CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NGA
Bên
cạnh các văn bản pháp luật, quan hệ lao động còn được điều chỉnh bởi
thoả ước lao động tập thể. Vậy thoả ước lao động tập thể có ý nghĩa gì,
thực trạng ký kết và thực hiện thoả ước trong thời gian qua như thế nào
và tại sao lại có thực trạng đó; cần làm gì để hoàn thiện chế độ thoả
ước lao động tập thể, nâng cao chất lượng ký kết và thực hiện. Những vấn
đề này được tác giả đề cập và phân tích trong bài viết dưới đây.
Vào cuối tháng 11/2001, Duma quốc gia Nga đã thông qua sau lần đọc
thứ ba dự thảo sửa đổi các đạo luật: "Luật về vị trí pháp lý của thẩm
phán", "Luật về hệ thống toà án", "Luật về Toà án Hiến pháp". Duma cũng
thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự mới. Theo đánh giá của các giới, Hội
đồng Liên bang và Tổng thổng cũng sẽ có cùng quan điểm với Duma. Như
vậy, cuộc cải cách tư pháp cả gói ở Nga bước vào giai đoạn mới. Tuy
nhiên, Liên bang Nga còn phải tiếp tục sửa đổi nhiều trong lĩnh vực tư
pháp. Bài viết này xin giới thiệu một số nét của cuộc cải cách cho đến
thời điểm hiện nay, đồng thời cũng cung cấp một số thông tin về những
quan điểm trái ngược nhau trong quá trình cải cách.
I- Bối cảnh và yêu cầu cải cách
Những con số
Hệ thống toà án Nga gồm ba nhánh: Toà án Hiến pháp, các toà án trọng tài, các toà án có thẩm quyền chung. Các toà thẩm quyền chung gồm: Toà án tối cao Liên bang Nga, 89 toà án khu vực, khoảng 2000 toà án quận huyện, các quan toà hoà giải có ở 33 khu vực. Toà án Hiến pháp có 19 thẩm phán, các toà trọng tài - 2500, các toà thẩm quyền chung - 16700, 8% ghế thẩm phán còn thiếu, 1/3 số thẩm phán đã từng là kiểm sát viên, công an, điều tra viên, thư ký toà án.Vào năm 2.000, các toà án xét xử 0,9 triệu vụ án hình sự với 1,3 triệu bị cáo, hơn 5 triệu vụ dân sự, 2 triệu các vụ án khác, xem xét 450.000 đơn kháng án. So với năm 1991, số lượng vụ án tăng 500%.Liên bang Nga có 40.000 kiểm sát viên, 50.000 điều tra viên.(Nguồn: Pashin S. The current situation with juridicial reform in Russia - http://www.ksgnotest1.harvard.edu)
Từ 1991 đến 1995
Ngày 24/10/1991, Xô viết tối cao
Liên bang Nga đã thông qua Chương trình cải cách tư pháp của Liên bang
Nga. Từ đó đến 1995 đã làm được những việc quan trọng sau đây:
Năm 1991 : Bỏ hình phạt tử
hình đối với những tội không gây bạo lực; trong lĩnh vực dân sự, nhiều
đạo luật được thông qua hoặc sửa đổi để bảo vệ quyền sở hữu và giao dịch
dân sự giữa công dân với nhau; công dân Nga có quyền khiếu kiện lên toà
án về những quyết định hoặc hành vi bất hợp pháp của chính quyền;
Cũng trong năm này, Toà án Hiến pháp lần đầu tiên được thành lập ở Nga;
Năm 1992: Toà trọng tài
được cải cách để giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các pháp nhân và
giữa pháp nhân với các cơ quan Nhà nước; Luật về vị trí pháp lý của
quan toà được thông qua, tuyên bố sự độc lập của các quan toà, thẩm phán
được bổ nhiệm suốt đời; từ năm 1992, những người bị cảnh sát tạm giam
hoặc bị các cơ quan điều tra bắt giữ có quyền khiếu kiện lên toà (hàng
năm toà xem xét 70.000 đơn dạng này và nhờ đó 1/5 người bị bắt giữ được
thả) 1 ;
Năm 1993 : Luật cho phép
toà án không tiếp nhận những chứng cứ thu thập được một cách bất
hợppháp; mặc dầu Viện kiểm sát phản đối kịch liệt, Xô Viết tối cao đã
thông qua Luật về bồi thẩm đoàn, bồi thẩm đoàn được thành lập ở 9 khu
vực của Nga, có thẩm quyền trong các vụ án hình sự nghiêm trọng và đặc
biệt nghiêm trọng (năm 2000 bồi thẩm đoàn tuyên trắng án 16% các vụ án
mà họ được tham gia xem xét, trong khi đó các toà bình thường - chỉ
0,5%) 2 ;
Năm 1995: Liên bang Nga phê chuẩn Công ước Châu Âu về quyền con người, công nhận thẩm quyền của Toà án Châu Âu đóng ở Strasbourg.
