Showing posts with label VB Phap luat Tai chinh & Ngan hang. Show all posts
Showing posts with label VB Phap luat Tai chinh & Ngan hang. Show all posts

Wednesday, February 12, 2014

THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI NỘP THUẾ, NGƯỜI KHAI HẢI QUAN DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUẾ, CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HẢI QUAN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA

BỘ TÀI CHÍNH
—–
Số: 49/2008/TT-BTC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——-

Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2008

THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI NỘP THUẾ, NGƯỜI KHAI HẢI QUAN DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUẾ, CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HẢI QUAN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA
Căn cứ Luật quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;
Căn cứ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế;
Căn cứ Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;
Căn cứ Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;
Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra như sau:
I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
a) Cơ quan quản lý thuế trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, cán bộ công chức hải quan (sau đây gọi tắt là cơ quan quản lý thuế) phải bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong thi hành công vụ.
b) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế, người khai hải quan thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; Kịp thời giải quyết bồi thường thiệt hại một cách công khai, công bằng và đúng pháp luật.
2. Người nộp thuế, người khai hải quan khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan có khả năng gây thiệt hại cho mình thì cảnh báo cho cán bộ, công chức thuế, hải quan hoặc cơ quan quản lý thuế biết.
Trường hợp có đủ điều kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, người nộp thuế, người khai hải quan phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (trong đơn ghi rõ: tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại; tên, địa chỉ của cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; lý do yêu cầu cơ quan quản lý thuế bồi thường; Các thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường; số hiệu và trích yếu quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án) và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan tới việc xác định mức bồi thường thiệt hại gửi cơ quan quản lý thuế để xem xét giải quyết.
3. Các trường hợp bồi thường thiệt hại
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người nộp thuế, người khai hải quan (sau đây gọi tắt là người bị thiệt hại) trong trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi sau:
a) Quyết định hoàn thuế, ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật;
b) Xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế;
c) Xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định;
d) Thực hiện các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không có căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan;
Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi vi gây thiệt hại về tiền, tài sản cho người bị thiệt hại nhưng được xác định là do lỗi của người bị thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế không phải bồi thường thiệt hại; Trường hợp người bị thiệt hại có lỗi thì cơ quan quản lý thuế chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi do cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra.
4. Điều kiện bồi thường thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
a) Có quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án xác định hành vi của cán bộ, công chức thuế hải quan là trái pháp luật gây thiệt hại;
b) Có thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra cho người nộp thuế, người khai hải quan thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 3, mục I Thông tư này;
c) Người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn 2 năm kể từ ngày có quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án xác định hành vi của cán bộ, công chức thuế hải quan là trái pháp luật gây thiệt hại;
5. Nguyên tắc thực hiện bồi thường.
a) Đối với thiệt hại là tiền thuế, tiền phạt, tiền tịch thu, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm :
- Hoàn trả lại khoản tiền thuế, tiền phạt, tiền tịch thu (nếu đã nộp vào ngân sách nhà nước thì làm thủ tục thoái thu ngân sách) và bồi thường tiền lãi tính trên số tiền thuế, tiền phạt, tiền tịch thu không đúng của người bị thiệt hại.
Thời gian tính lãi được tính từ ngày người bị thiệt hại nộp tiền thuế, tiền phạt; hoặc bị tịch thu tiền đến ngày ghi trong Quyết định bồi thường của cơ quan quản lý thuế.
Khoản tiền lãi được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố và có hiệu lực tại thời điểm cơ quan quản lý thuế ra Quyết định bồi thường.
b) Đối với thiệt hại là tài sản, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm:
- Trường hợp tài sản vẫn còn và không bị hư hỏng: trả lại tài sản cho người bị thiệt hại;
- Trường hợp tài sản còn nhưng bị hư hỏng mà có thể sửa chữa được: trả lại tài sản cho người bị thiệt hại và bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa; Nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa được, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như đối với tài sản bị mất và thanh lý tài sản hư hỏng theo quy định;
- Trường hợp không còn tài sản (bị mất hoặc đã bán đấu giá): bồi thường tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường;
6. Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại
a) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp nhận đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại không có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án xác định hành vi của cán bộ, công chức thuế hải quan là trái pháp luật gây thiệt hại thì cán bộ tiếp nhận phải trả lời ngay người yêu cầu bồi thường thiệt hại về việc không nhận đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại do chưa đủ điều kiện xem xét giải quyết bồi thường.
b) Đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại có đủ điều kiện xem xét giải quyết bồi thường, cơ quan quản lý thuế thực hiện phân loại hồ sơ để xem xét xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Nếu hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại đã có kết luận cụ thể về hành vi vi phạm của cán bộ công chức thuế, hải quan và mức độ thiệt hại tại quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ nếu đồng ý với kết luận tại văn bản trên thì ra quyết định bồi thường thiệt hại.
Trường hợp, không đồng ý với kết luận tại bản án, quyết định của Toà án thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có quyền từ chối giải quyết bồi thường thiệt hại và kháng án theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Nếu hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại mà tại quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án mới kết luận về hành vi vi phạm nhưng chưa xác định cụ thể về mức độ thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế xử lý theo đúng trình tự quy định tại điểm c, khoản 6, Mục I Thông tư này.
c) Trình tự giải quyết hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại mà tại quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án chưa xác định cụ thể về mức độ thiệt hại:
- Cơ quan quản lý thuế tiếp nhận đơn, lập hồ sơ xử lý bồi thường thiệt hại (xác minh sơ bộ về mức độ thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra) và trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại biết về dự kiến thời gian, địa điểm thương lượng hoặc giải quyết yêu cầu bồi thường.
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) phải thành lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại (sau đây gọi tắt là Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại).
Thành phần Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại có 03 đến 05 thành viên, bao gồm: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) làm Chủ tịch Hội đồng; Người phụ trách công tác tài chính – kế toán cơ quan quản lý thuế làm ủy viên; Đại diện đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ thuế, hải quan có liên quan đến trường hợp bồi thường thiệt hại; Lãnh đạo trực tiếp của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Chuyên gia trong lĩnh vực bị thiệt hại (nếu cần).
Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại có nhiệm vụ: kiến nghị với người có thẩm quyền ra Quyết định bồi thường thiệt hại về mức và phương thức bồi thường thiệt hại; kiến nghị trách nhiệm hoàn trả, mức và phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại tại điểm a, khoản 3, Mục II Thông tư này.
Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại hoạt động theo nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số và giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Trong thời hạn 10 ngày (đối với vụ việc phức tạp là 15 ngày) kể từ ngày có Quyết định thành lập, Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại có trách nhiệm gửi văn bản kiến nghị với người có thẩm quyền ra Quyết định bồi thường thiệt hại về mức và phương thức bồi thường thiệt hại (kèm theo Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại).
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) căn cứ vào mức và phương thức bồi thường thiệt hại do Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại kiến nghị để tổ chức thương lượng với người bị thiệt hại và ra quyết định bồi thường thiệt hại;
d) Quyết định bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào kết quả thương lượng, trường hợp thương lượng không thành thì căn cứ vào kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại để xem xét, quyết định. Trong Quyết định bồi thường thiệt hại phải nêu rõ số tiền bồi thường thiệt hại; phương thức bồi thường thiệt hại (tiền mặt hoặc chuyển khoản); thời hạn bồi thường thiệt hại (không quá 15 ngày kể từ ngày ký Quyết định bồi thường thiệt hại); và phải gửi cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường, người được bồi thường thiệt hại và người có nghĩa vụ hoàn trả.
Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với Quyết định bồi thường thiệt hại của cơ quan quản lý thuế thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên hoặc yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện bằng tiền và chi trả một lần (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác) theo đúng quy định về mức, phương thức và thời hạn bồi thường ghi trong Quyết định bồi thường thiệt hại. Quá thời hạn ghi trong Quyết định mà cơ quan quản lý thuế chưa thực hiện bồi thường thì phải trả tiền lãi tính trên số tiền bồi thường cho thời gian chậm bồi thường theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố và có hiệu lực tại thời điểm cơ quan quản lý thuế thực hiện việc bồi thường.
7. Kinh phí bồi thường thiệt hại: căn cứ vào Quyết định bồi thường thiệt hại của cấp có thẩm quyền, cơ quan quản lý thuế được sử dụng các nguồn kinh phí thuộc phạm vi quản lý sử dụng để bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại.
Nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường thiệt hại được bù đắp từ khoản tiền hoàn trả của cán bộ, công chức gây thiệt hại; nguồn tiền thu được từ xử lý tài sản (đối với trường hợp đã bán đấu giá hoặc bán thanh lý tài sản bị hỏng không thể sửa chữa được); từ các khoản bồi thường thiệt hại về tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm (nếu có); và từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
II. HOÀN TRẢ KHOẢN TIỀN BỒI THƯỜNG CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC THUẾ, HẢI QUAN
1. Cơ quan quản lý thuế thực hiện bồi thường có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức thuế, hải quan hoàn trả khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại khi thực hiện một trong những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại quy định tại khoản 3, Mục I Thông tư này. Trong trường hợp người bị thiệt hại đã có cảnh báo về hành vi vi phạm và khả năng gây thiệt hại mà cán bộ, công chức thuế, hải quan vẫn cố tình thực hiện thì phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại.
2. Xác định trách nhiệm hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại:
a) Việc xác định trách nhiệm hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào số tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại, mức độ lỗi của hành vi vi phạm và khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan.
Trường hợp nhiều người có hành vi vi phạm pháp luật cùng gây thiệt hại thì mỗi người vi phạm phải liên đới hoàn trả số tiền bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế đã bồi thường. Trách nhiệm hoàn trả của mỗi người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người; Trường hợp không xác định được mức độ lỗi của từng người thì mỗi người phải hoàn trả theo phần bằng nhau.
b) Cán bộ công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại cụ thể như sau:
