Showing posts with label LUAT SO HUU TRI TUE. Show all posts
Showing posts with label LUAT SO HUU TRI TUE. Show all posts

Wednesday, January 22, 2014

THÁI LAN: LUẬT PHÁP BẢO VỆ NGUỒN GEN THỰC VẬT

Surawit Wannakrairoj
Để bảo vệ nguồn gen thực vật, Thái Lan đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật: Luật bảo vệ rừng, Luật y học dân tộc, Luật bảo hộ giống thực vật… Đây là những kinh nghiệm tốt đối với nhiều nước, trong đó có nước ta để chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen thực vật, khi mà nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm đáng kể. Tuy nhiên những thỏa thuận khu vực có một ý kiến rất quan trọng để mỗi quốc gia, trong đó có Thái Lan thành công trong vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên đang suy giảm này.
Sinh vật hữu sinh tiến hóa và sinh tồn trong môi trường xung quanh. Sự tiến hóa là một quá trình hệ thống trong đó mọi vật phải được hài hòa cân đối với nhau để tồn tại. Sự cân bằng của bất kỳ hệ sinh thái nào cũng mang tính động và thay đổi theo thời gian. Một số loài có thể bị tuyệt chủng, một số loài mới lại hình thành. Loài người là một phần nhỏ của hệ thống, nhưng lại mong muốn mình là nhân tố lớn gây xáo trộn sự cân bằng. Khi công nghệ do con người triển khai đạt được các bước tiến, sinh thái toàn cầu tỏ ra không còn cân bằng nữa. Các nhà khoa học trên thế giới đã nhận thức ra vấn đề này và đang cố gắng giảm thiểu quá trình hủy hoại. Một số cam kết và công ước quốc tế đã được đưa ra nhằm sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh học.
Thái Lan cũng giống như các nước đang phát triển khác trong vùng nhiệt đới, giàu về đa dạng sinh học, về hệ sinh thái, loài và di truyền. Sự khai thác thái quá các nguồn sinh học trước đây đã khiến các cơ quan lập pháp phải thông qua Đạo luật về rừng vào năm 1941. Theo Đạo luật này khi muốn khai thác bất cứ một nguồn tài nguyên thiên nhiên nào trong phạm vi của rừng thì phải xin phép và trả một khoản phí trên danh nghĩa. Việc quyết định cho khai thác các nguyên liệu trong rừng phải dựa trên hiện trạng của các nguồn tài nguyên trong vùng. Tuy vậy, đạo luật này đã không có hiệu lực thực hiện do diện tích có rừng quá rộng.
Từ năm 1973, Thái Lan trở thành thành viên của Công ước quốc tế về cấm buôn bán các loài động, thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng (CITES). Dưới sức ép của Công ước, Chính phủ đã sửa đổi Đạo luật về thực vật vốn là văn bản được soạn thảo để bảo vệ các quyền lợi của các nông dân để phù hợp với các qui định của CITES. Tất cả các loài được liệt kê trong CITES cũng được coi là các loài được bảo tồn đã được qui định trong pháp lệnh thực vật. Việc xuất nhập khẩu cũng như tái xuất các loài được bảo tồn cũng được qui định rõ ràng. Những loài thực vật chỉ có trong rừng không được phép dùng để buôn bán quốc tế trừ khi được nhân giống nhân tạo. Hệ thống này đòi hỏi một biện pháp kiểm soát có hiệu quả tại cả các nước xuất và các nước nhập khẩu. Nhưng đáng tiếc là Công ước này mới chỉ liệt kê danh sách các giống loài đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng trong buôn bán quốc tế.
Việc hình thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã dẫn đến những thay đổi lớn trong xã hội của các nước đang phát triển. Các nước mạnh cố gắng tận dụng công nghệ tiên tiến của họ cũng như sức mạnh thương lượng. Các quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), một vấn đề cốt yếu của WTO đang làm thay đổi cách thức mà các nước giải quyết các nguồn tài nguyên sinh vật và các tri thức truyền thống có liên quan.
Người dân địa phương đã từng sống hài hòa với rừng. Cây là thức ăn, gia vị là những vị thuốc vô cùng quan trọng. Các công thức của các vị thuốc cổ truyền được hình thành qua một thời gian dài, trả bằng giá cuộc sống và sức khỏe của các thế hệ trước. Các tri thức về các thuộc tính sử dụng cây thuốc được tích lũy từ nhiều thế hệ. Thế nhưng khối tri thức này lại không được hệ thống bảo vệ SHTT quốc tế hiện nay đề cập đến mặc dù giá trị to lớn của nó.
Chính phủ nhận thức được 25% thuốc tân dược trong nước được sản xuất bằng các công nghệ y học cao dựa vào tri thức và các loài thực vật của đất nước. Chính phủ cũng biết được các nhà nghiên cứu nước ngoài đến Thái Lan đã rất thành công trong việc thương mại hóa những loại thuốc có nguồn gốc từ cây bản địa mà không phải chia sẻ bất kỳ lợi ích cho địa phương. Chính phủ hiện đang cố gắng thông qua đạo luật bảo vệ và khuyến khích nền y học dân tộc của Thái Lan.Vì quyền lợi quốc gia, Chính phủ đã phê duyệt dự thảo đạo luật này và sắp tới Thượng viện sẽ xem xét và thông qua.
Dự thảo Đạo luật y học dân tộc Thái Lan là một cố gắng đầu tiên nhằm bảo vệ cây thuốc và các tri thức. Nguồn tri thức này được phân nhóm: Thuộc sở hữu quốc gia, của dân chúng và tư nhân. Chỉ có những người được phép mới được thực hành, nghiên cứu hoặc triển khai cũng như thương mại hóa các kiến thức về y học dân tộc này. Cần phải trả chi phí cơ hội của tri thức cổ truyền cho người giám hộ. Việc chia sẻ các kết quả nghiên cứu và lợi ích của nó có thể sẽ khuyến khích sự bảo tồn và phát triển của các tri thức này. Bên cạnh việc bảo vệ các tri thức truyền thống trước những kẻ khai thác quá đáng, dự thảo đạo luật này còn nhằm bảo tồn tính đa dạng đang bị suy giảm của các loài và nơi cư trú của chúng. Việc bảo tồn đa dạng sinh học trong một đất nước trong chừng mực nào đó có nghĩa là sẽ chậm phát triển hơn. Một số lượng quan trọng các loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng sẽ được liệt kê như những loài cây thuốc đang bị kiểm duyệt. Bất cứ một hành động nào đối với các loài cây này đều bị giám sát chặt chẽ, thông qua hệ thống giấy phép và thỏa thuận. Nơi cư trú của các cây thuốc này có thể được xây dựng làm khu bảo tồn nhằm bảo tồn tính đa dạng của chúng. Phải xây dựng kế hoạch hành động quản lý để khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Đạo luật đã được soạn thảo trên nền tảng của Công ước bảo vệ đa dạng sinh học mà không vi phạm bất cứ một thỏa thuận quốc tế nào. Nguyên tắc đồng ý có thông báo trước, việc chia sẻ lợi ích và chuyển giao công nghệ của Công ước đa dạng sinh học về cơ bản phải được ràng buộc trong dự thảo. Bản Dự thảo luật này đã khuyến khích các cộng đồng địa phương thực hiện các quyền liên quan đến tri thức cổ truyền của mình.
Theo Hiệp định về các khía cạnh SHTT liên quan đến thương mại (TRIPS) của WTO, các nước thành viên phải thiết lập một hệ thống pháp lý có hiệu lực để bảo hộ các giống thực vật thông qua hệ thống các Patent hoặc hệ thống giống lạ duy nhất hoặc hai hệ thống kết hợp. Trong trường hợp của Thái lan, hệ thống giống lạ duy nhất được lựa chọn để sử dụng. Một đạo luật được soạn thảo dựa trên Hiệp hội quốc tế về bảo tồn các loài thực vật mới (UPOV), Công ước về bảo vệ các loài thực vật mới và Công ước về bảo vệ đa dạng sinh học nhằm bảo vệ các loài và giống động, thực vật. Đối với công ước UPOV, chỉ năm 1978các ý tưởng về mô hình lợi ích mới được chấp nhận và thay đổi cho phù hợp với cấu trúc xã hội trong điều kiện của Thái lan. Quyền của các nông dân sẽ được bảo vệ tối đa, trong khi các nhà gây giống sẽ được khen thưởng xứng đáng cho công trình của họ.
Dự thảo luật bảo hộ giống thực vật sẽ tạo ra quyền của cộng đồng trên cơ sở đồng ý có thông báo trước và chia sẻ các quyền lợi. Cộng đồng sẽ được khuyến khích để bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc giám sát tất cả khả năng với tới các nguồn gen thực vật. Nếu một người nhân giống muốn áp dụng để bảo vệ một giống cây mới trên một vùng đất nào đó thì người này phải nêu ra một hợp đồng chia sẻ lợi ích trước khi được cấp giấy phép. Không giống như các nước giàu tài nguyên khác, Thái Lan giành quyền kiểm soát và trực tiếp chia sẻ quyền lợi cho cộng đồng chứ không phải cho Chính phủ. Người ta cho rằng các cơ chế khuyến khích bằng tài chính sẽ tạo động lực cho các cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giống loài của địa phương cho việc sử dụng của các nhà nghiên cứu thực vật trong tương lai.
Cơ chế khuyến khích tài chính này cũng sẽ hướng cộng đồng vào việc bảo vệ các giống hoang dã và nơi cư trú của chúng.
Dư luận cũng đã được các dư luận xã hội chú ý. Một thông tin cũng được tiết lộ rằng Công ty xay xát của Mỹ vừa đăng ký nhãn hàng cho một loại gạo thơm. Nhãn đăng ký của loại gạo này là Jasmati kết hợp từ 2 giống gạo thơm nổi tiếng “Jamin” của Thái và “Basmati” của ấn Độ và Pakistan. Nhãn hàng được đăng ký này có thể gây cho người tiêu dùng sự nhầm lẫn rằng đây là một loại gạo lai giữa hai loại nổi tiếng trên. Sử dụng tên gọi không hề liên quan với các tên hàng nổi tiếng trên gây sự hiểu lầm trong người tiêu dùng về chất lượng gạo. Mặt khác công ty của Mỹ sẽ phải tốn rất nhiều tiền để thu hồi lại nhãn hàng này. Thay vào đó, hiện nay Thái Lan đang áp dụng nhãn hàng cho loại gạo Dự của Thái đối với phần lớn các nước nhập khẩu gạo Thái. Chiến lược này, cùng với chương trình khuyến khích lai giống sẽ đưa ngành công nghiệp gạo của Thái tiến triển, đương đầu với bất cứ sự vi phạm bản quyền nào trên thị trường tự do.
Một dự luật khác về việc bảo vệ các nguồn gen thực vật là các khu rừng cộng đồng. Kinh nghiệm trong quá khứ về chính sách bảo vệ rừng cho thấy là không thành công. Các vùng rừng mênh mông bị phá hủy. Một mình các quan chức chính phủ không thể điều hành chính sách một cách có hiệu quả. ý thức về quyền sở hữu của người dân cũng rất cần thiết. Một cộng đồng cần được thụ hưởng từ các nỗ lực bảo vệ rừng. Một dự luật mới ra đời sẽ cho phép dân làng sống cộng sinh với rừng. Dân làng sẽ vừa gìn giữ rừng vừa sử dụng bền vững các sản phẩm của rừng.
Tất cả các dự luật trên sẽ giúp Thái Lan bảo vệ các nguồn gen thực vật khỏi nạn cướp sinh học. Việc thực thi các dự luật sẽ được tăng cường thông qua một thỏa thuận cấp khu vực. Điều này là do các loài thực vật trên đất Thái Lan cũng dễ tìm thấy ở các nước láng giềng. Đạo luật quốc gia không thể vượt qua biên giới. Một thỏa thuận khu vực giữa các nước giàu tài nguyên, đặc biệt là các điều khoản và điều kiện về chia sẻ lợi ích và chuyển giao công nghệ, sẽ đưa các nước công nghiệp hóa đến bàn thương lượng. Không có một thỏa thuận khu vực, tương lai của các nguồn tài nguyên thực vật sẽ bị lãng quên.
TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 5/2001

SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Phó cục Trưởng cục Sở hữu Trí tuệ
Trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Sở Hữu trí tuệ Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển mới, trong đó tất cả các yếu tố của hệ thống đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của đất nước và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với đòi hỏi nội tại của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và đã được ban hành (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ). Đặc biệt, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về sở hữu trí tuệ trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, góp phần kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO kể từ ngày 11.01.2007. Thủ tục cần thiết để Việt Nam tham gia Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu đã được hoàn thành (chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.07.2006). Luật pháp quốc tế (TRIPS/WTO, BTA…) về sở hữu trí tuệ tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc. Thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp tiếp tục được cải cách, hiện đại hoá phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, các loại đơn về sở hữu công nghiệp được xử lý theo thời hạn quy định. Công tác tự động hoá, ứng dụng công nghệ mới được coi trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng xử lý công việc, giảm đáng kể thời gian xử lý các loại đơn về sở hữu công nghiệp. Tính đến hết ngày 31.12.2006, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận được 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 30.944 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (tăng khoảng 22% so với năm 2005), đồng thời cũng đã xử lý 34.909 đơn các loại (tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái), trong đó cấp 14.473 văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về sở hữu trí tuệ, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện trong khuôn khổ APEC, ASEAN, EU…, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với nhiều đối tác như Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO) Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), các cơ quan sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga… Các dự án hợp tác với nước ngoài cũng tiếp tục được triển khai có hiệu quả, như Dự án Hợp tác kỹ thuật về sử dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ, Chương trình quốc gia dành cho Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ do EU tài trợ, Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ do Thụy Sỹ tài trợ, góp phần hiện đại hoá và nâng cao nâng lực cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Đặc biệt, công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp được Cục chú trọng và thực hiện thường xuyên, các hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Ngoài việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04.04.2005) đã được triển khai ngay sau khi Thông tư quản lý tài chính của Chương trình được ban hành (ngày 31.10.2006) với hàng loạt hạng mục công việc có nội dung khác nhau. Đồng thời, công tác thông tin và năng lực thông tin về sở hữu công nghiệp cũng tiếp tục được hoàn thiện, phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về sở hữu công nghiệp (hệ thống phân loại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu phù hợp với quốc tế, các chương trình tra cứu thông tin, số hoá tư liệu sáng chế), bổ sung hàng chục vạn tư liệu sở hữu công nghiệp và phát hành các sản phẩm thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ thông tin về sở hữu công nghiệp cũng như phục vụ đắc lực công tác xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, công tác thực thi và giải quyết khiếu nại tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ chú trọng theo hướng hiệu quả. Ngoài việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ còn tham gia thẩm định, giám định pháp lý về sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng như tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng trăm vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về sở hữu trí tuệ, nạn hàng giả, hàng nhái… tiếp tục diễn ra nghiêm trọng làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ bị coi là thiếu hiệu quả, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ” để triển khai thực hiện năm 2007.
SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Paul E. Salmon
Việc bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ (IPR) trên thế giới có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả mọi quốc gia trong tương lai. Vì các điều ước quốc tế về IPR tạo ra cơ sở pháp lý và quy định chung nên những văn bản này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ chặt chẽ sở hữu trí tuệ, và nhờ vậy sẽ thúc đẩy việc mở rộng kinh tế toàn cầu và phát triển những công nghệ mới.
Tuy nhiên, mãi đến khi vòng đàm phán Uruguay của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) sáng lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ký kết Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) năm 1994 thì cộng đồng quốc tế mới có một nguồn thống nhất về các chuẩn mực và nghĩa vụ vể quyền sở hữu trí tuệ.
Tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở ba điểm:
  1. Đây là hiệp định duy nhất đầu tiên thực sự mang tính quốc tế đã đưa ra các chuẩn mực tối thiểu về bảo hộ nhiều hình thức của sở hữu trí tuệ;
  2. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự, hình sự và bảo vệ biên giới; và
  3. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, TRIPS đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ cho cộng đồng quốc tế.
Là một nước tích cực thực hiện Hiệp định TRIPS và tất cả các điều ước quốc tế khác về IPR nêu ra dưới đây, Chính phủ Mỹ khuyến khích các quốc gia khác tham gia và thực thi các điều ước quốc tế này.
TRIPS
Hiệp định TRIPS có hiệu lực vào năm 1995 trong khuôn khổ Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới. TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thực thi với Công ước Paris về Bảo hộ Tài sản Công nghiệp và Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật – những hiệp định có từ những năm 1880.
Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế về IPR bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia “trọn gói” các hiệp ước. Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO không được phép lựa chọn các hiệp ước mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước đa phương của WTO, bao gồm cả TRIPS.
Hiệp định TRIPS áp dụng các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế đối với các quốc gia thành viên về sở hữu trí tuệ, trong đó có quy chế đối xử quốc gia và quy chế tối huệ quốc. TRIPS cũng đề ra các chuẩn mực tối thiểu về mức độ, phạm vi và việc sử dụng bảy hình thức sở hữu trí tuệ – quyền tác giả, nhãn hiệu, xuất xứ địa lý, thiết kế công nghiệp, bằng phát minh sáng chế, thiết kế bố trí mạch điện tử tích hợp và thông tin mật (bí mật thương mại). TRIPS cũng nêu cụ thể những hạn chế và ngoại lệ có thể chấp nhận nhằm hài hòa lợi ích sở hữu trí tuệ với lợi ích trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn như sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế. (Toàn văn Hiệp định TRIPS cũng như phần giải thích các điều khoản của hiệp định có tại trang web của WTO http://www.wto.org).
Theo Hiệp định TRIPS, các nước phát triển hoàn toàn thực thi hiệp định này vào ngày 1/1/1996. Các quốc gia đang phát triển và những thành viên đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường được phép lùi ngày thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong TRIPS đến 1/1/2000. Các nước kém phát triển được phép bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ của mình vào ngày 1/1/2006, và có khả năng được kéo dài thời kỳ chuyển giao nếu có yêu cầu. Các quốc gia đang phát triển chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh sáng chế đối với một số lĩnh vực công nghệ nhất định tính đến thời điểm xin gia nhập thì được phép kéo dài thêm năm năm nữa, tức là đến ngày 1/1/2005, để ban hành quy định bảo hộ như vậy.
Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại của WTO tại Doha năm 2001, các quốc gia kém phát triển đã được gia hạn thêm 10 năm để thực thi các quy định về bảo hộ bằng phát minh sáng chế và “bí mật thương mại” trong khuôn khổ của TRIPS vì những quy định này có liên quan đến dược phẩm.
Tuy nhiên, do Hiệp định TRIPS đã trải qua 10 năm nên không thể bao hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề về Internet và tác quyền kỹ thuật số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa những chuẩn mực toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ. Hiệp định này mới chỉ đặt nền tảng cho việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa.
Kể từ khi ký kết Hiệp định TRIPS, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới đã giải quyết nhiều vấn đề tác quyền kỹ thuật số trong các hiệp định về Internet, cụ thể Hiệp định Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp định về Biểu diễn và Ghi âm của WIPO (WPPT).
Dưới đây là phần tóm lược một số hiệp định khác của WIPO bổ sung cho Hiệp định TRIPS, đề cập đến những phát triển công nghệ mới. Toàn văn các hiệp định của WIPO đề cập dưới đây có tại địa chỉ http://www.wipo.int/.
HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT NHÃN HIỆU
Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT), được thông qua ngày 27/10/1994, đã có hiệu lực ngày 1/8/1996. Tính đến ngày 1/7/2005, 33 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, đã tham gia hiệp định. TLT được ban hành để đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, đăng ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc gia khác nhau. TLT đã hài hòa thủ tục của các cơ quan cấp phép đăng ký nhãn hiệu của các quốc gia khác nhau thông qua việc quy định những yêu cầu tối đa mà một bên tham gia có thể đưa ra.
TLT dành cho nhãn hiệu dịch vụ – dấu hiệu nhận biết đặc thù của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để phân biệt với hàng hóa – quy chế “bình đẳng” với nhãn hiệu. Trước đây, nhiều nước dành quy chế pháp lý khác nhau cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. TLT đã yêu cầu các quốc gia thành viên đăng ký nhãn hiệu dịch vụ và dành quy chế pháp lý tương tự như nhãn hiệu hàng hóa.
Theo quan điểm của những người sở hữu nhãn hiệu, TLT đã tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho quá trình chuẩn bị và lập hồ sơ xin đăng ký. Hiệp định này đã đơn giản hóa quy trình gia hạn sau khi đăng ký, thu âm, đổi tên và địa chỉ và quyền hạn của người được ủy quyền. Các quốc gia tham gia TLT có nghĩa vụ cho phép đăng ký đa chủng loại, giúp chủ sở hữu nhãn hiệu xin đăng ký một lần cho nhiều chủng loại hàng hóa và dịch vụ.
Một khía cạnh quan trọng khác của TLT cũng đem lại lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu là cấm các cơ quan cấp phép của các quốc gia thành viên yêu cầu xác thực các hồ sơ và chữ ký đối với các đơn thư xin đăng ký nhãn hiệu. Nhiều quốc gia yêu cầu bất kỳ chữ ký nào nộp kèm trong hồ sơ đăng ký nhãn hiệu cũng cần phải công chứng hoặc phải được hợp pháp hóa phù hợp với luật pháp của quốc gia đó. Theo quy định của TLT, trong hầu hết mọi trường hợp, không cần phải tuân thủ các thủ tục này nữa. Khía cạnh này cho phép người chủ sở hữu nhãn hiệu hoàn tất và nộp hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu nhanh hơn với chi phí thấp hơn.
Một lợi thế nữa của TLT là việc hài hòa thời hạn đăng kí nhãn hiệu ban đầu và gia hạn giữa các quốc gia thành viên: TLT quy định thời hạn đăng ký ban đầu là 10 năm, và có thêm 10 năm gia hạn.
Các đặc điểm chính khác của TLT còn bao gồm việc giới thiệu hệ thống ứng dụng đăng ký mục đích sử dụng (có bằng chứng chứng tỏ các nhãn hiệu này đã sử dụng trước khi đăng ký); hợp lý hóa thủ tục gia hạn; giảm thiểu những yêu cầu hoàn tất ngày nộp đơn đăng ký và đơn giản hóa thủ tục thay đổi tên và sở hữu hồ sơ và đăng ký nhãn hiệu.
