Danh ngôn về Bất công
Mong muốn của số đông thường gây ra những điều bất công và bất nhân cho thiểu số, đó là điều được thể hiện trên từng trang lịch sử khắp thế giới. That the desires of the majority of the people are often for injustice and inhumanity against the minority, is demonstrated by every page of the history of the whole world. John Adams
Danh ngôn về Công lý
Công lý là hành động của sự thật hơn là đạo đức. Sự thật cho chúng ta biết điều gì do người khác, và công lý thực hiện sự thích đáng đó. Sự bất công là hành động của dối trá. Justice is rather the activity of truth, than a virtue in itself. Truth tells us what is due to others, and justice renders that due. Injustice is acting a lie. Horace Walpole
Danh ngôn Tự do
Người không yêu tự do và chân lý, có thể trở thành người mạnh mẽ nhất, nhưng tuyệt đối không thể trở thành người vĩ đại. Voltaire (Pháp)
Thursday, November 7, 2013
Xây dựng Luật Viên chức: Lương viên chức phụ thuộc vào cơ chế cơ quan
Theo dõi thi hành pháp luật: “Theo” có chặt thì “dõi” mới sâu
06/01/2010
Bà
Trịnh Thị Thanh Bình – Chủ nhiệm Đề tài “Khảo sát tình hình thực hiện
pháp luật ở cơ sở và giải pháp nâng cao năng lực thực hiện”:
Trong
3 năm thực hiện, nhóm thực hiện Đề tài đã áp dụng hình thức kiểm tra
công vụ tại cơ sở. Với hình thức kiểm tra này, nhóm thực hiện trực tiếp
tiếp cận với từng vụ việc cụ thể để nhìn nhận, đánh giá cách giải quyết
của cán bộ, qua đó chỉ ra những điểm cần khắc phục, sửa sai. Lúc đầu, vì
đã quen với hình thức kiểm tra trên báo cáo nên nhiều cán bộ cơ sở
không thoải mái lắm. Nhưng sau khi thấy được thực chất, cán bộ cơ sở lại
rất thích hình thức này vì nó giúp gỡ những điểm vướng trong nghiệp vụ.
Qua đây có thể thấy đa phần tâm lý của cán bộ đều muốn làm tốt, áp dụng
pháp luật đúng, nhưng vướng trình độ hạn chế và sự chỉ dẫn từ cấp trên
không phù hợp...
|
Ông
Lê Thành Long – Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ
Tư pháp – đơn vị chuyên môn trực tiếp thực hiện Đề án triển khai thực
hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật:
Để đạt được các mục tiêu của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật,
tôi cho rằng, trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về công tác
theo dõi thi hành pháp luật cần phải xác định một số nguyên tắc cơ bản.
Thứ nhất, công tác theo dõi thi hành pháp luật cần được xác định là
nhiệm vụ thường xuyên của tất cả các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến
địa phương. Việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật phải gắn
liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan,
tổ chức; đồng thời bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ
chức trong quá trình thực hiện. Thứ hai, công tác theo dõi thi hành pháp luật phải
được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và toàn diện. Thứ ba,
công tác theo dõi thi hành pháp luật phải được thực hiện theo nguyên tắc
kết hợp việc theo dõi theo ngành, lĩnh vực với theo dõi ở phạm vi từng
địa phương.
|
Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp thực hiện quy tắc ứng xử: Sống không đạo đức thì đừng bàn tới chuyện pháp luật
11/01/2010
6 nội dung của Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp
- Ứng xử trong thi hành nhiệm vụ, công vụ
- Ứng xử khi giải quyết các yêu cầu của cơ quan, đơn vị, tổ chức, công dân
- Ứng xử của cán bộ lãnh đạo và đồng nghiệp
- Ứng xử nơi công cộng
- Ứng xử với nhân dân nơi cư trú
- Ứng xử trong gia đình
|
“Nghề
nghiệp và quy tắc đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi các chức danh tư pháp khi
lựa chọn nghề luật phải chấm dứt những sở thích và hoạt động không phù
hợp với lợi ích xã hội, trật tự xã hội, trái với đạo đức và tập quá ứng
xử, gây dư luận không tốt đối với hình ảnh nghề nghiệp. Phải cẩn trọng
khi đến những địa điểm giải trí, kết bạn để tránh mọi nghi ngờ về tính
trong sạch và minh bạch của nghề nghiệp ” (Trích tham luận của Học viện Tư pháp tại Tọa đàm)
|
Thi hành Luật Cán bộ, công chức: Ai là công chức? (Bài 2)
11/01/2010
“Đơn
vị sự nghiệp công lập nói tại Nghị định này là các tổ chức được cơ quan
có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan Nhà nước và tổ chức
chính trị - xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có
tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo
dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dụng thể thao,
lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực
sự nghiệp khác được pháp luật quy định” (Khoản 3 Điều 6 Dự thảo Nghị định quy định những người là công chức)
|
Thi hành Luật Cán bộ, công chức: Nặng lời với dân bị kỷ luật (Bài 1)
11/01/2010
Một số vấn đề về thi hành luật cán bộ, công chức năm 2008
Luật Cán bộ, công chức (CB-CC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Nếu chiếu theo những quy định của luật này, thì làm một người CB-CC sẽ không hề đơn giản. Bởi nếu lỡ quên mà quen thói hách dịch, cửa quyền với dân sẽ bị kỷ luật, hoặc dù hoàn thành nhiệm vụ nhưng năng lực kém thì vẫn sẽ bị bố trí công tác khác… 1. Nặng lời với dân bị kỷ luật
“Mạnh tay” với cán bộ, công chức kém đạo đức, văn hóa
Nếu như trước đây, vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp của CB-CC chủ yếu được quy định dựa trên quy chế của cơ quan, đơn vị, thì với Luật CB-CC nhằm thực hiện chủ trương xây dựng và quản lý đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ vấn đề đạo đức và văn hóa giao tiếp đã được đưa thẳng vào luật (Điều 15, 16,17 Luật CB-CC). Ví dụ như với nhân dân, theo Luật CB-CC phải gần gũi, có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc và tuyệt đối không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ. Trong tình trạng cán bộ công chức “đánh mất nụ cười” khi tiếp dân như hiện nay thì những quy định này có thể nói là tương đối cần thiết và sát thực.
Và tất nhiên, nếu CB-CC vi phạm các quy định này thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật. Có thể nói, Luật đã khá “mạnh tay” xử lý CB-CC kém đạo đức, văn hóa thông qua việc phân định lại hình thức kỷ luật áp dụng cho từng đối tượng Bên cạnh những hình thức xử lý kỷ luật cũ như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, thì có bổ sung thêm hình thức giáng chức. Tuy nhiên, việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Mặt khác, luật có quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm (trước đây là 03 tháng). Với việc kéo dài thời hiệu như vậy, vấn đề xử lý kỷ luật CB-CC vi phạm sẽ được tiến hành triệt để và nghiêm minh hơn.
Năng lực công chức – yếu tố được xem trọng
Việc tuyển dụng CB-CC vào của nước ta hiện nay còn khá nhiều bất cập và kẽ hở vì nhiều lý do khách quan, chủ quan nên đã tạo ra ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ CB-CC. Có thế nói, không có một cơ quan, tổ chức nào hiện nay có may mắn sở hữu được một đội ngũ công chức vừa hồng lại vừa chuyên, và ở đâu đó vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải đánh giá công chức và quan trọng hơn là kết quả đánh giá phải được phục vụ cho chính công cuộc cải tổ đội ngũ công chức.
Theo Luật CB-CC, công chức được đánh giá 6 tiêu chí như: chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ… Ngoài ra, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức. Việc đánh giá công chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện và nhất thiết phải được tiến hành hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái. Kết quả đánh giá công chức (xếp theo các mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; không hoàn thành nhiệm vụ) được lưu vào hồ sơ công chức và thông báo đến công chức được đánh giá.
Đáng chú ý sẽ là yếu tố năng lực rất được xem trọng trong hoạt động đánh giá công chức. Vì vậy, từ kết quả đánh giá, nếu công chức có 2 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 2 năm liên tiếp, trong đó 1 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng hạn chế về năng lực và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác. Còn công chức 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc.
CB-CC được miễn trách nhiệm khi nào?
Theo Điều 77 của Luật, nếu CB-CC phải chấp hành quyết định trái pháp luật của cấp trên nhưng đã báo cáo người ra quyết định trước khi chấp hành; hoặc do bất khả kháng theo quy định của pháp luật thì sẽ được miễn trách nhiệm
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng: “Đạo đức và văn hoá giao tiếp của CB-CC là một trong các nghĩa vụ phải thực hiện để xứng đáng là “công bộc” và “đầy tớ” của nhân dân”.
2. Ai là công chức?
Luật Cán bộ, công chức có tất cả 12 Nghị định hướng dẫn thi hành luật. Trong đó, có hai Nghị định đặc biệt thu hút được sự chú ý của CB-CC cũng như dư luận xã hội xoay quanh vấn đề xác định những người là công chức và hoạt động thanh tra công vụ.
Đơn vị sự nghiệp công lập có công chức không?
Hiện nay dự thảo Nghị định quy định những người là công chức đang trong quá trình chấp bút, nhưng đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm vì đúng như tên gọi, Nghị định sẽ chỉ ra nhưng người sẽ được gọi là công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND (mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), trong cơ quan, đơn vị thuộc CAND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp) và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập).
Cũng từ quy định của Nghị định, vấn đề “đơn vị sự nghiệp có công chức không” – vốn là vấn đề hiện nay đang có nhiều tranh luận từ các nhà làm luật cũng như từ chính những người đang làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập – sẽ được hóa giải. Theo đó, câu trả lời là có, nhưng chỉ giới hạn trong một số vị trí.
Bên cạnh, người đứng đầu, cấp phó các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước cấp ngân sách hoạt động và trực thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBTVQH, Chính phủ, Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Kiểm toán Nhà nước, Bộ, cơ quan ngang Bộ… là công chức, thì công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý Nhà nước bao gồm người làm việc trong bộ máy lãnh đạo hoặc người giữ các vị trí việc làm gắn với nhiệm vụ quản lý Nhà nước. Như vậy, có thể hiểu những người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo không phải là công chức, mà là viên chức quản lý được phân loại theo vị trí viên chức quản lý và viên chức thừa hành.
Thanh tra công vụ – “cảnh sát” của cán bộ, công chức
Có thể khẳng định ngay “thanh tra công vụ” là một cụm từ hoàn toàn mới và chưa hề có được nhắc đến trong hệ thống pháp luật Việt Nam kể cả Luật Thanh tra hiện hành. Phục vụ cho mục tiêu tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công vụ, công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, từng bước đổi mới cơ chế quản lý công chức phù hợp với thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, Điều 74, 75 Luật CB-CC đã đề cập tới vấn đề thanh tra công vụ. Tuy nhiên, do trong luật không định nghĩa về thanh tra công vụ nên trong dự thảo Nghị định quy định về hoạt động thanh tra công vụ cũng hề không đả động thế nào là thanh tra công vụ.
Dự thảo Nghị định chỉ quy định thanh tra công vụ có nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CB-CC theo quy định của Luật CB-CC hoặc do cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền giao hoặc theo nội quy, quy chế làm việc của cơ quan tổ chức. Ngoài ra, thanh tra công vụ còn chịu trách nhiệm thanh tra cả việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật công chức, thực hiện đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức… Đối tượng của thanh tra công vụ là CB-CC thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND tỉnh, huyện, quận, thị xã, thành phố….
Người có thẩm quyền thực hiện thanh tra công vụ được chia thành các cấp như thanh tra Bộ, thanh tra Bộ Nội vụ, thanh tra Sở, thanh tra Sở Nội vụ, thanh tra tỉnh và thanh tra huyện. Thẩm quyền của thanh tra Bộ Nội vụ và thanh tra Sở Nội vụ được mở rộng hơn do thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật công chức…Hoạt động thanh tra công vụ tiến hành theo kế hoạch hoặc đột xuất vi phát hiện có vi phạm.
Như vậy, có thể nói “thanh tra công vụ” không chỉ là một hoạt động thanh tra hoàn toàn mới mà còn rất rộng và có thể hiểu nôm na đây chính là lực lượng “cảnh sát” giám sát các hoạt động của bản thân CB-CC cũng như liên quan tới CB-CC để đảm bảo đúng luật, kỷ cương công vụ. Vì thế, nên quá trình và hiệu quả thực hiện như thế nào vẫn chưa thể khẳng định, nhất là khi Luật Thanh tra hiện hành cũng bắt đầu được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn. Nhưng, theo ông Lê Trọng Vinh – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Nội vụ đây là hoạt động nhất thiết phải có xuất phát trên quan điểm thanh tra công vụ hết sức quan trọng nhằm bảo vệ và giữ gìn trật tự, kỷ cương của hoạt động công vụ.
“Đơn vị sự nghiệp công lập nói tại Nghị định này là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dụng thể thao, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định” (Khoản 3 Điều 6 Dự thảo Nghị định quy định những người là công chức).
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP - XUÂN HOA
Trích dẫn từ:http://www.moj.gov.vn
Monday, September 23, 2013
Những điểm mới cơ bản của Luật viên chức 2010
Làm rõ khái niệm viên chức, hoạt động nghề nghiệp của viên chức:
Trước đây, Pháp lệnh cán bộ , công chức chưa làm rõ khái niệm “viên chức”. Khắc phục hạn chế này, Luật viên chức đã xây dựng khái niệm về viên chức: “ Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, đồng thời với việc Luật cán bộ, công chức phân định “cán bộ ” và “công chức”, Luật viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng lao động làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ, vì vậy, Luật viên chức đã làm rõ “ Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan”.
Luật đã xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức và quản lý viên chức: Luật viên chức đã quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức.Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức, Luật viên chức đã làm rõ các khái niệm cơ bản như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làm việc, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử. Đặc biệt quy định về “ chức danh nghề nghiệp” thay cho quy định về “ngạch” để khắc phục các hạn chế trong quản lý đội ngũ viên chức hiện nay. Luật viên chức đã thống nhất cách hiểu về đơn vị sự nghiệp công lập và phân thành hai loại: đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ. Đồng thời, quy định về Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập nhằm từng bước giảm dần chế độ chủ quản và hoàn thiện cơ chế kiểm soát đối với người đứng đầu trong quá trình thực hiện các quyền hạn được giao. Bổ sung một số quy định mang tính định hướng liên quan đến chính sách xây dựng, phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức.
Luật viên chức đã hoàn thiện và bổ sung các quyền, nghĩa vụ của viên chức:Viên chức là người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, các quyền và nghĩa vụ của viên chức cũng có nội dung giống như cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, do tính chất, đặc điểm lao động của viên chức là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ, nên Luật viên chức đã quy định các quyền của viên chức theo hướng mở hơn so với cán bộ, công chức, tạo điều kiện để viên chức có thể phát huy được tài năng, sức sáng tạo, khả năng cống hiến. Đó là các quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định. Bên cạnh đó, Luật viên chức cũng đã hoàn thiện hệ thống các nghĩa vụ của viên chức (bao gồm cả những việc viên chức không được làm) phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức.
Luật tiếp tục đổi mới cơ chế và các nội dung của công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức:
Một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức là” Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc”. Đây là nguyên tắc đặt nền móng để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo chế độ việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định nguyên tắc đảm bảo quyền chủ động và đề cao trách nhiệm người đứng đầu để phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực dịch vụ công. Thống nhất quản lý nhà nước về đội ngũ viên chức, đẩy mạnh việc giao hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong quản lý viên chức.
Kế thừa quy định về hợp đồng lao động của pháp luật hiện hành, Luật viên chức đã hoàn thiện các quy định của chế định hợp đồng làm việc.
Các nội dung quản lý viên chức cũng được hoàn thiện và đổi mới. Đáng chý ý là: Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức được thực hiện thông qua thi hoặc xét, lựa chọn hình thức nào tùy thuộc vào từng lĩnh vực ngành, nghề cụ thể; Việc đánh giá viên chức được thực hiện căn cứ vào các cam kết trong hợp đồng làm việc đã ký. Nội dung đánh giá gắn với kết quả thực hiện công việc, nhiệm vụ, tinh thần, trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân...; Viên chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Ngoài việc được khen thưởng theo quy định hiện hành, viên chức có công trạng, thành tích đặc biệt còn được xét nâng lương vượt bậc bên cạnh hình thức nâng lương trước thời hạn.
Ngoài 4 hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc, viên chức bị kỷ luật còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.
Luật viên chức đã quy định chuyển đổi giữa viên chức và cán bộ, công chức: Do đặc thù của Việt Nam, giữa viên chức và cán bộ, công chức luôn có sự liên thông, chuyển đổi giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Vì vậy, Luật viên chức có quy định các trường hợp cụ thể về việc chuyển đổi này. Đó là: Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập từ đủ 5 năm trở lên thì được xét chuyển thành công chức không qua thi tuyển; Viên chức được tiếp nhận, bổ nhiệm vào vị trí việc làm được pháp luật quy định là công chức thì quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm đồng thời là quyết định tuyển dụng; Cán bộ, công chức được chuyển sang làm viên chức khi đáp ứng đủ các đủ các điều kiện theo quy định của Luật viên chức; Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập khi hết thời hạn bổ nhiệm mà không được bổ nhiệm lại nhưng vẫn tiếp tục làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập đó thì được chuyển sang làm viên chức và được bố trí công việc phù hợp; Viên chức được chuyển sang là cán bộ, công chức hoặc ngược lại đều được đảm bảo các quyền lợi về chế độ, chính sánh.
Về quy định chuyển tiếp:Đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Luật viên chức đã có các quy định nhằm đảm bảo quyền lợi, chế độ, chính sách, không gây xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần làm việc của đội ngũ viên chức hiện nay. Cụ thể là:Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2003 có các quyền, nghĩa vụ và được quản lý như viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn. Đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục để đảm bảo quyền lợi, chế độ, chính sách về ổn định việc làm, chế độ tiền lương và các quyền lợi khác mà viên chức đang hưởng; Viên chức được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 đến ngày Luật này có hiệu lực tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc đã ký kết với đơn vị sự nghiệp công lập, có các quyền, nghĩa vụ và được quản lý theo quy định của Luật này./.
THeo cpv.org.vn
Quy chế pháp lý hành chính của công dân việt nam - người nước ngoài - người không quốc tịch
1. Khái niệm quốc tịch và công dân
* Quốc tịch: là trạng thái pháp lý xác định quan hệ giữa những cá nhân một người với một nhà nước nhất định. Trạng thái pháp lý này cho phép xác định người nào đó là công dân của một nước nào đó. ở đây có mối liên hệ tương hỗ. Công dân là sự xác định một thể nhân về mặt pháp lý thuộc về một nhà nước nhất định. Từ việc xác định này, công dân của một quốc gia được hưởng chủ quyền của nhà nước đó và được nhà nước bảo hộ quyền lợi khi ở trong nước cũng như khi ở nước ngoài.
Nhà nước bằng pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản cho những cá nhân con người có quốc tịch của nước mình. Cá nhân mang quốc tịch phải tuân thủ pháp luật của nhà nước, làm nghĩa vụ trước nhà nước. Nhà nước bảo đảm quyền tự do, danh dự cho cá nhân mang quốc tịch của nước mình. Cá nhân mang quốc tịch của nước nào thì được gọi là công dân của nước đó.
Ðiều 49-Hiến pháp 1992 ghi nhận: Công dân nước Cộng hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam[1]. Như vậy, mối liên hệ pháp lý của một người đối với một nhà nước xuất hiện từ khi người đó sinh ra và kết thúc khi người đó chết đi.
Cũng như các quan hệ pháp luật hành chính khác, cơ sở phát sinh, thay đổi và chấm dứt QHPL HC đối với của một bên chủ thể là công dân đòi hỏi phải có 3 yếu tố:
1. QPPL hành chính;
2. Sự kiện pháp lỳ hành chính;
3. Năng lực chủ thể hành chính bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính;
¨ ở Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác chứa đựng những QPPL hành chính tương ứng. Nhà nước một mặt quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cho công dân, mặt khác tăng cường tạo ra những điều kiện cần thiết để công dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó. Công dân sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể trong đó có các quan hệ pháp luật hành chính.
¨ Yếu tố "sự kiện pháp lý" để phát sinh các quan hệ pháp luật hành chính giữa công dân và những chủ thể đại diện cho nhà nước có thể thuộc trong các trường hợp sau:
* Sự kiện pháp lý phi ý chí (sự biến):
Các ví dụ dễ thấy là trường hợp công dân sinh ra hoặc chết đi. Các sự kiện này sẽ làm phát sinh QHPL hành chính tương ứng (khai sinh), hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính (khai tử).
* Sự kiện pháp lý có ý chí:
- Khi công dân sử dụng quyền của mình;
- Khi công dân thực hiện nghĩa vụ của mình;
- Khi quyền và lợi ích của công dân bị xâm hại, nhà nước đứng ra khôi phục và bảo vệ các quyênử đó.
- Khi công dân không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước;
¨ Muốn tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, công dân phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính.
+ Năng lực pháp luật hành chính của công dân là khả năng công dân có các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định trong lĩnh vực quản lý nhà nước.
+ Năng lực hành vi hành chính của công dân là khả năng công dân bằng hành động của mình thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định trong lĩnh vực quản lý nhà nước.
Trên thực tế, các trường hợp quyền và nghĩa vụ của công dân được thực hiện có thể do sáng kiến của công dân hoặc được thực hiện trên cơ sở quyết định đơn phương của nhà nước.
2. Quy chế pháp lý hành chính của công dân ở nước ta
a. Sự phát triển của quy chế pháp lý hành chính của công dân qua các giai đoạn phát triển của đất nước
Ðể lý giải về căn nguyên của quyền lực nhà nước CHXHCN Việt nam, điều 2, Hiến pháp Việt nam 1992[1] xác định: "Nhà nước CHXHCN Việt nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tâtỳ cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức". Theo đó, mối quan hệ giữa nhà nước và bộ máy nhà nước đối với nhân dân có thể được trình bày như sau:

Quy chế pháp lý hành chính của công dân ở nước ta có quá trình phát triển tương ứng với các giai đoạn phát triển của đất nước. Cơ sở pháp lý của quy chế pháp lý hành chính của công dân nói lên địa vị pháp lý của công dân trong lĩnh vực hành chính nhà nước. Hiến pháp 1992 đã kế thừa và phát triển các bảng Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và đã dành chương 5 quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Trên cơ sở những quy định chung của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm cụ thể hóa những quy định chung về quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong điều kiện hiện nay, để mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta có kế hoạch từng bước sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định hiện hành về quyền và nghĩa vụ của công dân.
b. Khái niệm và đặc điểm của quy chế pháp lý hành chính của công dân
* Khái niệm:
Quy chế pháp lý hành chính của công dân là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện trong thực tế.
* Ðặc điểm:
- Mọi công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền về tự do cá nhân về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội.
- Quy chế pháp lý hành chính của công dân được xác lập trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do hiến pháp quy định. Quyền và nghĩa vụ của công dân chỉ có thể bị hạn chế bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo qui định chặt chẽ của pháp luật.
- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nam nữ, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, nghề nghiệp, tín ngưỡng.
- Quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời[1]. Công dân được hưởng quyền đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Ðiều đó thể hiện mối liên hệ về trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân. Hơn nữa, trên thực tế có những quyền gắn chặt với nghĩa vụ và rất khó để định ra ranh giới giữa chúng. Quyền bầu cử là một ví dụ đơn cử.
- Nhà nước tạo điều kiện cho nhu cầu chính đáng của cá nhân được thỏa mãn làm cho khả năng của công dân về trí tuệ, vật chất, tinh thần được phát huy đến mức cao nhất.
Nhà nước chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với công dân khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép.
Nhà nước không ngừng hoàn thiện quy chế pháp lý hành chính của công dân để đảm bảo cho công dân tham gia tích cực vào quản lý nhà nước.
3. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong quản lý hành chính nhà nước
Phạm vi nội dung quyền và nghĩa vụ của công dân rất rộng và bao gồm tất cả các lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước. Cơ sở pháp lý của các quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hiến pháp 1992, các văn bản luật và một số văn bản dưới luật. Nội dung cơ bản của các quyền và nghĩa vụ này bao gồm:
a. Các quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực quản lý hành chính - chính trị
¨ Quyền:
- Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Ðiều 53-hiến pháp 1992);
- Quyền bầu cử và ứng cử (Ðiều 54-hiến pháp 1992);
- Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật (Ðiều 69-hiến pháp 1992);
- Quyền khiếu nại tố cáo (Ðiều 74-hiến pháp 1992);
- Quyền bình đẳng trước pháp luật (Ðiều 52-hiến pháp 1992);
- Quyền tự do cư trú và tự do đi lại ở trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật (Ðiều 68-hiến pháp 1992);
- Quyền tự do tín ngưỡng (Ðiều 70-hiến pháp 1992);
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Ðiều 71-hiến pháp 1992);
- Quyền bất khả xâm phạm về chổ ở (Ðiều 73-hiến pháp 1992);
¨ Nghĩa vụ: Bên cạnh các quyền này, công dân còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau
- Nghĩa vụ tuân theo hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Ðiều 79-hiến pháp 1992);
- Nghĩa vụ trung thành với tổ quốc (Ðiều 76-hiến pháp 1992);
- Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc (Ðiều 77-hiến pháp 1992);
- Nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của nhà nước và lợi ích công cộng (Ðiều 78 -hiến pháp 1992);
b.Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực kinh tế
- Quyền và nghĩa vụ lao động (Ðiều 55 -hiến pháp 1992);
- Quyền được hưởng lương và được nhà nước bảo đảm thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hộ lao động, chế độ nghỉ ngơi, làm việc...(Ðiều 56-hiến pháp 1992);
- Quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Ðiều 57-hiến pháp 1992);
- Quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Ðiều 58-hiến pháp 1992);
- Quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật (Ðiều 62-hiến pháp 1992);
Song song với các quyền của công dân trong lĩnh vực kinh tế thì công dân còn có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.
a. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực văn hóa xã hội
- Quyền và nghĩa vụ học tập (Ðiều 59-hiến pháp 1992);
- Quyền nghiên cứu khoa học kỹ thuật, phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác (Ðiều 60-hiến pháp 1992);
- Quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe và nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.
- Quyền của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước;
- Quyền của người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, người không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ.
- Nghĩa vụ bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc.
II. QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH
Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài người không quốc tịch là tổng hợp các quyền mà người nước ngoài, người không quốc tịch được hưởng và những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện trước nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực hành chính nhà nước.
1. Khái niệm người nước ngoài, người không quốc tịch
* Người nước ngoài: Người nước ngoài là người có quốc tịch của một quốc gia khác đang lao động, học tập, công tác trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam.
Do chính sách mở cửa của nước ta hiện nay nên số lượng người nước ngoài vào nước ta có nhiều loại với những mục đích khác nhau nhưng nhìn chung có thể phân thành:
- Người nước ngoài thường trú tức là người nước ngoài cư trú không thời hạn ở Việt Nam;
- Người nước ngoài tạm trú tức là người cư trú có thời hạn tại Việt Nam. Ví dụ cho trường hợp này là người nước ngoài vaò Việt nam để thực hiện các dự án đầu tư, thực hiện hợp đồng, hợp tác về kinh tế, cán bộ nhân viên các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế, liên hiệp quốc, người nước ngoài đang học tập, chữa bệnh vv;
- Ngoài ra, còn có những trường hợp người nước ngoài quá cảnh, người nước ngoài nhập cảnh nhưng thời gian lưu ở Việt Nam không quá 48 tiếng; hoặc người nước ngoài mượn đường vào Việt nam không quá 3 ngày (72 tiếng) vv...
* Người không quốc tịch: là người không có quốc tịch bất kỳ quốc gia nào, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Những trường hợp không có quốc tịch có thể do:
- Mất quốc tịch cũ mà chưa có quốc tịch mới;
- Luật quốc tịch ở các nước mâu thuẫn với nhau;
- Cha mẹ mất quốc tịch hoặc không có quốc tịch thì con sinh ra cũng có thể không có quốc tịch;
ởớ nước ta không có sự phân biệt đối xử giữa người nước ngoài và người không quốc tịch. Họ đều được quyền cư trú và làm ăn sinh sống, đều chịu sự tác động của cùng một quy chế pháp lý hành chính.
2. Cơ sở pháp lý và đặc điểm của quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài, người không quốc tịch ("có thời hạn hoặc không có thời hạn" làm ăn, sinh sống học tập ở Việt nam)
* Cơ sở pháp lý:
- Hiến pháp 1992 (Tập trung chủ yếu ở Ðiều 81, 82);
- Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 21/2/1992;
- Nghị định số 04 ngày 18/01/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam;
- Pháp lệnh ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993...
* Ðặc điểm:
- Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải chịu sự tài phán của hai hệ thống pháp luật là hệ thống pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch; người không quốc tịch chỉ phải chịu sự tài phán của pháp luật Việt Nam;
- Tất cả những người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống tại Việt Nam đều bình đẳng về năng lực pháp luật hành chính, không phân biệt dân tộc, màu da, tôn giáo, nghề nghiệp;
- Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài có những hạn chế nhất định so với công dân Việt Nam xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch được quy định trong luật quốc tịch của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nói cách khác, phạm vi quyền và nghĩa vụ của họ hẹp hơn so với công dân Việt Nam.
Ví dụ: Họ không được hưởng quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước; trong một số trường hợp nhất định họ bị giới hạn phạm vi cư trú, đi lại, họ không phải gánh vác nghĩa vụ quân sự...
3. Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam
Người nước ngoài, người không quốc tịch phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước Việt Nam. Họ không có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước và cũng không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Người nước ngoài, người không quốc tịch có công với nhà nước Việt Nam được xét khen thưởng, còn người vi phạm pháp luật Việt Nam sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Theo luật thực định Việt nam, chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài, người không quốc tịch chứa đựng các vấn đề cơ bản sau:
a) Vấn đề thường trú
- Trong thời hạn 48 tiếng kể từ khi nhập cảnh, người nước ngoài phải đăng kí cư trú (thường trú) tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nơi đăng kí thường trú là Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc công an nơi thường trú.
- Ðối với người dưới 14 tuổi sống chung với cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người nước ngoài thường trú tại Việt nam được cha hoặc mẹ đỡ đầu khai chung vào bản khai thường trú.
- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đủ thủ tục hợp lệ, Phòng quản lý xuất nhập cảnh thuộc công an tỉnh cấp giấy chứng nhận thường trú. Trường hợp người nước ngoài muốn đăng kí, thay đổi địa chỉ, nghề nghiệp đã đăng kí hoặc thay đổi nơi thường trú phải làm thủ tục sửa đổi, bổ sung tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an tỉnh nơi cư trú.
- Giấy chứng nhận thường trú có giá trị không thời hạn chỉ được cấp cho người có đủ các yêu cầu luật định và phải từ đủ 14 tuổi trở lên.
b) Vấn đề tạm trú
- Người nước ngoài được cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại cửa khẩu cấp giấy chứng nhận tạm trú trên lãnh thổ Việt nam khi có đăng kí tạm trú phù hợp với mục đích nhập cảnh trên lãnh thổ Việt nam. Thời hạn tối đa được chứng nhận tạm trú là 12 tháng;
- Người nước ngoài có thể đi lại không phải xin phép trong phạm vi tỉnh, thành phố thuộc trung ương hoặc các địa phương khác nếu mục đích đi lại phù hợp với mục đích tạm trú.
- Người nước ngoài chỉ có thể đi vào nơi cấm người nước ngoài cư trú khi được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
¨ Ðối với người nước ngoài là thành viên của các cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện lãnh sự, các cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế, của Liên Hiệp Quốc tại Việt nam (kể cả người nước ngoài là thành viên gia đình sống chung với họ tại Việt nam) và những người nước ngoài khác được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao của Chính phủ Việt nam được qui định như sau:
- Bộ ngoại giao có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận tạm trú. Trường hợp huỷ bỏ chứng nhận tạm trú được thực hiện thông qua con đường ngoại giao. Họ đi lại, hoạt động theo hướng dẫn của Bộ ngoại giao phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt nam đã tham gia kí kết hoặc thừa nhận.
¨ Ðối với việc quá cảnh, người nước ngoài mượn đường Việt nam: phải tuân theo qui định về nhập cảnh, quá cảnh, xuất cảnh của Việt nam.
¨ Các người nước ngoài thuộc đối tượng khác:
+ Ðối với người nước ngoài vào làm việc với cơ quan, tổ chức Việt nam thì cơ quan, tổ chức Việt nam tổ chức đi lại, hoạt động và thông báo với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.
+ Ðối với người nước ngoài vào Việt nam du lịch thì tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế của Việt nam có trách nhiệm đưa đón, hướng dẫn theo hành trình du lịch
c) Vấn đề không được cấp thị thực xuất nhập cảnh: có thể thuộc 1 trong các trường hợp sau
- Người xin cấp thị thực cố ý sai sự thật khi làm thủ tục;
- Người xin thị thực vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt nam trong lần nhập cảnh trước;
- Vì lý do bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phòng chống dịch bệnh;
- Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia
d) Vấn đề trục xuất và việc áp dụng các chế tài khác
¨ Người nước ngoài có thể bị trục xuất nếu thuộc 1 trong các trường hợp sau:
- Có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia;
- Ðã bị Toà án Việt nam kết án về tội hình sự và đã chấp hành xong hình phạt hoặc không còn nghĩa vụ chấp hành hình phạt;
- Bản thân là mối đe doạ tính mạng, sức khoẻ của những người khác tại Việt nam
¨ Người nước ngoài bị trục xuất phải rời khỏi Việt nam theo thời hạn ghi trong lệnh trục xuất. Trong trường hợp không tự nguyện chấp hành lệnh trục xuất thì họ có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trục xuất.
¨ Việc trục xuất hoặc các biện pháp chế tài khác đối với người nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự được giải quyết bằng con đường ngoại giao được luật pháp Việt nam ghi nhận phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt nam đã kí kết hoặc tập quán quốc tế mà Việt nam đã tham gia.
¨ Tổ chức nước ngoài tại Việt nam, người nước ngoài tại Việt nam vi phạm qui định về pháp luật xuất nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường vv thì bị xử phạt theo qui định của pháp luật Việt nam.
¨ Người gian dối, giả mạo giấy tờ để nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại trái phép hoặc vi phạm qui định về nhập xuất cảnh, quá cảnh, mượn đường tuỳ theo mức độ mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
e) Vấn đề lao động và nghề nghiệp
- Người nước ngoài có quyền lao động nhưng không được tự lưa chọn nghề nghiệp như công dân Việt Nam. Hiện nay, có một số nghề kinh doanh mà người nước ngoài không được thực hiện là:
+ Nghề cho thuê nghỉ trọ;
+ Nghề khắc con dấu;
+ Nghề in và sao chụp;
+ Nghề sản xuất và sửa chửa súng săn, sản xuất đạn súng săn và cho thuê súng săn;
+ Nghề kinh doanh có sử dụng đến chất nổ, chất độc mạnh, chất phóng xạ;
+ Nghề giải phẫu thẩm mỹ
Ngoài những ngành nghề quy định chung nếu muốn làm những ngành nghề khác hoặc xin vào làm trong các xí nghiệp, cơ quan thì người nước ngoài, người không quốc tịch phải được cơ quan công an nơi cư trú cho phép và cơ quan quản lý lao động hoặc quản lý ngành nghề đó chấp thuận.
f) Vấn đề cư trú
- Ðược quyền cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
g) Vấn đề y tế và giáo dục
- Ðược quyền học ở các trường học Việt Nam từ mẫu giáo đến đại học, sau đại học và trên đại học trừ một số trường hoặc một số ngành liên quan tới an ninh quốc phòng;
- Ðược khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế của Việt Nam và phải chịu mọi chi phí về khám chữa bệnh theo quy định của nhà nước Việt Nam;
h) Vấn đề các quyền khác về xã hội
- Có quyền tư do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện tín, điện thoại, quyền được bảo hộ về tài sản, tính mạng, danh dự và nhân phẩm. Ðược nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và quyền lợi hợp pháp khác trên cơ sở pháp luật Việt Nam và Ðiều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
- Có nghĩa vụ lao động công ích và được hưởng phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu là công nhân trong các cơ quan nhà nước thì người nước ngoài, người không quốc tịch cũng được hưởng các khoản trợ cấp như công nhân viên chức Việt Nam;
1. Cơ sở để xác định công dân Việt nam? ở nước ta có thừa nhận một người có từ hai quốc tịch trở lên hay không?
2. Cơ sở lý luận của qui chế pháp lý hành chính công dân ở nước ta? Theo anh (chị) cơ sở lý luận này có được thực hiện tốt trên thực tế chưa? Tại sao?
3. Nói công dân là "chủ thể của quản lý cơ bản nhất" có đúng không? Nêu mục đích của quan hệ pháp luật hành chính tư?


11:31 PM
Hoàng Phong Nhã