Showing posts with label Hoc Kỳ I Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Hoc Kỳ I Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam. Show all posts

Monday, September 23, 2013

Lưỡng đầu chế - mô hình nguyên thủ quốc gia độc đáo trong lịch sử

Mô hình lưỡng đầu chế xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước ta, lần đầu tiên vào năm 40. Mùa xuân năm ấy, hai chị em Trưng Trắc - Trưng Nhị khởi nghĩa chống ách độ hộ của nhà Đông Hán, chiếm giữ 65 thành, giải phóng lãnh thổ quốc gia và thiết lập chính quyền tự chủ. Hai Bà Trưng cùng xưng vương, cùng làm vua, ăn ở sinh hoạt cùng nơi và cùng nhau trị vì đất nước. Sưu tầm: Nguyễn Anh Hùng

Chị-em, anh-em cùng trị nước

Mô hình lưỡng đầu chế xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước ta, lần đầu tiên vào năm 40. Mùa xuân năm ấy, hai chị em Trưng Trắc - Trưng Nhị khởi nghĩa chống ách độ hộ của nhà Đông Hán, chiếm giữ 65 thành, giải phóng lãnh thổ quốc gia và thiết lập chính quyền tự chủ. Hai Bà Trưng cùng xưng vương, cùng làm vua, ăn ở sinh hoạt cùng nơi và cùng nhau trị vì đất nước. Vai trò, địa vị của họ trong cuộc khởi nghĩa và trong Chính phủ mới khá bình đẳng. Tuy nhiên, theo một số sử liệu thì uy tín, quyền lực của Trưng Trắc lớn hơn Trưng Nhị chút ít (có lẽ do Trưng Trắc là chị và là người đầu tiên phát động khởi nghĩa). Chẳng hạn, sách Thuỷ kinh chú viết: nghĩa quân "công phá châu quận, hàng phục được các Lạc tướng, họ đều suy tôn Trắc làm vua". Thể chế này tồn tại đến mùa xuân năm 43 - tận lúc hai bà Trưng mất trong cuộc chiến không cân sức với lực lượng của Mã Viện.

Hơn 9 thế kỷ sau, mô hình lưỡng đầu chế được tái lập dưới thời Ngô. Năm 944. Vua Ngô Quyền băng hà, em vợ là Dương Tam Kha nhân cơ hội đó chiếm ngôi. Năm 951, dẹp xong Dương Tam Kha, hai con trai Ngô Quyền cùng lên làm nguyên thủ. Người anh (Ngô Xương Ngập) xưng Thiên Sách Vương, người em (Ngô Xương Văn) xưng Nam Tấn Vương. Họ đoàn kết cùng nhau trị vì đất nước. Năm 954, Ngô Xương Ngập mất, Ngô Xương Văn một mình ở ngôi nên thế lực yếu dần, phải nhận sắc phong làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm Đô hộ của nhà Nam Hán, đồng thời bị các cuộc nổi loạn ở khắp nơi trong nước uy hiếp... Năm 965, Ngô Xương Văn tử thương và cơ đồ triều Ngô chấm dứt từ đó.

Hai mô hình lưỡng đầu chế trên được thiết lập chủ yếu do tình huynh đệ và do điều kiện lịch sử khách quan (Trưng Trắc-Trưng Nhị cũng phát động, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa; Ngô Xương Ngập - Ngô Xương Văn cùng họp sức lấy lại vương nghiệp của vua cha... Khi mọi sự thành công, họ cùng bình đẳng hưởng kết quả là hoàn toàn xứng đáng, hợp lý). Tuy nhiên, hai mô hình này đều tồn tại trong thời gian ngắn ngủi (chừng 3 năm) và chưa phải là một loại thể chế ổn định.

Cha-con cùng làm vua

Giữa thế kỷ XIII, một mô hình lưỡng đầu chế mới lạ - hầu như chưa từng xuất hiện trong lịch sử các nước, nhất là Trung Hoa (vốn được coi là chế độ kiểu mẫu phương Đông thời bấy giờ) - được thiết lập ở nước ta, tồn tại vững chắc và kéo dài một thế kỷ rưỡi (1258-1407). Đó là mô hình thượng hoàng, hoàng đế: hai cha con cùng làm nguyên thủ. Hoàng đế (con) là nguyên thủ thực sự, đứng đầu quốc gia, mang danh nghĩa thiên tử, còn thượng hoàng (cha) là nguyên thủ cố vẫn tối cao, có thực quyền (cả về chính trị lẫn về huyết thống) đối với hoàng đế.

Vị vua khai nghiệp nhà Trần (Trần Thái Tôn) sau 33 năm ở ngôi hoàng đế thì truyền ngôi cho con (Thái tử Trần Hoảng) rồi lên làm thượng hoàng. Những vị vua tiếp sau đều theo lệ ấy - cứ làm hoàng đế một thời gian rồi truyền lại ngôi cho thái tử, trở thành thượng hoàng. Dù các vua lúc lên ngôi đã trưởng thành hay còn ít tuổi (vua Minh tôn lên ngôi lúc 15 tuổi, Hiếu Tôn -10 tuổi, Dụ Tôn -6 tuổi, Thuận Tôn -11 tuổị..) thì đều có vua chú, vua anh giúp đỡ, chỉ đạ việc điều hành quốc gia. Hoàng đế càng nhỏ tuỏi, ốm yếu, kém tài.. thì vai trò của thượng hoàng càng quan trọng. Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", các vua Trần khi "con đã lớn thì cho nối ngôi chính, còn cha lui về cung Thánh Từ, xưng là thượng hoàng, cùng trộng coi chính sự. Thực ra, truyền ngôi chỉ để yên việc sau, phòng lúc vội vàng, chứ mọi chuyện đều do thượng hoàng quyết định. Vua kế vị không khác gì hoàng thái tử cả". Tổng cộng thời gian các vua Trần trị vì mà bên trên còn thượng hoàng và thái thượng hoàng là 102 năm (thái thượng hoàng là cha của thượng hoàng, trước đó đã nhường ngôi cho thượng hoàng).

Thượng hoàng và hoàng đế tuy có danh xưng, vai trò, địa vị, quan hệ... khác nhau nhưng cùng là nguyên thủ, cùng trị vì quốc gia nên trong sử sách, nhiều khi học được gọi chung là hai vua. Chẳng hạn, ca ngợi thượng hoàng Trần Thánh Tôn và hoàng đế Trần Nhân Tôn qua chiến thắng quân xâm lược Mông Nguyên (1285-1288), trong "Bạch Đằng giang phú", tác giả Trương Hán Siêu viết;


Hai vua thánh chừ anh minh
Đem nước sông chừ rửa giáp binh
Bụi Hồ không dám động chừ ngàn năm thanh bình...
Còn trong "Đại việt sử ký toàn thư", Ngô Sỹ Liên cùng các sứ thần triều Hậu Lê cũng dùng từ hai vua khi viết về Hội nghị Diên Hồng tháng chạp năm Giáp Than 1284 ("Giặc Hồ vào cướp là nạn lớn của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn...") và về việc duyệt quân chuẩnbị đi đánh Chiêm Thành tháng mười năm Bính Thìn 1376 (".. đại duyệt quân thuỷ bộ ở bãi cát sống Bách Hạc, hai vua đích thân làm tướng").

Việc thiết lập mô hình thượng hoàng - hoàng đế là một kỹ thuật cai trị khôn khéo, cẩn thận của các vua Trần, vì thái tử cần có một thời gian làm quen, tập dượt việc triều chính; trong lúc đó thượng hoàng vẫn giữ vai trò lãnh dạo tối cao, quyết định mọi chuyện trọng đại. Cách tập dượt này toàn diện hơn so với ở các triều Ngô, đinh, Tiền Lê, Lý trước đó (chỉ cho thái tử thay vua cha làm quen với một số công việc như cầm quân đi diệt giặc, tổ chức đón tiếp sứ thần nước ngoài, giải quyết án kiện...) Mặt khác, truyền ngôi khi vua cha còn sống đảm bảo sự ổn định, suôn sẻ của việc nối ngôi, tránh những rắc rối từng thường xuyên gặp như chuyện các hoàng tử tranh giành ngôi (đẫm máu nhất là những cuộc tranh giành ngôi của các con vua Lê Đại Hành năm 1005, của các con vua Lý Thái Tổ năm 1028 - sau khi cha họ đột ngột băng hà) hoặc ngôi vua bị chiếm bởi người ngoại tộc (ngôi vua Ngô bị Dương Tam Kha chiếm năm 944 sau khi Ngô Quyền băng hà, ngôi vua Đinh mất vào tay Lê Hoàn năm 980 sau khi Đinh Tiên Hoàng băng hà...). Chế độ thượng hoàng - hoàng đế vừa giống các chế độ phụ chính, nhiếp chính vốn khá phổ biến trong lịch sử (nếu vua còn nhỏ hoặc năng lực kém thì có một vài quan đại thần làm cố vấn, giúp vua trị vì), lại vừa khác hẳn ở chỗ quan hệ huyết thống chặt chẽ (cha-con) và vị cố vấn vấn có quyền quyết định tối cao (đối với cả vua lẫn quốc gia), trực tiếp tham gia điều hành bộ máy Nhà nước, đảm bảo sự kế thừa liên tục và vững chắc, ngăn chặn những hiện tượng suy thoái hoặc biến loạn gây bất ổn định chính trị.

Mô hình thượng hoàng - hoàng đế của nhà Trần còn lặp lại ở các triều đại sau dó. Đoạt được ngôi nhà Trần (năm 1400), Hồ Quý Ly làm vua 1 năm rồi nhường ngôi cho con (Hồ Hán Thương), lên làm thượng hoàng đến tận lúc nhà Hồ bị diệt (năm 1407). Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Hậu Lê năm 1527, làm vua 3 năm rồi nhường ngôi cho Mạc Đăng Doanh, lên làm thượng hoàng, cùng con trị vì đát nước (1530-1541). Thời Lê mạt (Lê-Trịnh), Lê Thần Tôn cũng làm thượng hoàng (1643-1649) bên cạnh vị vua con là Lê Chân Tôn, nhưng mô hình lưỡng đầu chế thời kỳ này đã biến đổi sang một hình thức đặc biệt khác: vua Lê - chúa Trịnh.

Vua-chúa cùng làm nguyên thủ

Trong tất cả các mô hình lưỡng đầu chế kể trên, hai vị nguyên thủ đều có quan hệ huyết thống với nhau, chung mục đích và chung sự nghiệp, do đó hình thức là "lưỡng đầu" nhưng thực ra bản chất chế độ là một. Khác hoàn toàn với nó là mô hình vua Lê - chúa Trịnh, tồn tại suốt 240 năm (1546-1786) với nhiều biểu hiện, nhiều diễn biến phức tạp.

Năm 1527, Mặc Đăng Dung đoạt ngôi vua Lê. Quan đại thần nhà Lê là Nguyễn Kim chạy sang Lào, tôn Lê duy Ninh lên ngôi vua (năm 1532), lãnh đạo lực lượng chống lại nhà Mạc. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, quyền lực rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm. Năm 1546, Trịnh Kiểm cho tổ chức lại triều đình, chuyển về đóng đô ở Vạn Lại (Thộ Xuân- Thanh Hoá) mượn danh nghĩa "phù Lê diệt Mạc" để thâu tóm mọi quyền bính, biến vua Lê thành bù nhìn, mở đầu thời kỳ "vua Lê chúa Trịnh".

Từ sau khi đánh bại nhà Mạc (năm 1592), quyền lực của họ Trịnh ngày càng được mở rộng. Năm 1599, Trụnh Tùng tự xưng là Đô Nguyên soái Tổng quốc chính và ép vua Lê phong vương cho mình. Lê Thế Tôn phong cho Trịnh Tùng làm Bình An Vương cùng những đồ vật tượng trưng uy quyền tối caonhư chén ngọc, cờ lông,búa vàng. Trịnh Tùng lập phủ chúa, tự ý tuyển dụng quan lại, điều hành chính sự, chức vương cha truyền con nối. Chúa Trịnh là vị nguyên thủ thực sự, trực tiếp lãnh đạo bộ máy Nhà nước, nắm giữa quân đội, quyết định các chính sách kinh tế - văn hoá- xã hội... Họ tộc Trịnh được hưởng mọi đặc quyền hoàng gia. Con trai cả chúa Trịnh được lập làm thế tử, được phong làm Quốc công Tiết chế, đến tuổi trưởng thành thì mở phủ riêng, chủ huy quân đội, giúp cha trị vì.

Vua Lê là vụ nguyên thủ tối cao trên danh nghĩa. Quyền hạn của vua chỉ còn duy trì trong một số nghi thức thiết triều và đón tiếp sứ thần nước ngoài. Vua được cấp 5.000 quân túc vệ để phục dịch trong cung điện, 7 thớt voi và 20 chiếc thuyền rồng, được thu thuế 1.000 xã để tiêu dùng. Triều định vua lê phải đặt dưới quyền điều khiển của phủ chúa Trịnh và chỉ có một nhóm binh lính canh giữ, một số quan văn võ vô quyền thỉnh thoảng vào chầu nhằm giữ lấy thể thống đế vương hình thức. Cạnh phủ chúa, triều dịnh chỉ như một cái bóng, thực chất chỉ là nơi giam lỏng vua Lê.

Sự hình thức, phụ thuộc của vua lê thể hiện rõ nhất ở việc tính mạng, địa vị vua hoàn toàn bị chúa Trịnh khống chế, vua ngày càng bị vô hiệu hoá. Trong 16 vua dưới thời Lê mạt thì 3 vua bị họ Trịnh giết hại và 5 vua là trẻ em dưới 12 tuổi (phần lớn là do chúa Trịnh nuôi nấng, rèn từ bé trong phủ rồi dựng lên làm vua). Năm 1718, Trịnh Cương thiết lập 6 phiên (Lễ, Lại, Hộ, Công, Hình, Binh) ở phủ chúa để rút hầu hết quyền hành của 6 bộ tương ứng (vốn coi là trực thuộc vua Lê bên triều đình. Ngay cả một số nghi thức tối cao dành riêng cho vua Lê cũng dần bị chúa Trịnh xâm phạm và huỷ bỏ. Dịp lễ Tết, sinh nhật vuạ.., chúa thường không trực tiếp đến chức mừng mà sai con mình đi thay. Trước kia, hàng tháng vào ngày sóc vọng, chúa và các quan phải vào chầu vua ở điện Vạn thọ, nhưng về sau chúa dần bỏ lệ ấy. Từ đời Trịnh Tạc (1657-1687), các chúa vào triều yết không quỳ lạy, không xưng tên và tự tiện ngồi ngay bên trái ngự toạ, ngang hàng với vua!...

Trong mô hình lưỡng đầu thế này, sở dĩ thực quyền nguyên thủ nghiêng hẳn về phía chúa Trịnh là do họ Trịnh tiếp nối sự nguyệp Nguyễn Kim nắm trọn quyền lực trong tay, tự mình quyết định và hành động; con nhà Lê thì đã quá suy yếu, phải chịu thế phụ thuộc và thực tế được họ Trịnh dựng lại chỉ để làm bù nhìn mà thôi. Tuy nhiên, nguyên nhân thiết lập và duy trì mô hình này lại khá tế nhị.

Thực ra, chúa Trịnh cũng đã có nhiều lần có ý định cướp ngôi vua nhưng không dám thực hiện. Năm 1556, vua Lê Trung Tôn băng hà mà không có con nối dõi, Trịnh Kiểm mật bàn với những người thân tín việc tự xưng làm vua. Trong lúc lưỡng lữ, Trịnh Kiểm đã sau thuộc hạ tới hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm - một người rất am hiểu thời cuộc và có những nhận định, tiên đoán sáng suốt. Tương truyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm gán tiếp trả lời bằng cách bảo người nhà :"Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ!" và răn chú tiểu dọn chùa :"Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản!". Ý Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khuyên Trịnh Kiểm nên tìm con cháu nhà Lê dựng lên làm vua để có danh nghĩa thu phục lòng người...

Các chúa Trịnh kế tiếp cũng không dám phế bỏ nhà Lê, bởi theo kinh nghiệm lịch sử và trong hoàn cảnh thực tế đương thời, hành động đoạt ngôi vua sẽ không có lợi cho vai trò thống trị của họ Trịnh. Họ Trịnh vốn chưa có cơ sở xã hội vững chắc, không được toàn dân ủng hộ, lại đang phải đối đầu với kẻ thù hùng mạnh ở cả phía Băc (nhà Mạc) lẫn phía Nam (họ Nguyễn ).

Trong điều kiện ấy, họ Trịnh phải chấp nhận duy trì ngôi vua Lê, mang danh nghĩa nhà Lê - một vương triều thiết lập trên nền tảng chiến thắng oanh liệt chống ngoại xâm và ít nhiều còn uy tín đối với nhân dân - để trấn áp các lực lượng đối lập, chiêu dụ dân chúng, (thể hiện rất rõ với việc chúa Trịnh thường cho vua Lê cùng đi vận động thần dân hoặc đi đánh chúa Nguyễn ở phía Nam). Nắm giữ thực quyền cao nhất nhưng lị không lên làm vua là giải pháp chính trị tối ưu cho chúa Trịnh. Điều này lý giải tại sao mô hình lưỡng đầu chế "vua Lê chúa Trịnh" kỳ dị bậc nhất trong lịch sử lại tồn tại dai dẳng tới 250 năm - đến tận lúc họ Trịnh bị quân Tây Sơn diệt (tháng 7-1786).

http://www.suutap.com/default.asp?id=1187&muc=3

Monday, August 12, 2013

THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ

PGS.TS. Trần Thị Vinh, Viện Sử học
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, truy cập đường link gốc tại đây

Vương triều Lý được thiết lập vào năm 1009, ngay sau thế kỷ bản lề (thế kỷ X) – giành và giữ chính quyền từ tay phong kiến ngoại bang của dân tộc Việt Nam. Từ khi thoát khỏi ách thống trị của phong kiến ngoại bang, nhà nước quân chủ dân tộc Việt Nam bắt đầu được xác lập. Trải qua các triều Ngô – Đinh – Tiền Lê, Nhà nước quân chủ dân tộc đã dần dần được kiện toàn, nhưng vừa ra đời sau đêm trường phụ thuộc, nhà nước thời kỳ này hãy còn non trẻ, chưa hoàn thiện về mặt thiết chế, phải đợi đến những thế kỷ sau, bắt đầu từ thời Lý trở đi mới có điều kiện phát triển và hoàn thiện hơn với những thể chế của nó.


Lúc lên ngôi vua tại kinh thành Hoa Lư, tiếp quản cơ đồ của nhà Tiền Lê, trong buổi ban đầu vua Lý Thái Tổ vẫn giữ nguyên thể chế chính chính trị cũ. Sau khi chuyển triều đình từ Hoa Lư ra Thăng Long, các vua nhà Lý mới bắt đầu củng cố và xây dựng một chế độ chính trị riêng của nhà Lý cho phù hợp với chính thể đương thời. Thể chế chính trị của nhà Lý được hoàn thiện trong các thế kỷ XI – XIII (từ 1010 – 1225) là một chế độ chính trị ổn định và thống nhất, trên có vua, dưới vua là hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương. Điều hành hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất của nhà Lý là đội ngũ quan chức đông đảo được tuyển chọn bằng nhiều hình thức khác nhau. Để bảo vệ vững chắc nhà nước quân chủ thống nhất và quốc gia Đại Việt non trẻ, nhà Lý đã xây dựng một lực lượng quốc phòng vững mạnh và một nền pháp chế phù hợp. Thể chế chính trị của nhà Lý được cụ thể hóa bằng những mặt sau đây :
1. Cách tổ chức các cơ quan thuộc nền hành chính quốc gia
Nền hành chính quốc gia thời Lý, do Lý Thái Tổ là người đầu tiên xây dựng, đặt nền tảng cho sự phát triển về sau là một nền hành chính theo chế độ quân chủ tập trung quan liêu với hệ thống chính trị thống nhất từ trung ương tới địa phương được tập trung quyền hành vào trong tay triều đình, đứng đầu là vua.
Các cơ quan thuộc nền hành chính Trung ương :
Bắt đầu từ thời Lý, các cơ quan thuộc nền hành chính trung ương (hay còn gọi là Tổ chức chính quyền Trung ương) đã được kiện toàn và hoàn thiện hơn so với thời Đinh và Tiền Lê trước đó, gồm ba bộ phận chủ yếu là: Những văn thư phòng giúp việc bên cạnh vua, Các cơ quan đầu não tại triều đình Các cơ quan chuyên môn.
- Những văn thư phòng giúp việc bên cạnh vua, vào thời Lý đặt chưa đầy đủ như ở thời Trần và thời Lê sơ sau đó. Từ thời Trần và đặc biệt là thời Lê Sơ về sau, những văn thư phòng giúp việc cho vua bao gồm đủ cả ba bộ phận, đó là: các Sảnh ( hay còn gọi là các Tỉnh như Thượng thư tỉnh, Trung thư tỉnh, Môn hạ tỉnh, Hoàng môn tỉnh và Nội thị tỉnh); Hàn lâm viện Bí thư giám. Nhưng dưới thời Lý, Bí thư giám chưa được đặt nên chỉ mới có hai văn phòng bên cạnh vua và giúp việc cho vua là Sảnh Hàn lâm viện.
Sảnh (gồm có Thượng thư sảnh và Trung thư sảnh), không rõ được đặt ra như thế nào và vào lúc nào dưới thời Lý. Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí thì “đến đời vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) có đặt chức Viên ngoại lang ở Thượng thư sảnh, dự bàn chính sự, danh vị cũng trọng. Quan trong, quan ngoài thường gia thêm chức ấy, như Nội thị là Lý Công Tín, Hàn Quốc Bảo đều gia chức Viên ngoại lang”1. Sách Đại việt sử ký toàn thư cũng ghi, vào tháng giêng, năm Mậu Thân (1128), sau khi Lý Thần Tông lên ngôi đã phong Đào Thuấn làm Trung thư sảnh viên ngoại lang hành tây thượng cáp môn sứ, Lý Bảo Thần làm Thượng thư sảnh viên ngoại lang hành đông thượng cáp môn sứ và một loạt người như Phạm Thưởng, Đỗ Lục, Khổng Nguyên, Phạm Bảo, Kim Cát, Lý Khái, Đào Lão, Nguyễn Hoàn làm Viên ngoại lang Thượng thư sảnh2. Như vậy, vào thời Lý đã có cơ quan là Sảnh, nên mới có việc đặt các chức quan của Thượng thư sảnh và Trung thư sảnh như sử sách vừa ghi.
Hàn lâm viện được lập ra đầu tiên ở nước ta bắt đầu từ thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) và đứng đầu Hàn lâm viện là chức quan Hàn lâm học sĩ. Sách Đại việt sử ký toàn thư ghi, vào mùa thu, tháng 8, năm Bính Dần (1086), triều đình đã tổ chức thi những người có văn học trong nước, sung vào làm quan ở Hàn lâm viện. Mạc Hiển Tích trúng tuyển, được bổ vào làm Hàn lâm học sĩ3. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng ghi, “đời Lý đã đặt Hàn lâm viện và đặt chức Học sĩ (trong đời NhânTông Mạc Hiển Tích làm Hàn Lâm học sĩ)”4. Hàn lâm viện có nhiệm vụ trông coi việc soạn thảo những chế, cáo và chiếu biểu của vua. Chức Hàn lâm học sĩ, đến các thời Trần và Lê Sơ còn gọi là Hàn lâm phụng chỉ và Hàn lâm học sĩ phụng chỉ, là chức vụ rất trọng, thường dùng Thái sư, Mật viện kiêm nhiệm. Công việc của quan Hàn lâm phụng chỉ là soạn đặt tờ chiếu thay vua5.
- Các cơ quan đầu não tại triều đình
Cùng với việc đặt các cơ quan đầu não tại triều đình, nhà Lý đã đặt ra những chức quan đứng đầu triều. Những chức quan đứng đầu triều đều là những quan lại được vua uỷ nhiệm trực tiếp điều khiển toàn bộ nền cai trị trong nước. Đó là Tể tướng Á tướng.
Chức vụ Tể tướng từ thời Đinh trở về trước gọi là gì không rõ, đến thời Tiền Lê, Lê Đại Hành mới đặt ra chức Tổng quản coi việc quân dân, tóm giữ việc nước, tức là công việc của Tể tướng6. Bắt đầu từ thời Lý, khi mới dựng nước, vua Lý Thái Tổ đã cho Trần Cảo làm tướng công7 tức giữ chức Tể tướng. Đến đời vua Lý Thái Tông “dùng chức Phụ quốc Thái uý giữ chính sự, chức nhiệm cầm cân, tức là Tể tướng”8. Tiếp đến đời Lý Nhân Tông lại thêm vào mấy chữ “Kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự”, xem ra chức vụ càng trọng. Có người làm chức vụ này lại mang danh chức trong hàng Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) và Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo). Vào thời Lý đã có những ng-ười từng giữ chức vụ Tể tướng với nhiều danh vọng như: Lý Thường Kiệt làm Thái phó phụ quốc thượng tướng quân9 dưới triều vua Lý Thánh Tông; Lý Đạo Thành làm Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự10 dưới triều vua Lý Nhân Tông; Tô Hiến Thành giữ chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự11 dưới triều vua Lý Anh Tông và sau đó có Thái sư Đỗ An Di cũng kiêm chức Đồng bình chương sự12 ở triều Lý Anh Tông…
Á tướng là chức vụ của viên quan đứng sau Tể tướng và đứng ở vị trí thứ hai tại triều đình. Vào thời Lý, chức Á tướng là Tả, Hữu tham tri chính sự. Á tướng có nhiệm vụ giúp Tể tướng điều khiển mọi việc trong nước, còn gọi là Phó tướng. Vào thời kỳ này, nhà Lý còn cho đặt thêm chức Hành khiển cũng là chức đứng sau Tể tướng và chuyên lấy trung quan (hoạn quan) để đảm đương chức vụ ấy, rồi gia thêm danh hiệu là “Nhập nội hành khiển Đồng trung thư môn hạ bình chương sự”13. Theo ghi chép trong sách Lịch triều hiến chương loại chí thì chức hàm này “rất trọng vì đó là chức quan giữ then chốt về chính sự”14.
Dưới Tể tướng và Á tướng – hai chức quan đứng đầu và đứng thứ hai trong triều, là các cơ quan chính yếu như: Khu mật viện và các Bộ.
Khu mật viện được lập ra từ thời Lý. Đứng đầu Khu mật viện là hai chức quan Tả sứ Hữu sứ15 trông coi việc binh. Làm việc trong Khu mật viện đều là những quan thân cận nhà vua và chỉ bàn tới các việc cơ mật trong triều. Dưới triều vua Lý Thái Tổ có Ngô Đinh được làm Khu mật sứ16. Sang thời Lý Thái Tông thì có Lý Đạo Kỷ làm Tả khu mật và Xung Tân làm Hữu khu mật17. Những người này đều là công thần thân cận được vua Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ban chức tước ngay từ sau khi nhà vua lên ngôi.
Các Bộ, vào thời Lý nói chung chưa thấy có sự phân định rõ ràng. Tuy vậy, ở thời kỳ này, chức Thượng thư đứng đầu bộ đã bắt đầu được đặt, ví dụ dưới triều vua Lý Nhân Tông, Mạc Hiển Tích, Đoàn Văn Khâm, Nguyễn Công Bật vv…đều được giữ chức Thượng thư. Phan Huy chú viết trong Lịch triều hiến chương loại chí rằng: “Chức Thượng thư đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ”18. Chức Thị lang cũng đã được đặt ở thời kỳ này. Sách Lịch triều hiến chương loại chí ghi, năm 1118 “đặt chức bộ Thị lang”19. Biên niên sử thì chưa ghi đầy đủ tên các Bộ của thời Lý mà chỉ thấy nhắc đến tên của hai Bộ, là Bộ Lễ và Bộ Hộ qua hai sự kiện ghi vào năm Mậu Tuất (1118), Tả thị lang Bộ Hộ là Lý Tú Uyên chết20 và năm Giáp Thìn (1124), Nội thường thị là Lê Bá Ngọc làm Thị lang Bộ Lễ21. Điều này cũng được Phan Huy Chú nhấn mạnh là “Đời Lý buổi đầu đặt quan, đã có những chức Trung thư thị lang, Bộ thị lang, nhưng các bộ không đặt đủ”22. Có lẽ do sự ghi chép không đầy đủ trong chính sử nên sự hiểu biết về các Bộ của thời Lý từ trước tới nay cũng chưa được đầy đủ. Nhưng theo nguồn tài liệu văn bia của thời Lý đã đư-ợc dịch và công bố trong tập Thơ văn Lý – Trần, xuất bản năm 1977, thì vào thời Lý đã có đầy đủ các bộ, nhất là từ triều vua thứ tư của nhà Lý là Lý Nhân Tông (1072 – 1127) trở đi. Theo lời chú cuối cùng của Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa núi Long Đội (thuộc xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) dựng vào ngày 6 tháng 7, niên hiệu Thiên Phù Duệ vũ thứ hai (1121) cho biết, người được vâng sắc chỉ của vua Lý Nhân Tông để soạn bài văn của bia này là Nguyễn Công Bật, đang giữ chức Triều liệt, Hình bộ Thượng thư, Binh Bộ Viên ngoại lang đồng tri phiên công viện chư sự và người viết chữ bài văn bia là Lý Bảo Cung, đang giữ chức Hữu thị lang, Thượng thư, Công Bộ Viên ngoại lang đồng tri thẩm hình viện sự, thượng kinh xa đô uý, tử kim ngư23. Dưới triều vua Lý Nhân Tông còn có Trần Văn Khâm cũng từng giữ chức Thượng thư Bộ Công24, Phùng Giáng Tường giữ chức Thượng thư Bộ Binh25. Hoặc Từ Anh Nhĩ từng giữ chức Thượng thư Bộ Lại dưới triều vua Lý Cao Tông (1176 – 1210)26. Trong Văn bia về Thái uý Lý công27nước Đại Việt (Cự Việt quốc Thái uý Lý công thạch bi minh tự ) khi nói về công trạng của Thái uý có đoạn ghi: “Năm Đinh Mùi đời vua Thần Tông (1127), Thái uý được truyền vào chầu ở nơi nội cấm, chức vị bao trùm cả sáu bộ thượng thư28. Như vậy, theo ghi chép trong chính sử cộng với những ghi chép trong văn bia Lý – Trần thì vào thời Lý đã có đủ sáu Bộ, đó là các bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình Công.
- Các cơ quan chuyên môn
Để giúp việc cho các cơ quan đầu não tại triều đình, các vua nhà Lý cũng như các vua nhà Trần và nhà Lê sau đó đều đặt ra các cơ quan chuyên môn, gồm: Quốc sử viện, Thái chúc viện, Quốc tử giám, Các cơ quan coi về hình án (Đình uý ty, Ngũ hình viện), Ngự tiền tam cuộc (Cận thị, Chi hậu và Học sĩ – trông coi về việc binh của nhà vua)… Nhưng, vào thời Lý chưa đặt đầy đủ các cơ quan chuyên môn này. Cơ quan chuyên môn đầu tiên được đặt vào thời Lý là Quốc Tử giám. Quốc Tử giám là cơ quan có nhiệm vụ trông coi về việc giáo dục trong nước.
Quốc Tử giám được lập bắt đầu từ thời Lý, vào năm 1076, dưới triều vua Lý Thánh Tông, nhưng tên các chức quan của cơ quan này chưa rõ như thế nào. Sang thời Trần mới thấy sử ghi về việc đặt chức Tư nghiệp Quốc tử giám (Chu Văn An làm chức này), thời Lê Sơ đặt rất nhiều tên như các chức Tế tửu, Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ, Ngũ kinh bác sĩ… Sách Đại việt sử ký toàn thư ghi về việc lập Quốc tử giám vào thời Lý như sau: vào “mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối29, vẽ Thất thập nhị hiền30 bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử đến học ở đây”31.
CÁC CƠ QUAN THUỘC NỀN HÀNH CHÍNH TRUNG ƯƠNG
VUA
VĂN PHÒNG BÊN CẠNH VUA
CƠ QUAN ĐẦU NÃO TẠI TRIỀU ĐÌNH
Sảnh (Thượng thư sảnh,Trung thư sảnh)
- Viên ngoại lang
Hàn lâm viện
- Hàn lâm học sĩ
Quan đầu triều
- Tể tướng (Phụ quốc Thái uý)
- Á tướng (Tả, Hữu Tham tri chính sự) )
Khu mật viện
- Tả sứ
- Hữu sứ
Lục Bộ
- Thượng thư
- Thị lang
CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
Quốc Tử giám

Nhìn vào sơ đồ tổ chức các cơ quan thuộc nền hành chính Trung ương của thời Lý dễ nhận thấy, vào thời kỳ này so với những thời kỳ sau đó, bộ máy chính quyền Trung ương của thời Lý tuy chưa được hoàn thiện và chưa đặt đầy đủ các cơ quan, song đã có sự kiện toàn đáng kể so với những thời kỳ trước. Đó là những cố gắng rất lớn của nhà Lý trong buổi đầu dựng nghiệp.
Các cấp hành chính ở địa phương
Ngay trong năm 1010, khi đã ổn định một số công việc lớn mang tầm quốc gia như dời chuyển kinh đô, kiến lập kinh thành, kiện toàn bộ máy bộ máy chính quyền ở cấp Trung ương, vua Lý Thái Tổ cũng đã tiến hành xây dựng bộ máy hành chính các cấp cơ sở, làm nền tảng vững chắc cho toàn bộ hệ thống chính quyền nhà nước.
Công việc đầu tiên mà nhà vua tiến hành là cho chia lại các khu vực hành chính trong nước. Đơn vị hành chính đứng đầu cấp chính quyền địa phương thời Lý gọi là phủ, Lộ. Ngay từ khi vừa dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho đổi châu Cổ pháp, quê hương của nhà Lý làm phủ Thiên Đức, đổi vùng kinh thành Hoa Lư cũ của nhà Đinh – Tiền Lê thành phủ Trường Yên32. Đến cuối năm đó (tháng 12 năm 1010), nhà vua bắt đầu cho đổi 10 Đạo có từ thời Đinh và Tiền Lê làm 24 Lộ. Vùng núi thì gọi là châu hay trại. Một số nơi ở xa kinh đô cũng gọi là trại, như việc cho đổi châu Hoan, châu Ái làm trại33. Năm 1014, lại cho đổi phủ Ứng Thiên (Ứng Hoà, Hà Nội ngày nay) thành Nam Kinh34. Năm 1023, đổi trấn Triều Dương( thuộc Quảng Ninh ngày nay) thành châu Vĩnh An35. Năm 1036, đổi châu Hoan thành Nghệ An châu trại36. Sau lại đổi châu Ái thành phủ Thanh Hoá.
Như vậy, ta có thể hình dung được toàn bộ cấp hành chính địa phương của thời Lý theo một hệ thống từ trên xuống dưới như sau :
Trên là cấp phủ, lộ (ở đồng bằng) và châu hay trại (ở vùng xa kinh đô hoặc miền núi). Dưới phủ, lộ, châu là cấp huyện hoặc (hương), giáp và cuối cùng là thôn. ở Kinh đô thì nhà Lý đặt ra thành các phường, gồm 61 phường (như phường Thái Hoà, phường Cơ Xá, phường Yên Thái…).
Các đơn vị hành chính vào thời kỳ này, cụ thể ra sao không thấy tài liệu ghi chép đầy đủ. Căn cứ vào một số sách Địa chí viết vào những thế kỷ sau như Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (thế kỷ XIX) chúng ta có thể hình dung được một cách tương đối về vị trí của một số phủ, lộ, châu ở thời kỳ này. Ví dụ: Lộ Hải Thanh, lộ Trường Yên, phủ Lỵ Nhân lúc bấy giờ, nay thuộc vào đất của các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Lộ ứng Thiên là vùng Kinh đô Thăng Long và một phần đất phía nam Hà Nội và một phần đất của tỉnh Hà Tây ngày nay. Lộ Bắc Giang là thuộc đất tỉnh Bắc Giang bây giờ. Phủ Thanh Hoá thuộc đất tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Châu (hay trại) Nghệ An thì tương ứng với vùng đất tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.
Nhưng, nhìn chung cách gọi phủ, lộ, châu hay trại ở thời kỳ này vẫn chưa được nhất quán. Có thể do phương thức quản lý khác nhau của từng vùng đất mà nhà Lý đặt ra tên gọi khác nhau. Như những vùng đồng bằng phía bắc thì gọi thống nhất là phủ và lộ. Còn những miền xa kinh đô như Thanh Hoá, Nghệ An thì gọi là châu, có lúc đổi là trại, rồi lại đổi thành châu, thành phủ vv…Lại có những nơi ở vùng núi xa thì không gọi là châu mà gọi là đạo. Ví dụ vùng Tây Bắc (dọc theo sông Đà) lúc bấy giờ lại không gọi là châu mà gọi là đạo Lâm Tây vv.
Mỗi phủ (lộ, châu) được chia ra làm nhiều huyện. Đứng đầu đơn vị hành chính cấp huyện là viên Huyện lệnh. Tên đơn vị hành chính cấp huyện ở thời Lý không được ghi trong chính sử mà chỉ thấy ghi trong tài liệu văn bia. Theo văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh dựng tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Thanh Hóa) vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Tuất (1118) cho biết, Chu Công là người được triều đình nhà Lý cử coi giữ trấn Thanh Hóa sau khi Lý Thường Kiệt về triều đình giữ chức Tể tướng lần hai, vào ngày Ất Mùi, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 6 (1115), Chu Công đã “kính vâng chiếu chỉ, tới giữ quận phù, quyền thống lĩnh các việc quân châu của năm huyện và ba nguồn thuộc trấn Thanh Hóa”37. Khi Chu Công cho dựng chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, ông đã sai một viên huyện lệnh trông coi việc này. Văn bia vẫn còn ghi rằng: “Đương khi dân chúng nghỉ ngơi, cấy cày rảnh việc. Ông bèn sai huyện lệnh Lê Chiếu trông coi việc dựng chùa”38. Như vậy, theo nguồn tài liệu này thì vào thời Lý đã có đơn vị hành chính cấp huyện và người đứng đầu cấp huyện là Huyện lệnh. Còn đơn vị hành chính cấp huyện rộng hẹp ra sao thì tài liệu không cho biết chính xác. Ngoài tài liệu văn bia, trong sách Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên cũng nhắc tới tên huyện vào thời Lý, qua sự kiện Uy Minh vương Lý Nhật Quang khi giữ chức Tri châu châu Nghệ An, ông đã cho nhân dân khai phá đất đai mở mang được 6 huyện…39 ở kinh đô tương đương với cấp này thì gọi là phường, ở miền núi lại gọi là sách hay động.
Cấp hương dưới thời Lý cụ thể thế nào không thấy sử sách nói rõ, nhưng sử cũ lại nhắc tới tên hương, qua nhiều sự kiện khác nhau. Như những sự kiện sau đây:
- Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đổ nát đều phải sửa chữa lại40.
- Năm 1027, trong vụ dẹp loạn ba vương giữ ngôi báu cho vua Lý Thái Tông, Lê Phụng Hiểu, một trong những công thần được sử nhắc đến là người hương Băng Sơn ở Ái châu (nay thuộc huyện Hoằng Hóa, Thanh Hoá). Sau ông còn được nhà vua ban cho lộc điền gọi là ruộng ném đao ở hương Đa Mi41.
- Năm 1068, vua Lý cho đổi hương Thổ Lỗi thành hương Siêu loại vì là nơi sinh của Nguyên phi42.
- Năm 1128, người Chân Lạp vào cướp hương Đỗ Gia ở châu Nghệ An43.
- Năm 1131, người ở hương Thái Bình là Nguyễn Mãi dâng hươu trắng44.
- Đến năm 1198, vào cuối thời Lý biên niên sử vẫn còn ghi tên hương, như “người hương Cao Xá ở châu Diễn là Ngô Công Lý chiêu tập những kẻ vô lại…làm loạn”45. Hoặc sách Việt sử lược khi viết về thời Lý cũng nhắc nhiều đến tên hương, như “trong hương vua ở, có cây gạo bị sét đánh…”46, “con chó ở chùa ứng Thiên hương Cổ Pháp đẻ một con chó trắng…”47.
Đơn vị hành chính cấp hương được đặt ở nước ta từ thời thuộc Đường (năm 662) dưới thời Thứ sử Khâu Hoà. Lúc này hương được chia làm đại hương và tiểu hương. Trong khoảng đời Trinh Nguyên (785 – 805), viên đô hộ Triệu Xương bỏ tên đại, tiểu hương chỉ gọi chung là hương. Đến thời Hàm Thông (860 – 874), Cao Biền chia đặt lại hương thuộc, có tất cả 159 hương48. Khi chính quyền về tay họ Khúc, Khúc Hạo lại cho đổi hương thành giáp. Sách An Nam chí nguyên ghi: “Giữa niên hiệu Khai Bình (907 – 910) nhà Lương, Tiết độ sứ Khúc Hạo lại đổi hương làm giáp, đặt thêm 150 giáp, cộng với số giáp đã có từ trước tất cả là 314 giáp”49.
Qua các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê không thấy biên niên sử nhắc đến tên hương, nhưng có lẽ đơn vị hương đã phải có từ trước khi triều Lý thành lập, vì ngay từ đầu triều Lý đã thấy sử ghi tên hương và trong suốt thời Lý cho đến cuối triều Lý vẫn thấy biên niên sử ghi rất nhiều về đơn vị hành chính cấp hương. Vậy, hương phải là một đơn vị hành chính cấp cơ sở vì nó được tồn tại khá phổ biến dưới thời Lý. Hương lúc này qui mô chắc cũng lớn, có lẽ phải lớn hơn tổng và tương đương với huyện sau này. Vì năm 1068, vua Lý cho đổi hương Thổ Lỗi – nơi sinh của Nguyên phi ỷ Lan thành hương Siêu loại, thì sau này hương Siêu Loại lại được đổi làm huyện Siêu Loại. Huyện Siêu loại còn tồn tại cho đến thế kỷ XIX, huyện này có tới 6 tổng và 68 xã thôn50.
Như vậy, hương thời Lý có thể tương đương với cấp huyện hoặc có nơi gọi hương là huyện và có nơi lại gọi huyện là hương do chưa có sự nhất quán về tên gọi các đơn vị hành chính của thời kỳ này như vừa nhắc ở trên.
Về tên gọi hương hay đơn vị hành chính cấp hương ở thời Lý có phải đồng nghĩa với đơn vị giáp hay không, hiện cũng chưa xác định được do chưa có tư liệu để chứng minh. Mặc dù từ đầu thế kỷ X, Khúc Hạo đã cho đổi hương thành giáp, nhưng đến thời Lý hai đơn vị hành chính này vẫn hiện tồn, vừa có hương lại vừa có giáp. Như vậy tên gọi hương lúc này không đồng nghĩa với tên gọi giáp. Do đó hương và giáp phải là hai đơn vị riêng biệt, chứ không phải là một như ở thời kỳ trước. Tuy nhiên, hai cấp hành chính này cụ thể ra sao thì chưa khảo được vì chưa đủ tư liệu.
Giáp ở thời Lý cụ thể như thế nào cũng không thấy sử sách ghi chép đầy đủ nhưng chắc chắn vào thời kỳ này, đơn vị giáp hãy còn tồn tại vì vào thời Khúc – Ngô – Đinh – Tiền Lê, giáp là đơn vị hành chính khá phổ biến. Các chức Quản giáp Phó quản giáp đã được đặt ra để trông nom công việc của giáp. Đến thời Lý, vẫn còn thấy sử nhắc tới tên giáp, như năm 1029 “Giáp Đãn Nãi ở Ái châu làm phản…vua thân đi đánh giáp Đãn Nãi”51. Vào thời vua Lý Thái Tông, khi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được cử làm Tri châu châu Nghệ An, ông đã cho nhân dân khai phá mở mang xây dựng và phát triển vùng đất này rồi lập hộ tịch, kê khai được 6 huyện, 4 trường, 60 giáp52 như vừa nhắc ở trên. Như vậy, đơn vị Giáp cho đến thời Lý vẫn còn hiện tồn khá quen thuộc. Chỉ riêng một châu Nghệ An mới được mở mang thêm mà Lý Nhật Quang đã đặt được 60 giáp như vậy là rất đáng kể.
Đơn vị thôn cũng được nhắc đến vào thời Lý qua sự kiện Lê Phụng Hiểu đi đánh dẹp cuộc tranh giành địa giới của hai thôn Đàm Xá và Cổ Bi53 ở châu Ái.
Tại những đơn vị hành chính các cấp của chính quyền địa phương, nhà Lý cũng đã đặt một hệ thống quan chức để giúp triều đình quản lý công việc ở đây.
Quan lại đứng đầu cấp phủ, lộ thời kỳ này là Tri phủ, Phán phủ 54. Đứng đầu cấp châu là Tri châu, có những châu ở xa (biên giới) nhà Lý đều đặt chức Quan mục, thường dùng những hào trưởng (hay tù trưởng – TG) tại địa phương để giữ những chức đó55. Những châu có địa thế quan yếu như châu Nghệ An, vua Lý đã cử tôn thất nhà Lý đến để trấn trị, như dưới thời vua Lý Thái Tông, triều đình đã cử Uy Minh vương Lý Nhật Quang làm Tri châu56 coi giữ châu đó trong suốt 16 năm. Đối với những miền biên viễn xa triều đình, một mặt nhà Lý đã dùng chính sách Ki mi để ràng buộc và một mặt dùng các tù trưởng người địa phương theo chế độ thế tập để cai quản. Vào thời kỳ này, ở châu Qui Hoá và Chân Đăng có họ Lê, ở châu Lạng có họ Thân, ở châu Vị Long có họ Hà, ở châu Phú Lương có họ Dương, châu Quảng Nguyên có họ Nùng… Chính sách của nhà Lý là cho phép họ thực sự được quản lý vùng đất của mình theo chế độ thế tập nhưng phải thần phục triều đình và phải giữ chế độ cống phú đều đặn.
Ở cấp huyện, như đã nói ở trên là có chức Huyện lệnh. Tại hương không thấy có tài liệu ghi chép, song có lẽ chức quan làm việc tại đây cũng tương đương với chức quan ở cấp huyện. Còn chức quan quản lý cấp giáp có lẽ là Quản giáp và Chủ đô. Những viên quan này kiêm thêm cả nhiệm vụ thu thuế. Vì vào thời Lý, khi triều đình giao cho quan lại đi thu thuế Hoành đầu, nhà nước đã cho phép những viên Quản giáp và Chủ đô được cùng với người đi thu thuế, ngoài 10 phần phải nộp vào nhà nước, họ được lấy một phần, nếu không làm đúng thì bị xử tội. Sách Đại việt sử ký toàn thư ghi :”Nếu Quản giáp, Chủ đô và người thu thuế thông đồng nhau thu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu nhưng không có người tố cáo thì Quản giáp, Chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau57″. Chính sử còn ghi cả những việc các viên Quản giáp ở các nơi dâng sản vật địa phương lên vua, như vào năm 1130 “Quản giáp nội tác là Chu Thủy dâng cá diếc vàng”và tiếp đó “Quản giáp Phù Thu Liễu là Phi Nguyên dâng chim trắng”58… Những viên Quản giáp và Chủ đô này phải chăng là các chức quan cai quản tại đơn vị hành chính cấp giáp giống như chức Quản giáp dưới thời họ Khúc vậy.
CÁC CẤP HÀNH CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG
Phủ, Lộ (đồng bằng) – Tri phủ – Phán phủ
Châu Trại, Đạo (miền núi) – Tri châu – Quan mục (miền núi xa)
Hương – Huyện
- Huyện lệnh Phường (ở Kinh đô)
Giáp
- Quản giáp
- Chủ đô
Thôn
Nhìn lại toàn bộ cách thức tổ chức nền hành chính quốc gia thời Lý, chúng ta có thể thấy được bước tiến đáng kể của vương triều Lý trong việc củng cố, xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị trong bối cảnh đất nước ổn định về mọi mặt ở các thế kỷ XI – XII. Đây là đóng góp đáng kể của nhà Lý sau đóng góp to lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại là việc dời chuyển Kinh đô và kiến lập Kinh thành Thăng Long.
Phương thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy hành chính quốc gia
Để điều hành bộ máy hành chính quốc gia, nhà Lý đã chú ý ngay tới việc xây dựng một hệ thống quan chức theo phong cách riêng của dòng họ Lý. Để xây dựng được một hệ thống quan chức theo phong cách riêng của dòng họ Lý, các vua nhà Lý một mặt đã tìm cách đẩy nhanh quá trình quí tộc hóa tầng lớp quí tộc dòng họ Lý, một mặt đã sử dụng cất nhắc những công thần khai quốc và cuối cùng là xúc tiến dần dần việc đào tạo đội ngũ quan lại nho sĩ mới, bổ sung vào bộ máy chính quyền Nhà nước. Phương thức tuyển dụng quan lại dưới thời Lý được tiến hành bằng ba con đường chính là Tuyển cử, Nhiệm tử và
Khoa cử.
Tuyển cử: Buổi ban đầu nhà Lý rất coi trọng phương thức tuyển cử để bổ sung thêm đội ngũ quan lại mới, vào giúp việc triều đình. Được dự vào hàng tuyển cử đều thuộc tầng lớp trên, từ những người trong thân tộc và những người có công.
Nhiệm tử: Dùng con cháu các quan được tập ấm cũng là một phương thức lựa chọn để lấy người làm quan. Nhưng đến thời Lý, chế độ nhiệm tử không còn coi trọng như ở thời Đinh – Lê, vì nó không thể đảm bảo chất lượng của đội ngũ quan chức trong tình hình mới. Khi chưa mở được khoa cử để tuyển chọn nhân tài thì nhà Lý vẫn còn có thêm hình thức nộp tiền để trao quan tước.
Nộp tiền: Phương thức này ở thời Lý chưa được thịnh hành. Không thấy sử cũ ghi về mức tiền nộp và mức trao quan tước cụ thể, chỉ biết “Người quyên nộp tiền, bắt đầu bổ làm Lại, nộp lần thứ hai được bổ làm Thừa tín lang, làm việc xứng chức thì bổ làm Tri châu”59. Hình thức chính thống trong phương thức tuyển dụng quan lại cho một chính thể quân chủ phải là khoa cử.
Khoa cử: Tuyển chọn nhân tài qua con đường học vấn bắt đầu có từ thời Lý. Lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến quân chủ Việt Nam, khoa cử được sử cũ nhắc đến vào năm Ất Mão (1075). Nho học bắt đầu được coi trọng và đội ngũ Nho sĩ đỗ đạt bắt đầu được gia nhập vào trong thiết chế Nhà nước. Nhưng vào thời Lý, khoa cử mới bắt đầu, chưa trở thành chế độ thường xuyên, số lượng Nho sĩ đỗ đạt cũng chưa nhiều và khoa cử chưa chiếm vị trí quan trọng trong phương thức tuyển dụng quan lại của thời Lý.
Tuy vậy, chất lượng của đội ngũ quan chức làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước thời Lý khá đảm bảo, vì đội ngũ quan lại thời Lý vừa không được hưởng chế độ lương bổng thường xuyên của triều đình lại vừa phải trải qua một chế độ tuyển chọn tương đối qui củ và chế độ khảo khóa nghiêm ngặt. Nhờ thế, vương triều Lý cũng như thể chế chính trị thời Lý mới có điều kiện tồn tại vững vàng trong hơn hai thế kỷ, góp phần đưa quốc gia Đại Việt thời Lý phát triển lên một bước mới.
2. Cách tổ chức lực lượng quốc phòng thời Lý
Để tăng cường bảo vệ nhà nước quân chủ cũng như bảo vệ quốc gia Đại Việt non trẻ, nhà Lý đã xây dựng được một lực lượng quốc phòng khá hùng hậu, thể hiện ở cách thức tổ chức quân đội của nhà Lý.
Quân đội thời Lý được phiên chế thành hai loại: Quân trong và quân ngoài. Quân trong còn gọi là cấm quân, hay cấm binh. Loại quân này luôn đóng ở trong thành và có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành. Quân ngoài là quân ở các phủ, lộ, châu, tức là quân đội ở các địa phương, gọi là lộ quân hay sương quân. Ngoài ra, vào thời kỳ này còn có thêm lực lượng dân binh, tức hương binh ở đồng bằng và thổ binh ở miền núi. Dưới thời Lý, cấm binh tinh nhuệ hơn binh lính ở các phủ, lộ, châu, nhưng khi có chiến tranh thì quân ở các phủ, lộ, châu với số lượng đông đảo lại là lực lượng đóng góp quan trọng.
Tổ chức quân cấm vệ
Ngay từ những năm đầu triều Lý, để chỉnh đốn lực lượng bảo vệ vua và triều đình, vua Lý Thái Tổ đã chú ý ngay tới lực lượng cấm quân, năm 1011 nhà vua đã cho đặt quân Tả Hữu túc xạ (tức quân theo hầu xe vua, gồm 2 đội tả và hữu). Mỗi đội 500 người60.
Năm 1028, khi vừa lên ngôi, vua Lý Thái tông cũng đã tăng cường ngay lực lượng cấm quân để bảo vệ kinh thành. Đặt 10 vệ cấm quân là: Quảng Thánh, Quảng Vũ, Ngự Long, Bổng Nhật và Trừng Hải. Mỗi vệ lại chia ra làm hai Tả, Hữu trực, đi quanh để bảo vệ cấm thành61. Mỗi vệ quân có 200 người, đều có tả hữu và phải túc trực thường xuyên62. Năm 1051, Vua Lý Thái Tông còn cho đặt Tuỳ xa long quân ở trong và ngoài thành63 (tức quân theo xe vua). Tả kiêu vệ tướng quân Trần Nẫm được cử trông coi đội quân này.
Năm 1059, vua Lý Thánh Tông cho định quân hiệu, tên gọi là: Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp. Mỗi loại quân hiệu này đều chia ra làm: tả và hữu. Cấm quân thì đều phải thích lên trán ba chữ Thiên tử quân64.
Năm 1104, Vua Lý Nhân Tông đã cho định lại binh hiệu của quân cấm vệ65. Tiếp đến năm 1118, lại cho tuyển đại hoàng nam, người nào khoẻ mạnh thì sung vào làm binh các đô Ngọc Giai, Hưng Thánh, Vũ Đô và Ngự Long, tất cả 350 người66.
Năm sau (1119), trước khi đi đánh dẹp động Ma Sa, vua Lý Nhân Tông đã cho duyệt cấm binh ở các binh tào Vũ Tiệp, Vũ Lâm vv… người nào khoẻ mạnh cho làm hoả đầu ở các đội quân Ngọc Giai, Hưng Thánh, Bổng Nhật, Quảng Thánh, Vũ Đô, người nào kém hơn thì cho làm binh67.
Cấm binh ngoài việc thích trên trán ba chữ Thiên tử quân, còn được xăm mực hình rồng vào người. Năm 1118, vua Lý Nhân Tông còn ra lệnh “cấm nô bộc của các nhà dân trong ngoài kinh thành không được thích dấu mực vào chân như cấm quân cùng là xăm hình rồng ở mình, ai phạm thì sung làm quan nô”68.
Quân đội nhà Lý nói chung và cấm quân nói riêng phải tuân theo một kỷ luật nghiêm ngặt. Năm 1028, khi đem quân đến đánh dẹp quân của Khai Quốc vương ở phủ Trường Yên, vua Lý Thái Tông đã hạ lệnh cho quân sĩ rằng: “ai cướp bóc của cải của dân thì chém”69. Quân lính mà bỏ trốn cũng bị phạt rất nặng. Năm 1042, triều đình có chiếu chỉ rằng: “các quan chức đô (chức quan chỉ huy quân cận vệ), ai bỏ trốn thì phạt 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ và xử tội đồ. Các quân sĩ trốn vào núi rừng và đồng nội cướp của người thì xử 100 trượng, thích vào mặt 30 chữ. Người coi trấn trại mà bỏ trốn thì cũng phạt như thế ”70. Năm sau (1043), triều đình lại tiếp tục xuống chiếu rằng: “quân sĩ bỏ trốn quá một năm, xử 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ, chưa đến 1 năm thì xử theo mức tội nhẹ, kẻ nào quay lại thì cho về chỗ cũ. Quân sĩ không theo xa giá cũng xử trượng như thế và thích vào mặt 10 chữ”71.
Cấm quân thời Lý có vai trò quan trọng hơn quân ở ngoài các châu, lộ. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ kinh đô mới của quốc gia Đại Việt trong đó có nhà vua và hoàng tộc, cấm quân còn là lực lượng chủ yếu để dẹp trừ bạo loạn, đặc biệt là các sự biến cung đình. Vào năm 1028, trước loạn tam vương, Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu đã chỉ huy quân cấm vệ dẹp loạn bảo vệ ngôi vua cho Lý Thái Tông. Trong vụ dẹp loạn Đỗ Anh Vũ năm 1150, cấm quân cũng đóng vai trò quan trọng. Trong những lần vua Lý đi chinh phạt dẹp loạn ở một số địa phương, cấm quân cũng từng là lực lượng nòng cốt tham gia dưới trướng của nhà vua. Vai trò nòng cốt của cấm quân nhà Lý biểu hiện rõ nét trong cuộc kháng chiến chống Tống, khi Lý Thường Kiệt chỉ huy cấm quân kết hợp với quân các châu lộ “tiên phát chế nhân”(1075) và đánh trận quyết chiến chiến lược trên chiến trường Như Nguyệt năm 1077.
Vì cấm quân đóng vai trò quan trọng như vậy nên vào thời Lý cấm quân được hưởng chế độ lương lộc của triều đình. Cấm quân cứ mỗi năm mỗi người được cấp 10 bó lúa. Ngày Khai hạ (mồng 7 tháng giêng) hàng năm mỗi người được cấp 3 tiền và một tấm vải nhỏ. Ngày tết Nguyên Đán, trong lễ đại triều hội, ban ăn thì có các thứ bánh tây, cá mắm và cơm gạo nếp cái. Lương bổng thì đều cấp bằng gạo tẻ72.
Tổ chức quân ở các phủ lộ châu
Ngoài việc tăng cường lực lượng quân chính qui bảo vệ kinh thành và chính quyền quân chủ, nhà Lý còn chú ý tăng cường lực lượng quân đội đóng ở các phủ, châu, lộ do các trấn thủ chỉ huy.
Quân đội loại này dưới thời Lý không có số lượng nhất định. Dân đinh cứ đến tuổi hoàng nam (18 tuổi) và đại hoàng nam (20 tuổi) là phải ghi vào sổ vàng và phải có nghĩa vụ vào quân đội. Quân đội ở các phủ, lộ, châu được chia làm hai hạng. Binh lính ở các châu miền xuôi gọi là chính binh. Binh lính ở miền thượng du và các châu xa gọi là phiên binh. Phiên binh được chia thành từng đội riêng không cho lẫn lộn với chính binh.
Từ thời Lý Thần Tông (1128 – 1138), nhà vua đã đặt lệ cho quân lính các lộ chia nhau phục dịch mỗi phiên một tháng, hết hạn lại trở về làm ruộng, để phiên khác ra thay gọi là chế độ ngụ binh ư nông. Lực lượng chính của quân đội ở các châu lộ hay là quân ngoài vào thời Lý phần lớn đều xuất thân từ nông dân các làng xã. Nên với chính sách ngụ binh nông của nhà Lý, những nông dân mặc áo lính khi hữu sự họ sẵn sàng ra trận, khi hết chiến tranh, họ lại trở về với đồng ruộng của mình. Vì thế chỉ có cấm binh mới được hưởng chế độ lương lộc của triều đình, còn quân các phủ, châu, lộ thì phải tự túc. Sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục Binh chế chí cũng nói rõ rằng “ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đến canh, hết phiên canh cho về nhà cày cấy trồng trọt để tự cấp73”. Trong sách Việt sử tiêu án Ngô Thì Sĩ cũng đánh giá cao về chế độ “tự túc binh cường”này của nhà Lý “Chế độ binh lính của nhà Lý…mỗi tháng lên cơ ngũ một lần gọi là đi canh, hết hạn canh lại về làm ruộng, quân không phải cấp lương…không cần phí tổn nuôi lính mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay”74.
Phép chọn lính
Để có được một lực lượng quân đội hùng hậu bảo vệ đất nước và vương triều, nhà Lý đã đề ra phép tuyển chọn binh lính bằng cách cho kiểm soát hộ tịch thật là nghiêm ngặt. Dân đinh đến 18 tuổi đều phải biên tên vào sổ bìa vàng, gọi là hoàng nam, đến 20 tuổi thì gọi là đại nam (hay đại hoàng nam). Nhà Lý qui định, ai nuôi tư nô chỉ được nuôi những người ch-ưa đến tuổi hoàng nam. Người nào nuôi giấu những hạng hoàng nam, đại nam thì phải phạt tội. Năm 1043, vua Lý Thái Tông xuống chiếu cho các quan chức đô( quan chức đô – quan giữ việc cai quản quân cấm vệ), cứ ba người cùng được nuôi một người làm gia nô, nếu người nào nuôi ẩn giấu một đại nam thì cả ba người cùng phải tội75. Để bảo vệ đại hoàng nam một lực lượng quan trọng sung vào quân ngũ, vua Lý tiếp tục “xuống chiếu cho các quan chức cứ 3 người cùng đảm bảo cho một người, nếu có ai chứa giấu đại nam thì ba người bị tội cả”76. Sau đó, năm 1083, vua Lý Nhân Tông còn cho kiểm soát lại số hoàng nam, định làm ba bậc (Đại hoàng nam, Hoàng nam và Tiểu hoàng nam)77. Sách Toàn thư ghi cụ thể hơn là năm 1083 vào “mùa xuân, vua thân duyệt các hoàng nam định làm 3 bậc”78. Nhờ có cách kiểm soát dân đinh chặt chẽ nhà Lý mới tiến hành tuyển dân vào lính được thuận tiện.
Năm 1160, vua Lý Anh Tông sai Tô Hiến Thành và Phí Công Tín tuyển dân đinh, người nào mạnh khoẻ thì sung vào quân ngũ và cho chọn các tướng hiệu, người nào thông thạo binh pháp, am tường võ nghệ thì chia cho cai quản79.
Đến đời vua Lý Cao Tông (năm 1179), triều đình lại cho tuyển các đinh nam, người nào mạnh khoẻ sung vào quân ngũ80.
Đối với việc tuyển người vào quân cấm vệ, nhà Lý cũng lưu ý tới những gia đình nhiều đinh hoặc ít đinh. Năm 1146, vua Lý Anh Tông đã xuống chiếu cho các quan, quản giáp và chủ đô, khi tuyển người sung vào cấm quân thì phải chọn ở những nhà đông người, không được lấy con nhà cô độc, làm trái bị trị tội81.
Tuy nhiên, vào thời Lý và cả thời Trần sau đó, phép tuyển binh cụ thể ra sao chưa thể biết rõ. Nói chung, người nào trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên tên vào sổ, có việc mới gọi ra, niên hạn cũng không nhất định và bao nhiêu đinh lấy một lính cũng không rõ82.
Với việc xây dựng lực lượng quân đội và cách tuyển chọn như trên, nhà Lý đã có được một tổ chức quân đội khá vững mạnh. Khi bàn về nền binh bị qua các thời đại, Phan Huy Chú đã viết trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục Binh chế chí rằng: “Cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống (Lý Thái Tông dẹp quân Chiêm Thành, Lý Nhân Tông phá quân Tống), cái oai hùng hai lần đánh bại quân Nguyên (Trần Nhân Tông hai lần phá quân Nguyên), cũng đủ cho biết cái binh lực của hai đời cường thịnh thế nào”83.
Quân đội thời Lý có hai bộ phận là: quân bộ và quân thuỷ. Quân bộ có các binh chủng: bộ binh, tượng binh, kỵ binh và lính cung nỏ. Quân thuỷ có những đội thuyền lớn như chiến hạm và thành thạo thuỷ chiến, từng hành quân sang đất Tống trong chiến dịch “tiên phát chế nhân”của Lý Thường Kiệt
Quân đội thời Lý số lượng cụ thể như thế nào sử sách không ghi rõ. Chỉ biết năm 1025, vua Lý Thái Tổ đã cho “định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người làm quản giáp. Lại định các cấp bậc quản giáp”84.
Ban chỉ huy
Vào thời Lý, chức quan đứng đầu hàng võ là Đô thống. Ban chỉ huy lúc đó có thể gồm những chức quan võ lớn ở kinh thành như: Nguyên súy, Tổng quản Khu mật sứ, Khu mật tả hữu sứ, Tả hữu kim ngô Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, các Vệ tướng quân, Chỉ huy sứ85…
3. Xây dựng nền Nền pháp chế quốc gia
Cùng với việc xây dựng lực lượng quốc phòng, bảo vệ quốc gia Đại Việt non trẻ và tăng cường sức mạnh cho nhà nước quân chủ, nhà Lý cũng đã chú ý tới nền pháp chế của đất nước. Nền pháp chế của quốc gia Đại Việt thời Lý được hình thành với việc ban hành bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử, đó là bộ Hình thư. Vào năm 1042, vua Lý Thái Tông sai quan Trung thư san định các luật lệnh cũ và châm chước thói tục trong dân gian biên soạn thành bộ Hình thư. Về việc này biên niên sử đã ghi cụ thể rằng: “Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng”86.
Bộ Hình thư ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đời sống pháp luật của đất nước. Vì trước đó vào thời Đinh và Tiền Lê, nhà nước chưa có một hệ thống pháp luật. Khi bộ luật được ban hành giúp cho việc xử án trong nước được thuận lợi và rõ ràng. Nên cùng lúc ban bố bộ luật, vua Lý đã cho đổi niên hiệu là Minh Đạo và cho đúc tiền mang niên hiệu Minh Đạo87.
Hình thư thời Lý – bộ luật thành văn đầu tiên được soạn gồm 3 quyển88 nhưng đến nay đã bị thất truyền. Tuy bộ luật không còn, để tiếp cận với từng luật định nhưng qua nhiều pháp lệnh còn ghi lại trong biên niên sử, chúng ta cũng có thể hình dung phần nào về tính chất của nền luật pháp thời Lý.
Tháng 11 năm 1042, ngay sau khi ban bố Hình thư, nhà Lý đã có những điều luật qui định bổ sung về việc chuộc tội cho những đối tượng là người già và trẻ em, người đau yếu và những thân thuộc của nhà vua, bao gồm “những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến những thân thuộc của nhà vua để tang từ 9 tháng, 1 năm trở lên, phạm tội thì cho chuộc, nếu phạm tội thập ác89 thì không được theo lệ này”90. Năm 1071, lại qui định thêm về mức nộp tiền chuộc là “người được nộp tiền chuộc tội phải tuỳ theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền nhiều ít khác nhau”91.
Đối với nhà nước quân chủ cũng như lợi ích của tầng lớp quí tộc quan liêu, luật pháp thời Lý luôn đứng ra bảo vệ. Nhà Lý đã ban hành những điều luật nghiêm ngặt bảo vệ nơi ở và làm việc của vua và triều đình, như khu vực Hoàng thành, cung điện… Năm 1060, vua Lý Thánh Tông ban lệnh cấm “lính Ngự thuyền hoả, Củng thánh hoả, Tuỳ long hoả và bọn nhà bếp không được ra vào thềm Ngự, không được nói chuyện với bọn tiểu chi hậu và đưa tin tức, trao đồ vật, đi lại với nhau. Kẻ nào trái lệnh bị tội chết, gặp khi xá tội cũng không được tha”92. Năm 1150, vua Lý Anh Tông xuống chiếu “cấm bọn hoạn quan không được tự tiện vào trong cung, ai phạm thì bị tội chết. Nếu canh giữ không cẩn thận để người khác vào cung cũng bị tội như thế”93. Đối với các quan làm việc trong triều, cũng có lệnh cấm “không được đi lại nhà các vương hầu, ở trong cung cấm không được hội họp nhau năm ba người bàn luận chê bai, ai phạm thì bị trị tội. Kẻ nào phạm việc qua lại bên ngoài phía đầu hành lang chứa khí giới của đô phụng quốc vệ thì xử 80 trượng, tội đồ ; nếu vào trong hành lang ấy thì xử tử. Linh phụng quốc vệ trong hành lang ấy có chiếu chỉ mới được cầm khí giới, không có chiếu chỉ mà tự tiện mang khí giới đi quá ra ngoài phía đầu hành lang thì xử tử”94.
Đối với những người có thái độ chống đối nhà vua hoặc triều đình, nhà Lý cũng đã có những hình phạt thích đáng, thậm chí xử tội chết. Biên niên sử còn ghi lại sự kiện vào năm 1035, vua Lý Thái Tông khi thân chinh đi đánh dẹp vụ nổi loạn ở châu Ái, có Định Thắng vương Nguyễn Khánh đi theo, nhưng Nguyễn Khánh đã ngấm ngầm cấu kết với nhà sư họ Hồ và mấy người em nuôi là Đô thống Đàm Toái Trạng, Hoàng đệ là Thắng Càn và Thái Phúc ở lại kinh sư, mưu làm phản. Được tin, nhà vua “xuống chiếu bắt bọn Khánh đóng cũi đưa về kinh sư”95, rồi sau đó chính nhà vua đã phải ra ngự tại điện Diên Khánh để xét án những người phản nghịch này. Nguyễn Khánh, sư Hồ “đều phải xẻo thịt băm xương ở chợ Tây, còn những người khác thì xét theo tội nặng nhẹ”96. Vào thời Lý còn có một loại hình phạt rất thảm khốc giống thời cổ là đóng người vào đinh trên một tấm gỗ đem bêu ở chợ rồi mới mang ra pháp trường. Sử cũ ghi vào năm 1109, vua Lý xét án nghịch đảng Tô Hậu, Kỷ Sùng97. Hai người này đều phải “lên ngựa gỗ”mà chết98. Năm 1192, có người tên là Lê Vãn ở giáp Cổ Hoằng (Hoằng Hoá, Thanh Hoá ) làm phản. Cũng bị đóng cũi đưa về kinh sư và cũng bị “lên ngựa gỗ”mà chết99.
Đối với những người bị mắc tội phản quốc, hình phạt thời Lý cũng rất tàn khốc. Ngay từ khi bộ Hình thư chưa ra đời, nhà Lý cũng đã có những hình phạt rất thích đáng đối với những kẻ đào vong hại nước. Năm 1011, sau khi vua Lý Thái Tổ được vua Tống phong làm Giao chỉ quận vương, nhà vua đã cử viên ngoại lang là Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang thăm nước Tống để đáp lễ vua Tống, nhưng Khánh Văn đã trốn ở lại nước Tống, bị người Tống bắt trả lại . Vua Lý Thái Tổ đã cho xử tội bằng cách đánh gậy chết100.
Đối với dân đinh, nguồn nhân lực bổ sung thường xuyên cho quân ngũ và tăng cường sức lao động cho sản xuất nông nghiệp cũng được nhà Lý bảo vệ bằng pháp luật. Năm 1042, sau khi ban hành bộ Hình thư, nhà Lý còn định rõ điều mục về các lệnh cấm, trong đó có lệnh cấm về bán hoàng nam. Điều lệnh qui định rằng”ai bán hoàng nam ở dân gian làm nô bộc tư gia, nếu đã bán rồi thì phạt 100 trượng và thích 20 chữ vào mặt; chưa bán mà đã phục dịch người ta thì phạt 100 trượng và thích 10 chữ vào mặt. Kẻ tri tình mà cứ mua, cũng phạm tội, nhưng giảm xuống một bậc”101. Năm 1043, vua Lý Thái Tông còn ra lệnh phạt những người chứa giấu đại hoàng nam. Nhà vua xuống chiếu cho các quan chức “cứ ba người cùng đảm bảo cho một người, nếu có ai chứa giấu đại nam thì ba người bị tội cả”102.
Đối với các quan lại làm việc thu thuế cho nhà nước cũng được luật pháp nhà Lý qui định cụ thể và xử phạt những trường hợp sai phạm. Năm 1042, nhà Lý qui định về việc phú thuế của trăm họ “cho phép người thu, ngoài 10 phần phải nộp quan, được lấy thêm 1 phần nữa, gọi là hoành đầu. Lấy quá thì xử theo tội ăn trộm, trăm họ có người tố cáo được tha phú dịch cho cả nhà trong 3 năm, người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được”103.
Luật pháp thời Lý có điều luật rất nghiêm về việc trị tội kẻ ăn cắp, ăn trộm. Năm 1043, vua Lý Thái Tông có chiếu chỉ “nếu kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của dân, nếu đã lấy rồi thì xử 100 trượng, nếu chưa lấy được nhưng làm cho người bị thương thì xử tội lư-u”104. Năm 1122, vua Lý Nhân Tông lại xuống chiếu rằng: “Những tên trộm cướp trốn tránh đã bắt được mà laị bị nhà thế gia chiếm đoạt thì nhà thế gia ấy cùng tội với người trốn. Kẻ lại đi bắt trộm cướp, bắt được rồi mà giữ lại ở nhà mình, không dẫn đến quan thì phạt đánh 80 trượng”.
Để bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp, nhà Lý đã có luật định rất nghiêm ngặt.Tháng 2, năm 1117, vua Lý định rõ lệnh “cấm giết trâu…kẻ mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp (phục dịch trong quân), vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ (làm việc ở nhà chăn tằm) và phải bồi thường trâu, láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng105.
Đối với chế độ tư hữu ruộng đất, nhà Lý cũng có điều luật bảo vệ. Năm 1142, Lý Anh Tông, ban chiếu rằng: “Những người cầm ruộng thục trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại, việc tranh nhau ruộng đất trong vòng 5 năm hay 10 năm còn được tâu kiện; ai có ruộng đất bỏ hoang bị kẻ khác cày cấy trồng trọt trong vòng 1 năm thì được kiện mà nhận, quá hạn ấy thì cấm. Làm trái thì xử 80 trượng. Những ruộng hoang ruộng thuộc đã bán đứt thì không được chuộc, làm trái thì cũng bị tội như trên. Nếu tranh ruộng ao mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, lấy ruộng ao trả lại cho người chết hoặc bị thương”106. Cùng năm này, vua Lý Anh Tông lại xuống chiếu cho “những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa, ai làm trái bị phạt đánh 80 trượng”107. Năm 1145, nhà vua lại xuống chiếu rằng: “những người tranh ruộng ao của cải không được nhờ cậy nhà quyền thế, làm trái thì đánh 100 trượng, xử tội đồ”108.
Ngoài ra pháp luật thời Lý cũng đã giành nhiều đặc quyền đặc lợi cho tầng lớp quí tộc quan liêu, từ nhà cửa, trang phục, đồ dùng vv…
Với việc ra đời của bộ Hình thư và những luật lệnh khác ban hành vào thời Lý đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đời sống pháp luật của Việt Nam thời kỳ này. Tuy tính hiệu quả còn chưa cao nhưng chắc chắn nó mang tính tích cực nhất định vì kể từ khi bộ luật được ban hành thì “dân đều lấy làm tiện”. Đó là tính ưu việt và tiến bộ hơn hẳn so với thời kỳ trước khi chưa có bộ luật.
* * *
Chế độ chính trị được xây dựng dưới thời Lý trong các thế kỷ XI – XIII, tuy chưa thật hoàn mỹ như ở các thời kỳ sau, song với thể chế thống nhất và ổn định ấy cũng đã đủ giúp nhà Lý quản lý được một đất nước có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh, góp phần đẩy lùi những nạn ngoại xâm lớn đang đe dọa tới vận mệnh của dân tộc ( quân Tống ở phía Bắc, quân Chiêm ở phía Nam) và tạo tiền đề cho nhà Lý xây dựng được một nền văn hóa Thăng Long mang đậm dấu ấn lịch sử.
——————————————————————
1 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, 206 trang, Bản dịch Nxb Sử học, Hà Nội 1961, tr. 23.
2 Đại việt sử ký toàn thư, Bản dịch Nxb Khoa học xã hội năm 1983, tập I, 368 trang,, quyển 3, tr..315.
3 Đại việt sử ký toàn thư tập I, quyển 2, Sđd, tr..295. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, 1207 trang, quyển 3, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 360
. 4 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd , tr.23.
5 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 23.
6 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 19.
7 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 1, Sđd, tr.239. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 20.
8 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 20.
9 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr..299. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd tr. 367.
10 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr..280. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd tr. 349. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí, tập I, 352 trang, Bản dịch Nxb Sử học, 1961, tr. 182.
11 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 344. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí, tập I, Sđd, tr. 183.
12 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 19.
13 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.
14 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7.
15 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.
16 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 1,Sđd, tr. 239.
17 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 256 – 257.
18 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.
19 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 6.
20 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr..303.
21 Đại việt sử ký toàn th ư, tập I, quyển 3, Sđd, tr..309. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd tr. 374.
22 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 22.
23 Thơ văn Lý – Trần, Bản dịch Viện Văn học, Hà Nội năm 1977, tập I, 631 trang, tr. 395, 402 và 411. Nguyên văn chữ Hán là: 天符睿武二年。辛丑。七月。初六日。立碑。朝列型部尚書。部員外郞。同知蕃工院諸事。阮公弼奉勅撰。右侍郞尚書工部員外郞。同知审刑院事。上轻车都尉紫金 鱼李宝弓奉勅书。
24 Thơ văn Lý – Trần, tập I, Sđd, tr. 335.
25 Thơ văn Lý – Trần, tập I, Sđd, tr. 521.
26 Thơ văn Lý – Trần, tập I, Sđd, tr. 525.
27 Thái uý Đỗ Anh Vũ sau được đổi làm họ Lý nên mới gọi là Thái uý Lý công.
28 Thơ văn Lý – Trần, Tập I, Sđd, tr. 468. Nguyên văn chữ Hán là: 神宗朝丁未岁迭侍帷幄。位冠六尚。
29 Bốn học trò của Khổng Tử được thờ phụ với thày ở Văn Miếu là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tử và Mạnh Tử.
30 72 học trò giỏi của Khổng Tử.
31 Đại việt sử ký toàn thư , tập I, quyển 3, Sđd, tr.287. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd tr. 345.
32 Đại việt sử ký toàn th ư, tập I, quyển 2, Sđd, tr.242. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 286.
33 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr.243. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 287.
34 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr.246. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 292
35 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr.250. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 2, Sđd tr. 297.
36 Đại việt sử ký toàn thư , tập I, quyển 2, Sđd, tr.265. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 313.
37 Thơ văn Lý – Trần, tập I, Sđd, tr.374 – 375.
38 Thơ văn Lý – Trần, tập I, Sđd, tr.375.
39 Lý Tế Xuyên, Việt Điện U linh, Bản dịch NXB Văn học, Hà Nội, 1972, 173 trang, tr.53.
40 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr..243.
41 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr..253 – 254.
42 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 286.
43 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 318.
44 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 322.
45 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 356.
46 Việt sử lược, Bản dịch Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, 221 trang, tr. 65.
47 Việt sử lược, Sđd, tr. 69.
48 Ngụy việt ngoại ký, dẫn theo sách Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, NXB Giáo Dục, 1960 của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, 503 trang, tr. 202 – 203.
49 Cao Hùng Trưng An Nam chí nguyên , q. 1 ( mục phố phường, ngoại thành, hương trấn), Bản dịch đánh máy, Viện Sử học, tr. 81.
50 Quốc sử quán triều Nguyễn Đại nam nhất thống chí, Bản dịch Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tập IV, 410 trang, tr. 56.
51 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr..259.
52 Lý Tế Xuyên Việt điện u linh, Sđd, tr. 53.
53 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr..253.
54 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7 và 30. 55 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7 và 31. 56 Việt sử lược, Sđd, tr.84. 57 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271. 58 Đại việt sử ký toàn thư, tập I, quyển 3, Sđd, tr.321.
59 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 69.
60 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 243. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, 287 trang, Sđd, tr.5.
61 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 257. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.
62 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.
63 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 278. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.
64 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 283.
65 Đại việt sử ký toàn thư,bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 298.
66 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 303.
67 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 304 – 305. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.
68 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 304.
69 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 256.
70 Đại việt sử ký toàn thư bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271.
71 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 274. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.27.
72 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.20.
73 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.20.
74 Ngô Thì Sĩ Việt sử tiêu án Văn hoá Á châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 49.
75 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, Tập III, 174 trang, Sđd, tr. 48.
76 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 272.
77 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, Tập III, Sđd, tr. 48.
78 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 294. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, Tập I, quyển 3, Sđd, tr. 358.
79 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 345. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.16.
80 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 350. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.16.
81 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 336. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 400.
82 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.16.
83Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.3.
84 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 250 – 251.
85 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, tập II, Sđd.
86 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, , tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.
87 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272.
88 Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí, tập IV, 287 trang, Sđd, tr.42.
89 Tội thập ác gồm có: 1. Mưu làm lâm nguy xã tắc, 2. Mưu đại nghịch là phá huỷ tôn miếu, cung khuyết, 3. Mưu bạn là nổi loạn theo giặc, 4. Ác nghịch là đánh giết ông bà, 5. Bất đạo là giết người vô tội, 6. Đại bất kính là dùng các đồ dùng giành riêng cho vua, trộm và giả mạo ấn vua, 7. Bất hiếu là mắng chửi hay không dể tang ông bà, cha mẹ, 8. Bất mục là đánh giết những người thân thuộc gần, 9. Bất nghĩa là dân giết quan, trò giết thày, lính giết tướng, 10. Loạn luân là thông dâm với họ hàng thân thuộc thê thiếp của ông cha.
90 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272. Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 323 – 324.
91 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 287.
92 Việt Sử lược, Sđd, tr. 97.
93 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, , tập I, quyển 4, Sđd, tr. 340.
94 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 340.
95 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 264.
96 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 264.
97 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 300, ghi là Đỗ Sùng.
98 Việt Sử lược, Sđd, tr. 123. Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 300.
99 Việt Sử lược, Sđd, tr. 162. Đại việt sử ký toàn thư bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 354.
100 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 243 – 244..
101 Việt sử thông giám cương mục, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 322.
102 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272.
103 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271.
104 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 274.
105 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 302. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.
106 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 333. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.
107 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 333.
108 Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 334. Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, Hình luật chí, tập III, 174 trang, Sđd, tr.96.
————

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX: THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

GS. Yu Insun, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt nam học lần thứ ba,
tháng 12/2008, tr. 323 - 344
truy cập đường link gốc tại đây

1. Lời nói đầu

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.
Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Chúng ta có thể gọi giai đoạn này là “giai đoạn quan hệ triều cống”. Tất nhiên, ở giai đoạn này, Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc nhằm nỗ lực khôi phục quan hệ hữu hảo và tránh xung đột.

Nội dung nghiên cứu này lấy trọng tâm là “giai đoạn quan hệ triều cống” mà Việt Nam triều cống Trung Quốc, đặc biệt là dưới triều Nguyễn (1802-1945) được lập nên đầu thế kỷ XIX, nhằm xem xét quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc trên quan điểm của Việt Nam.
Thực tế, nhiều nước phương Tây được biết rằng, quan hệ quốc tế của Đông Á giai đoạn trước cận đại, trước khi tiến lên chủ nghĩa đế quốc, tồn tại trật tự quốc tế được thiết lập bởi quan hệ triều cống giữa Trung Quốc và các nước xung quanh, lấy Trung Quốc làm trung tâm. Quan hệ triều cống, không cần nói cũng có thể thấy, được hình thành trên nền tảng ưu việt về chính trị, văn hóa của Trung Quốc. Các nước xung quanh công nhận tính ưu việt này của Trung Quốc và bằng việc đáp ứng những yêu cầu của Trung Quốc đã tạo nên trật tự thế giới truyền thống lấy Trung Quốc làm trung tâm.
Tuy nhiên, có một vấn đề mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là, trật tự thế giới kiểu Trung Hoa, trên phương diện nào đó, chẳng qua chỉ là tư tưởng đơn phương của người Trung Quốc, lấy bản thân mình là trung tâm. Vì để điều đó trở thành “sự thật chính trị mang tính khách quan” thì các nước triều cống phải có cùng suy nghĩ với người Trung Quốc, nhưng trên thực tế lại không như vậy.1 Người Trung Quốc nói rằng, do họ có nền văn hóa ưu việt và sản vật phong phú nên các nước nhỏ xung quanh đã phải tự đến chầu. Nhận định này không phải là không có lí, nhưng trên thực tế điều này có quan hệ mật thiết hơn với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.2 Có thể nói rằng, nếu Trung Quốc yếu đi thì thể chế triều cống đã khó có thể duy trì. Trong trường hợp đó, cái gọi là trật tự thế giới kiểu Trung Hoa chỉ là hư cấu. Xin dẫn ra một ví dụ: trong cuộc chiến Thanh – Pháp năm 1884 – 1885 và cuộc chiến Thanh – Nhật năm 1894, triều đình nhà Thanh bại trận đã phải kí hiệp ước với Pháp và Nhật, biến Việt Nam thành nước bảo hộ của Pháp và công nhận nền độc lập hoàn toàn của Triều Tiên. Mặc dầu vậy, trong Đại Thanh hội điển, bản năm 1899, ghi lại rằng hai nước vẫn là nước triều cống của nhà Thanh3, cho thấy rõ ràng tính hư cấu của trật tự thế giới kiểu Trung Hoa nói trên.
Như vậy, để lí giải tính chất của trật tự thế giới Đông Á giai đoạn trước cận đại, việc khảo sát quan hệ triều cống của Việt Nam đối với Trung Quốc trên thực tế như thế nào, theo tôi, là điều hết sức cần thiết. Thực tế, các vị vua nhà Nguyễn Việt Nam chính thức công nhận mình là nước triều cống của nhà Thanh, xưng là hạ thần, còn ở trong nước thì tự xưng là hoàng đế. Có lúc đi xa hơn, họ coi nhà Thanh là vương triều dị tộc, thậm chí chỉ trích tính di địch của chế độ ấy. Không những thế còn mô phỏng tư tưởng thiên hạ kiểu Trung Quốc, về mặt đối ngoại, với tư cách là nước bá chủ, thống trị các nước nhỏ xung quanh, hình thành nên trật tự thế giới của riêng mình.
Ngay cả với thực tế như vậy, song do có rất nhiều nghiên cứu từ trước đến nay lấy Trung Quốc làm trung tâm,4 nên có không ít khuynh hướng lí giải không đúng về nước bá chủ và nước thuộc địa nói đến trong chế độ triều cống, rằng mối quan hệ này tương tự như quan hệ của nước bá chủ thực dân và nước thuộc địa thực dân trong thời hiện đại. Nội dung nghiên cứu này đề cập đến vấn đề quan hệ triều cống giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIX, nhưng tôi tin rằng cũng sẽ có ích trong việc lí giải đúng đắn về quan hệ chính trị giữa Hàn Quốc và Trung Quốc ở cùng thời đại với bối cảnh tương đồng.

2. Sự tiếp nhận thể chế triều cống nhà Thanh của triều đình nhà Nguyễn

Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX bắt đầu bằng việc Nguyễn Phúc Ánh dập tắt phong trào Tây Sơn, phong trào nông dân có quy mô lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, năm 1802, lập nên triều Nguyễn. Chỉ đến khi ấy, Việt Nam mới là đất nước có lãnh thổ như chúng ta thấy ngày hôm nay.
Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1428 – 1789) năm 1527 rồi bị đánh đuổi bởi thế lực phù Lê năm 1592, Việt Nam bước ngay vào thời kỳ Nam – Bắc phân tranh của hai nhà họ Trịnh và họ Nguyễn, vốn là hai thế lực lớn của phong trào phù Lê. Tấm màn Nam – Bắc phân tranh này được kéo xuống bởi ba anh em họ Nguyễn, những người đã gây dựng phong trào nông dân ở Tây Sơn, một vùng đất ở Nam trung bộ Việt Nam năm 1771. Người của nhà Nguyễn còn sống sót ở Phú Xuân (nay là Huế), sau vụ thảm sát bởi phong trào nông dân lúc bấy giờ, là Nguyễn Phúc Ánh đã chạy đến vùng Mê Kông lánh nạn và đã bền bỉ xây dựng lực lượng trong suốt hai mươi năm gian khổ. Đến tháng 6 năm 1801, cuối cùng, ông cũng đánh chiếm được thành Phú Xuân là cố đô của tổ tiên. Tháng 6 năm sau ông tiến ra Bắc, chỉ trong vòng một tháng, đến ngày 20 tháng 7, đã hoàn thành việc thống nhất đất nước bằng việc chiếm thành Thăng Long.
Trước khi ra Bắc, tháng 5 năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh đã lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long.5 Gia Long là chỉ từ Gia Định (vùng đất bao gồm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và khu vực lân cận) đến Thăng Long, mang ý nghĩa là toàn bộ Việt Nam.6 Việc lấy niên hiệu này cho thấy ý chí quyết tâm thống nhất đất nước từ trước đó của ông.
Một mặt xưng đế, lập niên hiệu, mặt khác vào tháng 5, Nguyễn Phúc Ánh đã cử Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ sang Quảng Đông để cầu nhà Thanh giúp đỡ trong vấn đề Tây Sơn còn chưa giải quyết xong. Khi ấy, Trịnh Hoài Đức đã mang theo quốc thư của Nguyễn Phúc Ánh và vật phẩm, bao gồm cả sắc thư và kim ấn được nhận từ triều Thanh mà Nguyễn Văn Toản của triều đình Tây Sơn bỏ lại khi rút lui, đồng thời giải theo ba hải tặc của nhà Thanh bị bắt làm tù binh. Họ đặt chân đến Quảng Đông vào tháng 7.7 Đây là lần tiếp xúc chính thức đầu tiên giữa triều Nguyễn và triều Thanh.
Nội dung quốc thư gửi lúc bấy giờ được dịch ra tiếng Pháp. Theo nội dung này, Nguyễn Phúc Ánh tự xưng là “Nam Việt quốc vương” (roi du royaume de Nam-Viet).8 Suzuki Chusei cho rằng, dịch là “vương” là sai và có lẽ trong nguyên văn được viết là Nam Việt quốc chúa hay Nam Việt quốc trưởng.9 Vì khi ấy Nguyễn Phúc Ánh chưa chính thức được nhà Thanh sắc phong nên chưa thể xưng là vương, nên tôi nghĩ rằng nhận định của Suzuki Chusei có lí.
Một vấn đề nữa là về quốc hiệu Nam Việt. Việc gọi là Nam Việt bao quát cả vương triều mới An Nam (là cách gọi Việt Nam của Trung Quốc, nói đến khu vực chịu ảnh hưởng của họ Trịnh lúc bấy giờ) và Việt Thường (là lãnh thổ của nhà Nguyễn, bao gồm từ phía Bắc của Huế hiện nay kéo dài tới vùng Nam Bộ) có từ ý nghĩa sẽ thống trị khu vực rộng lớn hơn nhiều so với nhà Trần (1225 – 1400) hay nhà Lê trước đó.10
Thế nhưng, khi Trịnh Hoài Đức đến Quảng Đông, triều đình nhà Thanh không đề cập đến vấn đề quốc hiệu,11 chỉ cho biết rằng họ Nguyễn chưa thống nhất đất nước, cũng không thuộc nước phiên thuộc nên không thể nhận cống vật. Vì vậy, Nguyễn Phúc Ánh lại cử Nguyễn Quang Định với tư cách là sứ cầu phong xin nhà Thanh phong quốc hiệu là Nam Việt và phong vương cho mình. Đối với triều đình nhà Thanh, việc sắc phong không thành vấn đề, nhưng tuyệt đối không thể chấp nhận được tên nước Nam Việt. Lí do là, Nam Việt trùng với tên Nam Việt mà Triệu Đà dựng nước trước đó (B.C. 207~B.C.111), ngầm hiểu là khu vực bao gồm tỉnh Quảng Đông đến tỉnh Quảng Tây nên mang nghĩa không lành. Sau khi bàn bạc, nhà Thanh đổi chỗ hai chữ và đề nghị tên Việt Nam. Bằng việc này, nhà Thanh muốn thể hiện uy quyền là nước bá chủ. Phía nhà Nguyễn hài lòng với cái tên này vì chữ “Việt” của Việt Thường là đất của tổ tiên truyền lại đứng trước, chữ “Nam” đứng sau nên chấp thuận. Vấn đề quốc hiệu đã được giải quyết xong.12
Vấn đề quốc hiệu được giải quyết cũng là lúc quan hệ hữu hảo giữa hai nước được chính thức hóa. Theo Đại Nam thực lục thì từ khi đó (năm 1803), “Lễ bang giao” đã được hình thành.13 Triều đình nhà Thanh ngay lập tức đã cử sứ giả đi tuyên phong. Nguyễn Phúc Ánh đã tiến hành nghi thức tuyên phong tại Hà Nội ngày nay vào tháng 1 năm 1804 và lên ngôi “Việt Nam quốc vương”.14 Mặc dù thủ đô của triều Nguyễn khi đó là Huế nhưng việc sắc phong được tiến hành ở Hà Nội, sau này trở thành thông lệ. Đến thời vua Tự Đức (1848-1883), theo thỉnh cầu của vua Tự Đức, nghi lễ sắc phong được nhà Thanh chấp nhận cho cử hành tại Huế.
Quan hệ giữa triều đình nhà Nguyễn và triều Thanh được giải quyết ổn thỏa, “bang giao” được quy định rằng: Việt Nam phải triều cống hai năm một lần, 4 năm phải cử sứ giả sang chầu một lần hoặc gộp hai lần triều cồng làm một. Điều này cũng giống như đối với triều Tây Sơn.15 Tất nhiên, ngoài sứ thần chính quy, các sứ giả lâm thời phụ trách việc chúc mừng, cầu phong, tạ ân, điếu vấn, v.v… cũng được cử sang. Nhà Thanh đã yêu cầu nhà Nguyễn cử sứ thần và bắt đầu triều cống từ năm 1803. Theo yêu cầu của nhà Thanh, năm 1803 và 1805, sứ tạ ân được thay thế bằng sứ triều cống năm 1804. Nhà Nguyễn đã theo đó mà làm.16 Song có lúc sứ triều cống kiêm luôn sứ tạ ân, khi số lượng sứ giả lâm thời không nhiều do có khi nhà Thanh yêu cầu ngừng cử sứ chúc mừng và sứ điếu vấn. Cho đến năm 1839, năm cuối đời Minh Mạng (1820-1840), do triều cống được quy định thành bốn năm một lần giống như đối với Lưu Cầu và Xiêm La nên con số này càng giảm. Mặt khác, đối với các vật phẩm triều cống, triều Thanh đã cắt giảm rất nhiều cho vương triều Tây Sơn và nhà Nguyễn so với nhà Lê, chỉ bằng nửa giá trị trước đây, nên giá trị vật chất của triều cống càng trở nên mờ nhạt.17
Số lượng sứ giả và giá trị vật phẩm triều cống của nhà Nguyễn với nhà Thanh đã giảm so với thời kì đầu, song quan hệ triều cống bình thường giữa hai nước không thay đổi. Nhưng khi vụ loạn Thái Bình thiên quốc nổ ra (1851-1864), nhà Thanh đã yêu cầu ngừng triều cống và trong vòng mười sáu năm sau đó không có sứ giả nào được cử đi.18 Cụ thể, quan hệ triều cống tạm ngừng sau khi nhà Nguyễn cử sứ giả sang theo quy định vào năm 1852, năm ngay sau vụ loạn xảy ra, đến năm 1868 thì được nối lại.19 Từ sau đó, nhà Nguyễn cử sứ thần sang nhà Thanh bốn lần vào các năm 1870, 1872, 1876 và 1880.20 Sau này, vào năm 1883, giữa lúc nội cung Huế có biến, Hiệp Hòa (7~11/1883) định cử sứ giả sang nhà Thanh cầu phong để củng cố địa vị của mình. Vấn đề là, vùng Đông Kinh lúc bấy giờ bị quân đội Pháp chiếm giữ nên đã không thể sử dụng đường bộ như trước đây. Vì vậy, Hiệp Hòa đã thỉnh cầu nhà Thanh cho đi bằng đường biển và được chấp thuận. Song ngay sau đó ông đã bị quyền thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hạ độc nên không thực hiện được.21 Sứ giả cuối cùng của nhà Nguyễn sang nhà Thanh là sứ giả sang xin sắc phong cho Kiến Phúc (1883-1884), ngay sau đời vua Hiệp Hòa.22 Tuy nhiên, Kiến Phúc cũng không được sắc phong vì chỉ sau khoảng nửa năm trên ngôi vị đã chết vì bệnh tật. Kết cục, quan hệ triều cống giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh được tiến hành liên tục trong tám mươi năm, từ năm 1803, đã chấm dứt khi Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp theo hiệp ước Pa-tơ-nốt (còn gọi là hiệp ước Huế lần thứ hai hoặc hiệp ước Giáp Thân) ký vào năm 1884.
Vậy, tại sao vua nhà Nguyễn lại công nhận quyền lực của hoàng đế nhà Thanh, tự xưng là hạ thần và duy trì quan hệ triều cống?23 Như tôi đã trình bày ở trên, vì người Trung Quốc cho rằng họ có nền văn hóa ưu việt và sản vật phong phú. Thế nhưng, đứng trên lập trường của Việt Nam thì nhận định này không có căn cứ. Đương nhiên không thể phủ nhận hoàn toàn về mặt văn hóa.
Các vị vua trong đó có vua Gia Long và cả tầng lớp trí thức, đều thích Nho học, nghĩ rằng Trung Quốc là ngọn nguồn của tri thức. Xin đơn cử một dẫn chứng. Vua Gia Long vào buổi chầu sáng thường bàn luận với các quan trong triều về sự tích quân thần đời Hán, Đường và chế độ các triều đại. Sau buổi chầu thì cho xem Minh sử và bàn luận đến khuya.24 Còn việc vua Minh Mạng chú trọng đến việc Nho học hơn bất cứ vị vua nào của nhà Nguyễn thì ai cũng biết.25 Sau đời vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị (1841-1847) cũng coi trọng Nho học và văn sĩ, thậm chí còn tự ra đề thi khoa cử. Cho nên, một trong những nhiệm vụ quan trọng sứ thần khi đi sang nhà Thanh là mang về các thư tịch Trung Quốc, nhất là thư tịch mới phát hành. Điều này có thể thấy qua chỉ dụ của vua Minh Mạng đối với sứ giả đi sứ nhà Thanh năm 1829. Ông yêu cầu tìm mua cổ thi, cổ họa và cổ nhân kỳ thư. Đồng thời, nếu có thể tìm được thực lục của nhà Thanh thì dù chỉ là bản thảo cũng bằng mọi giá phải mua về.26
Việc mua thư tịch Trung Quốc không phải chỉ để làm giàu vốn tri thức. Những thư tịch này còn là tài liệu tham khảo quan trọng của triều đình nhà Nguyễn để xây dựng các chế độ pháp luật hay chế độ chính trị, v.v…. Xin lấy một ví dụ. Vua Gia Long đã biên soạn và ban hành bộ luật Quốc triều luật lệ, được biết đến nhiều hơn với cái tên Hoàng Việt luật lệ vào năm 1815. Bộ luật này tuy nói là tham khảo Hồng Đức luật lệ Đại Thanh điều luật27 nhưng trên thực tế trừ một phần rất nhỏ, nội dung hầu như nguyên mẫu của Đại Thanh luật.
Về mặt văn hóa, nhiệm vụ chính khác của sứ thần đi sứ nhà Thanh là truyền bá nước mình là một nước văn hóa. Vì vậy khi tuyển chọn sứ thần đi sứ nhà Thanh, nhà Nguyễn đề cao tài ngoại giao cũng như tri thức về văn hóa. Chúng ta có thể thấy điều này qua một sắc lệnh mà vua Minh Mạng ban năm 1840.28 Theo vua Minh Mạng, sứ thần đi sứ nhà Thanh phải là người giỏi văn học và ngôn ngữ, nếu là người kém cỏi thì chỉ chuốc lấy sự khinh miệt của nước khác. Bởi vì, những người này không chỉ phải đối đáp thơ văn một cách bình đẳng với các quan lại nhà Thanh mà họ còn phải thi thố văn chương với các sứ thần đến từ Triều Tiên.29 Việc cân nhắc tài văn chương của sứ giả đi sứ Trung Quốc không chỉ ở triều Nguyễn mà các triều đại trước đây cũng thế.30
Mặt khác, các vua nhà Nguyễn cũng lo lắng không biết sứ giả được cử đi sứ nhà Thanh có làm xấu thể diện quốc gia hay không. Năm 1809 và 1817, khi sứ thần đi sứ nhà Thanh chuẩn bị đi, đích thân vua Gia Long đã vời các sứ thần vào và ra nghiêm lệnh rằng, các ngươi phải giữ gìn quốc thể và làm sao cho mối bang giao được vững chắc. Việc chú trọng đến sứ giả bang giao, theo nhận định của Takeda Ryoji, không phải xuất phát từ lòng tôn kính đối với nhà Thanh mà là để không bị chuốc lấy sự ghét bỏ hay khinh miệt của nhà Thanh.31 Những điều sau đây sẽ cho thấy, vua nhà Nguyễn có xu hướng không những không kính trọng nhà Thanh, mà ngược lại còn coi nhà Thanh là di địch.
Nhà Nguyễn đã tự coi mình là nước văn hóa nên nếu nhà Thanh không đối đãi tương xứng thì nhà Nguyễn thể hiện thái độ bất mãn. Năm 1840, Bộ Lễ báo cáo với nhà vua về việc sứ thần đi sứ nhà Thanh năm trước đã bị nhà Thanh xếp hàng sau sứ thần các nước Cao Ly (Triều Tiên), Nam Chưởng (Lào), Xiêm La (Xiêm), Lưu Cầu và hỏi rằng phải đối ứng thế nào. Vua Minh Mạng trả lời rằng, việc này do sơ suất của bộ Lễ nhà Thanh, Cao Ly là nước văn hiến thì đã đành, Nam Chưởng là nước triều cống của chúng ta, Xiêm La và Lưu Cầu là nước Di địch nên không thể như vậy được. Ông nói thêm rằng, sau này còn có chuyện như vậy, các ngươi hãy ra khỏi hàng, thà bị trách phạt còn đỡ hơn. 32 Bởi thế, tôi cho rằng, với vua Minh Mạng, hơn bất cứ vị vua nào của Việt Nam tin rằng Việt Nam là đất nước văn minh thì không có sự sỉ nhục nào lớn hơn thế. Không biết nguyên do vì đâu mà bộ Lễ nhà Thanh đã xếp sứ giả nhà Nguyễn thấp hơn so với Nam Chưởng, nhưng đúng như lời vua Minh Mạng đây rõ ràng là sự nhầm lẫn. Vì theo danh sách các nước phụ thuộc trong Thanh sử cảo, thứ tự các nước được ghi là Triều Tiên, Lưu Cầu, Việt Nam, Miến Điện (Mianma), Xiêm La, Nam Chưởng, v.v… Một sự thật rất thú vị ở đây là, trong Ngoại quốc truyện của Minh sử, thứ tự các nước là Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Nhật Bản, Lưu Cầu, Lã Tống (Phi-lip-pin), v.v… , An Nam được đặt trước Lưu Cầu nhưng nhà Thanh lại đặt Việt Nam sau Lưu Cầu. Điều này khiến tôi nghĩ rằng, quan hệ giữa nhà Thanh và triều đình nhà Nguyễn không gần gũi như chúng ta tưởng.
Điều mà chúng ta phải chú ý ở đây là, phương diện văn hóa nói trên chỉ là một phần của lí do khiến triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh. Lí do quan trọng hơn là nhà Nguyễn muốn duy trì sự an toàn của vương triều bằng cách tránh đối đầu về mặt quân sự và xây dựng quan hệ thân thiện với nhà Thanh. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Việt Nam đã mười lăm lần bị ngoại quốc xâm lược.33 Trong số 11 lần bị ngoại xâm tính cho đến trước thế kỷ XIX thì trừ lần bị Xiêm xâm lược năm 1785, mười lần còn lại đều là các cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Vì nhà Nguyễn chưa từng bị nhà Thanh xâm lược lần nào, trong khi trước khi lập vương triều đã mười lần Trung Quốc xâm lược Việt Nam, không những thế, trước khi nhà Nguyễn được lập nên khoảng mười năm, năm 1788, nhà Thanh đã xâm lược Việt Nam, nên tôi cho rằng đây là mối lo không nhỏ đối với các vua nhà Nguyễn. Việc Nguyễn Phúc Ánh cử Trịnh Hoài Đức đi sứ trước khi tấn công Hà Nội đã nói lên điều này. Nó xuất phát từ ý đồ ngăn chặn sự can thiệp của nhà Thanh bằng việc thể hiện rõ ràng sẽ triều cống nhà Thanh. Tuy nhiên trên thực tế, nhà Thanh lúc bấy giờ đã bước vào thời kỳ suy thoái nên sau vụ loạn Bạch Liên giáo (1796-1805), v.v… đã không còn sức để can thiệp vào Việt Nam. Đây là lí do khiến triều cống của Nguyễn Phúc Ánh cũng như việc sắc phong ông là Việt Nam quốc vương dễ dàng được chấp thuận.
Vì triều Nguyễn nghĩ rằng nhà Thanh là sự tồn tại mang tính uy hiếp nên các đời vua quan tâm đến tình hình nhà Thanh là điều đương nhiên. Do đó, đã thành thông lệ, khi các sứ thần đi sứ Thanh về nhà vua thường vời ngay vào và hỏi về tình hình nhà Thanh. Tháng 12 năm 1818, ngay khi các sứ thần đi sứ nhà Thanh về, vua Gia Long đã hỏi về tình hình nước Thanh.34 Không cần nói cũng biết vua hỏi để xem những biến động chính trị, xã hội của nhà Thanh có ảnh hưởng đến Việt Nam hay không.
Hơn ai hết, vua Minh Mạng là người luôn quan tâm sâu sắc đến tình hình nhà Thanh và luôn cố gắng để có được những thông tin ấy. Ông đã yêu cầu sứ thần đi sứ nhà Thanh viết Sứ trình nhật ký và phải viết chi tiết những điều mắt thấy tai nghe ở Trung Quốc. Tháng 4 năm 1832, vua Minh Mạng khiển trách ba sứ giả được cử đi đã ghi lại hết sức đại khái về tình hình nhà Thanh không như ý đồ của ông. Ông ra lệnh, sau này các sứ giả phải ghi lại chính xác tình hình nhà nước và dân tình nhà Thanh còn những địa danh, v.v… đã biết thì không cần phải ghi lại.35 Theo Đại Nam thực lục, khi thấy những thông tin mà các sứ thần đi sứ nhà Thanh mang về chưa đủ, tháng 10 cùng năm, ông yêu cầu các quan lại ở Hà Nội mua “kinh sao” (công báo của nhà Thanh) từ các thương nhân nhà Thanh và dâng lên.36 Lúc ấy, trong “kinh sao” không ghi lại vụ tuyết lớn ở Nam Kinh hồi tháng 1 năm đó khiến dân chúng chết cóng nhưng Minh Mạng đã nghe được tin đó và hạ lệnh phải ghi lại ngay, cho thấy ông chú trọng đến việc thu thập tin tức nhà Thanh đến mức nào. Tóm lại, việc triều cống nhà Thanh của triều Nguyễn ngoài việc giảm nhẹ sự uy hiếp của nhà Thanh bằng việc kết thân với nhà Thanh, còn có ý đồ đề phòng sự uy hiếp có thể xảy ra sau này.
Một lí do quan trọng khác mà các đời vua nhà Nguyễn muốn duy trì quan hệ triều cống là muốn xác lập quyền uy về mặt đối nội từ việc được sắc phong bởi vua nhà Thanh. Vì Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc rất lâu nên các đời vua đều nghĩ rằng việc được vua Trung Quốc sắc phong là điều đương nhiên, do đó Nguyễn Phúc Ánh không thể không trọng thị thông lệ đó. Thực ra, việc được sắc phong từ vua Trung Quốc hay không có ảnh hưởng tuyệt đối đến tính hợp pháp và quyền lực của vua Việt Nam. Việc vội vàng sắc phong trước khi thống nhất đất nước của Nguyễn Phúc Ánh ngoài việc muốn loại trừ sự can thiệp của nhà Thanh còn có cả ở lí do trên.
Việc được vua Trung Quốc sắc phong có ý nghĩa quan trọng đến mức nào sẽ được thấy qua các ví dụ sau đây. Sau khi cướp ngôi nhà Lê năm 1527, Mạc Đăng Dung được nhà Minh thừa nhận và chính quyền đó đã duy trì quyền lực trong một thời gian. Sau này dù bị thế lực phù Lê đánh đuổi khỏi Thăng Long năm 1592, Mạc Đăng Dung lập căn cứ ở vùng giáp Trung Quốc là Cao Bằng, được nhà Minh, sau đó là nhà Thanh bảo hộ, tuy chỉ là chính quyền địa phương nhưng đã duy trì được vương quyền nhà Mạc đến năm 1677. Điều này có thể thấy qua việc chính quyền Hồ Quý Ly (1400~1407), do không được nhà Minh công nhận đã sụp đổ nhanh chóng. Mặt khác, khi nhà Mạc cướp ngôi, thế lực muốn khôi phục triều đình họ Lê đã cử sứ giả sang nhà Minh tố cáo sự sai trái của chính quyền nhà Mạc và cầu quân thảo phạt.37 Điều này thực ra xuất phát từ ý đồ xác lập chính quyền hợp pháp của mình về mặt đối nội.
Việc vua Hiệp Hòa của triều Nguyễn định xin nhà Thanh sắc phong nhằm củng cố địa vị của mình như đã được đề cập đến ở trên. Lúc bấy giờ, ông đang rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Sau đời vua Tự Đức là đời vua Dục Đức (1883), nhưng vua Dục Đức bị phế chỉ trong ba ngày kể từ khi lên ngôi bởi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Vua Hiệp Hòa được họ lập lên nhưng quyền điều hành lại nằm trong tay của hai người này, còn vua, đã không hề có quyền lực lại còn nằm trong tình trạng có thể bị phế bất cứ lúc nào. Trước tình hình ấy, ông muốn được nhà Thanh sắc phong. Vì Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập hoàn toàn theo điều 2 của hiệp ước Sài Gòn lần thứ hai (tên khác là hiệp ước Giáp Tuất) được kí giữa triều Nguyễn và Pháp năm 1874,38 nên việc ông cử sứ giả cầu phong bị coi là vi phạm hiệp ước. Dù vậy, việc vẫn cử sứ giả cầu phong cho thấy rõ ràng sắc phong có ý nghĩa tượng trưng quan trọng nhường nào.
Mục đích kinh tế cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến triều Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, khi mà hoạt động mậu dịch tự do tư nhân nhà Thanh và nhà Nguyễn bị hạn chế không như ngày nay thì chế độ triều cống đã đóng vai trò quan trọng với tư cách là mậu dịch cấp nhà nước thông qua việc qua lại của các sứ thần. Nhà Thanh dù sao cũng cho phép thương nhân của nhà Thanh tham gia vào hoạt động mậu dịch với Việt Nam một cách hạn chế nhưng tuyệt đối không cho phép các thương nhân Việt Nam được sang Trung Quốc. Nhà Nguyễn thì khác với nhà Thanh, ngay từ đầu, triều đình đã cấm dân chúng xuất cảnh vì mục đích cá nhân. Lệnh cấm nghiêm khắc đầu tiên được ban ra có cái tên Luật cấm vận đường bộ và đường thủy vào năm 1816 dưới thời vua Gia Long.39 Sở dĩ có lệnh cấm này là do các vật phẩm cấm xuất khẩu như gạo, muối, vàng, bạc, đồng, sừng trâu, ngà voi, v.v… “chảy” sang Trung Quốc thông qua con đường buôn lậu. Nhà Thanh cũng nghiêm cấm xuất thép, chì, lưu huỳnh, v.v… Trước tình hình này, triều đình nhà Nguyễn không còn cách nào khác phải mua vật phẩm thông qua các sứ thần.
Trước khi các sứ thần chuẩn bị đi sứ, nhà Nguyễn đưa cho danh mục các vật phẩm được vua nhà Thanh ban hoặc các mặt hàng phải mua, và các sứ thần chỉ được phép tuân theo. Một trong những thứ quan trọng trong số các mặt hàng mua từ nhà Thanh là thư tịch đã đề cập ở phần trên. Ngoài ra còn có nhân sâm, dược liệu, trà Tàu, giấy, v.v…. Các sứ thần nếu không mua đầy đủ các mặt hàng triều đình yêu cầu khi về nước sẽ bị xử phạt. Điều này có thể thấy qua việc các sứ thần đi sứ nhà Thanh năm 1830 là Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Đình Tân, Đặng Văn Khải bị cách chức.40 Trước khi đi, họ được lệnh của vua Minh Mạng xin với Bộ Lễ của nhà Thanh rằng, nước chúng tôi ít nhân sâm nên thay cho các vật phẩm vua ban trước đây bằng nhân sâm Quan Đông, đồng thời phải mua thương bích, hoàng tông, hoàng khuê, thanh khuê (các vật phẩm bằng ngọc). Thế nhưng họ làm mất thể diện quốc gia vì nói rằng cần nhân sâm vào việc hiếu dưỡng. Thêm vào đó, tất cả các vật phẩm bằng ngọc họ phải mua đều là thủy tinh. Đó là những lí do khiến họ bị xử phạt. Việc mua nguyên vật liệu không chỉ diễn ra khi sứ thần đi sứ theo định kỳ mà tất nhiên khi sứ giả lâm thời đi sứ cũng vậy. Tháng 12 năm 1847, khi cử sứ thần sang thông báo cho nhà Thanh việc hoàng đế Thiệu Trị qua đời, vua mới lên ngôi là Tự Đức đã đưa danh sách các vật phẩm phải mua như các đồ dùng bằng ngọc, đồ chơi, đồ cổ, đồ sành sứ và các đồ quý hiếm khác. Thế nhưng, một viên quan giám sát đã tâu với vua rằng, vua mới lên ngôi nên cần phải giản dị, hơn nữa sứ thần đi sứ để báo việc tang nên không thể mua xa xỉ phẩm. Vì vậy, việc này đã bị đình lại.41
Có một vấn đề cần đề cập đến ở đây, đó là mậu dịch cấp nhà nước thông qua các sứ thần đi sứ nhà Thanh không phải xuất phát từ lí do Trung Quốc “đất rộng, sản vật nhiều” như suy nghĩ của người Trung Quốc. Theo vua Minh Mạng, hàng hóa được làm ra từ các nơi khác nhau, việc đổi chác các đồ vật mình có lấy đồ vật mình không có từ cổ chí kim là điều đương nhiên.42 Như vậy vua Minh Mạng chỉ coi rằng, nếu hàng hóa có ở Trung Quốc mà không có ở Việt Nam hoặc ngược lại, không có ở Trung Quốc mà có ở Việt Nam thì có thể trao đổi những hàng hóa này cho nhau.
Mọi vật phẩm mà các sứ thần mua về từ nước Thanh được cất giữ tại cơ quan phụ trách việc tiêu dùng và chi trả của hoàng thất. Việc cất giữ này không chỉ để hoàng thất sử dụng. Nhà vua còn dùng những vật quý hiếm này để ban thưởng hoặc tặng quà cho các quan lại, các sứ thần đi sứ nhà Thanh, đôi khi, còn được dùng để bổ sung cho nguồn tài chính địa phương. Xét cho cùng, các vật phẩm này được các đời vua sử dụng như một phương tiện nâng cao quyền lực của mình.43
Tóm lại, triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh chỉ có lợi. Nhà Thanh coi trọng quan hệ quân thần nhưng đối với nhà Nguyễn, điều đó chỉ mang ý nghĩa hình thức. Các vua nhà Nguyễn về mặt đối nội xưng là vua, lấy niên hiệu, sau đó như chúng ta thấy, đối với các nước láng giềng khác coi mình là nước bá chủ, coi các nước đó là nước thuộc địa, lập ra trật tự thế giới riêng của mình. Xét cho cùng, Việt Nam không phải là nước thuộc địa của nhà Thanh mà là một quốc gia độc lập.

3. Đường lối độc lập tự chủ của nhà Nguyễn

Ở trên, chúng ta đã thấy các vua nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh vì các lí do về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v… Dù là lí do gì thì trong trường hợp này, triều Nguyễn với tư cách là nước thuộc địa, những người đứng đầu nhà nước phải xưng là hạ thần đối với vua nhà Thanh. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức bên ngoài, còn thực chất họ nghĩ rằng mình bình đẳng với nhà Thanh.
Các vua nhà Nguyễn và tầng lớp trí thức tôn trọng văn hóa Trung Quốc và cố gắng để mô phỏng những điều đó, nhưng đối với triều Thanh hay người nước Thanh thì không hề có sự tôn trọng của kẻ dưới chút nào. Đó là lí do khiến nhà Nguyễn gọi nhà Thanh là Bắc triều hay Thanh quốc, gọi người nước Thanh là Bắc nhân hoặc Thanh nhân. Ngoài ra, có nhiều khi nhà Nguyễn gọi người Trung Quốc là Đường nhân. Tôi cho rằng, phải chăng đó là vì thái độ miệt thị do nhà Thanh được lập nên bởi dân tộc khác với dân tộc của người Trung Quốc. Chính vì vậy, người Việt Nam tuyệt nhiên không biết đến khái niệm “thiên hạ” hay “thiên tử” kiểu Trung Quốc.44 Mặt khác, vua Gia Long gọi Việt Nam là “Trung Quốc” và áp dụng khái niệm người Trung Quốc truyền thống với nước mình.45
Trong quan hệ với nhà Thanh, triều Nguyễn chính thức sử dụng thuật ngữ “triều cống”, nhưng về mặt đối nội, như tôi đã đề cập đến ở trên, gọi đó là “bang giao”, dùng chữ “như” (如- trong trường hợp này nghĩa là “đi”) trong từ sứ giả đi sứ nước Thanh gọi là “như Thanh sứ”. Bang giao chỉ có nghĩa là quan hệ ngoại giao thuần túy giữa nước này và nước khác, không tồn tại quan niệm trên dưới. Không chỉ đối với quan hệ của mình với nhà Thanh, nhà Nguyễn cũng nhìn quan hệ giữa các triều đại Việt Nam trước đây với Trung Quốc là “bang giao”. Điều này có thể thấy trong Bang giao lục do Lê Thống biên soạn năm 1819.46 Sách này tập hợp bắt đầu từ chiếu thư Hán Vũ đế gửi cho Triệu Đà của Nam Việt đến các loại công văn giữa hai nước, tất nhiên cả thơ văn mà các sứ thần hai nước tặng đáp nhau đến năm 1826.
Thuật ngữ “bang giao” được bắt đầu sử dụng lần đầu tiên vào thời Tây Sơn, đến triều Nguyễn thì hoàn toàn thông dụng. Nhưng tôi cho rằng, việc Lê Thống nhìn quan hệ giữa tất cả các vương triều trước đây với Trung Quốc bằng khái niệm bang giao là chính xác. Bởi vì, các đời vua trước đây kể từ khi Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều Đinh (966-980) năm 966, tuy được hoàng đế Trung Quốc sắc phong nhưng trong nước đều xưng là hoàng đế và đều sử dụng niên hiệu riêng giống như trường hợp của triều đình nhà Nguyễn.47 Ngay cả việc lấy quốc hiệu cũng không cần sự công nhận của hoàng đế Trung Quốc. Không những thế, khi cử sứ thần sang Trung Quốc cũng dùng chữ “như” (如 -đi), gọi là như Tống, như Nguyên, như Minh, còn chữ “cống” (貢) thì trong Đại Việt sử ký toàn thư tuyệt nhiên không tìm thấy bất cứ một chữ nào.48 Nếu có từ “nhập cống” (入貢) thì chỉ được dùng trong trường hợp các nước xung quanh Việt Nam như Cham-pa hay Chân Lạp (Cam-pu-chia ngày nay), v.v… cử sứ giả sang Việt Nam.
Tất cả các vị vua và quan lại trước đây đều nghĩ rằng mình bình đẳng với Trung Quốc và không hạ mình. Một nhân vật tiêu biểu trong số đó là Lê Văn Hưu, sử gia nổi tiếng ở nửa sau thế kỉ XIII. Khi quân Mông Cổ xâm lược, ông biên soạn Đại Việt sử ký với vấn đề trọng tâm là nền độc lập của triều đình Việt Nam và tính bình đẳng với Trung Quốc. Ông đã lấy thời điểm bắt đầu lịch sử Việt Nam là Nam Việt của Triệu Đà để viết sử ký. Bởi sau khi thống nhất Trung Hoa, Hán Cao tổ định cử sứ thần sắc phong ngôi vua cho Triệu Đà, Triệu Đà đã cho thấy thái độ bình đẳng bằng câu hỏi “Ta và Hán Cao tổ, ai anh minh hơn?”49. Đồng thời, theo sử gia Lê Văn Hưu, sau khoảng một nghìn năm bị Trung Quốc chi phối, Việt Nam bước vào thời kì độc lập, song không phải từ khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938 rồi tự xưng vương vào năm sau đó, mà là năm 996, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước và lên ngôi vua. Bởi theo ông, Ngô Quyền đã tự xưng vương nên không thể coi đó là nền độc lập thực sự.50
Một ví dụ khác, thường được lấy để minh chứng cho thấy sự bình đẳng của Việt Nam đối với Trung Quốc trong giai đoạn trước cận đại, là “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi viết năm 1427.51 Bài cáo này phân biệt Việt Nam là Nam và Trung Quốc là Bắc và nhấn mạnh rằng, giống như Trung Quốc lập đế quốc ở phía bắc, Việt Nam trước đây cũng lập quốc ở phía nam do nhà vua cai trị. Có thể nói ngắn gọn rằng, Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, bình đẳng với Trung Quốc.
Năm Tự Đức thứ 2 (1849), Nguyễn Đăng Khải, một quan lớn của triều lúc bấy giờ, đã dâng sớ lên nhà vua yêu cầu cải thiện quan hệ triều cống với nhà Thanh. Bức sớ có nội dung: Việc nhà vua đi đến Hà Nội để được nhà Thanh sắc phong làm tốn nhiều tiền bạc của dân chúng vào việc đi lại của nhà vua và có liên quan đến thể diện quốc gia nên về sau mong rằng sứ thần nhà Thanh sẽ đến kinh sư (Huế) để làm việc đó.52 Điều này có nghĩa là, dù được sắc phong cũng sẽ ngồi một chỗ để nhận. Có thể nói, kiến nghị của Nguyễn Đăng Khải liên quan mật thiết với không khí bình đẳng của người Việt Nam được đề cập ở trên.
Vì Nguyễn Đăng Khải là kẻ dưới nên có thể thẳng thừng bày tỏ sự bất mãn của mình về quan hệ triều cống bất bình đẳng với nhà Thanh, nhưng đứng trên lập trường của các vị vua thì không thể có sao nói vậy. Nói như vậy, không có nghĩa các vị vua này tiếp nhận thể chế triều cống nhà Thanh và chịu ngồi yên. Điều này có thể thấy qua việc Nguyễn Phúc Ánh không hề hỏi ý kiến nhà Thanh trong việc lấy tước vị hoàng đế và niên hiệu. Tuy nhiên, việc xin nhà Thanh công nhận quốc hiệu là để tránh cái tên An Nam xuất phát từ An Nam đô hộ phủ của nhà Đường đến thời điểm đó. Nhưng nhà Thanh không chấp thuận tên Nam Việt mà nhà Nguyễn yêu cầu, còn nhà Nguyễn vì quan hệ hữu hảo giữa hai nước mà chấp thuận quốc hiệu Việt Nam song có vẻ không thoải mái cho lắm. Bởi đến năm 1812, nhà Nguyễn không thông báo cho nhà Thanh mà lại sửa lại quốc hiệu thành Đại Việt.53
Lúc ấy, cái tên Đại Việt được viết trong Quốc sử di biên với từ “lại”, có lẽ là có liên quan đến việc Nguyễn Phúc Chu là tổ tiên của Nguyễn Phúc Ánh, năm 1709 đã cho đúc ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bảo”.54 Vốn dĩ Đại Việt là tên Đại Cồ Việt do Đinh Bộ Lĩnh đặt, về sau Thánh Tông của triều Lý năm 1054 bỏ chữ “Cồ”, chỉ còn là Đại Việt, và trở thành quốc hiệu của các triều đại sau này. Tên này là tên tự đặt không được Trung Quốc công nhận, do vậy, người Trung Quốc gọi Việt Nam là An Nam.
Đến đời vua Minh Mạng ngay sau đời vua Gia Long, năm 1838, lại đặt tên nước là Đại Nam và quyết định áp dụng từ năm sau đó.55 Lí do là lãnh thổ của triều đình kéo dài tới Nam Hải, hình thành nên đại đế quốc nên phải có tên mới phù hợp hơn. Đồng thời, ông nói rằng, có nhiều tiền lệ lấy quốc hiệu bằng tên đẹp, ví dụ như trường hợp nước Thanh vốn là Mãn Châu sau được đổi thành Đại Thanh. Cách giải thích của ông hết sức logic. Tôi cho rằng, thực ra việc nhà Thanh mà ông không ưa chút nào gọi bằng cái tên Đại Thanh đã gây tác động đến ông và ông đặt tên nước Đại Nam từ tâm lý đối kháng. Năm sau, ông cho làm ấn “Đại Nam thiên tử chi tỉ” bằng ngọc giống như ấn ngọc của vua Trung Quốc và tất nhiên nó được sử dụng vào tất cả các văn bản trong nước, cả các văn bản ngoại giao với nước ngoài khác (trừ nhà Thanh).56 Còn vua Thiệu Trị thì cho làm ấn “Đại Nam hoàng đế chi tỉ” và ra lệnh dùng trong chiếu lệnh.57
Với việc vua Minh Mạng lấy quốc hiệu mới, sau này tất cả các sách được biên soạn theo lệnh vua đều cho vào hai chữ Đại Nam. Ví dụ như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam hội điển sự lệ, v.v… Dù biết nhà Nguyễn sử dụng quốc hiệu Đại Nam thay cho quốc hiệu Việt Nam mà mình cho phép nhưng nhà Thanh làm ngơ, không can thiệp.58 Có khả năng lớn là do triều đình nhà Thanh bại trận trong cuộc chiến tranh Nha phiến và vụ thương thuyền Arrow hoặc do những vấn đề nội bộ như vụ loạn Thái Bình thiên quốc nên không rảnh rang để can thiệp đến Việt Nam. Việc sứ giả không qua lại giữa hai nước trong vòng mười sáu năm loạn Thái Bình thiên quốc là minh chứng cho điều này.
Có lẽ cho dù không phải là do vấn đề đối nội, đối ngoại thì nhà Thanh cũng đã không can dự vào việc của nhà Nguyễn. Không biết có phải do suy thoái nhanh chóng từ cuối thế kỷ XVIII ngay trước khi triều Nguyễn được dựng lên hay không mà nhà Thanh không trọng thị Việt Nam bằng Lưu Cầu như nhà Minh nên thứ tự các nước thuộc địa trong Thanh sử cảo mới như vậy. Thực tế này, có thể thấy qua sứ giả tuyên phong được cử đến hai nước, sứ được gửi đến Lưu Cầu là quan triều đình trung ương, còn sứ được cử đến nhà Nguyễn đều là quan địa phương, án sát sứ của tỉnh Quảng Tây.59 Việc nhà Thanh giao vấn đề nhà Nguyễn cho quan địa phương đã làm cho quan hệ hai nước trở nên xa cách.
Quan hệ xa cách giữa hai nước khiến nhà Thanh không hiểu biết về tình hình Việt Nam. Một ví dụ tiêu biểu là trong giai đoạn chiến tranh Nha phiến, người Trung Quốc truyền nhau tin đồn rằng, năm 1808, Việt Nam đã đại thắng trong cuộc chiến với nước Anh, một cuộc chiến không hề xảy ra. Người Trung Quốc tin chắc vào tin đồn này, không chỉ coi nhẹ quân đội Anh mà còn bàn luận một cách nghiêm trọng rằng nên nhập và dùng quân hạm Việt Nam để đối kháng với hải quân Anh.60 Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Anh được làm sáng tỏ là không xảy ra, nhưng dù sao, việc không hiểu biết về tình hình Việt Nam và không can thiệp vào Việt Nam của nhà Thanh cũng đã giúp nhà Nguyễn đẩy mạnh tính độc lập tự chủ và ý thức bình đẳng vốn có với nhà Thanh.
Như tôi đã trình bày ở trên, vì người Việt Nam tuy tiếp nhận văn hóa Trung Hoa nhưng cũng gây dựng được văn hóa của dân tộc mình, nên họ nghĩ rằng không những bình đẳng đối với dị tộc chi phối đại lục Trung Quốc mà thậm chí nền văn hóa của mình còn ưu việt hơn. Việc nhà Nguyễn còn gọi người Trung Quốc là Đường nhân có thể thấy là cách gọi miệt thị người nhà Thanh. Những ví dụ sau sẽ cho thấy rõ người Việt Nam miệt thị người nhà Thanh như thế nào. Vua Hy Tông của triều Lê (1675-1705), vua trước khi triều Nguyễn được lập nên, vào năm 1696 đã hạ lệnh, tất cả người Trung Quốc vào Việt Nam phải thay đổi từ kiểu tóc, ăn mặc,… theo kiểu Việt Nam. Lí do là vì ngoại hình của họ theo “phong tục Mãn Châu”, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam.61
Ý thức đối kháng cũng như thái độ phê phán của triều Nguyễn với nhà Thanh còn ở mức độ cao hơn. Đến mức các đời vua thường gọi dân chúng của mình là Hán nhân hoặc Hán dân. Họ coi nhà Thanh là di địch và đương nhiên đồng nghĩa với việc chỉ có dân tộc mình là dân tộc văn hóa. Đặc biệt, sự tự hào về văn hóa của vua Minh Mạng rất lớn. Năm 1830, ông nói với các quan rằng, nếu theo Thanh hội điển thì áo mão của quan lại trong triều đình đang theo phong tục man di, khác với trang phục của cổ nhân, nên hạ lệnh không để chuyện bắt chước vô lối đó xảy ra.62 Không những thế, trong văn thơ vua Minh Mạng cũng lấy lòng tự hào để bình thơ của vua Càn Long. Năm 1835, trong khi bình thơ với các quan, vua Minh Mạng nói về thơ của Càn Long rằng, thơ thì nhiều nhưng chỉ tả cảnh, tả tình mà không chau chuốt lời thơ và gọi đó là một khiếm khuyết.63 Dưới thể chế triều cống, việc vua của nước thuộc địa phê phán chế độ Trung Quốc, phê bình thơ của vua là điều không thể tưởng tượng nổi. Sở dĩ vua Minh Mạng có thái độ này là vì các đời vua nhà Nguyễn đều coi thường chế độ, văn hóa nhà Thanh và tự coi chỉ có mình là người kế thừa chân chính của văn hóa Trung Quốc.64
Sự coi thường nhà Thanh của các vua triều Nguyễn có thể thấy có liên quan đến sự suy yếu toàn diện của nhà Thanh. Tháng 4 năm 1840, vua Minh Mạng nói về triển vọng chiến tranh Nha phiến như sau: Sự suy yếu của triều Thanh ta đã biết trước. Năm ngoái, quân Anh đi lại rất lâu giữa các đảo ở vùng bờ biển Quảng Đông nhưng ta không nghe thấy nhà Thanh có đối sách gì, hay cho bất cứ một con tàu nào ra tấn công. Nếu quân Anh lại đến tấn công, nước Thanh sẽ không chống đỡ nổi. Nhà Thanh sẽ luận tội Lâm Tắc Từ và đầu hàng quân Anh.65 Dự đoán của Minh Mạng là chính xác, Lâm Tắc Từ bị cách chức, người kế nhiệm được cử thay. Tôi tin rằng, vua Minh Mạng có thể dự đoán được điều này nhờ có Sứ trình nhật ký được viết bởi các sứ thần đi sứ nhà Thanh và thông tin từ các nguồn khác.
Sự suy yếu của nhà Thanh đến thời vua Tự Đức càng làm cho Việt Nam đẩy mạnh các hành động tự chủ. Không nói đâu xa, ngay ở giai đoạn đầu khi Pháp xâm lược, vua Tự Đức đã không thỉnh cầu bất cứ sự giúp đỡ nào của nhà Thanh. Như đã biết, năm 1858, Pháp bắt đầu xâm lược Trung bộ Việt Nam, năm sau, năm 1859, chiếm tỉnh Gia Định ở Nam Bộ, đến đầu năm 1862 thôn tính cả ba tỉnh miền Đông. Vua Tự Đức không thông báo cho nhà Thanh, tự kí hiệp ước Sài Gòn lần thứ nhất với Pháp (tên khác là hiệp ước Nhâm Tuất) nhượng ba tỉnh này. Pháp càng lấn tới, đến năm 1867, chiếm luôn ba tỉnh miền tây, thực dân hóa toàn bộ vùng đất Nam bộ. Quan hệ giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh từ đầu những năm 50 của thế kỷ XIX đến thời điểm đó, không rõ có phải bởi các sứ giả không qua lại do vụ loạn Thái bình thiên quốc hay không mà cả hai lần Pháp xâm lược, vua Tự Đức đều không hề nghĩ đến việc cầu viện nhà Thanh.
Sự xâm lược của Pháp không dừng lại ở đây. Với mục đích chiếm Bắc bộ, năm 1873, Pháp viện cớ vụ Jean Dupuis cử Francis Garnier sang. Francis Garnier mang theo một số ít binh lính đánh đổ Hà Nội, tiếp đó chiếm các đô thị chính của vùng Đông Kinh như Hưng Yên, Hải Dương và Nam Định, chưa được bao lâu thì tử trận vì sa vào trận địa mai phục. Lúc bấy giờ, do tình hình trong nước nên Pháp không còn đủ lực để mở rộng chiến tranh, sau khi thỏa thuận với triều đình Huế, đã kí hiệp ước Sài Gòn lần thứ hai nói trên. Lúc này, vua Tự Đức đương nhiên cũng không có ý định cầu viện nhà Thanh và thậm chí không thông báo cả nội dung điều ước này. Khác với thời điểm những năm 60 của thế kỷ XIX, lúc bấy giờ, các sứ giả đã lại qua lại nhà Thanh. Tôi cho rằng, thái độ này của nhà Nguyễn có thể có liên quan đến sự bất lực của quân đội nhà Thanh trong việc tiêu diệt lực lượng còn lại của Thái Bình thiên quốc.
Trước vụ Garnier, hai tướng còn sót lại sau khi Thái Bình thiên quốc bị đàn áp là Ngô Côn và Hoàng Sùng Anh kéo theo đồng đảng chạy trốn về phía bắc Đông Kinh, khi ấy nhà Nguyễn đã cầu viện nhà Thanh. Nhưng quân thảo phạt của nhà Thanh không những không trấn áp được bọn họ thậm chí còn làm hại cả nông dân địa phương. Nhà Nguyễn đã phong quan cho Lưu Vĩnh Phúc là bộ hạ của Ngô Côn sau khi Ngô Côn chết, xây dựng chiến lược nhằm tiêu diệt thế lực khác và đã thành công. Qua việc này cho thấy, rõ ràng vua Tự Đức đã nhận thức được rằng, không thể dựa vào nhà Thanh và quyết định tự giải quyết vấn đề. Có thể nói rằng, đây là quyết định đương nhiên khi nhà Nguyễn chỉ công nhận thể chế triều cống của nhà Thanh về mặt hình thức.
Trung Quốc bị chi phối bởi dị tộc là triều Thanh. Khi nhà Nguyễn được sáng lập, quan hệ tự chủ đối với nhà Thanh, do lòng tự hào về văn hóa của người Việt từ sự suy thoái nhanh chóng của nhà Thanh mang lại, không chỉ dừng lại ở đây. Lòng tự hào này đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc tạo nên trật tự thế giới khu biệt với các đế quốc xung quanh. Một học giả Nhật Bản gọi trật tự thế giới này là thế giới quan được sản sinh từ “đế quốc Trung Hoa ở phương Nam”.66 Trật tự thế giới của nhà Nguyễn mô phỏng thể chế triều cống của Trung Quốc nên gọi là “đế quốc Trung Hoa ở phương Nam” là có lí, nhưng cách gọi này làm người ta liên tưởng đến cách thường gọi Việt Nam là “tiểu Trung Hoa” (Little China) đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX nên cách gọi này không phù hợp. Vậy dùng thuật ngữ “Trật tự của đế quốc Đại Nam” mà người viết đã sử dụng trước đây thì thế nào?67 Vì dù rằng, việc nhà Nguyễn tiếp nhận chế độ và văn hóa Trung Quốc là thật đi chăng nữa thì Việt Nam cũng là một quốc gia độc lập chứ không phải là một phần của Trung Quốc. Việc vua Minh Mạng hay vua Thiệu Trị sử dụng ấn ngọc có khắc chữ “Đại Nam” trong các văn tự ngoại giao với các nước láng giềng ở trên càng khiến tôi có suy nghĩ như vậy.
Việt Nam đối đãi với các nước nhỏ xung quanh bằng khái niệm Hoa di kiểu Trung Quốc từ khi độc lập với Trung Quốc chưa được bao lâu. Năm 994, người sáng lập nên triều Tiền Lê (980-1009), vua Lê Hoàn đã viện cớ vua Cham-pa vô lễ, từ chối triều cống của vua Cham-pa.68 Trong khi đó vào năm 1012, năm đầu lên ngôi của vua Lý Thái Tổ, có thấy ghi lại rằng, nước Chân Lạp (Cam-pu-chia hiện nay) đã đến triều cống.69 Sau này cũng vậy, các đời vua tiếp tục mang tính ưu việt của chính trị, văn hóa trị vì các nước xung quanh nhưng không mang hình thái thể chế. Tới đời nhà Nguyễn, đặc biệt ở đời vua Minh Mạng, khái niệm trật tự thế giới mới được cụ thể hóa hoàn toàn. Trong Minh Mệnh chính yếu, ghi lại ý niệm chính trị của vua Minh Mạng, có thể thấy lần đầu tiên một mục riêng giải thích về quan hệ với các nước xung quanh là “nhu viễn”. Tiếp đó, trong Đại Nam hội điển sự lệ được phát hành năm 1855, ngoài “bang giao” liên quan đến nhà Thanh, điều khoản “nhu viễn” cũng được ghi riêng.
Khái niệm nhu viễn được sử dụng lần đầu là vào đời vua Gia Long. Năm 1815, vua Gia Long có trong tay mười ba nước là nước triều cống viễn phương. Đó là các nước Hồng Mao (Anh), Vạn Tượng (Viêng-chăn), Nam Chưởng (Luông-pha-băng), Trấn Ninh (cao nguyên ở đông Lào), Miến Điện (Mianma), Phú Lãng Sa (Pháp) và Hỏa Xá quốc, Thủy Xá quốc ở tỉnh Plây cu hiện nay (thuộc cao nguyên Trung bộ Việt Nam), v.v… Tuy nhiên, nếu tính cả Cao Miên (Cam-pu-chia hiện nay) thì thực ra là mười bốn nước. Sở dĩ như vậy là vì có một câu ghi lại rằng, sau khi nhà Nguyễn liệt kê các nước trên, Cao Miên đã dâng bát vàng và gọi vua Gia Long là Thiên Hoàng đế.70 Các nước này đến Việt Nam và dâng cống vật. Giống như các đời vua của Trung Quốc, vua Gia Long cũng tin rằng các nước này cũng ngưỡng mộ đức độ và công nhận quyền uy của mình nên mới như vậy. Có thể lấy kí sự sau trong Quốc sử di biên làm cơ sở củng cố lòng tin này của vua Gia Long: “Trước đức độ và uy thế của vua Minh Mạng, các nước láng giềng như Mianma, Viêng-chăn, Luông-pha-băng, Hỏa Xá quốc,… và đến cả những nước man di của phương Tây như Anh, Pháp mà nhà Thanh và Thái đều khiếp sợ cũng đến thần phục”.71 Tóm lại, điều mà các vua nhà Nguyễn muốn thể hiện chính là tính ưu việt về văn hóa của mình đối với các nước xung quanh. Chẳng hạn, “Cao Miên” là từ mà Trung Quốc gọi Cam-pu-chia, nhà Nguyễn đã sửa thành “Cao Man” và ghi lại trong phần Ngoại quốc liệt truyện trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập.72 Mặt khác, tính ưu việt văn hóa của họ còn được thể hiện bằng trách nhiệm và nghĩa vụ phải giáo hóa man di bằng lễ nghĩa. Chính vì vậy, Hỏa Xá quốc tuy không có chữ viết nhưng phong tục thuần phác nên năm 1834, vua Minh Mạng đặt tên cho tộc trưởng là “Vĩnh Bảo” và địa vị trong thể chế triều cống cũng phong là vua.73
Trật tự đế quốc Đại Nam vì mô phỏng thể chế triều cống của Trung Quốc nên tất nhiên cũng đã đặt ra những quy định tương tự của thể chế ấy đối với các phiên quốc. Cho nên, khi nào, bao giờ phải cử sứ giả triều cống, phải dâng lễ vật gì, sứ giả gồm mấy người, dừng chân ở đâu, v.v… được quy định rất chi tiết. Đáp lại các đoàn triều cống, triều Nguyễn cũng ban các loại vật phẩm tương xứng theo cấp của phiên quốc.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, trật tự đế quốc Đại Nam chỉ là suy nghĩ đơn phương của triều đình nhà Nguyễn, hơn cả chế độ triều cống Trung Quốc. Bởi Việt Nam là nước nhỏ đến mức không thể so sánh với Trung Quốc. Những người đứng đầu nhà Nguyễn nhận thức được điều này và cố gắng nâng cao quyền lực đế quốc bằng việc có được càng nhiều các nước phụ thuộc trong khả năng có thể. Chính vì vậy, họ gọi hai bộ tộc mà bản thân họ cũng không phân biệt được, Thủy Xá và Hỏa Xá74 là quốc gia. Như vậy, có lẽ không sai khi cho rằng vua Gia Long liệt kê các nước Anh, Pháp, cả Mianma là nước triều cống năm 1815 cũng xuất phát từ mạch này. Lúc bấy giờ, thậm chí Mianma chưa hề có bất cứ tiếp xúc nào với nhà Nguyễn cho đến năm 1822-1823. Nhân việc thấy thương thuyền của Việt Nam qua lại năm 1822, năm sau lần đầu tiên Mianma cử sứ giả sang Việt Nam, mục đích là thỉnh cầu nhà Nguyễn đoạn tuyệt ngoại giao với Thái. Thỉnh cầu này xuất phát từ suy nghĩ quan hệ bình đẳng của mình với nhà Nguyễn chứ không phải đứng trên lập trường của nước triều cống.75
Trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, v.v…, Thái cũng được phân loại là quốc gia cùng nhóm với Hỏa Xá, Thủy Xá, nhưng đây cũng chỉ là suy nghĩ của nhà Nguyễn. Năm 1809, vua Thái gửi thư sang thông báo phụ hoàng qua đời. Các quan thấy lời lẽ trong thư rất ngạo mạn nên định không nhận, nhưng vua Gia Long nói rằng họ không biết chữ Hán, không hiểu biết nên mới như vậy, thấy rằng mình ưu việt hơn nên cho phép tiếp nhận.76 Trong các bức thư khác của vua Thái gửi đều gọi vua Gia Long là “Việt Nam quốc Phật vương”, tức vua Phật giáo của Việt Nam nhưng ông vẫn nhận mà không có ý kiến gì.77 Xét cho cùng, có thể thấy, vì trên thực tế công nhận Thái là một quốc gia bình đẳng nên Việt Nam nhận thức được rằng, không thể xung đột với nhau chỉ vì hình thức của một bức thư.
Nếu có nước triều cống theo đúng nghĩa ở thời nhà Nguyễn thì chỉ có các nước Viêng-chăn và Luông-pha-băng thuộc Lào và Cam-pu-chia hiện nay. Năm 1807, vua Cam-pu-chia là Ang Chan được vua Gia Long phong là Cao Miên quốc vương, đồng thời vua Gia Long cũng quy định triều cống ba năm một lần.78 Nhưng sau đó, do tranh chấp ngôi vua liên miên, Cam-pu-chia bị chia thành các phe phái. Phe thì dựa vào Thái, phe khác dựa vào Việt Nam nên qua lại triều cống cả hai nước, đến năm 1863 thì rơi vào sự bảo hộ của Pháp. Quốc vương của Viêng-chăn là Chao Anou là nhân vật có tài, muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc của Thái từ bấy đến nay nên đã gây ra cuộc chiến năm 1827 nhưng thất bại thảm hại, phải thỉnh cầu sự giúp đỡ của nhà Nguyễn. Vua Minh Mạng chấp nhận lời thỉnh cầu, cho quân yểm hộ Chao Anou về Viêng-chăn. Chao Anou lại bị Thái gây áp lực phải chạy về Trấn Ninh và bị vua của Trấn Ninh là Chao Noi dẫn độ sang Thái. Vương quốc Luông-pha-băng vốn không có quan hệ gần gũi với với Việt Nam nhưng khi thấy quốc vương Viêng-chăn bị tiêu diệt đã nhận thấy rằng cần có thế lực có thể chống lại Thái, nên năm 1831 và 1833 đã cử sứ giả sang nhà Nguyễn triều cống. Thế nhưng, vẫn không hoàn toàn thoát khỏi phạm vi thế lực của Thái.79
Có thể nói rằng, trật tự đế quốc Đại Nam là trật tự không hoàn chỉnh đến mức không thể so sánh với trật tự thế giới kiểu Trung Hoa. Mặc dầu vậy, điều đáng lưu ý là việc nhà Nguyễn lập nên trật tự thế giới khu biệt của riêng mình có ý nghĩa rất lớn trong việc đối kháng với nhà Thanh.

4. Lời kết

Ngô Sĩ Liên, người biên soạn Đại Việt sử kí toàn thư đã than về việc Lý Phật Tử (Lý Phật Tử lên ngôi sau cái chết của Lý Bôn, người đã gây dựng cuộc khởi nghĩa năm 541 chống lại sự chi phối của Trung Quốc) hàng phục nhà Tùy như sau: “Sự cường nhược của Nam Bắc đều có lúc. Nếu phương Bắc yếu thì ta mạnh, nếu phương Bắc mạnh thì ta yếu, ấy là đại thế thiên hạ.”80
Khác với thời của Lý Phật Tử, khi nhà Nguyễn được lập nên, Việt Nam mạnh và triều Thanh của Trung Quốc yếu. Mặc dù vậy, các vua của vương triều mới vẫn công nhận thể chế triều cống của nhà Thanh và nhận sắc phong của nhà Thanh. Tôi cho rằng, việc nhận sắc phong như vậy là vì nhà Nguyễn đã biết tiền lệ khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, mặc dù lúc ấy nhà Minh suy yếu song vẫn dùng vũ lực can thiệp vào Việt Nam. Cùng lúc ấy, Việt Nam tuy đã lập nên đế quốc thống nhất đầu tiên nhưng trong bối cảnh xã hội còn chưa ổn định, thì việc được nhà Thanh sắc phong để xác lập quyền lực của vua là điều rất quan trọng. Thêm vào đó, một nguyên nhân quan trọng mà tôi đã đề cập đến ở trên là sau khi họ Mạc cướp ngôi, văn hóa kiểu Trung Quốc thoái trào do nội chiến liên miên kéo theo nhu cầu tiêu thụ thư tịch Trung Quốc gia tăng, v.v…
Mặc dầu vậy, nhà Nguyễn không cho thấy thái độ phụ thuộc vào nhà Thanh. Một ví dụ điển hình là sửa tên An Nam do Trung Quốc đặt trước đây thành Việt Nam. Từ đây, vua nhà Nguyễn bước thêm một bước, xác lập tư thế bình đẳng hoàn toàn về mặt đối nội, giống như các vương triều trước đây cũng xưng hoàng đế, lấy niên hiệu, gọi việc cử sứ giả đi Trung Quốc là “đi sứ nhà Thanh”
Ở một ý nghĩa nào đó có thể nói rằng, đến thời nhà Nguyễn, thái độ bình đẳng được thể chế hóa hơn trước đây. Phải chăng có thể đưa ra thực dụ là quan hệ ngoại giao với Trung Quốc lúc đó mới bắt đầu được gọi là bang giao. Ở mặt khác của thể chế hóa, đã áp dụng đồng thời ba vấn đề: sự phát triển văn hóa của nhà Nguyễn, sự suy thoái của nhà Thanh và nhà Thanh là triều đình của dân tộc Mãn Châu.
Với sự suy thoái của nhà Thanh, quan hệ ngoại giao hai nước trở nên xa cách. Một mặt, nhà Nguyễn có những động thái mang tính độc lập tự chủ, mặt khác vì nhà Thanh là triều đình của một dân tộc khác nên nhà Nguyễn có suy nghĩ rằng mình ưu việt về văn hóa. Việc không cầu viện nhà Thanh khi Pháp xâm lược vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX, tự định ra quốc hiệu Đại Nam thay cho tên Việt Nam mà nhà Thanh công nhận, xác lập một trật tự thế giới riêng coi các nước xung quanh là nước lệ thuộc mình đều có liên quan mật thiết với cả ba nguyên nhân chính ở trên.
Tóm lại, ở thế kỷ XIX, Việt Nam công nhận quyền lực của nhà Thanh với tư cách là nước bá chủ thông qua thể chế triều cống nhưng chỉ là tên gọi không hơn, còn trên thực tế là một nước độc lập hoàn toàn. Điều này cũng giống như với trường hợp của Triều Tiên, tuy triều cống cho nhà Thanh nhưng không phải là nước lệ thuộc mà là một nước độc lập. Không ít trường hợp, đôi khi chúng ta bị trói buộc vào hình thức mà phạm phải “sự ngu” không thể nhìn thẳng vào hiện thực. Học giả lịch sử chân chính tuyệt đối không phạm phải “sự ngu” thì mới có thể được người khác tin tưởng.


CHÚ THÍCH

1 Benjamin I. Schwartz, “The Chinese Perception of World Order: Past and Present”, in John

K. Fairbank ed. The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations, Cambridge,

Mass: Harvard University Press, 1968, p. 276.

2 Chun Hae Jong, “Khảo sát quan hệ Hàn – Trung thời kỳ nhà Thanh – Về sự biến thiên

trong thái độ của nhà Thanh nhìn từ chế độ triều cống” (bản tiếng Hàn Quốc), Đông Dương

học, 1 (1971), pp. 235 – 238; Inokuchi Takashi, “Thử bàn về trật tự thế giới Đông Á truyền

thống – Với trọng tâm là sự can thiệp vào Việt Nam của Trung Quốc cuối thế kỷ XVIII”

(bản tiếng Nhật), tạp chí Ngoại giao quốc tế 73 – 5 (1975), pp. 44 – 47.

3 John Fairbank and S.Y. Teng, “On the Ch’ing Tributary System,” in John Fairbank and

S.Y. Teng, Ch’ing Administration: Three Studies, Cambridge, Mass: Harvard University Press,

1960, pp. 182 – 183.

4 Xin dẫn cuốn Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (bản tiếng Nhật) (Tokyo, 1975) do

Yamamoto Tatsuro biên soạn, với tư cách tài liệu nghiên cứu đại diện nhìn chế độ triều

cống không lấy Trung Quốc làm trung tâm mà từ lập trường của các nước xung quanh.

5 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 17 (Tokyo: Institute of Cultural and Linguistic

Studies, Keio University, 1961 – 1981), pp. 1a – 2a; Quốc sử di biên, Hong Kong: New Asia

Research Institute, The Chinese University of Hong Kong, 1965, p. 7.

6 Chữ 龍 (rồng) và chữ 隆 (sự thịnh vượng) trong tiếng Việt đều phát âm là “long”. Thực tế,

không lâu sau ông đã đổi Thăng Long (昇龍) thành 昇隆. Quốc sử di biên, p. 30.

7 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 11, pp. 4b – 5a; Suzuki Chusei, 1966, “Thiết lập

quan hệ giữa nhà Thanh và Việt Nam” (bản tiếng Nhật), Tổng luận văn học đại học Ai Chi,

tập 3334, p. 351.

8 Charles B. Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam (1592 – 1820) (Paris: Librairie Plon,

1919). Reprinted, Westmaead, England: Gregg International Publishers, 1972, pp. 375 – 376.

9 Suzuki Chusei, sđd, p. 351.

10 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 11, p. 2a; Choi Buyng Wook, Southern Vietnam

under the Reign of Minh Mang (1820 – 1841), Ithaca: Cornell Southeast Asia Program

Publications, 2004, p. 131.

11 Có lẽ do Tổng đốc Quảng Đ ông đ ã s ửa hiệu của Nguyễn Phúc Ánh là “Nông Nại quốc

trưởng”. Suzuki Chusei, sđd, tham khảo tr.353. Nông Nại là tên gọi trước đây của phủ Gia

Định.

12 Về vấn đề quốc hiệu, Suzuki Chusei đã lập luận rất cụ thể trên cơ sở Thanh thực lục và một

tài liệu do Tôn Ngọc Đình, tuần phủ Quảng Tây, người phụ trách việc biên chép của nhà

Thanh viết là Diên Lý Đường tập. Suzuki Chusei, sđd, pp. 353 – 358. Cf. Đại Nam thực lục,

chính biên, I, quyển 23, pp. 1b – 2a; Trịnh Hoài Đức soạn, Cấn trai thi tập, Hong Kong: New

Asia Research Institute, 1962, p. 132.

13 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 3a.

14 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 3b; Suzuki Chusei, sđd, p. 358

15 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 4a; Suzuki Chusei, sđd, p. 358.

16 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, pp. 4a – b.

17 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 207, pp. 41b – 42a; Suzuki Chusei, sđd, p. 358

18 John K. Fairbank, “The Early Treaty System in the Chinese World Order,” John K. Fairbank

ed., op. cit., p. 269; Wada Hironori, sđd, p. 566.

19 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 38, pp. 44a – b; Wada Hironori, sđd, p. 566, 581.

20 Wada Hironori, sđd, p. 581.

21 Wada Hironori, sđd, p. 584 – 585.

22 Theo Đại Nam thực lục, quan hệ triều cống với nhà Thanh khi vua Kiến Phúc lên ngôi đã bị

cắt đứt hoàn toàn, nhưng thông qua các tư liệu của Trung Quốc, Wada Hironori nhận định

rằng sự thật không phải vậy. Đại Nam thực lục, chính biên, V, quyển 1, pp. 25a – b; Wada

Hironori, sđd, pp. 589 – 590.

23 Khi viết về vấn đề này đã tham khảo luận văn sau của người viết. Yu Insun, 1987, “Quan

hệ Trung – Việt và chế độ triều cống – hư và thực” tạp chí Hội khoa học lịch sử, 114 (1987),

pp. 107 – 114.

24 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 43, p. 4a; Takeda Ryoji, sđd, p. 502.

25 Về vấn đề tiếp nhận văn hoá và chế độ Trung Quốc của vua Minh Mạng, có một nghiên cứu cổ

điển trên cơ sở Woodside. Alexander B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A

Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth

Century, Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1971.

26 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 69, pp. 29b – 30a; Takeda Ryoji, sđd, p. 499.

27 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 51, pp. 3a – b.

28 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 218, p. 33a; Woodside, op. cit., p. 115.

29 Woodside, sđd, p. 115.

30 Cf. Woodside, ibid, p. 115; O.W. Wolters, “Assertions of Cultural Well – being in Fourteenth –

Century Vietnam”, Part One, Journal of Southeast Asian Studies 10 – 2, 1979, p. 436.

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM, TRUNG QUỐC THỂ KỶ XIX…

343

31 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 37, p. 11b; quyển 55, pp. 6b – 7a; Takeda Ryoji, sđd, p.

497.

32 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 220, pp. 8a – b; Takeda Ryoji, sđd, pp. 496 – 497.

33 Phan Huy Lê, “Tính thống nhất trong đa dạng của lịch sử Việt Nam”, trong Tìm về cội

nguồn, tập I, NXB Thế giới, Hà Nội, 1998, p. 495.

34 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 58, pp. 11a – b; Takeda Ryoji, sđd, p. 498.

35 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 79, pp. 17 – 18b; Woodside, op. cit., pp. 118 – 119;

Takeda Ryoji, sđd, p. 498.

36 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 85, p. 30a; Takeda Ryoji, sđd, p. 499.

37 Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp), Tokyo: Trung tâm nghiên cứu văn hoá Đông Dương,

Trường Đại học Đông Kinh, 1986, p. 845.

38 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 50, p. 8a.

39 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 54, p. 9b; Takeda Ryoji, sđd, p. 532.

40 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 65, pp. 9b – 10a; Takeda Ryoji, sđd, p. 498.

41 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 1, pp. 31b – 32a.

42 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 218, pp. 33a – 34a.

43 Woodside, sđd, p. 267.

44 Woodside, sđd, p. 19; Choi Byung Wook, sđd, p. 38.

45 Đại Nam thực lục, chính biên, I, 1968, quyển 26, 22a; quyển 38, 12a; quyển 44, 19a;

Woodside, ibid. 18 – 19; Trúc Điền Long Nhi, 1975, sđd,, p. 543.

46 Ecole Franaise d’Extrême – Orient, microfilm A. 614 & A. 691/1 – 2.

47 Ở Việt Nam, người cai trị đầu tiên xưng hoàng đế là Triệu Đà. Triệu Đà tự xưng là hoàng

đế và xác lập tư thế bình đẳng với nhà Hán của Trung Quốc. Việc Đinh Bộ Lĩnh xưng là

hoàng đế noi gương theo trường hợp của Triệu Đà. Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp)

(quyển thượng), p. 180.

48 Ví dụ về đi sứ nhà Tống, Nguyên, Minh xin tham khảo ở Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu

hợp) (quyển thượng), (quyển trung), pp. 180, 390, 556.

49 Sử ký, quyển 97, Peking: Trung Hoa thư cục, 1982, p. 2698.

50 O.W. Wolters, “Historians and Emperors in Vietnam and China: Comments Arising out of

Le Van Huu’s History, Presented to the Tran Court in 1272,” 1979, Anthony Reid and

David Marr eds. Perceptions of the Past in Southeast Asia (Singapore), 73 – 74; Yu Insun,

“Nhận thức về lịch sử của người Việt Nam giai đoạn trước cận đại: Trọng tâm là Lê Văn

Hưu và Ngô Sỹ Liên” (bản tiếng Hàn Quốc), Nghiên cứu sử học Đông Dương, số 73 (2001),

pp. 179 – 181.

51 Nguyễn Trãi, Ức Trai thi tập (quyển thượng) (Sài Gòn, 1972), p. 319; Stephen O’Harrow,

“Nguyen Trai’s Binh Ngo Dai Cao of 1428: The Development of Vietnamese National

Identity”, Journal of Southeast Asian Studies 10 – 1(1979), pp. 168 – 169.

52 Từ Diên Húc biên soạn, Việt Nam tập lược, quyển 2 (bản phục chế, không rõ nơi xuất bản,

1877), p. 180a.

53 Quốc sử di biên, sđd, p. 81.

54 Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8, pp. 7a – b.

55 Đại Nam thực lục, II, quyển 190, pp. 1a – 2a; Đại Nam thực lục, II, quyển 200, pp. 8a – b; Quốc

sử di biên, 1965, p. 278.

56 Đại Nam thực lục, II, quyển 200, pp. 16a – b.

57 Đại Nam thực lục, III, quyển 40, pp. 1a – b.

58 Takeda Ryoji, sđd, p. 495.

59 Wada Hironori, sđd, pp. 554 – 555.

60 Wada Hironori, sđd, pp. 559 – 561.

61 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển 34 (bản phục chế, Đài Bắc, 1969),

pp. 3154 – 3155; Fujiwara Riichiro, “Vietnamese Dynasties’ Policies Toward Chinese

Immigrants,” Acta Asiatica 18 (1970), pp. 52 – 53.

62 Đại Nam thực lục, II, quyển 70, p. 2a; Takeda Ryoji, sđd, pp. 539 – 540.

63 Đại Nam thực lục, II, quyển 159, p. 29b; Takeda Ryoji, sđd, p. 541.

64 Việc Triều Tiên về mặt đối nội cũng coi thường, không công nhận nhà Thanh là thượng

quốc có thể thấy qua lễ nghi hoàng thất sử dụng niên hiệu Sùng Trinh của nhà Minh. Lee

Sung Kyu, “Bành trướng và thu hẹp của Trung Quốc đế quốc: Ý niệm và thực tế” (bản

tiếng Hàn Quốc), tạp chí Hội khoa học lịch sử, số 186 (2005), pp. 116 – 117.

65 Đại Nam thực lục, II, quyển 212, p. 33b; Woodside, op. cit., 280; Wada Hironori, sđd, p. 564.

66 Tsuboi Yoshiharu, “Thế giới quan của triều Nguyễn (1802 – 1945) Việt Nam” (bản tiếng

Nhật), Quốc gia học hội tạp chí, 96 – 910(1983), pp. 149 – 165.

67 Yu Insun, “Việc lập nên triều Nguyễn Việt Nam và trật tự đế quốc “Đại Nam”, (tiếng Hàn

Quốc), Văn hoá châu Á, 10 (1994), pp. 81 – 87. Nội dung này xin được phát triển cụ thể ở

phần dưới.

68 Đại Việt sử ký toàn thư (quyển thượng), p. 194.

69 Quốc sử di biên, p. 88. Cf. Woodside, sđd, p. 237.

70 Quốc sử di biên, p. 312; Wada Hironori, sđd, p. 562.

71 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, p. 1a.

72 Ibid., pp. 35a – b. Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ được g hi l à H oả Xá quốc,

Woodside cũng căn cứ vào đây. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Vol. 8, NXB Thuận Hoá,

Huế, 1993, p. 454; Woodside, sđd, p. 238.

73 Tham khảo Đại Nam thực lục, III, quyển 5, pp. 6b – 7a và Woodside, ibid., p. 238. Họ chỉ cử

sứ giả để giao dịch, hơn nữa trong ngôn ngữ của họ không có từ mang nghĩa triều cống.

Tsuboi, sđd, p. 159.

74 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 33, pp. 2a – 3b; Minh Mạng chính yếu, quyển 25,

Sài Gòn: Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên, 1974, pp. 9a – b; Woodside, sđd, p. 239.

75 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 32, p. 7a; Đại Nam thực lục, I, quyển 39, pp. 19a – b;

Woodside, sđd, p. 259.

76 Woodside, sđd, p. 259.

77 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 31, p. 6b; Woodside, sđd, p. 240.

78 D. G. E Hall, A History of South – East Asia, 3rd ed., New York, 1970, p. 453.

79 Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp) (quyển thượng), p. 153.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code