Nói tóm lại, TLT nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại quốc tế: Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các cá nhân và các doanh nghiệp nhỏ đang tìm kiếm thị trường ở các quốc gia khác. Hiện tại, Ủy ban Thường trực về Nhãn hiệu, Thiết kế công nghiệp và Ký hiệu địa lý WIPO (SCT) đang đàm phán các đề xuất sửa đổi TLT. Ủy ban này kiến nghị Đại hội đồng WIPO tổ chức một hội nghị ngoại giao từ ngày 13-31/3/2006 để xem xét việc thông qua TLT sửa đổi.
HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT CHỨNG NHẬN PHÁT MINH, SÁNG CHẾ
Hiệp ước về Luật Chứng nhận Phát minh, Sáng chế (PLT) do WIPO thông qua vào tháng 6 năm 2000 đã có hiệu lực ngày 28/4/2005. PLT là kết quả của nhiều năm tiến hành đàm phán đa phương về hài hòa hệ thống chứng nhận phát minh sáng chế trên thế giới. PLT đã hài hòa một số thủ tục đăng ký bằng phát minh sáng chế nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ những thủ tục và nguy cơ bị mất quyền sở hữu. PLT không hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế – tức là luật của mỗi quốc gia quy định các điều kiện bắt buộc để có thể nhận được bằng phát minh, sáng chế ở quốc gia đó. Tuy nhiên, WIPO đang tiến hành thương thảo nhằm hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế.
PLT tạo điều kiện cho những người nộp đơn đăng ký bằng phát minh và chủ sở hữu bằng phát minh được cấp và duy trì bằng phát minh, sáng chế khắp nơi trên thế giới thông qua việc đơn giản hóa và – ở một mức độ rộng rãi – hợp nhất các yêu cầu của quốc gia và quốc tế gắn liền với việc đăng ký và cấp bằng phát minh sáng chế.
PLT:
  • đơn giản hóa và giảm thiểu các yêu cầu đăng ký cấp bằng phát minh, sáng chế để hẹn ngày lập hồ sơ;
  • giới hạn những yêu cầu về mặt hình thức mà các bên ký kết có thể đưa ra;
  • nới lỏng những yêu cầu về mặt trình bày đối với nhiều vấn đề mang tính hình thức;
  • nới lỏng những giới hạn về thời gian mà Văn phòng Tác quyền của một quốc gia có thể đưa ra và phục hồi quyền khi một người xin đăng ký hoặc sở hữu đã không tuân thủ quy định về giới hạn thời gian và việc không tuân thủ đó đã có hậu quả trực tiếp là gây ra mất các quyền lợi; và
  • quy định việc hiệu chỉnh hoặc bổ sung các yêu cầu ưu tiên và phục hồi quyền ưu tiên.
HỆ THỐNG HIỆP ƯỚC HỢP TÁC VỀ BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ
Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế (PCT) đã bắt đầu manh nha từ năm 1966 khi Ban Điều hành Công ước Paris về Bảo hộ Quyền Sở hữu trí tuệ kêu gọi nghiên cứu tìm cách giảm bớt những gánh nặng có liên quan tới việc lập hồ sơ và được cấp bằng cho cùng một phát minh sáng chế ở các quốc gia khác nhau đối với những người đăng ký và cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế. Kết quả là Hiệp định PTC của WIPO đã được ký kết tại Washington, D.C. năm 1970 và có hiệu lực năm 1978. Hiệp định đã được sửa đổi năm 1979, 1984, 2001 và 2004. Tính đến ngày 15/9/2005 đã có 128 bên tham gia ký kết PCT.
Nhờ đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ đăng ký bằng phát minh sáng chế nên PCT đã giúp những nhà phát minh được bảo hộ bằng phát minh của họ trên toàn thế giới. Hiệp định này cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân tìm cách bảo hộ bằng phát minh sáng chế của họ ở nước ngoài.
Theo hiệp định này, các công dân của một quốc gia tham gia ký kết chỉ cần lập một hồ sơ đăng ký cấp bằng phát minh duy nhất – thường được gọi là hồ sơ “quốc tế” – và gửi tới Cơ quan cấp bằng phát minh của nước họ hoặc tới WIPO với tư cách là cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Như vậy, đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế của họ sẽ tự động được gửi tới tất cả 127 quốc gia tham gia PCT.
Hiệp định cho phép những người nộp đơn có thời gian dài hơn – 30 tháng – để cam kết trang trải mọi chi phí dịch thuật, lệ phí hồ sơ trong nước và thực thi ở tất cả mọi quốc gia nơi họ muốn được bảo hộ. Nhờ cho phép người nộp đơn có nhiều thời gian và thông tin hơn để đánh giá thế mạnh trong bằng phát minh sáng chế tương lai của họ và quyết định kế hoạch tiếp thị của mình, thời hạn 30 tháng giúp các ứng viên lựa chọn tốt hơn những quốc gia nơi họ muốn nộp hồ sơ. Đây là một bước tiến quan trọng so với thời hạn ưu tiên 12 tháng đã được quy định trong Công ước Paris đối với những người nộp đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế.
Trong khuôn khổ PCT, WIPO đã ấn hành “áp dụng tính quốc tế” cùng với hướng dẫn về việc công nhận phát minh sáng chế. Việc hướng dẫn như vậy có nghĩa là tiến hành nghiên cứu sơ bộ và/hoặc kiểm tra thông qua một “cơ quan quốc tế” – một trong 11 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế hiện đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu về nhân lực và các yêu cầu xử lý hồ sơ khác được WIPO ủy quyền. Việc chỉ dẫn như vậy giúp người nộp đơn quyết định xem có nên tiếp tục nộp hồ sơ xin cấp bằng phát minh, sáng chế tới các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế ở trong nước hay trong khu vực hay không. Các cơ quan cấp bằng phát minh cũng được hưởng lợi từ quá trình chỉ dẫn này khi quyết định có nên cấp bằng phát minh sáng chế quốc gia hay khu vực dựa theo hồ sơ đăng ký trong khuôn khổ của PCT hay không. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã xác định những văn bản liên quan cần thiết giúp các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế đảm bảo nguồn lực trong quá trình điều tra và nâng cao chất lượng kiểm tra của họ.
NGHỊ ĐỊNH THƯ MADRID VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ CÁC NHÃN HIỆU QUỐC TẾ
Nghị định thư liên quan tới Hiệp định Madrid về đăng ký các nhãn hiệu quốc tế – Nghị định thư Madrid – đã được thông qua tại thủ đô Tây Ban Nha ngày 27/6/1989, và có hiệu lực ngày 1/12/1995. Nghị định thư này là một trong hai hiệp định tạo nên hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế Madrid. Hiệp định đầu tiên – Hiệp định Madrid 1891 – đã quy định đăng ký nhãn hiệu ở một số quốc gia thông qua việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế với WIPO tại Geneva.
Nghị định thư Madrid đã ra đời vì một số quốc gia gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Hiệp định Madrid. Điều đó được coi là cải thiện hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Do đó, ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu đang sử dụng Nghị định thư Madrid mỗi năm để bảo hộ nhãn hiệu của họ ở nước ngoài. Tính đến ngày 15/9/2005, đã có 66 quốc gia ký kết Nghị định thư Madrid.
Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ không phải là hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung. Nghị định thư giúp những người sở hữu nhãn hiệu – các cá nhân và doanh nghiệp – bảo vệ được nhãn hiệu của họ một cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ xin cấp bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một khoản chi phí và một loại tiền tệ. Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung gian. Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha.
Việc nộp hồ sơ đăng ký mang tính quốc tế cũng có hiệu quả tương tự như hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa chọn. Khi cơ quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý bảo hộ thì nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ quan này đã đăng ký.
Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi lẽ một thủ tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những thay đổi sau này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn hiệu.
Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức tạp đối với việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó khăn cho những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các nhãn hiệu của họ trên thế giới. Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng ký trên phạm vi quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước khi chuyển nhượng một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết. Việc gia hạn đăng ký cũng chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản. Việc đăng ký trên phạm vi quốc tế có thời hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm.
Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia nữa nếu họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc nếu có thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư.
Nếu việc đăng ký cơ bản – hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký quốc tế – bị hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid sẽ tạo điều kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một loạt các hồ sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn. Các đơn đăng ký này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế ban đầu ở mỗi nước. Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên, ngay cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế.
HỆ THỐNG KÝ GỬI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ LA HAY
Hệ thống La Hay là hệ thống đăng ký quốc tế, cho phép chủ sở hữu bảo hộ các thiết kế công nghiệp của họ với thủ tục và chi phí thấp nhất. Chỉ cần một hồ sơ đăng ký quốc tế được nộp cho Cục Quốc tế của WIPO đã có thể thay thế một loạt các hồ sơ trước đây ở một số quốc gia và/hoặc các tổ chức liên chính phủ tham gia hệ thống La Hay. Việc quản lý đăng ký quốc tế cũng trở nên dễ dàng hơn trong hệ thống này. Ví dụ, chỉ cần một thủ tục là có thể thay đổi tên hoặc địa chỉ của chủ sở hữu, hoặc thay đổi sở hữu đối với một số hoặc tất cả các bên tham gia ký kết đã được lựa chọn.
Tính đến ngày 26/4/2005, Hệ thống La Hay đã có 42 bên tham gia ký kết.
HIỆP ƯỚC BUDAPEST VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI KÝ GỬI VI SINH VẬT NHẰM HOÀN TẤT THỦ TỤC BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ
Hiệp định Budapest về công nhận quốc tế đối với việc ký gửi vi sinh vật nhằm hoàn tất thủ tục bằng phát minh sáng chế đã được ký kết ngày 28/4/1977 và được sửa đổi ngày 26/9/1980. Hiệp định Budapest loại bỏ việc ký gửi vi sinh vật ở mỗi quốc gia nơi người ta đăng ký bảo hộ bằng phát minh sáng chế.
Theo hiệp định này, việc ký gửi một vi sinh vật tại “một cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” đáp ứng các yêu cầu về ký gửi trong luật về bằng phát minh sáng chế của tất cả các thành viên tham gia hiệp định. “Cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” có khả năng lưu giữ vật liệu sinh học và đã đề ra các thủ tục đảm bảo việc tuân thủ Hiệp định Budapest. Những thủ tục như vậy bao gồm các yêu cầu giữ nguyên phần ký gửi trong suốt thời gian có hiệu lực của bằng phát minh sáng chế, và các mẫu phẩm sẽ chỉ được chuyển đến những người hoặc chủ thể được phép tiếp nhận.
Việc thành lập một “cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” đem lại nhiều thuận lợi cho cả người nộp đơn đăng ký bằng phát minh lẫn quốc gia tham gia ký kết. Những người nộp đơn đăng ký được hưởng lợi vì yêu cầu ký gửi ở nhiều quốc gia nơi họ tìm kiếm sự bảo hộ đã giảm đi rất nhiều. Vì việc ký gửi duy nhất ở bất kỳ “một cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” nào cũng sẽ đảm bảo yêu cầu bảo mật ở tất cả mọi quốc gia thành viên nên chi phí mà người đăng ký bằng phát minh phải trả sẽ thấp hơn rất nhiều. Sử dụng một cơ quan duy nhất làm nơi ký gửi sẽ tăng cường độ an toàn của ký gửi và tạo cơ chế phân bổ ký gửi. Các quốc gia tham gia ký kết được hưởng lợi vì họ có thể dựa vào các tiêu chuẩn thống nhất của hiệp định để đảm bảo việc ký gửi hiệu quả. Họ không cần phải tự xây dựng một cơ quan ký gửi “được công nhận” để đáp ứng các yêu cầu bảo mật bằng phát minh sáng chế quốc gia.
Tính đến tháng 5 năm 2005, đã có 60 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế tuân thủ các điều kiện của Hiệp định Budapest và có 35 “cơ quan ký gửi” ở 22 quốc gia khác nhau.
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ CÁC GIỐNG CÂY MỚI
Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây mới (UPOV) đã thiết lập một hệ thống tài sản trí tuệ đã được quốc tế công nhận nhằm bảo vệ các giống cây mới. Công ước UPOV khuyến khích và dành phần thưởng cho những người nhân giống cây mới một cách khéo léo và sáng tạo. Bất cứ ai đưa ra giống cây mới có thể kháng bệnh, kháng hạn, kháng rét hoặc đơn giản đẹp hơn về mặt thẩm mỹ cũng đều là một nhà phát minh tương tự như ai đó đã cải thiện máy móc của xe hơi hoặc tìm ra loại thuốc mới. Sự khác biệt duy nhất là những người nhân giống cây làm việc với những sinh thể chứ không phải các chất vô tri vô giác.
Quá trình tạo ra một loại cây mới thường rất lâu và tốn kém. Tuy nhiên, việc tái tạo lại một giống cây đã có lại có thể nhanh và tương đối dễ dàng. Do đó, hệ thống bảo hộ tài sản trí tuệ hữu hiệu cần phải khuyến khích cho những đổi mới, sáng tạo bằng cách cho phép các nhà đầu tư hoàn vốn đầu tư và đồng thời truyền bá những kiến thức về phát minh đó cho những người khác để họ có thể hoàn thiện tốt hơn. Hệ thống UPOV đề ra ba nguyên tắc pháp lý cơ bản về bảo hộ nhằm khuyến khích những người nhân giống tăng cường óc sáng tạo của họ bằng cách trao cho họ độc quyền sở hữu phát minh về loại cây của họ trong khi vẫn khuyến khích tìm ra các loài cây mới.
Trong khuôn khổ hệ thống UPOV thiết lập năm 1991 – một trong những hiệp định được ký kết gần đây nhất – những đặc quyền dành cho nhà phát minh (thường được gọi là “quyền của nhà gây giống ”) đòi hỏi một bên khác ngoài chủ sở hữu các đặc quyền đó được ủy quyền:
  • tạo ra hoặc tái tạo một sản phẩm đã được bảo hộ;
  • sử dụng sản phẩm đó để nhân rộng, và
  • bán hoặc tiếp thị, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dự trữ sản phẩm đã được bảo hộ.
Để hưởng độc quyền, người gây giống phải phát minh ra một loại cây mới hoàn toàn mới, đặc thù, thống nhất và ổn định. Tuy nhiên, theo Công ước UPOV, một người nhân giống cây nhìn chung không cần có ủy quyền từ những người nhân giống cây khác khi sử dụng các giống cây đã được bảo hộ để tiến hành các hoạt động không vì mục đích thương mại hoặc thí nghiệm nhằm tìm ra các loại cây mới. Công ước UPOV cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên hạn chế độc quyền của người nhân giống đối với bất kỳ một loại cây nào có thể cho phép người nông dân sử dụng một phần thu hoạch của họ để trồng trên mảnh đất của họ sau này. Tuy nhiên, những hạn chế như vậy cần phải nằm trong giới hạn cho phép và cần phải bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người nhân giống.
Các quốc gia thành viên tổ chức hội nghị của Hội đồng chấp hành – cơ quan thường trực của công ước – hai năm một lần. Các cơ quan khác của UPOV bao gồm Ủy ban Hiệp thương, Ủy ban Hành chính và Pháp luật, Ủy ban Kỹ thuật, gồm nhiều nhóm làm việc kỹ thuật (TWP) trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp. TWP họp định kỳ để chia sẻ và thảo luận những nhận xét và tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực của nông nghiệp. Điều này giúp họ chuẩn hóa các tiêu chuẩn kiểm tra ở các quốc gia thành viên. Các cuộc họp của TWP đem lại lợi ích cho những người nhân giống vì các tiêu chuẩn càng thống nhất thì càng tăng cường tính nhất quán trong quá trình lập hồ sơ đăng ký ở nhiều quốc gia khác nhau.
Tính đến ngày 29/6/2005, đã có 59 quốc gia tham gia Công ước UPOV. Dự kiến trong vài năm tới sẽ có thêm nhiều quốc gia tham gia ký kết UPOV
Thông tin tham khảo thêm về UPOV có tại địa chỉ http://www.upov.int/.
KẾT LUẬN
Trong kỷ nguyên thông tin, với tốc độ tiến bộ công nghệ ngày càng nhanh thì chỉ thực thi Hiệp định TRIPS không thôi vẫn chưa đủ tạo lập một hệ thống sở hữu trí tuệ vững chắc. Cho dù tới thời điểm này TRIPS là hiệp định đầu tiên quy định đầy đủ về quyền sở hữu trí tuệ nhưng hiệp định này cũng đã ra đời được một thập kỷ và hiện cho thấy đây là một hiệp định “ra đời đúng lúc cấp bách”. Những tiến bộ công nghệ trong ngành thông tin, sinh học và các ngành khác đòi hỏi chúng ta phải chỉnh sửa những bộ luật quốc tế và quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Rất may là WIPO đã đi đầu trong việc đưa ra những chuẩn mực quốc tế mới nhằm đáp ứng những thách thức này.
WIPO cũng đã nêu ra cách đơn giản hóa và hợp lý hóa những thủ tục tìm kiếm, giữ gìn và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ ở nhiều quốc gia. Thông qua “Dịch vụ Bảo hộ Toàn cầu” và các hiệp ước mang tính dung hòa, WIPO đã giúp các nhà sáng chế và các Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia tiết kiệm được rất nhiều thời gian và sức lực. WIPO cũng luôn sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cao cấp cho việc thiết lập và nâng cấp hệ thống IPR toàn cầu. Các quốc gia nên tham vấn cả WTO lẫn WIPO khi xây dựng hệ thống IPR của riêng mình.
___________________________________
Paul E. Salmon là luật sư chuyên về bằng sáng chế của Phòng Hợp tác Quốc tế, Cục Nhãn hiệu và Bằng sáng chế Hoa Kỳ. Ông Salmon đồng thời là Tùy viên về Sở hữu trí tuệ tại Geneva, Thụy Sỹ đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ trong các cuộc họp của WIPO và WTO. Ông thường xuyên giảng bài với chủ đề về luật quốc tế đối với bằng sáng chế.
*********
CHUYÊN ĐỀ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2006
Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

CHIẾN LƯỢC TIÊU CHUẨN HOÁ CỦA HOA KỲ

NGÔ TẤT THẮNG
Trong lĩnh vực tiêu chuẩn, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia hàng đầu có khung tiêu chuẩn với nhiều điểm ưu việt, đem lại lợi ích thiết thực cho các nước đã và đang áp dụng. Bài viết dưới đây giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về hoạt động tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.
Những nguyên tắc cơ bản
Chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ (The United State Standards Strategy – USSS) là văn bản sửa đổi của Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (NSS) được phê chuẩn tháng 8.2000. NSS khẳng định, Hoa Kỳ cam kết theo đuổi cách tiếp cận chuyên ngành đối với hoạt động tiêu chuẩn hoá tự nguyện phạm vi trong nước và quốc tế. Khung tiêu chuẩn hoá được xây dựng dựa trên sức mạnh có tính truyền thống của Hoa Kỳ, đó là: Đồng thuận, mở, công khai và minh bạch; đồng thời nhấn mạnh đến sự nhanh chóng, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của công chúng.
Năm 2004, Viện Nghiên cứu tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) đã tổ chức một Hội đồng xem xét và sửa đổi NSS. Hơn 100 thành viên đại diện cho các ngành công nghiệp; các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn; các chuyên gia xây dựng tiêu chuẩn; các tập đoàn; hội người tiêu dùng; đại diện của nhà nước liên bang và chính quyền các bang đã tham gia vào quá trình xem xét này. Các thành viên tham dự đã nhất trí cam kết xây dựng một chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ với một tên mới và tinh thần mở, công bằng. Bản sửa đổi của NSS nay được gọi là USSS. Sự thay đổi tên này thừa nhận quá trình toàn cầu hoá và nhu cầu tiêu chuẩn cần được xây dựng để đáp ứng yêu cầu của những người có liên quan, vượt qua giới hạn về biên giới quốc gia. Tên gọi mới đồng thời cũng phản ánh môi trường tiêu chuẩn hoá, kết hợp chặt chẽ với những hình thức mới của hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, có các cách tiếp cận linh hoạt hơn và đưa ra cấu trúc mới.
USSS được xây dựng dựa trên sự nỗ lực điều phối của một nhóm gồm nhiều đối tượng khác nhau, đại diện cho những người có liên quan trong chính phủ, các ngành công nghiệp, các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, các tập đoàn sản xuất, các hiệp hội người tiêu dùng và các cơ quan nghiên cứu. Các thành phần tham gia thể hiện cam kết xây dựng tiêu chuẩn công khai, cân bằng và minh bạch. ANSI có vai trò phối hợp và thúc đẩy các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, đồng thời là đại diện của Hoa Kỳ trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, dựa trên quan điểm cân bằng quyền lợi của khu vực công và tư nhân để xem xét các nguyên tắc và chiến lược nhằm định hướng cho Hoa Kỳ trong xây dựng tiêu chuẩn và tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế. Việc xây dựng USSS đã thể hiện mục tiêu, tư tưởng và tầm nhìn tương lai của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quốc tế hiện nay.
Một vấn đề quan trọng đã được hầu hết cộng đồng các quốc gia trên thế giới nhìn nhận là tiêu chuẩn xây dựng cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội, không được tạo ra rào cản cho thương mại. Khi chấp thuận Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (TBT/WTO), các thành viên của WTO đã thừa nhận rằng mục tiêu và những nguyên tắc cơ bản đã được xây dựng và được chấp nhận toàn cầu là khuôn khổ để thúc đẩy hợp tác và ngăn cản việc sử dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật.
Thực tế cho thấy, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã dựa trên một số nguyên tắc sau:
Tính minh bạch: Các bên có quan tâm đều có thể tiếp cận những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động tiêu chuẩn.
Tính mở: Mọi đối tượng có quyền lợi bị ảnh hưởng đều có thể tham gia.
Tính công bằng, không thiên vị: Không một đối tượng có quyền lợi nào có thể làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn không thiên vị đối với bất cứ đối tượng nào.
Tính hiệu quả và phù hợp: Tiêu chuẩn phải phù hợp và đáp ứng một cách có hiệu quả đối với mục tiêu quản lý và các nhu cầu của thị trường cũng như sự đòi hỏi của phát triển khoa học và công nghệ.
Tính đồng thuận: Tiêu chuẩn được xây dựng thông qua sự đồng thuận của các bên có quyền lợi bị ảnh hưởng.
Tính khả thi: Tiêu chuẩn dựa trên cơ sở thực thi (chỉ rõ những đặc tính cần thiết hơn là những thiết kế quá chi tiết) ở những nơi có thể.
Tính mạch lạc, chặt chẽ: Quá trình xây dựng tiêu chuẩn khuyến khích sự mạch lạc, chặt chẽ để ngăn ngừa sự chồng chéo và mâu thuẫn với nhau về nội dung của tiêu chuẩn.
Bảo đảm công bằng: Mọi quan điểm đưa ra đều phải được xem xét và mọi yêu cầu đều có thể thực hiện được.
Hỗ trợ kỹ thuật: Hỗ trợ cho các nước đang phát triển trong việc hình thành và áp dụng tiêu chuẩn.
Ngoài ra, đối với những thành viên có lợi ích bị ảnh hưởng, Hoa Kỳ cũng đã bổ sung một số nguyên tắc:
Tính linh hoạt: Cho phép sử dụng phương pháp luận khác nhau để đáp ứng nhu cầu của công nghệ và các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
Đảm bảo đúng lúc: Đảm bảo những vấn đề mang tính thủ tục hành chính không làm ảnh hưởng đến việc thoả mãn mong đợi của thị trường.
Đảm bảo cân bằng: Giữa những đối tượng có lợi ích bị ảnh hưởng.
Từ các nguyên tắc trên, cộng đồng tiêu chuẩn Hoa Kỳ đã cam kết kiên trì theo đuổi thực hiện việc xây dựng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.
Định hướng
Hiện nay, hoạt động tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ tập trung vào tiêu chuẩn hoá chuyên ngành (lĩnh vực) dựa trên sự hỗ trợ của một hạ tầng cơ sở năng động. Cách tiếp cận chuyên ngành trong xây dựng tiêu chuẩn cho phép các bên có quyền lợi xác định được vấn đề riêng của mình và tự đưa ra phương pháp giải quyết. Điều này cũng cho phép xây dựng tiêu chuẩn một cách có hiệu quả, thúc đẩy quá trình đổi mới và cạnh tranh. Thực tế cho thấy, không có một giải pháp nào đưa ra có thể đồng thời thoả mãn tất cả các nhu cầu của các ngành. Bởi vậy, các ngành cần phải tự đưa ra kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn riêng cho mình. Mục đích của chiến lược này là cung cấp hướng dẫn, sự gắn kết logic và khuyến khích khả năng sáng tạo trong xây dựng tiêu chuẩn. Do vậy, chiến lược tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ bao gồm một tập các sáng kiến chiến lược có khả năng áp dụng rộng rãi và sẽ được sử dụng một cách thích hợp trong những chuyên ngành cụ thể. Định hướng tương lai trong chiến lược xây dựng tiêu chuẩn Hoa Kỳ được dựa trên các quan điểm sau:
- Đẩy mạnh việc tham gia của chính phủ trong việc xây dựng và sử dụng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, thông qua sự cộng tác giữa khu vực công và tư nhân. Trên thực tế, sự tin cậy của chính phủ vào các tiêu chuẩn đồng thuận một cách tự nguyện ngày càng tăng lên.
- Quan tâm tới vấn đề môi trường, sức khoẻ và an toàn trong việc xây dựng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện – đây là vấn đề trọng tâm của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ hiện tại và tương lai.
- Nâng cao sự đáp ứng của hệ thống tiêu chuẩn đối với mong đợi và nhu cầu của người tiêu dùng. Đại diện các quyền lợi của người tiêu dùng tham gia trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ là rất cần thiết để bảo đảm rằng các nhu cầu của cá nhân sẽ được xem xét, chú trọng.
- Tích cực thúc đẩy việc áp dụng trên toàn cầu những nguyên tắc đã được quốc tế công nhận trong việc xây dựng tiêu chuẩn. Một mục tiêu quan trọng của tiêu chuẩn hoá quốc tế là xác định những yêu cầu để sản phẩm và dịch vụ có thể được chấp nhận ở tất cả các thị trường trên toàn cầu.
- Khuyến khích cách tiếp cận của chính phủ sử dụng các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện làm các công cụ phục vụ cho nhu cầu quản lý. Thương mại toàn cầu sẽ thuận lợi hơn nếu chính phủ sử dụng các cách tiếp cận chung để biến tiêu chuẩn trở thành các công cụ phục vụ nhu cầu quản lý của mình.
- Ngăn ngừa việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại đối với sản phẩm và dịch vụ của Hoa Kỳ.
- Tăng cường những chương trình ở tầm quốc tế để nâng cao sự hiểu biết sao cho các tiêu chuẩn chuyên ngành tự nguyện, định hướng thị trường và dựa trên cơ sở tự nguyện có thể mang lại lợi ích cho hoạt động buôn bán kinh doanh, cho lợi ích người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung.
- Tiếp tục cải thiện quy trình và công cụ để xây dựng, truyền bá một cách có hiệu quả và kịp thời các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện tới mọi đối tượng quan tâm. Những năm gần đây, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã có những bước tiến bộ đáng kể trong việc bảo đảm tính kịp thời, thích ứng và tương thích của tiêu chuẩn dựa trên việc sử dụng công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn trực tuyến và phổ biến tiêu chuẩn bằng con đường điện tử hoá.
- Thúc đẩy sự hợp tác và gắn kết chặt chẽ trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Điều này được đặt ra để ngăn ngừa sự chồng chéo và đôi khi tạo ra các tiêu chuẩn mâu thuẫn nhau.
- Coi việc giáo dục tiêu chuẩn là một ưu tiên quan trọng trong khu vực nghiên cứu, khu vực công và tư nhân của Hoa Kỳ. Chương trình giáo dục bao gồm cả việc xây dựng và sử dụng tiêu chuẩn cần thiết phải trở thành nội dung hoạt động ưu tiên của Hoa Kỳ. Những chương trình này cần hướng vào nhu cầu của các nhà lãnh đạo, cơ quan hành pháp cấp cao – những người tham gia xây dựng tiêu chuẩn; sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm.
- Duy trì các mô hình cấp vốn một cách bền vững, ổn định cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Sẽ không có một phương pháp cấp vốn duy nhất cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Hệ thống tiêu chuẩn hoá nào đáp ứng được nhu cầu của khu vực tư nhân và công cộng thì người muốn được hưởng thụ kết quả từ hệ thống tiêu chuẩn hoá sẽ là người đảm bảo cung cấp kinh phí cho hệ thống đó.
SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 4/2007

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ MỘT CHẾ ĐỊNH QUAN TRỌNG TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2006

HƯƠNG LAN
Ngày nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm thực hiện các quyền đó ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế cũng như đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thương mại; khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm. Hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.
Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Đây là một bước tiến dài trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Có thể nói, với việc thông qua một đạo luật thống nhất về sở hữu trí tuệ, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã xích lại gần hơn với thế giới.
Một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Luật dành riêng một phần gồm 3 chương, 22 điều quy định về vấn đề này, bao gồm các nội dung về quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý về hành chính, dân sự, hình sự hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ…. Trong đó có một số điểm đáng chú ý sau:
1. Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định rõ các quyền mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được phép tiến hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời chỉ rõ được vai trò chủ động của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.
Cụ thể, khoản 1, Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng biện pháp công nghệ, nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; khởi kiện ra toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Điểm b, khoản 1, Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, hành vi không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó, bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bị xử phạt hành chính. Quy định này đã gián tiếp khẳng định rõ hơn trong Luật quyền của chủ thể, quyền sở hữu trí tuệ trong việc yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm.
2. Các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định cụ thể và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng trong Luật Sở hữu trí tuệ, giúp các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng như phối hợp với nhau tốt hơn trong quá trình xử lý hành vi vi phạm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền sở hữu.
Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án, trong trường hợp cần thiết, Toà án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.
3. Luật Sở hữu trí tuệ đã đề cao khía cạnh dân sự của quyền sở hữu trí tuệ thông qua các quy định về xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự.
Các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ xử lý tại toà dân sự sẽ được xem xét đầy đủ làm cho việc xử lý vi phạm đúng đắn, hiệu quả. Đây cũng là sự khẳng định rõ hơn của pháp luật, coi quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự (quyền nhân thân, quyền tài sản) mà việc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu toà dân sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình bị xâm phạm là một quyền hết sức quan trọng, đồng thời là một công cụ hữu hiệu giúp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Làm rõ về vấn đề này, Luật Sở hữu trí tuệ dành 9 điều (từ Điều 202 đến Điều 209), trong đó gồm các nội dung khá chi tiết về các biện pháp dân sự, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, các biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Đáng chú ý là quy định về nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra trong trường hợp xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự. Cụ thể, thiệt hại được xác định bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất được xác định trên cơ sở xác định các tổn thất thực tế, nếu không xác định được thì mức bồi thường thiệt hại do toà án ấn định, nhưng không quá năm trăm triệu đồng. Thiệt hại về tinh thần có thể được bồi thường từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.
Quy định về xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự trong Luật Sở hữu trí tuệ đã nâng cao vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp, giảm bớt sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các vấn đề mang tính dân sự, tránh việc hành chính hoá các quan hệ dân sự.
4. Về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ đã phân định rõ ràng những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng quy định tại Điều 211.
Cụ thể, các hành vi xâm phạm quyền sở hứu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính: Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hứu trí tuệ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
Một điểm quan trọng ở nội dung xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính trong Luật Sở hữu trí tuệ là quy định về mức tiền phạt đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khoản 4, Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ quy định mức tiền phạt theo giá trị hàng hoá vi phạm, được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá đó. Quy định này đã khắc phục được một hạn chế vẫn thường xảy ra trong xử lý vi phạm hành chính là pháp luật ấn định một khung tiền phạt chung cho một loại hành vi vi phạm nào đó, mà trong nhiều trường hợp, vi phạm hành chính thuộc loại này đem lại lợi nhuận cho chủ thể vi phạm hoặc gây ra thiệt hại, tổn thất cho nhà nước, xã hội lớn hơn rất nhiều lần so với mức tiền phạt được quy định, dẫn đến mục đích của việc xử lý vi phạm hành chính không phát huy được tác dụng.
Thay lời kết: Có thể nói, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 được xem là một bước tiến quan trọng trong ngành lập pháp nước ta, góp phần xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn bảo hộ và các thủ tục bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời, hiệu quả, công bằng và ít phiền hà, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, cũng như hướng đến việc gia nhập WTO trong một tương lai gần.
SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP SỐ THÁNG 11/2006

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH QUA PHÁP LUẬT EU

THS. NGUYỄN THANH TĀM -  ĐH Luật Hà Nội
I. QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA EU VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Quy định hiện hành của EU về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu được ghi nhận trong Quy chế chuyển giao công nghệ của EU năm 2004, viết tắt là TTBER.
1. Mục đích của Quy chế
(i) TTBER nhằm mục đích xử lý mối quan hệ giữa vấn đề chuyển giao công nghệ chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp) và vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền.
(ii) TTBER cần đáp ứng hai đòi hỏi: thứ nhất, bảo đảm cạnh tranh hiệu quả; thứ hai, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch kinh doanh. Khi thực hiện những mục tiêu này, cần tính đến nhu cầu đơn giản hoá khung pháp luật và việc áp dụng pháp luật; cần loại bỏ cách tiếp cận theo kiểu liệt kê các điều khoản được hưởng sự miễn trừ; phải chỉ ra các hợp đồng được hưởng sự miễn trừ và phải cụ thể hóa các hạn chế cạnh tranh hoặc các điều khoản không được đưa vào hợp đồng.
(iii) Theo Điều 2 TTBER, Điều 81 (1) Hiệp ước EC về việc cấm các thỏa thuận nhằm ngăn cản, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh không được áp dụng đối với các hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết giữa hai nhà kinh doanh, liên quan đến sản xuất và cung ứng sản phẩm theo hợp đồng. Việc miễn trừ này áp dụng trong phạm vi theo đó hợp đồng ghi nhận các hạn chế cạnh tranh thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 81 (1) Hiệp ước EC. Sự miễn trừ này phải áp dụng với điều kiện quyền sở hữu trí tuệ của công nghệ chuyển giao chưa hết hạn bảo hộ hoặc không bị tuyên bố vô hiệu; nếu đó là bí quyết, thì bí quyết vẫn còn tính bí mật, trừ trường hợp bí quyết đã được công chúng biết đến như là một kết quả của hoạt động của bên nhận, theo đó sự miễn trừ sẽ áp dụng trong thời hạn của hợp đồng.
2. Định nghĩa hợp đồng chuyển giao công nghệ
(i) Khái niệm “chuyển giao” (“transfer”) được hiểu là công nghệ phải dịch chuyển từ nhà kinh doanh này sang nhà kinh doanh khác. Thông thường, công nghệ chuyển giao dưới dạng licence, theo đó Bên giao trao cho Bên nhận quyền sử dụng công nghệ của mình để đổi lấy tiền bản quyền. Nó cũng có thể dưới dạng “licence” thứ cấp” (“sub – licensing”), trong đó Bên giao cho phép Bên nhận trao licence cho bên thứ ba (Bên nhận thứ cấp) được khai thác công nghệ.
(ii) Theo Điều 1 Khoản 1 (b) và (f) TTBER, “công nghệ” nghĩa là sáng chế, ứng dụng sáng chế, mẫu hữu ích, ứng dụng mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí các sản phẩm bán dẫn, các giấy chứng nhận bảo hộ bổ sung đối với sản phẩm y học hoặc các sản phẩm khác có thể là đối tượng của giấy chứng nhận bảo hộ bổ sung, giấy chứng nhận giống cây trồng, bí quyết (know – how), bản quyền phần mềm. Như vậy, khái niệm “công nghệ” theo TTBER khá rộng và bao hàm các đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn hiệu hàng hóa.
(iii) “Hợp đồng chuyển giao công nghệ” là hợp đồng licence, hoặc hợp đồng chuyển giao hỗn hợp các đối tượng nói trên, kể cả hợp đồng ghi nhận các quy định về bán và mua sản phẩm, hoặc liên quan đến việc chuyển giao, chuyển nhượng các quyền sở hữu trí tuệ, trong đó các quy định này không phải là đối tượng của một số hợp đồng, và chúng liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm theo hợp đồng.
(iv) Cũng theo Điều 1 Khoản 1 (b) TTBER, việc “chuyển nhượng” hoặc kết hợp các đối tượng nói trên, sẽ được coi là các hợp đồng chuyển giao công nghệ, và phụ thuộc vào chất lượng của các sản phẩm được sản xuất hoặc làm bằng nhiều thao tác có sử dụng công nghệ.
(v) Theo quy định của TTBER, các hợp đồng licence có đối tượng là nhãn hiệu hàng hoá không được coi là hợp đồng chuyển giao công nghệ.
TTBER chỉ điều chỉnh việc chuyển giao các loại quyền sở hữu trí tuệ khác, như nhãn hiệu hàng hoá và quyền tác giả (không phải là bản quyền phần mềm), trong chừng mực các quyền sở hữu trí tuệ này liên quan trực tiếp đến việc khai thác công nghệ được chuyển giao, và không cấu thành đối tượng số một của hợp đồng. Điều kiện này nói lên rằng: các hợp đồng chuyển giao các loại quyền sở hữu trí tuệ khác chỉ được áp dụng sự miễn trừ, trong chừng mực theo đó các quyền sở hữu trí tuệ này tạo ra cho Bên nhận khả năng khai thác tốt hơn công nghệ được chuyển giao. Tuy nhiên, trong trường hợp giá trị của công nghệ được chuyển giao cho Bên nhận bị giới hạn, do Bên nhận đã sử dụng một công nghệ giống hệt hoặc tương tự, và đối tượng chính của hợp đồng là licence nhãn hiệu hàng hóa, thì không thuộc phạm vi áp dụng của TTBER.
Theo quan điểm của Ủy ban Châu Âu, việc chuyển giao nhãn hiệu hàng hóa thường diễn ra trong bối cảnh phân phối và bán lại hàng hóa, dịch vụ, và nói chung là nó giống hợp đồng phân phối hơn là hợp đồng chuyển giao công nghệ. Nếu một hợp đồng licence nhãn hiệu hàng hóa liên quan trực tiếp đến việc sử dụng, bán lại hàng hóa, dịch vụ, và không cấu thành đối tượng số một của hợp đồng, thì hợp đồng này được điều chỉnh bằng Quy chế (EC) số 2790/1999 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC đối với các loại hợp đồng và có phối hợp theo chiều dọc.
3. Phạm vi điều chỉnh của Quy chế
(i) Quy chế này không điều chỉnh các hợp đồng licence có đối tượng là nhãn hiệu hàng hóa.
(ii) Quy chế này chỉ điều chỉnh các hợp đồng licence theo đó Bên giao cho phép Bên nhận khai thác công nghệ được chuyển giao nhằm mục đích sản xuất hoặc cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ.
Tuy nhiên quy chế này không điều chỉnh các hợp đồng licence có mục đích:
- Tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ được chuyển giao;
- Thiết lập các liên kết sáng chế, chẳng hạn: hợp đồng quy định việc liên kết các chuyển giao nhằm mục đích chuyển giao cả gói các quyền sở hữu trí tuệ cho bên thứ ba. Loại hợp đồng này được gọi là “hợp đồng liên kết công nghệ”; hợp đồng trong đó Bên nhận được bên giao cho phép cấp licence cho bên thứ ba (Bên nhận phụ) để khai thác công nghệ của Bên giao; hợp đồng licence, bao gồm cả các hợp đồng licence chéo, có mục đích bảo đảm rằng một bên không dẫn chiếu quyền sở hữu công nghiệp của mình để ngăn cản bên khác khai thác chính công nghệ của mình (“hợp đồng không đòi hỏi”- “non-assertion agreements”).
(iii) Quy chế này chỉ điều chỉnh các hợp đồng ký kết giữa một Bên giao và một Bên nhận, kể cả khi các điều kiện hợp đồng được quy định cho hơn một cấp thương mại (đa cấp). Chẳng hạn: hợp đồng yêu cầu Bên nhận thiết lập một hệ thống phân phối đặc biệt, và cụ thể hóa các nghĩa vụ của Bên nhận, theo đó Bên nhận phải, hoặc được phép, bắt buộc người bán lại sản phẩm phải sản xuất theo licence. Tuy nhiên, các điều kiện và nghĩa vụ nói trên phải phù hợp với quy tắc cạnh tranh áp dụng cho các hợp đồng cung ứng và phân phối. Các hợp đồng cung ứng và phân phối được ký kết giữa một Bên nhận và các bên mua không được miễn trừ theo Quy chế này. Các hợp đồng này chỉ được miễn trừ, nếu chúng được điều chỉnh bằng một quy chế về áp dụng điều khoản miễn trừ cho các hợp đồng cung ứng và phân phối.
(iv) Mối quan hệ với các quy chế miễn trừ khác.
TTBER điều chỉnh các hợp đồng giữa hai bên liên quan đến việc chuyển giao công nghệ vì lý do sản xuất hoặc cung ứng sản phẩm theo hợp đồng. Tuy nhiên, công nghệ
(bao hàm các đối tượng sở hữu công nghiệp) cũng có thể là một yếu tố của các loại hợp
đồng khác. Do đó, cần phải thấy được sự giao thoa giữa TTBER và các quy chế miễn trừ khác. Đó là:
- Quy chế (EC) số 2658/2000 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các loại hợp đồng đặc biệt;
- Quy chế (EC) số 2659/2000 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các loại hợp đồng nghiên cứu và phát triển;
- Quy chế (EC) số 2690/2000 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các loại hợp đồng và thủ đoạn có phối hợp theo chiều dọc.
Quy chế (EC) số 2658/2000 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các loại hợp đồng đặc biệt điều chỉnh các hợp đồng sản xuất liên kết, chẳng hạn như hợp đồng liên doanh. Quy chế có các quy định về chuyển nhượng hoặc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ, trong đó các quyền sở hữu trí tuệ không cấu thành đối tượng số một của hợp đồng, nhưng liên quan trực tiếp và cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng.
Trong trường hợp các nhà kinh doanh thiết lập một liên doanh sản xuất và cho phép liên doanh khai thác công nghệ để sản xuất sản phẩm, thì việc chuyển giao này thuộc sự điều chỉnh của Quy chế (EC) số 2658/2000, chứ không thuộc sự điều chỉnh của TTBER. Tuy nhiên, trong trường hợp liên doanh cam kết chuyển giao công nghệ cho bên thứ ba, thì hoạt động này không có mối liên hệ với hoạt động sản xuất của liên doanh, do đó không phụ thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế (EC) số 2658/2000.
Quy chế (EC) số 2659/2000 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các loại hợp đồng nghiên cứu và phát triển điều chỉnh các hợp đồng trong đó hai hoặc nhiều nhà kinh doanh đồng ý liên kết tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), và đồng ý liên kết khai thác các kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Quy chế (EC) số 2790/1999 về áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC điều chỉnh các hợp đồng và thủ đoạn có phối hợp theo chiều dọc, các hợp đồng ký kết giữa hai hoặc nhiều nhà kinh doanh, trong đó mỗi nhà kinh doanh hoạt động ở các cấp thương mại khác nhau của dây chuyền sản xuất và phân phối, và các bên được phép mua, bán lại một số hàng hóa, dịch vụ. Quy chế này cũng điều chỉnh các hợp đồng cung ứng và phân phối.
TTBER và Quy chế (EC) số 2790/1999 có liên quan chặt chẽ với nhau. Hợp đồng giữa Bên giao và Bên nhận là đối tượng của TTBER, trong khi đó hợp đồng giữa Bên nhận và người mua là đối tượng của Quy chế (EC) số 2790/1999.
4. Hướng dẫn áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các hợp đồng chuyển giao công nghệ
(i) Chỉ áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC cho các hợp đồng chắc chắn thoả mãn bốn điều kiện của điều khoản này. Thứ nhất, góp phần vào phát triển sản xuất hoặc phân phối sản phẩm hoặc khuyến khích tiến bộ kỹ thuật hoặc kinh tế; thứ hai, dành cho người tiêu dùng một sự phân chia công bằng các lợi ích đạt được; thứ ba, không áp đặt các hạn chế không cần thiết cho việc đạt tới các mục tiêu này; thứ tư, không tạo ra cho nhà kinh doanh khả năng loại trừ cạnh tranh liên quan đến một phần quan trọng của sản phẩm.
(ii) Yêu cầu về ngưỡng thị phần đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Đối với các hợp đồng giữa các đối thủ cạnh tranh, cần thoả mãn yêu cầu theo đó, tổng thị phần của các bên không vượt quá 20% và không chứa đựng các hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng (“hardcore restrictions”); và điều này phải có hệ quả là phát triển sản xuất hoặc phân phối và cho phép người tiêu dùng có được một sự phân chia lợi ích công bằng.
Đối với các hợp đồng giữa các nhà kinh doanh không phải là đối thủ cạnh tranh, cần thoả mãn yêu cầu như trên, thị phần cá biệt của mỗi bên không vượt quá 30%. Theo Điều 1 khoản 1 (h) TTBER, “các đối thủ cạnh tranh” nghĩa là các nhà kinh doanh cạnh tranh trên thị trường công nghệ liên quan và/hoặc thị trường sản phẩm liên quan.
Các nhà kinh doanh cạnh tranh trên “thị trường công nghệ liên quan” nghĩa là các nhà kinh doanh chuyển giao công nghệ cạnh tranh (đối thủ cạnh tranh hiện tại trên thị trường công nghệ). TTBER phân biệt giữa các đối thủ cạnh tranh và các nhà kinh doanh không phải là đối thủ cạnh tranh vì lý do sau đây: nói chung, hợp đồng giữa các đối thủ cạnh tranh đặt ra một rủi ro lớn hơn đối với cạnh tranh trên thị trường so với hợp đồng giữa các nhà kinh doanh không phải là đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh sử dụng cùng một công nghệ (cạnh tranh intra – technology) tạo ra một sự bổ sung quan trọng cho sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh sử dụng các công nghệ mang tính cạnh tranh (cạnh tranh inter- technology). Chẳng hạn: sự cạnh tranh intra – technology có thể dẫn tới việc giảm giá sản phẩm chứa đựng công nghệ liên quan, nó không chỉ sinh ra lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho người tiêu dùng sản phẩm này mà còn thúc đẩy sự cạnh tranh tiếp theo giữa các nhà kinh doanh sử dụng các công nghệ mang tính cạnh tranh. Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, cũng phải tính tới tình huống các Bên nhận thực hiện hành vi bán sản phẩm của chính mình, chứ không bán lại sản phẩm do nhà kinh doanh khác cung ứng. Do đó, sự khác biệt về chất lượng sản phẩm dựa trên sự cạnh tranh giữa các Bên nhận là lớn hơn so với trường hợp các thỏa thuận về bán lại sản phẩm. Theo Điều 8 Khoản 2 TTBER, nếu thị phần ban đầu không vượt quá ngưỡng 20% và 30%, nhưng tăng dần và vượt quá các ngưỡng nói trên nhưng không quá 25% và 35%, thì hợp đồng sẽ được tiếp tục áp dụng sự miễn trừ trong thời hạn 2 năm liên tục, tiếp theo năm mà ngưỡng 20% hoặc 30% bị vượt quá lần đầu tiên.
Theo Điều 8 Khoản 3 TTBER, nếu thị phần ban đầu vượt quá ngưỡng 20% và 30%, nhưng không quá 25% và 35%, thì hợp đồng sẽ được tiếp tục áp dụng sự miễn trừ trong thời hạn 1 năm, tiếp theo năm mà mức 25% hoặc 35% bị vượt quá lần đầu tiên.
TTBER quy định về ngưỡng thị phần nhằm mục đích xác định “ngưỡng an toàn” (“safe habour”) cho các bên trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, để các bên không vi phạm luật cạnh tranh.
(iii) Điều 81 (3) Hiệp ước EC không áp dụng đối với các hợp đồng chứa đựng hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng (“hardcore restrictions”), bất kể thị phần của các nhà kinh doanh liên quan là bao nhiêu. Điều 4 TTBER quy định về các hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng.
Trong trường hợp một bên của hợp đồng là đối thủ cạnh tranh, sự miễn trừ không được áp dụng cho hợp đồng, nếu hợp đồng này, trực tiếp hoặc gián tiếp, có một yếu tố hoặc kết hợp nhiều yếu tố dưới sự kiểm soát của các bên, có mục tiêu sau đây:
(a) Hạn chế khả năng của một bên trong việc ấn định giá bán sản phẩm cho các bên thứ ba;
(b) Giới hạn sản lượng hoặc bán hàng, trừ các giới hạn sản lượng của sản phẩm theo hợp đồng được áp đặt cho Bên nhận theo một hợp đồng không mang tính có đi có lại;
(c) Phân chia thị trường hoặc khách hàng, trừ trường hợp:
- Nghĩa vụ của Bên nhận, theo một hợp đồng không mang tính có đi có lại, phải khai thác công nghệ được chuyển giao trong một hoặc nhiều lĩnh vực sử dụng mang tính kỹ thuật, một hoặc nhiều thị trường sản phẩm;
- Yêu cầu theo đó Bên nhận sản xuất hoặc cung ứng các sản phẩm theo hợp đồng nhằm mục đích sử dụng cá nhân, bao gồm việc bán sản phẩm theo hợp đồng, như phụ tùng của chính sản phẩm của mình;
(d) Hạn chế khả năng của Bên nhận trong việc khai thác công nghệ của chính mình, hoặc hạn chế khả năng của các bên của hợp đồng trong việc tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, trừ khi hạn chế này là cần thiết để ngăn cản việc tiết lộ cho các bên thứ ba bí quyết được chuyển giao.
Việc ấn định giá giữa các đối thủ cạnh tranh cấu thành một sự hạn chế cạnh tranh về đối tượng. Chẳng hạn, việc ấn định giá có thể dưới dạng một hợp đồng trực tiếp quy định giá chính xác phải trả, hoặc bảng giá với sự giảm giá tối đa được phép. Nó cũng có thể được thực hiện một cách gián tiếp bằng việc áp dụng các biện pháp phản khuyến khích để làm thay đổi một mức giá đã thoả thuận, chẳng hạn: quy định rằng tỉ lệ phần trăm tiền bản quyền sẽ tăng nếu giá sản phẩm bị giảm xuống dưới một mức nào đó.
Về sự giới hạn việc bán hàng và sản lượng: nếu các đối thủ cạnh tranh đồng ý giới hạn sản lượng của nhau, thì hợp đồng này không khác gì một cartel. Tương tự như vậy đối với các hợp đồng trong đó quy định giảm sự khuyến khích các bên mở rộng sản lượng, chẳng hạn: áp đặt cho một bên phải thanh toán cho bên kia, nếu sản lượng vượt quá một mức nào đó.
Về vấn đề phân chia thị trường và khách hàng: chẳng hạn như các thoả thuận chuyển giao chéo, trong đó mỗi bên được trao một quyền độc quyền trong việc khai thác công nghệ được chuyển giao trên một lãnh thổ đặc biệt. Chúng có thể dưới dạng một licence không mang tính có đi có lại, trong đó Bên nhận được trao một lãnh thổ độc quyền, trong khi đó Bên giao giữ lại một lãnh thổ khác cho mình. Thậm chí trong trường hợp không có sự hạn chế cạnh tranh rõ ràng hoặc hiểu ngầm nào bị áp đặt cho Bên giao, thì nó cũng được coi là hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng, nếu hợp đồng licence hạn chế Bên nhận trong việc bán hàng ở đâu và cho ai.
Trong trường hợp một bên của hợp đồng không phải là đối thủ cạnh tranh, sự miễn trừ không được áp dụng cho hợp đồng, nếu hợp đồng này, trực tiếp hoặc gián tiếp, có một yếu tố hoặc kết hợp nhiều yếu tố dưới sự kiểm soát của các bên, có mục tiêu sau đây:
(a) Hạn chế khả năng của một bên trong việc ấn định giá bán sản phẩm cho các bên thứ ba, không ảnh hưởng tới khả năng áp đặt một giá bán tối đa hoặc đặt trước một giá bán, với điều kiện nó không phải là một giá bán cố định hoặc tối thiểu, như là hệ quả của sức ép hoặc khuyến khích từ bất kỳ bên nào;
(b) Giới hạn lãnh thổ hoặc khách hàng mà Bên nhận được phép bán sản phẩm theo hợp đồng, trừ trường hợp:
- Hạn chế việc bán hàng vào lãnh thổ độc quyền hoặc bán hàng sản phẩm cho một nhóm khách hàng độc quyền của Bên giao;
- Hạn chế việc bán hàng tích cực (“active sales”) vào lãnh thổ độc quyền hoặc bán hàng cho một nhóm khách hàng độc quyền mà Bên giao đã ấn định cho Bên nhận khác;
- Yêu cầu theo đó Bên nhận phải sản xuất hoặc cung ứng các sản phẩm theo hợp đồng chỉ nhằm mục đích sử dụng cá nhân, bao gồm việc bán sản phẩm theo hợp đồng, như phụ tùng của chính sản phẩm của mình;
- Hạn chế việc một Bên nhận, kinh doanh ở tất cả các cấp bán hàng, được bán hàng cho người sử dụng cuối cùng;
- Hạn chế việc các thành viên của một hệ thống phân phối chọn lọc được bán hàng cho nhà phân phối không được cấp phép;
(c) Hạn chế việc một Bên nhận, là một thành viên của một hệ thống phân phối chọn lọc và kinh doanh ở cấp bán lẻ, được bán hàng tích cực hay thụ động cho người sử dụng cuối cùng, không ảnh hưởng đến khả năng cấm một thành viên của hệ thống được kinh doanh ở một số cơ sở không được cấp phép.
Các hạn chế được nêu trong Điều 4 TTBER bị coi là các hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng. Các hạn chế này rõ ràng là không cần thiết cho việc phát triển sản xuất hoặc phân phối. Do đó, Điều 81 (3) Hiệp ước EC không áp dụng đối với các hợp đồng chứa đựng các hạn chế nêu trên.
(iv) Điều 5 TTBER quy định về các điều kiện để một hợp đồng được áp dụng sự miễn trừ:
- Sự miễn trừ không được áp dụng cho bất kỳ nghĩa vụ nào, được quy định trong hợp đồng, được liệt kê dưới đây:
(a) Bất kỳ nghĩa vụ trực tiếp hoặc gián tiếp nào của Bên nhận trong việc cấp licence độc quyền cho Bên giao hoặc cho bên thứ ba do Bên giao chỉ định, mà licence này liên quan đến cải tiến quan trọng hoặc sự ứng dụng mới của công nghệ đựơc chuyển giao (nghĩa vụ cấp licence ngược, hay nghĩa vụ grant – back);
(b) Bất kỳ nghĩa vụ trực tiếp hoặc gián tiếp nào của Bên nhận trong công việc chuyển nhượng, toàn bộ hoặc một phần, cho Bên giao hoặc bên thứ ba do Bên giao chỉ định, các quyền được cải tiến hoặc ứng dụng mới công nghệ được chuyển giao;
(c) Bất kỳ nghĩa vụ trực tiếp hoặc gián tiếp nào, theo đó không thừa nhận giá trị hoặc phản đối tính bí mật hoặc tính quan trọng về nội dung của quyền sở hữu trí tuệ mà Bên giao nắm giữ trên thị trường chung, không ảnh hưởng tới khả năng chấm dứt hợp đồng, trong trường hợp Bên nhận không thừa nhận giá trị phản đối tính bí mật và tính quan trọng về nội dung của quyền sở hữu trí tuệ được chuyển giao.
Mục đích của các quy định nói trên là làm vô hiệu hoá việc áp dụng sự miễn trừ đối với các hợp đồng, mà chúng có thể làm giảm sự khuyến khích sáng tạo của Bên nhận. Nói cách khác, Điều 5 TTBER nhằm bảo vệ sự sáng tạo của Bên nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Sự miễn trừ không được áp dụng cho bất kỳ nghĩa vụ trực tiếp hoặc gián tiếp nào, mà nó giới hạn sản lượng của các sản phẩm theo hợp đồng bởi Bên nhận trong một hợp đồng không mang tính có đi có lại giữa các đối thủ cạnh tranh.
- Trong trường hợp các bên của hợp đồng không phải là các đối thủ cạnh tranh, sự miễn trừ không được áp dụng cho bất kỳ nghĩa vụ trực tiếp nào, mà nó giới hạn khả năng của Bên nhận trong việc khai thác chính công nghệ của mình, hoặc giới hạn khả năng của các bên của hợp đồng trong việc thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển, trừ khi hạn chế này là cần thiết để ngăn cản việc tiết lộ cho các bên thứ ba bí quyết được chuyển giao.
Điều 4 và Điều 5 TTBER quy định danh sách các hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng và các điều kiện áp dụng miễn trừ nhằm mục đích bảo đảm rằng: các hợp đồng, mặc dù được áp dụng sự miễn trừ, cũng không làm giảm sự khuyến khích sáng tạo, không làm chậm trễ việc phổ biến công nghệ, không hạn chế quá mức sự cạnh tranh giữa Bên giao và Bên nhận, hoặc giữa các Bên nhận. Việc TTBER quy định kết hợp về ngưỡng thị phần, về việc không miễn trừ đối với các hợp đồng chứa đựng các hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng, và về các điều kiện áp dụng miễn trừ, nói chung sẽ bảo đảm rằng: kể cả trong các trường hợp các hợp đồng được áp dụng điều khoản miễn trừ, thì điều đó cũng không làm mất đi sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh.
(v) Để đạt được lợi ích và mục tiêu của chuyển giao công nghệ, Quy chế này cũng được áp dụng cho các điều khoản không phải là đối tượng số một của hợp đồng, nhưng liên quan trực tiếp tới việc áp dụng công nghệ được chuyển giao.
(vi) Nếu một hợp đồng licence được miễn trừ áp dụng quy định cấm hạn chế cạnh tranh theo Điều 81 Hiệp ước EC, thì điều đó không có nghĩa là hợp đồng này được miễn trừ áp dụng quy định cấm lạm dụng vụ trí ưu thế theo Điều 82 Hiệp ước EC.
5. Không áp dụng điều khoản miễn trừ và không áp dụng Quy chế
(i) Theo Điều 6 Khoản 1 TTBER, trong các trường hợp đặc biệt, khi mà hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế nhưng trái với Điều 81 (3) Hiệp ước EC, thì Uỷ ban Châu Âu được phép không áp dụng sự miễn trừ. Đặc biệt là các trường hợp sau đây:
(a) Hạn chế các bên thứ ba tiếp cận thị trường, chẳng hạn: bằng tác động tổng hợp của hệ thống song song của các hợp đồng hạn chế cạnh tranh tương tự, theo đó cấm Bên nhận sử dụng công nghệ của các bên thứ ba;
(b) Hạn chế Bên nhận tương lai tiếp cận thị trường, chẳng hạn: bằng tác động tổng hợp của hệ thống song song của các hợp đồng hạn chế cạnh tranh tương tự, theo đó cấm Bên giao chuyển giao cho các Bên nhận khác;
(c) Các bên không khai thác công nghệ được chuyển giao mà không có bất cứ một lý do khách quan nào.
(ii) Theo Điều 6 Khoản 2 TTBER, các cơ quan có thẩm quyền của các nước thành viên được phép không áp dụng điều khoản miễn trừ cho các hợp đồng trái với Điều 81 (3) Hiệp ước EC, trong trường hợp tác động của các hợp đồng này diễn ra trên lãnh thổ của một nước thành viên, hoặc một phần của lãnh thổ này, mà nó có tất cả đặc trưng của một thị trường riêng biệt về địa lý. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng: việc thực hiện thẩm quyền này không làm tổn hại tới việc áp dụng thống nhất các quy tắc cạnh tranh trên phạm vi thị trường chung của EU hoặc không làm tổn hại tới hiệu lực đầy đủ của các biện pháp thực thi các quy tắc cạnh tranh.
(iii) Theo Điều 7 Khoản 1 TTBER Ủy ban Châu Âu được phép tuyên bố rằng; nếu hệ thống song song của các hợp đồng chuyển giao công nghệ tương tự chiếm trên 50% thị trường liên quan, thì Quy chế này sẽ không áp dụng đối với các hợp đồng chứa đựng các hạn chế đặc biệt liên quan đến thị trường này. Như vậy, Ủy ban Châu Âu đã khôi phục sự áp dụng đầy đủ Điều 81 Hiệp ước EC đối với các hợp đồng này.
1.6. Thời hạn có hiệu lực của Quy chế
Quy chế này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/05/2004 và hết hiệu lực ngày 30/04/2014.
II. NHỮNG KINH NGHIỆM TỪ PHÁP LUẬT EU CHO VIỆC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1. Quy chế chuyển giao công nghệ của EU năm 2004 nhằm mục đích xử lý mối quan hệ giữa vấn đề chuyển giao công nghệ (bao hàm chuyển giao sở hữu công nghiệp) vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền. Nó phản ánh thực tiễn quan hệ sở hữu công nghiệp và cạnh tranh ở trình độ rất cao. Đây là kết quả của hơn 40 năm hội nhập kinh tế khu vực ở Tây Âu và sự phát triển của pháp luật EU về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.
Trong khi đó, ở nước ta hiện nay, hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp còn rất đơn điệu và lẻ tẻ. Có thể nói rằng chưa có thị trường khoa học – công nghệ ở nước ta. Thực tiễn nói trên được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật Việt Nam về sở hữu công nghiệp và cạnh tranh. Còn trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật Việt Nam mới chỉ quan tâm tới việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chưa tập trung nhiều vào vấn đề chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và cạnh tranh liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản nào tương tự như TTBER của EU.
Luật cạnh tranh vừa được Quốc Hội thông qua, và khi có các hoạt động trên thị trường sở hữu công nghiệp, thì lúc đó mới xuất hiện nhu cầu xử lý mối quan hệ giữa vấn đề chuyển giao công nghệ (bao hàm chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp) và vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền. TTBER của EU sẽ là một trong những kinh nghiệm của thế giới để Việt Nam có thể tham khảo.
2. Theo kinh nghiệm lập pháp của EU, quan hệ hợp đồng liên quan đến chuyển giao công nghệ không chỉ được điều chỉnh bằng TTBER, mà còn được điều chỉnh bằng nhiều Quy chế khác. Điều này tạo thuận lợi cho việc xử lý chồng chéo trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng liên quan đến chuyển giao công nghệ.
3. Về định nghĩa về hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Theo TTBER, khái niệm “chuyển giao” (“transfer”) được hiểu là licence, theo đó Bên giao trao cho Bên nhận quyền sử dụng công nghệ của mình để đổi lấy tiền bản quyền. Quan niệm này của pháp luật EU cũng giống như các nước công nghiệp phát triển khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, v..v.. Theo pháp luật Hoa Kỳ, tất cả các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ đều được gọi là hợp đồng licence (có người dịch là hợp đồng cấp phép)1, nghĩa là sự cho phép của Bên giao cho Bên nhận được sử dụng những tri thức nhất định, trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận. Sự cho phép này thực chất là cho thuê công nghệ, chứ không phải là chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, các nước đang phát triển hiểu về chuyển giao công nghệ theo nghĩa rộng nhất, nhấn mạnh yếu tố chuyển giao, bao hàm việc trang bị cho Bên nhận khả năng điều hành một chu trình sản xuất kinh doanh một sản phẩm, dịch vụ nhất định.
TTBER định nghĩa khái niệm “công nghệ” khá rộng nhưng không bao hàm nhãn hiệu hàng hóa. Như vậy, “hợp đồng chuyển giao công nghệ” là hợp đồng licence công nghệ, kể cả hợp đồng ghi nhận các quy định về bán và mua sản phẩm. Tuy nhiên, các hợp đồng licence có đối tượng là nhãn hiệu hàng hóa không được coi là hợp đồng chuyển giao công nghệ. Bởi vì, theo quan điểm của Ủy ban Châu Âu, việc chuyển giao nhãn hiệu hàng hóa thường diễn ra trong bối cảnh phân phối và bán lại hàng hóa, dịch vụ, do đó nó giống hợp đồng phân phối hơn là hợp đồng chuyển giao công nghệ. Còn theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, hợp đồng licence nhãn hiệu hàng hóa được coi là hợp đồng chuyển giao công nghệ, và được điều chỉnh, cùng với các hợp đồng licence khác, bằng Nghị định số 45/NĐ-CP ngày 01/07/1998 về chuyển giao công nghệ.
4. Phạm vi điều chỉnh của TTBER rất rõ ràng, không điều chỉnh chồng chéo các loại quan hệ hợp đồng liên quan tới chuyển giao công nghệ.
5. Việc Quy chế quy định kết hợp về ngưỡng thị phần, về việc không miễn trừ đối với các hợp đồng chứa đựng các hạn chế mang tính phi cạnh tranh nghiêm trọng, và về các điều kiện áp dụng miễn trừ, nói chung sẽ bảo đảm rằng, kể cả trong trường hợp các hợp đồng được áp dụng điều khoản miễn trừ, thì điều đó cũng không làm mất đi sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh. Các quy định trong Quy chế chuyển giao công nghệ hiện hành của EU cho thấy pháp luật có thể bảo vệ hữu hiệu sự cạnh tranh lành mạnh giữa Bên giao và Bên nhận, hoặc giữa các Bên nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp nói riêng.
Trong khi đó, Điều 13 Khoản 1-7 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998, khi quy định cấm ghi nhận các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng licence, chỉ tập trung vào bảo vệ lợi ích của Bên nhận, mà thông thường là các doanh nghiệp Việt Nam. Quy định trên dường như chưa quan tâm đến tình huống theo đó các doanh nghiệp Việt Nam là Bên giao trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, hoặc cả Bên giao và Bên nhận đều là các doanh nghiệp Việt Nam. Trong những trường hợp này, pháp luật dường như chưa bảo vệ được sự cạnh tranh lành mạnh của cả Bên giao và Bên nhận trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.
6. Quy chế của EU có thời hạn hiệu lực trong 10 năm (2004 – 2014). Thời hạn này phù hợp với sự phát triển và thay đổi về khoa học – công nghệ, về quan hệ thương mại liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp. Trong khi đó, Nghị định số 45/1998/NĐ/CP ngày 01-07-1998 có thời hạn hiệu lực không xác định, nghĩa là được áp dụng trong một thời gian dài, do đó có thể không theo kịp sự thay đổi của chính sách và mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn.
1 Carolyn hot chokiss, Luật quốc tế về doanh nghiệp, tr. 27 (sách dịch), Nxb Thống kê, 1996.
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code