Showing posts with label TTDS - To tung nuoc ngoai. Show all posts
Showing posts with label TTDS - To tung nuoc ngoai. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI: VỤ SIÊU MẪU NGỌC THÚY BỊ KIỆN, MUỐN THI HÀNH PHẢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN

NGUYÊN TẤN
Vụ việc ông Nguyễn Đức An, Việt kiều Mỹ mới đây kiện vợ cũ của mình – người mẫu Ngọc Thuý – để đòi khối tài sản trị giá khoảng 288 tỉ đồng đặt ra một số vấn đề pháp lý thú vị.
Bản án của toà án Hoa Kỳ đã có phán quyết những tài sản ấy là sở hữu của ông An nhưng vì sao ông này vẫn phải kiện lại tại toà án Việt Nam? 
Phải được công nhận
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) bất kỳ một bản án hay quyết định (dân sự) của cơ quan tài phán nước ngoài muốn có hiệu lực tại Việt Nam thì phải được toà án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành.
Toà án Việt Nam sẽ tiến hành việc công nhận trong trường hợp bản án, quyết định của toà án của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP). Ngoài ra, việc công nhận cũng có thể được xem xét trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi nước đó đã ký HĐTTTP hay chưa.
Hiện nay, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký HĐTTTP. Do đó, bản án ly hôn liên quan đến tài sản tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ muốn được công nhận thì sẽ phải được xem xét trên cơ sở có đi có lại (có đi có lại, tức là coi xem đã có bản án, quyết định nào của toà án Việt Nam được Hoa Kỳ công nhận và thi hành hay chưa, nếu đã có rồi thì sẽ tiến hành việc công nhận, thi hành).
Một thẩm phán TAND TPHCM cho biết thực tế đã có một số bản án, quyết định của toà án Hoa Kỳ được công nhận và thi hành tại Việt Nam. Vì vậy, nếu ông An yêu cầu toà án Việt Nam công nhận thì có khả năng sẽ được toà án xem xét.
Vậy, tại sao lại kiện?
Tuy nhiên, để bản án, quyết định được công nhận thì còn phải đảm bảo một số nguyên tắc như không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam v.v…

Theo Điều 411, BLTTDS, vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Như vậy, phán quyết liên quan đến các tài sản là nhà đất tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ sẽ không thể được công nhận và thi hành vì những tài sản trên thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam.
Hơn nữa, theo quy định của pháp luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thế nên, nếu toà án Hoa Kỳ tuyên những tài sản ấy là sở hữu của ông Nguyễn Đức An thì bản án đó đã trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, tức là sẽ không được công nhận, thi hành.
Đây có thể là lý do buộc ông An phải khởi kiện một vụ án độc lập để yêu cầu toà án Việt Nam xác định quyền đối với những tài sản của mình tại Việt Nam. Một thẩm phán TAND TPHCM cho rằng ông An hoàn toàn có quyền khởi kiện bất kỳ lúc nào chứ không bắt buộc phải làm thủ tục công nhận và thi hành bản án xong, không được, thì mới khởi kiện.
LS Phan Trung Hoài:
Băn khoăn về thẩm quyền của toà án                                                          
Vụ việc một Việt kiều kiện đòi tài sản một siêu mẫu Việt Nam và được Tòa án nhân dân TPHCM thụ lý và giải quyết đang thu hút sự quan tâm của dư luận và những người hành nghề luật. Vụ việc này liên quan đến một lĩnh vực khá phức tạp của tư pháp quốc tế, trong đó nảy sinh vấn đề xung đột về quyền tài phán và áp dụng luật trong quan hệ tranh chấp tài sản trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Theo thông tin trên báo chí, về phía Toà án Mỹ đã công nhận nhiều tài sản trị giá 288 tỉ đồng ở Việt Nam là của ông Nguyễn Đức An-Việt kiều Mỹ trong vụ ly hôn với người mẫu Ngọc Thuý. Tuy nhiên, thực tế ông An hiện vẫn phải khởi kiện một vụ án khác tại Việt Nam để đòi lại những tài sản trên. Câu hỏi đặt ra là, bản án của Tòa án Mỹ có giá trị hiệu lực tại Việt Nam và tại sao đã có bản án rồi mà ông An vẫn phải tiến hành khởi kiện tại Tòa án Việt Nam ?
Về nguyên tắc, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài để được thi hành tại Việt Nam thì phải tiến hành thủ tục yêu cầu công nhận gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam. Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền và Tòa án có thẩm quyền sẽ tiến hành thụ lý, mở phiên họp xét đơn yêu cầu, quyết định việc công nhận cho thi hành hoặc không công nhận cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.
Đối chiếu với trường hợp nêu trên, nếu bản án của Tòa án Mỹ liên quan việc giải quyết quan hệ hôn nhân và có quyết định về tài sản chưa làm thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, nên chưa phát sinh hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, việc Tòa án Việt Nam lại tiến hành thụ lý vụ kiện đòi tài sản đã được một bản án của Tòa án Mỹ quyết định đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cẩn được đánh giá và xem xét.
Theo quy định tại điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDS), Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây: “Vụ việc dân sự về quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng có ít nhất một trong các đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài.”
Điều 411 BLTTDS quy định: “Vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam” sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Mặt khác, điều 356 BLTTDS quy định: Những bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam đó là “Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà án Việt Nam … hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận”.
Như vậy, về góc độ pháp lý, ngay từ đầu, nếu bản án ly hôn giữa người mẫu Ngọc Thúy và ông Nguyễn Đức An, trong đó Tòa án Mỹ có phán quyết liên quan đến tài sản là bất động sản tại Việt Nam làm phát sinh xung đột pháp luật liên quan vấn đề áp dụng luật, trong đó nhiều khả năng quyết định nói trên trái với quy định của pháp luật Việt Nam, nên có thể không được xem xét là có giá trị pháp lý để công nhận.
Ngoài ra, Điều 413 BLTTDS còn quy định việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp đã có Toà án nước ngoài giải quyết với điều kiện: “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và nước có Toà án ra bản án, quyết định dân sự đó và Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự” hoặc “…Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”.
Do hiện nay giữa nước CHXHCN Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự và hôn nhân gia đình, nên việc ông Nguyễn Đức An phải khởi kiện về việc tranh chấp tài sản đối với người mẫu Ngọc Thúy để yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp đối với tài sản của mình chỉ có thể được Tòa án Việt Nam thụ lý sau khi đã tiến hành thủ tục công nhận phán quyết của Tòa án Mỹ tại Việt Nam mà không được phiá Việt Nam công nhận cho thi hành. Trong trường hợp này, ông Nguyễn Đức An có thể khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản nhờ người trong nước đứng tên như là một quan hệ tranh chấp độc lập thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN
Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/62794/Vu-sieu-mau-Ngoc-Thuy-bi-kien-Muon-thi-hanh-phai-duoc-cong-nhan.html

Monday, October 21, 2013

CÔNG NHẬN ÁN LY HÔN Ở NƯỚC NGOÀI: ÁCH TẮC VÌ … VƯỚNG LUẬT!

BÌNH MINH
Từ sau ngày Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực, chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôn của tòa án nước ngoài tại Việt Nam đều gặp bế tắc.
Gần đây, ngành tòa án đã nhận được khá nhiều đơn yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án ly hôn ở nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các trường hợp này hiện đều đang bị ách tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn…
Hơn ba năm kết hôn với một Việt kiều Mỹ, chị GNP ngụ quận 10 (TP.HCM) luôn phải sống trong cảnh vò võ chờ đợi bởi người chồng chủ yếu làm ăn ở Mỹ, lâu lâu mới bay về nước thăm chị một lần.
Bao giờ mới thành người độc thân?
Xa mặt cách lòng, những chuyến bay về nước ít ỏi ấy rồi cứ thưa thớt dần. Một ngày, chị P. nhận được hồ sơ thỏa thuận ly hôn gửi về. Chị P. thuận tình ký tên để giải phóng cho đôi bên. Năm 2009, Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino sau đó đã ra bản án ghi nhận quyết định ly hôn của vợ chồng chị.
Sau đó, chị P. làm đơn gửi Bộ Tư pháp yêu cầu công nhận bản án ly hôn trên có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Đơn của chị cùng các tài liệu liên quan được chuyển về TAND TP.HCM. Xem xét, TAND TP nhận định: Khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầu công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa nước ngoài chỉ được xem xét trong trường hợp cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu. Ở đây, người chồng đang cư trú tại Mỹ nên chị P. chưa đủ điều kiện để yêu cầu tòa công nhận và cho thi hành bản án. Vì vậy, tòa đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của chị P.
Để gỡ vướng cho chị P., cán bộ tòa hướng dẫn chị nộp đơn tiến hành thủ tục ly hôn ở tòa án trong nước. Để mọi việc thuận lợi, chị nên liên hệ với người chồng bên Mỹ để có sự thuận tình xác nhận. Còn nếu chị đơn phương xin ly hôn thì sẽ phải chờ thủ tục ủy thác tư pháp, vốn rất lâu và cũng rất khó suôn sẻ.
Chị P. làm theo hướng dẫn này nhưng không thể liên hệ được với người chồng bên Mỹ để làm thủ tục thuận tình ly hôn. Chị mệt mỏi vì “chồng không có” mà mình thì vẫn chưa được trở thành người độc thân, không biết bao giờ mới có điều kiện để xây dựng một mái ấm mới hợp pháp.
Bế tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn
Trước năm 2005, những trường hợp tương tự như chị P. rất dễ giải quyết vì đương sự chỉ cần yêu cầu Sở Tư pháp ở địa phương mình sinh sống ghi chú hộ tịch là đã ly hôn với người nước ngoài thì đương nhiên được coi là người độc thân.
Tuy nhiên, từ sau ngày 1-1-2005 (ngày Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực), chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôn của tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành tòa án. Bắt đầu từ đây, các trường hợp xin công nhận bản án ly hôn của tòa án nước ngoài đã gặp bế tắc bởi hai lý do chủ yếu.
Lý do đầu tiên khá phổ biến: Trường hợp của đương sự không đủ điều kiện luật định để tòa án Việt Nam công nhận theo Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự (người hôn phối không cư trú, làm việc tại Việt Nam, không có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vào thời điểm đương sự gửi đơn yêu cầu).
Lý do thứ hai: Theo Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án Việt Nam chỉ được xem xét công nhận, cho thi hành bản án của tòa án nước ngoài trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại. Rắc rối là đến nay, chưa có văn bản công bố danh mục các nước có tham gia điều ước quốc tế hoặc ký kết hiệp định song phương với Việt Nam về vấn đề này, cũng chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng nguyên tắc có đi có lại để các thẩm phán vận dụng.
Trên thực tế, một số nước mà công dân Việt Nam có nhiều quan hệ hôn nhân như Mỹ, Canada, Đức, Úc, Hàn Quốc… thì nước ta lại chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự cũng như các hiệp định khác có liên quan đến việc công nhận bản án, quyết định của nhau.
Gỡ chỗ này, vướng chỗ khác!
Tại TP.HCM, để gỡ vướng cho các trường hợp chưa đủ điều kiện như chị P., tháng 8-2010, Ủy ban Thẩm phán TAND TP.HCM đã có Công văn 2332 hướng dẫn: Thẩm phán thụ lý yêu cầu công nhận bản án ly hôn của tòa án nước ngoài không được đình chỉ giải quyết với lý do bên phải thi hành án đang ở nước ngoài.
Ngỡ rằng hướng dẫn này sẽ tháo gỡ được ách tắc nhiều năm qua để triển khai thực hiện công nhận bản án ly hôn nước ngoài. Nhưng đến nay, TAND TP vẫn chưa thể công nhận được bản án nào do vướng tiếp bất cập ở Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự về chuyện tham gia điều ước quốc tế, ký kết hiệp định song phương hay áp dụng nguyên tắc có đi có lại.
Trên phạm vi cả nước, tháng 10-2010, Bộ Tư pháp có Thông tư số 16 tạm thời hướng dẫn việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc ghi chú hộ tịch này có giới hạn rất hẹp: Thứ nhất, chỉ ghi chú hộ tịch nếu bản án đó là của các nước đã ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam về vấn đề này. Thứ hai, nếu là bản án của các nước chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì việc ghi chú hộ tịch do bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định (sau khi đã tham khảo ý kiến của Bộ Ngoại giao) theo nguyên tắc có đi có lại.
___________________________________________________
Tháng 5-2009, TAND TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ giải quyết trường hợp ông LVN yêu cầu công nhận bản án của Tòa án gia đình Wolfenbutter (Đức) cho ông được ly hôn với bà TTN.
Lý do TAND TP đình chỉ giải quyết cũng là do bà N. đang sinh sống tại Đức và không có tài sản ở Việt Nam.
Tháng 1-2010, TAND TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu công nhận bản án ly hôn của tòa án nước ngoài của bà DTNH với lý do người chồng đang cư trú ở nước ngoài, không có tài sản ở Việt Nam nên trường hợp của bà H. không đủ điều kiện.
Trước đó, tháng 8-2008, Tòa án Tối cao British Columbia (Canada) cho bà H. được ly hôn với ông DHT theo bản án số E080672 (hai người không có con chung và tài sản chung). Tháng 9-2009, bà H. làm đơn yêu cầu Bộ Tư pháp công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án này. Vụ việc của bà sau đó được chuyển về cho TAND TP.HCM thụ lý.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code