ĐỐI THOẠI HƯNG QUỐC VỚI V.I. LENIN
CHƯƠNG VIII
DÂN CHỦ VÀ GIỚI HẠN CỦA QUYỀN LỰC
Nhân dân có quyền gì, và Nhà nước được phép giới hạn quyền ấy đến đâu?
Sau khi phân biệt Nhân dân với giai cấp, chủ quyền với quyền cai trị, Đảng với Nhà nước, và thống nhất quốc gia với độc quyền chính trị, cuộc đối thoại với Lenin đi đến một câu hỏi có tính nền tảng hơn: nếu Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, thì quyền lực được hình thành nhân danh Nhân dân có thể bị giới hạn bởi những nguyên tắc nào?
Nếu một đa số giành được quyền lực thông qua bầu cử, đa số ấy có thể quyết định mọi việc không? Nếu Quốc hội được Nhân dân bầu ra, Quốc hội có thể thông qua bất kỳ đạo luật nào không? Nếu Chính phủ được trao quyền hợp pháp, Chính phủ có thể hạn chế tự do của công dân đến đâu? Và nếu Hiến pháp được đặt ra để giới hạn quyền lực, ai sẽ kiểm soát những người có quyền giải thích, áp dụng và sửa đổi Hiến pháp?
Đây là bước chuyển từ lý luận về giành chính quyền sang lý luận về tổ chức và giới hạn quyền lực.
Chương VII đặt câu hỏi: ai có quyền cạnh tranh để nắm quyền?
Chương VIII đặt câu hỏi tiếp theo: dù quyền lực được trao cho ai, người nắm quyền không được vượt qua những giới hạn nào?
Hai câu hỏi liên quan nhưng không đồng nhất. Một quốc gia có thể tổ chức bầu cử nhưng vẫn không bảo vệ đầy đủ quyền con người. Một quốc gia có thể ghi nhận quyền tự do trong Hiến pháp nhưng không có cơ chế hữu hiệu để người dân chống lại hành vi xâm phạm. Ngược lại, một cơ quan được giao nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp cũng có thể trở thành trung tâm quyền lực nếu không chịu sự kiểm soát thích hợp.
Vì vậy, vấn đề trung tâm của chương này không chỉ là dân chủ, mà là mối quan hệ giữa chủ quyền Nhân dân, quyền con người, pháp quyền và những thiết chế kiểm soát quyền lực.
Luận đề của Hưng Quốc là: quyền lực nhà nước phải có nguồn gốc chính đáng, được tổ chức theo Hiến pháp và bị giới hạn bởi những quyền cơ bản của con người; đồng thời, mọi cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ các giới hạn ấy cũng phải chịu trách nhiệm và bị kiểm soát.
1. LENIN: DÂN CHỦ TRONG QUAN HỆ VỚI QUYỀN LỰC GIAI CẤP
Lenin không phủ nhận dân chủ. Nhưng ông phản đối việc xem dân chủ như một hình thức chính trị hoàn toàn độc lập với cơ cấu kinh tế, quan hệ sở hữu và quyền lực giai cấp.
Trong Nhà nước và Cách mạng (1917), Lenin lập luận rằng nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể tự giải quyết và rằng nhà nước hiện hữu gắn với sự thống trị của một giai cấp đối với những giai cấp khác. Theo cách tiếp cận ấy, muốn hiểu bản chất của dân chủ phải hỏi không chỉ người dân có những quyền gì trên danh nghĩa, mà còn phải hỏi giai cấp nào nắm quyền lực thực tế và quyền lực đó phục vụ quan hệ xã hội nào.
Lenin cho rằng dân chủ tư sản, dù có những quyền chính trị và hình thức đại diện, vẫn bị giới hạn bởi bất bình đẳng kinh tế và quyền lực của giai cấp sở hữu. Ông đối lập mô hình ấy với chuyên chính vô sản, mà theo lý luận của ông, sẽ mở rộng dân chủ cho đa số lao động đồng thời hạn chế quyền lực chính trị của những lực lượng bị xem là đại diện cho giai cấp bóc lột.
Cần phân biệt hai vấn đề. Một là nhận định của Lenin về giới hạn giai cấp của nền dân chủ tư sản. Hai là kết luận chính trị rằng một giai cấp, thông qua đội tiên phong của mình, có quyền tổ chức nhà nước và giới hạn quyền của các lực lượng đối địch trong tiến trình cách mạng.
Vấn đề thứ nhất đặt ra một câu hỏi đáng xem xét: liệu bình đẳng chính trị có thực chất nếu bất bình đẳng kinh tế khiến một số nhóm có ảnh hưởng vượt trội? Nhưng từ câu hỏi ấy không tự động suy ra rằng một đảng có thể tự xác nhận mình đại diện đúng đắn cho lợi ích lịch sử của giai cấp hoặc toàn dân.
Đó là bước chuyển cần được kiểm tra.
Trong tư tưởng Lenin, dân chủ được xem xét trong quan hệ với tính chất giai cấp của nhà nước và tiến trình chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa cộng sản. Trong Hưng Quốc, dân chủ phải được đánh giá thêm bằng khả năng kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền của người bất đồng và cho phép xã hội thay đổi người cầm quyền.
Sự khác biệt không nằm ở việc một bên quan tâm đến công bằng còn bên kia chỉ quan tâm đến tự do. Sự khác biệt nằm ở tiêu chuẩn cuối cùng dùng để xác định tính chính đáng của quyền lực.
