều viết bằng tiếng Pháp, không phải tiếng Anh. (Tiếng Anh có rất nhiều từ lấy từ tiếng Pháp khởi nguồn từ thời kỳ này).
Từ thế kỷ 13, quyền hạn của Vua bị hạn chế. Năm 1215, vua John bị ép buộc phải ký Magna Carta (Đại Hiến chương), một văn kiện dành cho giới Quý tộc. Từ “Parliament” (Quốc Hội Anh) được dùng để diễn tả các cuộc họp của Vua và Quý tộc. Vua cũng gặp gỡ đại diện các tỉnh để tăng giảm thuế. Giới Quý tộc trờ thành Viện Quý tộc và nhân dân từ các tỉnh trở thành Viện Thứ dân, từ đó Quốc hội có 2 viện gồm các quý tộc và thứ dân, được gọi chung là “Thành viên Quốc Hội” (Member of Parliament – M.P.).
Xung đột tôn giáo giữa Thiên Chúa và Anh giáo xảy ra trong thế kỷ 17 và vào năm 1689, The Bill of Rights ( Tuyên ngôn Nhân quyền) được Vua Anh ký để chấm dứt việc này. Đến năm 1714, vua George I lên ngôi, ông là vị vua Anh đầu tiên từ dòng họ Hanover từ nước Đức về, nên cũng không biết nói tiếng Anh, và các vua George II, III, IV, V,VI kế nghiệp (vua George III chịu trách nhiệm về việc Mỹ giành được độc lập, ông bị bệnh tâm thần và phài đề cừ vị Thái tử Phụ chính).Vì là người Pháp nên Vua Anh phải cứ một vị đại thần người Anh, để thay mặt Vua chủ tọa Nội các và liên lạc với Quốc Hội toàn nói tiếng Anh. Chính vị này thay mặt Vua Anh sau đó, đã trở thành Thủ Tướng đứng đầu Chính Phủ Anh lúc bấy giờ. và Vương quốc Anh khai sinh ra chế độ Đại Nghị trên thế giới.
Vào đầu thế kỷ 18, đã có một cuộc dàn xếp giữa Vua và Quốc Hội nên số người được đi bầu cử gia tăng. Năm 1832 Đạo luật Cải cách đầu tiên được thông qua, nhưng phải đợi tới thế kỳ 20, cải cách Quốc hội tiếp tục, từ đó tất cả người trưởng thành đều được đi bầu cử. Hiện nay Vương quốc Anh gồm 4 xứ: England, Wales, Scotland và Bắc Ireland, có 2 đảng chính: Bảo Thủ và Lao Động thay nhau nắm đa số tại Quốc Hội – với 2 viện: Viện Quý tộc và Viện Thứ dân, từ đó Đảng nắm đa số sẽ làm Thủ Tướng điều hành Chính Phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc Hội. Chế độ lưỡng đảng này đã giúp nền chính trị Anh tương đối ổn định.
. Đa số các nước ở châu Âu hiện theo chế độ Đại nghị với Vua hoặc Tổng thống có hư vị, mọi quyền hành do Thủ Tướng Chính Phủ nắm giữ và chịu trách nhiệm trước Quốc Hội. Ưu điềm là chế độ này được coi là dân chủ nhất, nhưng khuyết điếm là không bảo đảm một nền Hành pháp mạnh mẽ vì có đa đảng dễ gây chia rẽ, khiến việc điều hành đất nước khó khăn, với việc có những Chính Phủ “chết yểu”, cơ quan Lập pháp được Hiến Pháp bảo đảm quyền lực rộng lớn, nhưng thực quyền Quốc Hội phụ thuộc vào cơ chế chính trị và tính chất đảng phái nhiều hơn.
. Chế độ Cộng hòa Hổn hợp: ở Châu Âu không có nước nào xây dựng mô hình Chính Phủ theo kiểu Mỹ, nhưng một số nước như Pháp và Nga đã cải cách để nhân dân trực tiếp bầu Tổng thống – từ đó vị này có quyền thế mạnh hơn, Tổng thống chỉ định một Thủ tướng điều hành Chính Phủ và không chịu trách nhiệm trước Quốc Hội mà chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống mà thôi. Cả Tổng thống cũng như Quốc hội độc lập với nhau. .(ảnh hưởng Mỹ).
3. CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG – DO HOA KỲ KHAI SINH
Năm 1787, để điều hành 13 tiểu bang Bắc Mỹ tức Hợp Chúng Quốc vừa mới được thành lập, những nhà soạn thảo Hiến Pháp, phân vân giữa hai chế độ Quốc Hội của Thụy Sĩ và chế độ Đại nghị của Anh Quốc. Họ cho rằng dân chúng không đủ khôn ngoan để đánh giá đức hạnh Ứng cử viên Tổng thống và họ cũng bác bỏ ý kiến cho rằng chức vụ Tồng thống nên được Quốc Hội quyết định. Chính vì thế, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã khai sinh ra một thể chế hoàn toàn mới: Tổng Thống chế. Trong đó, Vua và Thủ Tướng của Anh Quốc gộp lại làm một vị duy nhất – vừa lãnh đạo tối cao đất nước, vừa điều hành Chính phủ – vị đó có danh xưng là Tổng Thống Hoa Kỳ (President of the USA, Hoa Kỳ cũng khẳng định Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa trong “The Pledge of Allegiance” dành cho các học sinh Mỹ tuyên đọc: “Em thề trung thành với lá Quốc kỳ Mỹ và với nước Cộng Hòa mà nó đại diện, một Liên Bang, dưới sự che chở của Thượng Đế, bất khả phân, với sự tự do và công bằng cho mọi người.”).
Từ đó, dân Mỹ bỏ phiếu Chọn Tổng thống (vote for President) nhưng họ không thật sự Bầu Tổng thống (elect President): đây là chế độ Dân chủ Gián tiếp, vì các nhà lâp hiến cho thành lập Đại cử tri (Đại biểu cử tri, Elector) trong Cử tri đoàn mới thật sự là những người quyết định ghế Tổng thống chứ không phài Cử tri Phồ thông (Voter).
Hiến Pháp Hoa Kỳ cho phép các Tiểu bang chọn Đại cừ tri. Thoạt đầu, Đại cử tri được chỉ định bởi các nhà làm luật tại Tiểu bang và cuối cùng được chính thức chọn làm Đại cử tri bởi sự ủng hộ của các nam công dân thuộc hàng có tên tuổi của các Tiểu bang khác. Dần dần, các đảng phái (may mắn là Hoa Kỳ cũng chì có hai đàng lớn là Cộng hòa và Dân chủ nên việc điều hành Liên Bang giữa Tổng thống và Quốc hội tương đối ổn định) ở từng Tiểu bang tự đứng ra chọn Đại cử tri. Tuy điều này dẫn đến tình trạng Đại cử tri có thể thiên vị (từng bị báo chí phản đối nhiều), nhưng Luật không cấm. Đầu tháng 12 sau cuộc bầu cừ, Đại cử tri sẽ tập trung tại thủ phủ Tiểu bang mình để Bỏ phiếu bầu Tổng thống, sau khi cuộc Bầu cử phổ thông được thực hiện vào tháng 11 (năm nay cuộc Bầu cử sẽ là ngày 6-11-2012).
Có 26 Tiểu bang không yêu cầu Đại cử tri phải bỏ phiếu cho tương ứng với lá phiếu Phổ thông và có 19 Tiểu bang (trong đó có khu vực Washington, D.C.) buộc Đại cử tri phải bỏ phiếu tương ứng với lá phiếu Phổ thông. Tuy nhiên, không ai phạt vạ gì khi Đại cử tri không tuân thủ điều trên. Chỉ có 5 Tiểu bang có luật phạt vạ Đại cử tri không tuân thủ luật này nhưng mức phạt không đáng kể (Oklahoma chẳng hạn, mức phạt là 1,000USD).
Mỗi Tiểu bang có số Đại cử tri tương đương số Thượng Nghị sĩ trong Thượng Nghị Viện (TNV) và Hạ Nghị sĩ trong Hạ Nghị Viện (HNV) của Quốc Hội Liên Bang.
Tổng cộng: số Đại cử tri hiện nay là 538 vì Quốc Hội có 435 H.N.Sĩ và 100 T.N.Sĩ (3 Đại cử tri cộng thêm thuộc khu vực thủ đô Washington, được thêm vào theo Tu chính án thứ 23 năm 1961). Sự phân phối kiểu này được gọi là Bản đồ Đại cử tri (Electoral map) và được điều chỉnh theo từng thập niên. Thập niên 1981-1990, Florida có 21 lá phiếu Đại cử tri, thập niên 2001-2010 có 27. Cần nhớ luật quy định rằng: nếu Ứng cử viên (ƯCV)Tổng thống nào có số phiếu bầu Phổ thông cao hơn đối thủ trong một Tiểu bang, thì ƯCV này sẽ được hưởng trọn số Đại cử tri của Tiểu bang, nên có thể ƯCV dù được nhiều phiếu Phổ thông nhưng vẫn thua ƯCV có nhiều phiếu Đại cử tri (vì phiếu Đại cử tri quan trọng hơn).
Nói cách khác, việc thành lập Cử tri đoàn mang ý nghĩa đem lại công bằng hơn cho các Tiểu bang nhỏ, ít dân (nơi lá phiếu Phổ thông ít) ngang với các Tiểu bang lớn, đông dân, vì Tiểu bang nào cũng có Đại cử tri. Tuy nhiên, Tiểu bang có dân số đông cũng có nhiều phiếu Đại cử tri hơn! Vì vậy các Tiểu bang lớn luôn có tính quyết định cho cuộc đua giành ghế Tổng thống Tuy nhiên trong thời kỳ vận động tranh cử sơ bộ, các ƯCV đều đến các Tiểu bang nhò, trung thành với Đảng của mình để vận động, dù có số phiếu Đại cử tri tuy ít nhưng “tích tiểu thành đại” nhằm để mỗi ƯCV hội đủ số phiếu cần thiết để đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa “chính thức đề cử làm ƯCV cùa mỗi đảng” , rồi trong cuộc bầu cử Tổng thống mới hy vọng đắc cử từ tổng số phiếu Đại cử tri của các Tiểu bang nhỏ, chưa kể số phiếu Đại cử tri của các Tiểu bang lớn như California và New York.
Năm 1888, ƯCV đảng Dân chủ G. Cleveland có 48,6% phiếu phổ thông nhưng cuối cùng B. Harrison đắc cử vì ông có 233 phiếu Đại cử tri so với 169 phiếu Đại cử tri của Cleveland.
Gần đây nhất là năm 2000. ƯCV đảng Dân chủ Al Gore thắng G.W.Bush của đảng Cộng hòa ở lá phiếu phổ thông: 49.222.339 so với 48.999.451 phiếu – nhưng Bush (con) giành đa số Đại cử tri, đặc biệt tại tiều bang nhỏ Florida, nơi em trai của Bush đang làm Thống đốc và một phần cũng nhờ vào phán quyết có lợi cho Bush của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (vì đa số 9 vị Thầm phán Tối cao thời kỳ đó do Tổng thống đảng Cộng hòa bổ nhiệm, nên họ ra phán quyết có thiên vị cho phía Cộng hòa).
Kỳ bầu cử năm 2008, Obama thắng John McCain là nhờ vào số phiếu Đại cử tri của Tiểu bang nhò là Ohio.

Saturday, August 10, 2013

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ



Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ: Khó vào, khó ra
Theo thống kê, cứ 22 tháng là lại có một vị thẩm phán mới xuất hiện tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Trong những thập niên gần đây, các đề cử vào Tòa án Tối cao đã trở thành những sự kiện chính trị quan trọng ở Washington. Điều này lý giải bằng sự gia tăng ảnh hưởng của cơ quan tư pháp này - các quyết định của Tòa án Tối cao càng có ý nghĩa lớn thì giá trị của những đề cử đó càng có giá.

Để trở thành thẩm pháp Tòa án Tối cao Hoa Kỳ không nhất thiết phải là luật gia, thậm chí cũng không cần phải có bằng đại học nữa. Tuy nhiên, các ứng cử viên vào cương vị này phải trải qua một quá trình kiểm tra cực kỳ ngặt nghèo - tất cả những phẩm chất chuyên môn và cá nhân đều được phân tích kỹ lưỡng và các cơ quan an ninh ra sức "bới lông tìm vết" trong quá khứ của họ.

Hiến pháp Hoa Kỳ ghi rõ những yêu cầu về độ tuổi, nơi cư trú và quốc tịch của các ứng cử viên Tổng thống và các nghị sĩ. Tuy nhiên, đối với các thẩm phán của Tòa án Tối cao thì Hiến pháp lại không có những yêu cầu tương tự, ngoại trừ quy định: ứng cử viên nào cũng phải được Tổng thống đề cử và được đa số trong Thượng viện phê chuẩn. Kinh nghiệm xét xử, trình độ chuyên môn và thậm chí cả học vấn tư pháp về mặt hình thức cũng không phải là yêu cầu bắt buộc đối với các ứng cử viên (tuy thế, các ứng cử viên vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ luôn luôn là những luật gia).

Trong đại đa số các trường hợp, các Tổng thống Mỹ đều đề cử vào Tòa án Tối cao những người cùng đảng với mình hay những luật gia tán đồng quan điểm của ông chủ Nhà Trắng trong các vấn đề chủ chốt. Nhiều ứng cử viên tự bản thân họ cũng là những nhân vật chính trị có sức nặng.

Thí dụ, năm 1921, Tổng thống Warren Harding đã đề cử cựu Tổng thống William Taft làm Chánh án Tòa án Tối cao. Trong số các thẩm phán cũng có khá nhiều các cựu Thống đốc, cựu nghị sĩ và những nhà hoạt động xã hội danh giá. Trong những năm 60 của thế kỷ trước, đã từng diễn ra những cuộc thảo luận nghiêm túc về khả năng đề cử nhà báo lừng lẫy vào loại hàng đầu nước Mỹ Walter Lippmann làm thẩm pháp Tòa án Tối cao. Chính nhà báo này đã đưa thuật ngữ "stereotype" (khuôn sáo) vào đời sống báo chí...



Trong khoảng nửa thế kỷ gần đây không có các nhân vật chính trị nổi bật trong thành phần Tòa án Tối cao Hoa Kỳ - cơ quan này theo thông lệ thường thâu nạp chủ yếu là các luật gia nổi tiếng, từng có kinh nghiệm xét xử. Tuy nhiên, các con số thống kê lại cho thấy, trong suốt thời gian tồn tại của mình, chỉ có khoảng một nửa số thành viên Tòa án Tối cao là luật gia.

Hơn nữa, "luật gia", đó là một khái niệm rất rộng rãi. Trở thành thẩm phán của Tòa án Tối cao đã là những vị thẩm phán ở các cấp tòa án thấp hơn, các luật sư, các công tố viên và các học giả luật học... Còn đội hình hiện nay của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ toàn là những thẩm phán mà trước khi được vào đây cũng đã là những thẩm phán ở các cấp tòa án thấp hơn.

Vai trò quan trọng trong kiểm tra nhân thân các ứng cử viên thuộc về các tổ chức xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Các phóng viên Mỹ rất giỏi trong chuyện "đào bới" các tình tiết tế nhị trong đời sống của các chính trị gia. Năm 1987, ứng cử viên Douglas Ginsburg đã phải trở thành nạn nhân của sự thóc mách trong giới báo chí. Các phóng viên đã xác định được rằng, thời trẻ, ứng cử viên Douglas Ginsburg từng hút cần sa - sau phát giác này, ông Ginsburg đã phải xin rút khỏi cuộc chạy vào Tòa án Tối cao.

Cục Điều tra Liên bang (FBI) có nhiệm vụ phân tích các mối quan hệ của các ứng cử viên trong gia đình, với xóm giềng, với các đồng nghiệp (để làm việc này phải tiến hành các cuộc tiếp xúc và trò chuyện với họ; quá khứ chính trị và nghề nghiệp... FBI được phép kiểm tra tài khoản và bảng kê khai thuế của các ứng cử viên. Đánh giá của FBI dựa trên 4 nguyên tắc: "tính cách" (sự trung thực và đáng tin cậy của ứng cử viên); "cộng sự" (ứng cử viên kết bạn với những ai và quen biết những ai); "uy tín" (giữa giới chuyên môn và rộng rãi trong xã hội) và lòng trung thành (thái độ của ứng cử viên đối với chế độ xã hội đang tồn tại ở Mỹ).

Bà Sonia Sotomayor mà Tổng thống Barack Obama đề cử vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cũng đã bị kiểm tra như thế. Cuộc kiểm tra này được ghi nhận bằng một vụ tai tiếng: trong quá khứ có lần bà Sotomayor đã buột miệng nói ra một câu là "thẩm phán là phụ nữ gốc châu Mỹ La tinh có khả năng đưa ra những quyết định anh minh hơn thẩm phán là đàn ông da trắng". Những người Cộng hòa đã ngay lập tức lên tiếng buộc cho bà Sotomayor tội phân biệt chủng tộc và tội đã theo quan niệm rằng có thể diễn giải luật pháp theo những cái nhìn cá nhân của các thẩm phán. Mặc dầu thế ngày 6/8 vừa qua, Thượng viện Mỹ vẫn phê chuẩn bà Sotomayor làm Thẩm phán Tòa án Tối cao với 68 phiếu thuận và 31 phiếu chống.

Đồng thời với những cuộc kiểm tra nói trên, các ứng cử viên vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ còn phải chịu sự sàng lọc của Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ. Ủy ban này xem xét tiểu sử, những bài báo đã in, những mối quan hệ với giới doanh gia và chính trị gia (để loại trừ cái gọi là "mâu thuẫn các lợi ích") . Ủy ban cũng chú ý tới những ý tưởng mà trước đó ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao từng thể hiện. Năm 1969 chính Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ đã khai tử cơ hội của ứng cử viên Clement Haynsworth với lý do là trước đó hai thập niên, có một lần ông này đã lỡ lời khẳng định sự hơn hẳn của người da trắng trước các sắc tộc khác.

Đồng thời với những thủ tục trên, Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ cũng cử ra một ủy ban gồm 15 tình nguyện viên để phân tích các bản án mà ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao từng đưa ra và bằng cách này, xác định chất lượng hoạt động chuyên môn của ứng cử viên. Thường thì Hiệp hội đưa ra ba mức đánh giá: "đã được chuẩn bị tốt cho công việc đang xem xét", "đã được chuẩn bị" và "được chuẩn bị chưa đủ".

Ảnh hưởng của Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ tới quá trình phê chuẩn các ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao hiện nay không được cao như trong quá khứ. Vấn đề là ở chỗ: năm 1987 ý kiến của các thành viên ủy ban đã bị phân liệt rất lớn: 11 người tuyên bố rằng ứng cử viên Robert Bork "đã được chuẩn bị tốt cho công việc đang xem xét", còn 4 người lại chọn phương án "được chuẩn bị chưa đủ". Bốn thành viên có ý kiến khác đó đã bị phê phán về tội đã đưa ra một quyết định mang tính chính trị. Ông Bork đã không thể trở thành thẩm phán nhưng do những lý do khác chứ không phải vì "được chuẩn bị chưa đủ".

Từ năm 2001, Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ hay biết tên họ ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao cùng lúc với mọi người dân Mỹ khác. Tuy nhiên, ý kiến của các chuyên gia tư pháp vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng trong số phận của các ứng cử viên.

Các số liệu thống kê lịch sử cho thấy, trong số 158 ứng cử viên được các Tổng thống Mỹ đề cử vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, chỉ có 28 người không cầu được ước thấy - một số người đã tự bỏ cuộc trước khi có phiên họp phê chuẩn của Thượng viện. Trong toàn bộ lịch sử nước Mỹ đã có 110 người được ngồi ở ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Để có được một Thẩm phán mới cho Tòa án Tối cao, những người ủng hộ ứng cử viên phải tạo ra được một đa số trong Thượng viện (có tất cả là 100 thượng nghị sĩ nên ứng cử viên cần nhận được ít nhất là 51 phiếu ủng hộ thì mới đạt được mục đích).

Hiến pháp Mỹ không đặt ra những tiêu chí ủng hộ hay bác bỏ các ứng cử viên Tòa án Tối cao đối với các thượng nghị sĩ. Vì thế, họ được quyền bỏ phiếu theo quan điểm cá nhân của họ. Trong quá khứ đã không chỉ một lần Thượng viện Mỹ bác bỏ sự đề cử của các Tổng thống Mỹ.

Nạn nhân đầu tiên là John Rutledge: năm 1795, ông này đã bị Thượng viện không phê chuẩn vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao. Lý do là vì năm 1794, ông Rutledge đã phê phán dữ dội hòa ước đã ký với nước Anh.

Người giữ kỷ lục về các thất bại trong những nỗ lực đưa ứng cử viên của mình trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao là Tổng thống John Tyler: trong hai năm 1844-1845, ông này đã đưa ra 6 ứng cử viên nhưng chỉ có độc một người được Thượng viện phê chuẩn. Lý do của những lần bác bỏ rất khác nhau: đó có thể là sự hoài nghi của các thượng nghị sĩ đối với các phẩm chất chuyên môn của các ứng cử viên hay các quan điểm của họ. Thêm vào đó, vai trò quan trọng còn thuộc về tình hình chính trị cụ thể ở thời điểm đó và cán cân lực lượng trong thượng tầng chính quyền Mỹ.

Thủ tục xem xét các ứng cử viên vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thường xuyên bị thay đổi để rồi những thay đổi đó trở thành truyền thống ở Washington. Năm 1873, Thượng viện Mỹ lần đầu tiên tiến hành điều tra về quá khứ của ứng cử viên Thẩm phán. Năm 1916 lần đầu tiên tiến hành các cuộc điều trần công khai ở Thượng viện. Năm 1925, ứng cử viên vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ lần đầu tiên phải ra mắt Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ. Năm 1930, Thượng viện lần đầu tiên cho phép các tổ chức xã hội có quan tâm được tham dự các cuộc điều trần. Từ năm 1956, các ứng cử viên bắt đầu phải chịu những cuộc kiểm tra của Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ. Từ năm 1981, các cuộc điều trần bắt đầu được truyền hình trực tiếp.

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, các thẩm phán Tòa án Tối cao sẽ được phục vụ trọn đời cho tới khi chết nếu "ứng xử hoàn mỹ". Thông thường, họ đạt được vị thế này ở tuổi không còn trẻ nữa - người trẻ nhất ở thời điểm được phê chuẩn là Joseph Story (năm 1811), ở tuổi 39. Tính trung bình, một thẩm phán làm việc ở Tòa án Tối cao khoảng 15 năm.

Thẩm phán Oliver Douglas đã có thời gian ngồi trên ghế này ở mức kỷ lục - 36 năm 6 tháng (từ năm 1939 tới năm 1975). Năm 1932, vị thẩm phán cao niên nhất Oliver Holmes đã nghỉ hưu khi ông ở tuổi 90. Không ai rõ những thẩm phán cao tuổi như thế với không ít những đau ốm có thể thực thi chức trách của mình hiệu quả đến đâu. Điều này rất quan trọng vì Tòa án Tối cao chỉ làm việc với thành phần đầy đủ. Bởi thế, nếu có một ai đó trong số các thẩm phán lâm bệnh thì mặc nhiên sẽ làm đình trệ hoạt động của toàn bộ Tòa án Tối cao.

Về mặt nguyên tắc, có thể đình chỉ chức vụ Thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng trong thực tế, việc này mới chỉ được tiến hành một lần mà lại không đạt kết quả. Chuyện xảy ra vào năm 1805, khi một thẩm phán bị đứng trước nguy cơ mất ghế theo những nguyên nhân chính trị. Thế nhưng, trong lúc bỏ phiếu ở Thượng viện, các đối thủ chính trị của vị thẩm phán trên đã bị thất bại vì trong số những người ủng hộ vị thẩm phán đó có cả các đồng chí của nhóm đối thủ trên bởi họ cho rằng, sự độc lập của các thẩm phán còn quan trọng hơn cả lợi ích đảng phái.

Trong giai đoạn từ năm 1933 tới năm 1936, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng nhiều đạo luật quan trọng mà Tổng thống Franklin Roosevelt khởi xướng trong giai đoạn Đại suy thoái kinh tế là không hợp hiến. Năm 1936, ông Roosevelt tái đắc cử Tổng thống và những người ủng hộ ông đã chiếm đa số tại cả hai viện của Quốc hội Mỹ. Ông Roosevelt định giải quyết vấn đề Tòa án Tối cao một cách “gọn ghẽ” bằng việc đưa thêm vào thành phần của nó 6 thành viên mới có thể giúp làm nghiêng cán cân về phía có lợi cho ông. Để đạt được mục đích này, chỉ cần đưa thêm một số thay đổi vào đạo luật về Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, kế hoạch đó đã bị cả Quốc hội lẫn dư luận xã hội Mỹ bác bỏ. Bất chấp việc chính sách kinh tế của Tổng thống Roosevelt rất được đồng tình, nhưng việc bảo vệ sự độc lập của Tòa án Tối cao vẫn được công nhận là quan trọng hơn cả việc xử lý mau lẹ các cuộc khủng hoảng

Hưng Vượng

BÀI VIẾT MỚI HƠN :
Chế định Bồi thẩm đoàn Hoa Kỳ - 22.12
Những nội dung mới của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 - 22.12
Chủ nghĩa hợp hiến và sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam - 25.02
BÀI VIẾT TRƯỚC ĐÓ :
Chế định chủ tịch nước ở việt nam qua các bản hiến pháp - 29.11
Để thực thi quyền sáng kiến pháp luật của Đại biểu Quốc hội - 29.11
Mối quan hệ giữa chính phủ với quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật. - 29.11
Phân loại hiến pháp - Trịnh Thị Bích Diệp - 29.11
Xử lý ý kiến khác nhau giữa Chính phủ và Quốc hội - 29.11

“Giải thích pháp luật”: Tòa án tối cao với tư cách là cơ quan thẩm định tính hợp hiến.
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành nguyên tắc của chế độ bảo hiến – quyền quyết định tính hợp hiến trong các đạo luật – ngay trong một trong những phán quyết đầu tiên của Tòa. Một chuyên gia pháp lý nổi tiếng đề cập tới việc thực hiện chế độ bảo hiến của Tòa trong suốt 220 năm lịch sử của Tòa, trong đó có nhiều ví dụ từ thế kỷ XIX tới nay. Dù Tòa có nhiều phán quyết trong các vụ án cụ thể, song tác giả kết luận rằng “Vai trò đảm bảo chế độ pháp trị của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ”.

A.E. Dick Howard là Giáo sư Luật và Hành chính tại White Burkett Miller kiêm Giáo sư Luật tại Trung tâm Nghiên cứu Roy L. và Rosamond Woodruff Morgan, Đại học Virginia tại Charlottesville. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực luật hiến pháp và Tòa án Tối cao. Từ năm 1985 đến 1992, ông là chủ tịch Hội đồng 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ tại Đại học Virginia.

Những người soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng văn bản này sẽ được coi là luật của các loại luật. Điều VI quy định Hiến pháp và các đạo luật “được ban hành theo Hiến pháp này” (cũng như các điều ước) sẽ là “Luật tối cao của quốc gia”. Các nhà soạn thảo Hiến pháp cũng trao quyền, tại Điều III, cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập. Liệu hai điều khoản này, cùng được viện dẫn, có tạo điều kiện cho Tòa án Tối cao quyền hạn bác bỏ các văn bản luật, trong đó có các đạo luật của Quốc hội, được coi là mâu thuẫn với Hiến pháp hay không?

Nếu như các nhà soạn thảo Hiến pháp đã có chủ trương rõ ràng tại Hội nghị lập hiến năm 1787 tại Thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania rằng chính quyền liên bang mới cần phải có một ngành tư pháp thì họ lại dành rất ít thời gian để cân nhắc “quyền tư pháp” sẽ có phạm vi đến chừng mực nào. Họ dành thời gian nhiều hơn để tranh luận về quyền hạn mà chính quyền liên bang mới có thể có, cơ cấu của Quốc hội liên bang, việc cân bằng quyền lực giữa tiểu bang và liên bang và bản chất của cơ quan hành pháp liên bang mới. Khi Hiến pháp dự thảo được chuyển tới một số tiểu bang để thông qua thì các cuộc tranh luận về phê chuẩn lại tập trung chủ yếu vào các mối quan tâm về quyền lực của liên bang nói chung – và về việc thiếu một tuyên ngôn nhân quyền.

CHẾ ĐỘ XEM XÉT LẠI BẢN ÁN

Ở cấp tiểu bang, chế độ xem xét lại bản án – quyền của một tòa án tuyên bố một đạo luật là không hợp hiến – chỉ xuất hiện trong những năm đầu tiên mới thiết lập chế độ cộng hòa. Tư tưởng dân chủ thì nhấn mạnh tới vai trò của các cơ quan lập pháp là thể chế đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nhưng người Mỹ đã sớm phát hiện thấy các cơ quan lập pháp của họ, cũng giống như những ông hoàng hoặc quốc hội, có thể sẽ đe dọa quyền con người và quyền tự do của họ. Vì lẽ đó, cùng với tư tưởng tam quyền phân lập và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng, chế độ bảo hiến đã trở thành trụ cột đảm bảo tính tối thượng của hiến pháp.

Ở cấp độ liên bang, chính Chánh án John Marshall là người đã tuyên bố công khai quyền xem xét lại theo thủ tục tư pháp của Tòa qua vụ Marbury kiện Madison (1803). Bằng ngôn từ nổi tiếng – sau này thường được viện dẫn trong các vụ án – Marshall đã tuyên bố “Trách nhiệm và bổn phận chính của cơ quan tư pháp là giải thích luật”. Và ông kết luận rằng bổn phận đó thậm chí bao hàm quyền của các tòa án được bác bỏ các đạo luật của Quốc hội nếu những đạo luật này bị phát hiện trái với Hiến pháp.

Mãi tới khi nổ ra cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865), tư tưởng hiến pháp của Tòa án Tối cao phần lớn tập trung vào các vấn đề xây dựng liên bang. Tuyên ngôn Nhân quyền, bổ sung vào Hiến pháp 1791, chỉ áp dụng với các đạo luật của liên bang chứ không phải của tiểu bang. Tuy nhiên, sau nội chiến, việc thông qua điều bổ sung sửa đổi thứ 14 đã buộc các bang không được tước bỏ quyền của bất cứ người nào được xét xử hoặc bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Theo thời gian, các quy định này đã trở thành nền tảng cho nhiều hoạt động lớn của Quốc hội (chẳng hạn Tuyên ngôn Dân quyền năm 1964) và là nền tảng pháp lý của ngành tư pháp (trong đó có phán quyết năm 1954 trong vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục tuyên bố phân biệt chúng tộc trong các trường công là vi phạm hiến pháp).

Trong các thập niên đầu thế kỷ XX, Tòa án Tối cao thường được coi là cơ quan bảo vệ tài sản và các doanh nghiệp trước các đạo luật cấp tiến. Chẳng hạn vào năm 1905, Tòa đã bác bỏ một đạo luật của tiểu bang New York giới hạn số giờ làm việc của những người làm bánh mì trong một ngày và tuyên bố những quy định như vậy là “sự can thiệp trắng trợn” vào quyền của các cá nhân. Cách nhìn nhận như vậy của ngành tư pháp đã khiến cho Tòa án Tối cao lâm vào thế mâu thuẫn với chương trình Phát triển kinh tế mới của Tổng thống Franklin Roosevelt trong những năm 1930. Trước nguy cơ “Tòa bị siết chặt thêm” – đề án tăng thêm số lượng thẩm phán tại Tòa – các thẩm phán đã đổi hướng và tôn trọng hơn các đạo luật cải cách kinh tế và xã hội của tiểu bang và liên bang.

Ngày nay, Tòa án Tối cao xem xét một số lượng lớn các vấn đề khác nhau. Đôi khi người ta còn gọi Hoa Kỳ là “xã hội nhiều kiện tụng”. Tất nhiên người Mỹ dường như đã khéo léo biến những tranh chấp thành các cuộc đua tài trước tòa – một đặc điểm mà Alexis de Tocqueville, người quan sát tài tình những đặc thù của Hoa Kỳ, đã bình luận ngay từ thế kỷ XIX. Trong thập niên 1960 khi Earl Warren là Chánh án, Tòa án Tối cao đã theo đuổi một chương trình nghị sự đầy tham vọng. Tòa đã phán quyết mỗi người một phiếu bầu (đảm bảo tới mức cao nhất mỗi khu vực cử tri có số dân bằng nhau) là nguyên tắc trong bầu cử các thành viên của cơ quan lập pháp. Tòa cũng áp dụng hầu hết thủ tục tố tụng đảm bảo Tuyên ngôn Nhân quyền tại tất cả các tiểu bang, ủng hộ phong trào dân quyền và mở đường cho việc thực hiện quyền riêng tư và tự quyết đã quy định trong Hiến pháp. Cho dù một số thẩm phán do các Tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa bổ nhiệm chủ trương “hạn chế ngành tư pháp” song Tòa án Tối cao vẫn tự tin giải quyết nhiều vấn đề đại sự quốc gia.

Vậy Tòa án Tối cao có vai trò gì trong cuộc sống của người dân Hoa Kỳ? Một trong những nhiệm vụ chủ chốt của Tòa là đóng vai trò phân xử trong hệ thống liên bang. Chưa có vấn đề nào thu hút sự quan tâm của các nhà soạn thảo Hiến pháp tại Philadelphia nhiều bằng việc trao quyền hạn tương xứng cho chính phủ liên bang trong khi vẫn bảo vệ lợi ích của các tiểu bang. Do đó, Tòa án Tối cao thường xuyên được yêu cầu quyết định xem một đạo luật hay quy định của liên bang có cản trở hoạt động của tiểu bang hay không. Tương tự như vậy, người ta cũng thường yêu cầu Tòa phân xử liệu một đạo luật của tiểu bang, nếu không hợp lệ, có ảnh hưởng tới một số lợi ích quốc gia như tự do thương mại hay không. Chẳng hạn, khi tiểu bang Bắc Carolina thông qua một đạo luật, mặc dù bề ngoài mang tính trung lập, song đã phân biệt đối xử với mặt hàng táo từ tiểu bang Washington để tạo lợi thế cho những người trồng táo của họ, Tòa đã phát hiện hành vi bảo hộ và vô hiệu hóa đạo luật đó của tiểu bang Bắc Carolina.

Tòa án Tối cao cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo các quyền con người và quyền tự do cá nhân. James Madison đã từng tỏ ra lo ngại Tuyên ngôn Nhân quyền có thể sẽ chỉ là một “quy định trên giấy tờ”. Tuy nhiên, trong thời gian qua Tòa đã tích cực thực hiện các quy định đã nêu trong Tuyên ngôn không chỉ chống lại chính quyền liên bang (mục đích ban đầu của họ) mà còn cả các chính quyền tiểu bang. Việc Tòa diễn giải những quyền đã được Hiến pháp bảo vệ thường rất ngay thẳng và mạnh mẽ. Chẳng hạn, năm 1963, Tòa đã phán rằng quyền được tư vấn pháp lý tại điều bổ sung sửa đổi số VI không chỉ bao hàm quyền được sự giúp đỡ của luật sư tại tòa mà còn là quyền được có luật sư do tiểu bang chỉ định và thanh toán nếu bị cáo nghèo tới mức không thể thuê nổi luật sư. Các thẩm phán cũng đặc biệt quan tâm tới quyền tự do ngôn luận. Do vậy, vào năm 1964, Tòa đã tuyên bố một “quan chức” khởi kiện về tội bôi nhọ phải tuân thủ một quy định rất khắt khe – “ác tâm có chủ ý” – tức là phải chứng minh được rằng người bôi nhọ biết rõ lời lẽ của anh ta là sai hoặc cố tình không đoái hoài tới tính chân thực trong lời nói của mình.

Chúng ta đã được chứng kiến cuộc tranh luận sôi nổi về việc liệu Hiến pháp có nên được coi là một văn bản “trường tồn” hay không. Một số người lập luận rằng các thẩm phán nên tìm hiểu “nghĩa gốc” của Hiến pháp – tức là, ý nghĩa đã được các nhà soạn thảo Hiến pháp chuyển tải và có lẽ được củng cố thêm qua thông lệ và các tiền lệ. Một số người khác thì coi Hiến pháp có tính định hướng nhiều hơn. Do đó, trong các vụ án phát sinh trong khuôn khổ quy định cấm áp dụng những hình phạt dã man và khác thường nêu trong Điều bổ sung sửa đổi số VIII, Tòa án Tối cao đã đưa ra khái niệm “áp dụng chuẩn tắc theo thời gian”, cho phép Tòa tuyên bố, ví dụ vào năm 2005, quy định tử hình các phạm nhân trẻ tuổi là trái Hiến pháp.

Rõ ràng là Tòa đã vượt khỏi phạm vi những ngôn từ nêu trong bản Hiến pháp khi thừa nhận và bảo vệ những quyền cụ thể. Một ví dụ điển hình là quyền riêng tư và tự quyết. Chiểu theo quy định đảm bảo quy trình xét xử do luật định trong Điều bổ sung sửa đổi số V và XIV, Tòa đã xác định và mở rộng quyền đó để đảm bảo các lợi ích khác như quyền tránh thai, quyền của phụ nữ được quyết định nạo phá thai và vào năm 2003, quyền không bị tiểu bang trừng phạt vì hành vi đồng tính. Có thể hầu như tất cả các vụ án đưa ra xét xử tại Tòa án Tối cao đều đòi hỏi phải giải thích luật, song những phán quyết của Tòa, nhất là về quyền quyết định nạo phá thai và không bị trừng phạt vì đồng tính nêu trên, lại gây nhiều tranh cãi. Vì không có các quy định cụ thể trong hiến pháp về quyền riêng tư nên họ phải chủ yếu dựa vào lập luận và giải thích của tòa. Song cho dù các thẩm phán sẽ hành động như thế nào đi chăng nữa trong các vụ xét xử trong tương lai, cũng thật khó có thể tưởng tượng Tòa án Tối cao với thiết chế như hiện nay lại tuyên bố rằng nhìn chung không có cơ sở hiến pháp cho khái niệm quyền riêng tư cá nhân.

Theo Hiến pháp, các thẩm phán của Tòa án Tối cao đương nhiệm suốt đời với “tư cách đạo đức tốt”. Chưa từng có một thẩm phán nào bị phế truất. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao trong những thập niên gần đây lại trở thành những sự kiện mang tính chính trị cao. Các quyết định của Tòa càng có phạm vi rộng bao nhiêu thì sự cạnh tranh càng cao bấy nhiêu khi xuất hiện một vị trí cần bổ nhiệm. Nếu vậy thì các phán quyết của Tòa phản ánh đến mức độ nào chính kiến và dư luận của xã hội hiện thời? Những người hoài nghi thì cho rằng các thẩm phán phải nên “đọc báo” để có thể tính tới dư luận xã hội khi định hình chính kiến của họ. Nhưng hầu như không có cơ sở cho quan điểm này. Về lâu dài, một phán xử công bằng hơn sẽ có nghĩa là Tòa có xu hướng phản ánh luồng dư luận chủ đạo trong xã hội. Vì vậy mà Tòa án Tối cao dưới thời Chánh án Warren trong thập kỷ 1960 lại tỏ ra đồng tình đối với những giải pháp của số đông người dân trước những vấn đề quốc gia đại sự. Tòa án Tối cao thời Chánh án Rehnquist hiện nay, xét từ một góc độ nào đó, mang tính bảo thủ nhiều hơn, đề cao vai trò của tiểu bang nhiều hơn trong thể chế liên bang.

Các phán quyết của Tòa đặt ra một câu hỏi quan trọng: Ngành tư pháp không thông qua bầu cử có vị trí gì trong một nền dân chủ? Vốn từ lâu đã có sự giằng xé giữa hai nguyên tắc cơ bản trong một nền dân chủ tự do lập hiến – một chính phủ có trách nhiệm được đa số bầu ra một cách dân chủ lãnh đạo và thực thi Hiến pháp thậm chí nếu cần bác bỏ các đạo luật do phe đa số đó hậu thuẫn. Chế độ bảo hiến là cực kỳ quan trọng vì nó củng cố các nguyên tắc dân chủ, chẳng hạn mỗi người dân, một phiếu bầu; tiến hành bầu cử tự do và công bằng; tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chế độ pháp trị – đúng theo tư tưởng của Hiến pháp – yêu cầu Hiến pháp phải được thực thi với tư cách là đạo luật tối cao của quốc gia. Tòa án Tối cao có thể phạm sai lầm trong một số vụ xét xử cụ thể nào đó. Song vai trò đảm bảo chế độ pháp quyền của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ.

A.E. DICK HOWARD

Nguồn: vietnamese.vietnam.usembassy.gov


Tối Cao Pháp Viện : Diễn giải và áp dụng hiến pháp
Khi thi hành hiến pháp, Tối Cao Pháp Viện có quyền phán quyết tối hậu trong các vụ cần dẫn chiếu từ hiến pháp để xét lại tính chất phù hợp hiến định của vụ án. Như vậy Tối Cao Pháp Viện lấy quyền hạn đó từ đâu để thẩm định hợp hiến hay vi hiến? Quyền hạn này cực kỳ quan trọng vì dựa vào đó Tối Cao Pháp Viện có quyền phá án ngược lại kết quả ở tòa dưới và ra phán quyết chung thẩm. Các tòa án liên bang hay tiểu bang đều có quyền xử theo luật hiến pháp, nhưng bao giờ Tối Cao Pháp Viện cũng có quyền xử lại. Án lệ Marbury v. Madison năm 1803 là một vụ án nổi tiếng trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ về quyền hạn của Tối Cao Pháp Viện trong việc xét lại những phán quyết dựa theo luật hiến pháp.

Vào cuối nhiệm kỳ của Tổng Thống George Washington thì ảnh hưởng chính trị tại tân Liên Bang Hoa Kỳ do hai đảng cầm đầu: Ðảng Liên Bang (Federalist Party, tiền thân của đảng Cộng Hòa) đã bầu Tổng Thống Adams và chiếm đa số quốc hội từ 1796 đến 1800. Ðối lập là đảng Dân Chủ Cộng Hòa (Democratic Republic Party, tiền thân của đảng Dân Chủ) tiếp đó bầu lên Tổng Thống Thomas Jefferson nhiệm kỳ kế tiếp năm 1800 đồng thời cũng lấy được đa số ở quốc hội. Biết chắc Ðảng Liên Bang sắp mất thế lực ở Hành Pháp và Lập Pháp nên Tổng Thống Adams cố giành ngành Tư Pháp, ông chỉ định ngay Bộ Trưởng John Marshall làm Chánh Án Tối Cao. Quốc Hội lúc đó còn do đảng Liên Bang nắm vài ngày chót trước khi bàn giao liền thông qua ngay một đạo luật cho tăng số thẩm phán liên bang tại các tòa dưới và giảm bớt số thẩm phán ở Tòa Tối Cao ngăn không cho đảng viên Dân Chủ Cộng Hòa trám vào các ghế trống, đồng thời bổ nhiệm thêm cho thủ đô Washington D.C. bốn mươi hai tân Thẩm Phán Trị An (Justice of the Peace, tương đương với chức chánh án tòa thượng thẩm).

Vào ngày cuối cùng nhiệm kỳ, Tổng Thống Adams làm lễ cho các đảng viên Liên Bang mới được chỉ định tuyên thệ nhậm chức dưới sự nhìn nhận của Quốc Hội cũ. Ngay đêm trước khi Tổng Thống Jefferson thụ phong, John Marshall lúc ấy vẫn còn là Bộ Trưởng trong nội các cũ, theo truyền thống đã thi hành thủ tục đóng quốc ấn Hoa Kỳ vào các sắc lệnh bổ nhiệm chính thức hóa cho các tân thẩm phán đáo nhậm. Do sự bất cẩn không gởi kịp thời nên một số tân thẩm phán không nhận được sắc lệnh bổ nhiệm trong đêm đó. Sáng hôm sau tân Tổng Thống Jefferson ra lệnh cho tân Bộ Trưởng James Madison bãi bỏ các sắc lệnh bổ nhiệm chưa kịp giao đến tay các tân Thẩm Phán Trị An trong số đó có một vị tên là William Marbury.

Marburry bèn kiện lên Tối Cao Pháp Viện xin tòa ra trát bắt buộc (writ of mandamus, là trát tòa ra lệnh cho viên chức chính phủ phải thi hành lệnh tòa). Mặc dù ông ta kiện năm 1801, nhưng quốc hội mới do đảng Dân Chủ Cộng Hòa nắm quyền đã bãi bỏ nhiệm kỳ 1801 đến 1802 của Tối Cao Pháp Viện, nên vụ này phải đợi đến 1803 mới đem ra xử. Cuối cùng Chánh Án Tối Cao John Marshall ra phán quyết rằng những chức vụ được chỉ định thời trước mặc nhiên có hiệu lực ngay từ thời điểm ký sắc lệnh bổ nhiệm và phải được tôn trọng. Khi xử vụ này Tối Cao Pháp Viện lâm vào tình thế lưỡng nan vì nếu không xử Marbury được thắng có nghĩa là Marshall đương nhiên công nhận hành pháp do nội các mới có quyền xóa bỏ lệnh bổ nhiệm trước làm mất mặt đảng Liên Bang, đồng thời lấn át cả Tư Pháp. Nhưng lúc đó Tối Cao Pháp Viện chưa được xác định quyền hạn rõ ràng, nếu Marshall ra lệnh đòi hành pháp bắt buộc thi hành phục hồi chức vụ cho Marbury mà bị Jefferson và Madison từ chối thì còn gây thêm hiềm khích nặng nề và xáo trộn chính trị trầm trọng hơn. Dù đã xử như trên nhưng Marshall rất khôn khéo né ra khỏi cuộc tranh chấp quyền hành chính trị bằng cách dựa vào quyền tái thẩm của tòa án để tìm cách khước từ việc can thiệp đòi phục hồi chức vụ cho Marbury.

Marshall trước nhất phán rằng việc bổ nhiệm chức vụ cho Marbury được kể là đã hoàn tất ngay khi cựu Tổng Thống Adams ký sắc lệnh vì lẽ vào đúng thời điểm đó việc đóng dấu quốc ấn và tống đạt sắc lệnh đến đương sự chỉ là thủ tục hành chánh mà thôi, cho nên dù công tác chuyển giao không hoàn tất thì tình trạng chức vụ của Marbury cũng không thay đổi. Thứ đến là Marbury coi như đã được chức vụ mới nên việc đền bù là trách nhiệm thi hành của tân Bộ Trưởng Madison. Nhưng Marshall đưa ra vấn đề quan trọng là Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền tài phán (jurisdiction) trong vụ này để xử khiếu nại của Marbury không?

Marshall dẫn chứng Ðiều III Hiến Pháp quả có ấn định cho Tối Cao Pháp Viện quyền tài phán tiên quyết, nghĩa là quyền được xử những vụ kiện thẳng đến tòa này nếu đương đơn là một nhân viên ngoại giao ngoại quốc hoặc là một tiểu bang đứng kiện, còn tất cả các trường hợp khác thì không được xử thẳng mà chỉ được xử lại những vụ kháng án sau khi đã có phán quyết ở tòa dưới. Marbury vin vào bộ Luật Tư Pháp (Judiciary Act) năm 1789 theo đó Tối Cao Pháp Viện có quyền tài phán tiên quyết và có quyền ra trát mandamus bắt buộc các viên chức hành pháp thi hành. Chánh Án Marshall bác bỏ lập luận này viện lý do vì giới hạn trong tổ chức phân quyền chính phủ nên Tối Cao Pháp Viện không áp dụng được Ðiều III Hiến Pháp.

Vì lý do ấy tòa không có quyền tài phán tiên quyết trong vụ này vì Marbury không thuộc thành phần ngoại giao ngoại quốc hoặc là một tiểu bang nên tòa không có quyền can thiệp vào việc phục chức của đương đơn. Phán quyết này dĩ nhiên thỏa mãn ngay phe Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng điều chính yếu rút từ vụ này là việc tự thừa nhận quyền tài phán tối hậu của Tối Cao Pháp Viện là hợp hiến dù chiếu theo Bộ Luật Tư Pháp 1789 hay theo các sắc luật khác của Quốc Hội. Như vậy phán quyết của Marshall vừa khéo léo nhượng bộ hành pháp đồng thời cũng bảo toàn được quyền hạn của Tối Cao Pháp Viện, chỉ có đương sự Marbury đau khổ vì ức lòng mà thôi.

Ðối với Marshall việc tìm xem Tối Cao Pháp Viện có quyền khảo xét tình trạng hợp hiến của các luật do lập pháp thông qua thì quá dễ dàng. Toàn dân đã lập ra hiến pháp để trở thành luật căn bản, tối thượng và tồn tại vĩnh viễn. Khuynh hướng của hiến pháp là hạn chế chỉ ban cho chính phủ liên bang quyền hành vừa đủ, vì thế hành pháp chỉ được sử dụng những quyền đã ấn định trong hiến pháp mà thôi, ngược lại tất cả mọi đạo luật trái với tinh thần hiến pháp đều bị hủy bỏ và vô hiệu hóa. Marshall quả đã khôn khéo dựa vào hiến pháp kết thúc vấn đề bằng một tam đoạn luận như sau: hiến pháp là luật, tòa án diễn giải luật, do đó có nghĩa là tòa án diễn giải hiến pháp. Nhưng thực ra những gì giải thích theo lối của Marshall thì lại không đồng quan điểm với nhiều người khác vì luật thường áp dụng ở tòa án và luật hiến pháp có nhiều khác biệt. Nếu hiến pháp là luật căn bản thì không nên coi như luật thường. Nói một cách rõ ràng hơn, hiến pháp là nền tảng của luật nên việc diễn giải ý nghĩa hiến pháp nếu để cho các ngành khác trong chính quyền sẽ gây khó khăn, ví dụ như quốc hội không xác định được một đạo luật có hợp hiến hay không trước khi ban hành.

Do đó sau khi Chánh Án Marshall mãn nhiệm kỳ vào năm 1834, án lệ Marbury v. Madison đã trở thành nền tảng của quyền lực Tối Cao Pháp Viện trong việc xử lại tình trạng hợp hiến của các đạo luật của liên bang và tiểu bang. Dĩ nhiên các ngành lập pháp và hành pháp không thích Tối Cao Pháp Viện nắm quyền này nhưng đến ngày nay đã trở thành thông lệ vững chắc. Sau vụ Brown v. Board of Education xử cấm kỳ thị chủng tộc ở học đường, Tối Cao Pháp Viện đã gặp nhiều chống đối chính thức cũng như không chính thức của một số thành phần thủ cựu cực đoan ở nhiều tiểu bang miền nam, thí dụ như quốc hội của vài tiểu bang ban hành nghị quyết không thừa nhận án quyết của Tối Cao Pháp Viện, cắt bỏ ngân sách tài trợ cho những trường học không chịu phân chia đen trắng, nhưng cuối cùng Tối Cao Pháp Viện đã cứng rắn bắt hết tiểu bang này đến tiểu bang nọ phải tuân hành nghiêm chỉnh. Về sau qua nhiều án lệ điển hình khác, Tối Cao Pháp Viện xác định lập trường vững chắc rằng ‘tổ chức tư pháp liên bang là cơ quan tối thượng trong việc diễn giải luật Hiến Pháp với những nguyên tắc của hệ thống luật hiến định bất di bất dịch theo đó toàn dân tuyệt đối phải tôn trọng vĩnh viễn không một ngoại lệ’.

Thời Watergate, Tối Cao Pháp Viện đã trải qua nhiều thử thách trong việc điều tra những hành động bất hợp pháp của Tổng Thống Nixon qua vụ án United States v. Nixon (1974), theo đó tòa phán rằng tòa án chứ không phải tổng thống, có quyền xác định sự hợp lệ của những bằng chứng trong vụ Watergate do công tố viên đặc biệt tìm ra mặc dù gặp đối kháng của hành pháp. Việc tra xét những bằng chứng này là phần vụ của tư pháp chiếu theo Ðiều III Hiến pháp có quyền xử tổng thống. Ðiểm đáng kể là phán quyết này của Tối Cao Pháp Viện đã khiến Tổng Thống Nixon phải chịu thừa nhận dù rằng hậu quả đưa đến việc từ chức buồn thảm của ông. Ðiều này đã chứng tỏ quyền lực của nền Tư Pháp Hoa Kỳ, mà ngay cả đến tổng thống cũng không tránh khỏi bị Tối Cao Pháp Viện xét xử.

Tuần tới chúng tôi trình bày tìm hiểu về những quyền hiến định đầu tiên của người dân ở Hoa Kỳ được bảo vệ dưới hiến pháp. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 2009 N. Broadway, Santa Ana, CA 92706. ÐT: (714) 531-7080.


Ðề: Tối Cao Pháp Viện : Diễn giải và áp dụng hiến pháp
Trong lịch sử của luật hiến pháp Hoa Kỳ có hai án lệ với phán quyết của Tối Cao Pháp Viện đưa ra cách nhau gần hai mươi năm đã thay đổi hẳn bối cảnh chính trị cận đại. Năm 1954 trong vụ án Brown v. Board of Education tòa đã phán rằng kỳ thị màu da tại học đường là vi hiến, phạm đến quyền mọi người được bảo vệ công bằng. Sau đó vào năm 1973 trong vụ Roe v. Wade, tòa ra phán quyết hạn chế tiểu bang quyền kiểm soát hoặc ngăn cấm phá thai, cho là vi hiến vì vi phạm dân quyền. Kết quả của hai vụ án này đã khơi mào gây nhiều kiện tụng cùng biểu tình phản kháng tạo bao sóng gió cho đời sau. Bài này trình bày đường lối Tối Cao Pháp Viện diễn giải hiến pháp trước những vấn đề có ảnh hưởng lớn đến công chúng như hai thí dụ trên.

Tại sao cần đến luật hiến pháp? Câu trả lời rất giản dị là để tổ chức chính quyền và bảo vệ dân quyền. Cho dù chúng ta có cần luật hiến pháp hay không thì luật này cũng đã hiện hữu và là văn kiện diễn giải nền tảng hệ thống chính trị Hoa Kỳ vì dựa vào hiến pháp. Có những điều người dân muốn làm nhưng không thực hiện được một mình mà phải nhờ đến chính quyền vì chỉ chính phủ mới có khả năng tập trung tất cả các nguồn tài nguyên để tạo công ích chung cho toàn dân hưởng, thí dụ như mở trường, mướn thầy dậy cho con trẻ, bảo vệ cho dân chúng sống yên lành trong một xã hội trật tự công bằng.

Vì vậy chính phủ phải mạnh, có quyền thâu thuế toàn dân để lập công quĩ chi phí cho mọi công ích. Nhưng chính vì chính phủ được quá nhiều quyền hạn nên tự đó đã là vấn đề, làm thế nào để dân tin chắc rằng chính phủ không lạm quyền như ở các nước cộng sản hay các nước thiếu dân chủ thường đánh thuế quá mức hay đặt ra nhiều luật lệ rắc rối làm khổ dân, hoặc bắt bớ tù đầy những kẻ vô tội và dùng quân đội để đàn áp đối lập? Vì vậy ở Hoa Kỳ dân chúng có quyền kiểm soát quyền hạn của chính phủ bằng cách lập ra một chính quyền dân chủ không phạm những điều dân không muốn hay đi ngược lại nguyện vọng của dân; nên luật hiến pháp được đặt ra để điều hòa quyền hành chính phủ, hạn chế không cho phép đi quá quyền hạn ấn định.

Luật hiến pháp được coi như phương tiện để tạo tiếng dân và là môi trường thảo luận những vấn đề thiết yếu bắt nguồn từ bản hiến pháp rồi lập thành các án lệ tham chiếu cho các trường hợp về sau. Những vấn đề xã hội và chính trị căn bản thường được lồng khung với các từ ngữ quen thuộc như chế độ phân quyền, chế độ liên bang, tự do ngôn luận... nên nhiều luật gia tưởng đó là những danh từ chỉ dùng cho chuyên môn, thực ra đây chính là những từ ngữ thông dụng dùng rất nhiều không những ở tòa án hay các văn phòng luật sư, mà còn ở các cơ quan công quyền, hay nhiều nhóm tư nhân trong dân gian.

Mặc dù luật hiến pháp được hiểu theo nhiều lối khác nhau nhưng hiến pháp đã ấn định cho Tối Cao Pháp Viện là cơ quan chính thức có quyền diễn giải và phân xử các tranh luận về vấn đề hợp hiến. Tuy Tối Cao Pháp Viện khó tránh khỏi bị ảnh hưởng chính trị, nhưng dù sao tòa này cũng khá cách biệt khỏi ảnh hưởng của hành pháp cấp giữa. Các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện được chỉ định nhiệm kỳ trọn đời nên nhiệm vụ của họ rất hạn hẹp không phải lúc nào cũng xử thỏa đáng mọi vụ kiện. Những vấn đề đã đem ra tranh cãi ở tòa cùng phán quyết các vụ án liên hệ đến hiến pháp đều được dùng dẫn chiếu làm căn bản cho các phân tích và quyết định trong nhiều vụ án quan trọng sau này.

Chúng ta hãy thử xét vài án lệ ở Tối Cao Pháp Viện về vấn đề kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ như vụ Scott v. Sanford sau đây: Trước cuộc nội chiến (Civil War) có một người nô lệ da đen tên là Dred Scott đi kiện ở một tòa án liên bang xin được phóng thích vì lý do anh đã ở với chủ ở Illinois trước khi theo chủ về Missouri. Chiếu theo Hòa ước Missouri ký năm 1820 thì Illinois là đất tự do thuộc lãnh địa Lousiana, chế độ nô lệ bị cấm chỉ kể từ phía Bắc vĩ tuyến 36 độ 30. Scott lập luận rằng một khi anh đã đặt chân lên đất tự do nơi đã phóng thích anh hợp pháp, thì khi về đến Missouri là một đất nô lệ anh cũng được hưởng quyền tự do. Lúc đó vấn đề nô lệ tối quan trọng trước ảnh hưởng chính trị, đạo đức, và kinh tế ở Hoa Kỳ nên nội vụ được đem ra xử chiếu theo hiến pháp.

Vào năm 1857, Thẩm Phán Roger Taney phán rằng những dân da đen như Scott không có quyền công dân như đã ấn định trong điều III Hiến Pháp Hoa Kỳ, do đó không có quyền đi thưa ở tòa án liên bang, và Hòa ước Missouri bị coi như bất hợp hiến và không có hiệu lực. Theo quan điểm của Taney tất cả dân da đen là sắc dân hạ đẳng, sinh ra chỉ để làm nô lệ mà thôi nên không được áp dụng bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập (Declaration of Independence) theo đó định rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Vì lẽ đó dân da đen không được kể là công dân để có quyền kiện thưa tại tòa án liên bang. Hơn thế nữa quốc hội lúc đó còn liệt Hòa ước Missouri vào loạt văn kiện chính trị lập ra cốt để giảng hòa phe Nam và Bắc Mỹ, coi như vượt quyền hiến pháp ấn định nên không có hiệu lực.

Vụ án Scott đã cho thấy bản chất giới hạn của luật hiến pháp. Cuộc tranh cãi về ý nghĩa của hiến pháp đã bung ra khỏi tòa án. Thời đó có hai nhân vật đối nghịch nhau nổi tiếng là Abraham Lincoln và Stephen Douglas đã tranh biện nẩy lửa về vụ Scott. Douglas khăng khăng biện luận rằng phán quyết của Taney ở tòa án liên bang là đúng, phải được tôn trọng coi như chung kết không được cãi vã gì nữa. Ðối lại Lincoln cho rằng ngoài tòa án ra các ngành khác của chính quyền là hành pháp và lập pháp đều có quyền diễn giải hiến pháp theo lập luận riêng. Ông nói: “Nếu tôi là dân biểu Quốc Hội bỏ phiếu để bãi bỏ nô lệ bất kể vụ Scott bị xử thua, tôi sẽ bỏ phiếu tán thành ngay.” Cuộc tranh luận này được đề nghị đưa lên Tối Cao Pháp Viện phân xử vì là thẩm quyền chung cuộc để diễn giải hiến pháp.

Nửa thế kỷ trước vụ Scott, Tối Cao Pháp Viện tuy đã giải nghĩa từng chữ của bản hiến pháp nhưng vẫn mặc nhiên công nhận lối phán đoán thiên vị của Taney và vụ Scott cho thấy rõ vai trò rất hạn chế của tòa án trước ảnh hưởng chính trị. Chánh Án Taney hy vọng rằng với phán quyết vụ Scott sẽ vĩnh viễn giải quyết êm được toàn bộ vấn đề nô lệ trong toàn quốc. Nhưng dù rằng phe cấp tiến không đạt được hiệu lực của Hòa ước Missouri và Hòa ước 1850, thì trái lại phe bảo thủ cũng không đạt được ý muốn duy trì chế độ nô lệ theo kết quả vụ Scott, ngược lại còn châm dầu thêm vào các bất đồng ý kiến để sau này dẫn đến bùng nổ cuộc nội chiến tương tàn, giải quyết mâu thuẫn bằng chiến tranh máu đổ thịt rơi thê thảm.

Mặc dù sau thất bại của Tối Cao Pháp Viện trong việc giải quyết chuyện nô lệ bằng cách dùng hiến pháp để lập luận, vấn đề bãi bỏ nô lệ vẫn được coi như hợp hiến sau cuộc nội chiến. Những điều khoản tu chính mới, Tu chính thứ Mười Ba, Mười Bốn, và Mười Lăm (Thirteen, Fourteen, Fifteen Amendments) được coi như những động cơ chấm dứt chế độ nô lệ, ngăn cấm kỳ thị chủng tộc và chấp nhận cho dân da đen tham gia chính trị. Ðiều Tu Chính thứ Mười Bốn đặc biệt rất quan trọng đã theo quan niệm của hiến pháp nguyên thủy và bản Dân Quyền bảo đảm quyền hạn cho dân nô lệ mới được giải phóng.

Việc diễn giảng các tu chính hiến pháp trong những thế kỷ sau không được đồng nhất từ nguyên tắc tới kết quả. Thí dụ như trong hai án lệ nổi tiếng Plessy v. Ferguson năm 1896 tòa án thoạt tiên cho phân chia hành khách khu trắng đen riêng biệt trên xe lửa, nhưng về sau trong vụ Brown v. Board of Education năm 1954 tòa đã xử ngược lại cấm không được phân chia lớp riêng cho học trò trắng và đen tại học đường. Vì vậy vấn đề kỳ thị chủng tộc như vụ Scott qua bao thế kỷ vẫn gây tranh luận không những ở tòa án mà còn trong công chúng, họ thường lấy hiến pháp ra để trợ lực. Luật hiến pháp từ đó đã được dùng để cung cấp những từ ngữ và phương thức giải quyết những vấn đề hệ trọng, nhưng không những chỉ vì từ ngữ hay phương thức, luật hiến pháp đã trở thành mẫu mực cần thiết và quen thuộc trong suốt hơn hai trăm năm qua trong việc giải quyết vấn đề vi hiến hay hợp hiến.

Trả Lời Với Trích Dẫn
23-12-2010, 14:06 #5 luathoc
I'm a Robot


Tham gia ngày
Jan 2011
Bài viết
103
Thích
0
Được thích 1 lần / 1 bài
Ðề: Tối Cao Pháp Viện : Diễn giải và áp dụng hiến pháp
Tuần qua, thẩm phán David Souter vừa tuyên bố quyết định về hưu, sau hơn 19 năm giữ chức vụ thẩm phán tại Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Hoa Kỳ. Ở Mỹ, mỗi tiểu bang có hệ thống pháp lý riêng, và Tối Cao Pháp Viện của tiểu bang là cơ quan tư pháp cao nhất. Trên bình diện quốc gia, Mỹ có hệ thống tư pháp của liên bang, và Tối Cao Pháp Viện Liên Bang là cơ quan tư pháp quyền lực nhất trên toàn lãnh thổ.

Theo cơ chế chính trị của Mỹ, quyền làm luật được giao cho cơ quan lập pháp các cấp từ địa phương đến trung ương. Luật ban hành không được đi ngược lại tinh thần của bản Hiến Pháp, đạo luật tối cao của quốc gia. Khi luật được ban hành, hoặc khi luật được mang ra áp dụng, thường có những tranh cãi về tính hợp hiến của luật. Những tranh cãi này thường được đưa ra tòa án phân xử, và nếu được thượng tố, vấn đề sẽ lên đến tòa trên. Như đã nói, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) là tòa án cao nhất và quyết định của tòa này là quyết định sau cùng, sẽ trở thành luật trên toàn lãnh thổ. Những phán quyết của TCPV ảnh hưởng đến đời sống văn hóa chính trị của toàn nước Mỹ bao gồm những vấn đề như quyền chọn lựa phá thai, quyền sở hữu súng, lênh chống kỳ thị vv TCPV bao gồm 9 vị thẩm phán do Tổng thống Hoa Kỳ đề cử, và thượng viện bỏ phiếu chuẩn nhận theo nguyên tắc đa số. Sau khi được bổ nhiệm, nhiệm kỳ của một thẩm phán là suốt đời. Chính vì vai trò quan trọng của TCPV nên việc bổ nhiệm một thẩm phán vào TCPV đòi hỏi sự chọn lựa kỹ lưỡng. Trong số 9 vị thẩm phán đương nhiệm, chỉ có 1 thẩm phán da đen và 1 thẩm phán phụ nữ. Người ta tin rằng lần này, để thay thế thẩm phán Souter, tổng thống Obama sẽ bổ nhiệm một nữ thẩm phán thuộc nhóm sắc tộc Mỹ Latin, để TCPV có thêm đại diện phản ảnh cho các thành phần dân số đa dạng của Mỹ.

TCPV như chúng ta được biết ngày hôm nay là một cơ quan có pháp quyền tối thượng vững chắc, ngay cả vị Tổng Thống của Hoa Kỳ cũng phải tôn trọng. Nhưng từ thuở lập quốc đến nay, TCPV cũng đã đôi lần trải qua những thử thách về quyền lực với phía hành pháp. Vì không trực tiếp chỉ huy quân đội hay cảnh sát, TCPV chỉ ra phán quyết nhưng không nghiêm chấp được phán quyết của chính mình, mà việc thi hành quyết định của tòa phải nhờ vào các lực lượng vũ trang dưới quyền chỉ huy của tổng thống, của ngành hành pháp. Lần chống lại lệnh tòa đầu tiên xảy ra năm 1832, khi tổng thống Andrew Jackson không đồng ý với phán quyết của TCPV trong vụ Worcester v. Georgia. Trong vụ này, có lời đồn rằng tổng thống Jackson tuyên bố: “Thẩm phán Marshall đã ra quyết định; vậy thì để ông ấy nghiêm chấp án lệnh của ông.” Tuy nhiên, nhiều sử gia đã lên tiếng bác bỏ lời đồn về câu tuyên bố này. Lần thứ hai có sự chống đối là sau khi TCPV ra phán quyết xóa bỏ phân biệt màu da trong các trường công lập (Brown v. Board of Education), các nhóm dân quân da trắng địa phương đã đứng lên chống đối. Gần đây nhất, trong vụ United States v. Nixon năm 1974, nhiều người lo ngại tổng thống Nixon sẽ cưỡng lại lệnh tòa và không chịu giao những cuốn băng thu mật trong vụ Watergate. Tuy nhiên, sau cùng Tổng Thống Nixon cũng tuân lệnh tòa và giao lại những cuốn băng ấy, dẫn đến việc từ chức của ông. Sau mỗi lần có sự thách thức, quyền lực của TCPV lại được củng cố thêm; và tính độc lập của TCPV đối với chính phủ và quốc hội khiến TCPV là một đảm bảo cho nguyên tắc cân bằng quyền lực của Mỹ.

Lược qua lịch sử của nền dân chủ Mỹ và của TCPV nói riêng, chúng ta mới trân trọng tinh thần thượng tôn luật pháp của từng người lãnh đạo và từng người dân của Mỹ. Tham, sân, si hiện diện trong mọi người, mọi nơi; nếu những vị tổng thống tiên khởi của Mỹ cũng trở thành những Lenine, Staline, Hitler hay Mao Trạch Đông, chắc nước Mỹ cũng sẽ trải qua những xáo trộn đẫm máu mỗi lần thay đổi chính quyền. Nhưng cái may mắn của nước Mỹ là những anh hùng lập quốc là những người vì quốc gia, vì mọi người, mà không trở nên độc tài, tham quyền cố vị. Sau khi những người đi trước đã xây đắp một nền móng dân chủ vững chắc, những kẻ đi sau như Jackson, Nixon … sẽ không có cơ sở để lạm quyền, độc tài, bởi vì họ không thể ra lệnh cho cấp chỉ huy quân đội hay cảnh sát vô cớ đàn áp người dân. Thỉnh thoảng chúng ta cũng sẽ gặp những cá nhân ngoan cố như cựu thống đốc Blagojavich của Illinois mới đây, nhưng hệ thống dân chủ của Hoa Kỳ sẽ dễ dàng đào thải những mầm mống bại hoại như thế. Đa số người dân và lãnh đạo Hoa Kỳ ngày nay tự nguyện tôn trọng bảo vệ luật pháp, hiến pháp, và các cơ chế chính quyền của họ. Ở Mỹ, không ai tuân lênh một tổng thống để bắn giết dân theo kiểu Nga Sô, Trung Quốc.

Những nước giàu mạnh hàng đầu thế giới ngày nay như Nhật, Đức, cũng đã có thời trải qua những chế độ độc tài kiểu Hitler hay Hirohito, nhưng sau cuộc chiến tranh, nhân dân các nước ấy đã vùng lên và không còn tin vào lãnh đạo kiểu thiên hoàng hay quốc trưởng. Đức và Nhật ngày nay đang hưởng một nền dân chủ tiến bộ, làm nền tảng cho sự lớn mạnh kỳ diệu về kinh tế.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code