Từ 1996 đến nay
Vào năm 1996, cuộc cải cách tư
pháp ở Nga bị ngừng trệ. Những cơ quan như cảnh sát, điều tra, viện kiểm
sát không được cải cách. Tra tấn vẫn là một cách thức thông dụng để lấy
lời khai.
Tham nhũng
Tham nhũng đã trở nên phổ biến
trong hệ thống toà án Nga. 322 thẩm phán bị sa thải trong ba năm gần đây
vì tội ăn hối lộ. Trong dân gian đã lưu truyền nhiều chuyện châm biếm
về tình trạng tham nhũng trong giới thẩm phán. Gusinski và Berezovski (hai nhà tài phiệt có tranh chấp với nhau) đến gặp thẩm phán - chuyện kể -
Gusinski đưa thẩm phán 1 triệu USD, còn Berezovski đưa 1,5 triệu. Thẩm
phán nói: "Chúng ta phải công bằng với nhau chứ" và trả lại cho
Berezovski 500.000 USD.
Thiếu thẩm phán
Thiếu thẩm phán đủ tiêu chuẩn là
một nét trong thực trạng tư pháp Nga những năm vừa qua. 1/3 ghế thẩm
phán ở Moskva không có ứng cử viên đủ tiêu chuẩn, nhiều vị trí do những
luật gia mới vào nghề đảm nhận. Việc thiếu thẩm phán làm cho tình trạng
án tồn đọng càng tăng.
Thiếu độc lập
Phụ thuộc vào địa phương
Vì những điều kiện vật chất tồi
tệ, lương thẩm phán thấp (khoảng 150 USD), hệ thống toà án không thực sự
được độc lập. Vào năm 2000, các toà án chỉ được chu cấp 1/3 so với nhu
cầu tài chính cần thiết 3 . Bởi vậy, các toà án phải đi "xin"
nguồn tài chính từ các tỉnh trưởng ở địa phương, mặc dầu điều này trái
với Hiến pháp (theo Hiến pháp Liên bang Nga 1993, nguồn tài chính của
toà án chỉ được lấy từ ngân sách Liên bang). Do đó, các toà án phụ thuộc
rất nhiều vào địa phương.Không phải ngẫu nhiên mà Thị trưởng Moskva
thắng mọi vụ kiện ở các toà của thủ đô.
Sự chuyên quyền của chánh án
Một trong những vấn đề lớn nhất
trong hệ thống tư pháp Nga liên quan đến chánh án các toà án khu vực. Họ
nắm trong tay quyền lực vô song. Nhiều thẩm phán là nạn nhân của tính
khí thất thường của chánh án. Các bản án tuyên trắng án có thể hại sự
nghiệp của thẩm phán vì chánh án không muốn vậy. Các thẩm phán có tổ
chức gọi là Hội đồng thẩm phán (Council of Judges) để bảo vệ quyền lợi
của mình, nhưng những tổ chức này cũng nằm trong tay các chánh án.
Chất lượng xét xử
Tiến độ xét xử của toà án rất chậm .
1/5 các vụ án hình sự và dân sự trong năm 2000 bị hoãn trái luật. Có
những bị cáo phải đợi được xử trong các trại tạm giam đến 2-3 năm.Toà án
vẫn nặng về kết tội . Điều này xuất
phát từ tâm lý của thẩm phán luôn coi bị cáo là tội phạmtiềm năng, rằng
Nhà nước không bao giờ sai. 99,6% bị cáo bị xử có tội. 42% bản án tuyên
vô tội bị toà phúc thẩm bác bỏ, trong khi đó đối với các bản án tuyên có
tội - chỉ 0,05%. Hàng năm có700.000 người bị tuyên có tội vì trộm vặt
(một cậu bé 15 tuổi bị kết án 3 năm rưỡi tù chỉ vì ăn cắp hai con chuột
bạch; một người phụ nữ 3 con bị kết án 4 năm vì ăn cắp 12 cái bắp cải) 4 .Số lượng các đơn khiếu nại về hoạt động chuyên môn của thẩm phán tăng từ 4.000 năm 1995 lên 18.000 vào năm 2000 5 . Ba lĩnh vực chính hay bị khiếu nại là
sự đình trệ trong thủ tục tố tụng, vi phạm nghiêm trọng luật pháp và
quyền con người, thái độ thô bạo của thẩm phán khi ngồi ghế xét xử.
Không hiếm trường hợp thẩm phán sửa chữa biên bản phiên toà.
Lối suy nghĩ, làm việc
Nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở Nga cho rằng đây là những nguyên nhân chính làm cho cải cách tư pháp bị đình trệ. Trước hết ,
những "tập quán" truyền thống trong nội bộ của ngành này đã chi phối
hoạt động một cách có hiệu quả hơn nhiều so với các quy tắc chính thức,
thậm chí thay thế các luật lệ. Sự lạm dụng quyền hạn của cảnh sát, tình
trạng tra tấn người bị giam giữ, việc sửa chữa biên bản phiên toà, sự
thoả thuận giữa thẩm phán và kiểm sát viên trước lúc xét xử, sự tránh né
tuyên trắng án - đó là những nét trong "công nghệ" tố tụng của tư pháp
Nga. Để các quyết định của mình không bị huỷ bỏ, các thẩm phán cấp sơ
thẩm thường thoả thuận trước với kiểm sát viên, chánh án, các thẩm phán
của cấp toà cao hơn.
Thứ hai , lối suy nghĩ, làm
việc của thẩm phán. Mục đích chính của cải cách là sự độc lập của quan
toà. Nhưng thẩm phán Nga có muốn độc lập hay không? Thói quen của thẩm
phán vẫn là hỏi ý kiến của cấp toà cao hơn, đặc biệt là của Toà án Tối
cao và làm theo ý kiến đó. Một số câu nói của Toà án Tối cao đã thành
châm ngôn đối với các cấp toà khác: "phán quyết lần thứ ba của toà không
thể bị huỷ bỏ", "nếu anh không thích bản án không công bằng, bản án
công bằng có thể sẽ tồi tệ hơn", "nếu anh không biết quyết định về vụ án
như thế nào, hãy quyết định theo luật". Một thói quen khác là quen nhìn
mọi bị cáo như những tội phạm tiềm năng. Thói quen thứ ba của thẩm phán
là vẫn coi chính quyền có lợi thế hơn công dân khi toà xét xử tranh
chấp.
Yêu cầu bức thiết tiếp tục cải cách
Nhận thấy thực trạng như vậy và
yêu cầu không thể trì hoãn đối với việc tiếp tục cải cách, cải cách tư
pháp là một trong những lời hứa chủ chốt trong chiến dịch vận động tranh
cử của Putin. Trên trang chủ tranh cử, Putin đã tuyên bố viện kiểm sát
phải chấm dứt "sự tư hữu hoá quyền lực" và chấm dứt tình trạng sử dụng
các cơ quan thực thi pháp luật có vũ trang để phục vụ cho mục đích chính
trị hoặc kinh doanh. Ông cũng hứa đưa lại "sự chuyên chính của luật
pháp" (tiếng Nga - dictatura prava, tiếng Anh - dictatorship of law) 6
.Trong thông điệp gửi Nghị viện Nga (4/2001), Putin nhấn mạnh "vấn đề
then chốt của chính quyền là lòng tin của công dân", lòng tin đó phụ
thuộc vào việc Nhà nước có bảo vệ được công dân trước những thế lực mà
ông gọi là "cướp ngày" hay không. Không còn lòng tin vào toà án, người
dân buộc phải dựa vào những cách thức xử thế khác, phải viện đến "công
lý ngầm" (cụm từ của Putin dùng: "tenhevoe pravosudie", tiếng Anh -
shadow justice) và lúc đó không chỉ môi trường kinh doanh bị tổn hại, mà
uy tín của quốc gia cũng giảm sút nghiêm trọng 7 .Điều nói
trên cũng làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp luật yếu
ớt là cản trở lớn nhất đối với kinh doanh ở đây. Tham nhũng và sự cẩu
thả làm cho các bản án thường tuyên sai hoặc nước đôi, không rõ ràng,
những nguyên tắc công bằng không thể áp dụng; các tranh chấp kinh tế kéo
dài dây dưa, không được toà án giải quyết một cách thoả đáng làm mất
lòng tin ở các nhà đầu tư nước ngoài. Putin gọi nền tư pháp Nga là "vấn
đề chính trị" vì nó vi phạm quyền và lợi ích của người dân", bởi vậy cải
cách là "tối cần thiết" 8 . Còn Chánh án Toà án Hiến pháp Liên bang Nga nói "cải cách tư pháp cần phải được tiếp tục mà không thể trì hoãn" 9 .
II - Những nội dung cải cách
* Kế hoạch cải cách - những nhóm vấn đề chính
Cuộc cải cách lần này theo đuổi mục đích cải cách những nhóm nội dung sau:
Thứ nhất , cải thiện điều
kiện vật chất cho toà án và thẩm phán. Điện Kremli dự định sẽ tăng lương
cho thẩm phán và xây dựng trụ sở mới cho các toà án. Đến năm 2006,
lương thẩm phán sẽ tăng lên 1000$. Trước mắt tốn khoảng 300 triệu $,
tổng thể - 1,5 tỉ $ cho 5 năm tới để tăng lương và xây trụ sở toà án,
đào tạo thẩm phán 10 .
Thứ hai , bảo đảm tính tối
cao của pháp luật liên bang trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga. Theo
chương trình cải cách, Chính phủ liên bang và các tỉnh trưởng buộc phải
tuân theo phán quyết của Toà án Hiến pháp về tính vi hiến và trong vòng 4
tháng phải chuẩn bị xong dự án, dự thảo sửa đổi các văn bản vi hiến; cơ
quan lập pháp địa phương phải thông qua dự thảo đó trong thời gian ngắn
nhất; các quan chức liên quan có thể bị cách chức bởi một sắc lệnh của
Tổng thống nếu trì hoãn trong chuyện này. Bộ tư pháp có thẩm quyền giám
sát việc thực hiện trên thực tế.
Thứ ba , sửa đổi thủ tục tố
tụng. Mọi giới ở Nga đều công nhận Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật
Tố tụng dân sự của Nga hiện nay đã lỗi thời. Theo dự định, quyền của bên
bị cáo trong các vụ án hình sự sẽ được mở rộng và hầu như loại bỏ sự
tham gia của viện kiểm sát vào các vụ án dân sự...
Thứ tư, sửa đổi pháp luật
theo chuẩn mực Châu Âu, bởi lẽ Liên bang Nga đã phê chuẩn Công ước Châu
Âu về quyền con người. Mặt khác, sửa đổi những quy định còn trái với
Hiến pháp. Ví dụ như Điều 2, Hiến pháp Nga 1993 quy định "công dân chỉ
bị tước quyền tự do theo quyết định của toà án". Toà án Hiến pháp giải
thích điều luật này theo tinh thần: tước quyền tự do ở đây không chỉ là
việc bị cáo vào tù sau khi toà tuyên có tội, mà cả việc họ bị bắt, tạm
giam trước khi xét xử. Như vậy - Toà kết luận - lâu nay việc Viện kiểm
sát có quyền ký lệnh bắt, tạm giam là trái với Hiến pháp.
Cuối cùng là vị trí pháp lý
của quan toà. Đây là mảng nội dung được thay đổi lớn nhất. Thẩm phán có
thể bị truy tố trách nhiệm hành chính, còn trách nhiệm hình sự sẽ được
áp dụng theo thủ tục mới. Thẩm phán sẽ được bổ nhiệm mà không cần sự
đồng ý của cơ quan lập pháp địa phương.
Thẩm phán sẽ có quyền ký lệnh bắt giam, bắt giữ?
Vậy trên thực tế, công cuộc cải cách tư pháp ở Nga lần này đã đạt được những kết quả gì?
1- Vị trí pháp lý của thẩm phán
Những luận điểm của hai bên
Trong quá trình sửa đổi các luật
liên quan đến hệ thống toà án đã diễn ra sự tranh cãi khá gay gắt giữa
Nhóm công tác (do Tổng thống cử ra chịu trách nhiệm hoạch định chương
trình cải cách) và giới thẩm phán xung quanh những quy định mới về vị
trí pháp lý của thẩm phán.
a) Quan điểm của Nhóm công tác
Về trách nhiệm
Nhóm công tác muốn áp dụng chế định trách nhiệm hành
chính, sửa đổi quy trình áp dụng trách nhiệm hình sự đối với thẩm phán
vì theo họ, "trách nhiệm còn chưa rõ". Nhóm công tác lập luận, độc lập
của quan toà không phải là mục đích tự thân, mà chỉ là phương tiện để
đạt mục đích quan trọng hơn. Đối với công dân, độc lập mà thiếu những cơ
chế khác để quyền lực tư pháp vận hành tốt thì sẽ không đem lại điều
gì, ngoài việc đem lại cho quan toà toàn quyền hành động. Bên cạnh sự
độc lập, một khía cạnh vô cùng quan trọng là phải có có cơ chế trách
nhiệm của quan toà về tính khách quan, vô tư, về sự tuân thủ đạo đức
nghề nghiệp, giữ vững uy tín của quyền lực tư pháp.
Cải cách tư pháp theo đuổi hai mục
đích: a) Củng cố sự độc lập của quan toà - không một ai có thể nắm
trong tay công cụ pháp lý để gây áp lực lên quan toà, mà trước hết là
các nhánh quyền lực khác; b) Đồng thời, quan toà cũng phải chịu trách
nhiệm thực hiện những quyền hạn của mình một cách đúng đắn nhất - không
hách dịch, không có quan hệ với thế giới ngầm, không tham nhũng.
Bởi vậy, cần áp dụng cơ chế xác
định trách nhiệm, hay như ông Kozak, trưởng nhóm công tác nói: "Không
một công dân Nga nào có thể được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao trên
lãnh thổ Liên bang Nga" 11 .
Về tính khép kín của nội bộ khối toà án
Theo quan điểm của Nhóm công tác,
không thể chấp nhận tính chất khép kín như lâu nay vẫn làm khi quyết
định về việc truy tố hình sự đối với thẩm phán: Hội đồng tuyển chọn thẩm
phán (nơi có thẩm phán bị nghi ngờ) họp kín với nhau để bàn về việc có
đưa ra truy tố hình sự đối với thẩm phán đó hay không. Kiểm sát viên
được mời đến dự nhưng sau khi nghe ông ta báo cáo, hội đồng họp riêng và
bỏ phiếu kín. Và "Toà đồng chí" như thế khó có thể gọi là khách quan
được. Bởi vậy, cần thay đổi quy trình quyết định truy tố hình sự đối với
thẩm phán.
Trách nhiệm hành chính không phải là kênh gây áp lực
Về việc áp dụng trách nhiệm hành
chính đối với thẩm phán, luận cứ phản đối chính - định chế này có thể
được sử dụng như một kênh để gây áp lực đối với thẩm phán. Nhóm công tác
lập luận: Quy trình để quy trách nhiệm hành chính cũng như trách nhiệm
hình sự rất chặt chẽ. Ông Kozak đã so sánh: Đối với công dân, 90% những
xử phạt hành chính đều do cảnh sát, thanh tra, kiểm lâm... quyết định
một mình; hoặc thẩm phán cấp huyện quyết định cả số phận của con người
khi tuyên án 10 năm tước quyền tự do cũng chỉ một mình. Trong khi đó,
đối với thẩm phán, thậm chí chỉ phạt 5 rúp qua đường trái quy định cũng
phải có sự tham gia của 3 thẩm phán Toà án Tối cao. Như vậy, khó có thể
có chuyện gây áp lực ở đây.
b) Quan điểm của các thẩm phán
Lo ngại bị gây áp lực
Ông V. Radtrenco, Phó Chánh án Toà
án Tối cao Liên bang Nga cho rằng vẫn chưa có cơ chế để đảm bảo việc áp
dụng trách nhiệm hành chính đối với thẩm phán sẽ không được sử dụng
nhằm gây áp lực lên thẩm phán. Vì quyền lợi của công dân, thẩm phán cần
phải được độc lập. Ông nhận xét, có 57 cơ quan (cảnh sát giao thông, hải
quan, thanh tra săn bắn...) có quyền xử phạt hành chính đối với công
dân, và những quyết định xử phạt của những cơ quan này có thể bị khiếu
kiện lên toà. Đến lượt mình, người thẩm phán ra phán quyết bác bỏ quyết
định xử phạt hành chính cũng cần
được bảo vệ khỏi sự truy tố của những cơ quan nói trên 12
. Lo ngại bị thu thập thông tin tổn hại thanh danh Nếu trách nhiệm hành
chính được áp dụng thông qua Viện kiểm sát, cơ quan này sẽ có quyền hợp
pháp thu thập thông tin tổn hại thanh danh thẩm phán dưới dạng truy
trách nhiệm hành chính: lập biên bản, thẩm vấn nhân chứng, đòi hỏi cung
cấp tài liệu... 16 năm trước, ở Liên Xô cũ đã bỏ trách nhiệm hành chính
đối với thẩm phán vì có những trường hợp cơ chế này được sử dụng để thu
thập thông tin làm tổn hại thanh danh những thẩm phán kiên định đã bác
bỏ những quyết định xử phạt hành chính vi phạm quyền công dân.
Thái độ trách nhiệm của thẩm phán
Về lập luận của Nhóm cải cách cho
rằng độc lập của thẩm phán thì có, nhưng trách nhiệm thì ít, mọi việc
của ngành toà án được giải quyết khép kín trong nội bộ, các thẩm phán
phản bác: Bản thân các thẩm phán còn nghiêm khắc hơn đối với đồng nghiệp
của họ. Ngoài ra, đó còn là những người được chọn lọc kỹ càng trước khi
được bổ nhiệm: trên 25 tuổi, có không dưới 5 năm trong ngành luật, qua
ba vòng xét duyệt là hội đồng tuyển chọn thẩm phán, cơ quan lập pháp địa
phương và "Ban tổ chức - cán bộ" trực thuộc Tổng thống. Độ tuổi trung
bình của thẩm phán trên 40 tuổi, phần lớn là phụ nữ, bởi vậy đó không
phải là những người có thể vi phạm hành chính như lái xe quá tốc độ, say
rượu, đánh nhau...
Phương án thoả hiệp
Sau những tranh cãi suốt hơn một
năm, với sự trung gian của Tổng thống Putin, phương án thoả hiệp được
thông qua đã phản ánh cả hai quan điểm. Theo lời ông Kozak, có tính chất
nguyên tắc ở đây là những vấn đề pháp luật nội dung sẽ chỉ do toà cấp
cao hơn gồm ba thẩm phán quyết định. Khối toà án vẫn có điều kiện bảo vệ
đồng nghiệp khỏi truy tố, nhưng muốn vậy, cần phải chứng minh được rằng
người ta muốn bỏ tù thẩm phán trái với pháp luật. Và bản thân hội đồng
tuyển chọn thẩm phán sẽ gồm cả đại diện giới luật, có tính chất mở hơn.
Do đó, những quyết định của hội đồng sẽ dễ dàng được báo giới và dân
chúng biết, bởi vậy hội đồng buộc phải cân nhắc để đưa ra những quyết
định hợp lý, nếu không công luận sẽ có phản ứng.
Điểm có tính chất nguyên tắc khác
là độ tuổi về hưu. Thẩm phán Toà án Hiến pháp được giữ chức lâu hơn 5
năm vì họ được bổ nhiệm một lần 15 năm.
Chánh án và phó chánh án được bổ
nhiệm nhiều lần ở cùng một toà, nhưng không quá 2 lần liên tục. Như vậy,
có thể loại bỏ khả năng biến chánh án thành những vị vua nhỏ kiểm soát
vương quốc của mình.
Phương án được thông qua đã bổ
sung những yêu cầu đối với ứng cử viên vào ghế thẩm phán như kiểm tra y
tế. Hội đồng thẩm phán toàn Nga (The Council of Judges), theo đề nghị
của Bộ y tế Nga sẽ lên danh sách những bệnh không cho phép bổ nhiệm ứng
cử viên vào ghế thẩm phán.
Phương án cải cách được Duma quốc gia thông qua
Chánh án, các phó chánh án tất cả các cấp xét xử được bổ nhiệm trong 6 năm; Một người có thể được bổ nhiệm nhiều lần làm chánh án của cùng một toà, nhưng không quá hai nhiệm kỳ liên tục; Độ tuổi cao nhất của thẩm phán Toà án Hiến pháp do Luật về Toà án Hiến pháp quy định là 70 tuổi; của Toà án Tối cao và Toà án Trọng tài Tối cao Liên bang Nga là 65 tuổi, những toà khác - 65 tuổi; Nếu thẩm phán có hành vi vi phạm kỷ luật, thẩm phán đó có thể bị áp dụng các biện pháp kỷ luật là cảnh cáo hoặc chấm dứt quyền hạn thẩm phán (trừ thẩm phán Toà án Hiến pháp); Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định về việc khởi tố hình sự thẩm phán liên bang dựa trên kết luận của hội đồng (collegium) gồm ba thẩm phán của toà cấp cao hơn và với sự đồng ý của hội đồng tuyển chọn thẩm phán cùng cấp; Viện trưởng Viện kiểm sát Tối cao quyết định về việc khởi tố hình sự thẩm phán của Toà án Tối cao và Toà án Trọng tài Tối cao Liên bang Nga dựa trên kết luận của hội đồng gồm ba thẩm phán của Toà án Tối cao và với sự đồng ý của Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tối cao; Thành phần của Hội đồng tuyển chọn thẩm phán được mở rộng hơn, bao gồm cả đại diện của giới luật; Từ năm 2004, thẩm phán có quyền ký lệnh khám, bắt giữ; Bồi thẩm đoàn sẽ được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga từ năm 2003... (Nguồn: http://www.commertsant.ru)
2- Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự của Nga đã
được sửa đổi nhiều lần từ năm 1960, nhưng nói chung vẫn giữ tinh thần
nghiêng về trừng phạt, buộc toà án xác định chân lý khách quan (thông
thường phù hợp với bên buộc tội), chứ không phải làm trọng tài cân nhắc
những luận điểm của hai bên. Cơ chế mới sẽ giảm bớt khá nhiều quyền hạn
của Viện kiểm sát, khi nhiều vấn đề sẽ được giải quyết trong quá trình
xét xử công khai mở chứ không phải trong phòng làm việc của dự thẩm
viên. Bởi vậy, Viện kiểm sát tìm mọi cách để bảo toàn quyền lực của
mình. Bộ luật mới có hiệu lực từ 7/2002, bởi vậy, Viện kiểm sát còn có
thời gian để vận động đưa vào những sửa đổi có lợi cho mình. Vào đầu năm
2001, Viện kiểm sát đã thoát được nguy cơ mất quyền ký lệnh bắt giam,
sau đó là việc giảm thời hạn tạm giam giữ trước lúc xét xử.
Nhưng theo BLTTHS mới, từ năm
2004, những quyền hạn sau đây sẽ được chuyển cho toà án: ký lệnh bắt,
giam giữ người trên 48 tiếng, gia hạn thời gian tạm giam, quyết định về
việc kiểm tra y tế bị cáo hoặc người bị tình nghi, khám xét tại nhà mà
không cần sự đồng ý của chủ nhà, tịch thu những tài liệu chứa thông tin
về tín dụng, ngân hàng, ký lệnh phong toả tài sản, kể cả tài khoản ngân
hàng, kiểm soát việc nghe trộm điện thoại và những hình thức giao tiếp
khác. Nếu bị can tự nhận tội, toà án có thể tuyên án mà không cần xét xử
nếu kiểm sát viên, luật sư và nạn nhân không phản đối 13 .
III - Đánh giá cuộc cải cách
Đánh giá chung
Những người phê phán cho rằng cuộc cải cách chỉ củng cố tính tối thượng của Nhà nước mà
không đáp ứng đầy đủ quyền lợi của công dân. "Bộ máy quan liêu không
cần đến sự độc lập của quan toà. Họ chỉ muốn kiểm soát toàn bộ các nhánh
quyền lực" - ông V.Pokhmelkin, đại biểu Duma nói. 14
Hệ thống tư pháp sẽ gần hơn với chính quyền trung ương và
chịu ảnh hưởng nhiều hơn của Văn phòng Tổng thống. ảnh hưởng đó do ba
yếu tố: yếu tố tài chính, vật chất; bổ nhiệm những thành viên không phải
thẩm phán vào hội đồng tuyển chọn thẩm phán; việc tái bổ nhiệm chánh án
nhiệm kỳ sau hoặc phải làm thẩm phán bình thường.
Một số chuyên gia, nhà nghiên cứu ở Nga nhận xét, từ góc độ quan điểm cải cách, những biện pháp cải cách nói trên mang tính chất chữa cháy .
Nhưng người dân bình thường đã chán nản, mệt mỏi với sự chuyên quyền
của chính quyền địa phương, với sự lạm dụng quyền lực tư pháp, bởi vậy
họ sẵn sàng mua lại những quyền cơ bản của mình và sự che chở của Tổng
thống với bất kỳ giá nào. 15 Cuộc cải cách không động đến những cơ chế làm việc của các cơ quan điều tra và
những cơ quan truy tố hình sự như viện kiểm sát và công an. Như trước
đây, những người tình nghi vẫn bị tra tấn. Hàng trăm ngàn bị can vẫn
phải chờ được xét xử trong các nhà tù đầy người hàng năm trời. Các toà
án phủ nhận quy trình hoà giải. Bồi thẩm chỉ tham gia khoảng 0,1% vụ án.
16
Đánh giá Bộ luật Tố tụng hình sự mới
Quan điểm cải cách tư pháp đề ra năm 1991 vẫn chưa được tiến hành triệt để trong BLTTHS. Một trong những điểm quan trọng: xem xét lại trình tự khởi tố hình sự .
Theo quan điểm của Phó Chánh án Toà án Hiến pháp LB Nga, bà Morshakova,
Viện kiểm sát buộc phải khởi tố vụ án nếu có thông tin nào đó về tội
phạm. Còn hiện nay, Viện kiểm sát tự mình quyết định về việc này. Một
mặt, nó tạo điều kiện để khởi tố theo đơn đặt hàng; mặt khác, việc sửa
đổi quy trình khởi tố buộc Viện kiểm sát tiến hành các đợt, các chuyến
kiểm tra trong khuôn khổ các quy tắc điều tra và như vậy bảo vệ đúng đắn
hơn quyền của người bị hại và người bị tình nghi. Ví dụ như họ có thể
khiếu kiện những quyết định của Viện kiểm sát lên toà. Nhưng nội dung
này đã gặp phải sự phản đối của Viện kiểm sát và Nhóm cải cách đã buộc
phải từ bỏ nó. 17 Nhưng việc sửa đổi có thể còn tiếp tục đến
1/7/2002 - thời điểm Bộ luật có hiệu lực. Hiện nay ở Nga đang chuẩn bị
dự luật về trình tự tiếp nhận và lưu trữ thông tin về tội phạm, theo đó
việc tiếp nhận sẽ có quy mô tổng thể. Theo logic, đòi hỏi tiếp theo là
phải sửa đổi trình tự khởi tố hình sự.
Các quy định về chứng cứ là
điểm yếu nhất trong Bộ luật. Ví dụ: luật sư bên bị cáo bị hạn chế quyền
gặp và thẩm vấn nhân chứng, không có quyền thu thập chứng cứ và bổ sung
tài liệu vào hồ sơ nếu không có sự đồng ý của kiểm sát viên hoặc dự
thẩm viên.
Một số yêu cầu khác : Các
nhà bảo vệ nhân quyền, các tổ chức xã hội ở Nga đòi hỏi thời hạn tạm
giam tối đa không quá 9 tháng (Trước đây là 18 tháng, hiện nay là 12
tháng). Quyền trợ giúp pháp lý phải được bảo đảm từ thời điểm bắt giữ
thực tế để tránh việc tra tấn. Cần có sự tham gia của bồi thẩm đoàn trên
toàn bộ lãnh thổ Nga vào việc tuyên những bản án về các tội phạm nghiêm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Về toà án và thẩm phán
Một số thẩm phán đánh giá việc
thẩm phán có thể bị truy tố hình sự theo thủ tục mới và truy trách nhiệm
hành chính là cơ hội để các tỉnh trưởng địa phương có thể trù úm những
thẩm phán nào mà họ không ưa: Ông Burlakov, Phó Chánh án Toà án Tối cao
Khu vực Nam Kavkaz nhận định "giấc mơ của các tỉnh trưởng đã thành sự
thật" 18 .
Do nguyên nhân thiếu kinh phí và
thẩm phán mà một điểm quan trọng khác vẫn chưa được thực hiện: thành lập
các toà án vùng (hiện chỉ có các toà án trọng tài vùng). "Toà án không
nên gắn với cấp hành chính lãnh thổ vì như thế sẽ phụ thuộc vào các cấp
chính quyền. Bởi vậy, cần thành lập những toà án mà thẩm quyền bao trùm
một vài vùng lãnh thổ" - Bà Morshakova cho là như vậy 19 .
Hiện nay, Toà án tối cao LB Nga đã chuẩn bị xong dự thảo Luật về toà án
hành chính. Theo đó, 21 toà án hành chính theo vùng sẽ được thành lập
với điều kiện vật chất đầy đủ và các thẩm phán chuyên biệt được trả
lương cao. Nhưng trên thực tế chưa biết khi nào sẽ thành lập những toà
này 20 Nhiều ý kiến đề nghị cung cấp đầy đủ nguồn tài chính
cho toà án từ ngân sách liên bang, chuyên biệt hoá toà án theo từng lĩnh
vực pháp lý, tách điều tra khỏi Viện kiểm sát, cảnh sát và những cơ
quan điều tra tác chiến.
Về Viện kiểm sát
Cuộc cải cách lần này động chạm ít
nhiều đến Viện kiểm sát, nhưng cơ quan này có thể sẽ đánh mất nhiều hơn
những quyền hạn quan trọng trong những bước cải cách sắp tới.
Cân bằng quyền hạn giữa kiểm sát viên và luật sư
Ngay từ hiện nay, sau khi BLTTHS
mới được thông qua, Viện kiểm sát đã không còn quyền buộc toà án phải
xem xét kháng án của Viện đối với phán quyết của toà. Theo Dự thảo
BLTTDS đang được chuẩn bị, quy trình tố tụng dân sự sẽ được đơn giản hoá
và có tính tranh tụng nhiều hơn, kiểm sát viên sẽ không còn tham gia
vào phần lớn các vụ án dân sự. 21
Viện kiểm sát chỉ làm công tố
Nhiều người trong giới luật ở Nga
cũng như công luận cho rằng Viện kiểm sát chỉ có thể làm công việc buộc
tội, và không hơn không kém; chỉ nên tập trung để lời buộc tội được đưa
ra có căn cứ, một cách thuyết phục. Theo họ, Viện kiểm sát đang lặp lại
những hoạt động của các cơ quan giám sát khác. Cần chấm dứt tình trạng
hiện nay, khi Viện kiểm sát có quyền can thiệp vào mọi nơi, mọi việc,
như Putin nói, chấm dứt tình trạng Viện kiểm sát "tư hữu hoá quyền
lực". Viện kiểm sát dẫn ra con số: trong hơn một năm gần đây, nhờ có sự
kháng án của Viện kiểm sát mà hơn 22.000 bản án tuyên không đúng đã được
huỷ hoặc sửa 22 . Nhưng những người quan sát nhận xét, Viện
kiểm sát không cho biết bao nhiêu kháng án đã làm xấu đi tình trạng của
dân. Ngoài ra, khi tuyên án, thẩm phán thường e ngại sau đó sẽ bị kháng
án, bởi vậy họ ngóng sang kiểm sát viên. Đó là một trong những nguyên
nhân làm cho số bản án tuyên không có tội rất thấp ở Nga.
Kiểm sát văn bản
Bà T. Morshakova nhận xét, hiện
nay các cơ quan trực thuộc Bộ tư pháp có nhiệm vụ rà soát văn bản pháp
luật địa phương trái pháp luật, sau đó chuyển những thông số đó sang
Viện kiểm sát để đưa ra toà án. Như vậy, theo bà, công đoạn ở Viện kiểm
sát (kiểm sát văn bản) là thừa. Do đó, Viện kiểm sát cần tập trung tốt
hơn vào chức năng công tố, ví dụ như khởi tố về những vụ việc không chịu
thi hành án 23 .
* * *
Nói chung, theo nhận định của các
giới ở Nga, còn nhiều việc phải làm trong công cuộc cải cách tư pháp.
Trước hết, các thẩm phán, các kiểm sát viên, dự thẩm viên phải làm việc
theo tinh thần của luật pháp. Bên cạnh đó, chuẩn mực công lý không chỉ
phụ thuộc vào hệ thống tư pháp, mà còn phụ thuộc vào chất lượng của
những đạo luật được áp dụng; vào việc quy định hợp lý vị trí của những
cơ quan thực thi pháp luật, đặc biệt là viện kiểm sát; vào chính quyền,
trong đó có chính quyền địa phương có thể lợi dụng những đòn bẩy chính
trị và kinh tế để gây áp lực lên toà án hay không; vào việc thực thi các
phán quyết của toà án như thế nào; sự quan tâm, thái độ của công luận
đối với luật pháp và tòa án./.
|
|
1. S. Pashin. Tlđd
2. S. Pashin. Tlđd.
3. S. Pashin. Tlđd.
4. S. Pashin. Tlđd.
5. Tlđd.
6. http://www.rferl.org ;http://www.cdi.org
10. http://www.rferl.org ;http://www.sptimesrussia.com
15. S. Pashin. Tlđd
(Nguồn tin: Bài viết đăng trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2, tháng 2/2002)


6:12 PM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment