Showing posts with label Lý Luận Chung. Show all posts
Showing posts with label Lý Luận Chung. Show all posts

Wednesday, September 25, 2013

BÀN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Khi mọi người đang thảo luận sôi nổi vấn đề xây dựng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, trước hết cần nghĩ tới việc đánh giá về kinh tế thị trường có một tiền dề giá trị hoặc tiêu chuẩn đạo đức. Vì nếu không tìm hiểu tiền đề đó thì không có cách nào phân biệt được cái lợi, cái hại của chế độ kinh tế, cũng không thể đưa ra một quan niệm giá trị hoặc quan niệm đạo đức thích ứng với chế độ kinh tế. Bài viết này trình bày bắt đầu từ việc tìm hiểu thuộc tính bản chất của luân lý kinh tế trong thị trường.
I. Kinh tế thị trường là một phương thức hoạt động kinh tế do loài người tạo ra để giải quyết vấn đề sinh tồn và phát triển. Thị trường là một cơ chế phù hợp với lợi ích, còn trao đổi là một quá trình tổ hợp các lợi ích. A. Smith, nhân vật đại diện cho phái kinh tế học cổ điển khi ca ngợi về cơ chế trao đổi thị trường, đã yêu cầu mọi người tiến hành hoạt động tuân theo những qui tắc sau đây: một là, sản xuất để thu được lợi nhuận; hai là, căn cứ tình hình nhu cầu của xã hội – do quan hệ cung cầu hàng hoá phán ánh – để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu chứ không phải căn cứ vào truyền thống, tập tục hoặc mệnh lệnh hành chính; ba là, đua nhau sản xuất hàng hoá được xem là có lợi, đồng thời ra sức cải tiến công cụ, kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất. Căn cứ vào những quy tắc trên, người sản xuất chỉ sản xuất để thu được giá trị trao đổi hoặc lợi nhuận, còn tác dụng chủ đạo của thị trường đối với hoạt động kinh tế mới có thể đưa lợi ích trở thành nguyên tắc tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh tế thị trường. Trong quá trình sản xuất của xã hội, mọi người không ngừng tăng thêm tích lũy, mở rộng sản xuất và thị trường, kích thích tiêu dùng. Cầu lợi, cạnh tranh, trao đổi, không ngừng mở rộng sản xuất và tích lũy, khai thác và mở rộng thị trường, kích thích tiêu dùng v.v.. mới là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh tế thị trường của mọi người. Bất cứ ai khi bước vào hoạt động kinh tế thị trường nếu vi pnạm những quy tắc đó đều có thể dẫn tới thất bại. Sự thực, bản chất của luân lý trong kinh tế thị trường chính là ở chỗ đó.
1. Luân lý của kinh tế thị trường
a) Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền lợi nhất định đối với một loại vật phẩm kinh tế nào đó mà mọi người có, như quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền thu lợi v.v… Những quyền đó đòi hỏi phải có sự tôn trọng và bảo vệ để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội. Không có người độc lập chiếm hữu quyền tài sản thì không có kinh tế thị trường, nếu có tự do quyết định của chủ thể kinh tế, thì không thể khiến cho sự ích kỷ trở thành động lực căn bản thúc đẩy mọi người hoạt động kinh tế và cũng không thể có cạnh tranh trục lợi giữa các chủ thể kinh tế.
b) Theo đuổi hiệu quả.
Kinh tế thị trường là kinh tế hiệu quả. Do tính chất của nó, kinh tế thị trường thúc đẩy tính tự do, ích kỷ, trao đổi, cạnh tranh, phân công lao động xã hội. Do hành vi ích kỷ của chủ thể kinh tế, áp lực của cạnh tranh thị trường, nên hiệu quả sản xuất và phân phối bố trí tài nguyên mới được nâng cao, và do tồn tại sự trao đổi, nên mọi chủ thể kinh tế đều có thể được đặt đúng vị trí theo khả năng và nhu cầu của mình. Đồng thời trao đổi lại là sức mạnh quan trọng thúc đẩy sự phân công phát triển. Dưới áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, phân công xã hội ngày càng tỷ mỷ, trình độ chuyên môn ngày càng cao, từ đó năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên. Vì thế, kinh tế quốc dân được phát triển bền vững, nhanh chóng, sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, mức sống của dân cư không ngừng được nâng cao.
c) Kinh tế tự do
Tính chất của kinh tế thị trường đã trao cho chủ thể môi trường kinh tế tự do. Kinh tế tự do là điều kiện luân lý cơ bản cho trật tự kinh tế thị trường tồn tại. Nó chủ trương thông qua việc quy định quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế thông thường, trao cho các chủ thể trong đời sống kinh tế xã hội tiến hành độc lập quyết sách và quyết định giá cả. Ngoài ra, việc phân phối, bố trí tài nguyên sức lao động của thị trường và người lao động tự do, cũng được hình thành kết cấu sắp xếp hợp lý nhất, có lợi cho việc phát triển cá tính của người lao động, cũng như việc phát huy tối đa tài năng của con người.
d) Bình đẳng kinh tế trong kinh tế thị trường cũng do tính chất của bản thân kinh tế thị trường quyết định, tức tính chất: tự do, trao đổi, cạnh tranh, khế ước hợp đồng của kinh tế thị trường đã quyết định sự bình đẳng về địa vị kinh tế cơ bản của chủ thể thị trường.
Giá cả bình đẳng đã cho phép các chủ thể kinh tế tiến hành trao đổi, cạnh tranh thị trường và ký kết khế ước. Vì chỉ có như vậy, chủ thể kinh tế trong thị trường mới không bị phân biệt; mới có thể tham gia thị trường với tư cách bình đẳng, mới có thể thực thi giao dịch, cạnh tranh công bằng.
e) Quan niệm khế ước
Kinh tế thị trường là kinh tế khế ước. Tính khế ước của kinh tế thị trường, tất nhiên đòi hỏi luân lý của thị trường phải nhấn mạnh khế ước, khuyến khích việc khế ước hoá trong giao dịch, xây dựng quan niệm khế ước. Song song với việc đó là luân lý của kinh tế thị trường phải xây dựng rộng rãi quan niệm khế ước, thúc đẩy việc khế ước hoá phổ biến trong giao dịch thị trường. Ngoài ra, còn có tính công bằng trong kinh tế và tính đạo đức trong chế độ v.v..
2. Luân lý về kinh tế cá thể của kinh tế thị trường
a) Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản
Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản là do tính chất của kinh tế thị trường quyết định, nó là sự quy định hành vi cá thể của luân lý kinh tế, cũng là nguyên tắc tiêu chuẩn để mọi người tiến hành các hoạt động xã hội. Quan niệm luân lý về tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản đó được mọi người cá nhân hoá và thực hiện, để hình thành đạo đức luân lý mà mọi người phải tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản.
b) Cùng có lợi
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế lấy quan hệ trao đổi làm chủ yếu. Về bề ngoài, quan hệ trao đổi là sự trao đổi giữa hàng hóa với hàng hóa, nhưng thực chất đó mối quan hệ xã hội giữa con người với nhau, mà cái cốt lõi trong đó là chuyển nhượng quyền sở hữu, tức trao dổi bình đẳng quan hệ quyền tài sản.
c)Chủ nghĩa duy lý
Chủ nghĩa duy lý là cốt lõi của kinh tế thị trường, quy định hành vi và là kim chỉ nam hành động của cá thể kinh tế. Chủ nghĩa duy lý biểu hiện ở: một mặt, chủ thể kinh tế tuân theo yêu cầu của quy luật kinh tế (như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật quyền sở hữu sản xuất hàng hoá, quy luật cạnh tranh, quy luật tích luỹ vốn v.v..) tiến hành đầu tư, sản xuất, kinh doanh một cách hợp lý, theo đuổi lợi ích; mặt khác, chủ thể kinh tế có thể nhận rõ một cách biện chứng mối quan hệ mật thiết giữa lợi ích của mình với lợi ích của người khác, từ đó làm cho chủ thể kinh tế tự giác thực hiện cùng có lợi trong hoạt động kinh tế.
d) Chủ nghĩa cá nhân
Một là, vì lợi ích của chủ thể kinh tế thị trường hoặc của cá nhân kinh tế. Từ đó có thể dẫn đến một cuộc cách mạng hoặc tiến bộ nào đó về đạo đức, tức về mặt đạo đức thực hiện sự chuyển biến căn bản từ chỗ phủ định đến khẳng định tính hợp lý chính đáng lợi ích cá nhân, điều đó có lợi cho việc khơi dậy tinh thần tiến thủ của mọi người và thức đẩy kinh tế phát triển. Hai là, vì sự tự do của chủ thể kinh tế thị trường hoặc của cá nhân kinh tế. Theo nghĩa thông thường, đó là xác nhận tự do cá nhân hoặc là cá nhân có quyền tự chủ, tự quyết. Rõ ràng, bản thân điều đó có nghĩa là bước tiến bộ về đạo đức, tức có nghĩa là phủ định ”sự phụ thuộc vào nhân thân”, ”phục tùng đẳng cấp”, có nghĩa là nó còn có thể thúc đẩy phát triển tính chủ thể của cá nhân, cá tính và hình thành nhân cách độc lập của cá nhân, có lợi cho mọi người sống theo ý nguyện của mình.
e) Tín nhiệm và chữ tín
Trong hoạt động kinh tế, tín nhiệm có vai trò rất quan trọng, nó thâm nhập vào mọi hoạt động kinh tế, là chất xúc tác sản sinh các quan hệ kinh tế. Trong hoạt động kinh tế xã hội, giao dịch thị trường ngày càng mở rộng như hiện nay, nếu không có sự tín nhiệm ở mức độ nhất định thì hoạt động kinh tế không thể thực hiện được. Ngoài ra còn phải cần cù, tôn trọng nghề nghiệp, phát minh sáng tạo mới v.v..
Tóm lại, luân lý kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường là yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường, nó có tính hai mặt. Về mặt xây dựng đạo đức, nó là một con dao hai lưỡi. Vì thế, hạn chế những ảnh hưởng xấu của nó như thế nào, không chỉ là một lý tưởng đạo đức, mà còn là vấn đề bức thiết trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức ngày nay.
II. Hoạt động kinh tế thị trường là hoạt động vật chất của mọi người, đồng thời cũng là một hoạt động văn hoá mưu cầu lợi ích tối đa. Sau khi khảo sát nguyên tắc chung của luân lý kinh tế thị trường trong điều kiện kinh tế thị trường XHCN vẫn tồn tại và có tác dụng cơ bản đối với việc xây dựng văn minh vật chất, dưới đây thử xem xét sự tồn tại về văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường XHCN, và chúng cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn minh tinh thần của toàn xã hội.
Nguyên tắc thông hành trong kinh tế thị trường là nguyên tắc tự chủ trong “tự thiết kế, tự lựa chọn, tự chịu lỗ lãi”. Nguyên tắc đó đã khiến cho tính tích cực, sáng tạo và tính độc lập tự chủ của đông đảo quần chúng nhân dân được phát huy mạnh mẽ, là động lực cho phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và toàn bộ công cuộc xây dựng văn minh tinh thần. Tuy nhiên, nó cũng có thể làm cho mọi người dễ dàng nẩy sinh tư tưởng chủ nghĩa tự tôn, chủ nghĩa bản vị, thậm chí chủ nghĩa vô chính phủ, xem thường kỷ luật của đảng, pháp luật của nhà nước, làm lu mờ quan niệm toàn cục và tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, khiến cho khuynh hướng giá trị của mọi người hướng tới chủ nghĩa cá nhân. Phải thấy được việc phổ biến và bành trướng của chủ nghĩa cá nhân hiện nay là nguyên nhân chủ yếu làm mất đi những chuẩn mực về đạo đức trong một số lĩnh vực của xã hội, do đó cản trở việc xây dựng văn minh tinh thần.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi là nguyên tắc hướng tới cái lợi không chỉ “lợi lớn làm lớn, lợi nhỏ làm nhỏ, không có lợi không làm”, mà còn là theo đuổi lợi ích tối đa. Nguyên tắc hướng tới cái lợi đã làm cho tinh thần phải thiết thực, cụ thể, quan niệm hiệu quả thực tế và thái độ thực sự cầu thị của mọi người phải mạnh mẽ hơn, chú trọng nhiều đến hiệu quả coi trọng hiệu suất, làm thực sự, không hình thức. Nhưng, nó lại làm cho người ta trọng lợi khinh nghĩa”, chí cầu có lợi, coi tiền là tất cả dẫn đến chủ nghĩa sùng bái đồng tiền, làm cho tiêu chuẩn giá trị của mọi người bị tiền tệ hoá.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi còn là nguyên tắc cạnh tranh “đua mạnh hiếu thắng, tốt thì giữ lại, xấu thì loại bỏ, ý chí kiên cường tiến thủ”. Ý thức cạnh tranh – do nguyên tắc cạnh tranh của kinh tế thị truởng tạo nên – là ý thức có ý nghĩa tiến bộ nhất của xã hội hiện đại hoá. Nhưng tính bài xích của mực tiêu cạnh tranh và tính đa dạng của thủ đoạn cạnh tranh, cũng có thể khiến cho một số người vì muốn chiến thắng đối thủ mà dùng mọi thủ đoạn để đầu cơ dựa thế leo lên, chạy theo danh vọng, dối trá, lừa gạt, khiến cho khuynh hướng giá trị của con người bị chủ nghĩa thực dụng hoá.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi là nguyên tắc ngang giá trao đổi ngang giá, có và không có trao đổi với nhau, bảo đảm chắc chắn uy tín và danh dự. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi người làm việc phải công bằng, chính trực, bình đẳng với nhau, giúp nhau cùng có lợi, nhiệt tình phục vụ, loại bỏ quan niệm sang hèn về đẳng cấp và tư tưởng đặc quyền, làm cho ý thức công dân và quan niệm bình đẳng trong mục tiêu giá trị của mọi người được nâng cao. Nhưng nguyên tắc ngang giá cũng có thể làm cho mọi người đem phép tắc trao đổi hàng hoá thâm nhập vào sinh hoạt trong đảng và hoạt động công vụ của chính quyền, làm phai nhạt tình cảm đồng chí, lập trường tính đảng, nguyên tắc tổ chức, thậm chí tinh thần trách nhiệm trong công tác, khiến cho việc thực hiện giá trị của mọi người bị “con buôn” hoá, dung tục hoá.
“Phiếm hoá” ý thức hàng hoá cũng là một vấn đề cần phải chú trọng và ngăn ngừa. Tính mù quáng của kinh tế thị trường phần nhiều có khuynh hướng dùng hình thức trao đổi của thị trường để thôn tính tất cả các hình thức quan hệ trao đổi khác; khuynh hướng đem nguyên tắc cầu lợi, nguyên tắc trao đổi, nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc tự chủ của thị trường vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm đời sống riêng tư và sinh hoạt công cộng, như gia đình, chính trị, văn hoá, giáo dục v.v… Khuynh hướng đem giá trị của cuộc sống, chức vụ của chính quyền, thậm chí toàn bộ hoạt động sinh mệnh của con người, lương tâm tôn nghiêm của con người v.v.. biến thành hàng hoá có thể yết giá mua bán, dẫn dến một loạt hiện tượng hủ bại và hành vi xấu xa như mua quan, bán chức…
Những ảnh hưởng tiêu cực và khiếm khuyết của nguyên tắc kinh tế thị trường vốn có trong chính bản thân thị trường. Điều kiện sản xuất hàng hoá TBCN đã khuếvh đại những ảnh hưởng tiêu cực và khiếm khuyết của thị trường thành hiện tượng phổ biến trong xã hội tư bản. Từ khi Trung Quốc chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường đến nay, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và hoàn toàn đi ngược lại với bản chất của CNXN.
III. Kinh tế thị trường là kinh tế lý tính, đồng thời nó cũng cần một lý tưởng đạo đức. Lệch lạc lý tưởng, sự vận động của xã hội sẽ có thể mất phương huớng. Một xã hội mất đi trụ cột tinh thần thì có thể dẫn đến sự mơ hồ về lý tưởng, mất đi nhân tính. Trên thực tế, trong quá trình lịch sử lâu đài, mỗi một dịp xã hội thay đổi từ cũ sang mới, đều là lúc xây dựng lại lý tưởng đạo đức. Xây dựng lại đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, không phải đơn giản từ bỏ lý tưởng đạo đức truyền thống, nó bao gồm việc chia tách, phân tích, tiếp thu có chọn lọc và tái tạo truyền thống. Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng lại lý tưởng đạo đức cũng sẽ tất yếu phải trả lời hai vấn đề cơ bản: một là, thái độ đối với truyền thống lịch sử của mình như thế nào; hai là, thái độ đối với quan niệm luân lý nội sinh của kinh tế thị trường ra sao. Vấn đề trước là giải quyết mối quan hệ giữa lịch sử và hiện đại theo chiều dọc, vấn đề sau là trả lời vấn đề dòng chính và dòng phụ về chiều ngang. Trọng tâm của bài này là thảo luận vấn đề thứ hai. Theo khảo sát và phâh tích ở trên, cần phải chú ý mấy mặt sau:
1. Tiến hành hạn định cần thiết đối luân lý kinh tế, đồng thời phải làm cho nó có lực đàn hồi và sức dãn cần thiết
Luân lý kinh tế trong đời sống xã hội của công chúng, tác dụng trực quan của nó là ở chỗ dùng đạo đức để quy định hành vi của cá thể, khiến cho xã hội có trật tư, phát triển hài hoà. Theo quan niệm đó, phải tiến hành hạn định đối với luân lý kinh tế, loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực. Nhưng việc chủ thể hoá và đa nguyên hoá của kinh tế thị trường chắc chắn đòi hỏi sự hạn định dó phải từ góc độ rộng hơn, toàn diện hơn để bảo đảm cho việc lựa chọn đạo đức của các cá thể Cũng chính là đằng sau những phạm trù luân lý kinh tế dó, “giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cạnh tranh và hợp tác, giữa hiệu quả và công bằng” phải xác định những cái nào cần được quảng bá, những cái nào cần làm, những cái nào được phép tồn tại, những cái nào không được tồn tại. Giữa các luân lý trong cùng một phạm trù cần phải giữ được lực đàn hồi và sức dân nhất định, để cho các cá thể căn cứ vào tình huống, mức độ tiến hành, phương thức, phương pháp của mình mà lựa chọn. Lực dãn đó là cái quan trọng bảo đảm và thể hiện tính dân chủ của luân lý. Lực đàn hồi và lực dãn giữa hai cái đó càng nhỏ, thì càng bị người khác ước thúc, bản chất của luân lý kinh tế biểu hiện càng không đầy đủ. Đương nhiên, chúng ta kỳ vọng mỗi một thảnh viên xã hội đều trở thành những nhân vật ưu tú, nhưng trên thực tế cũng không dễ dàng. Mặt khác, lý tính đạo đức của thanh niên hiện nay đa biểu hiện tính đàn hồi sung mãn. Bản thân mục tiêu giáo dục phải hàm chứa mảnh đất đầy, đủ cho cá nhân lựa chọn. Mục tiêu vạch rõ phương hướng và yêu cầu cơ bản. trong phương hướng và yêu cầu cơ bản, cá thể phải căn cứ vào niềm tin đạo đức và trình độ của mình để chọn lựa. Mở rộng lực dãn đó, không phải là từ bỏ giáo dục đạo đức, mà là chuyển trọng điểm của giáo dục từ chỗ chỉ cho mọi người “làm gì” sang việc dẫn dắt mọi người nhận thức ”vì sao” và “lựa chọn như thế nào”, để nâng cao tính tụ ước thúc và năng lực lựa chọn của đối tượng giáo dục.
2 Giáo dục đạo đức luân lý kinh tế, phải lấy việc nâng cao sức phản tỉnh và sức sáng tạo của bản thân giáo dục đạo đức làm tiền đề
Luân lý kinh tế thị trường đối với việc giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng. Trong giáo dục đạo đức, phải xác định rõ những cái nào cần được quảng bá, những cái nào cần làm, những cái nào được phép tồn tại, những cái nào không được tồn tại, bất luận đối với xã hội hay đối với cá nhân đều rất quan trọng. Đối với xã hội, nó đã thích ứng với sự chuyển biến của đạo đức từ nhất nguyên hoá sang đa nguyên hoá; đối với cá thể, nó thúc đẩy lý tính của mọi người, trong luân lý đạo đức từ kiểu tiếp nhận sang kiểu đánh giá, chọn lựa. Song, thực sự làm được điều này rất khó. Vì, một mặt, kinh tế xã hội ngày càng mở rộng, việc cải tạo và tổ chức lại thể chế kinh tế, có thể làm cho chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới; mặt khác, đồng thời với việc đi sâu cải cách mở cửa, ngày càng nhiều quan rừệm đạo đức của Phương Tây cùng với KHKT xâm nhập Trung Quốc. Quá trình đó cũng sẽ đòi hỏi các cá thể xã hội và bản thân đạo đức phải có sức phản tỉnh và sức sáng tạo. Sức phản tỉnh và sức sáng tạo đó vừa là yêu cầu khách quan của sự biến đổi xã hội, vừa là động lực nội tại của tiến bộ đạo đức.
Từ khi tiến hành kinh tế thị trường đến nay, sở dĩ niềm tin vào đạo đức bị xói mòn là do việc giáo dục đạo đức thiểu năng lực đổi mới. Trong điều kiện kinh tế kế hoạch, quy phạm đạo đức tương đối đơn nhất, đối với năng lực đổi mới đó không có yêu cầu. Còn trong điều kiện kinh tế thị trường thì khác, bất cứ một nội dung giáo dục đạo đức đặc biệt nào cũng đều phải chấp nhận sự kiểm nghiệm của thực tiễn; bất cứ một thứ luân lý đạo đức nào muốn con người ta lấy làm lẽ sống của mình đều phải có sức thuyết phục. Chỉ có cầu sinh tồn trong đối thoại đạo đức, cầu đổi mới trong việc theo đuổi sự phát triển của thời đại, mới có thể giữ được quyền uy của giáo dục đạo đức. Do đó, dám chấp nhận sự hoài nghi và phê phán của đối tượng giáo dục, đối mặt với những thách thức của tinh thần luân lý trong kinh tế thị trường, mới có thể tăng cường sức cảm hoá hiện thực của giáo dục đạo đức. Nếu không, mục tiêu và lý tưởng đạo đức có tốt đến mấy cũng chỉ là lý luận suông.
3. Thiết thực nâng cao hiệu qnả của giáo dục đạo đức, hoàn thành việc chuyển hoá giáo dục đạo đức
Sự vận hành của kinh tế thị trường làm nảy sinh những thách thức nghiêm trọng đối với việc chỉnh hợp luân lý kinh tế và giáo dục đạo đức song nó cũng cung cấp một cơ hội phát triển đầy đủ. Muốn nắm bắt được cơ hội đó, đối với việc giáo dục đạo đức trong các trường học hiện nay, phải từng bước thực hiện sự chuyển hoá trong giáo dục đạo đức:
Một là, từ thuyết giáo luân lý chuyển hoá rèn luyện đạo đức. Tất cả quan điểm trong môn học luân lý đạo đức đều là thế giới quan mà quan niệm tự nhiên, quan niệm lịch sử xã hội và quan niệm nhân sinh biểu hiện ra, phải biến nó thành những giá trị chuẩn mực về đạo đức trong lòng học sinh, hình thành niềm tin vững chắc;
Hai là, từ giáo dục quy phạm chuyển hoá sang giáo dục tố chất. Nếu nói giáo dục quy phạm chú trọng giáo dục về hành vi tập quán, thì giáo dục tố chất lại là giáo dục về phương pháp tư tưởng. Điều đó chỉ ra cho mọi người thấy là phải làm gì và làm như thế nào, từ đó khiến cho họ chấp hành quy phạm một cách tự giác hơn;
Ba là, về phương thức giáo dục đạo đức, phải từng bước chuyển dần việc giáo dục lấy giáo viên là chính, trên lớp là chính sang hướng tự giáo dục lấy học sinh là chính, thẩm thấu là chính. Việc giáo dục đạo đức truyền thống lấy sách vở, lên lớp là hình thức chủ yếu, giới hạn trong đạo đức trừu tượng, về khách quan mà nói, rất dễ làm cho tâm tư tình cảm của đối tượng giáo dục bị ngược hướng, từ đó khó có thể đạt được hiệu quả. Việc giáo dục thông qua các hình thức sinh động gắn giáo dục vào việc quản lý, phục vụ và sinh hoạt của học sinh, chú ý đến tính chủ động và tính tự giác của học sinh, từ đó nhất định sẽ thu được hiệu quả giáo dục lớn hơn.
BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – Theo Lý Hy Thu (Trung Quốc), Thông tin những vấn đề lý luận số 23,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 12/2004

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
“Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới. Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế xã hội…”.([1]) Trong xã hội hiện đại ngày nay, sự bất bình đẳng về giới vẫn tồn tại một cách dai dẳng, không chỉ ở các quốc gia kém phát triển mà ở cả những quốc gia phát triển. Sự bất bình đẳng này luôn được bắt nguồn từ những lí do về mặt xã hội. Xoá bỏ sự bất bình đẳng giới là một yêu cầu xã hội được các trào lưu tiến bộ xã hội hết sức coi trọng. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn học Luật hôn nhân và gia đình, sự hiểu biết về giới, vận dụng kiến thức về giới trong chu trình đào tạo khép kín của môn học này là vô cùng cần thiết và bổ ích.
Trong mối liên hệ về giới thì môn học Luật hôn nhân và gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng. Hôn nhân và gia đình là vấn đề rất tế nhị nhưng cũng không kém phần phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học trong đó có luật học. Ngay từ khi xã hội loài người vừa mới hình thành thì vấn đề giới đã thể hiện rất rõ trong các tập đoàn người thời nguyên thuỷ. Đầu tiên, đó là sự thống trị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, rồi sau đó do sự thay đổi về các điều kiện kinh tế, ý thức xã hội, phong tục, tập quán, khi xuất hiện nhà nước thì địa vị của người đàn ông đã được thay đổi và thay vào đó là chế độ phụ quyền: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới phụ nữ”.([2]) Kể từ đó chế độ phụ quyền đã tồn tại một cách dai dẳng theo sự phát triển của xã hội loài người. Và “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ, trong hôn nhân cá thể, sự áp bức đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà… biểu lộ rõ ràng mâu thuẫn giữa người đàn ông với người đàn bà, kết quả thống trị độc nhất của chồng là một hình ảnh thu nhỏ của những mặt đối lập và những mâu thuẫn trong đó, từ đầu thời kì văn minh, xã hội chia thành giai cấp vẫn vận động mà không thể nào giải quyết được…”.([3]) Như vậy, sự bất bình đẳng giới đầu tiên chính là từ gia đình, trong gia đình mà gia đình lại là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Một xã hội đạt được sự bình đẳng giới thì trước tiên trong mỗi gia đình các thành viên phải được bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Mục tiêu này, dưới góc độ pháp lí, sẽ phụ thuộc vào sự tuyên truyền những kiến thức pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng. Nhìn từ góc độ giới, môn học Luật hôn nhân và gia đình có thể được coi là một trong những môn học tiên phong của quá trình đưa những nội dung về giới vào chương trình nghiên cứu và đào tạo luật.
Môn học luật hôn nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định đã được các nhà quản lí nhìn nhận, có vị trí quan trọng bên cạnh những môn học khác, đây là một trong những môn học truyền thống của chương trình đào tạo luật ở tất cả các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam. Tại Trường Đại học Luật Hà Nội, trước đây, môn học luật hôn nhân và gia đình thuộc Khoa tư pháp, trực thuộc bộ môn luật dân sự gồm ba phân môn là luật dân sự, luật tố tụng dân sự và luật hôn nhân và gia đình. Sau đó, trong quá trình phát triển, chuyên môn hóa thì môn học này đã được tách thành một bộ môn riêng. Trong môn học này, đối với hệ đào tạo chính quy thì ngoài chương trình cơ bản còn có ba chuyên đề trong đó chuyên đề “chế định tài sản của vợ chồng” (30 tiết, chương trình bắt buộc) và hai chuyên đề “thủ tục nhận nuôi con nuôi theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” (20 tiết) và “pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới (20 tiết, chương trình tự chọn). Đặc biệt, là một trong những môn thi tốt nghiệp, tương đối thường xuyên đối với các lớp trung cấp luật – đối tượng chủ yếu là những cán bộ tư pháp ở các xã, phường, vùng sâu, vùng xa… nơi mà hàng ngày họ phải giải quyết rất nhiều các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình. Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu môn học này ngày càng mang tính chất chuyên sâu, đảm bảo chất lượng dạy và học. Xét dưới góc độ giới, đây cũng là cách nhìn mới đối với tầm quan trọng của môn học này. Mặt khác, nhìn từ góc độ người học, hầu hết sinh viên (gồm sinh viên hệ chính quy và hệ tại chức) rất hứng thú với môn học này. Bởi môn học này gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt đối với học viên hệ tại chức, họ có thể là những cán bộ thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật, hàng ngày phải giải quyết rất nhiều các vụ việc liên quan đến yếu tố giới, những vụ việc về hôn nhân và gia đình… Việc nghiên cứu và giảng dạy môn học này không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức chuyên ngành luật mà còn giúp cho người học ý thức được trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội, xoá bỏ những định kiến giới truyền thống và dần hình thành những chuẩn mực hành vi trên cơ sở bình đẳng giới.
Các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình luôn mang đậm màu sắc giới. Vì vậy, trong chương trình giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình có rất nhiều nội dung có thể khai thác dưới góc độ giới.
Thứ nhất, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trong đó có nguyên tắc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, đây là nguyên tắc nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc văn hoá tốt đẹp của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Ở nguyên tắc này, có thể đề cập rất nhiều các phong tục tập quán của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, nơi mà những kiến thức về giới không được biết đến hoặc chỉ là những khái niệm rất mơ hồ. Việc đi sâu nghiên cứu và tìm ra phương pháp tiếp cận vấn đề để thiết kế bài giảng gắn liền giữa phong tục tập quán với kiến thức về giới sẽ làm cho bài giảng sinh động và cuốn hút người học hơn. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình đã dành sự quan tâm đặc biệt đến các phong tục, tập quán có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống hôn nhân và gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó ghi nhận những phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc của từng vùng, từng dân tộc, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó cũng đề cập những tập tục lạc hậu cần thiết phải xóa bỏ…
Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; nguyên tắc vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ. Đây là những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Việc khai thác khía cạnh về giới trong các nguyên tắc này là hoàn toàn phù hợp. Sự phát triển của những nguyên tắc này trong suốt quá trình lịch sử đã thể hiện rất rõ sự nhận thức về giới. Việc lồng ghép những kiến thức về giới vào từng nguyên tắc sẽ giúp cho người học có tầm nhìn bao quát hơn về các vấn đề cơ bản của luật hôn nhân và gia đình và tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Nghiên cứu dưới góc độ giới sẽ làm cho các nguyên tắc này không còn khô cứng mà đầy sức thuyết phục và hấp dẫn.
Thứ hai, các chế định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình có thể khai thác được dưới góc độ giới như chế định kết hôn, li hôn, quan hệ pháp luật giữa vợ chồng, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi…
Chế định kết hôn có thể đi sâu vào một vấn đề rất nhạy cảm đó là tự nguyện trong việc kết hôn, điều này thể hiện rất rõ quan điểm giới. Đặc biệt có thể khai thác yếu tố tự nguyện trong thực tiễn khi tình trạng kết hôn với người nước ngoài gia tăng đột biến trong thập niên vừa qua, hàng năm có rất nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà chủ yếu là các công dân Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, trong đó, nguyên nhân chủ yếu của việc kết hôn này là vì mục đích kinh tế. Khi nhìn từ góc độ giới, người học sẽ thấy rõ hơn mục đích không lành mạnh của sự tự nguyện kết hôn này.
Chế định li hôn có một vấn đề khá thú vị và phù hợp nếu lồng những nội dung về giới vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy. Đó là trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi. Thực chất của vấn đề sẽ được mổ xẻ, giúp người học hiểu sâu sắc vấn đề và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt. Ngoài ra, chế định li hôn còn rất nhiều những nội dung mà có thể khai thác được dưới góc độ giới như các nguyên nhân li hôn, căn cứ li hôn, các trường hợp li hôn và hậu quả pháp lí của li hôn. Những vấn đề này có thể kết hợp với thực tiễn xét xử để thấy được một bức tranh toàn cảnh của gia đình khi không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm về giới.
Đối với quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, đây là một nội dung trọng điểm, mang đậm màu sắc giới khi nghiên cứu trên hai khía cạnh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau và đối với những chủ thể khác như đối với con, cha mẹ… Những nội dung này sẽ giúp cho người học một cái nhìn toàn diện về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình cùng sự so sánh với tình trạng vi phạm quyền bình đẳng giới trên thực tế.
Trong chế định xác định cha, mẹ, con có thể đặc biệt quan tâm đến vấn đề thể hiện rất rõ kiến thức về giới đó là thiên chức của mỗi chủ thể, xuất phát từ sự khác nhau về giới tính. Trong đó tập trung khai thác quyền làm mẹ, bao gồm quyền mang thai và sinh con. Sự hiểu biết về giới trong trường hợp này là vô cùng cần thiết vì điều đó sẽ giúp nguời học hiểu sâu sắc hơn về những căn cứ, những cơ sở khoa học và thực tế của việc xác định cha, mẹ, con. Khi nghiên cứu lồng ghép vấn đề giới trong trường hợp này người học còn hiểu được những quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con còn thấm đẫm tình người, mang đậm nét nhân văn sâu sắc.
Ở mỗi nội dung trên có thể lồng ghép những kiến thức về giới và khai thác triệt để dưới góc độ giới. Làm được điều này sẽ tạo nên một bức tranh sinh động về vấn đề giới trong các quan hệ hôn nhân và gia đình, giúp cho người học nhận thức một cách sâu sắc các vấn đề về hôn nhân và gia đình, từ đó tìm ra những vấn đề còn hạn chế thiếu cơ sở về giới và có hướng hoàn thiện mới. Nên chăng trong chương trình nghiên cứu và giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình cần có thêm một chuyên đề “Pháp luật hôn nhân và gia đình với vấn đề giới”.
Mặt khác, để sinh viên hiểu một cách toàn diện hơn vấn đề hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới, khi Luật về bình đẳng giới được Quốc hội thông qua, bộ môn luật hôn nhân và gia đình nên có thêm một môn giảng mới về Luật bình đẳng giới. Đây là môn học tiên quyết trước khi sinh viên bước vào nghiên cứu luật hôn nhân và gia đình và các chuyên đề chuyên sâu.
Như chúng ta đã biết, sự nhận thức về giới, về quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể trong gia đình ở các vùng, miền là khác nhau. Trong thực tế tình trạng bất bình đẳng giới xảy ra phổ biến ở khắp nơi, đặc biệt là ở miền núi, nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nguyên nhân chủ yếu là do sự hạn chế về trình độ nhận thức, cộng thêm vào đó là những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại như là một thuộc tính cố hữu trong các mối quan hệ ở làng xã Việt Nam. Một thực tế minh chứng cho sự bất bình đẳng về giới nữa là bạo lực trong gia đình và một trong những hậu quả của nó là dẫn tới gia đình tan vỡ. Theo con số thống kê các vụ việc về hôn nhân và gia đình trong 5 năm trở lại đây thì li hôn chiếm tỉ lệ cao nhất.
Dưới đây là số liệu thống kê giải quyết các vụ việc li hôn theo thủ tục sơ thẩm:
Nguyên nhân ly hôn 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi 29280*92** 29120*134** 17408*1288** 31317*1331** 37254*** 39730***
Ngoại tình 2590*24** 2954*28** 3672*127** 2997*138** 3660*** 4188***
Bệnh tật, không có con 658*2** 2** 200*103** 516*42** 876*** 805***
Do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc 1039*** 2930***
Một bên ở nước ngoài 1216** 2307** 554** 1*1232** 1476*** 1294***
Một bên là người nước ngoài đã về nước 13*108** 191*57** 2*13** 41*77**
Một bên bị mất tích 1184*13** 1339*229** 3108*152** 1500*23** 1439*** 868***
Mâu thuẫn về kinh tế 1318*4** 1355*3** 3129*41** 2118*6** 2661*** 3134***
Sắc tài, địa vị, tuổi tác 2** 269*1** 2** 286* 16931***
Một bên bị xử lí hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự 27** 706*8** 1571*7** 392*19**
Có vợ lẽ 116*5** 654*3** 2349*51** 615*33**
Tảo hôn 251*4** 101*2** 9* 57*2**
Cưỡng bức kết hôn 58* 4*6** 1* 18*
Các nguyên nhân khác 12031*924** 14245*116** 19471*440** 15410*537** 12638***
Tổng 47699*2421** 50938*2896** 50920*2778** 57786*3430** 65336*** 65587***
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Ghi chú: *. Cấp huyện
**. Cấp tỉnh
***. Cả cấp huyện và cấp tỉnh
Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng Các vụ việc li hôn ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong ba năm trở lại đây. Các nguyên nhân dẫn đến việc li hôn rất đa dạng và hầu hết các nguyên nhân đó đều liên quan tới vấn đề giới. Đặc biệt là một số nguyên nhân như ngược đãi, hành hạ, có vợ lẽ, ngoại tình, người nước ngoài đã bỏ về nước, nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc. Trong đó nổi bật là li hôn do bị ngược đãi, hành hạ, chiếm tới khoảng 60% tổng số vụ việc li hôn trong từng năm. Điều đó nói lên vấn đề bất bình đẳng về giới trong gia đình vẫn còn rất phổ biến, sự bất bình đẳng đó không chỉ ảnh hưởng tới bản thân các chủ thể trong quan hệ vợ chồng mà còn cực kì nguy hiểm cho con trẻ, để lại những vết hằn khó phai mờ trong những tâm hồn non nớt của chúng, ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của cả một thế hệ.
Hiện nay, môn học luật hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung chính, mang tính chủ đạo trong các chương trình tuyên truyền kiến thức pháp luật về giới của một số các tổ chức phi chính phủ tới cộng đồng dân cư nhằm nâng cao sự hiểu biết về giới, xoá bỏ sự bất bình đẳng giới trong gia đình và cộng đồng, đặc biệt là bảo vệ quyền của phụ nữ.
Với những cơ sở lí luận và thực tiễn như trên, chúng tôi thiết nghĩ nên chăng xây dựng một khoá học ngắn hạn với chủ đề “Pháp luật hôn nhân và gia đình trên cơ sở bình đẳng giới” tới các đơn vị hành chính nhỏ nhất và đối tượng tham gia là đông đảo các thành phần xã hội, đặc biệt là nam giới, vì hiện nay nạn nhân chủ yếu của định kiến giới, bất bình đẳng giới là phụ nữ. Nếu thành phần tham gia những khoá học, những buổi tham luận, toạ đàm về giới hoặc liên quan đến giới mà thành phần chỉ toàn là phụ nữ hoặc chủ yếu là phụ nữ thì ngay trong khoá học, buổi tham luận đó đã thể hiện sự bất bình đẳng giới và hiệu quả chỉ còn là một nửa nếu không muốn nói là vô nghĩa.
Tóm lại, trong quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề giới là vấn đề khá nhạy cảm đã và đang được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong lĩnh vực đào tạo luật nói chung và nghiên cứu, giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình nói riêng cần được khai thác, mở rộng hướng nghiên cứu và giảng dạy mới từ góc độ giới. Đó chính là sự sáng tạo mới, một động thái tích cực không chỉ có tác động đến đối tượng người học mà còn làm cho cán bộ, giáo viên nâng cao hơn trách nhiệm của mình đối với chuyên môn và các công tác khác, chủ động, sáng tạo, tự tin để cống hiến cho sự nghiệp trồng người./.

([1]).Xem: Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam – Dự án VIE 01-015-01 “Giới trong chính sách công” (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách.
([2]).Xem: C. Mác – Ph. Ăngghen (tuyển tập VI) (1984), Nxb. Sự thật, H, tr. 95.
([3]).Xem: C.Mác – Ph. Ăngghen (tuyển tập VI) (1984), Nxb. Sự thật, H, tr. 106, 109.

CÁC LUẬT CÓ HIỆU LỰC NĂM 2008

Ngày 21/11/2007, Quốc hội đã thông qua 7 luật bao gồm: Luật thuế thu nhập cá nhân; Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Luật tương trợ tư pháp; Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm; Luật đặc xá; Luật hóa chất; Luật chất lượng, sản phẩm hàng hoá. Các luật này có hiệu lực từ năm 2008 (ngoại trừ Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực từ 1/1/2009). Sau đây là tóm tắt nội dung của một số luật này.
Luật Thuế thu nhập cá nhân
Theo Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007, các khoản thu nhập nằm trong diện chịu thuế gồm thu nhập từ kinh doanh (hàng hóa dịch vụ, cho thuê tài sản, hành nghề độc lập…); thu nhập từ tiền lương, tiền công, thù lao; thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng chứng khoán, phần vốn và các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (quyền sử dụng đất, tài sản, chuyển nhượng quyền thuê mặt bằng, mặt nước…
Ngoài ra, các khoản thu nhập vượt 10 triệu đồng một lần phát sinh từ trúng thưởng xổ số, trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại, trò chơi có thưởng, thu nhập từ tiền bản quyền, từ thừa kế, quà tặng… cũng nằm trong diện chịu thuế thu nhập.
Mức thuế khởi điểm bắt đầu phải chịu thuế thu nhập cá nhân là 4 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế, giảm trừ thêm cho mỗi người phụ thuộc 1,6 triệu đồng/tháng. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế.
Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009.
Luật Phòng chống bạo lực gia đình
Theo Luật phòng chống bạo lực gia đình, bạo lực gia đình không chỉ là hành hạ, đánh đập mà còn cả việc gây áp lực tinh thần, làm tổn thương tâm lý cho người khác. Hành vi này bao gồm: lăng mạ, cố ý xúc phạm danh dự nhân phẩm; cưỡng ép quan hệ tình dục hay cố tình cô lập, xua đuổi; ngăn cản không cho thực hiện các quyền trong quan hệ với những người thân trong gia đình… Việc cưỡng ép kết hôn, ly hôn; hay kiểm soát thu nhập các thành viên trong gia đình nhằm tạo nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính cũng bị luật nghiêm cấm…
Nạn nhân bị bạo lực gia đình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền can thiệp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Họ sau đó còn được bố trí nơi tạm lánh, và địa điểm này được giữ bí mật. Thậm chí, tòa án có quyền ra quyết định cấm người có hành vi bạo lực không được tiếp xúc với nạn nhân khi thấy việc này là cần thiết hoặc nạn nhân có đơn yêu cầu…
Luật có có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2008.
Luật Tương trợ tư pháp
Theo Luật tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 quy định: hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên… congly2.jpg
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của VN có thể: yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho VN người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án; thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ VN có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án. Luật cũng quy định về một số trường hợp từ chối dẫn độ, trong đó có quy định không dẫn độ công dân VN ra nước ngoài…
Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2008.
Luật Phòng, chống dịch, bệnh truyền nhiễm
Theo Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, khi dịch lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế – xã hội của đất nước thì phải ban bố tình trạng khẩn cấp. Các bệnh truyền nhiễm sẽ được quy định theo ba nhóm A, B, C gồm các bệnh đặc biệt nguy hiểm, các bệnh nguy hiểm có nguy cơ lây lan nhanh và những bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, khả năng lây truyền không nhanh. Tuỳ theo việc bệnh truyền nhiễm và bệnh dịch thuộc các nhóm A, B, C, chức năng công bố dịch sẽ do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Y tế hoặc Chủ tịch UBND tỉnh đảm nhiệm.
Luật cấm: che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm…
Ngoài ra, người tiêu dùng có quyền được cung cấp thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm; có trách nhiệm thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện đầy đủ các hướng dẫn về vệ sinh an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua đường thực phẩm…
Luật có có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2008.
Luật Đặc xá
Luật Đặc xá quy định: đối tượng được hưởng ưu đãi trong chính sách đặc xá là: người lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù; là thường binh, bệnh binh, có thành tích trong chiến đấu, Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, có thân nhân là liệt sỹ, con Bà mẹ Việt Nam anh hùng, con của gia đình có công với nước, người mắc các bệnh hiểm nghèo, người từ 70 tuổi trở lên…
Người được đề nghị xét đặc xá phải có đủ điều kiện như: xếp loại cải tạo từ khá trở lên; đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là từ 1/3 thời gian đối với tù có thời hạn và 14 năm với tù chung thân; đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung; là đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi xã hội… Luật cũng quy định các trường hợp không được đặc xá bao gồm các trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; trước đó đã từng được đặc xá và có 2 tiền án trở lên.
Chủ tịch nước xem xét, quyết định về đặc xá đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù nhân sự kiện trọng đại hoặc ngày lễ lớn của đất nước…
Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/3/2008.
Luật hoá chất
Luật Hoá chất số 06/2007/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 quy định: cấm Sử dụng hóa chất không thuộc danh mục được phép sử dụng, hóa chất không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, vượt quá hàm lượng cho phép để sản xuất và bảo quản thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, sản phẩm hóa chất tiêu dùng. Sử dụng hóa chất độc để săn bắt động vật, thực hiện các hành vi xâm hại đến sức khoẻ con người, tài sản và môi trường…
Người tiêu dùng sản phẩm, hàng hoá bao gồm: được cung cấp thông tin trung thực về mức độ an toàn, chất lượng, hướng dẫn vận chuyển, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hoá; thông tin về việc bảo hành hàng hóa, nguy cơ gây mất an toàn của hàng hoá và cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo từ người sản xuất, người nhập khẩul Được yêu cầu người bán sửa chữa, đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật và được bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, định lượng hoặc không phù hợp với hợp đồng…
Người tiêu dùng được bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường trong điều kiện sử dụng bình thường và hợp lý. Được tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trợ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…
Luật có có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2008.
Luật chất lượng, sản phẩm hàng hoá
Luật cấm các hành vi: thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và xuất xứ hàng hóa; Che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm, hàng hoá đối với người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường…
Người sản xuất có nghĩa vụ: kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu huỷ hàng hoá theo quy định của pháp luật…
Người bán hàng phải hoàn lại tiền hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật bị người mua trả lại…
Tổ chức đánh giá sự phù hợp phải trả tiền phạt cho tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hóa được đánh giá trong trường hợp cung cấp sai kết quả đánh giá sự phù hợp. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá 10 lần chi phí đánh giá, trường hợp các bên không thoả thuận được thì mức phạt do trọng tài hoặc toà án quyết định, nhưng không vượt quá 10 lần chi phí đánh giá…
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào hoạt động thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa…
Luật có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2008.
LS Đặng Thế Đức- Indochine Counsel, http://www.saga.vn

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

DỰ THẢO ngày 05 tháng 9 năm 2007
NGHỊ ĐỊNH
Về chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
_____________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong các cơ quan nhà nước sau:
a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
b) Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;
c) Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng;
d) Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
đ) Cơ quan đại diện nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam ở nước ngoài;
e) Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
2. Những người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này cũng phải thực hiện chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ
1. ”Chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức”: là các quy định của Nhà nước yêu cầu cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm, nếu cán bộ, công chức vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. ”Nhiệm vụ, công vụ”: là những hoạt động do cán bộ, công chức, viên chức tiến hành theo quy định của pháp luật được cấp có thẩm quyền phân công.
Điều 3. Căn cứ xác định trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức
1. Nghĩa vụ và những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức;
2. Chức trách, nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền giao và phân công;
3. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Nghị định này.
Điều 4. Các hình thức trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm
1. Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ phải chịu một hoặc nhiều hình thức trách nhiệm sau đây:
a) Trách nhiệm kỷ luật;
b) Trách nhiệm dân sự;
c) Trách nhiệm vật chất;
d) Trách nhiệm hình sự;
đ) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Trách nhiệm kỷ luật: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải bị xử lý kỷ luật theo các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức.
3. Trách nhiệm dân sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị đến mức phải chịu trách nhiệm dân sự thì ngoài việc xử lý kỷ luật phải bị xử lý về trách nhiệm dân sự. Việc xử lý trách nhiệm dân sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự.
4. Trách nhiệm vật chất: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật.
5. Trách nhiệm hình sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
Chương II
CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM
ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
Điều 5. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải chịu trách nhiệm về các nội dung sau:
1. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức và chấp hành nghiêm những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm do pháp luật quy định;
2. Tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ, công vụ được cấp trên giao theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm nhiệm vụ, công vụ được thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, đúng thời gian, thời hạn quy định; bảo đảm số lượng và chất lượng đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả nhiệm vụ, công vụ đã thực hiện. Trường hợp khi giải quyết công việc cần thiết phải kéo dài thời gian quy định thì phải có trách nhiệm báo cáo cho cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc công dân liên quan biết rõ lý do;
3. Tổng hợp, tham mưu, đề xuất các ý kiến để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định đúng quy định của pháp luật;
4. Thực hiện đúng quyền hạn, chức trách và nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm chấp hành nội quy, quy chế, quy trình và phối hợp đối với đồng nghiệp khi thực thi nhiệm vụ, công vụ;
5. Bảo vệ và quản lý tài sản công, tài chính công, trang thiết bị được giao sử dụng trong và sau khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, không để xảy ra hư hỏng, mất mát, thất thoát và không sử dụng vào việc riêng;
6. Tuân thủ và bảo đảm an ninh, phòng chống cháy nổ và an toàn lao động tại cơ quan; thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
7. Thực hiện các quy tắc ứng xử và văn hóa công sở, đấu tranh chống mọi biểu hiện hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, tổ chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ;
8. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật;
9. Tích cực tham gia thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ quan, bảo đảm đoàn kết, thực hiện việc khiếu nại, tố cáo và phát ngôn theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức
1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị (sau đây gọi chung là người đứng đầu) phải có trách nhiệm phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức.
2. Khi phân công và bố trí cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người đứng đầu phải quy định và thông báo rõ ràng, cụ thể quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ của người được bố trí;
3. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải bảo đảm các điều kiện về chế độ, chính sách, về trang, thiết bị và điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;
4. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải thông báo rõ yêu cầu chất lượng, thời hạn hoàn thành và các yêu cầu khác (nếu có) để cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thực hiện.

Điều 7. Những trường hợp xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
1. Vi phạm nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Điều 5 Nghị định này;
2. Vi phạm pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ để xảy ra hậu quả;
3. Đề xuất, tham mưu, trình lãnh đạo ký và ban hành văn bản trái pháp luật;
4. Không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc báo cáo sai sự thật;

Điều 8. Trách nhiệm khi thực thi nhiệm vụ, công vụ theo nhóm
Trong trường hợp nhiệm vụ, công vụ được giao cho một nhóm cán bộ, công chức, viên chức (từ hai người trở lên) thực hiện, nếu vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì xử lý vi phạm đối với từng cán bộ, công chức, viên chức trong nhóm theo quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người.
Chương III
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 9. Khen thưởng
Cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 10. Xử lý vi phạm
1. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì tuỳ theo mức độ nặng, nhẹ phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ nếu gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc phải xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này còn phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm
Khi xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau:
1. Căn cứ sự phân công, phân cấp của cơ quan quản lý và sử dụng để xác định mức độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức;
2. Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được giao.
Điều 12. Trường hợp loại trừ, giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức
1. Cán bộ, công chức, viên chức được loại trừ trách nhiệm trong các trường hợp sau:
a) Trường hợp bất khả kháng như thiên tai, địch họa, tai nạn rủi ro: cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ đã có biện pháp phòng chống nhưng vẫn bị ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
b) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức vắng mặt tại cơ quan, đơn vị có lý do chính đáng và được cấp có thẩm quyền đồng ý;
c) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật đã báo cáo ngay với người ra quyết định; nếu vẫn phải chấp hành quyết định đã báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.
2. Cán bộ, công chức vi phạm chế độ trách nhiệm được xem xét giảm nhẹ một hình thức ký luật khi xử lý kỷ luật nếu người đó có thái độ thành khẩn, có bản tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và đã kịp thời khắc phục hậu quả.
3. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm bị xem xét tăng nặng khi xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau:
a) Khi phát hiện cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm, cấp trên đã chỉ đạo kịp thời nhưng cán bộ, công chức, viên chức không thực hiện hoặc không chấm dứt hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm;
b) Cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật về vi phạm chế độ trách nhiệm mà lại tái phạm hoặc thiếu trung thực, không tiếp thu phê bình, kiểm điểm, cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm;
c) Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, lợi dụng vị trí công tác và nhiệm vụ được giao để tham mưu hoặc ra quyết định trái với các quy định của pháp luật.
Điều 13. Thẩm quyền xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ

Việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ thực hiện theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 14. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 15. Trách nhiệm quy định cụ thể và kiểm tra
1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra việc thi hành Nghị định này đối với cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã;
3. Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước (Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) quy định cụ thể và kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc quyền quản lý.
4. Cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị hướng dẫn việc áp dụng Nghị định này đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
Điều 16. Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này và cán bộ, công chức, viên chức chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…
Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.
1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng
Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164 BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….
Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và Nghị định số 75/CP về công chứng chứng thực. Thẩm phán cũng cần có sự phân biệt việc ủy quyền giữa cá nhân, pháp nhân, ủy quyền thường xuyên hay ủy quyền theo vụ việc.
Ví dụ, A xác lập hợp đồng vay tiền ở Ngân hàng Công thương chi nhánh quận Đống Đa, Hà nội thời hạn vay tiền từ ngày 20/5/2006 đến ngày 20/7/2006. Đến hạn trả nợ ngày 20/7/2006 A không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy giám đốc chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Đống Đa đã đại diện cho Ngân hàng làm đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp này, khi kiểm tra điều kiện khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng chuyên doanh (ví dụ, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển…) thì các chi nhánh không có quyền tham gia tố tụng khi không có ủy quyền của Tổng giám đốc. Vì vậy, khi thụ lý giải quyết tranh chấp này Tòa án cần kiểm tra giám đốc chi nhánh Ngân hàng công thương quận Đống Đa có được ủy quyền hợp lệ của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương tham gia tố tụng không.
Thẩm phán cũng cần kiểm tra hồ sơ khởi kiện, các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với loại vụ án tranh chấp hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến yêu cầu kiện của nguyên đơn thông thường bao gồm:
- Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện: Nếu là cá nhân thì giấy tờ thường là chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; Giấy phép đầu tư; giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ pháp nhân, ….
- Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tượng giao dịch của hợp đồng. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở thì đương sự phải nộp các giấy tờ về nguồn gốc nhà; Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương sự phải nộp các giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất…
- Các bản hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến giao dịch. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như hợp đồng vay, giấy biên nhận vay tiền, giấy khất nợ, tài liệu thừa nhận việc vay nợ, giấy xác nhận của người làm chứng chứng kiến việc cho vay…;
- Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).
Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết” (điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);
Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi kiện tại các Tòa án khác.
Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.
Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm phán phải nắm vững quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện:
- Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự xác lập trước ngày 1/7/1991. Thời điểm này không có quy định áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Việc bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cũng được áp dụng cho việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng giao kết trước ngày 1/7/1996;
- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1991 đến ngày 1/7/1996 áp dụng Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày “vi phạm hợp đồng”;
- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005 được quy định cụ thể tại tiểu mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004, cụ thể là:
+ Nếu tranh chấp hợp đồng phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005;
+ Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.
- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập kể từ ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.
Thẩm phán cần lưu ý việc tính thời hiệu kể từ “ngày tranh chấp phát sinh” (theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm” (điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).
Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.
1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:
- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người khác đang sử dụng;
- Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.
Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.
Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Tòa án nhận đơn của đương sự. Nếu không có việc hòa giải của UBND cấp xã, phường thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168 BLTTDS.
Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sự khác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ ưu tiên xác định Tòa án nơi có bất động sản và xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau.
Đặc trưng cơ bản khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thẩm phán phải có sự phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của các cơ quan hành chính (theo quy định của Luật đất đai năm 2003). Đồng thời để xác định chính xác thẩm quyền, Thẩm phán cũng phải phân biệt rõ tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự với các quan hệ khiếu kiện liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.
Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc các quan hệ tranh chấp nằm một trong 3 nhóm tranh chấp quyền sử dụng đất sau:
- Nhóm 1: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất. Về bản chất, khi giải quyết tranh chấp này Tòa án phải xác định chủ quyền đất thuộc về ai. Đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;
- Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;
- Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.
Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác để tạm xác định giá quyền sử dụng đất có tranh chấp và trên cơ sở đó tính tiền tạm ứng án phí của vụ án để thông báo về việc nộp tạm ứng án phí cho đương sự.
Một số trường hợp cần tham khảo các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi tính tạm ứng án phí: Những vụ án tranh chấp đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê thì là vụ án không có giá ngạch (Công văn số 451/KHXX ngày 20/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao;. Những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vụ án có giá ngạch (điểm 9 mục IV Công số số 16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 của Tòa án nhân dân tối cao).
1.2.3. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp về thừa kế
Thẩm phán kiểm tra đơn kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định các loại tranh chấp về thừa kế thuộc dạng tranh chấp nào:
- Tranh chấp về quyền thừa kế: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác;
- Tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật;
- Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.
Xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình (căn cứ theo quy định tại Điều 165 BLTTDS): Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…
Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm mở thừa kế – thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.
* Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được xác định là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với các vụ án có thời điểm mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1991 (khoản 1, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1991; Điều 648 BLDS 1995; Điều 645 BLDS 2005);
Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện. Cụ thể là:
- Vụ án có rơi vào trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;
- Thẩm phán cần lưu ý các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005;
- Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990). Việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế. Đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (ngày 30/8/1990), theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện đến hết ngày 9/9/2000. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 25/8/1998 của Uỷ ban thường vụ quốc hội từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/1998 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991. Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 9/3/2003. Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990.
Đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 1/7/1991 đây cũng là loại vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết do đợi Nghị quyết 58/1998, thời gian từ 1/7/1996 đến 31/1/21998 cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện, do vậy những vụ án thừa kế có thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian từ 10/9/1990 đến ngày 30/6/1991 đến 1/1/2004 mới hết thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý quy định về “không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế’ được hướng dẫn tại Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.
Hướng dẫn này cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và có đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản:
- Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ ngày banh hành Pháp lệnh thừa kế (khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990);
- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990) thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990);
- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005: áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm quy định tại Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản (do tại Điều 648 BLDS 1996 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này);
- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/1/2006 thời hiệu khởi kiện về về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được xác định là 3 năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết (Điều 645 BLDS 2005)
Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết. Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS.
Thẩm phán cũng cần xem xét trường hợp vợ góa hoặc chồng góa có quyền yêu cầu chưa chia di sản nếu trong thời hạn nhất định (không quá 3 năm) việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ (khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);
1.2.4. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khi kiểm tra đơn khởi kiện Thẩm phán cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung đơn kiện xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của đương sự và bản chất pháp lý của yêu cầu để Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nào:
- Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra;
- Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín;
- Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;
- Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra;
- Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra…
Thẩm phán cần có sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ).
Các giấy tờ cần thiết mà đương sự phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu có)…
Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán cần hướng dẫn cho đương sự (nguyên đơn) khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người có trách nhiệm bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…).
Ví dụ: A là lái xe của pháp nhân B, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân B giao, A đâm vào C gây tai nạn cho C. Trong trường hợp này C có quyền yêu cầu pháp nhân B phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định tại Điều 618 BLDS. Tuy nhiên nếu C không kiện pháp nhân B mà chỉ kiện A, trong trường hợp này Tòa án nên hướng dẫn C khởi kiện đúng đối tượng là pháp nhân B. Nếu C vẫn không khởi kiện pháp nhân B, thì vẫn phải xác định A là bị đơn – người bị nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã xâm phạm lợi ích của họ. Tòa án cần đưa pháp nhân B (người có trách nhiệm bồi thường – theo quy định tại Điều 618 BLDS 2005) tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Khi kiểm tra tư cách chủ thể kiện, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại;
Thực tiễn xét xử nhiều trường hợp vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tòa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Thẩm phán cần lưu ý phải hướng dẫn cho nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS.
Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tòa án nơi nguyên đơn cư trú; Tòa án nơi nguyên đơn làm việc; Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở; Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết
Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý giải thích cho nguyên đơn biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn.
Khi kiểm tra thời hiệu giải quyết, nguyên tắc chung Thẩm phán phải xác định ngày tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.
Ngoài ra, theo quy định chung điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù đã được Tòa án giải quyết và đang thi hành thì Tòa án vẫn được quyền thụ lý giải quyết vụ án mới nếu người bị thiệt hại khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành không còn phù hợp nữa.
Vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Tòa án không yêu cầu người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án.
1.2.5. Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn
Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn, kiểm tra các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân. Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình) để vào sổ thụ lý giải quyết.
Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:
- Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được. Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);
Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có)…
Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện. Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);
Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)
Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân. Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác. Lưu ý hướng dẫn tại mục 4 “về khoản 3 Điều 33 BLTTDS, phần I “Thẩm quyền của Tòa án” Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS năm 2004” thì vụ án có đương sự ở nước ngoài; tài sản ở nước ngoài; Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng vụ án có đương sự là nước ngoài, hiện đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000);
Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).
Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);
- Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS;
Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 50.000 đồng (khoản 1 Điều 7 Nghị định 70 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS). Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (khoản 3 Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)
———————————————-

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code