Lenin đặt trọng tâm vào giai cấp nào nắm quyền và quyền lực ấy phục vụ cuộc cách mạng nào. Hưng Quốc đặt câu hỏi: bất kể lực lượng nào nắm quyền, lực lượng ấy phải chịu những giới hạn nào, và người dân có phương tiện gì để kiểm tra việc thực hiện quyền lực?
2. NHÂN DÂN KHÔNG ĐỒNG NHẤT VỚI ĐA SỐ
Một nguy cơ của dân chủ là đồng nhất Nhân dân với đa số trong một cuộc biểu quyết.
Nếu 55% cử tri lựa chọn một chính phủ, 45% còn lại không vì thế mất tư cách thành viên của cộng đồng chính trị. Nếu một đảng giành đa số nghị viện, những người không bỏ phiếu cho đảng ấy vẫn có quyền được bảo vệ như mọi công dân khác. Nếu một chính sách nhận được sự ủng hộ rộng rãi, người phản đối vẫn không mất quyền tự do ngôn luận chỉ vì quan điểm của mình ít người chia sẻ.
Đa số là một phương thức ra quyết định. Nhân dân là chủ thể của cộng đồng chính trị. Hai khái niệm này có liên hệ nhưng không thể thay thế cho nhau.
Trong những vấn đề chính sách thông thường, nguyên tắc đa số giúp xã hội đưa ra quyết định mà không cần đạt được sự đồng thuận tuyệt đối. Nhưng khi vấn đề liên quan đến quyền cơ bản, số phiếu không phải tiêu chuẩn duy nhất để xác định điều gì được phép làm.
Một đa số có thể quyết định tăng hay giảm thuế trong khuôn khổ Hiến pháp. Nhưng việc đa số muốn tước tư cách pháp lý của một nhóm người không làm cho hành vi ấy trở nên chính đáng. Một nghị viện có thể thay đổi chính sách giáo dục, nhưng không thể chỉ dựa vào sự ủng hộ của đa số để hợp pháp hóa tra tấn hay chế độ nô lệ.
Nếu 51% có quyền xóa bỏ những quyền cơ bản của 49%, nguyên tắc đa số đã biến từ một phương thức ra quyết định thành quyền lực không giới hạn.
Hưng Quốc bác bỏ sự chuyển đổi ấy.
Điều này không có nghĩa thiểu số luôn đúng, cũng không có nghĩa mọi yêu cầu của một cá nhân đều phải được chấp nhận. Nó có nghĩa tư cách con người và những quyền cơ bản không phụ thuộc vào việc một người thuộc phe đa số hay thiểu số, có được ưa chuộng hay không, hoặc có ủng hộ chính quyền hay không.
Một nền dân chủ trưởng thành phải bảo vệ cả quyền quyết định của đa số lẫn quyền tồn tại, phản biện và cạnh tranh hợp pháp của thiểu số.
3. DÂN CHỦ, PHÁP QUYỀN VÀ HIẾN PHÁP: BA CÂU HỎI KHÁC NHAU
Dân chủ hỏi: ai có quyền tham gia hình thành chính quyền?
Pháp quyền hỏi: quyền lực được thực hiện theo những quy tắc nào, và các quy tắc ấy có ràng buộc người cầm quyền hay không?
Hiến pháp hỏi: những nguyên tắc nền tảng nào xác định cơ cấu quyền lực, bảo vệ quyền con người và giới hạn những việc nhà nước được phép làm?
Ba vấn đề này hỗ trợ lẫn nhau nhưng không thể đồng nhất.
Một chính phủ có thể được hình thành qua bầu cử nhưng vẫn lạm dụng quyền lực. Một chính quyền có thể ban hành rất nhiều đạo luật nhưng không phải là nhà nước pháp quyền nếu pháp luật được sử dụng tùy tiện, áp dụng bất bình đẳng hoặc không ràng buộc người có quyền lực. Một bản Hiến pháp có thể ghi nhận quyền con người nhưng không bảo vệ được các quyền ấy nếu không có cơ chế thực thi và khắc phục vi phạm.
Ngược lại, nếu chỉ nhấn mạnh giới hạn hiến định mà không có dân chủ, những người kiểm soát quyền lực có thể trở thành một tầng lớp không chịu trách nhiệm trước xã hội.
Do đó, Hưng Quốc không lựa chọn giữa chủ quyền Nhân dân và giới hạn quyền lực. Một bên xác lập nguồn gốc chính đáng của quyền lực; bên kia ngăn quyền lực được sử dụng vượt quá phạm vi chính đáng ấy.
Nguyên tắc cần giữ là: Nhân dân trao quyền nhưng không vì thế chuyển giao vô điều kiện mọi quyền của mình cho người được trao quyền.
Quyền lực nhà nước là quyền lực công được giao để thực hiện những nhiệm vụ xác định. Nó không phải tài sản riêng của người nắm giữ, cũng không phải giấy phép để họ tự quyết định giới hạn của chính mình.
4. QUYỀN CON NGƯỜI: ĐƯỢC CÔNG NHẬN, KHÔNG PHẢI ĐƯỢC BAN PHÁT
Nếu Nhà nước là nguồn duy nhất của quyền con người, thì về lý thuyết Nhà nước cũng có thể tuyên bố rút lại những quyền ấy khi thấy không còn cần thiết.
Hưng Quốc không chấp nhận cách hiểu đó.
Nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người. Một số quyền cần được cụ thể hóa bằng luật và thiết chế để có thể thực hiện trên thực tế, nhưng điều đó không có nghĩa Nhà nước là chủ sở hữu của những quyền ấy.
Cần phân biệt ba tầng.
Thứ nhất, những bảo đảm cốt lõi gắn với nhân phẩm. Nhà nước không được tùy tiện biến con người thành đối tượng của tra tấn, nô lệ hóa hoặc đối xử vô nhân đạo. Những hành vi này không thể được hợp thức hóa chỉ vì người bị hại bị coi là kẻ thù chính trị hay vì một đa số đòi hỏi như vậy.
Thứ hai, những quyền và nghĩa vụ pháp lý được bảo vệ khỏi việc đình chỉ trong tình trạng khẩn cấp. Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), tại Điều 4, cho phép một số nghĩa vụ có thể được tạm đình chỉ trong tình trạng khẩn cấp đe dọa sự sống còn của quốc gia, nhưng chỉ trong những điều kiện nghiêm ngặt. Điều 4(2) xác định những điều khoản không được đình chỉ, bao gồm các bảo đảm liên quan đến quyền sống, cấm tra tấn, cấm nô lệ, cấm tù giam chỉ vì không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguyên tắc không hồi tố trong luật hình sự, tư cách pháp nhân và tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo.
Cần lưu ý rằng không được đình chỉ một điều khoản không đồng nghĩa mọi khía cạnh của quyền tương ứng đều tuyệt đối, không thể chịu bất kỳ quy định nào. Chẳng hạn, ICCPR bảo vệ tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo khỏi việc đình chỉ theo Điều 4; nhưng việc biểu hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng vẫn phải được xem xét theo những điều kiện cụ thể tại Điều 18(3).
Thứ ba, những quyền có thể chịu hạn chế theo điều kiện pháp lý nghiêm ngặt. Tự do biểu đạt, hội họp, lập hội và đi lại có thể chịu một số hạn chế được luật cho phép nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng, nhưng không thể bị hạn chế tùy tiện hoặc bị vô hiệu hóa trên thực tế.
Từ đó, Hưng Quốc không nên dùng cụm từ “quyền bất khả xâm phạm” để khẳng định rằng mọi quyền đều không thể chịu bất kỳ điều chỉnh nào. Cách diễn đạt chặt chẽ hơn là: mọi quyền con người phải được tôn trọng; những hạn chế chỉ được chấp nhận trong phạm vi pháp luật và các nghĩa vụ nhân quyền cho phép; một số bảo đảm cốt lõi không thể bị đình chỉ ngay cả trong tình trạng khẩn cấp.
Điều cần chống lại không phải mọi quy định về quyền, mà là quyền lực tùy tiện quyết định ai còn được hưởng quyền và ai bị tước quyền.
5. PHÉP KIỂM ĐỐI VỚI QUYỀN CƠ BẢN
Để quyền con người không dừng lại ở tuyên bố đạo đức, Hưng Quốc cần một phép kiểm có thể áp dụng trong xây dựng luật và đánh giá hoạt động của Nhà nước.
Một quyền cần được bảo vệ ở mức cao khi việc xâm phạm nó đe dọa nghiêm trọng nhân phẩm, tự do cơ bản hoặc tư cách pháp lý của con người; khi sự bảo vệ phải được áp dụng bình đẳng bất kể người đó thuộc phe nào; và khi việc cho phép đa số tùy ý tước bỏ quyền ấy có thể làm suy yếu chính điều kiện tồn tại của một cộng đồng chính trị tự do.
Tuy nhiên, không nên biến những tiêu chí này thành một danh mục tự tạo để thay thế luật nhân quyền hiện hành. Phạm vi của quyền, điều kiện hạn chế và nghĩa vụ của Nhà nước phải được xác định từ Hiến pháp, điều ước quốc tế có liên quan và thực tiễn giải thích pháp luật.
Phép kiểm của Hưng Quốc có thể triển khai qua sáu câu hỏi:
- Quyền đang được xem xét bảo vệ lợi ích và phẩm giá nào của con người?
- Quyền đó được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ ra sao?
- Hạn chế đang được đề xuất có căn cứ pháp lý rõ ràng hay không?
- Hạn chế có nhằm một mục đích chính đáng được pháp luật công nhận hay không?
- Biện pháp có thực sự cần thiết và tương xứng với mục đích ấy không?
- Người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu một cơ quan độc lập xem xét và khắc phục vi phạm hay không?
Đối với những quyền không được phép đình chỉ theo điều ước quốc tế áp dụng, Nhà nước không thể viện dẫn tình trạng khẩn cấp để đình chỉ nghĩa vụ tương ứng. Đối với các quyền có thể bị hạn chế, Nhà nước phải chứng minh rằng mình đáp ứng những điều kiện pháp lý cần thiết.
Phép kiểm này chuyển gánh nặng lập luận về phía chủ thể muốn hạn chế quyền. Không phải người dân phải chứng minh vì sao họ xứng đáng được tự do; chính Nhà nước phải giải thích vì sao một biện pháp hạn chế là hợp pháp và cần thiết.
6. GIỚI HẠN QUYỀN KHÁC VỚI XÓA BỎ QUYỀN
Một quyền có thể cần quy tắc thực hiện để dung hòa với quyền của người khác và lợi ích công cộng. Nhưng quy tắc thực hiện có thể bị biến thành công cụ ngăn cản chính quyền đó.
Chẳng hạn, Nhà nước có thể ban hành những quy định hợp pháp về giao thông, thời gian, địa điểm và việc bảo đảm an toàn tại các cuộc biểu tình. Nhưng nếu điều kiện được đặt ra đến mức không cuộc biểu tình ôn hòa nào có thể diễn ra, thì quyền biểu tình có thể vẫn tồn tại trong văn bản nhưng bị triệt tiêu trên thực tế.
Nhà nước có thể hạn chế một số phát ngôn trong phạm vi pháp luật nhân quyền cho phép, chẳng hạn những lời đe dọa cụ thể hoặc hành vi kích động bạo lực đáp ứng điều kiện pháp lý tương ứng. Nhưng việc chỉ trích chính phủ, yêu cầu thay đổi chính sách hay công khai điều tra sai phạm không thể mặc nhiên bị đồng nhất với hành vi phạm pháp.
Tương tự, bảo vệ an ninh quốc gia là một mục tiêu chính đáng trong những trường hợp thích hợp, nhưng cụm từ “an ninh quốc gia” tự nó không chứng minh được tính hợp pháp của mọi biện pháp hạn chế.
Một quy định phải được đánh giá qua nội dung, mục đích, cách áp dụng và tác động thực tế. Nếu quy định được thiết kế hoặc thực thi nhằm làm cho một quyền không thể sử dụng, thì việc ghi nhận quyền ấy trong Hiến pháp không đủ để bảo đảm tự do.
Nguyên tắc Hưng Quốc ở đây là: quyền có thể chịu hạn chế theo luật, nhưng không được biến thành đặc ân do Nhà nước tùy ý ban phát.
7. BỐN ĐIỀU KIỆN CỦA MỘT GIỚI HẠN HỢP HIẾN
Đối với những quyền được phép hạn chế trong các điều kiện nhất định, Hưng Quốc cần một phép kiểm thống nhất, phù hợp với Hiến pháp và nghĩa vụ nhân quyền quốc tế.
Một là, có căn cứ pháp luật. Quy định phải đủ rõ ràng và có thể dự đoán để người dân hiểu hành vi nào được phép, hành vi nào bị hạn chế và cơ quan nào có thẩm quyền áp dụng. Một mệnh lệnh mơ hồ trao quyền tùy tiện cho cơ quan công quyền không đáp ứng yêu cầu này.
Hai là, có mục đích chính đáng. Hạn chế phải nhằm bảo vệ một lợi ích được pháp luật công nhận, chẳng hạn quyền và danh dự của người khác, an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng hoặc đạo đức công cộng trong phạm vi điều ước liên quan cho phép. Bảo vệ uy tín của người cầm quyền không tự động đồng nghĩa với bảo vệ an ninh quốc gia.
Ba là, cần thiết và tương xứng. Biện pháp phải có mối liên hệ thực chất với mục đích được nêu ra; không được gây tổn hại lớn hơn mức cần thiết; và phải xem xét những phương án ít xâm phạm quyền hơn nếu chúng có thể đạt mục tiêu hợp pháp. Tính tương xứng không thể chỉ được tuyên bố mà phải được giải thích bằng chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể.
Bốn là, có cơ chế kiểm tra và khắc phục độc lập. Người bị hạn chế quyền phải có cơ hội khiếu nại hoặc yêu cầu xem xét bởi một cơ quan có đủ thẩm quyền và tính độc lập. Cơ quan đó phải có khả năng đánh giá cả căn cứ pháp lý lẫn cách áp dụng biện pháp, đồng thời đưa ra biện pháp khắc phục thích hợp khi có vi phạm.
Có thể cô đọng phép kiểm này thành: luật định – mục đích chính đáng – cần thiết và tương xứng – kiểm soát độc lập.
Bốn điều kiện không phải giấy phép chung để hạn chế mọi quyền. Chúng phải được áp dụng theo đúng quy định riêng của từng quyền và không thể được dùng để vô hiệu hóa những bảo đảm mà pháp luật cấm đình chỉ.
8. PHẢN BIỆN THỨ NHẤT: NẾU ĐA SỐ KHÔNG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH MỌI THỨ, DÂN CHỦ CÒN Ý NGHĨA GÌ?
Đây là phản biện mạnh nhất đối với dân chủ hiến định.
Nếu Nhân dân là chủ thể của quyền lực, tại sao một đa số hiện tại lại phải tuân thủ những giới hạn do thế hệ trước thiết lập? Tại sao một tòa án không do cử tri trực tiếp bầu ra có thể tuyên một đạo luật do Quốc hội thông qua là vi hiến? Tại sao một đa số có đủ phiếu lại không được thay đổi mọi quy định?
Không thể trả lời rằng Hiến pháp luôn đúng và đa số luôn sai. Hiến pháp cũng do con người xây dựng; nó có thể chứa đựng những thỏa hiệp lịch sử, những thiếu sót hoặc những quy định cần được sửa đổi.
Nhưng cũng không thể suy ra rằng mọi quyết định của đa số đều chính đáng chỉ vì có đủ phiếu. Một cuộc biểu quyết không thể tự biến hành vi tra tấn thành chính đáng, cũng không thể tự xóa bỏ tư cách con người của một nhóm dân cư.
Câu trả lời của Hưng Quốc là phân biệt quyền quyết định chính sách với quyền phá bỏ những điều kiện nền tảng của một trật tự chính trị tự do.
Đa số phải có không gian rộng để lựa chọn giữa các chương trình kinh tế, xã hội và hành chính. Đa số phải có khả năng thay đổi chính phủ, sửa đổi luật và điều chỉnh nhiều chính sách. Hiến pháp cũng phải có cơ chế sửa đổi để cộng đồng chính trị không bị khóa vĩnh viễn trong lựa chọn của quá khứ.
Tuy nhiên, những thay đổi làm suy yếu quyền cơ bản, thủ tiêu cạnh tranh chính trị hoặc phá hủy cơ chế kiểm soát quyền lực cần chịu sự xem xét nghiêm ngặt hơn luật thông thường. Một số nguyên tắc có thể được bảo vệ bằng thủ tục sửa đổi đặc biệt; những nghĩa vụ nhân quyền không được đình chỉ phải tiếp tục được tôn trọng theo phạm vi pháp lý của chúng.
Hiến pháp vì vậy không phủ nhận dân chủ. Nó bảo vệ những điều kiện để dân chủ tiếp tục tồn tại, bao gồm quyền của người thua cuộc hôm nay được trở thành đa số ngày mai.
9. PHẢN BIỆN THỨ HAI: HIẾN PHÁP VÀ TÒA ÁN CÓ THỂ TRỞ THÀNH QUYỀN LỰC CỦA THIỂU SỐ KHÔNG?
Có. Đây là nguy cơ phải được thừa nhận ngay trong lý luận Hưng Quốc.
Nếu một tòa án hoặc hội đồng hiến pháp có quyền quyết định cuối cùng về mọi vấn đề chính trị mà không phải giải trình, thì quyền bảo vệ Hiến pháp có thể biến thành quyền lực vượt quá giới hạn. Những người không được cử tri trực tiếp lựa chọn có thể sử dụng cách diễn giải hiến pháp để ngăn cản chính sách được đa số ủng hộ, bảo vệ lợi ích của một nhóm đặc quyền hoặc làm suy yếu trách nhiệm dân chủ.
Nhưng từ nguy cơ đó không thể kết luận rằng phải để Quốc hội hoặc Chính phủ tự mình quyết định tính hợp hiến của mọi hành động. Khi cơ quan bị cáo buộc vi phạm cũng là cơ quan duy nhất có quyền phán xét, khả năng kiểm soát quyền lực sẽ rất yếu.
Giải pháp không phải chọn một cơ quan tuyệt đối, mà là thiết kế cơ chế kiểm soát lẫn nhau.
Tòa án phải độc lập khi giải quyết vụ việc nhưng phải tuân thủ Hiến pháp, luật tố tụng, nghĩa vụ nêu lý do và các quy tắc về đạo đức tư pháp. Việc bổ nhiệm thẩm phán phải có tiêu chuẩn rõ ràng và quy trình minh bạch. Quyền xem xét tính hợp hiến phải có phạm vi được xác định, chứ không phải một thẩm quyền vô hạn để thay thế lựa chọn chính sách của cơ quan dân cử.
Quốc hội phải có quyền lập pháp nhưng không được miễn trừ khỏi kiểm tra hiến định. Chính phủ phải có năng lực điều hành nhưng phải chịu giám sát nghị viện, kiểm toán, tư pháp và trách nhiệm giải trình. Nhân dân phải có quyền lựa chọn người đại diện nhưng không thể nhân danh đa số để tước bỏ quyền cơ bản của cá nhân.
Không cơ quan nào sở hữu Hiến pháp. Mỗi cơ quan chỉ thực hiện một phần thẩm quyền do trật tự hiến định quy định.
Đây cũng là điểm cần phân biệt giữa độc lập tư pháp và quyền tối cao không bị kiểm soát của tư pháp. Độc lập là điều kiện để thẩm phán xét xử không bị áp lực chính trị chi phối; nó không phải quyền miễn trách nhiệm đối với hành vi sai trái hoặc sự lạm dụng thẩm quyền.
10. HIẾN PHÁP: CAM KẾT LIÊN THẾ HỆ, KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH VĨNH VIỄN
Một Hiến pháp có thể bảo vệ những nguyên tắc nền tảng qua nhiều thế hệ, nhưng không nên biến lựa chọn của một thế hệ lập hiến thành mệnh lệnh bất biến đối với tất cả các thế hệ sau.
Nếu việc sửa đổi quá dễ dàng, một đa số nhất thời có thể xóa bỏ các giới hạn được thiết lập để ngăn chính họ lạm quyền. Nếu việc sửa đổi gần như bất khả thi, Hiến pháp có thể đóng băng những quy định lỗi thời và làm mất khả năng tự điều chỉnh của xã hội.
Vì vậy, cần phân biệt các tầng quy định hiến định.
Một số vấn đề có thể được điều chỉnh bằng luật thông thường. Những nguyên tắc về cơ cấu quyền lực, quyền cơ bản và cơ chế kiểm soát cần được bảo vệ bằng thủ tục sửa đổi chặt chẽ hơn. Đối với những nguyên tắc nền tảng đặc biệt quan trọng, có thể xem xét các cơ chế bảo vệ bổ sung, nhưng phải xác định rõ phạm vi và căn cứ chính đáng của chúng.
Các công cụ có thể gồm đa số đặc biệt trong Quốc hội, tham vấn công chúng, trưng cầu dân ý đối với những vấn đề được xác định trước và kiểm tra tính hợp hiến của quy trình sửa đổi. Mỗi công cụ đều có lợi ích và rủi ro: đa số đặc biệt có thể bảo vệ sự ổn định nhưng cũng có thể tạo ra quyền phủ quyết của thiểu số; trưng cầu dân ý tăng tính tham gia nhưng không tự bảo đảm rằng mọi quyết định đều tôn trọng quyền con người.
Vì thế, thủ tục sửa đổi phải vừa bảo vệ tính ổn định của trật tự hiến định, vừa duy trì khả năng thay đổi hợp pháp.
Nguyên tắc Hưng Quốc không phải là Hiến pháp bất biến. Đó là: những giới hạn bảo vệ con người và ngăn quyền lực tập trung không được dễ dàng bị xóa bỏ chỉ như một chính sách thông thường.
11. LENIN VÀ HƯNG QUỐC: KHÁC BIỆT NẰM Ở TIÊU CHUẨN CUỐI CÙNG
Sự khác biệt giữa Lenin và Hưng Quốc không nên được mô tả bằng công thức giản đơn “Lenin chống dân chủ, Hưng Quốc ủng hộ dân chủ”. Công thức ấy không phản ánh đầy đủ những tranh luận của Lenin về bầu cử, đại diện, trách nhiệm của đại biểu và các hình thức tham gia chính trị.
Trong Nhà nước và Cách mạng, Lenin đề cao việc thay thế bộ máy nhà nước quan liêu bằng những thiết chế mà ông cho là gần gũi hơn với quần chúng, gồm bầu cử, khả năng bãi nhiệm đại biểu và hạn chế đặc quyền của công chức. Tuy nhiên, ông đồng thời đặt những thiết chế ấy trong mô hình chính quyền Xô viết và chuyên chính vô sản, gắn quyền lực nhà nước với nội dung giai cấp của cuộc cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng Mười, xung đột giữa chính quyền Bolshevik và Hội đồng Lập hiến được bầu vào cuối năm 1917 trở thành một biểu hiện quan trọng của vấn đề này. Hội đồng Lập hiến bị giải tán vào tháng 1 năm 1918 sau khi từ chối công nhận nền tảng quyền lực mà chính quyền Xô viết yêu cầu. Lenin bảo vệ quyết định đó bằng lập luận rằng hình thức đại diện và kết quả bầu cử không thể đứng cao hơn bản chất giai cấp của cuộc cách mạng và quyền lực của các Xô viết.
Sự kiện này cho thấy một xung đột căn bản: liệu một lực lượng cách mạng có thể viện dẫn mục tiêu lịch sử và lợi ích của giai cấp để vượt qua một cơ chế đại diện được hình thành bằng phổ thông đầu phiếu hay không?
Từ góc nhìn Hưng Quốc, đây là nơi cần đặt câu hỏi về giới hạn quyền lực. Không thể chỉ dựa vào tuyên bố rằng mình đại diện cho lợi ích lâu dài của người lao động để kết luận rằng một tổ chức có quyền thay thế mọi cơ chế kiểm chứng đại diện.
Tuy nhiên, Hưng Quốc cũng phải xem xét nghiêm túc phê phán của Lenin đối với bất bình đẳng kinh tế và sự chi phối của giới giàu có trong nền dân chủ nghị viện. Một nền dân chủ chỉ bảo đảm quyền bình đẳng trên giấy nhưng để tiền bạc, sở hữu và khả năng tiếp cận thông tin chi phối quá mức đời sống chính trị vẫn có thể làm suy yếu quyền tự quyết của công dân.
Khác biệt nằm ở cách xử lý vấn đề ấy.
Lenin đặt trọng tâm vào việc thay đổi quan hệ giai cấp và tổ chức quyền lực của giai cấp cách mạng. Hưng Quốc yêu cầu sửa chữa bất bình đẳng và sự chi phối kinh tế bằng những cơ chế có thể kiểm chứng, nhưng không cho phép bất kỳ đảng nào tự mình quyết định rằng sự đại diện của mình là không thể bị bác bỏ.
Có thể cô đọng ranh giới này bằng hai câu hỏi:
Lenin hỏi: lực lượng xã hội nào phải nắm quyền để thực hiện cuộc cách mạng?
Hưng Quốc hỏi: bất kể lực lượng nào nắm quyền, người dân có những quyền gì để kiểm soát, phản đối và thay thế lực lượng ấy?
Đây là khác biệt về nguyên tắc tổ chức quyền lực, không phải sự phủ nhận mọi nhận định của Lenin về bất bình đẳng hoặc mọi thành tựu của các phong trào cách mạng.
12. PHẢN ĐỀ HƯNG QUỐC: CẢ ĐA SỐ LẪN NGƯỜI BẢO VỆ HIẾN PHÁP ĐỀU CÓ THỂ LẠM QUYỀN
Một lý luận nghiêm túc phải tự kiểm tra chính những nguyên tắc mà mình đề xuất.
Không thể chỉ cảnh giác với đa số. Cũng phải cảnh giác với các cơ quan được giao nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp.
Quốc hội có thể lạm quyền. Chính phủ có thể lạm quyền. Tòa án có thể lạm quyền. Cơ quan kiểm toán, cơ quan giám sát và cơ quan hiến pháp cũng có thể lạm quyền nếu phạm vi thẩm quyền không rõ ràng, quy trình thiếu minh bạch hoặc người thực thi không chịu trách nhiệm.
Ngay cả quyền con người cũng có thể bị viện dẫn một cách thiếu nhất quán. Một chính phủ có thể viện dẫn quyền tự do để bảo vệ nhóm ủng hộ mình nhưng hạn chế nhóm đối lập. Một tòa án có thể viện dẫn Hiến pháp để bảo vệ một cách diễn giải mà không xem xét đầy đủ hậu quả đối với quyền của công dân.
Do đó, nguyên tắc không thể chỉ là “tra quyền tối cao cho đa số” hoặc “tra quyền tối cao cho người giải thích Hiến pháp”.
Nguyên tắc phải là: không chủ thể nào được trao quyền lực mà không có giới hạn thẩm quyền, nghĩa vụ giải trình và cơ chế kiểm tra thích hợp.
Điều này đòi hỏi phân công quyền lực, kiểm soát và đối trọng, nhiệm kỳ hoặc quy tắc bổ nhiệm phù hợp, công khai thông tin, trách nhiệm pháp lý và cơ chế sửa chữa quyết định sai. Những cơ chế ấy không bảo đảm rằng mọi sai lầm sẽ biến mất; chúng làm giảm khả năng một sai lầm của cá nhân hoặc tổ chức trở thành mệnh lệnh không thể phản đối đối với toàn xã hội.
Một thiết chế tốt không phải thiết chế được giả định là luôn đúng. Đó là thiết chế có khả năng nhận diện, sửa chữa và chịu trách nhiệm khi sai.
13. TỪ NGUYÊN TẮC ĐẾN THIẾT CHẾ: AI BẢO VỆ QUYỀN TRÊN THỰC TẾ?
Quyền được ghi trong Hiến pháp nhưng không có phương tiện thực hiện vẫn có thể trở thành quyền trên danh nghĩa.
Muốn giới hạn quyền lực thành hiện thực, ít nhất cần năm điều kiện thể chế.
Thứ nhất, Hiến pháp phải ghi nhận quyền cơ bản bằng ngôn ngữ đủ rõ, xác định trách nhiệm của Nhà nước và giới hạn các trường hợp được phép hạn chế.
Thứ hai, pháp luật phải cụ thể hóa các quyền ấy mà không làm suy yếu nội dung cốt lõi của chúng. Luật không thể được sử dụng để xóa bỏ điều mà Hiến pháp đã bảo vệ.
Thứ ba, người bị xâm phạm phải có con đường thực tế để khiếu nại, khởi kiện và yêu cầu khắc phục. Quyền tiếp cận công lý phải đủ khả thi, không bị vô hiệu hóa bởi chi phí, thủ tục hoặc sự phụ thuộc của cơ quan giải quyết.
Thứ tư, cơ quan xét xử và các thiết chế giám sát phải có mức độc lập cần thiết để kiểm tra quyết định của cơ quan công quyền. Tính độc lập phải đi cùng quy trình minh bạch, nghĩa vụ nêu lý do và trách nhiệm đối với hành vi sai trái.
Thứ năm, xã hội phải có điều kiện tiếp cận thông tin, thảo luận và phản biện chính sách. Nếu công dân không thể biết Nhà nước đã làm gì, vì sao làm và nguồn lực công được sử dụng ra sao, quyền giám sát của họ sẽ rất hạn chế.
Năm điều kiện này không thay thế nhau. Một tòa án độc lập khó bảo vệ quyền hiệu quả nếu người dân không thể tiếp cận tòa án. Một đạo luật tiến bộ khó tạo ra kết quả nếu cơ quan hành pháp không thực thi. Một cuộc bầu cử có thể diễn ra định kỳ nhưng không tạo ra trách nhiệm thực chất nếu công dân thiếu thông tin và không có khả năng tổ chức phản biện.
Bởi vậy, Hưng Quốc không xem bảo vệ quyền con người là công việc riêng của tòa án. Đó là cấu trúc trách nhiệm trải rộng từ lập hiến, lập pháp và hành pháp đến tư pháp, báo chí, xã hội dân sự và công dân trong phạm vi pháp luật bảo vệ.
14. QUY LUẬT VẬN HÀNH: QUYỀN LỰC CÀNG LỚN, NGHĨA VỤ GIẢI TRÌNH CÀNG CAO
Từ những phân tích trên, có thể rút ra một quy luật của Hưng Quốc: quyền lực càng rộng, giới hạn thẩm quyền và nghĩa vụ giải trình càng phải rõ; quyền càng cơ bản, mức bảo vệ pháp lý càng phải cao.
Quy luật này không có nghĩa mọi quyền lực nhà nước đều xấu hoặc mọi hạn chế đều sai. Nhà nước cần quyền lực để bảo vệ an ninh, giải quyết tranh chấp, thực hiện chính sách công và bảo vệ quyền của người khác. Nhưng quyền lực cần thiết không đồng nghĩa với quyền lực không giới hạn.
Một nhà nước trưởng thành phải trả lời được bốn câu hỏi:
Ai trao quyền và bằng thủ tục nào?
Quyền lực được trao đến đâu?
Những giới hạn nào không được vượt qua?
Ai có thẩm quyền kiểm tra và khắc phục khi giới hạn bị vi phạm?
Câu hỏi cuối cùng có ý nghĩa quyết định. Nếu chính cơ quan thực hiện quyền lực là cơ quan duy nhất được quyền đánh giá tính hợp pháp của hành động mình, giới hạn sẽ thiếu cơ chế bảo đảm. Nhưng nếu cơ quan kiểm tra cũng không chịu bất kỳ trách nhiệm nào, xã hội chỉ chuyển nguy cơ lạm quyền từ nơi này sang nơi khác.
Vì vậy, không có một thiết chế đơn lẻ nào đủ sức bảo đảm tự do. Điều cần thiết là một hệ thống trong đó các chủ thể có thẩm quyền được xác định rõ, có thể kiểm tra lẫn nhau và chịu sự giám sát của công dân.
15. KẾT LUẬN: TỪ “AI CAI TRỊ?” ĐẾN “KHÔNG AI ĐƯỢC CAI TRỊ VÔ HẠN”
Cuộc đối thoại với Lenin bắt đầu từ câu hỏi ai nắm quyền nhà nước và quyền lực ấy phục vụ giai cấp nào. Qua các chương trước, vấn đề đã mở rộng sang quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân và sự cạnh tranh chính trị. Đến chương này, câu hỏi tiến thêm một bước: dù ai nắm quyền, quyền lực ấy bị giới hạn bởi những nguyên tắc nào?
Hưng Quốc không phủ nhận rằng bất bình đẳng kinh tế có thể làm suy yếu dân chủ, cũng không xem bầu cử là bảo đảm duy nhất cho tự do. Nhưng Hưng Quốc không chấp nhận việc một tổ chức tự tuyên bố đại diện cho lợi ích lịch sử của Nhân dân rồi từ đó miễn mình khỏi sự kiểm tra của Nhân dân.
Nhân dân là chủ thể của chủ quyền, nhưng không đồng nhất với một đa số nhất thời. Đa số có quyền quyết định nhiều vấn đề, nhưng không vì thế có quyền xóa bỏ mọi quyền cơ bản của cá nhân. Hiến pháp giới hạn quyền lực, nhưng người giải thích và bảo vệ Hiến pháp cũng không được trở thành một quyền lực tuyệt đối. Quyền con người có thể chịu một số hạn chế theo luật, nhưng hạn chế phải khác với việc xóa bỏ quyền; những nghĩa vụ không được đình chỉ phải được tôn trọng ngay cả trong tình trạng khẩn cấp.
Từ đó, Hưng Quốc xác lập một nguyên tắc:
Nhân dân trao quyền; Hiến pháp xác định giới hạn; pháp luật tổ chức việc thực thi; tư pháp và các cơ chế giám sát kiểm tra quyền lực; Nhân dân tiếp tục kiểm soát người được trao quyền.
Đây không phải công thức bảo đảm rằng nhà nước sẽ không bao giờ sai. Đó là công thức nhằm ngăn sai lầm hoặc lợi ích của một chủ thể biến thành quyền lực không thể phản đối.
Mục tiêu cuối cùng không phải tìm ra một người cai trị hoàn hảo, một đảng luôn đúng hay một tòa án không bao giờ sai. Mục tiêu là xây dựng một quốc gia trong đó không cá nhân, đảng phái, giai cấp, đa số hay cơ quan nhà nước nào có thể tự mình quyết định toàn bộ giới hạn quyền lực của chính mình.
Ở điểm này, Hưng Quốc chuyển từ lý luận về giành chính quyền sang lý luận về kiến tạo nhà nước. Quyền lực chính đáng không chỉ được xác định bằng nguồn gốc hình thành, mà còn bằng cách nó được sử dụng, bị kiểm tra và có thể được sửa chữa khi sai.
Nhưng vẫn còn một câu hỏi chưa được giải quyết trọn vẹn: nếu Hiến pháp giới hạn Nhà nước, trong khi Nhà nước đồng thời tham gia làm luật, tổ chức thực thi và giải quyết tranh chấp, thì làm thế nào để pháp luật thực sự ràng buộc người có quyền lực?
Câu trả lời không thể chỉ là yêu cầu người cầm quyền tự giác tuân thủ. Nó đòi hỏi một trật tự trong đó mọi chủ thể công quyền đều chịu sự ràng buộc của pháp luật, không ai đứng ngoài pháp luật và không cơ quan nào có thể tự mình quyết định vô hạn phạm vi thẩm quyền của chính mình.
Đó là vấn đề của chương tiếp theo.
CHƯƠNG IX
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Khi nào quyền lực nhà nước thực sự trở thành quyền lực hợp hiến?
Hoàng Phong Nhã
Tài liệu tham khảo chính
Văn bản gốc và văn kiện pháp lý
- Lenin, V. I. (1917). The State and Revolution (Nhà nước và Cách mạng).
- Lenin, V. I. (1917–1918). Các bài viết và văn kiện của Lenin về chính quyền Xô viết, Hội đồng Lập hiến và chuyên chính vô sản.
- United Nations (1966). International Covenant on Civil and Political Rights (Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị), đặc biệt các Điều 4, 6, 7, 8, 11, 15, 16, 18, 19, 21 và 22.
- United Nations Human Rights Committee (2001). General Comment No. 29: States of Emergency (Article 4).
- United Nations Human Rights Committee (2011). General Comment No. 34: Article 19—Freedoms of Opinion and Expression.
Nghiên cứu và lý luận bổ trợ
- Dahl, Robert A. (1971). Polyarchy: Participation and Opposition. Yale University Press.
- Dworkin, Ronald (1977). Taking Rights Seriously. Harvard University Press.
- Waldron, Jeremy (1999). Law and Disagreement. Oxford University Press.
- Fallon, Richard H. Jr. (2013). The Dynamic Constitution: An Introduction to American Constitutional Law. Cambridge University Press.


12:05 AM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment