Showing posts with label Ket hon. Show all posts
Showing posts with label Ket hon. Show all posts

Friday, November 22, 2013

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN KHI TUYÊN BỐ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG


THS. PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa Dân sự TANDTC

Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ) và hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại mục 5.4.1.4, khoản 5, điểm C, phần thứ 3 của “Sổ tay Thẩm phán” cũng nêu rất rõ văn bản án dụng và các trường hợp không được công nhận là vợ chồng. Luật HN & GĐ có chương III quy định về quan hệ giữa vợ và chồng (trong đó có quy định về chế độ tài sản chung vợ chồng, việc đại diện cho nhau, trách nhiệm liên đới của một bên đối với giao dịch do bên kia thực hiện, tài sản riêng…) và chương X quy định về giải quyết các vấn đề về ly hôn (con cái, tài sản…).
Tuy nhiên, giải quyết các vấn đề về tài sản đối với trường hợp hôn nhân không hợp pháp (hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng) thì lại chỉ được quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình (Nghị Quyết 35/2000/QH10): “Kể từ ngày 01 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu cóyêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Điều 17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.
Thông qua công tác Giám đốc thẩm các vụ án dân sự, chúng tôi thấy rằng các Tòa án địa phương đã vận dụng pháp luật tương đối tốt để xác định hôn nhân hợp pháp (công nhận thuận tình ly hôn hoặc cho ly hôn) hay hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng; việc áp dụng các quy định của Luật HN & GĐ khi giải quyết các vụ án ly hôn (xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng…) là tương đối tốt. Tuy nhiên, đối với các vụ án hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận hôn nhân hợp pháp lại rất lúng túng khi phải giải quyết các vấn đề tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng. Nhiều bản án phần xét thấy có lập luận không công nhận là vợ chồng, nhưng vẫn sử dụng cụm từ vợ chồng, ly hôn, thời kỳ hôn nhân khi phân tích các sự kiện; vẫn trích dẫn điều luật quy định giải quyết về tài sản chung vợ chồng trong Luật HN & GĐ để giải quyết, hoặc không nắm rõ được các quy định của Bộ luật dân sự để xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng và cách phân chia để bảo đảm quy định tại Điều 17 Luật HN & GĐ.
Ví dụ: Năm 1990 bà Phấn và ông Cầu được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới nhưng hai bên không đăng ký kết hôn và sau đó cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo Nghị Quyết 35/2000/QH10. Quá trình chung sống hai bên đã có 2 con chung. Năm 1992 gia đình ông Cầu cho ông bà ra ở riêng trên một mảnh đất của gia đình và ông bà dựng nhà lá để ở, quá trình chung sống có cải tạo nhà, trồng cây ăn trái, mua sắm vật dụng gia đình. Năm 2009, do mâu thuẫn trầm trọng, ông bà có đơn xin ly hôn nhưng không thống nhất được việc phân chia tài sản là nhà, đất nêu trên (ông Cầu cho rằng là tài sản riêng của ông vì cha mẹ cho riêng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2004 đứng tên ông, không có tên bà Phấn; còn bà Phấn xác định là được cha mẹ ông Cầu cho chung nên là tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án sơ thẩm quyết định không công nhận là vợ chồng, nhưng phần xét thấy của bản án lại vẫn sử dụng cụm từ vợ chồng, ly hôn như: “Về phần nợ: trong thời gian chung sống vợ chồng…” ;“Xét thấy khi ly hôn đất vườn anh Cầu được quản lý sử dụng”; vẫn vận dụng các quy định giải quyết về tài sản chung, tài sản riêng của trường hợp ly hôn trong Luật HN & GĐ như “…Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tài sản riêng của vợ chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân…”. Bản án nhận xét vì không được công nhận là vợ chồng nên đất là cha mẹ ông Cầu cho riêng ông Cầu, không phải tài sản chung của vợ chồng nên ông được sở hữu nhà (do 2 bên xây, nên là tài sản chung và mỗi bên được ½) và thanh toán cho bà Phấn ½ giá trị nhà.
Bản án phúc thẩm phần trích yếu vẫn ghi “V/v xin ly hôn”; phần xét thấy nhận xét “Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận là vợ chồng là có căn cứ”, nhưng lại ghi “…Xét thấy đây là tài sản chung được cha mẹ ông Cầu cho vợ chồng ông trong thời kỳ hôn nhân nên được xem là tài sản của vợ chồng. Ông Cầu cho rằng đây là tài sản được cha mẹ cho riêng nhưng ông không chứng minh được việc cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nên không có cơ sở chấp nhận vì theo quy đinh tại khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ…Ông Cầu cũng không chứng minh được phần đất trong GCNQSD đất cho ông là tài sản riêng nên căn cứ và Điều 27 Luật HN & GĐ thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung vợ chồng…”.
Trong vụ án trên, theo chúng tôi, khi đã xác định quan hệ của họ không được công nhận là vợ chồng, thì bản án không nên sử dụng từ vợ chồng, thời kỳ hôn nhân… nữa, mà có thể sử dụng cách viết khác như ông bà, thời gian cùng chung sống, tài sản tạo lập trong thời gian sống chung,…Về tài sản chung, không phải trường hợp áp dụng Điều 27 Luật HN & GĐ xác định tài sản tranh chấp có phải tài sản chung của vợ chồng hay không cũng như các Điều luật khác để xác định tài sản chung, tài sản riêng…; mà chỉ có căn cứ theo các quy định tại Bộ luật dân sự về sở hữu chung (căn cứ xác lập tài sản chung như được tặng cho chung, cùng đóng góp công sức để tạo lập… Điều 214, 215, 216 Bộ luật dân sự năm 2005) và phân chia tài sản chung theo các quy định của Bộ luật dân sự (Điều 224) và Điều 17 Luật HN &GĐ mà thôi. Trong vụ án trên, bản án phúc thẩm viện dẫn không chính xác Điều luật áp dụng, như hồ sơ thể hiện đã thu thập chứng cứ về việc cho chung là lời khai của mẹ ông Cầu thừa nhận khi tổ chức lễ cưới có tuyên bố cho ông Cầu, bà Phấn mảnh đất này và đã không có ý kiến gì phản đối khi ông Cầu kê khai, làm thủ tục tách thửa và được cấp GCNQSD đất. Tòa án cấp phúc thẩm cũng thu thập chứng cứ về hồ sơ ông Cầu kê khai xin cấp GCN, trong đó ông có ghi cả tên ông và tên bà Phấn là đồng sử dụng; việc GCN chỉ ghi tên ông Cầu là thiếu sót của UBND. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất là tài sản do ông Cầu, bà Phấn được cha, mẹ ông Cầu tặng cho chung và việc tặng cho đã hoàn thành (đã nhận tài sản sử dụng, đã đứng tên trên giấy tờ) nên cấp phúc thẩm xác định là tài sản chung và chia cho 2 bên sử dụng, là phù hợp.
Mặc dù để thực hiện Nghị quyết 35/2000/QH, ngày 22/10/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về đăng ký kết hôn có quy định chi tiết về đăng ký kết hôn đối với các trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn, tuy nhiên trên thực tế, số cặp nam nữ đến thực hiện việc đăng ký kết hôn lại không nhiều. Do đó, từ sau ngày 01/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì cho dù họ có thừa nhận là vợ chồng đi nữa, khi thụ lý giải quyết Tòa án vẫn phải tuyên bố không công nhận là vợ chồng và theo thống kê thì loại án này ngày càng tăng và chiếm khoảng 10% số vụ án về hôn nhân và gia đình. Không ít vụ đương sự có tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng…như tranh chấp trong các vụ án ly hôn, thì Tòa án vẫn phải giải quyết và gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ. Nhiều bản án vẫn viện dẫn các quy định của Luật HN & GĐ để giải quyết các quan hệ này và về cơ bản, chúng tôi thấy trong nhiều vụ án việc áp dụng Luật HN & GĐ giải quyết cũng đã bảo đảm được quyền lợi của người phụ nữ hơn là áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.
Luật HN & GĐ năm 2000 đang trong quá trình nghiên cứu toàn diện để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn. Để bảo đảm áp dụng đúng và thống nhất pháp luật, đồng thời bổ sung hoàn thiện các quy định của Luật HN & GĐ, chúng tôi đề nghị ngành Tòa án cần có nghiên cứu tổng kết thực tiễn giải quyết các vụ án không công nhận là vợ chồng và việc giải quyết về tài sản chung-riêng, nợ chung-riêng…và những vấn đề liên quan đến Điều 17 Luật HN & GĐ.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trích dẫn từ:

Wednesday, October 9, 2013

NHỨC NHỐI NẠN TẢO HÔN

IÊN THÙY
Tiếp nối tập tục xưa, rất nhiều đứa trẻ ở huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế vẫn kết hôn sau tuổi lên 10. Vấn nạn tảo hôn vừa là nguyên nhân của sự nghèo đói và những cái chết đau lòng tại đây.
Ông Hồ Văn Liên, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, cho biết hầu như năm nào ở xã cũng có 10 cặp tảo hôn. Đây chỉ là số trường hợp mà xã nắm được, vì các cặp vợ chồng trẻ con đều không đăng ký kết hôn.
Lấy chồng từ thuở 13
Chúng tôi ghé thăm đôi vợ chồng nhí Hồ Văn Chùn -15 tuổi và Hồ Thị Lài – 14 tuổi mới cưới hồi đầu năm. Căn nhà của vợ chồng Chùn trống hoác nép mình sau vách núi Trường Sơn.
Một cô bé người hơi thấp, da đen sạm, bụng mang thai sắp sinh vừa bước ra chào khách vừa lau vội những giọt nước mắt. Tiếp chúng tôi, hai cô cậu lộ rõ vẻ mất tự nhiên.

Hóa ra, kể từ sau khi cưới (tháng 2-2009), vợ chồng họ thường xuyên cãi vã và giận nhau. Mới 13 tuổi, Lài đã về nhà chồng, từ đó vòng xoay cơm áo gạo tiền cứ đè nặng lên đôi vai của vợ chồng trẻ này.
Mẹ Chùn mất sớm, cha theo người đàn bà khác và đi sinh sống ở xa, để lại cho vợ chồng cậu 3 đứa em đang tuổi lớn. Dù đang mang thai nhưng hằng ngày Lài phải đi rẫy để lo cho bữa cơm gia đình. Những ngày mùa hè nắng oi ả, đôi lưng của cô bé 13 tuổi này phải gùi hơn 50 kg củi khô và bắp.
Anh Hoàng Diệu, cán bộ xã Hồng Thủy, than: “Chúng tôi đã có ý kiến không cho đám cưới của đôi này xảy ra, nhưng họ vẫn đến với nhau. Cả hai không biết làm gì, không đất đai trồng trọt thì không biết lấy chi mà sống nữa”. Cũng theo anh Diệu, ở thôn 6 và thôn 7 xã Hồng Thủy, chuyện kết hôn chưa đúng tuổi xảy ra nhan nhản.
Cũng như Chùn, Trần Văn Hẹp – 14 tuổi và Hồ Thị Thịt – 13 tuổi ở xã Hồng Kim cũng đến với nhau và bắt buộc gia đình phải tổ chức đám cưới. Ông Lê Quang Bảy, Chủ tịch UBND xã Hồng Kim, cho biết dù chính quyền đến nhà vận động, tuyên truyền về luật hôn nhân và gia đình nhưng cả hai vẫn bỏ ngoài tai. Ông Quỳnh Hung, bố của Hẹp, kể: “Nó nhất định bắt miền (tôi) phải đem sính lễ sang cưới Thịt. Nó dọa nếu không cưới vợ thì nó sẽ tự vẫn”.
Không để tái tảo hôn
Mới đến đầu cụm 2 thị trấn A Lưới, hỏi đường về nhà bà Căn Phễ, nhiều người dân đều dọa tôi rằng nhà ấy rất linh thiêng vì hồn của con trai vẫn còn vương vấn. Men theo một dốc núi, chúng tôi tìm đến nhà bà Căn Phễ.
Bà ngồi đó, đôi mắt hoắm sâu, buồn rười rượi. Bà bảo rằng phải đợi con trai quay về. Không khí trong ngôi nhà u ám lạ thường, dù Hồ Văn Phẫm, con trai bà, đã chết cách đây gần một năm.
Một thanh niên 20 tuổi vừa đẹp trai, vừa hào hoa là niềm mơ ước của biết bao sơn nữ. Nhưng trong số 5 người tình, Phẫm chỉ quyết định cưới cô bé Hồ Thị Sâm, 16 tuổi, ở gần nhà. Đám cưới diễn ra vào ngày 3-8-2008. Sau đêm tân hôn, sáng 4-8, người ta đã phát hiện Phẫm treo cổ bên đồi Ar-Lau.
Vừa lau nước mắt, bà Căn Phễ vừa kể chuyện về đứa con trai độc nhất của mình: “Một tháng sau khi con trai mẹ mất, nhà Sâm đến xin cho con gái về và họ bắt mẹ phải đền, nhưng mẹ già rồi, lấy gì đền”.
Đứa con trai mà Phẫm để lại giống cha như đúc. Chị Trần Thị Lộc, cán bộ dân số thị trấn A Lưới, cho biết giữa Phẫm và Sâm chưa có ràng buộc gì về giấy tờ vì chưa đủ tuổi kết hôn. “Mình là cán bộ dân số nên phải nói cho em hiểu để nó không tảo hôn lần nữa”, chị Lộc bảo.
Bi kịch cơm áo gạo tiền
Nhiều đôi vợ chồng nhí cưới nhau về, có con nhưng lại không nghề nghiệp, không nương rẫy, không kiến thức nên mâu thuẫn trong đời sống gia đình là khó tránh khỏi.
Chùn và Lài đã nhiều lần cãi vã, những dòng nước mắt của cô dâu 13 tuổi này không đủ vơi đi những khó khăn trong nỗi lo cơm- áo- gạo- tiền. Riêng bữa ăn hàng ngày cũng không no chứ nói chi đến chuyện bồi dưỡng cho cái thai đang ngày một lớn dần.
Cách nhà Chùn chưa đầy 200 m, gia cảnh của vợ chồng Hồ Văn Tòn – Lê Thị Thê (SN 1992) còn bi thảm hơn. Căn lều được dựng tạm bằng những tấm phên rách rưới, mục nát, rộng chưa đầy 8 m2 là nơi sinh sống của 3 con người.
Giữa nhà, Tòn đang cùng với bạn bè mượn rượu nhâm nhi. Chén tỉnh chén say, Tòn càng bất lực với cuộc sống của mình khi đứa con gái ra đời gần 10 tháng nay thiếu dinh dưỡng nặng.
Tòn nuối tiếc: “Nếu đi học thì miền đã thi tốt nghiệp cấp 3 rồi. Miền phải cúng cho làng trâu, bò, heo, vịt để cưới vợ nên không có tiền để đi học nữa. Miền còn phải làm để trả nợ”…
Tan đàn xẻ nghé vì mâu thuẫn
Bà Nguyễn Thị Thanh Nhâm, Phó Phòng LĐ-TB-XH huyện A Lưới, cho biết chính việc kết hôn sớm đã đẩy nhiều đôi uyên ương tan đàn xẻ nghé do mâu thuẫn hằng ngày. Nếu có con, họ không có kiến thức để chăm sóc, rồi lại để chúng thất học. Những cuộc hôn nhân chưa đủ tuổi này còn làm cho khả năng sinh con sớm và dân số tăng.
Theo bà Nhâm, không chỉ người dân nhà nghèo, học vấn thấp tảo hôn mà nhiều con em cán bộ trên địa bàn huyện cũng cưới nhau sớm.
SOURCE: BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG

LUẬT TỤC NÚI RỪNG

ĐINH THỊ NGA – QUẾ HÀ
Bên cạnh những tục lệ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày nay đã trở thành những nét văn hóa đặc sắc mang yếu tố truyền thống đa dạng, thì nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn dai dẳng đeo bám, không chỉ cản trở nếp sống văn minh mà còn là những nguyên nhân trực tiếp đẩy không biết bao nhiêu thân phận nam nữ thanh niên vào bi kịch.
1. Bắt chồng
Có mặt ở nhiều bản làng, PV Thanh Niên chứng kiến nhiều hủ tục đáng sợ: Từ thách cưới đến việc kết hôn cùng huyết thống; từ chuyện tảo hôn đến thân phận chàng rể trong chế độ mẫu hệ…
Bắt chồng là một nét văn hóa đặc thù không chỉ của người Chu Ru ở Đơn Dương (Lâm Đồng) mà hiện còn tồn tại ở rất nhiều tộc người khác ở vùng dọc Trường Sơn – Tây Nguyên nhưng “giá” của các chàng trai ở đây cao ngất ngưởng đã đẩy không biết bao nhiêu gia đình bên vợ vào bước đường cùng.
Huyện Đơn Dương chỉ cách Đà Lạt khoảng 40 km, nhưng khi tìm hiểu về tục “bắt chồng” ở đây, chúng tôi cảm tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác…
Lễ vật lấy chồng
Xã Ka Đơn có 538 hộ người Cơ Ho, 215 hộ người Chu Ru vẫn đang lưu giữ tục “bắt chồng”. Theo đó, người con gái đến tuổi lấy chồng sẽ được cha, mẹ hoặc người mai mối “tia” cho một tấm chồng. Tất cả việc đám hỏi, đám cưới do nhà gái lo liệu. Sau khi cưới, chàng rể về sống bên nhà vợ.
Ngày xưa, nhà trai thường đòi lễ vật là trâu, bò, heo, đồng la, cồng chiêng, ghè, tố, chóe, khố, váy, vòng cườm, nhẫn bạc… và một đám cưới linh đình kéo dài bảy ngày, bảy đêm tại nhà gái. Hiện nay, tất cả các lễ vật trên được quy ra thành tiền mặt: muốn “bắt chồng” nhà gái chí ít cũng phải có vài ba chỉ vàng, vài triệu đồng tiền mặt.
“Tấm chồng” thông thường ở Ka Đơn hiện nay có giá từ 1- 1,5 lượng vàng, kèm theo 5-10 triệu đồng tiền mặt. Cá biệt có đám đòi 2- 5 lượng vàng, kèm theo… 50 triệu tiền mặt!
Chính vì vậy, những gia đình có đến năm, bảy cô con gái thì coi như điều kinh khủng. Có hai tình huống đã xảy ra: Có nhiều gia đình chỉ đủ tiền bắt chồng cho một trong số năm, bảy cô con gái của mình. Và số còn lại đành chấp nhận không bắt được chồng, hiện tượng này, chỉ tính riêng thôn Próh Ngó (xã Próh) đã có tới 14 cô không bắt được chồng.
Nhưng phần đông những gia đình ở Ka Đơn đã làm tất cả những gì có thể để “bắt chồng” cho con: Có người bán trâu, bò, có gia đình vay ngân hàng, cầm cố nhà cửa, ruộng đất, vay nợ bên ngoài với lãi suất cao ngất ngưởng. Có gia đình bán hết ruộng đất của cha ông để lại, bán cả ruộng đất do Nhà nước cấp, để con gái của họ đều… có chồng.
Tộc người Cơ Ho, luật tục cho phép trong hoàn cảnh quá ngặt nghèo gia đình phía vợ được nợ các lễ vật trong đám cưới. Họ có thể trả dần và dĩ nhiên đôi vợ chồng trẻ phải “còng” lưng ra làm để trả nợ. Trong trường hợp vợ chồng không trả hết thì đến đời con, đời cháu phải trả.
“Giá” của các chàng trai
Đa phần người Chu Ru ở Đơn Dương hiện nay không cho nhà gái tổ chức đám cưới, nếu chưa giao đủ lễ vật. Tất cả những trường hợp nợ do bắt chồng trước đây, nếu để qua 3 đời mà không trả được, khi “con nợ” chết gia đình vẫn phải làm thịt trâu, bò để cúng. Dân làng vẫn đến dự, nhưng tất cả đều không ăn.
Chúng tôi đã tận mắt chứng kiến gia cảnh đáng thương của bà TuTeng MaBao, 63 tuổi, người Chu Ru ở xã Ka Đơn. Bà có chín người con (5 trai, 4 gái). Ba con trai đã đi lấy vợ, bà cũng “đòi” được của nhà gái đưa “mỗi đứa” ba chỉ vàng. Nhưng con gái bà bắt chồng, bên nhà trai quyết liệt đòi từ 1-1,5 lượng vàng. Cực chẳng đã, bà MaBao đã phải bán dần cho đến những mảnh ruộng, đất cuối cùng.
Hôm chúng tôi đến, bà MaBao và một đứa cháu gái 8 tuổi vừa đi bắt cua về. Gia đình sống trong một căn nhà tình thương nhỏ bé, bên cạnh một túp lều cũ rách dùng làm bếp. Trong nhà bếp không có lấy một hạt gạo, ngoài vườn không một cây bắp, khóm bí. Bà năn nỉ chúng tôi mua giúp bà giỏ cua để bà lấy tiền mua gạo. Hỏi các con bà đâu, bà bảo: “Chúng đi bắt cá ở hồ MLọn. Từ đây đến MLọn khoảng 15 km, nên ở luôn đó cả tuần mới về một lần. Mỗi ngày chúng nó bắt được 1- 3 kg cá, tép; mỗi kg được từ 10 – 30 ngàn đồng”. Riêng bà, mỗi ngày bắt được 1 kg cua, cua mùa này 15 ngàn/kg. “Vài hôm nữa chỉ còn 5-10 ngàn đồng/kg thôi. Những ngày mưa thì không thể bắt cua, bắt cá được”, bà nói.
Ở Ka Đơn 7 ngày, chúng tôi gặp nhiều bà mẹ ứa nước mắt đòi tặng cua khi chúng tôi biếu mẹ vài chục ngàn đồng. Những người mẹ như TuProng Mapia (80 tuổi, người Chu Ru, thôn Ka Đê), mẹ Jơ Lâng Ma Ních (73 tuổi, người Cơ ho, xã Próh)… đã bán đến mảnh ruộng cuối cùng để cho 5 – 6 cô con gái của họ được… “bắt chồng”.
Đáng sợ nhất là những gia đình vì lo tiền “bắt chồng” cho con mà phải đồng cảnh ngộ với “chúa chổm”. Gia đình bà Pdum MaNhen, người Chu Ru, xã Ka Đơn: Cô con đầu “bắt chồng”, nhà trai đòi 8 chỉ vàng, 5 triệu tiền mặt, 10 cái khăn (trị giá từ 100-500 ngàn đồng/cái); 15 dây cườm (300 ngàn đồng/dây). Đến con thứ, nhà trai đòi 8 chỉ vàng; 5,7 triệu đồng; 9 cái khăn; 12 dây cườm. Đám cưới đầu tiên bà Ma Nhen đi vay 20 triệu đồng, bà thỏa thuận nộp cho chủ nợ 80 bao lúa. Cô thứ hai đi “bắt chồng”, bà Nhen cho thuê 2 sào ruộng trong 10 năm để đổi lấy 5 chỉ vàng. Và vay thêm 5 chỉ nữa, mỗi chỉ vàng phải trả 30 ngàn đồng tiền lãi một tháng. Tính nguyên tiền lãi mỗi tháng bà Ma Nhen phải trả một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng!
Chúng tôi được chứng kiến bà TuTeng MaSa (xã Ka Đơn) đang chuẩn bị “bắt chồng” cho cô con gái thứ 4, còn cô thứ 5 sẽ cưới vào năm tới. Lễ vật mà nhà trai yêu cầu gồm: 17 triệu đồng; khăn 9 cái (trong đó 1 cái giá 1 chỉ vàng, 7 cái còn lại giá từ 100- 200 ngàn đồng/cái); dây cườm 10 cái (200 ngàn đồng/dây). Đám cưới như các cô con gái trước là 30 triệu đồng. Bà bảo: “Nếu thiếu quá cũng buộc phải bán 1 – 2 sào đất lấy chồng cho con”.
Nhưng đám cưới cô JơLông MaHờm vào tháng 12.2009 sắp tới mới đạt kỷ lục của thôn, khi gia đình cô phải trao cho nhà chồng 50 triệu đồng, và đám cưới sẽ hết 50 triệu nữa…
Còn giá của các chàng trai Cơ Ho ở vùng cà phê thuộc huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Di Linh lên tới 10-15 cây vàng…
2. Nước mắt đàn ông
Từ bao đời nay, nhiều tộc người ở Tây Nguyên vẫn sống theo chế độ mẫu hệ. Khi vợ chết, chàng rể bị đuổi về nhà cha mẹ…
Các “chiêu thức bắt chồng”
Theo truyền thống, người Chu Ru ở Đơn Dương thường “ép” các cậu bé 14-15 tuổi phải lấy vợ. “Chàng” nào đã “lọt vào mắt xanh” của hai họ, và đám hỏi đã diễn ra nhiều lần, gia đình khuyên giải thuyết phục, thúc ép mà vẫn không đồng ý, thì nhà gái sử dụng luật tục để… “bắt chồng”. Nhà gái bí mật lập một đoàn người gồm toàn những ông cậu lực lưỡng, bà dì to khỏe, bất ngờ ập đến nhà trai vào lúc 12 giờ đêm và lôi chàng về. Chàng trai cũng đã chuẩn bị sẵn lực lượng, khi cậu la lên là cả bạn bè, dòng họ kéo đến nhà gái, tất cả cùng cố sức tìm cách làm gãy giường cưới – không được dùng gậy, dao, búa, mà chỉ được nhún nhảy – nếu giường gãy, chàng trai được “thoát thân” trở về, nếu giường không gãy chàng trai buộc phải… làm chồng. Già làng JơLâng Ja Nich nói: “Từ cổ chí kim, không ai có thể làm gãy cái giường bằng gỗ cà chí do chính tay người Chu Ru đóng!”. Hiện nay, việc ép các chàng trai làm chồng vẫn diễn ra, nhưng dưới một hình thức tế nhị hơn, “dân chủ” hơn: khi chàng trai không đồng ý, nhà gái “tung chưởng”… kiên trì. Họ tổ chức đám hỏi từ 5 lần đến 10 lần, 20 lần hoặc kéo dài đến bao giờ chàng trai đồng ý… mới thôi. Nghĩa là: mỗi một lần đám hỏi, nhà gái mang theo gạo, dây cườm và vài con gà. Nếu nhà trai có bao nhiêu người, nhà gái mang chừng đó sớp gạo và chừng đó dây cườm bỏ trong sớp gạo. Nếu chàng trai chưa đồng ý thì nhà gái cứ bỏ gạo và dây cườm lại rồi ra về. Khi chàng “gật đầu”, hai họ sẽ đổ gạo vào nấu cơm, cắt tiết gà nhờ thần linh chứng giám, để chàng trai “hết đường chối cãi”. Đám cưới của cô LiNa lấy anh Ha Giỏi ở xã Đạ Long đã diễn ra sau cơn sóng gió do Giỏi đang học lớp 10. Giỏi đã phải “tâm phục, khẩu phục”… khi gia đình cậu nhận của nhà gái một nửa gùi sợi cườm đủ loại (100-200 ngàn đồng/sợi, có sợi cườm bằng hổ phách quý lên đến 1 triệu đồng), 2 chiếc chiêng mẹ (trị giá bằng 16 con bò), 3 chiếc Stố (trị giá bằng 30 con bò), một gùi đầy tô, chén cổ (có cái trị giá 1 chỉ vàng) và 3 con bò. Một “chiêu thức” đang được các cô gái Cơ Ho ở xã Đạ Long (Đam Rông) áp dụng, ấy là đến nhà chàng trai mình yêu, làm tất cả mọi việc, từ lên rẫy chọc lỗ tỉa hạt, chặt củi, gùi nước… thể hiện “đức chăm làm” trên mức bình thường, với mục đích duy nhất là: lay động “trái tim băng giá” của chàng trai. Thương con gái, nhiều bà mẹ cũng đến nhà trai bẻ bắp, gặt lúa nhằm thúc ép nhanh “tiến độ của dự án treo”, khiến chàng trai “không trốn được”. Cuộc tình của cô DơngGun LaMour và anh Ksã HaKalas đã “đơm hoa, kết trái” cũng nhờ vào chiêu thức trên của hai họ. Thân phận chàng rể Trong dân gian có câu: “đàn ông đi ở rể như chó nằm gầm chạn”. Câu nói đó cũng có phần đúng khi đề cập đến thân phận chàng rể trong chế độ mẫu hệ: Nếu nhà trai nào thách cưới quá cao, khi chàng rể về nhà vợ mà không giỏi giang, tháo vát, lại yếu đuối bi lụy sẽ bị các bà dì nhiếc móc, các ông cậu khinh bỉ. Công việc chính dành cho người đàn ông có vợ là làm nhà, chặt cây to. Mà bây giờ hầu hết các gia đình đã có nhà, còn nếu đụng cây to hay phá rừng làm nương rẫy chắc chắn sẽ bị kiểm lâm “tóm cổ”. Thế là, từ ngày này sang tháng khác, phần đông các đức ông chồng cứ ở nhà địu con, để vợ đi hái rau, lấy măng, kiếm củi theo cái cách mà từ đời trước để lại. Nỗi đau của các đức ông chồng Cơ Ho bị nhân lên gấp trăm lần khi bị đuổi về nhà bố mẹ đẻ. Nhiều người đã phải bật khóc khi vợ chết. Bởi vì theo luật tục – vợ chết, thì người chồng sẽ bị chị vợ (hoặc em vợ) bắt làm chồng. Nên ở Đam Rông, có một bà dì đã “bắt” thằng cháu rể (vợ chết) kém mình tới… 17 tuổi làm chồng, mà điều đó theo luật tục thì “không có gì phải bàn cãi”. 
Khi đặt bút viết bài này, tôi vẫn bị ám ảnh bởi giọt nước mắt đã cố nén chặt của anh TuPrông Doanh – 38 tuổi, người Chu Ru ở Đơn Dương. Anh đã đưa vợ chạy chữa khắp nơi bởi căn bệnh nan y, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi tiếng gọi của Giàng. Ngày vợ mất, anh phải làm thịt một con trâu thết đãi dân làng. Một năm sau, lại làm thịt một con trâu nữa cho lễ xây mộ, theo đúng lệ làng đã đặt ra. Sau lễ xây mộ, dòng họ nhà gái họp lại để thực hiện tục “đuổi con rể về nhà gốc”. Mọi lý lẽ đều bị bác bỏ, mặc dù vợ chồng anh đã xây nhà, ra ở riêng với 2 đứa con trai, cháu lớn đang học lớp 8, cháu nhỏ đang học lớp 5. TuProng Doanh nghẹn ngào: “Vì quá thương con nên tôi và dòng họ nhà tôi đã hết lời năn nỉ cho tôi được ở lại nuôi con, nhưng bên họ ngoại quyết giữ luật cũ. Cuối cùng bố con tôi phải chia lìa, tôi sức dài vai rộng thế này lại không được nuôi con, trong khi bà ngoại quá già yếu lại quyết giành lấy gánh nặng nuôi dạy con tôi”. Chính vì vậy, hai đứa con anh không những mồ côi mẹ, mà còn mất cả cha…
3. Rắc rối táng tục
Trong các nghi thức chôn cất người chết của các tộc người Chăm ở Bình Thuận, người Mạ, Cơ Ho, Chu Ru ở Lâm Đồng tồn tại nhiều hủ tục làm khánh kiệt nhiều gia đình… Ông Bố Xuân Hổ đã có trên 30 năm nghiên cứu văn hóa Chăm với nhiều đề tài được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đánh giá cao. Ông cho biết, ngày xưa một đám ma của người Chăm theo đạo Bà La Môn có thể kéo dài đến nửa tháng. Người Chăm theo đạo Bà Ni kết thúc một đám ma khi đã ăn hết 2-3 con trâu… Dĩ nhiên chỉ những gia đình giàu có mới có thể làm ma cho cha mẹ mình như thế. Ngày nay, đám ma của người Chăm vẫn kéo dài nhiều ngày. Quan niệm của người Chăm cổ là làm đám tang càng lớn là càng báo hiếu cha mẹ. Cũng theo nhà nhiên cứu Hổ, ngày nay trong đời sống văn hóa của đồng bào Chăm vẫn còn nhiều hủ tục, thậm chí có những hủ tục đã bị lãng quên thì lại được tái hiện. Chẳng hạn mới hỏa táng xong, mới chỉ nghỉ một ngày là lại cất rạp ngoài đồng làm lễ cúng tạ làng. Việc tang cần 18 thầy cúng! Hiện nay tỷ lệ nghèo trong đồng bào Chăm vẫn còn thuộc diện cao. Hầu như nhà nào cũng phải có sự trợ vốn của ngân hàng khi vào mùa vụ. Nhiều nhà không có tiền trả ngân hàng khi đáo hạn phải vay nóng tư thương ở ngoài với lãi suất cao. Đến vụ thu hoạch, chưa kịp phơi lúa thì chủ nợ đã đến sân phơi chờ lấy lúa nợ. Tiến sĩ y khoa Miêu Tiểu Chông, người Chăm đầu tiên có bằng tiến sĩ y khoa mà Báo Thanh Niên từng đề cập, không giấu được nỗi băn khoăn, trăn trở về cuộc sống của đồng bào. Theo anh nói, thay đổi một tập quán không dễ chút nào. Hiện nay Bệnh viện đa khoa khu vực bắc Bình Thuận nằm ở thị trấn Chợ Lầu trang bị khá đầy đủ thiết bị y khoa hiện đại, nhưng nhiều người vẫn tin vào các thầy cúng tế khi gia đình có người bệnh. Phan Hiệp là một xã dù nhỏ nhưng được đánh giá là có trình độ dân trí khá cao của tỉnh Bình Thuận khi có đến hàng chục thạc sĩ, bác sĩ, hàng trăm giáo viên, kỹ sư. Nhưng ở đây vẫn có một đám cúng kéo dài 3 ngày tại một gia đình trí thức khi trong nhà có người thân bị bệnh nặng. Ông Hắc Phú – Phó chủ tịch UB MTTQ huyện Bắc Bình – kể: Một đám thiêu (người Chăm theo đạo Bà La Môn khi chết là hỏa táng) phải cần từ 16-18 thầy cúng và hàng trăm người giúp việc. Nhiều sản vật làm lễ cúng xong lại bỏ đi. Mỗi đám như thế tốn kém vài chục triệu đồng. Ngày trước, ở xã Phan Hiệp mỗi khi có người chết đều phải lên rừng chặt cây về làm rạp ngoài đồng phục vụ lễ thiêu. Phải mất nhiều năm trời, với sự vận động của các trí thức Chăm, việc này mới được dỡ bỏ thay vào đó là dùng rạp sắt làm sẵn. Chia của cho người chết Người Mạ (Lâm Đồng) cho rằng người chết sẽ sống ở 5 tầng địa ngục, và nơi đây họ cũng cần phải ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, vui chơi, tang ma… Do vậy người chết phải có tất cả những gì mà người sống vốn có. Từ đó, trong người Mạ, Cơ Ho, Chu Ru xuất hiện tục chia của cho người chết. Cách đây không lâu, tại Lâm Hà (Lâm Đồng) có một ngôi mộ bị đào xới. Đó là nơi chôn cất một người Cơ Ho, được gia đình xác nhận là đã mất của cải chôn theo, gồm: vàng, tố, chóe, cồng chiêng… Không chỉ tố, chóe, ghè, vòng cườm, vòng đồng, nhẫn, khố, váy, nong, nia, ná, gùi… ngày nay người Mạ, Cơ Ho, Chu Ru còn chôn theo người chết cả xe máy, tivi, cassette… Cách để thể hiện lòng tiếc thương của dòng tộc và buôn làng là tặng quà cho người chết (quà càng có giá trị thì tình thương càng lớn). Ngoài ra còn tục giết trâu, bò, dê, gà, heo… để linh hồn chúng đi theo người chết về thế giới bên kia. Nếu người Cơ Ho ở Di Linh (Lâm Đồng) đâm một con trâu khi có người chết và đâm một con trâu nữa trong lễ bỏ mả, thì người Chu Ru ở Đơn Dương, người Mạ ở Bảo Lâm và Cát Tiên (Lâm Đồng) sẽ đâm từng con một cho đến hết đàn trâu để làm của cải cho người chết (vì họ quan niệm người chết lúc còn sống đã nuôi đàn trâu này).
Theo nhà nghiên cứu Bố Xuân Hổ, lễ nghi tín ngưỡng của đồng bào Chăm được chia thành hai vế: lễ nghi tuyệt đối và lễ nghi từng thời kỳ. Lễ nghi tuyệt đối như đám cưới, đám ma là không thể bỏ được. Lễ nghi từng thời kỳ là tùy theo mỗi giai đoạn của xã hội, cái nào xét thấy không còn phù hợp thì có thể loại bỏ, bởi nó không phải là bản sắc, vì thế không cần lưu giữ. Muốn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần phải hiểu nó có ý nghĩa gì. Nếu nó là một giá trị văn hóa nhất thiết phải gìn giữ và phát huy, nếu không thuộc phạm trù văn hóa thì không cần thiết phải gìn giữ.
4. Tảo hôn
Lấy chồng sớm, hôn nhân cùng huyết thống và gánh nặng con cái đang là một thực tế nhức nhối tại những vùng sâu vùng xa, nơi sinh sống của các tộc người bản địa Tây Nguyên, cũng như các tộc người mới di dân tự do từ khắp mọi miền Tổ quốc đến đây.
Ba chị em Điểu Hot Ka Tiên ở xã Đạ Tông, huyện Đam Rông đều bỏ học để lấy chồng. Năm đó Ka Tiên mới 16 tuổi, đang học lớp 7, hai cô em là Ka Nguyên sinh năm 1993, đang học lớp 4 và Ka Cảnh sinh năm 1995, học đến lớp 3, cũng theo gót chị.
Khi được hỏi tại sao bỏ học, Ka Tiên buồn rười rượi: “Vì bố mẹ bỏ nhau từ lúc chúng em còn nhỏ, nhà không có người làm việc mẹ phải bỏ dạy học để đi cuốc ruộng, lấy bông đót làm chổi, chúng em phải bỏ học để phụ mẹ nhặt rau, kiếm khoai, hái măng…”. Điều mà Ka Tiên không nỡ nói ra có lẽ là em lấy chồng để trong nhà có người đàn ông, có người làm việc.
Điệp khúc nghỉ học để lấy chồng cứ lặp đi lặp lại ở Đạ Tông. Em Cill Ka Lin cũng “bắt chồng” với anh Kon Dung Minh năm 2008 (lúc 17 tuổi) và bỏ dở năm học lớp 8. Đến nay vợ chồng Lin đã có con 3 tháng tuổi. Em Kra Danh Ka Tám cũng lấy chồng năm 17 tuổi, cũng bỏ học khi đang học lớp 9. Em Jơ Ông Ka Glang lấy chồng từ năm học lớp 6 nay đã có 2 con. Riêng trường hợp Kơ Đưng Ka Kông hiện đang học lớp 12 A1 trường Đạ Tông vừa mới tổ chức đám cưới tháng 1.2009. Đây là trường hợp khá cá biệt khi em có chồng vẫn tiếp tục đi học.
Trường hợp cá biệt thuộc về những người phản đối chuyện hôn nhân cùng huyết thống như anh Manuen (xã Đạ Long, Đam Rông, Lâm Đồng). Manuen không đồng ý với cuộc mai mối để lấy người em con cô ruột. Anh lên tận huyện Lạc Dương (hơn 100 km) để lấy vợ. Hiện nay có một số rất ít thanh niên ở buôn Bù Liêng (Lâm Hà) cũng phản đối các cuộc hôn nhân cùng huyết thống và họ vấp phải sự phản ứng rất quyết liệt của gia đình và dòng họ…
Câu chuyên nối dài đến xứ sở của người Mạ, người Stiêng cư trú ở thượng nguồn sông Đồng Nai, nơi đây không chỉ các em gái lấy chồng từ thuở 13 mà các em trai cũng thi nhau… nếm trái cấm lúc 12, 13 tuổi. Chúng tôi đã được dự đám cưới của Điểu Ka Phôn (xã Đồng Nai Thượng, Cát Tiên), Phôn nói: “Em 16 tuổi, chồng em 14 tuổi, đang học trường dân tộc nội trú ở Bình Phước”. Thế các em đã “lọt tầm cúi” (ngủ với nhau) từ bao giờ?”, Phôn cười, vừa hồn nhiên, vừa lúng liếng: “Từ năm ngoái” (nghĩa là quan hệ với nhau trước hôn nhân, lúc chồng Phôn 13 tuổi).
Đêm ở Đinh Trang Thượng (huyện Di Linh, Lâm Đồng), KB…, người Mạ, 17 tuổi, ngồi chơi đàn ghi ta, cứ ý nhị nhìn vào mắt chúng tôi mà hát rằng: “Mimoza từ đâu em tới…”. Chúng tôi hỏi anh đã có vợ chưa, bố anh bảo: “Vợ nó sắp đẻ đứa thứ 2”. Tôi thắc mắc: “Sao cho nó lấy vợ sớm thế?”. Ông trả lời: “Không cho nó lấy vợ để đi phá vợ người ta à?”…
Vợ chồng cùng huyết thống
Quan niệm của người Mạ ở phía bắc QL 20 vùng Di Linh và Bảo Lâm (Lâm Đồng) là: một cuộc hôn nhân lý tưởng là những cặp “con cùng một ruột, cùng một mẹ” lấy nhau. Vì người Mạ theo chế độ phụ hệ, nên con, cháu phía mẹ lấy nhau đều được chấp nhận, vì khác… họ. Điều đặc biệt là con cái đều gọi chị em bạn dì của mẹ là mẹ. Như vậy, con trai của chị gái, có thể lấy con gái của em gái và ngược lại.
Tương tự, ở bộ tộc mà người cha làm chủ gia đình, của cải được truyền cho con trai như người Bana, Sê Đăng… việc con cháu của chị gái lấy con cháu của em gái là chuyện… thường. Ngược lại ở các bộ tộc theo dòng họ mẹ, tất cả của cải trong gia đình truyền từ người mẹ sang người con gái như ở các sắc tộc Gia Rai, Ra đê, Raglai, Cơ Ho… thì việc con cháu của anh trai lấy con cháu của em trai cũng là chuyện… thường ngày ở huyện.
Hiện nay các dòng họ Liêng Hot, KJa Jăn, Buôn, Cill Múp, KSá, Kon Sơ, KRa Danh, Mbon… thuộc nhóm người Cill (dân tộc Cơ Ho) ở xã Đạ Long và xã Đạ Tông (Đam Rông, Lâm Đồng) vẫn giữ tục này. Chúng tôi dễ dàng tìm được hàng chục trường hợp kết hôn cùng huyết thống này, như: Vợ chồng ông bà KRang – Kông là con cô con cậu. Vợ chồng Ha Kroong và KPhiêng là cháu chú cháu bác. Vợ chồng ông Lơr và bà Ranh lại là con ông chú lấy cháu ông bác. Chị KBa cũng lấy người anh con ông cậu là anh Ha Pút.
Việc kết hôn cùng huyết thống qua rất nhiều đời khiến người Raglai ở Yahoa (xã Ma Nới, Ninh Sơn, Ninh Thuận) có chiều cao cực kỳ khiêm tốn. Phần lớn đàn ông, đàn bà vùng này cao trung bình khoảng 1,5m. Cũng tại đây nhiều gia đình sinh rất nhiều con, nhưng chỉ nuôi được một vài đứa, thậm chí có bà mẹ sinh tới 18 lần nhưng khi đến khi già thì không còn một người con nào.
Bao nhiêu con là đủ?
Păng Tinh Hơ Thuyền, 17 tuổi, bỏ dở lớp 7 ở trường PTCS xã Rô Men đi lấy chồng. Khi chứng kiến gia đình nheo nhóc của một bà mẹ trẻ bên 8 đứa con, chúng tôi không hình dung được chị Thuyền sẽ lấy gì để nuôi đàn con này no đủ hằng ngày, đừng nói gì đến chuyện đi học.
Chị Đặng Thị Hà, một phụ nữ Chăm khá trẻ và có nhan sắc ở thôn Cảnh Diễn (xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, Bình Thuận) mới 31 tuổi, nhưng đã có tới… 6 đứa con. Đứa con lớn nhất của Hà mới 12 tuổi và đứa nhỏ nhất hơn 3 tuổi. Ngôi nhà tuềnh toàng của 7 mẹ con Hà đang ở là nhà của mẹ cha để lại bởi chị là con gái út trong một gia đình cũng có đến 9 anh chị em ruột.
“Sao đẻ nhiều con vậy, 6 đứa rồi còn muốn thêm nữa không?”- tôi hỏi, Hà chỉ cười mà không trả lời. Nhà chỉ có 3 sào ruộng, nuôi 6 đứa con và mẹ già. Không hiểu một ngày đi cấy mướn mấy chục ngàn sao Hà có đủ tiền mua gạo nuôi con?
Vì sao phải sinh nhiều con? Chúng tôi đem thắc mắc hỏi ông Bố Xuân Hổ, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, ông cho rằng người Chăm có quan niệm “đông con là có phước”. Bởi thế chuyện một cô gái mới ngoài ba mươi mà có 6-7 đứa con như chị Hà không phải là hiếm.
SOURCE: BÁO THANH NIÊN

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: XÁC NHẬN LƠ MƠ, NGƯỜI KẾT HÔN GẶP KHÓ

PHAN NHÂN
Nhiều UBND xã chưa làm rõ tình trạng hôn nhân hoặc chưa xác định đương sự đã ly hôn theo bản án nào. Để đăng ký kết hôn, đương sự phải được cơ quan thẩm quyền xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng. Việc xác nhận có thể bằng tờ giấy riêng rẽ hoặc trong tờ khai đăng ký kết hôn. Nhưng nhiều UBND xã lại xác nhận chưa đầy đủ hoặc không chính xác về việc này, gây khó cho người muốn kết hôn lẫn các cơ quan chức năng.
Không nêu căn cứ
Thông tư 01 ngày 2-6-2008 của Bộ Taư pháp hướng dẫn: Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại… đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số… ngày… tháng… năm… của TAND…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai).
Tuy nhiên, nhiều xã của tỉnh Đồng Tháp đã chứng như thế này: “Nguyễn Thị Thùy Dung, đang cư trú tại…, đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Nguyễn Thị Bé Lan… chưa đăng ký kết hôn lần hai tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Phạm Kim Nga… trước năm 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn, sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”. Các xác nhận này đều chưa thể hiện được đương sự đã ly hôn theo bản án nào, do TAND nào xét xử.
Không đúng sự thật
Không chỉ thiếu sót, nhiều xác nhận còn sai hoàn toàn. Như bà N. (tỉnh Đồng Tháp) kết hôn với một người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), đã ly hôn theo bản thuận tình ly hôn do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật (Đài Loan) cấp năm 2004 và được Sở Ngoại vụ TP.HCM hợp pháp hóa lãnh sự năm 2005. Đầu năm 2009, bà N. đến UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để chuẩn bị nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với một người Đài Loan khác.

Lần thứ nhất, tờ khai đăng ký kết hôn của bà được xác nhận như sau: “Nguyễn Kim N…, đăng ký kết hôn lần thứ nhất là đúng sự thật” (?). Đến khi liên hệ lại với UBND xã để xin xác nhận lần hai theo yêu cầu của Sở Tư pháp tỉnh thì bà được xác nhận như sau: “Nguyễn Kim N. đăng ký kết hôn lần thứ II là đúng sự thật”. Do nội dung xác nhận lần hai vẫn chưa đạt yêu cầu nên hồ sơ của bà tiếp tục bị từ chối. Kết cục, bà N. phải cố gắng quay trở lại UBND xã để được xác nhận lần ba theo đúng quy định của Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ và khoản 2 mục II Thông tư số 01 nêu trên. Đó là: “Nguyễn Kim N… đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Bản thuận tình ly hôn…, được hợp pháp hóa lãnh sự ngày…, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai”.
Hay như trường hợp của bà Trần Thị Tuyết A., trước đây đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh An Giang. Cuối năm 2007, sau khi ly hôn, bà A. chuyển hộ khẩu đến tỉnh Đồng Tháp. Đầu năm 2009, trước khi đăng ký kết hôn với một Việt kiều Canada, bà đã được UBND xã ở tỉnh Đồng Tháp xác nhận như sau: “Trần Thị Tuyết A…, từ trước đến nay sống tại địa phương chưa và không kết hôn với ai cũng như không chung sống như vợ chồng với bất kỳ ai. Hiện tại đang sống độc thân. Xin đăng ký kết hôn lần thứ nhất là đúng” (?).
Theo Thông tư 01 nêu trên, đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau mà UBND cấp xã nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó thì đương sự phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan. Như vậy, nếu không rõ tình trạng hôn nhân của bà A. ở nơi cư trú cũ, xã phải yêu cầu bà A. làm bản cam đoan. Việc “nhắm mắt” xác nhận dễ làm rối cho tất cả các bên liên quan.
SOURCE; BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ XÁC NHẬN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN KHÔNG CHÍNH XÁC

PHAN NHÂN
Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho cá nhân là nhằm chứng minh tình trạng hôn nhân của đương sự trong thời điểm hiện tại để sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc thực hiện vào các mục đích khác và thẩm quyền xác nhận là do UBND cấp xã nơi cư trú của đương sự. Thời gian qua, một số UBND cấp xã đã xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ ràng, thiếu chính xác, không thể hiện được tình trạng hôn nhân của đương sự. Do đó, cơ quan tiếp nhận không thể biết tình trạng “hôn nhân thực” của đương sự.
Thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định 158), Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 158 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Thông tư số 01) thì việc xác nhận tình trạng hôn nhân của một người được thể hiện bằng hai hình thức: xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn trong nước và có yếu tố nước ngoài (dùng cho kết hôn) hoặc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định (dùng cho kết hôn và mục đích khác). Thực tế thời gian qua địa phương đã thực hiện tốt vai trò này và giúp cho người dân thực hiện các thủ tục, giao dịch của mình được thuận lợi hơn cũng như thể hiện vai trò quản lý Nhà nước. Tuy nhiên dù đã được Sở Tư pháp nhiều lần hướng dẫn thông qua công tác kiểm tra, các bài viết đăng trên chuyên mục của Bản tin Tư pháp… nhưng vẫn còn tình trạng nhiều cán bộ Tư pháp lúng túng trong việc tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận sai, chưa đầy đủ trong nội dung xác nhận này.
1. Xác nhận tình trạng hôn nhân, mỗi nơi một kiểu!
Qua việc tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Sở Tư pháp, phát hiện hơn 90% các nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND cấp xã thực hiện chưa chính xác, chưa đầy đủ, không đúng với tình trạng hôn nhân thực tế của đương sự, không thống nhất với nhau, sai quy định và không căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư số 01 mà mỗi nơi có “sáng kiến” riêng. Sau đây chúng tôi “giới thiệu” một số nội dung xác nhận sai để cán bộ Tư pháp hộ tịch rút kinh nghiệm.
“Nguyễn Thị Thùy Dung sinh năm 15/01/1982 HKTT: ấp 1, xã TK-TM-ĐT đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Đ/s Nguyễn Thị Bé Lan SN: 1979 ngụ ấp ĐH, xã TTĐ, thành phố C – Đồng Tháp chưa đăng ký kết hôn lần 2 tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Đ/s Phạm Kim Nga SN 1984 cư trú ấp Bình Hòa xã BT, LV, Đồng Tháp từ trước 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”; “Công dân Trần Thị Kim Phượng, SN 1981 có HKTT ấp An Hòa, xã MAHB, huyện LV tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”; “Đ/s Hà Thị Nhung, SN 29/9/1972, HKTT ấp Hòa Trung, xã HT, huyện CT-ĐT. Đã ly hôn nay đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”… Qua đây, ta thấy rằng nội dung các xác nhận trên chưa thể hiện việc đương sự đã kết hôn và ly hôn theo Bản án ly hôn số…, ngày…, tháng…năm… của Tòa án nhân dân…., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, cơ quan tiếp nhận, nhất là Sở Tư pháp từ chối nhận hồ sơ đăng ký kết hôn vì nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của đương sự “không đảm bảo” và không biết tình trạng hôn nhân hiện tại của đương sự như thế nào. Và “đương nhiên” đương sự phải xác nhận lại (có UBND xã xác nhận đến… 3 lần vẫn không đúng). Dù lỗi này của UBND cấp xã và cán bộ Tư pháp hộ tịch, người trực tiếp tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận “không chuẩn” nhưng gây phiền hà cho người dân phải đi lại nhiều lần. Việc này trái với các quy đinh tại khoản 2, Mục I của Thông tư số 01.

2. Xác nhận tình trạng hôn nhân nhiều lần, vẫn không xong!
Bà Nguyễn Kim N, sinh ngày 15/7/1980 thường trú tại 989C, ấp Mỹ Tân, xã PĐ, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp kết hôn với ông Chen Kuan Hung, người Đài Loan, đã ly hôn theo Bản thuận tình ly hôn số 004461 do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật – Đài Loan cấp ngày 11/10/2004 và được Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hợp pháp hóa lãnh sự số 125/LS-HPH ngày 12/01/2005. Ngày 19/02/2009, bà N đến UBND xã PĐ xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để tiến hành nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với ông Lai Shih Chi cũng là người Đài Loan. Trong tờ khai đăng ký kết hôn của bà có nội dung xác nhận như sau: “Nguyễn Kim N, sinh năm 1980 thường trú ấp Mỹ Tân, xã PĐ, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần thứ nhất là đúng sự thật”. Sau khi cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp thẩm tra hồ sơ kết hôn và phát hiện nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND xã PĐ không đúng với tình trạng hôn nhận hiện tại của bà N (vì bà N đã kết hôn và ly hôn) nên yêu cầu bà N liên hệ với UBND xã PĐ xác nhận lại lần thứ hai. Ngày 23/02/2009 UBND xã PĐ có “sửa chữa, bổ sung” trong nội dung xác nhận và nội dung xác nhận lần thứ hai: “Nguyễn Kim N, sinh năm 1980 thường trú ấp Mỹ Tân, xã PĐ, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần thứ II là đúng sự thật”. Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của bà do UBND xã PĐ thực hiện lần hai vẫn chưa đúng và chưa thể hiện chắc chắn được về tình trạng hôn nhân của bà nên Sở Tư pháp “không dám” nhận hồ sơ của bà vì rằng đúng là bà N đăng ký kết hôn lần hai nhưng trong nội dung xác nhận chưa thể hiện được là bà N đã ly hôn theo bản thỏa thuận ly hôn do cơ quan có thẩm quyền phía Đài Loan cấp, và hiện tại đã kết hôn với ai chưa. Do đó, bà N lại phải “tiếp tục” trở lại UBND xã PĐ để xác nhận tình trạng hôn nhân của mình lần thứ ba, dù bà N hoàn toàn không có lỗi gì trong việc xác nhận không chính xác này.
Với những thông tin cơ bản về tình trạng hôn nhân của bà N, căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 2, Mục II Thông tư số 01 và Nghị định 158 để xác nhận tình trạng hôn nhân của bà N là: “Bà Nguyễn Kim N, sinh ngày 15/7/1980 hiện đang cư trú tại 989/C, ấp Mỹ Tân, xã PĐ, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp, đã đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản thuận tình ly hôn số 004461 do Phòng Hộ chính huyện Miêu Lật – Đài Loan cấp ngày 11/10/2004 và được Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hợp pháp hóa lãnh sự số 125/LS-HPH ngày 12/01/2005, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai và đăng ký kết hôn lần này là lần thứ 2”, như thế mới đảm bảo được tính chính xác trong nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của bà N.
3. Xác nhận một nơi, chưa đủ
Bà Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 05/7/1979 trước đây đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã MH, huyện C, tỉnh An Giang đã ly hôn với ông Nguyễn Văn B theo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2007/HNGĐ-ST ngày 22/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện C. Cuối năm 2007, bà A chuyển hộ khẩu từ An Giang về xã LH, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 18/01/2009 bà A đến UBND xã LH yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với ông C, Việt kiều Canada. Trong tờ khai đăng ký kết hôn của bà A do UBND xã LH xác nhận có nội dung: “Bà Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 08/3/1979 thường trú tại ấp 1, xã LH, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Từ trước đến nay sống tại địa phương chưa và không kết hôn với ai, cũng như không chung sống như vợ chồng với bất kỳ ai. Hiện tại đang sống độc thân. Xin đăng ký kết hôn lần thứ nhất là đúng”.
Xác nhận như thế, cán bộ Tư pháp hộ tịch xã LH cho rằng bà A chỉ mới đăng ký hộ khẩu tại xã LH từ cuối 2007 và từ đó đến nay không có đăng ký kết hôn với ai là sự thật còn việc kết hôn và ly hôn trước đây của bà A ở An Giang thì bà A phải quay về đó mà xác nhận.
Theo quy định tại Điều 67, Nghị định 158 và hướng dẫn tại khoản 2, Mục II của Thông tư số 01 thì nội dung xác nhận như trên của UBND xã LH là “vừa thừa, vừa thiếu” và thể hiện không đúng tình trạng hôn nhân thực tế của bà A. “Thừa” là do nội dung xác nhận “khá dài” và lập luận mang tính “bắn bổng” làm cho nơi tiếp nhận không thể biết tình trạng hôn nhân thực tại của bà A. Còn “thiếu” là vì không thể hiện được nội dung bà A đã kết hôn và ly hôn theo bản án của Tòa án. Ngoài ra, dù bà A đã kết hôn và ly hôn ở An Giang nhưng khi về đăng ký hộ khẩu thường trú và yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thì UBND xã LH phải xác nhận cả những sự kiện hôn nhân của bà A trong thời gian ở An Giang, như thế mới là đủ. Vì đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà UBND cấp xã nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi cư trú trước đây của đương sự, thì phải yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan.
Do đó, căn cứ Điều 67, Nghị định 158 và hướng dẫn tại khoản 2, Mục II của Thông tư số 01 nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của bà A phải là: “Bà Trần Thị Tuyết A, sinh ngày 08/3/1979 thường trú tại ấp 1, xã LH, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đã đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2007/HNGĐ-ST ngày 22/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang, hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai và đăng ký kết hôn lần này là lần thứ 2”.
4. Hậu quả của việc xác nhận sai
Việc khẳng định trong nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân là một vấn đề rất quan trọng, pháp luật hiện hành đã giao “trách nhiệm” này cho UBND cấp xã thì phải xác nhận cho chính xác và đầy đủ nội dung chứ không nên xác nhận theo dạng “lấp lửng”, ai hiểu sao cũng được, sẽ gây khó khăn cho đương sự, cơ quan tiếp nhận và ngay cả UBND xã nơi xác nhận, thậm chí có thể dẫn đến những sai sót trong nghiệp vụ của các cơ quan chức năng.
Ngoài ra, nếu nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân không chặt chẽ từ “đang có vợ chồng” mà xác nhận thành “độc thân” thì vô tình UBND cấp xã đã “cấp giấy thông hành” cho đương sự tự do đăng ký kết hôn với người khác thì hậu quả vô cùng nghiêm trọng và cán bộ Tư pháp hộ tịch nơi xác nhận sai cũng phải có trách nhiệm trước pháp luật. Cũng vì “tiếp tay” xác nhận tình trạng “độc thân” trong tờ khai đăng ký kết hôn của đương sự trong khi đương sự đang có “chồng, vợ” mà hàng loạt cán bộ Tư pháp hộ tịch, Chủ tịch, Phó Chủ tịch cấp xã ở tỉnh TN đã bị kỷ luật, cách chức.
Để thực hiện tốt chức năng này, cán bộ Tư pháp cần phải thường xuyên nghiên cứu quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 và Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001, Nghị định 158, Thông tư số 01… tùy từng trường hợp mà áp dụng chính xác để tránh tình trạng xác nhận sai gây phiền hà cho người dân, “mất uy tín” với cơ quan tiếp nhận, tốn thời gian và công sức của người dân cũng như tiềm ẩn tranh chấp và trách nhiệm pháp lý sau này.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Trích dẫn từ:

THẢM QUYỀN HUY BỎ GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THÀNH XUÂN
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.
Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.
Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Thực tế, giấy chứng nhận kết hôn được cấp bởi UBND cấp xã, tỉnh, do đó dự thảo Nghị định 76 sửa đổi, bổ sung nên giao cho UBND cấp huyện hoặc tỉnh (đối với việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài) là cơ quan đầu mối thống nhất có thẩm quyền xử lý giấy chứng nhận kết hôn. Sổ đăng ký kết hôn được quản lý lưu trữ ở các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn nêu trên nên khi Quyết định thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật sẽ thuận tiện cho việc quản lý lưu trữ tình trạng hôn nhân của các công dân và công dân có quyền đăng ký kết hôn lại khi đủ các điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:

QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN VỀ SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN

LÊ HỒNG NHẬT
Trong vài thập niên gần đây, rất nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện tượng liên quan đến tình dục của giới trẻ như “sống thử”, nạo thai, đang ngày càng phổ biến. Và điều đáng nói là cơn sốt “tình yêu” đó cũng đã ảnh hưởng tới giới sinh viên. Nên nhìn nhận vấn đề này thế nào? Đó chính là chủ đề nghiên cứu thu hút sự chú ý của nhóm các bạn sinh viên Khoa Kinh tế, ĐHQG TP HCM, gồm Hải Yến, Phương Hà, Ánh Hồng, Đan Thanh, và Lệ Thủy.
Dựa trên những nghiên cứu xã hội học và tâm lý học, các bạn đã phân chia các yếu tố chi phối ý muốn có quan hệ tình dục trong sinh viên thành hai nhóm chính sau: Thứ nhất là giáo dục và nhận thức. Điều này bao gồm các yếu tố chính như quan điểm cá nhân về tình dục trước hôn nhân và sự quan tâm của gia đình. Và thứ hai là điều kiện cá nhân. Bao gồm các điểm chính như hoàn cảnh kinh tế, điều kiện nhà ở, quan hệ yêu đương, giới tính, và nỗ lực học tập.
Đối với nhóm nhân tố thứ nhất, nổi lên rõ rệt nhất là nhận thức hay quan điểm của sinh viên về vấn đề sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân. Trong xã hội Việt nam, khi mà việc cha mẹ chỉ bảo con cái về quan hệ yêu đương, và việc giảng dạy trên học đường về hôn nhân, gia đình, còn có phần nào hạn chế, thì giới trẻ tự trang bị cho mình kiến thức về lĩnh vực đó qua nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh, tạp chí về yêu đương và gia đình, và cả các trang web về tình dục. Và cũng như ở mọi xã hội, quan điểm của giới trẻ chia thành 3 cấp độ: cho rằng đó là việc không nên làm, bình thường – không phê phán, cũng không hùa theo, và cuối cùng là có cái nhìn thoáng. Ngay ở điểm cuối cùng này cũng phức tạp hơn chúng ta nghĩ. Cái nhìn thoáng có thể là do bạn trẻ tò mò, hoặc thả mình theo kiểu thích “sống thử”, để sau này khỏi phải bị nhầm khi sống thật. Cũng có thể xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn. Chẳng hạn như một số sinh viên cho rằng, “sống chung là một cách thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình, quan hệ tình dục, vân vân, khi mà trinh tiết người con gái không phải là cái gì giữ ngọc gìn vàng" [theo tamlyhoc.net]. Thật sự, nếu với ý nghĩa như thế thì "sống thử" không hẳn là đáng chê trách mà còn có các khía cạnh tốt. Và tình dục ở đây chỉ là một điểm, dù là rất quan trọng, nhưng không phải là tất cả của việc sống thử. Điều này càng có ý nghĩa hơn, nếu ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hy sinh, và sự tự chủ bản thân, chứ không phải là một sự thỏa mãn, lợi dụng nhau về xác thịt hay tiền bạc.

Như vậy, cái nhìn thoáng trong quan hệ chung sống trước hôn nhân có hai khía cạnh đối lập, tương phản nhau, và có thể dẫn đến những hệ quả rất khác nhau. Điều đó khiến cho quan niệm xã hội về sống chung hay tình dục trước hôn nhân bị giao động theo kiểu con lắc giữa ủng hộ và phản đối. Cũng chính vì vậy, ảnh hưởng của gia đình tới hành vi tình dục của giới trẻ là khá phức tạp.
Số đông cho rằng, sự quan tâm sâu sắc của gia đình sẽ làm giảm khả năng con cái tới tuổi trưởng thành muốn có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Dựa trên kết quả điều tra 110 bạn sinh viên của các trường đại học KHXH-NV, Bách khoa, Nông- Lâm, Sư phạm kỹ thuật, TDTT, và Khoa Kinh tế- ĐHQG tại Thủ đức, nhóm sinh viên tiến hành nghiên cứu về đề tài này đã đi đến một kết luận ngược lại. Kết quả phân tích của họ cho thấy quan niệm về tình dục, và sự quan tâm của gia đình đều ảnh hưởng một cách rất có ý nghĩa tới quyết định “sống thử” của sinh viên. Tuy nhiên, họ lại phát hiện ra rằng, gia đình càng quan tâm, thì khả năng người sinh viên chọn việc “sống thử” càng cao. Dĩ nhiên, để có được kết quả tin cậy về mặt thống kê, số mẫu điều tra có thể phải lớn gấp mười lần, khoảng 1000 mẫu. Nhưng khám phá này hết sức phù hợp với phân tích tâm lý học nêu trên. Nếu sự quan tâm của gia đình là một sự o ép, giáo điều, thì có thể kích thích tâm lýnổi loạn của người sinh viên khi vượt ra khỏi vòng cương tỏa của gia đình, thậm chí dẫn đến sự buông thả. Ngược lại, nếu sự quan tâm đó là việc hướng đích, tạo sự tự tin, và tôn trọng quyền suy xét lựa chọn của con cái, thì điều đó khiến cho người sinh viên có cái nhìn đúng hơn, và dám tự quyết định, tự trải nghiệm hơn với người mà họ thật sự yêu đương và muốn gắn bó. Cả hai thái cực này, về mặt xác suất, đều làm tăng khả năng người sinh viên chọn sống chung trước hôn nhân.
Nhóm yếu tố thứ hai là điều kiện cá nhân. Trong đó, yếu tố thường hay được nói đến nhất là điều kiện kinh tế. Nghiên cứu của nhóm sinh viên nêu trên đã chỉ ra rằng, phí tổn sống ở đô thị, bao hàm cả chi phí sinh hoạt và tiền thuê nhà trọ, chi phối khả năng sinh viên chọn sống chung với bạn tình. Nếu xét riêng rẽ, điều này có thể dẫn đến nhận định rằng, việc sinh viên sống chung là nhằm giảm phí tổn sống. Vì vậy, nhiều phân tích tương tự đã vội kết luận rằng, động cơ kinh tế dẫn đến quan hệ tình dục trong sinh viên, hơn là vì một tình cảm lâu bền. Nghiên cứu của nhóm sinh viên cho thấy kết luận ngược hẳn lại. Cụ thể là họ phát hiện rằng, sự chi phối về kinh tế nhường bước cho quan hệ yêu đương, và những cân nhắc về các hệ quả có thể xẩy ra do việc sống chung mang lại.
Điều ai cũng biết là ở Việt Nam, khi một cặp đang yêu đương bị xẩy ra những việc đáng tiếc như có thai ngoài mong muốn, thì phản ứng của gia đình và xã hội đối với người phụ nữ thường là nặng nề hơn. Và nếu quan hệ có sự trục trặc xẩy ra, thì người phụ nữ cũng thường phải gánh hậu quả lớn hơn. Nếu quan hệ tình dục là hệ quả của những suy xét thiếu chín chắn, vị kỷ, hoặc thậm chí trục lợi, thì rõ ràng những tình huống kiếu này thường ít được tính đến trong quyết định của hai người tham dự vào quan hệ. Và vì vậy những hậu quả đó lại thường hay xẩy ra. Ngược lại, nếu đó là quyết định được suy xét bởi những người hiểu rõ trách nhiệm về việc mình làm, thì gánh nặng rủi ro của người phụ nữ, nếu kết cục xấu thực sự xẩy ra, phải được cả hai cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đi đến quyết định “sống thử”. Vì vậy, việc có hay không tiếng nói của người phụ nữ trong quyết định về “sống thử” có thể được xem như một tín hiệu cho thấy quan hệ đó đang đi theo chiều hướng nào, tích cực hay tiêu cực.
Nghiên cứu của nhóm sinh viên từ việc điều tra 110 bạn ở Thủ đức trên đã chỉ ra rằng, việc quyết định có sống chung hay không, không phải bị chi phối chủ yếu bởi lý do kinh tế, hay bởi đòi hỏi của phái mạnh như nhiều người nghĩ, mà chủ yếu là do sự chấp thuận hay không của người phụ nữ trẻ về việc người nam giới về sống chung với mình.
Nghiên cứu cũng cho thấy, trong nhiều trường hợp, sống chung là hệ quả của tình yêu hơn là một sự tò mò đơn thuần. Hơn nữa, ý nguyện muốn thành công trong học tập và cuộc sống làm chậm lại khả năng những cặp sinh viên đang yêu đương đó muốn đi đến sống thử. Như thông lệ, những suy xét này được cân bằng với tính toán về phí tổn sống, mà nó có thể thúc đẩy mạnh hơn ý nguyện các cặp sinh viên tìm cách sống chung để chia sẻ trách nhiệm. Nếu nhìn nhận như vậy, thì tình dục chỉ là một trong rất nhiều khía cạnh của “sống chung” trước hôn nhân. Và việc chọn sống chung trong sinh viên có thể có nhiều khả năng là đang đi theo giác độ tích cực hơn là tiêu cực. Điều này không có nghĩa là một sự buông mặc. Ngược lại, nghiên cứu chỉ ra rằng cơ hội cho những trao đổi cởi mở và công khai về tình yêu hôn nhân, và giáo dục về an toàn tình dục đang trở nên hết sức cấp thiết tại các trường đại học.
SOURCE: CHUNGTA.COM
Trích dẫn từ:

THỰC TRẠNG TẢO HÔN Ở VÙNG TÂY BẮC: CHUYỆN BUỒN "BẮT VỢ"


Untitled-1.psd BÙI HƯƠNG
Trời Tây Bắc xầm xì, dòng sông Đà bắt đầu mùa lũ. Xuôi theo sông, chúng tôi tìm về các bản Mông cao tút hút. Vẳng trong không gian, trên các sườn núi, lời hát tìm bạn của các chàng trai Mông ngân lên: Cú cò, nhỉa cò, cú nhỉa cò… (anh và em, anh và em yêu nhau) báo hiệu cho một mùa “bắt vợ”, “kéo vợ” bắt đầu…
Làm vợ từ thuở… 12
Tập tục “kéo vợ” của người Dao hay “bắt vợ” của người Mông vốn là một tập tục có từ lâu đời. Thông thường, vào những ngày rỗi việc, thóc, ngô đã về yên trong bồ, các chàng trai Mông, Dao thường nhờ cánh bạn cùng lứa đi “bắt”, “kéo” vợ về cho mình. Khi chàng trai người Mông, Dao nào đó để ý đến một cô gái bất cứ ở lứa tuổi nào mà anh ta thích, anh ta sẽ tổ chức đi “bắt” hay “kéo” về nhà mình để cúng trình ma, dù cô gái kia có yêu anh ta hay không. Đã bị bắt về nhà, cúng trình ma rồi thì cô gái kia đã trở thành vợ, thành dâu nhà người. Cô gái sẽ phải ở vậy suốt đời, không ai nhòm ngó nếu không lấy chàng trai đó. Vùng đất Tây Bắc – thượng nguồn sông Đà mỗi mùa “bắt vợ” qua đi, người ta không thể thống kê được có bao nhiêu thiếu nữ người Dao, người Mông đẹp như bông tớ dầy đã có người yêu trở thành nạn nhân của tập tục này.

Ở Lai Châu, nơi nào có người Mông, Dao sinh sống là nơi ấy còn hiện hữu tập tục “bắt vợ”, “kéo vợ”, chỉ khác nhau ở mức độ do môi trường giao tiếp. Trong các huyện ở Lai Châu thì huyện Phong Thổ được coi là nơi có tập tục này tồn tại lâu nhất và ăn sâu vào tiềm thức người dân, đặc biệt là ở các xã xa xôi như Nậm Se, Mù Sang, Bản Lang… Để tìm hiểu cái hậu nghiệt ngã của tập tục này, tại bản Nậm Se, chúng tôi đã tìm gặp người mẹ trẻ Lý Thị Hợp. Ngôi nhà tranh gió thốc bốn bề, nằm sát bìa rừng là nơi cư ngụ của vợ chồng trẻ Lý Thị Hợp và Vàng Văn Việt. Nếu không đặt chân vào nhà, thấy người, thấy bếp thì người ta dễ nhầm đây là một cái chòi canh nương bị bỏ hoang từ lâu lắm rồi. Nhà của cặp vợ chồng trẻ này không có gì ngoài vài ba chiếc nồi méo mó, đen thui cùng ít váy áo cũ vắt trên chiếc sào nứa.
Lý Thị Hợp, người con gái phải chấp nhận tập tục “bắt vợ” của người Mông này đã phải làm vợ từ năm 12 tuổi. Là một cô bé xinh xắn, năm 12 tuổi, Hợp đang váy áo xúng xính cùng bạn bè đồng lứa đi chơi lễ hội Gầu Tào (một lễ hội của người Mông vào đầu mùa xuân) thì “được” Vàng Văn Việt (chồng của em bây giờ, hơn em 5 tuổi) “để ý”. Thế là Tết năm ấy, cuộc đời thiếu nữ của cô bé Hợp khép lại khi Vàng Văn Việt rủ tụi bạn chặn đường “bắt” em về làm vợ. Hợp có muốn học, muốn làm, muốn ở với bố mẹ đẻ nữa cũng bằng không thôi, “ma nhà chồng” đã “ghi tên” em vào “sổ” rồi! Không có lối thoát, không có sự lựa chọn, theo tập tục, cô bé Hợp ngơ ngác bước chân qua bậu cửa nhà chồng. Hai năm sau, cây đào trên núi lại đơm hoa đỏ thắm, chúng bạn cùng trang lứa chưa bị ai “bắt” vẫn vui vẻ chơi xuân, còn em phải nằm góc nhà trở dạ. 14 tuổi Hợp đã phải làm mẹ, tài sản không có gì, mẹ bé, con yếu, gia cảnh của em túng quẫn vô cùng. Hôm chúng tôi đến, Hợp đang ôm con ngồi hơ lửa và vá lại bộ quần áo cũ vừa xin được để chuẩn bị chống lạnh cho con khi những cơn gió mùa đang rin rít tràn về.
Cũng trong chuyến vào Phong Thổ lần này, tại Mù Sang, chúng tôi gặp người mẹ trẻ Vàng Thị Dợ. Dợ là một cô gái Dao. So với Hợp, Dợ vẫn may mắn hơn vì 16 tuổi em mới bị người ta “kéo” về làm vợ. Dợ bảo, trong một lần đi lấy rau cho lợn ngoài nương, em bị một người mà em không hề yêu thương lấy vải bịt mắt, vác về nhà cúng ma. Và, cũng như cô gái người Mông Lý Thị Hợp kia, Dợ đành phải chấp nhận lấy chồng theo tập tục. Dợ nói trong ánh nhìn buồn như mây mù: “Gái Mông, gái Dao ở đây là thế, bị người ta “bắt”, người ta “kéo” là phải lấy người ta thôi”.
Khi luật chưa thắng lệ
Bên bếp lửa rực hồng với chén rượu ngô, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng ông Tấn Văn Thông – Chủ tịch hội đồng nhân dân xã Nậm Se. ông Thông cho biết: “Chính quyền xã cũng đã tốn công, tốn sức tuyên truyền, vận động và có cả xử phạt nữa đấy, nhưng ở nơi này Luật (Luật Hôn nhân gia đình) vẫn chưa thắng cái lệ đâu…”.
Theo cách lý giải của ông Thông, tập tục “kéo vợ”, “bắt vợ” ở vùng Tây Bắc này vẫn hết sức nan giải. Điều nan giải nhất là tập tục này đã có từ lâu đời, nó đã trở thành một phần huyết tố, một “nếp nhăn” hằn đậm trong suy nghĩ của người dân. Tuổi lấy chồng đối với con gái người Dao, người Mông ở đây vẫn được “ấn định” từ 15-20 tuổi. Cô gái nào từ 20 tuổi trở đi, nếu không được ai “bắt”, “kéo” thì coi như đã “ế” rồi. Nếu muốn lấy được chồng, nhiều cô gái phải làm lễ đi tìm chồng cho mình, xấu hổ và tốn kém lắm.
Cũng theo ông Thông, do sự chi phối của tập tục cùng với điều kiện kinh tế, xã hội còn thấp kém nên tập tục “bắt vợ”, “kéo vợ” còn hết sức nan giải. Trong các nạn nhân của tập tục này chiếm phần rất nhỏ là tự nguyện còn lại là bị sức ép từ nhiều phía, trong đó lớn nhất vẫn là tập tục. Ngoài những sức ép như: sợ không ai “bắt”, “kéo”; sợ “ế” chồng thì con gái người Mông, người Dao còn bị sức ép từ phía cha mẹ. Nếu được người ta “bắt”, “kéo” vào độ tuổi từ 20 đổ lại thì gia đình nhà gái có quyền thách cưới, dù thách to hay nhỏ cũng có tiền đem về cho gia đình. Chính lý do này đã khiến các ông bố bà mẹ có con gái luôn luôn “ủng hộ” việc người ta “bắt”, “kéo” con gái mình trong độ tuổi ấy.
Với tâm trạng hết sức trăn trởV, chị Nguyễn Thị Thảo, y tá Trạm y tế xã Mù Sang ngậm ngùi: “Nhiều khi tôi rớt nước mắt trước những sản phụ tuổi chưa đến 15 quằn quại với những cơn đau quá sức. Chúng ngây thơ, vụng về đến tội nghiệp. Có trường hợp đòi bỏ về vì… đau quá không đẻ nữa. Không biết chúng sẽ sống ra sao khi phải làm mẹ ở lứa tuổi ấy”.
Các lớp học ở đây thỉnh thoảng lại vắng mất một bé gái. Cô giáo hỏi thì bạn bè cho biết là họ đã bị người ta “bắt”, “kéo” về làm vợ rồi. Vấn đề này đang là một thực trạng hết sức đau lòng ở đây. Riêng với y tá Thảo, 2 năm công tác ở Mù Sang, hàng chục lần chị đã tận mắt chứng kiến các em gái bị trai bản “bắt” và “kéo” về làm vợ. Chị thấy cám cảnh mà không làm gì được.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, Đồn biên phòng 277 được phân quản lý 3 xã là Suối Hồ, Nậm Se, Bản Lang. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới, anh em Đồn 227 còn trợ giúp cơ sở loại bỏ tập tục. Tuy nhiên, để giải quyết tập tục này không thể trong ngày một, ngày hai mà cần phải tác động từ từ vì đây là vấn đề hết sức nhạy cảm. Riêng năm 2006, 3 xã có tới gần 40 vụ trai, gái tự tử mà nguyên nhân sâu xa là bị người ta “bắt”, nhầm, “bắt” sớm hoặc do cha mẹ, người thân ngăn cản không cho đi “bắt”, đi “kéo”.
Chúng tôi rời Tây Bắc khi màu trong xanh của nước sông Đà biến thành đỏ quạch vì lũ đang cuồn cuộn đổ về. Không biết mỗi năm có bao thiếu nữ người Mông, người Dao phải gác mọi hồn nhiên, ngậm ngùi theo người ta về làm vợ khi chưa đến tuổi trăng tròn. Suy nghĩ và sự trăn trở cứ như chiếc đinh vít xoáy sâu vào đầu chúng tôi, gây ra một cảm giác nhoi nhói về một hủ tục buồn…
SOURCE: BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT
Trích dẫn từ:

SỐNG CHUNG NHƯNG… KHÔNG PHẢI VỢ CHỒNG

TS TÂM LÝ. ĐINH PHƯƠNG DUY
Đồng thuận đi tìm hạnh phúc là hiện tượng đang xảy ra ở một số người, không phải là một “thử nghiệm” theo nghĩa “sống thử” mà là chuyện “sống thật” như vợ chồng nhưng chưa vội kết hôn. Phần lớn các cặp này có quan điểm sống cụ thể và cũng công khai sống thật, có trách nhiệm với nhau và với cả hai bên gia đình như là đã từng được công nhận vợ chồng nhưng vẫn không tuyên bố là chồng là vợ.
Nhiều người khẳng định cách họ sống chung là hoàn toàn tự nguyện và không hề “thua kém” gì kiểu sống của vợ chồng thật, chỉ có điều họ không có những ràng buộc về nghĩa vụ tình cảm và pháp lý.
Điều khá bất ngờ và thú vị là có không ít người thành đạt lại cảm thấy hợp với “gu” sống chung này. Họ có học, có tiền, có nghề nghiệp ổn định nhưng lại thích hình thức “hợp tác” kiểu như thế, xem nó như một giải pháp hợp lý khi chuyện lập gia đình có vẻ không còn quá hấp dẫn đối với họ nữa.
Anh Trần Đ., kỹ sư đang làm việc cho một công ty cổ phần hào hứng kể về chuyện của mình như một hiện tượng đột phá khi cho rằng, chuyện sống chung giữa hai người độc thân là hoàn toàn bình thường vì họ không hề phạm luật cũng như không hề “đánh cắp” tình cảm hoặc phá tan hạnh phúc của bất kỳ ai. Họ thoả thuận sống với nhau theo những quy tắc riêng và hoàn toàn thoải mái nếu cả hai thống nhất việc chấm dứt hay tiếp tục mối quan hệ.

Tuy nhiên, theo chị T.A., chị đã có thời gian sống chung khá thoải mái và tự do với người mình thích, rồi việc sống chung đã chuyển sang… chung sống khi chị “dính bầu” và chuyện xem như… kết thúc. Họ trở thành vợ thành chồng một cách chính thức vì cả hai đều thương đứa con sắp sửa ra đời.
Nhiều người cũng thắc mắc tự hỏi rằng, tại sao sống hợp nhau sau nhiều năm như thế mà lại không chịu kết duyên vợ chồng? Tại sao họ lại thích sống chung mà không muốn chung sống cả đời? Tại sao họ không ngại thiên hạ đồn đại chuyện “già nhân ngãi non vợ chồng”?…
Tất nhiên mọi việc đều có nguyên nhân nhưng nếu nghe vài lời tâm sự của chị K. thì có thể ai đó sẽ cảm thấy cuộc đời sao mà… đơn giản đến vậy! Chị K. cho biết mình rất thoải mái chấp nhận sống chung với người yêu chỉ vì cả hai đều muốn được tự do.
Họ sống với nhau nhưng không ai “bắt” người kia trở thành “vật sở hữu” của mình, không ai buộc người kia phải có trách nhiệm với gia đình mình, không ai đòi người kia phải có với mình một đứa con, không ai muốn người kia trở thành tổng chỉ huy trong nhà, không ai thích người kia cứ ghen tuông vô cớ, không ai sợ người kia tìm cách thay đổi mình, không ai chịu người kia… quản lý khoản tiền mình có…
Sống chung như vậy quả thực là tự nhiên “hết ý” và tự do… hết cỡ. Những lý do ấy có thể là một thực tế sẽ phải đối diện, có thể cũng là những nguyên tắc sống chung.
Không phải chỉ có những người xa nhà mới có khuynh hướng sống “hợp đồng” mà cả những người có cơ ngơi đàng hoàng cũng muốn thể hiện quan điểm riêng của mình. Một người mẹ đã từng nhiều phen bực tức khi người con trai không chịu làm lễ cưới mà cứ vẫn mỗi tuần cùng người yêu về thăm mẹ thường xuyên. Bà biết “chúng nó” đã sống chung với nhau nhưng sao chẳng thể gọi cô gái kia là con và phía kia, cô gái ấy vẫn cứ một điều bác ơi, hai điều bác ạ như chẳng hề biết người mẹ kia đang rất thèm có đứa cháu để bế bồng…
Mặt khác, không ít người đang trải nghiệm sự sống chung là những người không phải quá già để bị xem là “lỡ thì quá lứa” nhưng cũng không quá trẻ để cho là non dạ nhất thời. Một số trong họ đã là chủ nhân chính thức của tờ hôn thú sau thời gian sống chung vui vẻ nhưng số khác vẫn tiếp tục hành trình ăn chung, ngủ chung… nhưng lại chưa chịu chung mẹ, chung cha…
Quan điểm tự do cá nhân trong việc lựa chọn cuộc sống hôn nhân dường như có vẻ chuyển dịch theo khuynh hướng… thích cứ là độc thân trong mắt nhìn của người “bạn đời” như trên, phải chăng đang phản ánh một sự thay đổi về giá trị đối với hôn nhân? Phải chăng đó là dấu hiệu của sự thay đổi quan niệm về gia đình hay chỉ là “một thoáng phiêu lưu” của “những người thích đùa” trong ngẫu hứng lãng mạn của mình?
Sống chung hay chung sống, thực chất là cùng hướng về sự đồng thuận và thống nhất để đi tìm hạnh phúc đích thực, nếu bị lạm dụng để nguỵ trang hoặc nguỵ biện hay… nguỵ tạo thì sự rủi ro vẫn cứ rình rập chúng ta và do đó, bất trắc có thể xảy đến. Hãy sống hết mình và trách nhiệm, hãy sống thực lòng và thiện chí thì hy vọng sẽ được dậy lên, hạnh phúc sẽ mỉm cười thân thiện với mỗi ai muốn đạt được nó.
SOURCE: BÁO SÀI GÓN TIẾP THỊ

SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN: VUI ÍT, BUỒN NHIỀU



cohabitation1 copy KIM ANH
Theo kết quả điều tra từ đề tài khoa học “Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới trẻ độc thân tại TP.HCM trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình trẻ” (Sở Khoa học công nghệ TP.HCM quản lý), có đến 45,2% đối tượng phỏng vấn thừa nhận cuộc sống chung của họ đang có nhiều nỗi lo và không loại trừ khả năng có thể chia tay (7,9%)…
Ngay từ khi mới tiến hành đề tài nhóm phỏng vấn đã rất khó khăn để tìm ra đối tượng ở địa bàn cư trú và thuyết phục họ tham gia cuộc phỏng vấn. Vì thế nhóm phỏng vấn đã tìm đến các… bệnh viện phụ sản, nơi có những văn phòng tư vấn cho các cô gái trẻ trước khi tiến hành các ca phẫu thuật nạo phá thai, để có thể tiếp cận với đối tượng.
Sự chia tay được dự báo
Một nam công nhân sinh năm 1980, đang sống chung với người yêu lớn hơn hai tuổi tại quận Gò Vấp (TP.HCM) cho biết: “Lúc đầu còn thấy vui, 2-3 tháng đầu còn đi chơi, sau đó thấy cuộc sống không thoải mái và nhàm chán. Càng sống với nhau lâu càng chán”.
Họ chán chường vì nhiều lẽ. “Không gian của tình yêu”, theo nghiên cứu, chủ yếu là những phòng trọ có diện tích khoảng 18m2, với mái tôn thấp, nóng bức về mùa hè, ẩm thấp về mùa mưa. Tất cả sinh hoạt: nấu ăn, nghỉ ngơi, giải trí đều gói gọn trong đó… Phương tiện sinh hoạt của các “gia đình trẻ” thường là một tivi cũ, nồi cơm điện và chiếc quạt bàn.


Trích phỏng vấn một nam công nhân sinh năm 1980:
Hỏi: Từ khi sống chung bạn thấy có những thuận lợi gì mà trước đây khi ở riêng không có?
- Tôi nghĩ không có thuận lợi gì hết. Trước mắt tôi không có gì sáng sủa cả, tiền bạc làm không có dư, lương thì ít, hai đứa làm lương tháng triệu rưỡi triệu tám, tiền nhà hết 500.000 đồng/tháng, tiền ăn, tiền thuốc, tiền gửi về quê nữa thì làm sao có dư. Sống chung mà chưa cưới hỏi, chưa nhà cửa, chưa dư tiền thì tương lai thật mù mịt.
Tuy gọi là đến với nhau vì tình yêu nhưng đa số người được hỏi về những điều quan trọng trong cuộc sống thì đồng tiền còn chiếm vị trí quan trọng hơn cả học vấn, địa vị và… tình yêu! Gần 45% thích “có nhiều tiền”, sau đó mới là tình yêu (36%), học vấn (16,7%) và địa vị (13,2%).
Trong hơn 228 người được điều tra có 109 đôi đang sống chung, phần đông họ “góp gạo nấu cơm chung” trên dưới hai năm, có 23% trên ba năm. Càng sống lâu bên nhau thì sự háo hức, vui tươi của thuở ban đầu đã nhường chỗ cho những âu lo cơm áo gạo tiền hằng ngày: chật vật tiền bạc (42,4%), nhà cửa chưa có (20,1%), việc làm chưa ổn định (14,3%)… Sự toan tính khiến tình yêu dần biến mất và những va chạm, nhàm chán bắt đầu xuất hiện.
Khi được đề nghị đánh giá lại quyết định sống chung của mình, trong các đôi có “thâm niên” trên ba năm chỉ 39% cho rằng mình quyết định đúng, còn lại hơn 60% cho rằng đó là “quyết định vội vàng, do hoàn cảnh lôi cuốn”. Với đa số người được hỏi, sống chung trước hôn nhân luôn có nhiều bất trắc, chông chênh mặc dù họ đều trưởng thành, có việc làm. Và sự chia tay của rất nhiều đôi sống chung dường như được báo trước.
Sống chung càng lâu càng né kết hôn
image
 
 
Sống chung vui hay buồn?
 
 
 
 
 
 
 
Phần lớn các đôi sống chung đều ở xa gia đình, không có sự liên hệ gần gũi với người thân và đa số đều không muốn người thân biết “sự kiện” này. Sống chung, sự lo lắng còn ở việc sợ bị gia đình, bạn bè phát hiện, nên thường họ “hoạt động bí mật”, che giấu mối quan hệ bằng mọi cách. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn trong nhận thức của giới trẻ về sống chung. Thật sự điều này là tiêu cực hay tích cực? Một số đôi bạn cùng chung sống đã phân trần rằng họ thật sự yêu nhau và muốn “sống thật” chứ không phải “sống thử”. Họ không đồng ý dư luận xã hội gọi họ là những người “sống thử”.
Tuy nhiên, theo Thạc sĩ Lưu Phương Thảo, chủ nhiệm đề tài, các bạn trẻ sống chung vẫn chưa đủ bản lĩnh sống với sự lựa chọn của mình. Vì thế vẫn phải lén lút, không dám công khai. Điều này thấy rõ ở tỉ lệ cảm nhận được hạnh phúc trong cuộc sống chung không cao, nhất là phía các bạn gái. Chỉ có 37% bạn cho là “rất vui vẻ và hạnh phúc”, nhưng có tới gần 48% nghĩ cuộc sống chung là “tạm được, có nhiều nỗi lo”. Nếu cho rằng sống chung vì tình yêu thật sự là đẹp đẽ, chính đáng tại sao lại phải giấu giếm?
Những nguyên nhân dẫn đến việc sống chung:
Vì tình yêu (71,7%), vì chưa có điều kiện kết hôn (41,6%), xa nhà cô đơn (19,5%), cho đỡ tốn kém (8,4%).
Nếu mọi gia đình xem con cái là niềm hạnh phúc của đôi lứa thì với những cặp sống chung, con cái là mối nguy hiểm số 1 đe dọa sự tồn tại “mái ấm” của họ. Rất nhiều trường hợp có thai ngoài ý muốn (hơn 54%) phải nạo phá thai dẫn đến những hậu quả khôn lường. Tỉ lệ đi “giải quyết hậu quả” rất cao ở nhóm nữ công nhân trẻ (68%). Và nhiều người không chỉ vỡ kế hoạch một lần mà tới hai, ba lần… Chính những khó khăn gặp phải trong cuộc sống, niềm tin vào sự bền vững của các cặp sống chung cũng giảm sút. Có đến 44% cho rằng “không biết trước tương lai sẽ ra sao”.
Qua điều tra cũng cho thấy tỉ lệ muốn kết hôn giảm dần theo thời gian chung sống, thay vào đó là sống theo kiểu “nước chảy bèo trôi”, đến đâu hay đến đấy. Những đôi có thời gian chung sống từ dưới một năm đến hai năm có hơn 77% mong muốn tiến đến hôn nhân, trong khi tỉ lệ ấy chỉ còn hơn 58% đối với những đôi sống chung từ ba năm trở lên. Có nghĩa sống chung càng lâu càng né kết hôn. Cũng theo “thâm niên” sống chung, sống chung càng lâu thì tỉ lệ dự định có con càng giảm và tỉ lệ “tới đâu hay tới đó” lại tăng lên.
“Không nên sống chung trước hôn nhân, rất bất hạnh” (27,6%) và “Hãy suy nghĩ thật kỹ để không hối tiếc” (17,5%), đó là lời khuyên của chính các bạn trẻ đang sống chung.
Một bạn gái ở Nha Trang vào TP.HCM năm 1999, là nhân viên bán hàng, trình độ đại học, chung sống với bạn trai hai năm cho biết: “Đừng bao giờ sống chung trước, vì không có gì ràng buộc chắc chắn để giữ được người ta. Với tôi, đến hôm nay vẫn chưa biết người ta có thật lòng với mình hay không, vì ngay cả gia đình anh ở đâu tôi cũng không biết”.
Theo Thạc sĩ Lưu Phương Thảo, nếu đã sống chung các bạn trẻ hãy giữ gìn mối quan hệ và hợp pháp hóa bằng hôn nhân. Sau cùng vẫn là sự lựa chọn và quyết định của những người trong cuộc, dám bảo vệ tình yêu của mình và dành cho nó sự trân trọng nhất bên cạnh sự tôn trọng phẩm giá và nhân cách của chính mình.
Nhóm nghề nghiệp nào cũng có những người trẻ đang chung sống trước hôn nhân, nhưng hiện tượng này rõ nét và tập trung hơn ở giới công nhân trẻ (42,5%), tiếp đến là giới nhân viên văn phòng, trí thức (33,8%). Độ tuổi trung bình sống chung là 22-27 tuổi (62,3%).
SOURCE: BÁO TUỔI TRẺ

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code