Showing posts with label TTDS - Tinh huong to tung. Show all posts
Showing posts with label TTDS - Tinh huong to tung. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI: VỤ SIÊU MẪU NGỌC THÚY BỊ KIỆN, MUỐN THI HÀNH PHẢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN

NGUYÊN TẤN
Vụ việc ông Nguyễn Đức An, Việt kiều Mỹ mới đây kiện vợ cũ của mình – người mẫu Ngọc Thuý – để đòi khối tài sản trị giá khoảng 288 tỉ đồng đặt ra một số vấn đề pháp lý thú vị.
Bản án của toà án Hoa Kỳ đã có phán quyết những tài sản ấy là sở hữu của ông An nhưng vì sao ông này vẫn phải kiện lại tại toà án Việt Nam? 
Phải được công nhận
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) bất kỳ một bản án hay quyết định (dân sự) của cơ quan tài phán nước ngoài muốn có hiệu lực tại Việt Nam thì phải được toà án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành.
Toà án Việt Nam sẽ tiến hành việc công nhận trong trường hợp bản án, quyết định của toà án của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP). Ngoài ra, việc công nhận cũng có thể được xem xét trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi nước đó đã ký HĐTTTP hay chưa.
Hiện nay, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký HĐTTTP. Do đó, bản án ly hôn liên quan đến tài sản tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ muốn được công nhận thì sẽ phải được xem xét trên cơ sở có đi có lại (có đi có lại, tức là coi xem đã có bản án, quyết định nào của toà án Việt Nam được Hoa Kỳ công nhận và thi hành hay chưa, nếu đã có rồi thì sẽ tiến hành việc công nhận, thi hành).
Một thẩm phán TAND TPHCM cho biết thực tế đã có một số bản án, quyết định của toà án Hoa Kỳ được công nhận và thi hành tại Việt Nam. Vì vậy, nếu ông An yêu cầu toà án Việt Nam công nhận thì có khả năng sẽ được toà án xem xét.
Vậy, tại sao lại kiện?
Tuy nhiên, để bản án, quyết định được công nhận thì còn phải đảm bảo một số nguyên tắc như không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam v.v…

Theo Điều 411, BLTTDS, vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Như vậy, phán quyết liên quan đến các tài sản là nhà đất tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ sẽ không thể được công nhận và thi hành vì những tài sản trên thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam.
Hơn nữa, theo quy định của pháp luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thế nên, nếu toà án Hoa Kỳ tuyên những tài sản ấy là sở hữu của ông Nguyễn Đức An thì bản án đó đã trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, tức là sẽ không được công nhận, thi hành.
Đây có thể là lý do buộc ông An phải khởi kiện một vụ án độc lập để yêu cầu toà án Việt Nam xác định quyền đối với những tài sản của mình tại Việt Nam. Một thẩm phán TAND TPHCM cho rằng ông An hoàn toàn có quyền khởi kiện bất kỳ lúc nào chứ không bắt buộc phải làm thủ tục công nhận và thi hành bản án xong, không được, thì mới khởi kiện.
LS Phan Trung Hoài:
Băn khoăn về thẩm quyền của toà án                                                          
Vụ việc một Việt kiều kiện đòi tài sản một siêu mẫu Việt Nam và được Tòa án nhân dân TPHCM thụ lý và giải quyết đang thu hút sự quan tâm của dư luận và những người hành nghề luật. Vụ việc này liên quan đến một lĩnh vực khá phức tạp của tư pháp quốc tế, trong đó nảy sinh vấn đề xung đột về quyền tài phán và áp dụng luật trong quan hệ tranh chấp tài sản trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Theo thông tin trên báo chí, về phía Toà án Mỹ đã công nhận nhiều tài sản trị giá 288 tỉ đồng ở Việt Nam là của ông Nguyễn Đức An-Việt kiều Mỹ trong vụ ly hôn với người mẫu Ngọc Thuý. Tuy nhiên, thực tế ông An hiện vẫn phải khởi kiện một vụ án khác tại Việt Nam để đòi lại những tài sản trên. Câu hỏi đặt ra là, bản án của Tòa án Mỹ có giá trị hiệu lực tại Việt Nam và tại sao đã có bản án rồi mà ông An vẫn phải tiến hành khởi kiện tại Tòa án Việt Nam ?
Về nguyên tắc, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài để được thi hành tại Việt Nam thì phải tiến hành thủ tục yêu cầu công nhận gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam. Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền và Tòa án có thẩm quyền sẽ tiến hành thụ lý, mở phiên họp xét đơn yêu cầu, quyết định việc công nhận cho thi hành hoặc không công nhận cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.
Đối chiếu với trường hợp nêu trên, nếu bản án của Tòa án Mỹ liên quan việc giải quyết quan hệ hôn nhân và có quyết định về tài sản chưa làm thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, nên chưa phát sinh hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, việc Tòa án Việt Nam lại tiến hành thụ lý vụ kiện đòi tài sản đã được một bản án của Tòa án Mỹ quyết định đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cẩn được đánh giá và xem xét.
Theo quy định tại điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDS), Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây: “Vụ việc dân sự về quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng có ít nhất một trong các đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài.”
Điều 411 BLTTDS quy định: “Vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam” sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Mặt khác, điều 356 BLTTDS quy định: Những bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam đó là “Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà án Việt Nam … hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận”.
Như vậy, về góc độ pháp lý, ngay từ đầu, nếu bản án ly hôn giữa người mẫu Ngọc Thúy và ông Nguyễn Đức An, trong đó Tòa án Mỹ có phán quyết liên quan đến tài sản là bất động sản tại Việt Nam làm phát sinh xung đột pháp luật liên quan vấn đề áp dụng luật, trong đó nhiều khả năng quyết định nói trên trái với quy định của pháp luật Việt Nam, nên có thể không được xem xét là có giá trị pháp lý để công nhận.
Ngoài ra, Điều 413 BLTTDS còn quy định việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp đã có Toà án nước ngoài giải quyết với điều kiện: “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và nước có Toà án ra bản án, quyết định dân sự đó và Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự” hoặc “…Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”.
Do hiện nay giữa nước CHXHCN Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự và hôn nhân gia đình, nên việc ông Nguyễn Đức An phải khởi kiện về việc tranh chấp tài sản đối với người mẫu Ngọc Thúy để yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp đối với tài sản của mình chỉ có thể được Tòa án Việt Nam thụ lý sau khi đã tiến hành thủ tục công nhận phán quyết của Tòa án Mỹ tại Việt Nam mà không được phiá Việt Nam công nhận cho thi hành. Trong trường hợp này, ông Nguyễn Đức An có thể khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản nhờ người trong nước đứng tên như là một quan hệ tranh chấp độc lập thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN
Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/62794/Vu-sieu-mau-Ngoc-Thuy-bi-kien-Muon-thi-hanh-phai-duoc-cong-nhan.html

Wednesday, March 19, 2014

13 NĂM ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐẮC NÔNG: TÒA XỬ NGUYÊN ĐƠN THUA KIỆN BẰNG MỌI GIÁ

Một vụ kiện đòi quyền sử dụng đất khá đơn giản, nhưng các bản án sơ thẩm của TAND huyện Đắc Mil (Đắc Nông) dù lần lượt bị toà cấp trên tuyên hủy. Không thể xử nguyên đơn thua kiện bằng mọi giá, toà huyện bèn “nại” ra nhiều lý do để … “ngâm” án.
13 năm chờ xét xử, giữa nguyên đơn và bị đơn liên tiếp xảy ra các vụ đập phá nhà cửa, chặt phá càphê, xô xát lẫn nhau …
Càng xử, càng sai
Từ năm 1986 -1989, ông Nguyễn Minh Hùng (trú xã Đức Mạnh, huyện Đắc Mil) khai hoang được 6.100m2 đất tại khu vực đồi Trung Đoàn, thuộc xã Đức Mạnh. Năm 1994, ông được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích nói trên.
Cuối năm 1994, có ông Nguyễn Văn Hai – là người cùng xã – “nhảy” vào lấn chiếm của ông Hùng 3.000m2 và bán cho ông Lê Tấn Huy ở thị trấn Đăk Mil. Đầu năm 1995, ông Hùng khởi kiện ông Hai và ông Huy ra TAND huyện Đắc Mil để đòi đất.
Sự việc chỉ có vậy, nhưng phải mất 3 năm sau (tháng 4.1998), TAND huyện Đắc Mil mới đưa ra xét xử. AÁn sơ thẩm buộc ông Lê Tấn Huy phải trả lại 1.000m2 đất cho ông Hùng, nhưng ông Hùng phải… bồi thường giá trị 103 cây càphê mà ông Huy đã trồng trên đất này.
Ông Hùng cho rằng phải bồi thường cho người lấn chiếm đất là vô lý, đồng thời đất của ông bị lấn chiếm là 3.000m2 chứ không phải chỉ có 1.000m2 như toà xử, nên kháng cáo.
Tháng 10.1998, trong phiên xử phúc thẩm, TAND tỉnh Đắc Lắc đã tuyên huỷ án sơ thẩm, yêu cầu điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm. Thế nhưng, TAND huyện Đắc Mil đã “ngâm” vụ này tới… 12 năm, khiến ông Hùng phải vác đơn khiếu nại khắp nơi. Tháng 11.2006 TAND tỉnh Đắc Nông (lúc này tỉnh Đắc Lắc đã chia tách thành 2 tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông) phải có công văn thúc giục TAND huyện Đắc Mil xét xử lại.
Và ngày 3.8.2007, vụ kiện này mới được TAND huyện Đắc Mil xét xử sơ thẩm lần 2, nhưng bản án dân sự số 22/2007/DSST lại bác yêu cầu khởi kiện của ông Hùng, kiến nghị UBND huyện thu hồi “sổ đỏ” toàn bộ diện tích đất ông đã khai hoang trước đây.
Như vậy, ông Hùng đã không đòi được mét đất nào, mà còn… mất thêm 3.000m2 nữa. Ông Hùng lại kháng cáo. Và trong phiên xử phúc thẩm tháng 11.2007, TAND tỉnh Đắc Nông lại tuyên hủy án sơ thẩm, yêu cầu “điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm”. Tùy tiện hay khuất tất?

Lý do chậm trễ xét xử vụ kiện đơn giản này được ông Phan Tuấn Đào – Chánh án TAND huyện Đắc Mil – giải thích: “Quá trình xác minh lại vụ việc đã xảy ra xô xát giữa nguyên đơn và bị đơn; vì vậy, chúng tôi không thể hoàn tất nhanh chóng được. Việc chính quyền cấp “sổ đỏ” cho ông Hùng cũng có vấn đề, nên chúng tôi phải chờ ý kiến trả lời của Sở TNMT và các ngành liên quan”.
Tuy nhiên, sau 12 năm xác minh và lấy ý kiến, bản án sơ thẩm lần 2 của TAND huyện Đắc Mil vẫn bị tuyên hủy. Điều này cho thấy lý do mà TAND huyện “nại” ra không thuyết phục. Đáng chú ý là TAND tỉnh Đắc Nông đã chỉ ra những vi phạm rất nghiêm trọng của TAND huyện Đắc Mil về quy trình tố tụng dân sự trong phiên xử sơ thẩm lần 2.
Đó là: Không đưa ra tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý, mà chỉ dựa vào lời khai của bị đơn để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; dùng các quyết định đã hết hiệu lực từ lâu để làm căn cứ tuyên án; các biên bản xác minh, lấy lời khai, đối chất không thể hiện có thẩm phán làm việc và ký xác nhận … Cũng theo TAND tỉnh (tại bản án phúc thẩm), TAND huyện Đắc Mil còn làm sai lệch nội dung vụ án.
Vì sao TAND huyện Đắc Mil cứ cố xử cho nguyên đơn thua kiện bằng mọi giá, thể hiện qua hai bản án sơ thẩm thiếu căn cứ và vi phạm pháp luật? Năng lực của toà yếu kém đến mức không thể chấp nhận được, hay có gì khuất tất ở đây?
Tính đến thời điểm này, vụ kiện đã kéo dài sang năm thứ 13. Nhưng cũng như lần trước, sau khi TAND tỉnh tuyên hủy án sơ thẩm, ông Hùng lại “dài cổ” chờ toà huyện xử lại.
Bao giờ vụ án mới được TAND huyện Đắc Mil xét xử sơ thẩm… lần 3, và liệu khi đó có ra được một bản án đúng pháp luật, hay vẫn tiếp tục cái vòng luẩn quẩn tuyên án – hủy án – xét xử lại?
SOURCE: Đặng Trung Kiên-Lao Động

TÒA ÁN HUYỆN ĐẮC NÔNG XÉT XỬ BỎ QUA NHIỀU CHỨNG CỨ TRONG MỘT VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

 Đã 85 tuổi, nhưng cụ bà Mai Thị Diệp (Nghĩa Tân, thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắc Nông, tỉnh Đắc Nông) vẫn phải nhiều lần làm đơn kêu cứu gửi các cơ quan chức năng, cơ quan báo chí, chính quyền các cấp để khiếu nại việc TAND huyện Đắc Nông (cũ) đã bỏ qua nhiều chứng cứ quan trọng trong vụ khiếu kiện đất đai giữa cụ và ông Nguyễn Tiến Đức, dẫn tới việc cụ bị xử oan, mất đất.
Đất có nguồn gốc
Mảnh đất của bà Mai Thị Diệp cho CA huyện Đắc Nông mượn đã bị TAND huyện xét xử cho rằng đó là đất của ông Đức
Theo cụ Diệp, trước năm 1975, do gia đình cụ cùng với nhiều gia đình khác ở huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi có thân nhân tham gia kháng chiến nên bị chính quyền chế độ cũ đưa vào Tây Nguyên để cách ly với cách mạng.
Để ổn định cuộc sống, gia đình cụ đã khai phá 3ha đất thuộc xã Bích Khê, quận Khiêm Đức, tỉnh Quảng Đức (nay là thôn Nghĩa Tân, thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắc Nông, tỉnh Đắc Nông).
Để mở rộng diện tích đất canh tác, ngày 26.9.1972 và ngày 28.9.1972, cụ có mua lại 3 sào đất của vợ chồng ông Đào Tiệp, trong giấy mua bán có ghi rõ vị trí tiếp giáp của thửa đất và được chính quyền cũ xác nhận.
Sau năm 1975, cụ Diệp đã cho Công an (CA) huyện Đắc Nông mượn thửa đất cụ mua của vợ chồng ông Đào Tiệp. Ông Đặng Hồng Sơn – nguyên Trưởng CA huyện là người trực tiếp mượn đất của bà Diệp. Việc CA huyện Đắc Nông mượn đất của bà Diệp có sự xác nhận của các đời trưởng CA huyện  và cán bộ lãnh đạo huyện Đắc Nông như các ông Đặng Hồng Sơn, Trần Duy Thiện, K Beo, Trần Công Sứ…
Khi chuyển lên UBND huyện Đắc Nông công tác, ông K Beo bàn giao việc lãnh đạo CA huyện Đắc Nông cho ông Nguyễn Văn Lộc.
Ông Lộc không biết đất CA huyện mượn đất của bà Mai Thị Diệp, nên đã thoả thuận cấp cho ông Nguyễn Văn Năng 200m2 đất (thuộc diện tích đất của cụ Diệp – PV). Khi chuyển về Quảng Nam công tác, ông Năng nhượng lại phần diện tích trên cho ông Nguyễn Tiến Đức – cán bộ VKSND tỉnh Đắc Lắc. Ngày 24.12.1999, ông Đức được UBND tỉnh Đắc Lắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích 864m2 (!?). Những chứng cứ quan trọng bị toà án bỏ qua
Tháng 5.2002, cụ Diệp mới được biết chính quyền huyện Đắc Nông lấy khu  có diện tích 864m2, thuộc thôn Nghĩa Tân, thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắc Nông, tỉnh Đắc Lắc (nay thuộc phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông) là đất của cụ để cấp cho ông Nguyễn Tiến Đức.
Cụ đã làm đơn khiếu nại lên TAND huyện Đắc Nông. Ngày 30.5.2003, TAND huyện xét xử sơ thẩm, buộc cụ Diệp phải dỡ nhà, trả lại toàn bộ diện tích 864m2 đất cho ông Đức. Bản án dân sự phúc thẩm số 90/DSPT ngày 8.9.2003 của TAND tỉnh Đắc Lắc đã giữ nguyên phán quyết của phiên sơ thẩm. Cơ sở pháp lý để toà tuyên mảnh đất thuộc về ông Đức, vì đó là đất có nguồn gốc của lực lượng CA.
Để làm sáng tỏ những khiếu nại của cụ Mai Thị Diệp, PV Lao Động đã có buổi làm việc với ông Trần Duy Thiện – nguyên Trưởng CA huyện Đắc Nông. Ông Thiện cho biết: “Năm 1972, bà Diệp mua lại 3 sào đất của ông Đào Tiệp để khai khẩn.
Sau năm 1975, ông Hồng Sơn – nguyên Trưởng CA huyện Đắc Nông đã trực tiếp mượn một phần khu đất của bà Diệp để làm trại giam. Về hưu, ông Sơn đã bàn giao lại cho tôi, sau tôi lại bàn giao cho ông K Beo. Ông K Beo lại bàn giao cho ông Lộc.
Có thể ông Lộc không biết rõ khu đất nên mới cấp cho ông Năng”. Bà Đào Thị Thiệt là con ông Đào Tiệp (người đã bán đất cho cụ Diệp) cũng đã xác nhận: Mảnh đất của cụ Diệp là do bố mẹ bà bán lại.
Ngoài ra, ngày 10.11.2006, trong đơn xác nhận về nguồn gốc của bà Mai Thị Diệp, ông K Beo – nguyên Trưởng CA huyện Đắc Nông, hiện nay là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắc Nông, có ghi:… Qua đơn xin xác nhận nguồn gốc đất của bà Mai Thị Diệp, ở tổ 2, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông. Về vị trí, diện tích của thửa đất mà tôi có biết của bà Diệp là thửa đất mà CA huyện đã mượn để làm trại giam…
Thửa đất này hiện đang tranh chấp với ông Nguyễn Tiến Đức – cán bộ Viện KSND huyện Đắc Lắc. Những lời xác nhận trên đây là hoàn toàn đúng sự thật, rất mong các cơ quan xem xét, giúp đỡ làm rõ khiếu nại về đất đai của bà Diệp để trả lại sự công bằng của xã hội và pháp luật”.
Ông Phan Quốc Quế – Chánh thanh tra thị xã Gia Nghĩa – cho biết: “Sau khi nhận được đơn khiếu nại của bà Mai Thị Diệp, Thanh tra thị xã Gia Nghĩa đã điều tra, xác minh lại sự việc và đã có văn bản số 115/TTrTX, ra ngày 18.12.2006 gửi Toà án Nhân dân Tối cao.
Nội dung văn bản chứng minh rõ thửa đất UBND tỉnh Đắc Lắc cấp giấy chứng nhận QSDĐ số P207522, ngày 24.12.1999, đứng tên ông Nguyễn Tiến Đức là đất có nguồn gốc đất của bà Mai Thị Diệp, trên mảnh đất bà Diệp cho CA huyện Đắc Nông mượn, đã bị ông Lộc cấp cho ông Năng khoảng 200m2.
Tuy nhiên, khi ông Đức mua lại của ông Năng và được chính quyền cấp “sổ đỏ” thì diện tích lại “nở” ra thành 864m2. Và, toàn bộ phần đất đó cũng là đất của bà Diệp mua từ 1972… Theo tôi, cán bộ được phân công tiến hành tố tụng vụ án nói trên đã làm sai lệch hồ sơ vụ việc, nên bản án số 03/DSST của TAND huyện Đắc Nông phán quyết không đúng”.
Trong quá trình xét xử, cả hai cấp toà đều cho rằng: Toàn bộ diện tích đất của ông Đức nằm ngoài diện tích đất của bà Diệp.
Tuy nhiên, khi đưa ra nhận định này, cả hai cấp toà đều không tham khảo đến “giấy nhượng đất” của vợ chồng ông Đào Tiệp  bán cho bà Mai Thị Diệp, trong đó diện tích đất của ông Đức đã được cấp sổ đỏ năm 1999 nằm trong phần đất của cụ Diệp đã mua lại của vợ chồng ông Đào Tiệp năm 1972. Ngoài ra, hai cấp toà đã không xem xét tới các đời CA huyện Đắc Nông xác nhận mượn đất của cụ Diệp để phục vụ lợi ích quốc gia.
Được biết, ngoài việc là gia đình có truyền thống cách mạng, thời gian qua, gia đình bà Diệp còn hiến hàng nghìn mét vuông đất để xây dựng trường lớp ở địa phương.
SOURCE: Việt Lâm-Lao Động

Thursday, February 13, 2014

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ
Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:
Vụ việc
Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.
Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.
Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.
Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.
Vấn đề
Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:
- Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:
Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.
Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
- Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:
Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.
Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.
Án lệ
Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.
Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.
Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …
Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.
Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.
Áp dụng ở VN
VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.
Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.
Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.
Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

Sunday, January 12, 2014

NGƯỜI TIÊU DÙNG KIỆN DOANH NGHIỆP NƯỚC TƯƠNG BỒI THƯỜNG 30 TỶ ĐỒNG

Anh Hà Hữu Tường, một cử nhân luật ở Q.Thủ Đức- TPHCM đã thay mặt hàng triệu người tiêu dùng, vừa chính thức khởi kiện các cơ sở nước tương “đen” và yêu cầu bồi thường 30 tỷ đồng!
Dù các DN đã có lời xin lỗi đến người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên anh Hà Hữu Tường- cử nhân Luật, cán bộ thi hành án dân sự quận 8 cho rằng: Các bên liên quan đến sai phạm phải bị xử lý theo đúng luật định.
“Người dân đòi hỏi sự giải quyết triệt để, làm tiền đề cho tất cả những vụ việc tương tự nếu có xảy ra. Tôi nghĩ đây cũng là cách đấu tranh cho những doanh nghiệp (DN) làm ăn chân chính, xây dựng một nền kinh tế an toàn và phát triển thực sự do dân và vì dân” – Anh Tường nói.
Theo đơn khởi kiện, anh Tường yêu cầu các nhà sản xuất phải bồi thường thiệt hại 30 tỷ đồng đối với sức khỏe và tính mạng hàng triệu NTD đã sử dụng sản phẩm nước tương chứa 3-MCPD vượt tiêu chuẩn trong nhiều năm qua. Yêu cầu Nhà nước truy thu khoản thu nhập bất hợp pháp của các nhà sản xuất và có mức phạt cụ thể với những hành vi sai phạm đã gây ra.
Các doanh nghiệp nói gì?
Ông Nguyễn Thế Hưng- GĐ Xí nghiệp nước chấm Nam Dương cho biết: “Tôi chỉ nhận được thông tin này thông qua Tiền phong và sẽ ghi nhận ý kiến của riêng Tiền phong còn vấn đề ai đó có kiện thì tôi không biết, không có ý kiến về chuyện kiện hay đòi bồi thường”.
Trong khi đó, bà Phan Thị Kim Cương – PGĐ Công ty Nosafood cho biết, rất bất ngờ khi Tiền phong thông tin. Bà Kim Cương cho rằng: “Chất gây ung thư 3-MCPD mới chỉ có tác hại trên chuột sau một nghiên cứu còn đối với người chưa có thông tin nào chính thức về việc 3-MCPD trong nước tương gây ung thư. Tôi chỉ mới nghe khuyến cáo ở người thôi, nên vấn đề kiện doanh nghiệp là không khả thi”.
Cũng theo lá đơn khởi kiện tại Tòa án Nhân dân TPHCM và Hội Tiêu chuẩn & Bảo vệ NTD VN, anh Tường đưa ra những bằng chứng vi phạm pháp luật nghiêm trọng của các bên liên quan.
Đó là, đối với các DN và cơ sở sản xuất: Vi phạm về nhãn mác, quảng cáo sai sự thật khiến NTD lầm tưởng là sản phẩm hàng hóa đạt chất lượng tốt. Các đơn vị này đã chế biến, cung cấp, bán thực phẩm dù biết rõ là sản phẩm không an toàn nhằm thu lợi bất chính từ mỗi người dân và hộ gia đình.
Ngoài ra, theo anh Tường, trong vụ việc này ngành Y tế cũng mắc hàng loạt vi phạm như: Với trọng trách được Nhà nước và nhân dân trao quyền, một số “quan” đã ém nhẹm và che giấu thông tin, bảo vệ sự làm giàu phi pháp của nhà sản xuất.
Đằng sau sự khuất tất ấy, có hay không những tiêu cực trong suốt 6 – 7 năm trời và ai sẽ là người hưởng lợi?! Chiếu theo Luật Bảo vệ NTD thì với những sai phạm này, một số “quan” dính líu của ngành Y tế phải chịu một hình phạt thật nghiêm khắc!
Nên để Hội Bảo vệ người tiêu dùng đứng ra khởi kiện
Luật sư Nguyễn Thị Thanh Hà, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần của anh Tường khi đứng ra làm đơn khởi kiện cho những người tiêu dùng khác là đáng được ghi nhận. Tuy nhiên, xét về góc độ pháp luật tố tụng, đơn khởi kiện này khó có thể được Tòa án chấp nhận.
Thứ nhất, anh Tường chỉ là một cá nhân, theo luật thì cá nhân có thể kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, nếu thay mặt cho những người khác phải được sự ủy quyền hợp pháp của những người đó; còn việc khởi kiện bảo vệ quyền lợi người khác hay lợi ích công cộng chỉ do các cơ quan, tổ chức có chức năng trong lĩnh vực phụ trách của mình mới có quyền khởi kiện.
Thứ hai, đơn khởi kiện phải ghi rõ bị đơn là ai, chứ không thể ghi chung chung các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nước tương và ngành y tế được.
Thứ ba, yêu cầu bồi thường 30 tỷ đồng cho “sức khỏe và tính mạng của hàng triệu người tiêu dùng”, mà không rõ là bồi thường cho cụ thể ai. Thứ tư, kèm theo đơn phải có chứng cứ cụ thể chứng minh cho yêu cầu bồi thường 30 tỷ đồng này.
Vì vậy, trong trường hợp này, tốt nhất là anh Tường hoặc những người tiêu dùng khác nên yêu cầu tổ chức bảo vệ người tiêu dùng (ví dụ như các Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam hoặc của các địa phương), hoặc các tổ chức nói trên tự mình đứng ra khởi kiện vì lợi ích xã hội, lợi ích của hàng triệu người tiêu dùng.
SOURCE: VNMEDIA

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: BỊ TÂM THẦN, CHA MẸ CÓ ĐƯỢC THAY MẶT XIN LY HÔN?

TÙNG CHI

Pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không. Ngành tòa án từ chối giải quyết trong khi thực tế đã xuất hiện không ít trường hợp tương tự…

Mới đây, TAND một quận tại TP.HCM đã trả đơn trong một vụ xin ly hôn khá lạ: Cha mẹ của một người đàn ông bị tâm thần đề nghị thay mặt con trai đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa nhằm giúp người con dâu được tự do, có cơ hội đi lấy chồng khác.

Giải thoát cho con dâu

Người con dâu trong vụ này là chị G. Theo trình bày của chị, vợ chồng chịlấy nhau được hơn 10 năm, có với nhau hai mặt con. Trước đây, chồng chị hoàn toàn bình thường nhưng sau mấy năm đi làm thuê ở một số nơi về thì thấy có dấu hiệu thần kinh không ổn định. Sau đó người chồng đổ bệnh, ốm liền mấy tháng, khi tạm khỏe lại thì đầu óc không còn minh mẫn như trước, suốt ngày tưng tưng, nói năng lảm nhảm.

Hai năm trước, chị cùng gia đình đưa chồng đến bệnh viện tâm thần khám. Các bác sĩ kết luận chồng chị bị tâm thần nặng. Gần đây, thấy bệnh tâm thần của con trai chữa trị mãi nhưng không hết mà có phần nặng thêm, phía gia đình chồng đã vận động chị G. đứng đơn xin ly hôn để tìm hạnh phúc mới.

Tuy nhiên, do thương chồng và cũng đã lớn tuổi, chị G. không chịu, quyết định ở vậy chăm sóc chồng và các con. Về phía cha mẹ chồng, vì muốn giải thoát cho con dâu khỏi cảnh khổ nên khi vận động không được, họ đã quyết định thay con trai làm đơn “xin ly hôn giùm”.

Luật không cho phép đại diện

Nghiên cứu đơn “xin ly hôn giùm” này, tòa đã giải thích cho cha mẹ chồng chị G. biết là theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được.

Cha mẹ chồng chị G. vẫn thắc mắc rằng bản thân con trai họ đang bị bệnh tâm thần, làm sao tỉnh táo được như người bình thường mà khởi kiện hay tham gia tố tụng. Họ thương người con dâu đã bao năm vất vả vì chồng vì con, giờ có chồng mà cũng như không. Họ muốn gánh trách nhiệm lo lắng, chăm sóc, nuôi dưỡng con trai để con dâu có cơ hội đi tìm hạnh phúc mới. Chẳng lẽ người con dâu của họ sẽ phải bị giam hãm cả cuộc đời mình với người chồng tâm thần suốt đời suốt kiếp hay sao?

Thông cảm với trường hợp này, thấu hiểu tâm tư của cha mẹ chồng chị G. nhưng cuối cùng tòa vẫn phải trả đơn kiện, từ chối giải quyết vụ án.

Nhiều cách hiểu nhưng vẫn bế tắc

Chuyện nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không, pháp luật chưa điều chỉnh. Tại một hội thảo gần đây, lãnh đạo Tòa Dân sự TAND Tối cao cho biết hiện còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng cần áp dụng Điều 64 Bộ luật Dân sự để cử cha, mẹ của người bệnh làm người giám hộ. Họ sẽ đại diện cho con đứng đơn kiện và tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, việc này trái với Điều 62 Bộ luật Dân sự vì tòa chỉ được cử người giám hộ khi người bệnh chưa có người giám hộ đương nhiên. Trường hợp cụ thể này, người giám hộ đương nhiên theo pháp luật của người bệnh lại chính là vợ hay chồng họ.

Quan điểm thứ hai lại nói nên áp dụng Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự để chỉ định cha, mẹ người bệnh làm người giám hộ. Nhưng theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, làm vậy cũng không được vì chỉ áp dụng được trong trường hợp tòa đã thụ lý vụ án. Tức là nếu vợ hay chồng của người bệnh đứng đơn khởi kiện xin ly hôn và tòa đã nhận đơn thì tòa mới có quyền chỉ định. Một khi tòa chưa thụ lý đơn thì theo Điều 58, Điều 62 Bộ luật Dân sự, chỉ một người duy nhất có quyền giám hộ cho người bệnh là chồng hay vợ của họ.

Cũng theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, vợ hay chồng của người bệnh chỉ mất quyền giám hộ khi bản thân họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác (chưa được xóa án tích) hoặc có bản án xác định họ mất năng lực hành vi dân sự. Khi ấy mới có thể công nhận cha, mẹ của người bệnh có quyền giám hộ, quyền đại diện cho người bệnh để khởi kiện xin ly hôn…

Gần 20 năm không thể ly hôn

Trước đây, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh trường hợp của ông P., ngụ quận Gò Vấp yêu cầu tuyên bố vợ ông mất năng lực hành vi dân sự để ly hôn nhưng gần 20 năm qua vẫn không được.

Số là vợ chồng ông P. kết hôn năm 1987, có một con gái nhưng vợ ông có biểu hiện tâm thần như bỏ nhà đi, nói lăng nhăng, phá phách, chửi bới, đánh con… 12 năm trước ông xin ly hôn nhưng tòa bác vì tại tòa người vợ nói mình hoàn toàn bình thường. Gần đây, ông yêu cầu tòa tuyên bố vợ mất năng lực hành vi dân sự để ly hôn nhưng tòa năm lần bảy lượt mời đến giải quyết, vợ ông đều kiên quyết không hợp tác. Khổ nỗi luật không cho phép tòa được cưỡng chế khi vợ ông không hợp tác nên vụ án đành phải… treo.

Phải luật hóa

Theo tôi, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi lần này cần phải quy định chế độ đại diện với các vụ án ly hôn khi chồng hoặc vợ mất năng lực hành vi dân sự. Cụ thể, khi giải quyết về tài sản và con chung mà xét thấy có ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh thì cần phải có người đại diện của họ tham gia. Người đại diện trong trường hợp này, theo tôi, tốt nhất là người giám hộ theo hàng thứ hai của người bệnh, tức cha hoặc mẹ.

Tiến sĩ NGUYỄN VĂN TIẾN, Đại học Luật TP.HCM

Hướng dẫn tạm thời

Thực tiễn cho thấy những vụ xin ly hôn liên quan đến một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự không phải ít. Tuy nhiên, các hướng dẫn thì rất thiếu cho nên không có cơ quan nào có thẩm quyền yêu cầu chỉ định người giám hộ thay thế người bị mất năng lực để giải quyết cho dứt điểm vụ ly hôn. Để giải quyết những trường hợp này khi chưa sửa luật, tôi nghĩ cần phải có hướng dẫn cụ thể từ phía TAND Tối cao để tạm thời gỡ vướng.

Một thẩm phán TAND TP.HCM
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…
Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Từ đó, tòa buộc Công ty TG phải chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu, đồng thời thu hồi toàn bộ mặt hàng bánh tráng K’ trên thị trường Mỹ. Về phần phí luật sư, tòa nhận định chi phí này của Công ty TP là hợp lý, cần thiết, cần chấp nhận bởi phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Điều này cũng đã có lợi cho phía bị đơn bởi nguyên đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần…

Phí luật sư: Chấp nhận hay không?

Có thể nói đây là lần đầu tiên một tòa án chấp nhận yêu cầu bồi hoàn chi phí thuê luật sư của đương sự. Trước đây, gặp tình huống này, các tòa đều bác, lập luận rằng một khi đương sự đã chủ động quyết định thuê luật sư thì phải tự lo. Tòa chỉ chấp nhận những khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và thật sự cần thiết.

Theo một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM, Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo thỏa thuận của đương sự với luật sư, trong phạm vi quy định của văn phòng luật sư và quy định của pháp luật. Chi phí cho luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Vì thế, chi phí luật sư không phải là chi phí cần thiết để đeo đuổi một vụ kiện, từ đó bắt phía vi phạm trong vụ án phải gánh chịu.

Đồng tình, một thẩm phán TAND quận 11 (TP.HCM) cũng cho rằng kết quả giải quyết một vụ án do tòa quyết định, không phụ thuộc vào yếu tố có hay không có luật sư. Có thể nói rằng dù có hay không có luật sư, tòa vẫn phải giải quyết vụ việc đúng pháp luật.

Ở một góc độ khác, luật sư Châu Huy Quang (Hãng luật LCT Lawyers) phân tích: Theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu tòa buộc bên vi phạm phải bồi hoàn chi phí hợp lý để thuê luật sư. Dù có khác với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đây có lẽ là điểm tiến bộ trong quá trình cải cách tư pháp ở chỗ thừa nhận việc luật sư tham gia hỗ trợ pháp lý cho đương sự là một nhu cầu cần thiết, hợp lý. Hơn nữa, việc tòa tuyên buộc bên vi phạm phải bồi hoàn khoản phí này cũng là một cách răn đe các hành vi tương tự.

Tính phí sao cho hợp lý?

Theo Điều 55 Luật Luật sư, chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí cần thiết phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc, kỹ năng, trình độ và lượng thời gian cần thiết để luật sư nghiên cứu vụ việc.

Vấn đề là việc cụ thể hóa căn cứ để tính phí luật sư thế nào cho thỏa đáng còn bỏ ngỏ. Đặc biệt, với những tranh chấp có một phần vụ việc xảy ra ở nước ngoài thì do sự khác biệt về mặt bằng chi phí thuê luật sư nước ngoài, phương thức tính phí… so với trong nước nên khó có cơ sở tính phí cho hợp lý. Nếu chỉ đơn thuần dựa vào hợp đồng dịch vụ mà đương sự ký với luật sư nước ngoài để tuyên buộc bên thua phải bồi hoàn đầy đủ là chưa ổn. Ví dụ: thù lao bình quân tính theo giờ của luật sư ở Mỹ là 200-1.000 USD trong khi phí luật sư ở Việt Nam lại thường không đến mức đó.

Mỹ: Quan tòa quyết!

Ở Mỹ, nguyên tắc bồi hoàn chi phí kiện tụng được xây dựng theo tinh thần “người thua trả”. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp yêu cầu bồi hoàn chi phí luật sư đều được tòa án xem xét, chấp nhận. Quan tòa được toàn quyền chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu này của đương sự, tùy vào từng vụ việc cụ thể, trong các lĩnh vực cụ thể như sở hữu trí tuệ, chống cạnh tranh, xâm hại quyền dân sự, quyền tự do về thông tin, kiện tập thể…

Singapore: Lập trung tâm trọng tài

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) vừa thành lập trung tâm trọng tài và hòa giải đầu tiên của châu Á tại Singapore. Đây là trung tâm đầu tiên của WIPO ở bên ngoài châu Âu cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp nhằm giải quyết các tranh chấp liên quan tới sở hữu trí tuệ.

Trụ sở chính WIPO tại Geneva thành lập năm 1994 và đã xử lý hơn 30.000 vụ tranh chấp với giá trị mỗi vụ từ 10.000 USD tới hàng trăm triệu USD. Có rất nhiều tranh chấp đã được gửi tới WIPO, trong đó tranh chấp về đăng ký sở hữu tên miền chiếm phần lớn. Trước nhu cầu tăng nhanh về tranh chấp sở hữu trí tuệ ở châu Á, đặc biệt trong lĩnh vực phim ảnh và kỹ thuật, WIPO thành lập thêm trung tâm tại Singapore.

Hiện WIPO đang nghiên cứu nhiều lĩnh vực mới, đặc biệt các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời buổi các mạng xã hội phát triển, tổ chức các buổi tọa đàm, duy trì các ủy ban trao đổi trong nhiều lĩnh vực.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Wednesday, January 1, 2014

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: VỤ ÁN CHỖ THOÁT NƯỚC MƯA

HOÀNG VĂN
Tòa chỉ dựa vào thông lệ để buộc một bên đập tường, lấy chỗ cho hàng xóm thoát nước mưa. Án tuyên không thực tế, thi hành án bó tay! Nhà ông Nguyễn Đắc Diệp và nhà bà Đặng Thị Điểu liền kề nhau ở đường Nguyễn Trãi, phường 5, TP Tuy Hòa (Phú Yên). Lâu nay tình làng nghĩa xóm êm đẹp, nước mưa từ mái sau nhà bà Điểu vẫn đổ thoải mái sang khuôn viên đất trống nhà ông Diệp. Mâu thuẫn giữa hai bên phát sinh từ năm 2004 khi ông Diệp xây sửa nhà. Ông vừa xây xong cũng là lúc bà Điểu phát đơn khiếu nại.
Đòi thoát nước mưa trên đất người khác
Theo đơn của bà Điểu, 20 năm trước, ông nội của ông Diệp có chừa 0,5 m đất từ phía vách hậu nhà bà để mái sau nhà bà thoát nước mưa. Nay ông Diệp sửa lại nhà đã xây tường sát vách hậu nhà bà, khiến mái sau nhà bà không còn chỗ thoát nước mưa nữa. Do vậy, bà yêu cầu ông Diệp phải đập bỏ tường xây và phục hồi nguyên trạng.
Ông Diệp thì bảo vách tường này được xây trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của ông, được UBND tỉnh Phú Yên cấp “giấy hồng” năm 2003 (có chữ ký công nhận giáp ranh của các hộ liền kề, trong đó có cả bà Điểu). Dù vậy, trước khi sửa nhà ông vẫn qua nói chuyện với bà Điểu. Hai bên thống nhất là ông chịu trách nhiệm làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước chảy bên hông nhà bà Điểu. Chẳng hiểu vì sao bà Điểu lại đổi ý, không chịu làm hệ thống thoát nước mưa nữa mà quay sang buộc ông trả lại hiện trạng ban đầu.
“Tôi đã đề xuất hướng giải quyết hợp lý mà bà ấy chẳng chịu. Chẳng lẽ đất của tôi mà lại phải để cho bà ấy sử dụng hay sao?” – ông Diệp bức xúc.
Xử theo thông lệ
Sau đó, dù chính quyền địa phương đã ba lần tổ chức hòa giải, động viên hai bên theo hướng ông Diệp làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước cho bà Điểu nhưng bà Điểu vẫn khăng khăng đòi đập bỏ tường nhà ông Diệp. Thế là vụ việc phải chuyển đến tòa án.
Tháng 6-2006, TAND TP Tuy Hòa cho rằng việc xây dựng vách tường nhà ông Diệp đã xâm hại đến quyền lợi của bà Điểu, khiến mái sau nhà bà Điểu không có chỗ thoát nước mưa nên tuyên buộc ông Diệp phải tháo dỡ vách tường này.
Ông Diệp kháng cáo. Sau đó, xử phúc thẩm, dù công nhận vách tường nằm trong phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Diệp, không lấn chiếm đất của bà Điểu nhưng TAND tỉnh Phú Yên bảo theo thông lệ địa phương, người dân thường làm mái ngói phía sau nhà kéo dài so với vách nhà ít nhất hai miếng ngói (khoảng 0,4 m) để thoát nước mưa. Từ đó, TAND tỉnh Phú Yên đã y án sơ thẩm, quyết định cắt 0,4 m đất của ông Diệp để giao cho bà Điểu làm chỗ thoát nước mưa.
Có hợp tình hợp lý?
Luật hiện hành không có quy định nào buộc chủ sở hữu bất động sản liền kề phải cho nhà kế bên đổ nước mưa qua. Ngược lại, theo Điều 269 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu nhà có nghĩa vụ phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.
Hơn nữa ở đây, nhà bà Điểu vẫn còn phương pháp thoát nước mưa khác là làm hệ thống máng có ống dẫn thoát nước, không phải chỉ có một cách bắt buộc duy nhất là cho đổ nước mưa xuống đất ông Diệp. Đáng nói là phương án làm hệ thống máng này đã được ông Diệp đề nghị đứng ra lo liệu và bà Điểu từng đồng ý trước khi ông Diệp xây nhà.
Như vậy, phán quyết của cả hai cấp tòa đều chưa đúng quy định của Bộ luật Dân sự. Chưa kể việc TAND tỉnh Phú Yên dựa vào “thông lệ địa phương” thay cho luật để xét xử liệu đã đúng chưa bởi theo Điều 3 Bộ luật Dân sự, tòa án có thể áp dụng tập quán nhưng chỉ trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, trong khi ở đây quy định thì đã có rồi.
Bế tắc, Thi hành án kiến nghị
Phán quyết của tòa không chỉ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của ông Diệp mà còn dẫn đến việc bản án đến nay vẫn không thể thi hành được.
Theo Thi hành án (THA) dân sự TP Tuy Hòa, nếu tháo gỡ vách tường nhà ông Diệp như bản án thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà, hậu quả là nhà có thể sập. Vậy mà khi xét xử, cả hai cấp tòa đều không xem xét đến việc tháo gỡ có ảnh hưởng đến những vật kiến trúc liên quan khác hay không. Giả sử nếu cơ quan THA thẳng tay làm mà sập cả ngôi nhà của ông Diệp thì ai phải chịu trách nhiệm?
Bế tắc, tháng 1-2007, THA dân sự TP Tuy Hòa có công văn gửi TAND tỉnh Phú Yên đề nghị giải thích rõ các nội dung trên. Sau bốn tháng chờ đợi vẫn không nhận được văn bản hồi âm nên tháng 4, THA Dân sự TP Tuy Hòa phải kiến nghị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét lại bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Phú Yên theo trình tự giám đốc thẩm.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: VỤ KIỆN MUA NHÀ TẠI SỐ 2 LÒ ĐÚC – HÀ NỘI VÌ SAO ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC BỊ TRÌ HOÃN THI HÀNH?

QUỐC LUẬT
Vụ án dân sự có nguyên đơn là ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La cùng trú tại số 4 Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị đơn là ông Hoàng Tiến Lân Hưng và bà Phạm Thị Phấn cùng trú tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Theo đơn khởi kiện, ông Giai có nhu cầu mua nhà để ở và biết ông Hoàng Tiến Lân Hưng có nhu cầu bán nhà nên ngày 06.5.2004 hai bên đã làm Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất với nội dung: Ông Hoàng Tiến Lân Hưng đã nhận của ông Giai số tiền đặt cọc là 112 triệu đồng để mua lại “Hợp đồng thuê nhà Nhà nước” của ông Hưng tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và hẹn đến ngày 16.6.2004 ông Giai sẽ thanh toán đủ số tiền 438 triệu đồng (tổng số tiền là 550 triệu đồng) còn lại cho ông Hưng và nhận nhà.
Hợp đồng có ghi: Nếu ông Hưng đã nhận tiền đặt cọc nhưng không bán nhà nữa hoặc không thực hiện đúng với các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này thì ông Hưng phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà ông Giai đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt cho ông Giai số tiền bằng số tiền đã đặt cọc. Hợp đồng đã được cả bốn người nêu trên cùng ký. Đến ngày 24.5.2004 ông Giai giao tiếp số tiền 38 triệu đồng đặt cọc cho ông Hưng, ngày 25.5.2004 bản khai chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Giai và ông Hưng được UBND phường Phạm Đình Hổ xác nhận.
Vì chưa lo đủ số tiền còn lại nên ngày 30.5.2004 ông Giai đã đến gặp ông Hưng thương lượng để xin huỷ hợp đồng nhưng ông Hưng không đồng ý. Ngày 01.6.2004 ông Hưng đã rao bán nhà số 2 Lò Đúc và thông báo đến ngày 16.6.2004 ông Giai không thanh toán số tiền còn lại thì sẽ mất tiền đặt cọc. Đúng ngày 16.6.2004 ông Giai đã tìm được người có nhu cầu mua nhà là anh Nguyễn Thanh Toàn (trú tại số 8 K27 Trương Định, Hà Nội). ông Giai đã đưa anh Toàn đến trực tiếp làm việc với ông Hưng và khẳng định với ông Hưng là chỉ nhượng lại cho anh Toàn với giá 500 triệu đồng. ông Giai và anh Toàn đã tiến hành làm thủ tục mua bán ngay tại nhà ông Hưng nhưng bị gia đình ông Hưng gây khó khăn. Sau đó, ông Giai yêu cầu ông Hưng phải trả lại 150 triệu đồng tiền đặt cọc và 150 triệu đồng tiền phạt vì vi phạm hợp đồng là không giao nhà cho ông vào ngày 16.6.2004.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 59/DSST ngày 9.12.2004 TAND TP. Hà Nội quyết định: Bác đơn khởi kiện của vợ chồng ông Trần Văn Giai, bà Triệu Thị La về việc yêu cầu vợ chồng ông Hoàng Tiến Lân Hưng, bà Phạm Thị Phấn phải trả 150 triệu đồng tiền đặt cọc mua nhà và 150 triệu đồng tiền phạt cọc; ghi nhận sự tự nguyện của ông Hưng trả lại cho ông Giai, bà La số tiền 38 triệu đồng. Ngày 13.12.2004, ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị Phấn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm lên TANDTC.
Ngày 19.5.2005, Tòa phúc thẩm TANDTC xét xử phúc thẩm vụ án dân sự do bản án dân sự sơ thẩm số 59/DSST ngày 9.12.2004 của TAND TP. Hà Nội bị kháng cáo. Với nội dung: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Trần Văn Giai; tuyên bố hợp đồng đặt cọc mua nhà đất ngày 06.5.2004 giữa ông Hoàng Tiến Lân Hưng với ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La là vô hiệu; ông Hoàng Tiến Lân Hưng phải trả lại cho ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị Phấn 150 triệu đồng tiền đặt cọc.
Án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay, thế nhưng không hiểu vì lý do gì cho mãi đến ngày 28.6.2005 cơ quan thi hành án dân sự TP. Hà Nội mới ra Quyết định số 61/THA thi hành án. Tuy nhiên, cho đến nay bản án vẫn chưa được thi hành, mặc dù ông Hưng có đủ khả năng để thi hành bản án?
SOURCE: BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT
Trích dẫn từ:
polldaddy poll=1055454]

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE Ô TÔ TRẢ CHẬM

QUYẾT ĐỊNH SỐ 03/2003/HĐTP- KT NGÀY 24-02-2003 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE Ô TÔ TRẢ CHẬM
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
……………..
Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng mua bán xe ô tô trả chậm giữa:
Nguyên đơn: Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thương mại Tân Á (tên giao dịch là TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (sau đây viết tắt là VP.Bank); có trụ sở tại số 18B Lê Thánh Tông, thành phố Hà Nội.
NHẬN THẤY
Ngày 07-07-1995, Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công ty VIDAMCO) đại diện là ông Chong Gi Lee Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 bán xe ô tô theo phương thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thương mại Tân Á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung chủ yếu như sau:
– Tên hàng : Xe tô Daewoo mới
– Số lượng : 100 xe
– Đơn giá: 18.200 USD/chiếc
– Tổng giá trị hợp đồng: 1.820.000 USD (chưa tính lãi).
Người mua (Công ty TANACO) có thể thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của USD do Ngân hàng nhà nước ấn định vào ngày thanh toán tới hạn.
Điều kiện thanh toán:
Trong trường hợp người mua lấy được thư bảo đảm cho số tiền còn lại 1.638.000 Mỹ kim cùng với tiền lãi có liên quan từ VP. Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam) hoặc EXIMBANK trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng và thư bảo đảm đó phải được tổng giám đốc của VP. Bank tại Hà Nội hoặc EXIMBANK tại thành phố Hồ Chí Minh ký nhận thì điều kiện thanh toán như sau:
+ 10% trả trước (182.000 USD): Trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng.
+ 90% (1.638.000 USD): Người mua thanh toán 6 tháng/lần kể từ năm đầu tiên được trả chậm cùng với tiền lãi có liên quan theo phụ kiện số 01.
+ Tiền phạt: Lãi phạt do không thực hiện việc thanh toán đúng hạn là 2%/tháng cho mỗi kỳ trễ hạn.
Cùng ngày 07-07-1995 hai bên ký phụ kiện số 01, quy định số tiền và ngày thanh toán. Tiền lãi (trả chậm) sẽ được thanh toán cùng với số tiền gốc vào ngày thanh toán tới hạn.
Để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền 1.638.000 USD theo hợp đồng và phụ kiện nêu trên, VP. Bank đã phát hành Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT ngày 25-09-1995.
Theo tiến độ thực hiện của hợp đồng, Công ty VIDAMCO đã giao đủ 100 xe cho Công ty TANACO theo Biên bản bàn giao xe ngày 31- 01-1997. Hai bên không có tranh chấp khiếu nại gì về chủng loại, số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm giao hàng, nhưng tranh chấp về việc thanh toán. Theo biên bản đối chiếu xác định nợ ngày 06-07-1998 thì Công ty TANACO đã thanh toán cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền mua xe ô tô theo hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 và hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là: 12.256.856.100 đồng, số tiền còn nợ của hai hợp đồng: Theo Công ty TANACO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.966.313,62 USD; Theo Công ty VIDAMCO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.967.266,37 USD (trong đó nợ quá hạn là 1.301.017,37 USD);
Do hai bên không thống nhất được với nhau về số liệu công nợ, cách áp dụng tỷ giá thanh toán (giữa USD/ĐVN) và số tiền lãi phạt của hợp đồng nêu trên, nên từ đó phát sinh tranh chấp.
Ngày 21-09-1998 Công ty VIDAMCO có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc Công ty TANACO thanh toán toàn bộ số tiền bao gồm tiền nợ gốc, lãi chậm trả và tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là l.267.738,39 USD (Tính đến ngày 15-09-1998); và yêu cầu VP.Bank phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả thay cho Công ty TANACO nếu Công ty TANACO không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình.
Tại các buổi hoà giải không thành, hai bên vẫn không thoả thuận được với nhau về tỷ giá quy đổi giữa đồng USD/ĐVN và số tiền nợ, lãi phạt của hợp đồng, sau đó hai bên nhất trí trưng cầu giám định các số liệu mà hai bên đưa ra. Tuy nhiên, đến ngày 14-09-2000 hai bên đã thống nhất lấy tỷ giá USD/ĐVN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh công bố (tại Công văn số 889/NHTP 99 ngày 02-12-1999).
Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-KTTC ngày 20-10-2000 và kết luận bổ sung số 77/KLGĐ-KTTC ngày 05-07-2001 của Tổ chức giám định kế toán- tài chính thành phố Hồ Chí Minh xác định công nợ giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO tính đến ngày 05-07-2001 cụ thể là:
– Tổng số tiền Công ty TANACO phải thanh toán là: 2.127.425,30 USD,
– Số tiền Công ty TANACO đã thanh toán là: 1.508.316,95 USD,
– Số tiền Công ty TANACO còn phải thanh toán là: 619.108,35 USD.
Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST ngày 06-07-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ký giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng hợp pháp.
Công ty TANACO thanh toán cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền là: 1.063.787,03 USD bao gồm:
– Tiền hàng (kể cả lãi trả chậm): 619.108,35 USD;
– Tiền phạt do chậm thanh toán: 444.678,68 USD.
Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Nếu Công ty TANACO không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì VP.Bank với trách nhiệm người bảo lãnh phải trả thay trong phạm vi giá trị số tiền bảo lãnh là 1.638.000 USD.
Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO đều phải chịu mỗi bên 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán, tài chính thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm các đương sự phải nộp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11-07-2001 Công ty TANACO có đơn kháng cáo với nội dung: Hợp đồng số VID-TNC/95702 ký ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ vì đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng nêu trên chưa có thẩm quyền; Công ty TANACO khi ký hợp đồng chưa có chức năng kinh doanh vận tải hành khách và kết quả giám định của Tổ chức giám định kế toán – tài chính thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, thiếu chính xác…
Ngày 17-07-2001 VP.Bank có đơn kháng cáo với nội dung: Không phải chịu trách nhiệm bảo lãnh vì thời hạn bảo lãnh đã hết hiệu lực và số tiền Công ty TANACO đã thanh toán vượt quá số tiền bảo lãnh của Ngân hàng.
Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10- 01- 2002 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO và sửa Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST ngày 06-07-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Vô hiệu toàn bộ hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO với Công ty VIDAMCO.
Các bên ký kết hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 phải chấm dứt việc tiếp tục thực hiện hợp đồng này.
Xử lý tài sản đối với hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 như sau:
+ Công ty TANACO phải giao trả cho Công ty VIDAMCO 100 xe ô tô du lịch 4 chỗ ngồi hiệu DAEWOO CEILO xuất xứ Hàn Quốc (giao đúng loại xe mà Công ty TANACO đã nhận của Công ty VIDAMCO).
+ Công ty VIDAMCO phải thanh toán trả lại cho Công ty TANACO số tiền 1à 728. 137,99 USD. Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO mỗi bên phải chịu 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán – tài chính thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT của VP.Bank đối với hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định sửa mức án phí kinh tế sơ thẩm các đương sự phải nộp; Công ty TANACO không phải chịu án phí phúc thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp là 200.000 đồng.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO đều có đơn khiếu nại đối với Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên.
Tại Kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, sửa Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, với lý do: “Việc Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO với Công ty TANACO là hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ”.
Tại Kết luận số 03/KL-AKT ngày 17/01/2003, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT THẤY
Toà án cấp phúc thẩm vì cho rằng việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc của Công ty VIDAMCO đã không đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam (không đúng về thủ tục họp Hội đồng quản trị, chưa hoàn tất thủ tục có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về tư cách người đứng đầu pháp nhân để hoạt động đúng pháp luật) và vì cho rằng: Vào thời điểm hai bên ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 thì Công ty TANACO chưa có chức năng mua bán xe ô tô, ngày 08-07-1995 mới bổ sung chức năng mua bán xe ô tô, ngày 17-10-1995 mới bổ sung chức năng vận chuyển hành khách bằng xe taxi. Như vậy, đến ngày ký hợp đồng thì Công ty TANACO chưa đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi thì việc mua bán xe này là chưa hợp pháp, nên đã kết luận hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (do người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền, và chưa đăng ký kinh doanh theo pháp luật đối với mặt hàng mà các bên thực hiện mua bán) và xử lý hợp đồng vô hiệu là không đúng và chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì:
Về lý do đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng chưa có đầy đủ thẩm quyền.
Ngày 31-03-1995, với tư cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty VIDAMCO, ông Kyung Hoon Lee gửi ông Ngô Đình Vấn – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, văn bản với nội dung “Nên triệu tập một phiên họp chính thức của Hội đồng quản trị như là kỳ họp đột xuất để phê chuẩn việc bổ nhiệm đối với ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc và cử ông W. Lee làm Phó Tổng Giám đốc (trước đó ông W. Lee đã là Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO). Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian và triển khai sớm, đề nghị Hội đồng quản trị quyết định việc cải tổ này bằng một văn bản có hiệu lực như là sự phê chuẩn của một phiên họp Hội đồng quản trị”. Thực hiện đề nghị trên, Hội đồng quản trị Công ty VIDAMCO có văn bản ngày 10-04-1995 theo đó cả 5 thành viên Hội đồng quản trị đã ký đồng ý cử ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO. Toà án cấp phúc thẩm viện dẫn Điều 7 điều lệ của Công ty VIDAMCO là: “Các cuộc họp của Hội đồng quản trị về nguyên tắc được tổ chức tại trụ sở của Công ty liên doanh. Trong trường hợp đặc biệt có thể tổ chức ở những địa điểm khác nhau nhưng phải được các bên thoả thuận”. Và quy định tại phần I khoản 2 Thông tư số 238-HTĐT-VP ngày 17-05-1992 của Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư: “Biên bản phiên họp Hội đồng quản trị đầu tiên phải được gửi đến Uỷ ban Nhà nước về hợp tác đầu tư” (trong đó có vấn đề cử Giám đốc), để cho là việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc của Công ty VIDAMCO đã không bảo đảm trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhận định này của Toà án cấp phúc thẩm chưa đánh giá một cách toàn diện và hiểu một cách cứng nhắc quy định tại Điều 7 (và không tham khảo Điều 8) điều lệ của Công ty VIDAMCO; chưa hiểu đúng tinh thần quy định tại phần I khoản 2 Thông tư số 238-HTĐT-VP nói trên. Mặt khác, tham khảo Công văn số 8136/BKH-QLDA ngày 29-11-2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này) đã xác nhận ông Chong Gi Lee là Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO trong thời gian từ ngày 10-04-1995 đến ngày 25-01-1999. Như vậy, vào thời điểm ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ông Chong Gi Lee đã là Tổng Giám đốc hợp pháp của Công ty VIDAMCO, và việc ông Chong Gi Lee đại diện cho Công ty VIDAMCO ký hợp đồng nêu trên là đúng thẩm quyền.
- Về lý do Công ty TANACO khi ký hợp đồng chưa có đăng ký kinh doanh về ngành nghề kinh doanh vận tải hành khách.
Trước khi ký hợp đồng nêu trên, Công ty TANACO là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp đã có đăng ký kinh doanh cấp ngày 09-11-1994 (xây dựng công nghiệp…, sửa chữa phương tiện vận tải…, đại lý ký gửi hàng hoá cho các doanh nghiệp trong nước). Hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là hợp đồng mua bán xe ô tô nhằm chuẩn bị cho việc kinh doanh tắc xi vận tải hành khách… Công ty TANACO mua xe để sử dụng chứ không phải là mua xe để bán (kinh doanh xe nguyên chiếc). Mặt khác, ngay sau ngày ký hợp đồng, ngày 08-07-1995 Công ty TANACO đã có đăng ký bổ sung ngành nghề: “Mua bán hàng nông lâm sản, xe tải, ô tô, xe gắn máy, phân bón” và ngày 17- 10- 1995 TANACO đã đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi. Hơn nữa, sau khi ký hợp đồng, ngày 07-08-1995 hai bên còn ký phụ kiện và bản sửa đổi hợp đồng. Bản sửa đổi này có hiệu lực từ ngày 24-01-1996. Như vậy, vào thời điểm có hiệu lực của bản sửa đổi phụ lục hợp đồng Công ty TANACO không những đã có đăng ký bổ sung ngành nghề mua bán xe ô tô, mà còn có đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi. Vì vậy, hợp đồng số VID-TNC/95702 Ngày 07-07-1995 cũng không bị vô hiệu vì lý do nêu trên.
Ngoài ra, yêu cầu kháng cáo của công ty TANACO đối với Kết luận giám định của Tổ chức giám định kế toán – tài chính thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu kháng cáo của VP.Bank (không phải chịu trách nhiệm bảo lãnh…) cũng chưa được Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết cũng là không đúng pháp luật.
Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
QUYẾT ĐỊNH
Huỷ toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án về Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Lý do cơ bản mà Bản án phúc thẩm bị huỷ:
- Toà án cấp phúc thẩm cho rằng hợp đồng số VID–TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng vô hiệu toàn bộ là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì đại diện của Công ty VIDAMCO có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng, đồng thời Công ty TANACO khi ký hợp đồng đã bổ sung đăng ký ngành nghề phù hợp với quy định của pháp luật.
————————

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code