Showing posts with label LTM - Chu the kinh doanh. Show all posts
Showing posts with label LTM - Chu the kinh doanh. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN


Hàng năm, một số lượng lớn doanh nghiệp (DN) mới ra đời làm gia tăng nhu cầu đối với đất cho mục đích công nghiệp và thương mại để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, các điểm bán lẻ v.v… Tiếp cận đất với giá cả minh bạch, thủ tục đơn giản là tương đối khó khăn đối với khối DN tư nhân hiện nay. Bản tin này sẽ đề cập một số cản trở về mặt chính sách và thực tế triển khai mà các DN tư nhân đang vướng phải khi tiếp cận đất đai phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.
Nguồn cung đất rất hạn chế
Theo nhiều cuộc thăm dò DN trong nước, sự khan hiếm đất dành cho kinh doanh cũng như tác động của sự thiếu hụt này lên giá cả được coi là hai cản trở đối với sự tăng trưởng của DN. Nhiều DN mong muốn được giao đất hoặc thuê đất từ Nhà nước (thông qua chính quyền các Tỉnh) để đảm bảo mảnh đất mình được sử dụng đã “nằm trong quy hoạch”, không bị đòi lại trước thời hạn và có thể yên tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau, quỹ đất công rất hạn chế và kênh giao đất hay thuê đất trực tiếp từ chính quyền Tỉnh hầu như chỉ dành cho các DN quy mô lớn (đa phần là các dự án đầu tư nước ngoài có nhu cầu lớn về diện tích đất) – các DN tư nhân không tận dụng được kênh này. Khảo sát của IFC/FIAS về kinh nghiệm tiếp cận đất đai của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cho thấy cứ 4 DN thì chỉ có 1 DN được giao đất hay thuê đất trực tiếp từ Nhà nước và 75% số DN đang trong thời kỳ tăng trưởng thừa nhận rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của họ là việc thiếu đất.
Thông tin về thị trường đất chưa hiệu quả
Chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản toàn cầu (The Real Estate Transparency Index 2006), do tập đoàn Jones Lang LaSalle thực hiện, xếp Việt Nam là 1 trong 3 nước (Việt Nam, Venezuela và Ai Cập) đứng cuối danh sách do thiếu minh bạch về thông tin thị trường cũng như bảo hộ các quyền liên quan đến bất động sản. Hơn một nửa số DN trong khảo sát PCI 2006 1 cũng khẳng định họ chủ yếu dựa vào nguồn thông tin của nhân viên trong công ty và quan hệ cá nhân để tìm đất xây dựng nhà xưởng – chưa có cơ chế hỗ trợ (dịch vụ) giúp DN tìm đất sản xuất. Khảo sát của IFC/FIAS cũng cho những phát hiện tương tự. Hơn 50% DNNVV được khảo sát cho rằng tìm được một mảnh đất thích hợp trên thị trường thứ cấp là rất khó, 66% DN thành công trong việc tìm đất đều phải thông qua kênh quan hệ cá nhân. Những phát hiện này cho thấy nếu chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin có thể có tác động tích cực đến tính cân xứng thông tin của thị trường đất, cụ thể là i) thiết lập khung pháp lý để hỗ trợ các hoạt động môi giới tư nhân đối với đất sản xuất; ii) cải thiện khả năng tra cứu quá trình giao dịch của thửa đất một cách nhanh chóng với chi phí thấp, iii) công bố công khai và minh bạch quy hoạch đất của các địa phương; và iv) cải thiện công tác quy hoạch sử dụng đất để quyền đối với mỗi mảnh đất cụ thể có thể được xác định dễ dàng bởi cả người mua và người bán trên thị trường.
Quyền và bảo hộ quyền đối với đất còn yếu
Đối với các nhà đầu tư, việc có đất mà không có quyền đầy đủ đối với mảnh đất đó chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Một mối lo ngại lớn đối với các nhà đầu tư hiện nay, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ có cơ sở sản xuất kinh doanh nằm ngoài các khu công nghiệp, là sự thay đổi đến chóng mặt và trong nhiều trường hợp không thể đoán trước được của công tác quy hoạch sử dụng đất – hậu quả là họ có thể bị mất quyền sử dụng đất do quy hoạch thay đổi và đất của họ thuộc diện bị Nhà nước thu hồi. Những DN không đủ khả năng vào các khu công nghiệp hay đứng ra mua lại những mảnh đất lớn của các hộ gia đình thì giải pháp duy nhất là đi thuê lại của tư nhân hay thuê chui lại của các DNNN. Tuy nhiên, thuê của tư nhân hầu như là ngắn hạn và do đó không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ tiền xây dựng hay cải tiến nhà xưởng. Thuê chui lại đất của DNNN cũng rất rủi ro do chưa có khung pháp lý điều chỉnh việc cho thuê lại này. Thực tiễn cho thấy DN cảm thấy bất an khi thuê đất từ khu vực tư nhân do bảo hộ của pháp luật đối với người có quyền sử dụng đến hiện tại lẫn người đi thuê ở nước ta là chưa đầy đủ và rõ ràng.
Ngoài ra, ở Việt Nam đất là tài sản quan trọng nhất để góp vốn liên doanh liên kết hoặc thế chấp vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay nhà đầu tư trong nước còn gặp một số bất lợi khi thuê đất từ Nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi được thuê đất của Nhà nước trả tiền trước một lần mà nếu được không phải DNNVV nào cũng đủ khả năng trả hết một lần. Trong khi đó nếu họ thuê đất trả tiền hằng năm thì họ không có quyền gì đối với đất (ngoại trừ mục đích đã được xác định cho thời gian thuê), nhất là không có quyền bán hay dùng đất để thế chấp, trừ quyền được thế chấp các tài sản trên đất. Quy định này tạo nên một sự thiếu rõ ràng đối với quyền của chủ đất và chủ nợ – ngân hàng (làm thế nào ngân hàng có thể đảm bảo được quyền đối với tài sản trên đất nếu không có quyền đối với mảnh đất?) và do đó hạn chế khả năng DN tư nhân trong nước sử dụng đất đi thuê để được thế chấp vay vốn.
Thủ tục hành chính liên quan đến đất còn phức tạp
Một khảo sát DN của GTZ khẳng định quá trình tìm mặt bằng sản xuất là phức tạp nhất trong các loại thủ tục hành chính để thành lập DN, thủ tục kéo dài nhất và cũng tốn kém không ít. Thông thường để được Nhà nước giao đất, DN phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình mất khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan.2 Các DNNVV trong khảo sát của IFC/FIAS cũng khẳng định trong khi có được đất trên thị trường thứ cấp chỉ mất chưa đến 7 ngày thì thủ tục đăng ký giao dịch và xin cấp GCNQSD đất rất phức tạp và tốn nhiều thời gian. Gần đây các trung tâm đăng ký đất được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành đã góp phần giảm bớt thủ tục rườm rà nhưng vẫn chưa rút ngắn đáng kể thời gian cấp GCNQSD đất và các giao dịch liên quan đến đất. Mức độ không hài lòng của DN trong khảo sát IFC/FIAS đối với riêng quá trình cấp GCNQSD cũng khá cao, trong đó phần lớn DN phàn nàn về thời gian xử lý của cơ quan chính quyền là quá dài. Chỉ khoảng 50% DN khẳng định thời gian cấp GCNQSD dưới một tháng. Điều này là hoàn toàn trái với quy định về thời gian trong luật định và các văn bản thi hành.

(1) Khảo sát để xây dựng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2006, Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam(VNCI) và Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam(VCCI)
(2) Từ Ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM, tháng 7/2005. Bảy thủ tục đó là: 1) Tìm hiểu chính quyền cơ sở về việc xin giao đất hoặc thuê đất; 2) xin chấp thuận về nguyên tắc; 3) lập dự án và lên phương án đền bù; 4) phê duyệt dự án và phương án đề bù; 5) giải phóng mặt bằng; 6) bàn giao mặt bằng và ký hợp đồng thuê đất; 7) nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Wednesday, March 19, 2014

TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Hàng năm, một số lượng lớn doanh nghiệp (DN) mới ra đời làm gia tăng nhu cầu đối với đất cho mục đích công nghiệp và thương mại để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, các điểm bán lẻ v.v… Tiếp cận đất với giá cả minh bạch, thủ tục đơn giản là tương đối khó khăn đối với khối DN tư nhân hiện nay. Bản tin này sẽ đề cập một số cản trở về mặt chính sách và thực tế triển khai mà các DN tư nhân đang vướng phải khi tiếp cận đất đai phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.
Nguồn cung đất rất hạn chế
Theo nhiều cuộc thăm dò DN trong nước, sự khan hiếm đất dành cho kinh doanh cũng như tác động của sự thiếu hụt này lên giá cả được coi là hai cản trở đối với sự tăng trưởng của DN. Nhiều DN mong muốn được giao đất hoặc thuê đất từ Nhà nước (thông qua chính quyền các Tỉnh) để đảm bảo mảnh đất mình được sử dụng đã “nằm trong quy hoạch”, không bị đòi lại trước thời hạn và có thể yên tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau, quỹ đất công rất hạn chế và kênh giao đất hay thuê đất trực tiếp từ chính quyền Tỉnh hầu như chỉ dành cho các DN quy mô lớn (đa phần là các dự án đầu tư nước ngoài có nhu cầu lớn về diện tích đất) – các DN tư nhân không tận dụng được kênh này. Khảo sát của IFC/FIAS về kinh nghiệm tiếp cận đất đai của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cho thấy cứ 4 DN thì chỉ có 1 DN được giao đất hay thuê đất trực tiếp từ Nhà nước và 75% số DN đang trong thời kỳ tăng trưởng thừa nhận rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của họ là việc thiếu đất.
Thông tin về thị trường đất chưa hiệu quả
Chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản toàn cầu (The Real Estate Transparency Index 2006), do tập đoàn Jones Lang LaSalle thực hiện, xếp Việt Nam là 1 trong 3 nước (Việt Nam, Venezuela và Ai Cập) đứng cuối danh sách do thiếu minh bạch về thông tin thị trường cũng như bảo hộ các quyền liên quan đến bất động sản. Hơn một nửa số DN trong khảo sát PCI 2006 1 cũng khẳng định họ chủ yếu dựa vào nguồn thông tin của nhân viên trong công ty và quan hệ cá nhân để tìm đất xây dựng nhà xưởng – chưa có cơ chế hỗ trợ (dịch vụ) giúp DN tìm đất sản xuất. Khảo sát của IFC/FIAS cũng cho những phát hiện tương tự. Hơn 50% DNNVV được khảo sát cho rằng tìm được một mảnh đất thích hợp trên thị trường thứ cấp là rất khó, 66% DN thành công trong việc tìm đất đều phải thông qua kênh quan hệ cá nhân. Những phát hiện này cho thấy nếu chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin có thể có tác động tích cực đến tính cân xứng thông tin của thị trường đất, cụ thể là i) thiết lập khung pháp lý để hỗ trợ các hoạt động môi giới tư nhân đối với đất sản xuất; ii) cải thiện khả năng tra cứu quá trình giao dịch của thửa đất một cách nhanh chóng với chi phí thấp, iii) công bố công khai và minh bạch quy hoạch đất của các địa phương; và iv) cải thiện công tác quy hoạch sử dụng đất để quyền đối với mỗi mảnh đất cụ thể có thể được xác định dễ dàng bởi cả người mua và người bán trên thị trường.
Quyền và bảo hộ quyền đối với đất còn yếu
Đối với các nhà đầu tư, việc có đất mà không có quyền đầy đủ đối với mảnh đất đó chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Một mối lo ngại lớn đối với các nhà đầu tư hiện nay, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ có cơ sở sản xuất kinh doanh nằm ngoài các khu công nghiệp, là sự thay đổi đến chóng mặt và trong nhiều trường hợp không thể đoán trước được của công tác quy hoạch sử dụng đất – hậu quả là họ có thể bị mất quyền sử dụng đất do quy hoạch thay đổi và đất của họ thuộc diện bị Nhà nước thu hồi. Những DN không đủ khả năng vào các khu công nghiệp hay đứng ra mua lại những mảnh đất lớn của các hộ gia đình thì giải pháp duy nhất là đi thuê lại của tư nhân hay thuê chui lại của các DNNN. Tuy nhiên, thuê của tư nhân hầu như là ngắn hạn và do đó không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ tiền xây dựng hay cải tiến nhà xưởng. Thuê chui lại đất của DNNN cũng rất rủi ro do chưa có khung pháp lý điều chỉnh việc cho thuê lại này. Thực tiễn cho thấy DN cảm thấy bất an khi thuê đất từ khu vực tư nhân do bảo hộ của pháp luật đối với người có quyền sử dụng đến hiện tại lẫn người đi thuê ở nước ta là chưa đầy đủ và rõ ràng.
Ngoài ra, ở Việt Nam đất là tài sản quan trọng nhất để góp vốn liên doanh liên kết hoặc thế chấp vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay nhà đầu tư trong nước còn gặp một số bất lợi khi thuê đất từ Nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi được thuê đất của Nhà nước trả tiền trước một lần mà nếu được không phải DNNVV nào cũng đủ khả năng trả hết một lần. Trong khi đó nếu họ thuê đất trả tiền hằng năm thì họ không có quyền gì đối với đất (ngoại trừ mục đích đã được xác định cho thời gian thuê), nhất là không có quyền bán hay dùng đất để thế chấp, trừ quyền được thế chấp các tài sản trên đất. Quy định này tạo nên một sự thiếu rõ ràng đối với quyền của chủ đất và chủ nợ – ngân hàng (làm thế nào ngân hàng có thể đảm bảo được quyền đối với tài sản trên đất nếu không có quyền đối với mảnh đất?) và do đó hạn chế khả năng DN tư nhân trong nước sử dụng đất đi thuê để được thế chấp vay vốn.
Thủ tục hành chính liên quan đến đất còn phức tạp
Một khảo sát DN của GTZ khẳng định quá trình tìm mặt bằng sản xuất là phức tạp nhất trong các loại thủ tục hành chính để thành lập DN, thủ tục kéo dài nhất và cũng tốn kém không ít. Thông thường để được Nhà nước giao đất, DN phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình mất khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan.2 Các DNNVV trong khảo sát của IFC/FIAS cũng khẳng định trong khi có được đất trên thị trường thứ cấp chỉ mất chưa đến 7 ngày thì thủ tục đăng ký giao dịch và xin cấp GCNQSD đất rất phức tạp và tốn nhiều thời gian. Gần đây các trung tâm đăng ký đất được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành đã góp phần giảm bớt thủ tục rườm rà nhưng vẫn chưa rút ngắn đáng kể thời gian cấp GCNQSD đất và các giao dịch liên quan đến đất. Mức độ không hài lòng của DN trong khảo sát IFC/FIAS đối với riêng quá trình cấp GCNQSD cũng khá cao, trong đó phần lớn DN phàn nàn về thời gian xử lý của cơ quan chính quyền là quá dài. Chỉ khoảng 50% DN khẳng định thời gian cấp GCNQSD dưới một tháng. Điều này là hoàn toàn trái với quy định về thời gian trong luật định và các văn bản thi hành.

(1) Khảo sát để xây dựng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2006, Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam(VNCI) và Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam(VCCI)
(2) Từ Ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM, tháng 7/2005. Bảy thủ tục đó là: 1) Tìm hiểu chính quyền cơ sở về việc xin giao đất hoặc thuê đất; 2) xin chấp thuận về nguyên tắc; 3) lập dự án và lên phương án đền bù; 4) phê duyệt dự án và phương án đề bù; 5) giải phóng mặt bằng; 6) bàn giao mặt bằng và ký hợp đồng thuê đất; 7) nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Wednesday, February 12, 2014

TRUNG QUỐC: ĐIỀU TIẾT LẠI MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ DOANH NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO

DƯƠNG HẢI YẾN
Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.
Trung Quốc sau khi chính thức gia nhập WTO, căn cứ theo quy tắc chung của nền kinh tế thị trường, đã và đang tiến hành điều tiết lại phạm vi quản lý trong mối quan hệ giữa chính phủ và các đơn vị sản xuất kinh doanh. Hầu hết các đơn vị hoạt động kinh tế trong nước đều nhận định rằng, hiện tại sở dĩ các doanh nghiệp còn gặp nhiều ràng buộc trong quá trình phát triển một phần không nhỏ là do mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa được xử lý tốt. Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên đây không phải là một công việc đơn giản có thể thực hiện trong một sớm một chiều. Hiện tại có không ít ý kiến tranh luận về vấn đề này cũng như nhiều phương thức giải quyết khác nhau đã được đưa ra. Nhưng nhìn chung tất cả đều thống nhất cùng một quan điểm là căn cứ theo nguyên tắc chung của Tổ chức thương mại thế giới WTO để thiết lập, tổ chức lại phạm vi quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp, cụ thể bao gồm các trọng điểm sau:
1. Nhiệm vụ sau này của chính phủ chủ yếu chỉ nên hỗ trợ, giúp đỡ và phục vụ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh hơn là quản lý chúng. Lý do rất đơn giản, các đơn vị kinh tế là hình thức tổ chức sức lao động, vì vậy để nâng cao năng suất lao động thì phải tạo một môi trường phát triển tốt cho các doanh nghiệp hoạt động, do đó có người cho rằng một trong những chức năng chính của chính phủ là chức năng phục vụ. Chẳng hạn ở nước Mỹ, hệ thống pháp luật cũng như các chính sách về kinh tế đều tập trung nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp Mỹ phát triển một cách thuận lợi. Các đơn vị kinh doanh, đặc biệt là các công ty đa quốc gia có tiếng nói rất mạnh trong việc quyết định đưa ra các luật lệ, quy định mới. 
2. Bãi bỏ chế độ thẩm tra, chỉ thực hiện việc lưu trữ hồ sơ đối với việc quản lý các doanh nghiệp. Những đơn vị nào thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu theo luật định thì được hưởng các quyền lợi như nhau, không cần phải qua thẩm tra của các cấp chính quyền. Ở Trung Quốc trước đây, chỉ có những doanh nghiệp đã kinh qua quá trình thẩm tra thì mới có quyền xuất nhập khẩu nguyên vật liệu và thành phẩm. Thế nhưng trên thực tế, theo thông lệ quốc tế, một đơn vị kinh tế chỉ cần có đầy đủ tư cách pháp nhân theo luật định thì vừa có thể hoạt động cả trên thị trường trong lẫn ngoài nước. Do đó giai đoạn thẩm tra này hoàn toàn không cần thiết. 
3. Thường trong cơ chế hành chính của chính phủ không bao gồm quyền tư pháp, cho nên nếu xảy ra những vấn đề liên quan đến người và tài sản, chính quyền không có quyền can thiệp trực tiếp. Trong trường hợp doanh nghiệp có nảy sinh ra vấn đề gì có thể khiếu nại lên các cơ quan tư pháp và các cơ cấu này sẽ tiến hành xử lý, không cần thông qua bộ máy hành chính. Hiện nay ở một số địa phương của Trung Quốc vẫn còn tồn tại tình trạng tất cả mọi cơ quan chính quyền đều có quyền tùy ý bắt người, tịch thu, niêm phong tài sản, đây là điều cần phải lập tức sửa đổi.
4. Chính phủ và doanh nghiệp là hai chủ thể hoạt động độc lập trên một mặt bằng pháp luật thống nhất. Doanh nghiệp là chủ thể hoạt động kinh tế, chính phủ là chủ thể quản lý xã hội. Cả hai chủ thể đều căn cứ theo luật pháp có những quyền và nghĩa vụ khác nhau, vì vậy giữa chúng hoàn toàn không tồn tại quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo như trước đây. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo quy định của luật pháp, chính quyền cũng trên cơ sở pháp luật mà giải quyết công việc hành chính, mỗi chủ thể hoạt động độc lập không có sự can thiệp lẫn nhau. Chẳng hạn chính phủ Mexico cũng như chính quyền của các quốc gia khác, rất hy vọng quốc gia họ không ngừng nâng cao sản lượng xuất khẩu, nhưng họ không bao giờ trực tiếp tác động vào hoạt động của các doanh nghiệp, ngay cả việc nên sản xuất các mặt hàng nào, sản lượng bao nhiêu để phục vụ cho xuất khẩu chính phủ cũng hoàn toàn không can thiệp. Nhà nước Mexico chỉ tập trung làm sao để thiết lập một môi trường bên ngoài thật tốt nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng của mình. Một trong những kết quả của cố gắng đó là các sản phẩm của Mexico được phép nhập trực tiếp vào thị trường Mỹ với tư cách như một bang trong nước Mỹ.
Tại Mexico còn có một đạo luật, gọi là luật “Định sản phẩm theo nơi sản xuất”. Trong luật có quy định nếu sản phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư tại Mexico phù hợp với những quy định về thương phẩm của nước này thì có thể được coi là sản phẩm của Mexico, có thể xuất khẩu sang những quốc gia mà Mexico đã ký kết hiệp định tự do thương mại với tư cách như sản phẩm do công ty trong nước sản xuất. Như vậy trước đây khi chưa gia nhập WTO, Trung Quốc vẫn có thể xâm nhập thị trường Mỹ qua phương cách này mà không hề nảy sinh bất kỳ mâu thuẫn nào. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp, không kể trong hay ngoài nước, chỉ cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật sẽ được bình đẳng cùng hưởng một môi trường phát triển tốt như nhau.
5. Các doanh nghiệp có quyền tố tụng đối với các cơ quan chính phủ. Nếu chính quyền can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, doanh nghiệp hoàn toàn có thể tiến hành khiếu nại và yêu cầu bồi thường những tổn thất gây ra do sự can thiệp quá mức đó. Đây là một trong những vấn đề mà chính quyền các địa phương ở Trung Quốc cần hết sức chú ý, để tránh trường hợp sau này khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc ngày một nhiều sẽ dễ phát sinh những mâu thuẫn, dẫn đến đối tác nước ngoài tổ chức kiện tụng chính quyền trong nước, và có thể kéo theo những doanh nghiệp trong nước khác. Vì vậy cách tốt nhất là bản thân nhà nước nên tự điều chỉnh lại bộ máy tổ chức quản lý, những gì thuộc chức năng của mình thì mới can thiệp, nếu không sẽ bị chính các doanh nghiệp khởi kiện.
Trên đây là những vấn đề chính mà chính phủ Trung Quốc đang tiến hành điều chỉnh để điều hòa mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp. Tổ chức thương mại quốc tế WTO cũng đã nhiều lần đề cập vấn đề này trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc như một lời nhắc nhở cải cách, nếu không sẽ gặp khá nhiều rắc rối về sau. Vì vậy một trong những mục tiêu chính của nhà nước Trung Quốc hiện nay là dựa trên nguyên tắc chung của nền kinh tế thị trường, căn cứ theo các điều kiện của Tổ chức thương mại quốc tế để tiến hành thiết lập lại ranh giới giữa chính phủ và doanh nghiệp ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 140, THÁNG 6 NĂM 2008

KHÔNG CHỈ LÀ ĐỊA ĐIỂM, ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỊA ĐIỂM

MINH AN (Dịch từ Business Know-how)
Trong kinh doanh bán lẻ, không một doanh nghiệp có thể bỏ qua yếu tố địa điểm kinh doanh. Đây thực sự là một bài toán cần phải có lời giải chuẩn xác nhất. Nhưng có phải tất cả đều chỉ là Địa điểm, Địa điểm và … Địa điểm?
Quyết định địa điểm kinh doanh một trong những quyết định quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể thường xuyên thay đổi các kế hoạch kinh doanh và chiến lược bán hàng, nhưng một khi đặt bút ký một hợp đồng thuê hay mua lại địa điểm kinh doanh đồng nghĩa với một sự ổn định lâu dài và không thể thay đổi dễ dàng. Hãy nghĩ về những yếu tố quyết định địa điểm kinh doanh mới của mình. Câu trả lời sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra địa điểm kinh doanh thích hợp nhất cho sự phát triển lâu dài.
Khoan hãy bàn đến sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp, chìa khoá để tìm kiếm một địa điểm kinh doanh tuyệt vời đó là việc thường xuyên xuống phố. Các doanh nghiệp có thể sử dụng một nhà môi giới bất động sản giúp đỡ tìm ra các địa điểm tiềm năng, nhưng bản thân doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp hay người phụ trách) nên trực tiếp ghé thăm từng địa điểm đó vào các thời điểm khác nhau trong ngày, vào các ngày khác nhau trong tuần, để đảm bảo rằng nó đúng là một địa điểm tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Một địa điểm kinh doanh có thể trông tuyệt vời vào buổi sáng, nhưng khá đơn độc vào buổi trưa, hay xung quanh có thể đông nghịt vào chiều tối thứ Hai vì tắc đường, nhưng đến cuối tuần thì vắng tanh tại các bãi đỗ xe.
Đừng bao giờ nhận định về một địa điểm chỉ qua duy nhất một lần ghé thăm bởi lẽ không phải bất cứ nơi nào cũng là những địa điểm kinh doanh mơ ước. Những giới thiệu từ các nhà môi giới bất động sản chỉ là điều kiện cần, trên thực tế điều kiện đủ chính là việc doanh nghiệp cần dành nhiều thời gian quan tâm để địa điểm kinh doanh của bạn được thích hợp nhất.
Hãy tới đó vào các thời điểm khác nhau trong ngày và đêm, vào các ngày khác nhau trong tuần, và quan sát giao thông xung quanh. Không một ai có thế biết chắc chắn một địa điểm kinh doanh nào đó tốt như thế nào nếu không thực hiện đúng quy trình này.
Khi đến lúc tìm kiếm một không gian cho hoạt động kinh doanh, cho dù là bán lẻ, nhà kho hay làm văn phòng làm việc, các doanh nghiệp không chỉ cần quan tâm địa điểm mà còn cần quan tâm tới một vài yếu tố khác. Không may mắn là các yếu tố này thường bị rất nhiều doanh nghiệp bỏ qua cho đến khi họ nhận ra chúng quan trọng như thế nào.
Tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh của mình, các doanh nghiệp nên quan tâm tới một vài hay tất cả các yếu tố nhất định.
Trước tiên là việc xác định xem có một quy định hay luật lệ nào ràng buộc những thiết kế cửa hàng, bảng hiệu trong khu vực hay không? Các quy định về bảng hiệu luôn thay đổi theo thời gian và doanh nghiệp có thể thấy rằng nhiều hoạt động kinh doanh hiện hữu chịu sự ảnh hưởng của một bộ các quy tắc nhất định trong khi những hoạt động kinh doanh mới lại tuân theo các hướng dẫn hoàn toàn khác biệt. Nếu doanh nghiệp thuê một địa điểm với suy nghĩ rằng bảng hiệu của mình có thể lớn và gần đường phố như các doanh nghiệp khác ở đây, rất có thể đó là một suy nghĩ sai lầm.
Tiếp theo, doanh nghiệp cần xem xét xem có quy định xây dựng hay đô thị nào điều chỉnh các loại hình kinh doanh được phép thực hiện trên địa điểm đó hay không? Doanh nghiệp có thể nghĩ rằng thành phố hay chủ nhà không có vấn đề gì với loại sản phẩm hay dịch vụ của mình, như trừ khi đặt vấn đề, doanh nghiệp có thể thấy rằng mình bị ngăn cấm thực hiện công việc kinh doanh nào đó sau khi đã thuê địa điểm.
Tại mỗi địa phương, chắc chắn sẽ có những địa chỉ hay trang web cung cấp nhanh chóng các dữ liệu, thông tin về khu vực doanh nghiệp quan tâm. Bên cạnh đó, các thông tin về thị trường, về khu vực dân cư xung quanh địa điểm kinh doanh sẽ rất hữu ích giúp doanh nghiệp xác định địa điểm kinh doanh thích hợp.
Mối quan tâm sau đó là liệu địa điểm có đủ chỗ đỗ xe cho các khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp hay không? Một trong những hạn chế của những địa điểm kinh doanh ở trung tâm đó là chỗ đỗ xe quá nhỏ. Với một số lượng nhân viên nhất định và không gian giới hạn, rất có thể sẽ không còn đủ chỗ cho các khách hàng đỗ xe nữa và họ buộc phải gửi xe ở một nơi cách đó khá xa.
Bàn về các nhân viên, các doanh nghiệp cần quan tâm trước tới một không gian vừa đủ cho các nhân viên và những yêu cầu về không gian của họ. Doanh nghiệp cần các phòng làm việc chung rộng rãi hay từng ô làm việc một? Có cần các phòng nghỉ riêng cho nam nhân viên và nữ nhân viên? Có cần phòng thay quần áo hay phòng thư giãn? Sẽ có bao nhiêu nhân viên cần không gian sau quầy bán hàng vào những lúc không tiếp xúc khách hàng? Các nhân viên luôn chiếm khá nhiều không gian vì thế hãy lên kế hoạch thích hợp.
Kế nữa, kế hoạch tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp như thế nào? Mọi doanh nghiệp đều tăng trưởng (hay suy thoái) và một trong những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra đối với một hoạt động kinh doanh thành công đó là phát triển quá nhanh vượt khỏi không gian hiện tại của mình. Địa điểm kinh doanh mà doanh nghiệp đang quan tâm có đảm bảo đủ không gian cho kế hoạch tăng trưởng hay nó có thể trở nên quá nhỏ bé trong ngắn hạn?
Một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là địa điểm kinh doanh có nằm trong một khu vực dân số tăng trưởng, kinh tế phát triển hay là một khu vực người dân có xu hướng ra đi và mang theo túi tiền của họ? Nhiều doanh nghiệp thành công đã quyết định lựa chọn địa điểm này mà không lựa chọn địa điểm khác vì nơi đó dân số không mấy tăng trưởng và hiện có nhiều doanh nghiệp phải vật lộn với sinh tồn.
Tốt nhất, doanh nghiệp nên ghé thăm các cửa hàng xung quanh địa điểm kinh doanh dự định thuê để xem họ bận rộn như thế nào, có thể hỏi xem liệu việc thuê địa điểm tại khu vực này có đáng hay không và doanh số bán ra tại các cửa hàng trong khu vực hiện ở mức độ nào. Rất có thể doanh nghiệp biết được nhiều điều chưa từng được nghe.
Cuối cùng, điều thiết yếu là đừng để bản thân bị mê hoặc bởi một địa điểm trong một thời điểm chiêm ngưỡng địa điểm kinh doanh. Hãy dành thời gian để tìm kiếm những không gian thích hợp nhất cho doanh nghiệp cho một chặng đường dài, chứ không chỉ hôm nay.
SOURCE: BUSINESS WORLD PORTAL

Tuesday, January 21, 2014

ĐÁNH GIÁ LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005: NHIỀU VƯỚNG MẮC

Với những nội dung tiến bộ, Luật DN năm 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006) đã góp phần tích cực trong việc tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng. Tuy nhiên, theo Luật gia Vũ Xuân Tiền – GĐ Cty tư vấn VFAM VN có 3 vấn đề phát sinh trong thực tế, đòi hỏi được tháo gỡ.
Bởi, “những hạt sạn” trong văn bản luật xuất hiện vì lý do nào đó cũng cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời.
Chứng chỉ hành nghề đối với Giám đốc
Cả 3 điều: Khoản 4 Điều 16 Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 đều quy định với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề thì Giám đốc phải có chứng chỉ đó. Tuy nhiên, đó là điều vô lý và đã được giải thích rằng, do sơ suất trong việc soạn văn bản đã có sự nhầm lẫn chuyển chữ “hoặc” thành chữ “và”. Khoản 3 Điều 6 dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật DN đã đưa ra phương án bằng cách quy định chung chung “Đối với DN kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật đòi hỏi giám đốc hoặc người đứng đầu DN phải có chứng chỉ hành nghề thì giám đốc của DN đó phải có chứng chỉ hành nghề”. Dự thảo nghị định cũng không đưa ra danh mục những ngành nghề nào mà pháp luật đòi hỏi “Giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề”. Do đó, quy định như trên lại là bật “đèn xanh” cho hàng loạt quy định vô lý sẽ ra đời.
Tỷ lệ cổ phần phổ thông khi thông qua biểu quyết
Khoản 2 Điều 52 quy định: “2. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây: a) Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ Cty và việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty, tổ chức lại, giải thể Cty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.
Khoản 3 Điều 104 quy định: “3. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty; tổ chức lại, giải thể Cty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty nếu Điều lệ Cty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.
Quy định trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi ở một số lĩnh vực, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn đến tỷ lệ cao nhất là 49%. Trong thực tế, quy định tại Điều 52 và Điều 104 như trích dẫn trên cũng gây khó khăn cho các Cty TNHH, Cty cổ phần của VN vì việc triệu tập cho đủ những thành viên góp vốn hoặc cổ đông đại diện 65% hoặc 75% tổng số phiếu có quyền biểu quyết là không dễ. Nếu chúng ta chỉ sửa lại theo hướng “cho các bên liên doanh thỏa thuận tỷ lệ cụ thể trong Điều lệ Cty” sẽ vi phạm nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử. Do đó, xin đề nghị sửa lại quy định của luật theo hướng quy định một tỷ lệ khác áp dụng chung cho tất cả mọi thành phần DN.
Tư cách pháp nhân của Cty hợp danh Điều 130 Luật DN quy định:
1. Cty hợp danh là DN, trong đó: a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của Cty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Cty trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty.
2. Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Theo tôi, quy định nêu trên mâu thuẫn với Điều 84 Luật Dân sự năm 2005 quy định về pháp nhân: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”.
Như vậy, khi các thành viên hợp danh góp vốn thành lập Cty và Cty có tư cách pháp nhân thì họ hoạt động nhân danh pháp nhân đó. Do đó, quy định “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty” là vô lý. Từ đó, xin kiến nghị sửa lại: Cty hợp danh không có tư cách pháp nhân hoặc bỏ tiết b khoản 1 Điều 130 nêu trên.
Dưới đây là một số ý kiến của các thành viên tham gia hội thảo:
Ý kiến của Luật gia Cao Bá Khoát – GĐ Cty tư vấn Doanh nghiệp K&Cộng sự
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là hai luật luôn đi đôi với nhau để điều chính các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm, kể từ ngày có hiệu lực (1/7/2006), hai luật này đã khiến nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn vướng mắc. Một số quy định trong hai luật mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp lúng túng trong quá trình hoạt động của mình. Nghiên cứu kỹ hai luật này chúng tôi thấy:
- Liên quan đến việc hoạt động của doanh nghiệp, đáng lẽ Luật đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp GCNĐT nhằm xác định những dự án được hưởng ưu đãi nhưng trên thực tế luật này đang điều chỉnh cả việc cấp GCNĐKKD cho DN bằng quy định: GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD. Như vậy, luật đầu tư đang lấn sân sang luật DN tạo ra những vướng mắc khó giải quyết. Chẳng hạn một DN có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD có quyền thay đổi ĐKKD tại cơ quan ĐKKD hay không? Đây là một câu hỏi khó trả lời vì trong mắt của Luật DN thì những DN trên chưa được cấp GCNĐKKD. Rõ ràng việc không tách bạch hai thẩm quyền này đã gây khó khăn cho DN.
- Với nhà đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư quy định chỉ cần có: Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy thế, sau khi có được giấy chứng nhận này nhà đầu tư cũng không thể cắt đuôi các loại giấy phép khác như: Giấy phép xây dựng, giấy phéo của các cơ quan quản lý đất đai, giấy phép của cơ quan quản lý môi trường và giấy phép kinh doanh…. Vậy giấy chứng nhận đầu tư để làm gì khi không thể thay thế các loại giấy trên? Nếu theo nguyên tắc, GCNĐT là chứng nhận các điều kiện đầu tư đó là hợp pháp. Vậy tại sao lại buộc nhà đầu tư lại phải xin các loại giấy phép khác. Quản lý nhà nước về đầu tư trong trường hợp này đã thống nhất hay chưa?
Trên thực tế, hiện nay không chỉ có Luật Đầu tư mới “gặm nhấm” Luật DN mà còn có Luật kinh doanh Bảo hiểm và Luật Chứng khoán.
Từ những thực tế trên, chúng ta cần bàn lại về khái niệm “đồng thời” trong các văn bản luật.
Với những thực tế đang xẩy ra hiện nay thì có thể hiểu giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do các cơ quan chủ quản cấp có hai giá trị: giá trị thứ nhất là bảo đảm tính hợp pháp và giá trị thứ hai là nó xác nhận tư cách pháp nhân cho DN. Chúng ta không tài nào hiểu nổi tại sao một giấy phép hoạt động lại có thể có quyền năng này trong khi doanh nghiệp đó chưa đó chưa được đăng ký kinh doanh. Hệ quả từ khái niệm đồng thời còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề từ lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và ngân hàng. vừa trong lĩnh vực đầu tư thì sẽ đăng ký kinh doanh như thế nào? Cơ quan nào sẽ quản lý doanh nghiệp này? Việc lập chi nhánh của doanh nghiệp này sẽ do cơ quan nào cấp phép? Không biết liệu cơ quan đăng ký kinh doanh có đồng ký cho doanh nghiệp lập chi nhánh hay không khi mà DN không đăng ký kinh doanh mà chỉ có các loại giấy phép hoạt động đồng thời là giấy phép kinh doanh?
Chúng tôi có các kiến nghị như sau:
1. Để thống nhất quản lý nhà nước về doanh nghiệp và giúp hoạt động kinh doanh của DN được thuận lợi cần: Trả lại thẩm quyền cho đăng ký kinh doanh cho Luật DN và ban hành một văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng thống nhất về đăng ký kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề, không để tình trạng các luật khác lấn sân sang Luật DN.
2. Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan đăng ký kinh doanh, thiết lập một hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất từ TƯ đến cấp tỉnh với tên: Cơ quan đăng ký doanh nghiệp.
3. Coi giấy phép đầu tư và các loại giấy phép hoạt động là những hoạt động độc lập với giấy phép đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp.
4. Thực hiện thống nhất tư duy đã hoạt động kinh doanh trước tiên phải đăng ký kinh doanh để xác lập tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh sau đó cấp giấy phép hoạt động ngành nghề gì thì cấp.
Ý kiến của PGS – TS Phạm Duy Nghĩa – Tổ luật kinh doanh, ĐH Luật HN:
Về thủ tục đăng ký kinh doanh tôi có mấy ý kiến sau:
- Về quy trình thành lập khá tốt so với thế giới. Tuy nhiên, để tốt hơn người dân cần chuẩn bị các bộ hồ sơ để đồng thời gửi các nơi. Người dân không chỉ nhìn nhận mọi việc qua góc độ là quyền mình được hưởng mà cần phẩn xem xét trên khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ cần phải thực hiện các hoạt động đó của mình nữa.
- Hiện nay, việc đăng ký tên hộ kinh doanh được bảo hộ trong phạm vi quận/huyện, tên DNTN, Cty TNHH, CTCP và hợp danh được bảo vệ trong phạm vi của tỉnh, nơi doanh nghiệp đó đăng ký kinh doanh. Từ đó có nhiều doanh nghiệp bị trùng tên giữa các tỉnh. Việc đăng ký bảo hộ tên của các doanh nghiệp trên toàn quốc (Tránh trùng nhau) cần có một ban đăng ký kinh doanh riêng đảm bảo tính thống nhất, và bảo hộ tên thương hiệu của doanh nghiệp trên toàn quốc. Doanh nghiệp muốn bảo hộ tên của mình trên địa phương thì đóng tiền mức riêng, trên toàn quốc thì phải đóng phí.
- Doanh nghiệp tư nhân là một sai lầm. Ngay từ khái niệm sai lầm. Nên quan niệm theo thế giới là coi doanh nghiệp này là của một ông chủ vì thế không thể nói là công ty. Như thế doanh nghiệp hợp doanh là của một nhóm các ông chủ.Tôi cho cần hợp nhất mô hình hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân – sau này nên gọi là cá nhân kinh doanh sole proprietorship để tránh gây nhầm lẫn từ khái niệm “doanh nghiệp tư nhân”. Hai mô hình này cần nên cùng đăng ký kinh doanh ở một cấp và không nên quy định chỉ ĐKKD mới được phép tiến hành kinh doanh. Đăng ký chỉ là thống kê theo dõi không khai sinh quyền kinh doanh. Và với hai mô hình kinh doanh cá nhân này cũng chỉ nên đánh thuế thu nhập cá nhân của người chủ mà không nên đánh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như không bắt buộc phải có con dấu.
- Từng bước tiến tới thống nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế, tiếp tục giảm bới thủ tục cho doanh nghiệp. Muốn vậy cần thiết lập nghĩa vụ chia sẻ giữa thông tin giữa phòng ĐKKD, cơ quan Thuế và VCCI. Doanh nhân có nghĩa vụ tham gia VCC một cách bắt buộc.
Ông Vũ Duy Thái – Chủ tịch Hiệp hội Công thương TP Hà Nội
Bộ Kế hoạch Đầu tư và Tổ Công tác thi hành 2 luật đã thừa nhận những vướng mắc về nội dung trong việc thực thi hai luật và các nghị định hướng dẫn thi hành. Song nếu nhìn từ phía doanh nghiệp và các địa phương thì những vướng mắc này còn lớn hơn rất nhiều: Từ việc đăng ký kinh doanh, đặt tên doanh nghiệp, các quy định về quản trị, chuyển nhượng vốn, chuyển đổi của doanh nghiệp, thành lập văn phòng đại diện, hay như vấn đề trách nhiệm của chủ doanh nghiệp như thế nào khi cho thuê doanh nghiệp? Thế nào là trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu (điều 144)?…
Có cái tưởng như đã thành công như quy trình “3 trong 1” (cấp đăng ký kinh, mã số thuế, cấp phép khắc dấu tuy đã được thống nhất vào một cửa với thời hạn không 15 ngày là một bước tiến đáng kể). Song năng lực và phương tiện của cơ quan đăng ký kinh doanh còn yếu, nên kết quả của cái cách này chưa được như mong đợi, doanh nghiệp vẫn thấy còn có biện pháp cải tiến thêm, dònh chữ vành ngoài của con dấu cấp cho doanh nghiệp thuộc cấp tỉnh, thành phố quản lý, nhưng lại ghi theo địa phương (quận, huyện) khiến mỗi khi đi di chuyển từ quận này sang quận khác nếu tuân thủ triệt để doanh nghiệp phải làm thủ tục khắc lại con dấu!

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Ngân hàng là gì?
Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh những quy định này và sẽ có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, Cục Dự trữ liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng của các “ngân hàng giả”, đã đưa ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ.
Sau đó các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán hàng đầu đã kiện lên tòa liên bang, buộc tội Fed đã vượt quá quyền hạn. Năm 1984, tòa án liên bang công nhận này và buộc Fed phải cho phép tồn tại hình thức “các ngân hàng phi ngân hàng” và cho họ tham gia bảo hiểm tiền gửi liên bang. Chỉ trong vòng vài tuần sau phán quyết này, hàng tá đơn xin thành lập “ngân hàng phi ngân hàng” đã được nộp . E.F. Hutton, J.C.Penney và Sears Roebuck là những công ty cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu được tổ chức dưới dạng ngân hàng phi ngân hàng. Hơn thế, các công ty sở hữu ngân hàng lớn của Citicorp và Chase Manhattan cũng thành lập các “ngân hàng phi ngân hàng” của riêng họ bởi vì với loại ngân hàng này họ có thể mở rộng chi nhánh tự do qua biên giới bang. Năm 1987, Quốc hội hạn chế sự bành chướng của các “ngân hàng phi ngân hàng” bằng cách ràng buộc các công ty sở hữu ngân hàng phi ngân hàng vào những quy định tương tự như các tổ chức ngân hàng truyền thống. Cuối cùng, Quốc hội đã “bắn phát súng cuối cùng” trong việc đưa ra một định nghĩa mang tính pháp lý về ngân hàng: ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang. Đây thật là một sự thay đổi thông minh vì theo luật hiện hành của Mỹ, người ta không các định ngân hàng trên cơ sở những hoạt động của nó mà trên cơ sở cơ quan chính phủ nào sẽ bảo hiểm cho tiền gửi của nó.
Dòng nước đã bị vẩn đục. Vào năm 1991, chính quyền của tổng thống George Bush đề nghị cho phép các ngân hàng với vốn tự có thích hợp sẽ được quyền cung cấp hàng loạt những dịch vụ mới và được phép liên kết với các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán, các công ty đầu tư (các quĩ tương hỗ); cho phép công ty công nghiệp sở hữu các công ty cung cấp dịch vụ tài chính ( những công ty này có thể điều hành nganhangf và các công ty bảo hiểm); cho phép các công ty ngân hàng đầu tư vào những ngành công nghiệp phi tài chính trên cơ sở một số điều kiện ràng buộc. Do đó, các hàng rào pháp lý có tính lịch sử ở Hoa kỳ phân tách hoạt động ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác – điều đã tồn tại qua nhiều thế hệ – đang bị tấn công và có thể sẽ sớm đưa đến một sự thay đổi lớn lao trong việc định nghĩa ngân hàng là gì và nó cung cấp những dịch vụ gì.
Kết qủa của tất cả những thay đổi về pháp lý dẫn đến tình trạng có sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với một số tổ chức tài chính khác. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa hạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức nằng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores) và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các khẩu hiệu quản cáo tương tự như: Ngân hàng của bạn – Một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ dịch vụ (Your Bank – a full service Financial institution) (xem Sơ đồ 1 – 1)
Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay:
sodo..gif
Các dịch vụ ngân hàng:
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem bảng 1-1). Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Vậy ngày nay xã hội đòi hỏi những dịch vụ gì từ phía các ngân hàng? Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quân về danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng:
Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ – một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.
Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.
Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.
Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.
Cung cấp các tìa khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Tron gphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.
Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất.
Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.
Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về việc cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan. Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho phép khách hàng của nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tức thời.
Dịc vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.
Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc
Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó. Một số bang như Delawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm được quy định trên toàn quốc. Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu được phép sẽ có thể cung cấp các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt, những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu. Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty bảo hiểm Travelers tromg một số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn.
Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môi giới.
Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trị vốn). Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng sang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90. Một vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này (ví dụ: Citicorp’s Investment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi giới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui định nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của công chúng.
Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn. Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.
Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư (như bảo lãnh phát hành chứng khoán) liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương mại thực hiện thay mặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-Steagall năm 1933. Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong nước hàng đầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm 80 Cục lữu trữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với việc ngân hàng kinh doanh chứng khoán do khách hàng của chúng phát hành. Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy động vốn mới bên cạnh hình thức cho vay vốn truyền thống. Nhiều công ty đã đánh giá rất cao nghiệp vụ này của ngân hàng, hơn cả hình thức cho vay truyền thống bởi vì nó cung cấp cho họ một nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp hơn. Cho tới cuối những năm 90, Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã cấp cho hơn 40 ngân hàng đặc quyền cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Trên thực tế, điều này cho phép nhân viên tín dụng ngân hàng cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh chứng khoán trong quá trình tìm nguồn tài trợ cho khách hàng. Năm 1996, Cục quản lý tiền tệ Mỹ ra quy định mới cho phép các ngân hàng có giấy phép hoạt động trên toàn quốc có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành nếu như dịch vụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điều kiện ngân hàng không được đầu tư quá 10% vốn cổ phần vòa một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn bộ dịch vụ tài trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New York mua công ty Alex Brow.
Sự thuận tiện: Tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp.
Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng
Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở phần trước, các ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.
Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp  và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khoán như Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai.
Phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định – giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Chính phủ. Điều này bắt đầu từ hai thập kỷ trước, xu hướng nới lỏng các quy định đã được bắt đầu với việc Chính phủ nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết kiệm nhằm cố gắng giúp công chúng một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết kiệm của mình. Cũng lúc đó, nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển giúp cho công chúng có thể hưởng lãi trên các tài khoản giao dịch. Gần như đồng thời, các dịch vụ mà những đối thủ chính của ngân hàng như hiệp hội tín dụng và cho vay cũng được mở rộng nhanh chóng và do đó khả năng cạnh tranh với ngân hàng của những tổ chức này cũng được củng cố. Các quốc gia hàng đầu  như Australia, Canada, Anh quốc và Nhật Bản gần đây đã tham gia vào trào lưu phi quản lý hóa, nới rộng giới hạn pháp lý cho ngân hàng, cho người kinh doanh chứng khoán và cho các công ty dịch vụ tài chính khác. Chi phí và rủi ro tổn thất theo đó cũng tăng lên.
Sự gia tăng chi phí vốn: Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí  trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ – để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy đọng vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).
Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các qui đinj của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mực thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu  nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.
Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử dụng ít lao động và chi phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin rằng các tòa nhà ngân hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa các nhà ngân hàng và khach shàng cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi các cuộc liên quan và giao tiếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động. Những bước đị đó sẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệp gần đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời. Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.
Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công gnhệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng phải có qui mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần pahỉ mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả là hoạt động mở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng mua lại các ngân hàng nỏi và đưau chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã diễn ra như vụ hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhttan ở New York hay Bank of America và Nations Bank. Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập và bắt đầu giảm và qui mô trung bình của các công ty ngân hàng đã tăng đáng kể. Cùng lúc đó, số lượng các ngân hàng nhỏ của Mỹ (tổng tài sản dưới 1 tỷ USD) đã giảm mạnh ít nhất là 1/3 kể từ giữa thập kỷ 80, số lượng nhân viên giảm hơn 100.000 người trong cùng thời ký.
Hơn nữa, thập kỷ 80 và 90 đã mở ra một kỷ nguyên sự bành trướng “liên tiểu bang” trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Hơn 300 tổ chức ngân hàng đã vương ra khỏi thị trường tiểu bang, thôn tính các ngân hàng nhỏ để trở thành những ngân hàng tầm cỡ quốc gia. Hiện nay ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển và nhấn mạnh vai trò của nó như là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và hướng về khách hàng.
Với sự phát triển của tự động hóa, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động – một phương pháp mở rộng qui mô thị trường hơn là xây dựng các cơ sở vạt chất mới. Trong nhiều trường hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi nhánh đa năng của ngân hàng.
Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lể và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai_I Chi Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC) cũng trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này cạnh tranh hiệu quả hơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị trường toàn cầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và Mexico đã thực hiện Hiệp ước mậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA) điều mà cho phép ngân hàng ở những nước này sở hữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia và sức mạnh dịch vụ của các chi nhánh loại này hoàn toàn so sánh được với những chi nhánh sở hữu bởi các ngân hàng trong nước.
Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi xu hướng hợp nhất và bánh trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổn thương trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có ván đề một nền kinh tế luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xu hướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra cơ hội cho các nhà ngân hàng, nhưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản, thôn tính và thành lý ngân hàng dễ xảy ra hơn.
Commercial Bank Management (Peter S.Rose) – 2001

Tuesday, January 14, 2014

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG “HÌNH SỰ HÓA” CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ PHI “HÌNH SỰ HÓA”

TRẦN MINH CHẤT -  Phó Chủ nhiệm Khoa nghiệp vụ Cảnh sát kinh tế, Học viện Cảnh sát nhân dân
Nghiên cứu để khắc phục tình trạng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới, mà quan trọng hơn, là nhằm đảm bảo để pháp luật và để công việc thực thi pháp luật thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và các doanh nghiệp, những người tham gia kinh doanh có quan hệ thân thiện, gần gũi trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Quốc hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế.
Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1999 thì “ hình sự hoá” là quá trình đưa một quan hệ xã hội từ chỗ chưa được điều chỉnh bằng luật hình sự trở thành đối tượng được điều chỉnh bằng luật hình sự (tội phạm).
“Phi hình sự hoá” là việc đưa một hành vi đang bị điều chỉnh bằng pháp luật hình sự trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật và xã hội khác.
Khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống pháp luật cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, hình thành pháp luật thì hành vi “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” luôn luôn được các giai cấp thống trị xã hội quan tâm. Trong quá trình quản lý xã hội của mình, giai cấp thống trị thông qua nhà nước để lựa chọn những quan hệ xã hội gần gũi nhất với quyền và lợi ích của mình (kể cả tích cực và tiêu cực) rồi đưa vào bên trong các quan hệ xã hội đó ý chí mang tính cưỡng chế của mình hoặc đưa quan hệ xã hội ra khỏi sự điều chỉnh bằng hình luật. Quá trình đó chính là quá trình hình sự hoá và phi hình sự hoá.
Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã được bàn đến trong khá nhiều các cuộc hội thảo khoa học trước đây. Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất nhận định, những hiện tượng tiêu cực trên đã và đang tồn tại trong đời sống pháp lý của nước ta. Nó không chỉ là mối quan ngại riêng của các doanh nghiệp, của những người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, mà nó còn đặt ra cho các nhà nghiên cứu, những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ bản chất, nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại của hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá”, từ đó tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trên.
Bất cập trong giải quyết các tranh chấp kinh tế
Thực tiễn chỉ ra rằng, trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường vì mục đích sinh lợi. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột lợi ích kinh tế giữa các chủ thể.
Giải quyết các tranh chấp đó là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để ngăn chặn, khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.
Các hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế theo pháp luật Việt Nam là: thương lượng; hoà giải; giải quyết bằng trọng tài; giải quyết bằng toà án.
Bản chất của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế chính là một hiện tượng tiêu cực phản ánh tính khốc liệt của cuộc đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường.
Trong thời gian qua, do rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà các cơ quan điều tra, truy tố đã có sự “nhầm lẫn” giữa các tranh chấp kinh tế với hành vi phạm tội, dẫn đến oan sai trong hoạt động tố tụng. Sự oan sai này phản ánh thực trạng của:
- Tình trạng áp dụng sai pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế và xử lý các hành vi phạm tội về kinh tế của các cơ quan tư pháp.
- Phản ánh những hạn chế của quá trình xây dựng pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở Việt Nam.
- Phản ánh những hiện tượng tiêu cực cụ thể trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế và điều tra các vụ án kinh tế.
- Phản ánh những sai lầm, những vi phạm của chính bản thân những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.
Nguyên nhân:
- Nguyên nhân của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế, trước hết xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong hệ thống pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở nước ta.
- Do những sai lầm, vi phạm của các cơ quan và cá nhân tiến hành các hoạt động tố tụng trong tổ chức điều tra các vụ án kinh tế cũng như từ những sai lầm, vi phạm của những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.
- Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế còn có nguyên nhân từ các hoạt động của các cơ quan có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế…
Hậu quả
Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và ” phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế và xã hội.
Trước tiên về kinh tế, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” thường gây ra những thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các chủ thể tham gia các tranh chấp kinh tế (pháp nhân tan vỡ, các hợp đồng bị đổ bể, tài sản bị phong toả….)
Về xã hội, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế gây ra tiền lệ xấu đối với các quan hệ hợp đồng, đặc biệt các quan hệ trong thanh toán, tín dụng như nợ, đòi nợ, xóa nợ, gán nợ……
Lớn hơn nữa, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” làm suy giảm lòng tin của nhân dân, các nhà đầu tư vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư…
Về công tác cán bộ, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế là một nguyên nhân làm thoái hoá, biến chất một số cán bộ trong các cơ quan điều tra, các cơ quan quản lý nhà nước khác.
Tình trạng “hình sự hoá” không chỉ gây ra những hậu quả thiệt hại về vật chất, về con người mà quan trọng hơn nó gây phiền hà cho các hoạt động kinh doanh, làm giảm năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp, làm tổn thương lòng tin của nhân dân vào lực lượng điều tra.
Giải pháp khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế
Ngày 31 tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 16/TTg về việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, chống oan sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân. Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Ban nội chính TW cũng đã có công văn số 170 báo cáo Bộ Chính trị về vấn đề này. Trong báo cáo nêu rõ “Vấn đề hình sự hoá và cả phi hình sự hoá trong giải quyết các quan hệ kinh tế dân sự của các cơ quan tố tụng hiện nay, các ngành nội chính cần có sự nghiên cứu toàn diện sâu sắc….”, “ Trong thời gian qua, số vụ việc xử lý về hình sự quá nhiều, trong khi thực tế có thể chuyển qua các toà hành chính, dân sự để giải quyết…”.
Ngày 21 tháng 3 năm 2000, Bộ Chính trị đã có chỉ thị số 53/CT-TW khẳng định quyết tâm chống oan sai trong hoạt động tố tụng. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 19 tháng 4 năm 2001 cũng đã nêu rõ: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử thi hành án không để xẩy ra những trường hợp oan, sai”.
Một là, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự.
Trong thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật (Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đã có nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thực hiện các yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng với mục đích chống các hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.
Giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự phải áp dụng qui phạm pháp luật phù hợp. Bên cạnh đó cũng phải không ngừng hoàn thiện các qui phạm pháp luật khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật doanh nghiệp… Hệ thống pháp luật này trong thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề chồng chéo, khó xác định ranh giới, bởi vậy rất dễ bị lạm dụng để phục vụ cho những mục đích tư lợi.
Để tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế, ngăn chặn hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” các quan hệ kinh tế, dân sự thì hệ thống pháp luật liên quan phải được xây dựng theo hướng cụ thể hoá.
Phải phân định một cách rõ ràng giữa hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế với tội phạm. Tăng cường hiệu lực pháp luật trong việc chấp hành các phán quyết của Toà án kinh tế, Toà dân sự và Trọng tài kinh tế đối với các tranh chấp kinh tế, dân sự.
Không ngừng sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự. Cụ thể, cần qui định chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, đặc biệt là biện pháp bắt khẩn cấp… Các qui định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền tham gia tố tụng của luật sư phải được bình đẳng với điều tra viên, kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình điều tra, xử lý các vụ án hình sự về kinh tế.
Hai là, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nhằm chống lại hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật phải trên cơ sở tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phải gắn liền với việc cải cách hành chính, đảm bảo phát huy một cách tốt nhất quyền giám sát kiểm tra của nhân dân cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác đối với việc áp dụng các qui phạm pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự của các cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh việc thi hành Chỉ thị 02/1998/CT-TTg ngày 07 tháng 1 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giáo dục và phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, đảm bảo để các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự phân biệt được đâu là vi phạm các qui định pháp luật về kinh tế, đâu là vi phạm các qui định pháp luật về hành chính, đâu là hành vi tranh chấp dân sự, đâu là tội phạm. Tăng cường quản lý nhà nước trong áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự đồng thời củng cố vai trò các cơ quan kiểm tra, giám sát để đảm bảo kịp thời phát hiện và ngăn chặn, khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.
Ba là, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án.
Việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề để chống các hiện tượng oan sai trong hoạt động tố tụng.
Nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ cán bộ này còn mang tính giáo dục, phòng ngừa rất cao. Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có kế hoạch thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra giám sát những hoạt động của cán bộ trong ngành mình có liên quan đến công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo để các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế và tội phạm kinh tế được phát hiện và xử lý đúng pháp luật, đồng thời không để hiện tượng oan sai xẩy ra.
Đấu tranh chống hiện tượng “ hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế “ phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế hiện nay ở nước ta đang là một vấn đề hết sức cần thiết. Nó là một trong những nội dung nhằm thực hiện tốt yêu cầu của Nghị quyết 08- NQ/TW về cải cách tư pháp. Đồng thời, nó có tác dụng thiết thực góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới
SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code