Showing posts with label Ly hon. Show all posts
Showing posts with label Ly hon. Show all posts

Wednesday, October 16, 2013

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN
SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI
Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:
1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.
Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.
2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.
3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.
Trịnh Hồng Dương

Thursday, October 10, 2013

CÔNG VĂN SỐ 131/2002/KHXX CỦA TANDTC VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 131/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2002
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 131/2002/KHXX NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN
Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai
Sau khi nghiên cứu Công văn số 65/DS ngày 14-5-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1 Điều 14 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ở Việt Nam giải quyết. Theo nội dung Công văn của quý Toà, thì chị Nguyễn Thị Hồng Diễm trước khi xuất cảnh sang Pháp định cư đã cư trú ở Bình Định; do đó, trong trường hợp này Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án xin thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Hạnh và chị Diễm là Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nơi cư trú cuối cùng của chị Diễm ở Việt Nam.
Bởi vậy, nếu quý Toà chưa thụ lý vụ án về việc anh Võ Duy Hạnh yêu cáu thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn thì quý Toà cần giải thích, hướng dẫn cho anh Hạnh nộp đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; nếu quý Toà đã thụ lý vụ án, thì căn cứ vào quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quý Toà cần chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền và thông báo cho anh Hạnh biết.
Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án ở địa phương.
Đặng Quang Phương
(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 112/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỤ LÝ VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi :
- Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp cụ thể. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 2337/CV-VKSTC ngày 12 tháng 9 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:
1. Khi giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thời điểm thụ lý vụ án được xác định là trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết có xem xét, tham khảo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề mà Toà án đang giải quyết như hướng dẫn tại điểm c mục 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QHl0 ngày 9/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình".
a. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001 mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử sơ thẩm;
b. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm;
c Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
d. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị huỷ để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại.
2. Trong trường hợp khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án về hôn nhân và gia đình mà Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ toàn bộ các bản án hoặc quyết định về vụ án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền (có thể chính Toà án đã giải quyết sơ thẩm vụ án đó; có thể là Toà án khác cùng cấp; có thể là Toà án trên một cấp hoặc dưới một cấp) giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung, thì thời điểm thụ lý vụ án là ngày Toà án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm lại nhận được hồ sơ vụ án. Nếu từ ngày 01/01/2001 trở đi mới thụ lý, thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
3. Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình", thì trong mọi trường hợp đều áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn sửa đổi hoặc bổ sung.
Đặng Quang Phương

Wednesday, October 9, 2013

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LẤY Ý KIẾN CON TRẺ KHI LY HÔN


HOÀNG YẾN
Theo quy định, khi giải quyết án ly hôn, tòa phải hỏi ý kiến của con trẻ từ chín tuổi trở lên xem các em muốn sống với cha hay mẹ. Thủ tục bắt buộc này trên thực tế đã gặp vướng mắc khi các bậc cha mẹ không hợp tác.
Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Lấy ý kiến là cần thiết      
Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng việc lấy ý kiến của con cái là cần thiết. Khi cha mẹ ly hôn, các em đã mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình nên rất cần hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em.
Cha mẹ không hợp tác
Thủ tục lấy ý kiến của con trẻ là bắt buộc trong giải quyết án ly hôn. Nếu thiếu thủ tục này án sẽ bị tòa cấp trên tuyên hủy. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã gặp nhiều vướng mắc.
Không ít tòa đau đầu vì các bậc cha mẹ không hợp tác, không đưa con cái tới để tòa lấy ý kiến của các em. Lý do chính là rất nhiều người không muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ các em bị tổn thương về tâm lý. Ra tòa, họ cương quyết ly hôn nhưng một, hai mong tòa xem xét không cho con cái biết.
Gặp tình huống này, tòa vẫn phải tiếp tục giải quyết án bởi nếu tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết án dân sự với lý do không có nguyện vọng của con trẻ là không đúng. Bởi trong vụ án ly hôn, con trẻ không có tư cách tham gia tố tụng.
Một thẩm phán TAND quận 3 (TP.HCM) kể nhiều vụ do cho cha mẹ không chịu đưa trẻ đến tòa nên cán bộ tòa phải tìm đến trường học hay nơi sinh sống của trẻ lấy ý kiến. Không cán bộ tòa nào muốn làm việc này, bởi hầu hết các trẻ đều ngơ ngác, khóc lóc khi biết cha mẹ mình muốn ly hôn. Và trong tờ tường trình của trẻ đều thể hiện là muốn sống chung với cả cha lẫn mẹ. Đã có những trường hợp, một số em buồn bã, học hành sa sút, thậm chí bỏ nhà đi bụi.
Vướng mắc thứ hai mà gần đây TAND TP.HCM cũng gặp phải là trường hợp cha mẹ ly hôn, có tranh chấp nuôi con trên chín tuổi nhưng tại thời điểm tranh chấp, con lại đang đi học ở nước ngoài. Gặp tình huống này, tòa lúng túng, không biết có cần phải thực hiện ủy thác tư pháp để xem xét nguyện vọng của con hay không vì luật không hướng dẫn…
Chỉ để tham khảo?
Điều mà các thẩm phán băn khoăn là luật bắt buộc phải lấy ý kiến của con trẻ trong khi điều này thực chất cũng chỉ mang tính tham khảo.
Tòa sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy… để lựa chọn người nuôi con, bảo đảm sự phát triển tốt nhất cho trẻ. Khi xem xét để ra quyết định giao trẻ cho cha hay mẹ,  tòa vẫn thường dựa trên thỏa thuận của họ là chính. Chưa kể, như thực tế đã nêu ra, việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ nhiều trường hợp lại có thể gây tổn thương đến tinh thần của trẻ. Vì thế một thẩm phán chuyên giải quyết án ly hôn đề xuất nên sửa luật theo hướng hạn chế, giới hạn việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ.
Theo thẩm phán này, chỉ trong những trường hợp tranh chấp về quyền nuôi con mà qua thu thập chứng cứ, tòa xét thấy giao đứa trẻ cho bên nào cũng được thì mới bắt buộc phải thực hiện việc lấy ý kiến của trẻ. Việc thu thập chứng cứ nên tiến hành bằng cách xác minh thông qua ban giám hiệu, hội phụ nữ, tổ trưởng dân phố và nơi làm việc của vợ chồng… để tránh  việc trẻ bị tổn thương khi biết cha mẹ sắp ly hôn.
Một thư ký tòa kể một người mẹ chở con đến tòa sau giờ tan học để hoàn thành thủ tục lấy ý kiến nguyện vọng của con trong vụ ly hôn của bà với chồng. Tại tòa, thẩm phán khuyên trẻ nên thực lòng viết ra những gì mình mong muốn, còn người mẹ lại ra sức ngồi bắt con viết theo ý mình là chỉ muốn sống chung với mẹ. Một lúc sau, đứa trẻ hoảng loạn, không những không viết được mà còn bật khóc và bỏ chạy ra đường, suýt chút nữa thì bị xe đụng…
Nên bỏ hẳn
Thủ tục buộc đưa trẻ từ chín tuổi trở lên đến tòa làm bản tường trình để biết nguyện vọng trẻ muốn sống chung với cha hay mẹ sau khi ly hôn cần được loại bỏ. Bởi lý do khiến đứa trẻ muốn sống với ai thường rất cảm tính. Thực tế không phải cứ yêu thương nhiều là có thể đáp ứng được điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện như mục đích mà Luật Hôn nhân và Gia đình hướng đến. Hơn nữa, việc này gây chấn thương tâm lý không thể nào bù đắp được cho trẻ. Với một quyết định đi theo trẻ suốt đời có ảnh hưởng rất sâu đậm. Nếu mai này có một sự kiện nào xảy ra khiến trẻ ân hận hay oán trách về quyết định ngày đó, có phải sẽ là chấn thương tâm lý đối với trẻ hay không?
Theo tôi, trong trường hợp cần thiết, tòa có thể lấy nguyện vọng của trẻ một cách nhẹ nhàng thông qua những người thân, thầy cô giáo. Đừng bắt buộc trẻ đến tòa làm bản tường trình như hiện nay sẽ gây ảnh hưởng tâm lý nặng nề cho trẻ thơ.
Luật sư PHẠM TẤT THẮNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
Cần có hướng dẫn riêng
Trẻ từ chín tuổi trở lên đã bắt đầu nhận thức được sự yêu thương người lớn dành cho mình nên đặt ra tiêu chí phải lấy nguyện vọng của trẻ khi giải quyết án ly hôn là cần thiết. Đây là một tiêu chí quan trọng để dựa trên đó, tòa có thể đánh giá một cách toàn diện về việc quyết định giao trẻ cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.
Vấn đề đặt ra là cách lấy nguyện vọng của trẻ như thế nào để tránh cho trẻ khỏi bị tổn thương. Theo tôi, TAND Tối cao nên có hướng dẫn cụ thể, không nhất thiết cứ phải triệu tập trẻ đến tòa lập biên bản trong không khí ngột ngạt, căng thẳng giữa cha và mẹ. Sức ép về tâm lý sẽ tạo nên nỗi ám ảnh khôn nguôi trong lòng trẻ thơ.
Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật – Hội Luật gia Việt Nam
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIẢI QUYẾT LY HÔN: “TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN TRẦM TRỌNG” – KHÓ ĐỊNH LƯỢNG

HOÀNG YẾN
Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn.
Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ…
Năm 2005, chị NTK từ Hải Phòng vào TP.HCM làm việc rồi kết hôn với anh NTV. Đáng buồn là cuộc sống giữa chị và gia đình chồng sau khi cưới đã không thể hòa hợp. Cha mẹ chồng luôn có lời lẽ chê bai, xúc phạm chị ăn bám nhà họ dù chị vẫn có công việc ổn định.
Muốn chia tay mà không được
Để tránh đụng chạm, nhiều lần chị K. đề nghị chồng ở riêng nhưng anh không đồng ý vì anh là con trai một. Anh lại rất được gia đình cưng chiều, có vợ rồi nhưng vẫn quen thói ỷ lại, không chịu giúp đỡ vợ bất cứ việc gì. Ngày yêu nhau, chị nghĩ sau khi cưới anh sẽ thay đổi nhưng giờ chị biết là không thể. Tệ hơn, khi anh thấy cảnh vợ và gia đình mình bất đồng, anh không chủ động cùng vợ tháo gỡ mà còn thường xuyên rong chơi, nhậu nhẹt, nhậu say về lại đánh đập chị. Gia đình chồng thấy thế cũng không hề can thiệp, có lần chị bị thương nặng, chỉ có hàng xóm đưa vào bệnh viện.
Kể trong tủi hờn, chị bảo chỉ vì thương con, yêu anh mà chị mới ráng chung sống đến giờ. Nay nhận thấy tình cảm dành cho chồng đã hết, chị không muốn tiếp tục sống những tháng ngày đen tối thêm nữa nên đã nhiều lần đề nghị chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng anh không chịu. Chị đơn phương nộp đơn ra TAND quận xin ly hôn. Tuy nhiên, tòa nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị không trầm trọng, không cần thiết phải ly hôn nên bác đơn chị. Từ ngày tòa bác đơn, chồng chị không hề bày tỏ ý chí sẽ cải thiện tình hình để hàn gắn hôn nhân, vẫn thường thượng cẳng tay hạ cẳng chân với chị. Chị sống trong chuỗi ngày lo âu, không dám bỏ đi vì xót con thơ vừa hơn hai tuổi, còn tiếp tục nộp đơn ly hôn thì e tòa lại bác…

Tương tự, anh HVN chung sống với chị ĐTH như vợ chồng, có một con chung. Sau khi họ đi đăng ký kết hôn được nửa năm thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, chị H. bồng con về nhà mẹ ruột. Hai năm sau, anh N. nộp đơn xin ly hôn, song bị tòa bác vì cho rằng tình trạng hôn nhân giữa hai người không trầm trọng. Đợi thêm hai năm nữa, anh lại tiếp tục xin ly hôn nhưng chị H. phản đối. Xử sơ thẩm, TAND TP Cà Mau chấp nhận đơn xin ly hôn của anh do vợ chồng anh đã sống ly thân nhiều năm. Tòa tuyên để chị H. nuôi con, còn anh có nghĩa vụ cấp dưỡng. Sau đó chị H. kháng cáo. TAND tỉnh Cà Mau đã sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu xin ly hôn của anh N. và buộc vợ chồng anh đoàn tụ. Bản án phúc thẩm này đã bị VKSND tỉnh Cà Mau kiến nghị cấp trên xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm bởi theo VKS, mâu thuẫn vợ chồng anh N. và chị H. đã thật sự trầm trọng, cấp phúc thẩm bác đơn là chưa thấu lý đạt tình.
Hướng dẫn còn chung chung
Trong các vụ án hôn nhân gia đình, tòa án thường vận dụng khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình để ra phán quyết. Theo đó, nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được thì cho ly hôn, còn không thì bác.
Việc xét thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng dựa vào hướng dẫn trong Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Cụ thể, vợ chồng không còn yêu thương nhau, không thực hiện nghĩa vụ với nhau, được gia đình, cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. Ngoài ra, vợ chồng có hành vi ngược đãi, đánh đập nhau, xúc phạm uy tín, nhân phẩm, có biểu hiện ngoại tình… Những hành vi nói trên phải dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được, tức không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt…
Nhiều thẩm phán cho biết khái niệm tình trạng trầm trọng trong hôn nhân rất trừu tượng. Theo họ, hướng dẫn của TAND Tối cao chỉ mang tính giải thích chung chung, khó thể vận dụng để giải quyết thấu đáo loại án này. Đa phần thẩm phán chỉ dựa vào trực quan là chủ yếu. Có người còn bảo nếu bác đơn ly hôn thì cứ dựa vào hướng dẫn của nghị quyết mà lập luận, còn cho ly hôn thì cứ nói đơn giản rằng mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng. Bởi lẽ thực tế muốn chứng minh vợ chồng “không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau”… là rất phức tạp, khó khăn, trong khi những người muốn ly hôn vẫn hay nại ra lý do là “không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống”.
Theo ý chí của đương sự?
Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM nhìn nhận: “Tình trạng hôn nhân nghiêng về lĩnh vực tình cảm, không thể nào có sự định lượng rõ ràng. Giải quyết án ly hôn, thẩm phán đâu thể nào theo đương sự suốt 24 giờ, biết được tất tần tật các ngóc ngách đời sống của họ để đưa ra phán quyết chính xác. Để đánh giá trầm trọng hay không phải căn cứ vào nhiều yếu tố như hai bên có còn chung sống với nhau không, tình cảm dành cho nhau như thế nào, chuyện quan hệ sinh lý, có đánh đập, chửi bới hay không… Tuy nhiên, tất cả đều mang tính chủ quan. Đã có không ít đương sự gặp chúng tôi sau những phiên xử ly hôn để hỏi liệu chúng tôi có thể chịu trách nhiệm về việc không cho họ ly hôn hay không nếu xảy ra hệ lụy xấu về sau”.
Vì thế một số chuyên gia về pháp lý có quan điểm rằng kết hôn là tự nguyện tiến bộ thì ly hôn cũng vậy, phải tôn trọng ý chí chủ quan của đương sự dù có khi chỉ là một bên. Một khi đã quyết đưa nhau ra tòa thì đã không còn tình cảm với nhau, việc gì phải cố ép họ đoàn tụ, cố ép họ tiếp tục sống chung với lý do yêu cầu của họ chưa chính đáng.
Phán quyết sai, đương sự khổ
Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP có một số cụm từ gây tranh cãi. Chẳng hạn như “không thương yêu, quý trọng, chăm sóc”. Định lượng như thế nào để đủ kết luận rằng vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc? Với tâm tính che giấu, thầm kín của người Việt Nam, sự biểu lộ yêu – ghét, trọng – khinh không dễ gì nhìn thấy và đo lường sâu – cạn. Tương tự, “ngược đãi, hành hạ (…), hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau”cũng mơ hồ không kém. Dùng hành động tác động vào thân thể người phối ngẫu thì coi là hành hạ, đánh đập nhưng nếu không hành động hay chỉ tác động bằng ngôn ngữ nói, viết thì đến mức nào thì được xem là ngược đãi, hành hạ?
Từ đó đã dẫn đến thực tế là việc đánh giá như thế nào là tình trạng trầm trọng của hôn nhân để đưa ra phán quyết tùy thuộc vào cảm nhận của thẩm phán thụ lý xét xử. Nếu phán quyết sai, đương sự muốn ly hôn phải mất đi cả một quãng đời trong cuộc hôn nhân cay đắng.
Luật sư NGUYỄN NGỌC PHÁT, Đoàn Luật sư TP.HCM
Hoàn thiện luật
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh, Mỹ, việc ly hôn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tòa án chỉ là nơi công nhận ý chí của các bên và làm công tác giải quyết các tranh chấp về tài sản và quyết định trách nhiệm của các bên đối với con cái còn ở độ tuổi vị thành niên.
Do nước ta không thừa nhận chế định án lệ nên rất khó xem xét điển hình cụ thể trong thực tế thế nào là đời sống hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được để các tòa án áp dụng một cách thống nhất. Chính từ những quy định pháp luật còn mang tính chung chung như trên mà phần lớn việc giải quyết các vụ án ly hôn còn phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của người làm công tác xét xử. Để giải quyết các vấn đề trên, pháp luật cần phải có những bước sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn và công tác nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn cho người làm công tác xét xử cần phải được chú trọng hơn.
Luật sư NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH, Đoàn Luật sư TP.HCM
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

VÌ SAO ÁN LY HÔN Ở TP. HỒ CHÍ MINH TĂNG MẠNH?

THANH TÙNG
Nhiều cặp vợ chồng trẻ trình độ học vấn cao, có thừa kiến thức xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, giao tiếp… nhưng lại thiếu hiểu biết và kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình.
Theo TAND TP.HCM, năm qua lượng án hôn nhân-gia đình tăng đột biến so với các năm trước. Qua các vụ việc cụ thể, những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này đã được chỉ ra: Vợ chồng bất đồng trong lối sống, suy nghĩ; nạn bạo lực gia đình; thiếu kỹ năng chung sống… 
Theo TAND TP, năm qua tình trạng ly hôn nhiều chủ yếu xuất phát từ sự bất đồng trong suy nghĩ, lối sống giữa vợ chồng.
Bất đồng trong lối sống
Chẳng hạn như chuyện của vợ chồng anh T. ở quận Gò Vấp. Họ lôi nhau ra tòa, khăng khăng xin ly hôn cho bằng được chỉ vì ganh nhau trong những việc rất nhỏ như ai nấu cơm, ai đón con… Vợ thì nói không bao giờ chồng làm giúp một chút việc nhà dù là nhỏ nhất như quét nhà, vứt rác, hay đi đón con… Anh lại bảo rằng “những việc đó là thiên chức của người phụ nữ Việt Nam, có gì mà làm lớn chuyện”… Mâu thuẫn cứ chất chồng theo ngày tháng, cuối cùng họ quyết định chia tay nhau.
Vụ khác, tháng 6-2009, TAND quận Phú Nhuận từng giải quyết ly hôn cho một cặp vợ chồng trẻ chỉ vì cô vợ chê chồng không còn ga lăng, tâm lý như hồi còn đang yêu. Cô bảo: “Ngày chưa lấy nhau anh ấy lãng mạn lắm, hay kiếm cớ tặng hoa, quà cho em và thường nói những lời yêu thương ngọt ngào. Giờ lấy được nhau rồi thì cộc cằn, thậm chí ngày 8-3 còn bỏ đi nhậu”…

Bạo hành gia đình
Tại những quận, huyện vùng ven của TP, tình trạng bạo hành gia đình còn diễn ra mà nạn nhân hầu hết vẫn là phụ nữ. Không chỉ bị bạo hành về mặt thể chất, nhiều người còn bị bạo hành về tinh thần như chồng ngang nhiên cặp bồ, rẻ rúng, khinh thường, lạnh nhạt… Chính vì vậy mà hiện nay phụ nữ có xu hướng chủ động xin ly hôn nhiều hơn nam giới.
Chung sống với vợ hơn 10 năm, có với nhau ba mặt con, bất ngờ ông H. (huyện Cần Giờ) đổi tính trăng hoa, quan hệ tình cảm với người khác. Phát hiện ra, vợ ông và các con ra sức can ngăn, khuyên nhủ. Không những ông H. không thay đổi mà còn thường xuyên gây gổ, đánh đập vợ. Một lần bà bị ông đánh gãy tay nên uất ức làm đơn xin ly hôn. Nhìn hai ông bà nông dân gầy gò, tóc đã muối tiêu lếch thếch dắt nhau ra tòa, ai cũng ái ngại.
Một vụ khác xảy ra ở huyện Bình Chánh: Bản tính cộc cằn, gia trưởng, từ ngày cưới nhau về, anh B. thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ. Có lần người vợ báo chính quyền và anh B. đã bị xử phạt hành chính về hành vi bạo lực với vợ nhưng vẫn không chừa. Dù đã cố gắng nín nhịn chịu đựng những cái tát tai của người chồng vũ phu để nuôi hai con nhưng đến một ngày, người vợ cũng phải đâm đơn xin ly hôn vì không thể sống mãi trong “địa ngục trần gian” được nữa.
Một thẩm phán chuyên xử án hôn nhân kể: Có một cặp, chồng ở nhà trông con, vợ vất vả buôn bán xoay sở đủ kiểu để lấy tiền nuôi gia đình. Thấy vợ quan hệ rộng, người chồng ghen tuông, thường kiếm cớ gây lộn. Ghen không xong, người chồng sinh ra chán nản, rượu chè suốt ngày để cản trở việc buôn bán của vợ. Cuối cùng, người vợ cũng phải xin ly hôn.
Thiếu kỹ năng chung sống
Một thực tế khác khi giải quyết án ly hôn được ngành tòa án TP vạch ra là độ tuổi xin ly hôn ngày càng trẻ hóa. Nhiều cặp vợ chồng trẻ trình độ học vấn cao, có thừa kiến thức xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, giao tiếp… nhưng lại thiếu hiểu biết và kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình.
Chẳng hạn như trường hợp của vợ chồng anh C. Lúc chưa lấy nhau, anh C. làm nghề kinh doanh tự do, còn cô vợ là sinh viên năm cuối. Họ quen nhau trên mạng bằng những cuộc chat thâu đêm suốt sáng, cuối cùng phải cưới vội vì nhiều lần… “trót dại”. Cuộc hôn nhân này kéo dài chẳng được bao lâu vì anh C. thì vẫn ham vui nhậu nhẹt, cô vợ lại ức chế vì học hành dở dang, còn trẻ mà đã phải con bồng con bế, không được đi du lịch chỗ này chỗ kia… Cuối cùng, cả hai nộp đơn ra tòa xin “đường ai nấy đi”.
Tháng 3-2009, TAND quận Phú Nhuận cũng phải giải quyết ly hôn cho một cặp vợ chồng trẻ măng vì không hợp nhau. Họ kết hôn khi người vợ chưa đầy 20 tuổi và sinh được một con chung. Sau hơn một năm chung sống, cả hai mới nhận ra rằng quyết định đi đến hôn nhân của mình là quá vội vàng vì họ chẳng hiểu gì về nhau cả. Cứ hễ chồng thích ăn món gì thì vợ không thích, còn vợ thích mặc quần áo màu gì thì người chồng lại dị ứng khiến cả hai bất hòa trầm trọng…
Theo Phó Chánh án TAND TP Huỳnh Ngọc Ánh, trong năm qua đã xuất hiện trường hợp nguyên đơn là người nước ngoài hoặc Việt kiều về nước xin ly hôn với công dân Việt Nam (21 vụ). Đây là những trường hợp hoàn toàn mới và việc giải quyết án sẽ vất vả, kéo dài hơn thông thường vì phải công chứng, chứng thực đơn, tài liệu, phiên dịch tại tòa…
Ông Ánh nhìn nhận án ly hôn là loại án có số lượng cao nhất, năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng ngành tòa án TP đã nỗ lực cao và chủ động gỡ vướng nên lượng án tồn, án quá hạn rất ít (63 vụ).
 Theo một cuộc khảo sát mới đây của Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý thể chất TP.HCM, ly hôn vì bất đồng trong cá tính, suy nghĩ, quan điểm chiếm tỉ lệ cao nhất (39,5%).
Tại buổi báo cáo đề tài này, Tiến sĩ Mai Ngọc Luông cho rằng đây là sự thay đổi tất yếu trong xã hội đô thị. Cá tính của những trí thức trẻ đã thể hiện rõ nét hơn, họ dám trung thực với bản thân hơn trong nếp sống và suy nghĩ của mình.
Theo Tiến sĩ Luông, cá tính mạnh trong cuộc sống hiện đại thì rất tốt nhưng nó lại là kẻ thù của hôn nhân vì người ta dễ tự do thể hiện cá tính mà thiếu sự nhường nhịn lẫn nhau.
Theo kết quả nghiên cứu khoa học mới công bố về tình trạng ly hôn của thanh niên trên địa bàn TP.HCM của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tài (Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý thể chất TP.HCM), hiện nay cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn. Độ tuổi ly hôn dưới 30 chiếm tỉ lệ cao và năm sau luôn tăng hơn năm trước.
Cũng theo khảo sát này, 43,4% cảm thấy cuộc sống của mình thoải mái, tự do hơn sau khi ly hôn.
Theo một kết quả nghiên cứu được công bố năm 2008 của Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM), tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam tăng nhanh và chiếm 31%-40%, nghĩa là cứ ba cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn.
Từ đó, báo cáo kết luận: Tuổi thọ hôn nhân ở Việt Nam càng ngày càng giảm.
Theo thống kê của các trung tâm tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình ở TP.HCM, số người đến tư vấn ly hôn chiếm đến 70% trong các ca tư vấn.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

THÁO GỠ VƯỚNG MẮC CHO NGƯỜI LY HÔN VỚI NGƯỜI MẤT TÍCH

PHẠM THỊ LIÊN
Có một thực trạng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân hiện nay, đó là khi xảy ra tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, một bên vợ hoặc chồng thường bỏ đi mất tích. Để chấm dứt quan hệ hôn nhân, người có yêu cầu ly hôn với người mất tích phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy, nhưng trên thực tế, khi giải quyết việc ly hôn với người mất tích lại phát sinh vướng mắc.
Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Dân sự quy định về việc tuyên bố một người mất tích. Theo đó: Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Khoản 2 của điều luật này quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Trước đây, theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, để ly hôn với người mất tích, trước hết phải thực hiện thủ tục tuyên bố người đó mất tích, sau đó giải quyết việc ly hôn trong cùng một vụ án. Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh nêu rõ: Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Tòa án cũng có quyền yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình của tỉnh và Trung ương để Tòa án thụ lý vụ án và thông báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu phí tổn về việc thông báo tìm người vắng mặt. Như vậy, Nghị quyết 03 không quy định cụ thể cần phải đăng báo hoặc phát sóng thông báo tìm người vắng mặt trên đài, báo là bao nhiêu lần. Do vậy, thực tiễn giải quyết vụ án này trong những năm qua thường là Tòa án chỉ gửi thông báo tìm người vắng mặt cho cơ quan báo chí đăng báo hoặc đài phát thanh phát sóng 1 lần. Chi phí cho việc này hết khoảng vài ba trăm ngàn đồng.

Hiện nay, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu tuyên bố mất tích là việc dân sự, còn ly hôn lại là vụ án dân sự (trừ trường hợp thuận tình ly hôn được coi là việc dân sự). Nếu đương sự vừa có yêu cầu tuyên bố một người mất tích vừa có yêu cầu xin ly hôn thì phải yêu cầu để Tòa án giải quyết việc tuyên bố mất tích trước, sau đó mới giải quyết yêu cầu xin ly hôn. Theo quy định hiện hành, thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu. Quy định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là cần thiết để Tòa án có cơ sở giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc giải quyết vụ án ly hôn đối với họ. Tuy nhiên, vướng mắc phát sinh từ quy định này là chi phí để thực hiện việc thông báo, nhắn tin không nhỏ, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (khoảng trên 1 triệu đồng). Thời gian qua, Nhà nước đã có chế độ, chính sách hỗ trợ những đối tượng gặp khó khăn như: trợ giúp pháp lý miễn phí, miễn, giảm tiền án phí dân sự, góp phần tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, đối với các chi phí khác như giám định, nhắn tin đến nay chưa có quy định miễn, giảm. Bởi vậy, không ít trường hợp do không đủ điều kiện để thực hiện việc thông báo theo quy định của pháp luật, đương sự đã phải rút đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Do đó, Tòa án cũng không đủ cơ sở để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của người đó.
Để giúp công dân giải quyết sự ràng buộc về quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, cần có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho những đối tượng có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mở cho họ hướng đi trong trường hợp nhất thiết phải ly hôn với người mất tích.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:

QUYẾT ĐỊNH NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN

PHẠM ĐỨC THÀNH
Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên – lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.
Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng.
Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN và GĐ) năm 2000 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong Công văn số 62/2002/KHXX, Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn: “Trước khi ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không hỏi ý kiến của con chưa thành niên là điều tra chưa đầy đủ”. Như vậy, theo quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ 9 tuổi trở lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi. Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Tuy nhiên, trong nội dung Điều 11 Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hướng dẫn việc thực hiện khoản 2 Điều 92 Luật HN và GĐ, việc hỏi ý kiến của người con chỉ đặt ra trong trường hợp cha mẹ không thoả thuận được việc giao con cho ai nuôi. Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các Tòa án vận dụng những quy định này không giống nhau. Ở một số Tòa án, việc quyết định giao con cho ai nuôi không cần phải hỏi ý kiến của người con, nhưng có Tòa án lại cho rằng cần phải lấy ý kiến của con cả khi cha mẹ thoả thuận được việc giao con cho ai nuôi.
Thực tiễn cho thấy, việc xem xét ý kiến, nguyện vọng của con và coi đó là một trong những cơ sở để Tòa án quyết định việc giao con cho ai nuôi là cần thiết, xét dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, con cái mất đi một điểm tựa quan trọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình. Việc hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em. Khi quyết định người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy con cái… của cha và mẹ. Ý kiến của con tuy không có ý nghĩa quyết định cuối cùng nhưng cũng là một trong những cơ sở cần thiết để Tòa án xem xét, lựa chọn người nuôi con, bảo đảm cho trẻ sự phát triển tốt nhất.
Xây dựng mỗi gia đình bình đẳng, hạnh phúc là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta, cũng là ước mong của tất cả mọi người. Tuy nhiên, có những cuộc hôn nhân, vì nhiều lý do không thể tiếp tục tồn tại thì cần phải có một hướng đi  phù hợp, trong đó có việc giải quyết bằng cách thức ly hôn. Và trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con là cần thiết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người con.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHẤN DÂN
Trích dẫn từ:
/Default.aspx

“HẬU LY HÔN VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ”: DƯỚI GÓC NHÌN CỦA HAI NỮ LUẬT SƯ *

LS. TRẦN THỊ PHỤNG
Nhưng cũng có nhiều cặp vợ chồng, với những lý do hết sức… lãng xẹt, chỉ có chút mâu thuẫn không đáng, cũng đòi cho bằng được “Thôi, chia tay nhau từ đây!”. Thế mới biết, khi yêu nhau họ tự động trói đời vào nhau, đến khi hết yêu thì cũng sẵn lòng tự cởi trói cho nhau. Trăn trở trước thực trạng ly hôn nên nói bóng, nói gió như thế, nhưng ai cũng biết, trong lòng mỗi người vợ hoặc chồng, ai mà không canh cánh một nỗi buồn khi chia tay nhau. Đành là thế, thực ra khi không còn cơ hội cứu vãn để mãi là “bạn tốt “ của nhau đến “răng long đầu bạc”, thì ly hôn là một cứu cánh an toàn cho cả hai phía.
Thế nhưng, đằng sau các vụ ly hôn phần lớn lại xuất hiện những bi kịch mới cho thân phận người phụ nữ, với nhiều tổn thương từ tinh thần đến cuộc sống vật chất. Trong khi đối với các quý ông chồng thì sao? “Dường như họ cảm thấy được tháo cũi sổ lồng như chim bay xa giữa đồng xanh quê hương bao la!” Chị T.M một người phụ nữ vừa mới ly hôn với chồng chưa đầy một tháng, đã mỉm cười chua xót nói với tôi như vậy.
Nguyên nhân ly hôn: Tại anh, tại ả!
Chồng chị T.M là giảng viên đại học ở một thành phố miền Trung. Tại phiên tòa giải quyết yêu cầu  thuận tình ly hôn, anh đã  trình bày trước tòa một trong những nguyên nhân khiến hai vợ chồng ly hôn bằng một câu nói gây sốc : “Nhà tôi không có lửa – lửa tình yêu , lửa lòng và cả lửa… bếp !”.
Chị T.M cũng là một giảng viên như chồng, công việc trường lớp đã không cho họ có thời gian dành cho nhau, rồi mâu thuẫn lặng lẽ hình thành trong đời sống gia đình của họ, và không ai chịu mình sai, nên cuối cùng họ đành quyết định đường ai nấy đi. Họ thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng là một ngôi biệt thự đồ sộ trong một khu đô thị mới. Trách nhiệm nuôi bé gái bốn tuổi được thống nhất giao cho người vợ. Sau khi chia tay, anh rời khỏi mái nhà chung, đến sống một mình ở một chung cư cao cấp. Còn chị? Hàng ngày, khoảng sáu giờ sáng chị đưa con đến trường. Đến chín giờ tối đi dạy thêm về, sang nhà bà ngoại đón con gái về nhà, liêu xiêu bóng mẹ, bóng con trải dài trên đoạn đường vắng tanh không người qua lại… Chị M lặng lẽ dừng ngang câu chuyện với tôi rồi khóc thật ngon lành, làm tôi cũng cảm thấy chạnh lòng.

Một trường hợp khác cũng khá phổ biến trong đời sống xã hội. Chị N.T nhà ở quận 10, lấy chồng nhỏ hơn mình bốn tuổi. Chuyện tình đôi đũa lệch ấy đã gặp không ít rào cản của gia đình và bạn bè. Bất chấp mọi sự can ngăn, họ tiến đến hôn nhân và có một con trai chung, cũng là cháu đích tôn của dòng họ nội, vì thế cuộc sống gia đình ngày càng  thêm chan hòa, vui vẻ. Cho đến khi lối xóm thấy vắng bóng anh chồng đi về căn nhà nhỏ, mới biết họ đã chia tay nhau được sáu tháng rồi. Sau một năm ly hôn, anh chồng bế một bé gái khoảng ba tháng tuổi về ra mắt gia đình vợ cũ, trong khi đó chị T. ngày càng tiều tụy với sắc vóc hao mòn từ nỗi buồn ly hôn. Một lần chị T. đến văn phòng nhờ luật sư tư vấn yêu cầu buộc người chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, đó cũng là dịp để chị có cơ hội giãi bày, chia sẻ với vị luật sư nọ nguyên nhân ly hôn mà đã hai năm trôi qua chị không biết tỏ cùng ai, vì một lý do hết sức nhạy cảm: “không chịu nỗi nhu cầu sinh lý của anh chồng trẻ !”.
Nhận thức càng cao- Sóng ngầm càng dữ dội!
Anh T. và chị Đ. đều là chuyên viên cao cấp công tác trong cùng một cơ quan thuộc ngành tư pháp. Họ quen và yêu nhau vì nhận được sự cảm thông, chia sẻ trong nghề nghiệp và công việc. Cuộc sống của họ vì thế rất hạnh phúc trong giai đoạn đầu. Đến lúc họ mang cả công việc cơ quan về nhà thảo luận, rồi tranh luận. Vì ai cũng có trình độ chuyên môn nhất định nên không ai phục ai. Cơm sôi nhưng không ai chịu bớt lửa để phải thành cơm khê. Không thích ăn cơm nữa, anh T. chuyển sang “ăn phở”. Biết chuyện, chị Đ. dằn mặt chồng bằng đề nghị ly hôn, nào ngờ anh T. đồng ý ngay tức thời. Rồi họ đưa nhau ra tòa dường như chỉ để hợp thức hóa việc chia tay bằng thủ tục pháp lý, nhẹ nhàng và êm thấm trong không khí rất “hòa bình và hữu nghị”. Khi tòa vừa tuyên án xong, anh T. lãng mạn đến bên cạnh vợ, chân tình đưa tay để chờ đón nhận một  cái bắt tay của vợ lần cuối. Nhưng thật bất ngờ, anh lại nhận được một cái tát như trời giáng trước cơn sóng ngầm đang trào lên từ nỗi bất lực của người vợ, khiến cả khán phòng và hội đồng xét xử vô cùng sửng sốt. Có lẽ, sau bản án của tòa,  khiến chị T. chợt  nhận ra những cơn sóng dữ mà chị vốn đã quen kìm nén trong lòng rồi sẽ không còn có cơ hội để… dậy sóng (?).
Một câu chuyện ly hôn khác, có lẽ sẽ rất buồn khi nghe qua. Anh là người đã ly dị vợ và chị đã ly dị chồng. Họ gặp nhau trong công việc một cách rất tình cờ, rồi kết hôn với nhau trong lo âu, dè dặt bởi nỗi ám ảnh của sự  đổ vỡ. Nhưng rồi họ càng cố trân trọng, nâng niu hạnh phúc mong manh vừa mới có bao nhiêu thì sóng ngầm trong họ càng mãnh liệt bấy nhiêu. Sự chia sẻ trong mối quan hệ gia đình có cả con anh, con em, con chúng ta, không dễ mấy ai vượt qua phiền phức, tị hiềm . Người phụ nữ ấy lại một lần nữa ra tòa làm thủ tục ly hôn. Sau đó, với một nách hai con,  một của chồng trước, một của chồng sau , chị lặng lẽ sống, đến bây giờ khi đã bước sang tuổi bốn mươi, với một đứa con vừa mới vào đại học và một đứa đang chuẩn bị vào lớp 10.  Hiện chị chỉ biết  chu toàn công việc và chăm sóc tốt cho các con. Có lẽ nỗi buồn của những cuộc hôn nhân bất hạnh đã lấy cắp  đi của chị những nụ cười quý giá nhất  của tuổi xuân nên không để cho chị có thời gian nghĩ đến chuyện gì khác nữa.
“Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời …như một lời chia tay” 
Lời bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã làm day dứt biết bao trái tim yêu phải lắng đọng lòng mình trước những cuộc chia tay. Nhưng những câu chuyện ly hôn thì không bao giờ dừng lại, khi mà cuộc sống cứ hối hả mỗi ngày, tất bật, quay cuồng trong không gian lẫn thời gian. Ở đâu đó, trong bất cứ lúc nào, dù chia tay nhau, nhưng có lẽ tận trong tiềm thức họ vẫn nghĩ về nhau, dù là bất chợt hay vô tình. Nỗi đau trong họ vẫn luôn là những vết cắt dù đã thành sẹo, rồi có lúc đau lòng lắm thay khi chợt  nhận ra vết thương lòng ấy vẫn đang âm ỉ mỗi khi bưng hộp cơm ăn lặng lẽ …một mình. Rồi những khi lang thang xuống phố với hình ảnh con trẻ dung dăng, dung dẽ níu chặt tay mẹ mà cứ hỏi “ba đâu?” . Rồi những tháng ngày cằn cỗi trôi qua, mấy mẹ con lại dẫn nhau về nhà ngoại chơi, như mọi lần, và lại nát lòng vì không thể tìm ra câu trả lời  cho ngoại, khi nghe câu hỏi quen thuộc của bà với các cháu “Ba mấy đứa nhỏ không qua chơi sao?” .
Vậy đó, hôn nhân là hạnh phúc, ly hôn lại là sự giải thoát. Liệu cuộc sống có mấy ai muốn chọn cho mình sự giải thoát từ trong cuộc sống hạnh phúc mà họ đã chọn lựa, khả dĩ vì những lý do chẳng đặng đừng mà thôi.
Nhìn vào hiện tượng ly hôn ngày càng phổ biến, không biết có ai cảm thấy đồng cảm với tôi về thân phận người phụ nữ khi tình yêu khép lại, hạnh phúc cũng không còn, thân phận họ mỏng manh, buồn tẻ… như  một lời chia tay. Vậy nên, nếu còn có thể, xin đừng ly hôn ! 
 
LS. ĐOÀN THỊ LAN
Chị Phụng ơi!
Ly dị! Đó là sự chấm dứt một quan hệ hôn nhân, nhưng cũng có thể là sự bắt đầu cho một cuộc sống mới. Sau ly hôn, ưu thế xã hội sẽ thuộc về phái nam và vấn đề tìm thêm một nửa của họ thật dễ dàng, nhưng với phái nữ thì không, nếu không tỉnh táo và cẩn thận thì đã cay đắng thì còn đắng cay thêm chị à!
Trong nghề luật sư, trải qua nhiều vụ án, nhiều phiên tòa nhưng đặc biệt với những phiên tòa xử ly hôn, kết thúc của nó dù chỉ vài dòng trong bản án “cuộc sống chung không thể kéo dài… mục đích của hôn nhân không đạt được…” nhưng đằng sau những dòng chữ đó là biết bao thân phận, nỗi niềm của mỗi nhà, mỗi cảnh, Phụng à.
Là luật sư, đối mặt với bị đơn hoặc nguyên đơn trong vụ án  xử ly hôn, tôi không sợ những giọt nước mắt, chỉ sợ những gương mặt im lặng, đôi mắt vô hồn nhìn vào khoảng không, khi đối diện với những gương mặt đó, tôi biết phương án hòa giải là không thể xảy ra được. Phụ nữ còn nước mắt để khóc, khóc cho vơi đi nỗi đau khổ. Sau đó tỉnh táo lại là còn hy vọng sự phân tích khuyên giải của luật sư, họ có thể hàn gắn với một nửa của mình. Nhưng khi họ đã im lặng, không khóc nửa, thì có lẽ luật sư cũng chẳng còn gì để nói cho cuộc hôn nhân này, mà chỉ có thể tìm phương án giải quyết sao cho hạn chế sự thiệt thòi nhiều nhất cho thân chủ của mình và cặp vợ chồng càng trí thức càng khó hòa giải. Hòa giải sao được khi cả hai đều nghỉ rằng với trình độ của mình, quyết định của mình đã được suy nghĩ chín chắn, mình là người đúng thì không ai có thể khuyên giải được.
Để tôi kể chị nghe một phiên tòa xử ly hôn ở Tòa án Nhân dân quận 4. Đó là cặp vợ chồng lao động lam lũ, ấn tượng không quên của tôi về phiên tòa này là sau khi kết thúc phiên tòa người đàn ông đi chân không về, trả luôn cho vợ đôi dép lào mà cô ấy nhất định đòi lại bằng được vì cho rằng do tiền của mình mua cho ông chồng nát rượu, mặc cho hội đồng xét xử ngỡ ngàng, bản thân tôi thấy thật buồn cười mà không sao cười được.
Có những lý do ly hôn nghe thật buồn cười nhưng đã là lý do thì bao nhiêu lý do được đưa ra để biện minh cho quyết định của mình, khi tình yêu còn tồn tại thì người ta chấp nhận khuyết điểm của người mình yêu, nhưng khi tình yêu không còn thì người ta đang chịu đựng khuyết điểm của nhau. Mấy ai hiểu rằng đời sống vợ chồng đến một lúc nào đó không còn tình yêu nữa mà chỉ còn tình nghĩa với nhau lúc tuổi xế chiều.
Chị Phụng à! Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, mỗi người mỗi cảnh, tôi hiểu dấu chấm than của chị khi chấm dứt bài viết “…Vậy nên, nếu còn có thể, xin đừng ly hôn!”. Sau ly hôn, chị viết về thân phận phụ nữ, nhưng sau ly hôn tôi muốn nhắc đến thân phận của những đứa trẻ thơ, những đứa trẻ là kết quả của những năm tháng yêu nhau của họ, là những thân phận bi đát nhất của một cuộc hôn nhân tan vỡ. Vết thương lòng của người phụ nữ năm tháng sẽ qua đi, nhưng sự thiếu thốn tình yêu thương của bậc cha mẹ đối với trẻ thơ là không gì có thể bù đắp trở lại được.
Đứng về góc độ phụ nữ, tôi xin, nếu còn có thể xin đừng ly hôn, nhưng đứng về góc độ luật sư, tôi xin hãy dành những điều kiện về tinh thần, vật chất tốt nhất cho trẻ thơ khi ngồi vào xử lý án ly hôn.
Chị à, khi viết về đề tài này thì còn rất nhiều việc phải viết, có thể trở thành một chuyên đề hả chị. Trong trang giấy bé nhỏ này, tôi và chị cứ viết để có ai đó đọc được những dòng chữ này, có thể có những quyết định không ân hận về sau hả chị.
Chị Phụng ơi, nghề luật sư của mình, người ta có thể đến với mình, trải lòng, khóc lóc, tôi đã từng nhiều lần đưa khăn cho họ lau nước mắt, nhưng đến phiên tôi, tôi chỉ khóc lặng lẽ một mình!
SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM
Trích dẫn từ:
* “Hậu ly hôn và thân phậm người phụ nữ”là tiêu đề bài viết của LS. Trần Thị Phụng. Tiêu đề bài viết trên trang này do Civillawinfor đặt lại.

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THI HÀNH ÁN CẤP DƯỠNG NUÔI CON

LÊ LANH
Thi hành án dân sự về cấp dưỡng là một trong những loại việc khó thi hành, mất nhiều thời gian công sức và không đơn giản để kết thúc nhanh một vụ việc thi hành án. (Trừ trường hợp hai bên đương sự tự nguyện thoả thuận thi hành trực tiếp với nhau). Loại việc này, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, chịu khó và rèn luyện kỹ năng thuyết phục hai bên đương sự hoặc theo dõi thi hành dần hàng tháng, hàng quí…
Có những vụ việc phải thi hành mãi cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt mới kết thúc được hồ sơ. Một chuỗi thời gian khá dài phải tính đến hàng năm để thuyết phục hai bên đương sự tự nguyện thi hành với nhau . Bởi vì, thi hành án dân sự về cấp dưỡng đa số là loại việc thi hành dần trong một số vụ án về “ Vi phạm… an toàn giao thông; hôn nhân và gia đình…” số tiền cấp dưỡng chỉ từ 100.000đ đến 300.000đ/ tháng/ một cháu. Nếu đối tượng phải thi hành án không tự nguyện thi hành và điều kiện thi hành án của đối tượng đó vẫn có đủ đi chăng nữa, thì cơ quan thi hành án đôi khi cũng không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế để kê biên tài sản nhanh được. Bỡi lẽ số tiền đưa ra thi hành rất ít so với giá trị tài sản kê biên.

Thực tế, nhiều trường hợp đối tượng phải thi hành án có đủ điều kiện nhưng họ không tự nguyện thi hành, thì cơ quan thi hành án cũng phải “đợi” và “chờ” đến một năm, hai năm hoặc nhiều hơn nữa… để xác định được số tiền đưa ra thi hành khá mới có đủ cơ sở, điều kiện tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản. Và chỉ có thể kê biên tài sản có giá trị như : Ti vi, xe máy… để khấu trừ số tiền phải thi hành án trong giai đoạn thi hành án đó mà thôi, chứ không thể tiến hành kê biên một tài sản có giá trị lớn (nhà ở, quyền sử dụng đất…) để khấu trừ hết một lần được.. Thế rồi, số tiền cấp dưỡng định kỳ ở giai đoạn kế tiếp cũng phải theo dõi thi hành cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định pháp luật mới kết thúc. Chính vì lẽ đó, mà thực tiễn thi hành án đối với loại việc này vẫn tồn tại và kéo dài, khó kết thúc nhanh được vụ việc thi hành án. Để chứng minh cho thấy sự khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn thi hành án, tôi nêu ra một vụ việc đang tổ chức thi hành vào thế “Tiến thoái lưỡng nan” . Đó là việc ly hôn giữa anh Trần Văn Tám và Chị Phạm Thị Loan, được Toà án nhân dân thành Phố H xử cho ly hôn tại Bản án số: 99/HNGĐ-ST ngày 30/7/2003. Chị Loan được nuôi hai cháu ( Nga- sinh năm 1997, Tuyết- sinh năm 1999) . Anh Tám, phải cấp dưỡng nuôi hai đứa con, mỗi tháng 290.000đ/tháng đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Quá trình thi hành án, Anh Tám đã tự nguyện thi hành được hai năm đầu, sau đó anh Tám không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nữa. Nhiều lần cơ quan THA thuyết phục hai bên đương sự bằng nhiều lời lẽ, vừa động viên vừa giáo dục để Anh Tám ý thức thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ dân sự của mình, nhưng vẫn không tác dụng gì. Cơ quan THA tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, thì hiện tại anh Tám đã kết hôn với Chị Huệ và có một ngôi nhà cấp 4 do anh Tám và Chị Huệ đứng tên sở hữu, trong nhà còn có một số tài sản có giá trị như :Ti vi, tủ lạnh… Nói chung là Anh Tám có đủ điều kiện thi hành án, nhưng vẫn không thể tiến hành kê biên được. Nếu kê biên ngôi nhà thì giá trị tài sản của ngôi nhà rất lớn so với số tiền phải thi hành án và lại là tài sản chung của anh Tám và chị Huệ. Còn những tài sản khác, chị Huệ cho rằng là tài sản của chị, mặc dù chúng ta biết là tài sản chung của hai người, nhưng thực tế những loại tài sản điện tử này không quy định đăng ký quyền tài sản và khó xác định được là tài sản của ai? Cho nên, không đủ cơ sở để tiến hành kê biên, còn trả lại đơn yêu cầu lại càng không phù hợp theo quy định pháp luật. Nếu chúng ta tiến hành kê biên ngôi nhà thì lại là vấn đề rắc rối và phức tạp, lý do tài sản đó là tải sản chung và số tiền cấp dưỡng là thi hành dần theo từng tháng và rất ít, nên không thể thi hành khấu trừ một lần được … Đây là một trong những vấn đề phức tạp và khó khăn trong thực tiễn hành án về cấp dưỡng.
Vì thế, để kết thúc nhanh và đúng quy trình pháp luật đối với loại việc thi hành về cấp dưỡng, chúng tôi thường áp dụng biện pháp vận động, thuyết phục giữa các bên đương sự tự nguyện thoả thuận thi hành trực tiếp với nhau không qua cơ quan thi hành án. Có nghĩa là quan hệ cấp dưỡng và được cấp dưỡng chấm dứt tại cơ quan thi hành án. Hoặc có những vụ việc, chúng tôi vận động bên cấp dưỡng nộp đủ một lần số tiền cấp dưỡng của một giai đoạn cấp dưỡng nào đó, đồng thời thuyết phục bên được cấp dưỡng nhận và thoả thuận từ bỏ quyền lợi được hưởng ở giai đoạn cấp dưỡng tiếp theo (thay vì họ chỉ được nhận số tiền rất ít của hàng tháng dần dần cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng). Có như vậy chúng ta mới có cơ sở đình chỉ và kết thúc nhanh được hồ sơ vụ việc.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án dân sự về cấp dưỡng gặp không ít khó khăn và vướng mắc, chủ yếu áp dụng biện pháp vận động, thuyết phục là chính hoặc theo dõi thi hành dần theo năm tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt mới thôi.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Trích dẫn từ:  http://tha.moj.gov.vn

KHI TÒA XEM NGƯỜI SỐNG… NHƯ ĐÃ CHẾT

VŨ PHƯƠNG THẢO
TAND quận Hải Châu (Đà Nẵng) đã ra một quyết định vi phạm cả về thủ tục tố tụng và xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân…
Tòa xử sai
Ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu đã đưa ra xét xử vụ ly hôn giữa anh Lưu Hoàng Long và chị Phạm Thị Hoàng Yến. Theo Quyết định 04/DSST ngày 19.1.2004, TAND quận Hải Châu công nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận chị Yến nuôi con chung là Lưu Hoàn Mỹ đến tuổi trưởng thành. Đáng lưu ý là tại phần 3 của quyết định này, về tài sản chung, tòa quyết định giao ngôi nhà và đất tại 122 Núi Thành (Đà Nẵng) cho cháu Lưu Hoàn Mỹ được quyền sở hữu và sử dụng khi đủ 18 tuổi. Trên thực tế, đây là căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lưu Quý Thảo và bà Nguyễn Thị Oai (cha mẹ anh Long). Trước đó, ông Thảo – bà Oai đã lập di chúc cho vợ chồng anh Long căn nhà này.

Việc chia tài sản khi ly hôn giữa vợ chồng anh Long, ông Thảo – bà Oai không hề được biết đến. Bẵng đi hơn 3 năm sau, khi gia đình cần các thủ tục giấy tờ liên quan đến căn nhà trên thì lúc này, ông Thảo – bà Oai mới “té ngửa” trước Quyết định 04/DSST ngày 19.1.2004.
Sai phạm đầu tiên của TAND quận Hải Châu là việc ông Thảo – bà Oai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng đã không được tham gia tố tụng. Quá trình tòa giải quyết vụ án, ông Thảo – bà Oai không hề biết. Chưa hết, theo điều 649 của Bộ luật Dân sự năm 1995 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi đã chết”. Như vậy, việc ông Thảo – bà Oai di chúc cho vợ chồng anh Long toàn quyền sở hữu căn nhà 122 Núi Thành chỉ có ý nghĩa sau khi ông Thảo – bà Oai đã chết. Tại thời điểm vợ chồng anh Long – chị Yến ly hôn, ngôi nhà trên vẫn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Thảo – bà Oai.
Việc TAND quận Hải Châu công nhận ngôi nhà của ông Thảo – bà Oai là tài sản chung của vợ chồng anh Long trong khi ông bà vẫn còn đang sống khỏe mạnh đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Thảo. Gia đình ông Thảo đã làm đơn khiếu nại lên TAND TP Đà Nẵng đề nghị xem xét giải quyết. Theo quy định tại khoản 2 Điều 307 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Chánh án TAND có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các quận, huyện. Thế nhưng, Chánh án TAND TP Đà Nẵng đã không đả động đến những sai trái của cấp dưới và trong văn bản trả lời chỉ đề cập chuyện vụ án đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong vòng 3 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực).    
Viện Kiểm sát “tiền hậu bất nhất”
Gia đình ông Thảo tiếp tục gửi đơn lên Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) TP Đà Nẵng. Ngày 27.3.2007, VKSND TP Đà Nẵng đã ra Quyết định số 06 kháng nghị một phần quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc thuận tình ly hôn và tài sản chung số 04/DSST ngày 19.1.2004 của TAND quận Hải Châu theo thủ tục tái thẩm. Quyết định này nêu rõ: “TAND quận Hải Châu đã không xem xét toàn diện các chứng cứ do đương sự cung cấp mà chỉ căn cứ trên lời khai của anh Long, chị Yến để công nhận ngôi nhà số 122 Núi Thành, TP Đà Nẵng là tài sản chung của vợ chồng khi anh Long, chị Yến chưa được thừa kế theo di chúc, đồng thời tòa án cũng không xác minh làm rõ để biết được vợ chồng ông Thảo – bà Oai vẫn còn sống để đưa ông bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc thuận tình ly hôn và tài sản chung số 04/ DSST ngày 19.1.2004 của TAND quận Hải Châu đã vi phạm pháp luật dân sự cả về thủ tục tố tụng và nội dung, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Thảo – bà Oai”.
Từ đó, VKSND TP Đà Nẵng đề nghị TAND TP Đà Nẵng đưa vụ án ra xét xử theo trình tự tái thẩm theo hướng: Hủy phần công nhận thỏa thuận về tài sản chung và đình chỉ giải quyết yêu cầu công nhận thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng anh Long, chị Yến. VKSND TP Đà Nẵng cũng tạm đình chỉ thi hành phần công nhận thỏa thuận về tài sản chung của quyết định ly hôn 19.1.2004 để chờ kết quả xét xử tái thẩm. Quyết định trên do ông Trần Thanh Vân, lúc đó là Phó viện trưởng VKSND TP Đà Nẵng ký. 
Tuy nhiên, 3 tháng sau, khi ông Vân lên làm Viện trưởng VKSND TP Đà Nẵng, chính ông đã ra Quyết định số 07/QĐ-KNTT-KSDS, rút lại kháng nghị số 06/QĐ-KNTT-KSDS ngày 27.3.2007 do chính ông ký trước đây với lý do: những nội dung mà kháng nghị số 06 đưa ra để chứng minh là tình tiết mới không có sơ sở vững chắc (!). Đồng thời công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc thuận tình ly hôn và tài sản chung theo quyết định ngày 19.1.2004 của TAND quận Hải Châu có hiệu lực pháp luật. Trớ trêu hơn là trong Quyết định 07 này, VKSND TP Đà Nẵng một lần nữa khẳng định: “TAND quận Hải Châu công nhận tài sản hợp pháp của ông Thảo – bà Oai là tài sản chung của vợ chồng anh Long, chị Yến là không đúng. Nhưng đây là vi phạm do thiếu trách nhiệm của thẩm phán giải quyết vụ án, phạm vào các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, mà vụ án đã quá thời hạn để kháng nghị thủ tục giám đốc thẩm”.
Anh Lưu Chí Cường, con trai ông Thảo – bà Oai, người được ủy quyền đứng ra giải quyết vụ việc, bức xúc: “Cả gia đình tôi thật sự bất bình. Trước đó, VKSND kháng nghị theo trình tự tái thẩm nhưng lại căn cứ theo trình tự giám đốc thẩm để rút kháng nghị. Mà hai trình tự này lại hoàn toàn khác nhau, được quy định cụ thể tại các chương, điều khác nhau của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
SOURCE: BÁO THANH NIÊN NGÀY 21/5/2008

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHUẤT TẤT QUANH VỤ LY HÔN 54 TỶ ĐỒNG

THANH LƯU – TÂM PHÚC
PHẦN 1
Sống chung 21 năm, có đăng ký kết hôn, có hai mặt con nhưng người vợ vẫn bị “đẩy” ra đường tay trắng…
TAND thị xã Tân An (Long An) vừa xử sơ thẩm một vụ ly hôn gây xôn xao dư luận địa phương vì chuyện “một ông ba bà” và tài sản tranh chấp lên tới 54 tỷ đồng.
Một ông ba bà
Năm 1977, ông B. chung sống không đăng ký kết hôn với bà T. tại xã Long Trì (Châu Thành). Mười năm sau, khi đã có với nhau hai mặt con, ông B. bỏ lên thị xã ăn ở với bà K. Hai người sống tại nhà cha mẹ bà K., năm năm sau mới ra ở riêng.
Năm 1995, ông B. cùng một nhóm bạn đi buôn gỗ ở Campuchia. Sau hai năm, ông thành một đại gia ở thị xã Tân An. Cùng năm này, ông và bà K. có với nhau đứa con thứ hai và mua một miếng đất ở một vị trí đẹp để xây khách sạn PN (đặt theo tên hai con chung của ông bà). Một năm trước, hai người đã ra phường làm giấy đăng ký kết hôn.

Việc kinh doanh ngày càng thuận lợi, đến năm 2000 họ tiếp tục xây thêm một khách sạn lớn tên PN 2 đối diện bên kia đường. Năm 2001, họ đã thành lập một công ty TNHH PN đứng tên chung của hai vợ chồng.
Thế rồi cảnh “cơm không lành, canh không ngọt” xuất hiện khi ông B. quan hệ với người phụ nữ khác. Vì chuyện này, bà K. đã nhiều lần gửi đơn tố cáo chồng đến các cơ quan chức năng nhưng không được giải quyết. Cuối năm 2007, do không thể cứu vãn được quan hệ, bà K. đã gửi đơn lên TAND thị xã Tân An để xin ly hôn với ông B.
Sống chung 21 năm chỉ là… “cặp chơi” (!)
Trong vụ này, suốt quá trình tòa hòa giải giữa ông B. và bà K., người vợ trước của ông B. là bà T. hoàn toàn không tham gia nhưng tới khi tòa chuẩn bị đưa vụ án ra xử, bà này lại đột nhiên xuất hiện, gửi đơn lên tòa đòi ông B. chia phần tài sản!
Theo bà T., thời còn chung sống bà dành dụm được 200 cây vàng và đã đưa cho ông B. đi làm ăn, nay biết ông B. và bà K. ly hôn nên muốn lấy lại phần tài sản này. Cạnh đó, bà còn khai rằng biết ông B. có vợ bé (tức bà K.) nhưng vẫn cam chịu cảnh chồng chung bấy lâu nay chứ không hề đoạn tuyệt quan hệ.
Về phần mình, sống với bà K. 21 năm nay và có hai mặt con nhưng tại tòa, ông B. vẫn bảo mình chỉ… “cặp chơi”, còn giấy đăng ký kết hôn thì chẳng qua do cần hộ khẩu thị xã để thuận tiện cho việc làm ăn. Ông còn bổ sung “chứng cứ quan trọng” là giấy xác nhận của UBND xã Long Trì (nơi bà T. sống) trước khi vụ án đưa ra xử 10 ngày, nội dung là ông vẫn còn chung sống như vợ chồng với bà T., thường xuyên về thăm nom, chăm sóc vợ con và vẫn hạnh phúc bình thường.
Trong khi đó, bà K. và gia đình khẳng định những công việc làm ăn của ông B. đều do một tay bà góp sức. Về việc công ty TNHH trước đây đứng tên của hai vợ chồng nhưng hiện chỉ còn một mình ông B. đứng tên thì người con chung của họ khẳng định đã bị ông B. ép ký thay mẹ để làm thủ tục sang tên.
Thế nhưng TAND thị xã Tân An chỉ dựa vào lời khai của ông B. và bà T. để công nhận hôn nhân thực tế giữa họ, tuyên hủy quan hệ hôn nhân giữa ông B. và bà K. Tòa cũng xét rằng khối tài sản hiện nay do một tay ông B. làm ra, bà K. không có đóng góp nào (?). Tài sản chung của ông B. và bà K. chỉ là hơn ba tỷ đồng doanh thu khách sạn từ năm 2001 đến 2007. Do ông B. có chứng cứ chứng minh bà K. giữ số tiền này nên bà K. phải trả lại một nửa…
“Đánh lận con đen”?
Như vậy, với phán quyết trên, bà K. không những phải ra đi tay trắng sau 21 năm làm vợ mà còn “ôm” thêm món nợ hơn 1,5 tỷ đồng cùng khoản án phí trên 200 triệu đồng.
Trong vụ này, một căn cứ để tòa công nhận hôn nhân thực tế giữa ông B. với bà T. là xác nhận của UBND xã Long Trì rằng ông B. vẫn còn chung sống như vợ chồng với bà T., thường xuyên về thăm nom, chăm sóc vợ con. Vậy mà khi phóng viên Pháp Luật TP.HCM làm việc với chủ tịch UBND xã Long Trì là ông Phan Văn Tèo, ông này lại bảo mình có xác nhận nhưng chuyện ông B. có sống chung với bà T. thật hay không thì ông không rõ!? Khi phóng viên trò chuyện với người con trai của ông B. và bà T., anh này khẳng định “ba không hề về ở với má tại nhà riêng”.
Về phần mình, bà T. trả lời là “vợ chồng hiện sống rất hạnh phúc”. Phóng viên chất vấn: “Ông B. sống với bà K. suốt 21 năm có tới hai mặt con, gần đây lại sống chung với người phụ nữ thứ ba mà bà vẫn nghĩ mình hạnh phúc hay sao?”. Bà T. nói: “Tôi an phận chịu đựng, miễn sao ông ấy chăm lo đầy đủ cho con cái và gia đình là hạnh phúc rồi”. Nói thế nhưng trong khi ông B. là đại gia thì theo ghi nhận của chúng tôi, trước đó bà T. vẫn ở trong một căn nhà tồi tàn, đi làm thuê đủ mọi việc để kiếm sống như nhổ cỏ, cấy lúa, ngắt đọt dưa…
Hiện bà K. đã làm đơn kháng cáo, đề nghị TAND tỉnh Long An xem xét lại bản án sơ thẩm. Khi đó, chắc chắn những điểm phi lý và bất thường trong vụ ly hôn này sẽ phải được cấp phúc thẩm làm rõ.
PHẦN 2
TAND tỉnh Long An cần xem lại bất thường từ việc cấp sơ thẩm gạt người vợ có đăng ký kết hôn của tỷ phú ra rìa.
Như chúng tôi đã phản ánh trên số báo trước (Phần 1 – Civillawinfor) đã bộc lộ một loạt khuất tất khi bà K. – người vợ thứ hai của ông B., sống chung 21 năm, có đăng ký kết hôn, có hai mặt con, bị “đẩy” ra đường tay trắng. Đã không được hưởng đồng nào từ khối tài sản 54 tỷ đồng, bà còn phải “gánh” món nợ gần hai tỷ đồng gồm tiền trả nợ cho ông B. và án phí.
Sống chung cả làng xã đều biết
Hôm qua, chúng tôi đã đến TAND thị xã Tân An, tìm gặp Chánh án Võ Văn Hiếu – chủ tọa phiên tòa nhưng ông này cương quyết không tiếp vì lý do bận họp. Nhiều lần chúng tôi gọi điện thoại cho một hội thẩm nhân dân trong hội đồng xét xử cũng không ai nghe máy.
Sau phiên xử, bà K. về sống tại nhà con ở phường 4 trong tình trạng thần kinh căng thẳng, nhiều lúc không kiểm soát được suy nghĩ, lời nói. Nhiều người dân địa phương bày tỏ sự không đồng tình với phán quyết của tòa. Họ kể thời gian đầu ông B. chung sống với bà K. thì cảnh nhà rất cực khổ. Hàng ngày, bà K. đi bỏ mối thuốc lá còn ông B. ở nhà nuôi heo, chăm con. Lúc ông B. đi buôn gỗ bên Campuchia, lâu lâu còn đón vợ con đi theo làm cùng.
Các cán bộ UBND phường 4 đều biết về gia đình họ. Hội trưởng Hội phụ nữ phường cũng xác nhận họ sống với nhau từ lâu. Ông Đặng Văn Điệp, phụ trách Ban lao động thương binh xã hội của phường, nói biết rất rõ gia đình ông B. và bà K. vì là hàng xóm. Theo ông, đương nhiên họ là vợ chồng hợp pháp vì có đăng ký kết hôn, có con cái đàng hoàng, khỏe mạnh. Quá trình chung sống với nhau rất dài, cả làng, cả xã đều biết nên quyết định của tòa chưa thuyết phục. Ông Điệp lắc đầu: “Tôi cũng như nhiều người thấy rất tội nghiệp cho chị K. sau phiên tòa này”.
Bất thường…
Bất thường đầu tiên là việc tòa công nhận bà T.,vợ đầu của ông B., có hôn nhân thực tế với ông B., để từ đó bác quan hệ hôn nhân giữa ông B. và bà K.
Trước ngày tòa xử, bà này mới đột nhiên xuất hiện, khai rằng 21 năm trước, bà có đưa cho ông B. 200 cây vàng để làm ăn, nay đến để đòi phần. Người ta không thể không đặt câu hỏi: Có phụ nữ nào đưa hàng trăm cây vàng cho chồng để chồng đi ở với người đàn bà khác suốt 21 năm mà không có ý kiến gì trong khi bản thân thì nghèo túng?
Lý giải thế nào khi bà T. được tham gia vào vụ án lại rút đơn tranh chấp 200 cây vàng với ông B.?
Đứng trước gian nhà tuềnh toàng, ẩm thấp, chật hẹp của bà T. ở xã Long Trì (Châu Thành), chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về cuộc hôn nhân “rất hạnh phúc” với ông B. mà bà trình bày tại tòa. Chính ở ngôi nhà này, bà đã cùng hai người con sống chật vật hàng chục năm, trong khi ông B. thì sung túc với bà K. tại trung tâm tỉnh Long An.
Người con trai của ông B. và bà T. nói với chúng tôi rằng nhờ vay mượn và trả góp, anh mới mua được chín máy may công nghiệp để mở cơ sở. Trước đây, anh đi làm thuê đủ nghề gánh rơm, chạy ghe mướn… Hoàn toàn trái ngược lời mẹ, anh tiết lộ: “Thỉnh thoảng ba có về nhà thăm ông nội, dự đám tiệc nhưng không hề về với mẹ trong ngôi nhà này”. Hỏi rằng ba anh là tỷ phú mà không giúp mẹ con làm ăn và cho tiền sửa nhà hay sao, anh chỉ cười xòa rồi lờ đi không trả lời.
Chúng tôi gặp bà T. khi bà tất tả từ ngoài đồng trở về sau một ngày làm thuê. Bà thiệt tình kể không chỉ thường làm những việc như nhổ cỏ, cấy lúa, cắt lúa, ngắt đọt dưa…, bà còn làm cả phần việc của đàn ông: leo cao mé nhánh me tây trong vườn thanh long. Một ngày làm thuê, bà có được khoản thu nhập 30–40 ngàn đồng.
Bà khoe từ tháng 7 âm lịch năm trước được ông B. cho chuyển qua ở nhà mới (căn nhà của ba ông B. để lại). Trong ngôi nhà mới sang trọng, cảnh sống lam lũ 21 năm qua của bà vẫn không thể giấu được trên gương mặt sạm nắng và đôi bàn tay chai sần.
… Nối tiếp bất thường
Trong vụ án, cuộc hôn nhân “còn mặn nồng” giữa ông B. và bà T. được củng cố bằng văn bản xác nhận của UBND xã Long Trì trước khi phiên xử diễn ra 10 ngày rằng họ vẫn còn sống chung như vợ chồng và rất hạnh phúc. Ký văn bản giấy trắng mực đen là thế vậy mà chính Chủ tịch xã Phan Văn Tèo lại thừa nhận với chúng tôi rằng “chuyện quan hệ tình cảm riêng tư của hai người thì tôi không rõ!”. Gặp chúng tôi, ông B. bảo rằng ông chỉ “cặp chơi” với bà K., rằng khối tài sản hàng chục tỷ đồng chỉ do một tay ông làm ra, rằng chuyện đăng ký kết hôn chỉ là giả tạo để ông có hộ khẩu thị xã. Nếu chỉ “cặp chơi”, chỉ giả tạo thì lý giải sao về sự xuất hiện của hai người con chung, lý giải sao về hai khách sạn đứng tên hai người con ấy, lý giải sao về cái công ty TNHH hai thành viên trước đó cũng mang tên hai người con mà cả ông B. và bà K. cùng đứng tên trên giấy tờ?
Cuối cùng, bất thường lớn nhất trong vụ án, theo chúng tôi là từ những trình bày đầy vô lý của bà T. và ông B., từ xác nhận “có vấn đề” của chủ tịch xã Long Trì, TAND thị xã Tân An sẵn sàng gạt bỏ giấy đăng ký kết hôn, gạt bỏ các chi tiết hiện thực chứng tỏ cuộc hôn nhân hợp pháp của bà K. để “đẩy” bà ra bên lề.
Và đó chính là điều mà TAND tỉnh Long An cần quan tâm, làm rõ!
PHẦN 3
Ngày 15/8/2008, TAND tỉnh Long An đã xử phúc thẩm vụ ly hôn giữa ông B. và bà K. mà Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh (xem phần 1, 2 bài viết này – Civillawinfor). Phiên tòa có rất đông người dân đến dự, ngồi chật kín cả phòng xử.
Trước đây, rất nhiều ý kiến không đồng tình với bản án sơ thẩm của TAND thị xã Tân An khi bà K., một người vợ sống chung 21 năm có đăng ký kết hôn, có hai con chung bị đẩy ra đường tay trắng. Đã không được hưởng đồng nào từ khối tài sản 54 tỷ đồng, bà còn phải gánh món nợ gần hai tỷ đồng gồm án phí và tiền trả nợ cho người chồng đại gia.
Có phải hôn nhân thực tế?
Tại tòa, luật sư của bà K. đưa ra hàng loạt chứng cứ chứng minh việc cấp sơ thẩm công nhận hôn nhân thực tế giữa ông B. và bà T. (vợ đầu) là không có cơ sở.
Cụ thể về mặt pháp luật, để xác định là hôn nhân thực tế thì phải có đủ hai yếu tố: sống chung với nhau từ trước ngày 3-1-1987 và việc sống chung phải liên tục, không bị gián đoạn. Vị luật sư đã đến tận xã Long Trì – nơi bà T. sống để hỏi chủ tịch xã về tờ giấy xác nhận rằng “ông B. vẫn chung sống hạnh phúc với bà T”. Chủ tịch xã bảo do thấy ôtô của ông B. hay đậu trước nhà của người cha nên tưởng thế chứ việc họ có sống với nhau không thì không biết. Hơn nữa, ông lên làm chủ tịch xã chưa tới 10 năm nên không biết chuyện trước kia thế nào.
Cạnh đó, luật sư của bà K. còn có giấy xác nhận của nhiều nhân chứng khác cùng địa phương với bà T. khẳng định ông B. và bà T. đã thôi nhau từ lâu lắm rồi. Sau khi ông B. lên thị xã năm 1986, gia đình ông còn đuổi bà T. ra khỏi căn nhà trước đây họ ở. Bà T. từng phải đâm đơn cầu cứu xã, huyện, cuối cùng nhờ cơ quan chức năng hòa giải bà mới được ở lại trong nhà cũ.
Trước tòa, ông B. nói dù sống với bà K. nhưng vẫn thường xuyên chăm sóc mẹ con bà T. về vật chất lẫn tinh thần. Tòa thắc mắc: “Sao lúc ông nhà cao cửa rộng ở thị xã, vợ con ông ở quê phải ở trong căn nhà ọp ẹp, vợ ông phải đi làm mướn nuôi con?”. Ông B. trả lời: “Tôi là người làm ăn, có lời tới đâu tôi lo tới đó”. Tòa “vặn”: “Sao sống chung với nhau 21 năm mà ông nói là cặp chơi?”. Ông B.: “Đàn ông năm thê bảy thiếp là chuyện thường”!?
Về phần bà T., luật sư hỏi sao năm 1986 mà bà có tới 200 lượng vàng đưa ông B. đi làm ăn để rồi phải làm mướn nuôi con, bà T. nói: “Giàu thì giàu nhưng tôi vẫn đi làm thuê để… tập thể dục”(!?) Bà còn nói biết ông B. có vợ bé nhưng cam chịu cảnh “một ông hai bà” và vẫn thấy rất hạnh phúc!?
Cha của ông B. thì trả lời tòa rằng ông chỉ có người con dâu duy nhất là bà T., ông chưa từng gặp và chẳng biết bà K. là ai cả. Đến khi luật sư của bà K. đưa ra những bức ảnh có mặt ông trong đám cưới con của ông B. với bà K. cùng ảnh đám tân gia (ông đứng sát bên cười nói với bà K.) thì ông này ấp a ấp úng.
Không ai chịu ai
Từ những bằng chứng trên, phía bà K. cho rằng quan hệ hôn nhân giữa ông B. và bà K. là hoàn toàn đúng pháp luật. Từ khi chung sống với bà K., ông B. không còn quan hệ gì với bà T. nữa. Ngoài ra, ông B. và bà K. còn làm giấy đăng ký kết hôn nên phải công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Từ đó, việc phân chia tài sản cũng phải xác định lại vì đây là tài sản chung.
Ngược lại, luật sư của ông B. nói bản án sơ thẩm là hợp lý. Những chứng cứ trong hồ sơ đều cho thấy hôn nhân giữa ông B. và bà T. là hôn nhân thực tế. Hơn nữa, mọi tài sản đều tạo dựng từ nguồn vốn tự có của ông B., đứng tên ông B., còn bà K. chẳng có tài sản nào. Nếu tính thiệt hơn, bà K. còn chiếm giữ số tài sản gần 10 tỷ đồng của ông B. bao gồm căn nhà bà đang ở, máy móc, số tiền doanh thu khách sạn. Trong khi đó, ông B. đang nợ “ngập đầu” và nếu trừ hết các khoản nợ ra thì tài sản của ông B. chỉ còn lại khoảng… năm tỷ đồng.
Theo đại diện VKSND tỉnh Long An, bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của những người làm thuê, đối tác làm ăn, những người có quyền lợi đối nghịch với bà K. như bà T. và cha ông B. để xác định khối tài sản 54 tỷ đồng là của riêng ông B. là không có cơ sở. Hơn nữa, quá trình chuyển đổi công ty (kinh doanh xe gắn máy và khách sạn mà ông B. và bà K. thành lập khi chung sống) không có biên bản nào của hội đồng thành viên về phần vốn góp; các chữ ký của bà K. lại bị giả mạo mà bà K. không biết. Vì vậy, căn cứ vào phần vốn góp ban đầu của công ty, căn cứ vào công sức đóng góp của ông B. và bà K., VKS đề nghị chia khối tài sản chung giữa họ theo tỷ lệ 7/3. Ngoài ra, VKS không kháng nghị về mặt quan hệ hôn nhân.
Năm 1977, ông B. cưới bà T. tại xã Long Trì (Châu Thành), sinh được hai người con. Năm 1986, ông bỏ vợ con lên thị xã Tân An sống chung với bà K., sinh thêm được hai người con nữa. 10 năm sau, ông và bà K. đi đăng ký kết hôn.
Trong 21 năm chung sống, họ thành lập Công ty TNHH PN kinh doanh xe máy, khách sạn. Tuy nhiên, đến năm 2007 thì xảy ra mâu thuẫn và bà K. xin ly hôn. Tòa đang thụ lý vụ ly hôn này thì bà T. bất ngờ xuất hiện, bảo trước khi ông B. lên thị xã, bà có đưa… 200 lượng vàng cho ông đi làm ăn, giờ biết ông sắp ly hôn với bà K. nên đòi lại. Từ đó, ông B. một mực khẳng định vẫn sống rất hạnh phúc với bà T., việc sống với bà K. chỉ là cặp chơi.
Về phần tài sản, lúc đầu bà K. là một trong những thành viên của Công ty TNHH PN nhưng sau nhiều lần chuyển đổi, công ty dần dần trở thành công ty TNHH một thành viên đứng tên một mình ông B. Bà K. không biết gì về chuyện này vì mọi giấy tờ ông B. bắt người con gái lớn giả chữ ký của mẹ để hợp thức hóa.
Trong phiên sơ thẩm, TAND thị xã Tân An đã công nhận hôn nhân giữa ông B. và bà T. là hôn nhân thực tế, hủy hôn nhân giữa ông B. và bà K. Gần như toàn bộ tài sản đang đứng tên ông B. nên bà K. không những không được hưởng đồng nào mà còn phải trả ngược cho ông B. gần hai tỷ đồng. Sau đó, bà K. kháng cáo. VKSND tỉnh Long An cũng kháng nghị rằng việc phân chia tài sản của tòa sơ thẩm là không có cơ sở.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
TRÍCH DẪN TỪ:

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code