Showing posts with label 4. THUA KE. Show all posts
Showing posts with label 4. THUA KE. Show all posts

Friday, November 22, 2013

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2006/DS-GDT NGÀY 21 THÁNG 2 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN "TRANH CHẤP THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ngày 21 tháng 2 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ông Lại Hữu Minh;
Ông Lại Hữu Hiền;
Ông Lại Hữu Lệ;
Cùng trú tại thôn Nghiêm Thôn, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bà Lại Thị Tuyên: trú tại thôn Guột, xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Ông Lại Hữu Hiển: trú tại khu 1, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
2. Bị đơn: Anh Lại Hữu Vận: trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.


3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Mỹ;
- Anh Lại Hữu Thắng;
- Chị Lại Thị Oanh;
- Chị Lại Thị Yến;
- Chị Lại Thị Hợi;
- Bà Bùi Thị Giang;
Cùng trú tại khu 5, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
- Bà Bùi Thị Hải: trú tại nhà B3, tập thể đ•ờng sắt Kim Liên, thành phố Hà Nội.
- Bà Bùi Thị Lan: trú tại thôn Yên Mẫu, xã Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, 173 tỉnh Bắc Ninh.
- Nguyễn Thị Phán: trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Cụ Lại Hữu Cận có 2 vợ:
NHẬN THẤY:
- Vợ thứ nhất của cụ Cận là cụ Nguyễn Thị Nhớn. Cụ Nhớn và cụ Cận có năm con đẻ gồm các ông, bà: Lại Thị Tuyên, Lại Hữu Minh, Lại Hữu Nội (chết lúc nhỏ), Lại Hữu Lợi (hy sinh năm 1969, không có vợ con), Lại Hữu Quang (chết tháng 5 -1983, có hai vợ: Vợ cả là bà Cúc, đã ly hôn, có một con chung là anh Vận. Vợ thứ hai của ông Quang là bà Trần Thị Mỹ, có bốn con là các anh, chị: Lại Thị Oanh, Lại Thị Yến, Lại Thị Hợi, Lại Hữu Thắng). Cụ Cận và cụ Nhớn có một con nuôi là bà Bùi Thị Chung (chết năm 1998, có ba con là chị Bùi Thị Giang, chị Bùi Thị Hải và chị Bùi Thị Lan).
- Vợ thứ hai của cụ Cận là cụ Trần Thị Hoà. Cụ Hoà và cụ Cận có 3 con chung gồm các ông, bà: Lại Hữu Hiền, Lại Hữu Hiển và Lại Hữu Lệ.
Cụ Nhớn chết năm 1946. Cụ Cận chết tháng 3-1983. Cụ Hoà chết năm 1984. Cả ba cụ đều không có di chúc.
Cụ Cận và cụ Nhớn có tài sản chung là ngôi nhà tranh và quyền sử dụng 378,5m2 đất từ tr•ớc khi cụ Cận kết hôn với cụ Hoà.
Năm 1964, cụ Cận và cụ Hoà phá nhà tranh, làm lại thành nhà bốn gian lợp ngói và ba gian công trình phụ. Sau khi cụ Cận mất, cụ Hoà đ•ợc ông Lại Hữu Hiền đón về nuôi, nên ngôi nhà của cụ Cận và cụ Hoà bỏ không; ông Lại Hữu Minh yêu cầu anh Lại Hữu Vận đến ở để trông nom nhà đất. Năm 1986, anh Vận dỡ nhà cũ của các cụ và làm lại nhà mới. Khung, vật liệu nhà cũ của cụ Cận và cụ Hoà đ•ợc anh Vận giao cho ông Lệ sử dụng.
Tại đơn khởi kiện ngày 25-2-1995, các nguyên đơn gồm ông Lại Hữu Minh, bà Lại Thị Tuyên, ông Lại Hữu Hiền, ông Lại Hữu Hiển và ông Lại Hữu Lệ yêu cầu anh Lại Hữu Vận phải trả lại các ông, bà di sản thừa kế của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà mà anh Vận đang quản lý gồm ngôi nhà trên diện tích khoảng 360m2 đất và một bộ đỉnh đồng. Tại các lời khai tiếp theo, các nguyên đơn yêu cầu đ•ợc chia di sản thừa kế của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà gồm ngôi nhà trên diện tích 378,5m2 đất và một bộ đỉnh đồng. Các nguyên đơn không công nhận có sự việc anh Vận vì trông nom nhà đất là di sản của các cụ mà anh Vận phải trả cho hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Phương Mao 240m2 đất.
Theo anh Lại Hữu Vận khai: khi còn sống, cụ Cận đã hai lần tuyên bố trong buổi họp gia đình là cho ông Lại Hữu Quang (bố anh) nhà đất hiện các nguyên đơn đang tranh chấp để ông Quang thờ cúng tổ tiên. Ông Lại Hữu Minh và ông Lại Hữu Lệ đã được các cụ cho đất; ông Lại Hữu Hiền đã đ•ợc chính quyền địa ph•ơng cấp đất. Khi chưa về ở nhà đất của các cụ, anh Vận đã đ•ợc hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Ph•ơng Mao cấp cho 240m2 đất ở ven đường. Do phải trông nom nhà đất của các cụ, nên ngày 15 -10-1983 anh đã trả lại 240m2 đất cho hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Ph•ơng Mao và anh xin đ•ợc sử dụng nhà đất của các cụ, đ•ợc chính quyền xã Ph•ơng Mao xác nhận ngày 16-11-1983. Trong quá trình sử dụng, vợ chồng anh Vận đã nâng nền, cải tạo đất. Anh Vận không đồng ý trả lại tài sản là nhà đất theo yêu cầu của các nguyên đơn.
Ông Lại Hữu Lệ không yêu cầu được hưởng di sản thừa kế.
Bà Trần Thị Mỹ cùng các thừa kế của ông Lại Hữu Quang gồm chị Lại Thị Oanh, chị Lại Thị Yến, anh Lại Hữu Thắng, chị Lại Thị Hợi công nhận lời khai của anh Vận là đúng và nh•ờng kỷ phần thừa kế đ•ợc h•ởn g của ông Quang cho anh Vận.
Các thừa kế của bà Bùi Thị Chung gồm chị Bùi Thị Giang, chị Bùi Thị Hải và chị Bùi Thị Lan nh•ờng phần thừa kế của bà Chung mà các chị đ•ợc h•ởng cho anh Lại Hữu Vận.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05 ngày 19 -6-1996, Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc đã quyết định:
Huỷ việc chứng nhận giao đất ở của cụ Cận cho anh Vận của Uỷ ban nhân dân xã Phương Mao.
Giao cho anh Vận được sở hữu phần tài sản thừa kế của ông Lại Hữu Quang trị giá 82.320.000đ (tám m•ơi hai triệu ba trăm hai m•ơi ngàn đồng chẵn), một ngôi nhà 3 gian anh đã xây dựng và sử dụng đất ở có diện tích phía bắc giáp đường 18 là 9,3m kể từ giáp bưu điện kéo về phía đông, phía tây giáp b•u điện, phía nam giáp bưu điện là 8,67m, có diện tích đất ở là 188m2 trị giá 206.800.000đ, nhưng được trừ đi 4.980.000đ tiền anh đổ đất, 13 triệu đồng tiền công trình phụ đổ trần và 82.320.000đ tiền chia thừa kế phải trả cho ông Minh, bà Tuyên, ông Hiền, ông Hiển 106.500.000đ tiền giá trị chia thừa kế của cụ Cận; anh Vận phải tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên phần đất còn lại của cụ Cận trừ công trình phụ đã đổ trần đã tính tiền để giao cho ông Minh và ông Hiển.
Ông Minh và ông Hiển đ•ợc sở hữu một cây dừa, công trình phụ đổ trần, một bể n•ớc và sử dụng phần đất ở của cụ Cận c òn lại phía bắc giáp đ•ờng 18, phía đông giáp nhà ông Lệ, phía tây giáp b•u điện, phía nam giáp b•u điện có diện tích là 190,5m2 trị giá 319.590.000đ và nhận ở anh Vận 106.500.000đ tiền chênh lệch tài sản thừa kế và 13 triệu giá trị của công trình phụ anh Vận xây để lại trên đất, phải trả cho bà Tuyên 82.320.000đ, ông Hiền 82.320.000đ tiền chia tài sản thừa kế.
án phí: Ông Minh phải chịu 2 triệu đồng, anh Vận, ông Hiển, ông Hiền, bà Tuyên mỗi ng•ời phải chịu 3 triệu đồng tiền án phí chia tài sản thừa kế. Giao cho ông Lệ quản lý một đỉnh đồng, hai cây nến bằng đồng là tài sản thờ cúng của gia đình cụ Cận. Báo cho các đương sự có mặt đ•ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngày 1-7-1996 anh Lại Hữu Vận có đơn kháng cáo: Không đồng ý chia di sản thừa kế.
Ngày 1-7-1996 ông Lại Hữu Minh có đơn kháng cáo: Không đồng ý thanh toán giá trị các công trình mà anh Vận đã xây dựng trên phần đất mà ông được chia; yêu cầu chia đều diện tích đất mặt đường cho các thừa kế của cụ Cận.
Ngày 20-6-1996 bà Bùi Thị Chung có đơn đề nghị: Bà là con nuôi của cụ Cận mà Toà án cấp sơ thẩm không chia thừa kế cho bà là sai, đề nghị để lại toàn bộ nhà đất đang tranh chấp cho anh Lại Hữu Vận để thờ cúng tổ tiên.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 116/DSPT ngày 7-10-1996, Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (cũ) đã quyết định:
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của ông Lại Hữu Minh và anh Lại Hữu Vận.
- Về nội dung: Sửa án sơ thẩm xử
Bác đơn kiện đòi chia thừa kế của ông Lại Hữu Minh và các ông Hiền,
ông Hiển, bà Tu yên đối với lô đất ở của anh Lại Hữu Vận tại thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ.
án phí: Ông Minh, ông Hiền, ông Hiển, bà Tuyên mỗi ng•ời phải chịu 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đ•ơng sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Ngày 28-10-1996 Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc (cũ) có công văn số 151 đề nghị Toà án nhân dân tối cao xem xét lại bản án phúc thẩm nêu trên của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (cũ) vì bản án phúc thẩm đã bác yêu cầu của các nguyên đơn là không có căn cứ.
Ông Lại Hữu Minh có đơn khiếu nại bản án phúc thẩm.
Ngày 31-5-2000, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao có Quyết định số 77/KN-DS kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 116/DSPT ngày 7-10-1996 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (cũ), đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Kết luận số 173/KL-VKSNDTC ngày 2-10-2000, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 300 ngày 29-11-2000, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định:
- Huỷ bản án sơ thẩm số 05 ngày 19-6-1996 của Toà án nhân dân huyện Quế Võ và bản án phúc thẩm số 116 ngày 7 -10-1996 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (cũ); giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/DSST ngày 7-5-2001, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
- Giao cho anh Lại Hữu Vận đ•ợc sở hữu toàn bộ 378,5m2 đất của cụ Cận và cụ Nhớn để lại ở khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, sau khi trả lại cho ông Lại Hữu Minh 14.000.000đ (m•ời bốn triệu đồng), trả cho bà Lại Thị Tuyên 24.078.000đ (hai m•ơi bốn triệu không trăm bảy m•ơi tán ngàn đồng), trả cho ông Lại Hữu Hiền 15.078.000đ (m•ời lăm triệu không trăm bảy m•ơi tám ngàn đồng), trả cho ông Lại Hữu Hiển 9.078.000đ (chín triệu không trăm bảy m•ơi tám ngàn đồng).
- Ông Lại Hữu Lệ phải trả cho ông Lại Hữu Hiển 3.000.000đ (ba triệu đồng).
án phí: Miễn án phí dân sự cho ông Minh và anh Vận.
Bà Tuyên phải chịu 1.200.000đ (một triệu hai trăm ngàn đồng chẵn ) án phí dân sự sơ thẩm; ông Hiền phải chịu 9 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Hiền phải chịu 450.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đ•ơng sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Lệ vắng mặt đ•ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ•ợc kết quả bản án.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, khoản tiền ng•ời phải thi hành án nếu ch•a thi hành sẽ phải chịu lãi suất theo pháp luật quy định.
Ngày 18-6-2001, ông Lại Hữu Minh, bà Lại Thị Tuyên, ông Lại Hữu
Hiền, ông Lại Hữu Hiển, ông Lại Hữu Lệ có đơn kháng cáo:
- Năm 1983, anh Lại Hữu Vận đã đ•ợc hợp tác xã cấp cho 240m2 đất.
Anh Vận nói đã trả phần đất 240m2 này từ năm 1983 nh•ng thực tế sổ địa chính của xã vẫn còn tên anh Vận đến năm 1988. Các ông, bà không đồng ý việc khấu trừ 240m2 đất từ di sản.
- Việc chính quyền xã năm 1983 giao cho anh Vận sử dụng nhà đất của cụ Cận là trái pháp luật.
- Ông Minh không đ•ợc các cụ cho đất. Đất của ông Minh do ông Minh bỏ tiền ra mua.
- Yêu cầu chia thừa kế cho ông Lệ.
Ngày 20-5-2001, anh Lại Hữu Vận có đơn kháng cáo: Yêu cầu đ•ợc chia thừa kế đối với diện tích 688m2 đất có nguồn gốc của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà mà ông Lại Hữu Lệ đang sử dụng.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 242/DSPT ngày 18-12-2002, Toà phúc thẩm Toà á n nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:
Căn cứ vào Điều 69 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự: Bác kháng cáo của ông Lại Hữu Minh đại diện cho các đồng nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn là anh Lại Hữu Vận, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Chiểu theo các Điều 636, 639, 678, 679, 681, 683 và 688 Bộ luật dân sự, Thông t• số 01 liên ngành ngày 19-6-1997.
- Giao cho anh Lại Hữu Vận đ•ợc sở hữu toàn bộ 378,5m2 đất của cụ Cận, cụ Nhớn để lại ở khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, sau khi trả cho ông Lại Hữu Minh 14 triệu, bà Lại Thị Tuyên 24.078.000đ (hai bốn triệu không trăm bảy m•ơi tám ngàn đồng).
- Trả ông Lại Hữu Hiền 15.078.000đ (m•ời lăm triệu không trăm bảy m•ơi tám ngàn đồng), ông Lại Hữu Hiển 9.078.000đ (chín triệu không trăm bảy m•ơi tám ngàn đồng).
Ông Lại Hữu Lệ phải trả cho ông Lại Hữu Hiền 3 triệu đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, án đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Minh, anh Vận.
Bà Tuyên phải nộp 1.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Hiển phải nộp 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Hiền phải nộp 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các đồng nguyên đơn do ông Lại Hữu Minh đại diện phải nộp mỗi ng•ời
50.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Anh Lại Hữu Vận phải nộp 50.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Lại Hữu Minh có đơn khiếu nại: Không đồng ý việc bản án phúc thẩm trừ đi 240m2 đất trong tổng số 378,5m2 đất là di sản của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà.
Tại Quyết định số 171/KNDS ngày 6-12-2005, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 242/DSPT ngày 18-12-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội với nhận định:
“Anh Vận có lời khai: Do anh sử dụng nhà đất của cụ Nhớn, cụ Cận và cụ Hoà nên anh phải trả lại cho hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Ph•ơng Mao 240m2 đất mà anh đã đ•ợc hợp tác xã cấp năm 1983, nh•ng anh Vận không xuất trình đ•ợc tài liệu nh• giấy tờ cấp đất, thu hồi đất để chứng minh cho lời khai của mình. Ông Minh, ông Hiền, ông Lệ, ông Hiển, bà Tuyên thì không công nhận lời khai của anh Vận. Hơn nữa, nếu có việc cấp, thu hồi 240m2 đất của hợp tác xã Lại Nghiêm đối với anh Vận thì cũng không phải là căn cứ để Toà án trừ diện tích đất này từ di sản của cụ Nhớn, cụ Cận và cụ Hoà. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã trừ 240m2 đất cho anh Vận từ di sản của cụ Nhớn, cụ Cận và cụ Hoà, sau đó mới chia thừa kế là không đúng.
Tài sản chung của cụ Cận và cụ Nhớn gồm một ngôi nhà tranh (không còn giá trị và đã bị cụ Cận và cụ Hoà dỡ đi để xây nhà mới năm 1964) trên diện tích thực tế 406,4m2 đất. Cụ Nhớn chết năm 1946, nên tài sản của cụ Cận đ•ợc chia trong khối tài sản chung của cụ Cận và cụ Nhớn gồm 1/2 tài sản chung giữa cụ Cận và cụ Nhớn và phần tài sản của cụ Cận đ•ợc h•ởng thừa kế của cụ Nhớn. Do cụ Cận kết hôn với cụ Hoà, nên theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, tài sản chung của cụ Cận và cụ Hoà gồm phần tài sản nêu trên của cụ Cận và phần giá trị ngôi nhà của cụ Cận và cụ Hoà xây dựng năm 1964 (anh Vận đã dỡ nhà năm 1986). Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã xác định phần tài sản mà cụ Cận đ•ợc chia trong khối tài sản chung của cụ Cận và cụ Nhớn vẫn là tài sản riêng của cụ Cận là sai, gây thiệt hại đến quyền lợi của các thừa kế của cụ Hoà.
Khi phân chia di sản của cụ Nhớn, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm cho rằng trong số những ng•ời đ•ợc thừa kế có ông Quang và ông Minh đã đ•ợc cụ Cận và cụ Nhớn cho đất nên chỉ chia cho ông Minh đ•ợc h•ởng bằng một nửa kỷ phần thừa kế theo pháp luật của cụ Nhớn và chỉ chia cho các thừa kế của ông Quang đ•ợc h•ởng bằng một nửa kỷ phần thừa kế theo pháp luật của cụ Nhớn, là không đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 679 Bộ luật dân sự”.
Từ nhận định trên, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 03/DSST ngày 7 -5-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và bản án dân sự phúc thẩm số 242/DSPT ngày 18 -12-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Xét thấy:
Các đương sự tranh chấp di sản thừa kế là ngôi nhà 4 gian (anh Lại Hữu Vận đã dỡ năm 1986) do cụ Lại Hữu Cận và cụ Trần Thị Hoà xây dựng trên khuôn viên diện tích 378,5m2 đất do cụ Lại Hữu Cận và cụ Nguyễn Thị Nhớn tạo lập.
Anh Lại Hữu Vận khai rằng năm 1983 anh Vận đ•ợc hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Ph•ơng Mao (nay là thị trấn Phố Mới) cấp cho thửa đất 240m2, nh•ng do phải trông nom, giữ gìn nhà đất di sản, nên anh Vận phải trả lại cho hợp tác xã diện tích đất nêu trên. Lời khai của anh Vận đ•ợc bà Nguyễn Thị Mỹ (nguyên chủ nhiệm hợp tác xã Lại Nghiêm năm 1983) và ông Lại Hữu Hinh (tr•ởng chi họ Lại) công nhận. Anh Vận còn xuất trình “Đơn xin xác nhận sử dụng đất ở” của anh Vận, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Ph•ơng Mao năm 1983 là đồng ý cho anh Vận đ•ợc sử dụng nhà đất của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà.
Mặc dù có lời khai và một số chứng cứ nh• trên, nh•ng anh Vận không xuất trình được tài liệu của cấp có thẩm quyền để chứng minh cho lời khai của mình nh•: Quyết định cấp đất, quyết định thu hồi đối với diện tích 240m2 đất… Các nguyên đơn thì không công nhận có việc anh Vận vì sử dụng nhà đất của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà, mà phải trả lại 240m2 đất cho hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Phương Mao.
Căn cứ vào chứng cứ chủ yếu như trên, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đã xác định anh Vận có quyền sử dụng 240m2 đất trong số diện tích 378,5m2 đất, di sản thừa kế chỉ còn 138,5m2 đất là chưa đủ cơ sở vững chắc. Chỉ xác định đ•ợc 240m2 đất không còn là di sản thừa kế, đã chuyển quyền sử dụng cho anh Vận khi có đủ chứng cứ chứng minh nếu anh Vận không trả lại hợp tác xã 240m2 đất (được cấp ở nơi khác) thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thu hồi một phần hay toàn bộ diện tích đất 378,5m2 của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà. Cần phải làm rõ có việc anh Vận trả lại 240m2 đất từ năm 1983 hay không? (các nguyên đơn nêu rằng đến năm 1988 anh Vận vẫn đứng tên trên sổ địa chính diện tích đất này). Cần yêu cầu anh Vận chứng minh nếu anh không trả lại 240m2 đất được cấp thì nhà đất của các cụ sẽ bị thu hồi (có quy định sẽ bị thu hồi theo chính sách quản lý đất đai ở thời điểm năm 1983 và thực tế đã có quyết định của cấp có thẩm quyền hay không?). Thực tế thì vào thời điểm năm 1983 cụ Hoà vẫn còn sống (cụ Hoà chết năm 1984) nh•ng ở nơi khác; vậy căn cứ vào lý do gì để thu hồi đất của cụ Hoà, cụ Cận cũng cần được làm rõ.
Mặt khác, cụ Hoà là đồng chủ sở hữu nhà với cụ Cận, nh•ng bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm lại chỉ xác định cụ Hoà là một thừa kế của cụ Cận là sai, gây thiệt hại đến quyền lợi của c ác thừa kế của cụ Hoà.
Về phần đất hiện ông Minh, ông Lệ đang sử dụng: Bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm cũng ch•a xác minh làm rõ nguồn gốc của các thửa đất này là tài sản của ông Minh, ông Lệ hay là tài sản của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hoà; nếu là tài sản của các cụ thì cũng cần xác định xem các cụ đã cho ông Minh và ông Lệ hay ch•a? để xem xét vụ án toàn diện hơn.
Về việc phân chia di sản thừa kế của cụ Nhớn: Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm cho rằng trong số những ng•ời đ•ợc thừa kế di sản của cụ Nhớn có ông Lại Hữu Quang và ông Lại Hữu Minh đã đ•ợc cụ Cận và cụ Nhớn cho đất (mặc dù hồ sơ vụ án ch•a thể hiện rõ), nên chỉ chia cho ông Minh đ•ợc h•ởng 1/2 suất thừa kế của cụ Nhớn, chia cho các thừa kế của ông Quang 1/2 suất thừa kế của cụ Nhớn, chia cho bà Lại Thị Tuyên và bà Bùi Thị Chung mỗi người một suất thừa kế của cụ Nhớn là ch•a hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 (quy định về những ng•ời thừa kế cùng hàng đ•ợc h•ởng phần di sản thừa kế bằng nhau).
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 1, 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Quyết định:
1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 242/DSPT ngày 18-12-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 03/DSST ngày 7 -5-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là ông Lại Hữu Minh, ông Lại Hữu Hiền, ông Lại Hữu Lệ, bà Lại Thị Tuyên và ông Lại Hữu Hiển với bị đơn là anh Lại Hữu Vận.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
____________________________________________
- Lý do huỷ các bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:
1. Chưa đủ căn cứ để xác định quyền sử dụng đất của bị đơn như quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm;
2. Xác định chưa chính xác đồng chủ sở hữu ngôi nhà có tranh chấp;
3. Chưa xác minh làm rõ nguồn gốc các thửa đất mà bị đơn đang sử dụng.
- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc thu thập, xem xét và đánh giá chứng cứ.
SOURCE: CÁC QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO NĂM 2006 – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ CƠ QUAN PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ HOA KỲ (USAID). 2008

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 05/2006/DS-GDT NGÀY 05 THÁNG 4 NĂM 2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ngày 05 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926; trú tại: nhà số 27, phố Lê Lợi, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.
- Bị đơn: Ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943; trú tại: nhà số 5, tổ 42, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà TrươngThị Nhân, sinh năm 1948; trú tại: tổ 19, phường Giáp Bát, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
+ Ông Lý Quang Hà, sinh năm 1957; trú tại: nhà số 57, ngõ 82 phố Phạm Ngọc Thạch, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Nhận thấy:
Tại đơn khởi kiện ngày 07 -9-1995 và các lời khai tại Toà án, bà Trương Thị Bản trình bày:
Khối tài sản gồm một ngôi nhà ngói 5 gian gắn liền quyền sử dụng diện tích đất 415,69m2 và diện tích 1010m2 đất tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội (nay là số 49, ngách 58 ngõ 23 phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội) là của tổ tiên để lại cho cụ Trương Gia Xứng.
Cụ TrươngGia Xứng có hai vợ, vợ cả là mẹ bà (cụ Kim Thị Chính); vợ hai là cụ Nguyễn Thị Xuyến sinh được hai người con là ông TrươngGia Hải và bà TrươngThị Nhân.
Cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm 1985, đều không để lại di chúc. Bà Bản xin đượcchia thừa kế căn nhà ngói 5 gian gắn với quyền sử dụng 415,69m2 đất đi kèm, còn 1010m2 đất cũng là di sản của bố mẹ để lại nhưng ông Hải đã bán từ năm 1968 nên bà không yêu cầu chia.
Ông Hải không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà Bản vì cho rằng:
Từ năm 1951, cụ Xứng đã mua nhà đất tại thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây để chung sống với mẹ con bà Bản, còn nhà đất hiện nay tại xóm Sở mà ông đang quản lý là cụ Xứng đã cho hẳn mẹ con ông. Năm 1952 cụ Xứng chết. Năm 1960 cụ Xuyến (mẹ ông) đã đứng tên kê khai đất trong bản đồ địa chính xã Mai Dịch. Năm 1986, ông đã kê khai và đứng tên trong bản đồ địa chính của xã diện tích nhà đất trên cho đến nay.
Bà Nhân cũng cho rằng nhà đất tại xóm Sở, cụ Xứng đã cho hẳn cụ Xuyến và các con cụ Xuyến, nay bà đồng ý để lại toàn bộ nhà đất cho ông Hải để thờ cúng tổ tiên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-6-1996 Toà án nhân dân huyện Từ Liêm đã quyết định:
- Xác định ngôi nhà ngói 5 gian diện tích 55,5m2 cùng các công trình phụ nằm trên diện tích đất 423m2 là di sản thừa kế của 3 cụ (cụ Xứng, cụ Chính, cụ Xuyến).
- Trích công sức duy trì tài sản cho ông Hải là 5%
- Bác yêu cầu của bà Bản xin nhận thừa kế bằng hiện vật.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22-8-1996 Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Xác định ngôi nhà ngói 5 gian diện tích 55,5m2 chỉ là di sản thừa kế của cụ Xứng và cụ Xuyến.
- Không chia hiện vật cho bà Bản.
Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Bản khiếu nại.
Tại Quyết định kháng nghị số 125/DS ngày 16 -7-1997 Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên với lý do:
Bản án phúc thẩm chỉ xác định di sản là căn nhà ngói 5 gian và 55m2 đất nền nhà, còn 423m2 đất thổ cư thuộc quyền sử dụng của ông Hải là không đúng; mà phải xác định di sản thừa kế của vợ chồng cụ Xứng là căn nhà ngói 5 gian gắn liền diện tích 460m2 đất.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 34 ngày 01-02-1999, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định:
Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22 -8-1996 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo h•ớng xác định di sản thừa kế là ngôi nhà ngói 5 gian gắn liền diện tích 426m2 đất.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 197/DSPT ngày 04-9-1999, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Xác định di sản thừa kế của cụ Xứng và 2 vợ là cụ Chính, cụ Xuyến gồm diện tích đất 426m2 cùng ngôi nhà ngói 5 gian trên đất có tổng trị giá là 204.220.000 đồng.
- Trích công duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải là 25% = 51.055.000 đồng.
- Chia cho bà Bản hiện vật: 84m2 đất, ông Hải 342m2 đất… Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hải có đơn khiếu nại.
Tại Quyết định kháng nghị số 49/KN-DS ngày 07 -4-2000 Phó Viện tr•ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên với nhận định:
Bà Bản đã sinh sống ổn định hơn 40 năm tại thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây không có nhu cầu cấp thiết về chỗ ở tại Mai Dịch, nên kỷ phần của bà Bản cần chia bằng tiền.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 303 ngày 30-11-2000, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao quyết định:
Huỷ bản án phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo hướng xác minh chính xác diện tích đất và khi giao đất cho bà Bản cần xác định cụ thể lối đi và mốc giới đất.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 105/DSPT ngày 28-6-2001, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế nhà đất tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội của bà TrươngThị Bản.
2. Xác định thửa đất số 618 tờ bản đồ số 1 có diện tích 415,69m2 và trị giá ngôi nhà ngói cổ 5 gian có tổng giá trị 211.825.000 đồng tại xóm Sở, Mai Dịch nay là số 49 ngõ 23 ngách 58 Mai Dịch, Cầu Giấy thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của cụ Trương Gia Xứng, cụ Kim Thị Chính, cụ Nguyễn Thị Xuyến.
3. Xác nhận cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm 1989 đều không để lại di chúc, di sản thừa kế đượcchia theo pháp luật.
4. Trích 74.138.750 đồng tương đương 35% tổng giá trị di sản để thanh toán công sức tu tạo, duy trì khối tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải.
5. Xác nhận di sản thừa kế sau khi trừ công sức của cụ Xuyến và ông Hải;di sản c òn lại có giá trị là 137.686.250 đồng.
6. Xác nhận thanh toán tài sản vợ chồng giữa cụ Xứng, cụ Xuyến, cụ Chính mỗi người có giá trị 45.895.416 đồng.
7. Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ TrươngGia Xứng gồm 5 người: cụ Chính, cụ Xuyến, bà Bản, ông Hải, bà Nhân. Mỗi kỷ phần thừa kế có giá trị là 9.179.803,2 đồng.
8. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nhân giao toàn bộ kỷ phần thừa kế đượch•ởng của bố mẹ cho ông Hải.
9. Xác nhận bà Bản đượch•ởng: 55.074.499 đồng (thừa kế của cụ Chính) + 9.179.038 đồng (thừa k ế của cụ Xứng) = 64.253.582 đồng.
10. Xác nhận ông Hải được nhận: 55.074.499 đồng (thừa kế của cụ Xuyến) + 18.358.166 đồng (thừa kế của cụ Xứng) + 74.138.750 đồng (công sức tôn tạo, duy trì) = 147.571.415 đồng.
11. Giao cho ông Hải đượcsử dụng toàn bộ 415,69m2 đất và vật liệu nhà  ngói 5 gian cũ tại thửa số 618 tờ bản đồ số 1 và có trách nhiệm thanh toán cho bà Bản 64.253.582 đồng.
Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, ngày 17 -8-2001 ông Hải đã bán toàn bộ diện tích nhà đất trên cho ông Lý Quang Hà với giá 250.000.000 đồng; hợp đồng mua bán đượcUỷ ban nhân dân ph•ờng Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xác nhận ngày 20-8-2001.
Bà Bản tiếp tục khiếu nại và yêu cầu được chia thừa kế bằng hiện vật và còn yêu cầu chia thừa kế cả diện tích 1.010m2 đất mà ông Hải đã bán từ năm 1968.
Tại Quyết định kháng nghị số 194/KN-DS ngày 02-11-2002, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao nhận định:
Diện tích đất rộng có thể chia hiện vật đượccho cả hai bên, nhưngToà án không chia hiện vật cho bà Bản là không đảm bảo quyền lợi của bà Bản.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 204 ngày 25-9-2002, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định:
Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 105/DSPT ngày 28 -6-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-6-1996 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm để điều tra xét xử lại từ sơ thẩm vì cần điều tra, xác minh để có thể chia thừa kế bằng hiện vật cho cả hai bên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 30-9-2003, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế nhà, đất tại số 49 ngách 58, ngõ 23, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội của bà TrươngThị Bản.
2. Xác nhận thửa đất số 618 tờ bản đồ số 1 năm 1986 đo thực tế có diện tích 415,69m2 và ngôi nhà ngói cổ 5 gian tại 49 ngách 58 ngõ 23 ph•ờng Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, có tổng trị giá là 2.082.250.000 đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cụ Trương Gia Xứng, cụ Kim Thị Chính, cụ Nguyễn Thị Xuyến, cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm 1989 không để lại di chúc, đượcchia theo luật.
3. Xác nhận phần xây dựng của ông Hải có giá trị 43.242.900 đồng.
4. Trích 25% công duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải là 520.562.500 đồng, phần di sản của cụ Xứng, cụ Chính, cụ Xuyến còn lại1.561.687.500 đồng. Thanh toán tài sản chung của vợ chồng mỗi cụ được 520.562.500 đồng.
5. Xác nhận hàng thừa kế của cụ Xứng gồm: cụ Kim Thị Chính, cụ Nguyễn Thị Xuyến, bà Trương Thị Bản, ông Trương Gia Hải, bà Trương Thị Nhân, mỗi kỷ p hần thừa kế đượch•ởng là 104.112.500 đồng.
6. Ghi nhận sự tự nguyện của bà TrươngThị Nhân giao toàn bộ kỷ phần thừa kế đượch•ởng của bố mẹ cho ông TrươngGia Hải nhận.
7. Xác nhận bà Bản được hưởng:
624.633.000 đồng (của cụ Chính)
104.112.500 đồng (của cụ Xứng)
–––––––––––––– Cộng: 728.745.500 đồng
8. Xác nhận ông Hải đượchưởng:
624.633.000 đồng (của cụ Chính)
208.225.000 đồng (của cụ Xứng)
502.562.500 đồng (công duy trì)
–––––––––––––– Cộng: 1.353.420.500 đồng
9. Chia hiện vật:
- Chia cho bà Bản diện tích đất phía bên tay trái từ phía đường nhìn vào có chiều ngang mặt đ•ờng là 3,5m; chiều ngang phía sau giáp nhà ông Tước3,5m; chiều dài phía giáp nhà ông Quế 23,8m và phía giáp đất ông Hải là 23,8m, diện tích 83,1m2 giá trị 415.000.000 đồng và trên phần đất có 16,33m2 tường rào do ông Hải xây giá trị 1.257.410 đồng. Tổng cộng là 416.757.410 đồng và đượcông Hải thanh toán 311.988.090 đồng, phần còn thiếu bà Bản tự mở lối đi ra đ•ờng làng trên phần diện tích đất đượcchia.
- Chia cho ông Hải phần diện tích còn lại phía bên tay phải từ đ•ờng làng nhìn vào có diện tích 332,59m2 và 4.000.000 đồng giá trị nhà cổ 5 gian. Tổng cộng là 1.666.750.000 đồng và có trách nhiệm thanh toán cho bà Bản 311.988.090 đồng.
10. Việc mua bán nhà đất giữa ông Hả i và ông Hà, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
11. Về án phí:
- Tổng giá trị tài sản hai bên đ•ơng sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 29.082.250 đồng. Trong đó bà Bản phải chịu 12.117.038 đồng, ông Hải phải chịu 16.964.465 đồng.
- Xác nhận bà Bản đã nộp 1.000.000 đồng dự phí tại BL 593 ngày 07-9-1995 và 50.000 đồng tiền dự phí kháng cáo tại BL số 5125 ngày 13-6-1996 của Đội thi hành án huyện Từ Liêm.
- Xác nhận ông Hải đã nộp 50.000.000 đồng tiền dự phí kháng cáo ông đã nộp tại BL 5126 ngày 14 -6-1996 của Đội thi hành án huyện Từ Liêm.
Ngày 13-10-2003 bà Bản kháng cáo với lý do: Toà trích công sức duy trì bảo quản tài sản cho ông Hải mức 25% trên tổng giá trị tài sản là quá nhiều; chia hiện vật cho bà 83m2/423m2 đất là quá ít; Toà buộc bà phải gánh chịu một phần nhà mái bằng ông Hải tự ý xây dựng trên đất là không đúng.
Ngày 08 -10-2003 ông TrươngGia Hải kháng cáo không đồng ý chia thừa kế vì theo ông tài sản tranh chấp không phải là di sản của cụ Xứng, cụ Chính.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 209/DSPT ngày 03-12-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định:
“1. Chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế nhà, đất tại số 49 ngách 58, ngõ 23 phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội của bà TrươngThị Bản.
2. Xác nhận thửa đất số 618 tờ bản đồ số 1 năm 1986 đo thực tế có diện tích 415,69m2 và giá trị nhà cổ 5 gian tại 49 ngách 58 ngõ 23 có giá trị 3.329.520.000 đồng bao gồm trị giá đất 415,69m2 ´ 8.000.000 đồng = 3.325.520.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền trị giá nhà cổ + 3.329.520.000 đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cụ Trương Gia Xứng, cụ Kim Thị Chính, cụ Nguyễn Thị Xuyến. Cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965 và cụ Chính chết năm 1989 không để lại di chúc đượcchia theo luật.
3. Xác n hận phần xây dựng của ông Hải có giá trị 33.390.400 đồng (phần tài sản này không tính là di sản để chia)
4. Trích 35% của tổng số giá trị tài sản là 3.329.520.000 đồng để chi công sức duy trì tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải là 1.165.332.000 đồng
Phần để chia di sản của cụ Xứng, cụ Chính và cụ Xuyến còn lại là 2.164.188.000 đồng.
Thanh toán tài sản chung của vợ chồng mỗi người được hưởng là 721.396.000 đồng
5. Xác nhận hàng thừa kế của cụ Xứng gồm cụ Kim Thị Chính, cụ Nguyễn Thị Xuyến, bà Trương Thị Bản, ông Trương Gia Hải và bà Trương Thị Nhân. Mỗi kỷ phần đượch•ởng là 144.279.200 đồng.
6. Ghi nhận sự tự nguyện của bà TrươngThị Nhân giao toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng của bố mẹ cho ông TrươngGia Hải.
7. Xác nhận bà Bản được hưởng là:
721.396.000 đồng (của cụ Chính)
144.279.200 đồng (của cụ Chính)
144.279.200 đồng (của cụ xứng) Tổng cộng: 1.009.954.400 đồng
8. Xác nhận phần của ông Hải được hưởng là:
721.396.000 đồng (của cụ Xuyến)
144.279.200 đồng (của cụ Xuyến)
144.279.200 đồng (của cụ Xứng)
1.165.332.000 đồng (công duy trì) Cộng: 2.175.286.400 đồng
144.279.200 đồng (phần bà Nhân hưởng của cụ Xứng) Tổng cộng: 2.319.565.000 đồng
9. Chia hiện vật:
+ Chia cho bà Bản diện tích phía bên tay trái từ đường nhìn vào có chiều ngang mặt đường là 3,5m; chiều ngang phía sau giáp nhà ông Tước 3,5m; chiều dài giáp nhà ông Quế 23,8m và phía giáp đất ông Hải là 23,8m, có diện tích là 83,3m2 có giá trị là 666.400.000 đồng và 1.257.410 đồng là giá trị 16,33m2 tường rào do ông Hải xây. Tổng cộng bà Bản được hưởng 667.657.410 đồng và được ông Hải thanh toán 342.296.990 đồng phần còn thiếu. Bà Bản tự mở lối đi ra đường làng trên phần diện tích đất đượcchia.
+ Chia cho ông Hải phần diện tích còn lại phía bên tay phải từ đường làng nhìn vào có diện tích (415,6 9m2 - 83,3m2) = 332,39m2 trị giá (332,39m2 ´8T) = 2.659.120 đồng và 4.000.000 đồng trị giá tiền ngôi nhà cổ 5 gian. Tổng là 2.663.120.000 đồng và ông Hải có trách nhiệm thanh toán cho bà Bản là 342.296.999 đồng
10. Việc mua bán nhà đất giữa ông Hải và ông Hà nếu có tranh chấp sẽ đượcgiải quyết bằng vụ án dân sự khác.
11. Về án phí: Tổng giá trị tài sản hai bên đ•ơng sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.329.000 đồng
Trong đó bà Bản phải chịu 10.110.000 đồng, ông Hải phải chịu là 20.219.000 đồng
Xác nhận bà Bản đã nộp 1.000.000 đồng dự phí tại biên lai 593 ngày 07-9-1995 và 50.000 đồng tiền dự phí kháng cáo tại biên lai số 5125 ngày 13 -6-1996 của Đội thi hành án huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Và 50.000 đồng tiền dự phí kháng cáo nộp tại biên lai 0090 97 ngày 13-10-2003 do Phòng thi hành án thành phố Hà Nội thu.
Xác nhận ông Hải đã nộp 50.000 đồng tiền dự phí kháng cáo tại biên lai 5126 ngày 13-6-1996 của Đội thi hành án huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội và 50.000 đồng tiền dự phí kháng cáo nộp tại biên lai 005627 ngày 08 -10-2003 do Phòng thi hành án thành phố Hà Nội thu.
Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm dân sự. Khoản tiền đã nộp dự phí kháng cáo đượctrừ vào tiền án phí phải chịu”.
Sau khi xét xử phúc thẩm ông TrươngGia Hải có đơn khiếu nại.
Ngày 09-11-2005 Viện tr•ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định kháng nghị số 84/QĐ/KNGĐT-V5 với nhận định:
“án dân sự phúc thẩm số 209/DSPT ngày 03 -12-2004 nêu trên trích 35% giá trị tài sản để thanh toán công sức đầu t• và duy trì tài sản cho mẹ con cụ Xuyến là phù hợp.
Xét việc chia hiện vật: Từ năm 1951 đến nay, bà Bản đi lấy chồng và sinh sống tại ngôi nhà 27 phố Lê Lợi, thị xã Hà Đông trên diện tích 100,87m2 đất trong đó có 1 nhà 2 tầng, 2 nhà ngang lợp ngói và các công trình phụ. Ngoài ra bà Bản và chồng là ông Nguyễn Viết Nghiêu còn có nhà 2 tầng trên 74,25m2 đất tại 20 phố An Trạch, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội. Do vậy, bà Bản không có nhu cầu cấp thiết về nơi ở và bà Bản cũng không có hộ khẩu tại Hà Nội nên các bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 14-6-1996 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22-8-1996 và bản án phúc thẩm số 105/DSPT ngày 28-6-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đều quyết định cho bà Bản được hưởng thừa kế bằng giá trị là đảm bảo ổn định đời sống và quyền lợi chính đáng của các đương sự.
Hơn nữa, từ sau khi bản án dân sự phúc thẩm số 105/DSPT ngày 28-6-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội. Theo biên bản xác nhận ngày 16-8-2001 của Cơ quan thi hành án địa ph•ơng và công văn số 35/UB ngày 04 -4-2005 của Uỷ ban nhân dân ph•ờng Mai Dịch, quận Cầu Giấy thì ngày 01 -8-2001 Cơ quan thi hành án quận Cầu Giấy đã ban hành quyết định số 35/THA-DS về việcthi hành bản án phúc thẩm số 105/DSPT và ngày 07-8-2001 ông Trương Gia Hải đã nộp 64.253.582 đồng tiền chênh lệch tài sản cho bà Bản tại kho bạc nhà n•ớc quận Cầu Giấy. Ngày 17-8-2001 ông Hải đã chuyển nh•ợng căn nhà mái bằng do ông xây dựng và diện tích đất đượcgiao trong bản án số 105/DSPT choông Lý Quang Hà. Hợp đồng mua bán đã đượcUBND ph•ờng Mai Dịch, quận Cầu Giấy xác nhận thị thực. Gia đình ông Hà đã nhận nhà đất để ở và làm nghĩa vụ với nhà nước từ năm 2001 đến nay. Song án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 30 -9-2003 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và án phúc thẩm số 209/DSPT nêu trên lại xử chia cho bà Bản 83,3m2 đất trong diện tích đất ông Hải đượcToà án nhân dân thành phố Hà Nội giao tr•ớc đây mà ông Hải đã chuyển nh•ợng cho ông Hà là không đảm bảo đượcquyền lợi chính đáng và gây xáo trộn đời sống của các bên đương sự.
Mặt khác án phúc thẩm số 209/DSPT xử chia diện tích đất nêu trên cho bà Bản hiện nay ông Lý Quang Hà (người mua) đang sử dụng nhưng bản án tuyên: Việc mua bán giữa ông Hải và ông Hà nếu tranh chấp sẽ giải quyết vụ án khác là không giải quyết triệt để vụ án, gây khó khăn trong thi hành án vì không đảm bảo đượcquyền lợi của người đang sở hữu sử dụng quản lý tài sản…
Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ quyết định giám đốc thẩm số 204/DS ngày 25-9-2002 của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao và bản án phúc thẩm nêu trên. Giao hồ sơ vụ kiện cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo h•ớng giữ nguyên hiện trạng nhà đất như hiện nay, ông Hải phải có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch tài sản theo thời giá hợp lý cho bà Bản mới đảm bảo đượcquyền lợi của các đương sự”.
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu giữ nguyên quan điểm như đã nêu trong kháng nghị.
Xét thấy:
Sau khi có bản án dân sự phúc thẩm số 105/DSPT ngày 28-6-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thì ngày 20 -8-2001 ông TrươngGia Hải đã lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ nhà đất nói trên cho ông Lý Quang Hà; hợp đồng này đã được Uỷ ban nhân dân phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xác nhận và ông Hà đã quản lý, sử dụng toàn bộ nhà đất này.
Bản án số 105/DSPT nêu trên đã bị huỷ, khi giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ông Lý Quang Hà vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật.
Bà Bản có yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật trong khi toàn bộ nhà đất là di sản thừa kế ông Hải đã chuyển nh•ợng cho ông Hà; Do đó, việc giải quyết yêu cầu chia thừa kế của bà Bản và giải quyết hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Hải và ông Hà phải đượcgiải quyết đồng thời trong cùng vụ án này. Việc ông Hà từ chối, không tham gia tố tụng thì Toà án vẫn có thể xét xử vắng mặt ông Hà theo quy định của pháp luật tố tụng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 30 -9-2003 và bản án dân sự phúc thẩm số 209/DSPT ngày 03-12-2004 đều quyết định chia cho bà Bản 83,3m2 đất nằm trên tổng diện tích 415,69m2 đất mà ông Hải đã bán cho ông Hà, mà không có quyết định giải quyết phần hợp đồng mua bán nhà, đất giữa ông Hải với ông Hà liên quan đến phần đất giao cho bà Bản là chưa đúng pháp luật tố tụng và không thể thi hành án được.
Việc bản kháng nghị của Viện tưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chia di sản cho bà Bản bằng giá trị là phần giải quyết về nội dung tranh chấp của vụ án. Vấn đề này khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án, Toà án sẽ căn cứ vào tài liệu chứng cứ do các bên xuất trình, kết quả tranh tụng tại phiên toà và quy định của pháp luật để quyết định theo thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;
Quyết định:
1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 209/DSPT ngày 03-12-2004 của Toà
phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 30-9-2003 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết việc tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà TrươngThị Bản với bị đơn là ông TrươngGia Hải; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Nhân và ông Lý Quang Hà.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội để giải quyết, xét xử sơ thẩm lại theo đúng qu y định của pháp luật.
____________________________________________
- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:
Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm quyết định chia cho nguyên đơn phần diện tích đất nằm trong diện tích đất mà bị đơn đã bán cho người khác, trong khi không xem xét, quyết định về hợp đồng mua bán này là chưa đúng pháp luật tố tụng.
- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ t hẩm và phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc áp dụng quy định của luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
SOURCE: CÁC QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO NĂM 2006 – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ CƠ QUAN PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ HOA KỲ (USAID). 2008

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code