- Đối với thiệt hại là tiền, tuỳ từng trường hợp để xác định cụ thể các khoản hoàn trả trong số các khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: tiền lãi các khoản tiền tịch thu, phạt vi phạm hành chính, ấn định thuế sai quy định của pháp luật hoặc tiền lãi của khoản tiền hoàn thuế chậm.
- Đối với thiệt hại là tài sản, tuỳ theo từng trường hợp để xác định các khoản phải hoàn trả trong số các khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: chi phí sửa chữa tài sản; hoặc giá trị của tài sản bị mất; hoặc chênh lệch giữa giá trị của tài sản với số tiền thực thu được do bán đấu giá, thanh lý tài sản.
c) Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại được xem xét giảm trách nhiệm hoàn trả trong các trường hợp sau:
- Vi phạm lần đầu; hoặc đã chủ động áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm giảm bớt hậu quả thiệt hại.
- Vi phạm gây thiệt hại do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần.
- Các điều kiện để thực thi công vụ bị hạn chế (nếu có đủ cơ sở để chứng minh).
- Thiệt hại xảy ra quá lớn mà khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại không có khả năng hoàn trả được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó. Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại yêu cầu giảm mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải có tài liệu chứng minh khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài không đủ để hoàn trả toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại xảy ra.
3. Trình tự, thủ tục hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có Quyết định bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm yêu cầu Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại làm việc để xem xét việc hoàn trả khoản tiền đã bồi thường thiệt hại của cán bộ, công chức thuế hải quan. Để bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công chức, Hội đồng bổ sung thêm Chủ tịch công đoàn hoặc uỷ viên ban chấp hành công đoàn cơ quan quản lý thuế (nếu thủ trưởng cơ quan là chủ tịch công đoàn) tham gia Hội đồng. Trong quá trình Hội đồng xem xét giải quyết việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hạ. Hội đồng có trách nhiệm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức thuế hải quan gây ra thiệt hại tham dự cuộc họp của Hội đồng để giải trình cụ thể vụ việc làm cơ sở xem xét nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại;
Hội đồng có nhiệm vụ: đánh giá tính chất của hành vi gây vi phạm thiệt hại, xác định trách nhiệm cụ thể của từng cán bộ, công chức thuế, hải quan có liên quan gây thiệt hại; xem xét các tình tiết giảm nhẹ; đánh giá khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Trên cơ sở đó, kiến nghị mức và phương thức hoàn trả.
Trong thời hạn 10 ngày (đối với vụ việc phức tạp là 15 ngày) kể từ ngày họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại, Hội đồng có trách nhiệm gửi văn bản kiến nghị với cấp có thẩm quyền mức và phương thức hoàn trả (kèm theo Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại);
b) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và văn bản kiến nghị về mức và phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm ký Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại.
Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải nêu rõ: Số tiền hoàn trả; Phương thức và thời hạn hoàn trả. Việc hoàn trả có thể thực hiện một lần bằng tài sản riêng (thời hạn 45 ngày, kể từ ngày ký quyết định hoàn trả) hoặc trừ dần vào thu nhập hàng tháng của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại nhưng không quá 20% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp (nếu có); việc giảm trách nhiệm hoàn trả (nếu có).
c) Thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại
- Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả ghi trong Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại cho cơ quan quản lý thuế đã trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại.
- Trong quá trình thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, người có nghĩa vụ hoàn trả được xem xét tạm hoãn thực hiện hoàn trả trong trường hợp: đang điều trị bệnh tại các bệnh viện, phụ nữ trong thời kỳ thai sản hoặc nuôi con nhỏ dưới một tuổi; gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú xác nhận. Thời hạn tạm hoãn thực hiện hoàn trả tối đa là 6 tháng. Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có nghĩa vụ hoàn trả không thể thực hiện được nghĩa vụ hoàn trả do sự kiện bất khả kháng (tai nạn, thiên tai, hoả hoạn, tử vong) thì được xem xét giảm hoặc miễn nghĩa vụ hoàn trả.
Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm xem xét, quyết định đối với việc tạm hoãn; giảm hoặc miễn nghĩa vụ hoàn trả.
- Tiền hoàn trả phải được thu, theo dõi chi tiết cho từng lần nộp (nếu nộp nhiều lần) và được dùng để hoàn lại đúng với nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường thiệt hại.
d) Biện pháp đảm bảo thực hiện việc hoàn trả
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giám sát, đôn đốc việc thực hiện hoàn trả.
- Người chưa hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả mà xin chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm yêu cầu người đó phải hoàn trả phần còn thiếu trước khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu. Trường hợp, người đang thực hiện hoàn trả chưa có điều kiện trả ngay phần còn thiếu, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải phối hợp với cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện việc hoàn trả.
- Trường hợp, người có nghĩa vụ hoàn trả cố tình trì hoãn, trốn tránh việc hoàn trả thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi người có nghĩa vụ hoàn trả cư trú để có biện pháp đảm bảo thực hiện hoàn trả theo quy định của pháp luật.
e) Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại không đồng ý với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế về việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc yêu cầu Toà án giải quyết.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.
Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết./.
Nơi nhận:
- Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng CP;
- Văn phòng Quốc hội; VP Chủ tịch nước;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Toà án nhân dân tối cao;
- UBND các tỉnh, TP. trực thuộc TW;
- Sở TC, Cục thuế, Hải quan, KBNN các tỉnh, TP trực thuộc TW;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Công báo; Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);
- Website Chính phủ; Website Bộ Tài chính;
- Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính;
- Lưu: VT, PC.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Hoàng Anh Tuấn
ĐỌC BÀI GIỚI THIỆU THÔNG TƯ NÀY TẠI ĐÂY

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THUẾ, HẢI QUAN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY THIỆT HẠI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

THÁI HẢI YẾN
Ngày 12/6/2008, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 49/2008/TT-BTC Hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra.
Theo thông tư, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người nộp thuế, người khai hải quan trong trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi sau: Quyết định hoàn thuế, ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật; xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế; xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định; thực hiện các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không có căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan.
Để được bồi thường thiệt hại, người bị thiết hại phải có đủ các điều kiện sau: Có quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án xác định hành vi của cán bộ, công chức thuế hải quan là trái pháp luật gây thiệt hại;  có thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra cho người nộp thuế, người khai hải quan thuộc một trong những trường hợp quy định trên;  người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn 2 năm kể từ ngày có quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án xác định hành vi của cán bộ, công chức thuế hải quan là trái pháp luật gây thiệt hại.
Về thời gian giải quyết việc bồi thường: nếu hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại đã có kết luận cụ thể về hành vi vi phạm của cán bộ công chức thuế, hải quan và mức độ thiệt hại tại quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ nếu đồng ý với kết luận tại văn bản trên thì ra quyết định bồi thường thiệt hại. Nếu như trong quyết định xử lý khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án chưa xác định cụ thể về mức độ thiệt hại, thì cơ quan quản lý thuế phải tổ chức thương lượng việc bồi thường,  thành lập Hội đồng  giải quyết bồi thường thiệt hại … để bồi thường cho người bị thiệt hại.
Sau khi thực hiện việc bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức thuế, hải quan hoàn trả khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại khi thực hiện một trong những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nêu trên. Trong trường hợp người bị thiệt hại đã có cảnh báo về hành vi vi phạm và khả năng gây thiệt hại mà cán bộ, công chức thuế, hải quan vẫn cố tình thực hiện thì phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo./.
XEM TOÀN VĂN THÔNG TƯ TẠI ĐÂY
SOURCE: BỘ TƯ PHÁP
Trích dẫn từ:

THÔNG BÁO VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CƠ BẢN PHÙ HỢP VỚI QUI ĐỊNH CỦA LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ ĐIỀU 476 BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CHẾ LÃI SUẤT TÁI CẤP VỐN, TÁI CHIẾT KHẤU

NGÂN HÀNG NHÀ NUỚC VIỆT NAM
1. Từ năm 2006 đến tháng 4/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ kiến nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI và khóa XII xử lý vướng mắc của Bộ luật Dân sự liên quan đến lãi suất kinh doanh của TCTD. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XII có ý kiến chưa nhất trí việc sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự, trong trường hợp lãi suất cơ bản do NHNN công bố chưa phù hợp với thực tiễn, thì NHNN có thể điều chỉnh nâng lãi suất cơ bản để thể hiện đúng bản chất của lãi suất cơ bản được quy định trong Luật NHNN.
Thực hiện ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XII và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trình Thường trực Chính phủ xem xét, nhất trí tại văn bản số 3168/VPCP-KTTH ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản của Văn phòng Chính phủ. Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam:
- Việc ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN dựa trên cơ sở pháp lý: Luật NHNN, Điều 9 và 18 quy định “NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”“Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh”; Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại vay tương ứng”.
- Lãi suất cơ bản do NHNN công bố là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, thực hiện các chức năng: Một là, làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh. Hai là, có tác dụng định hướng và điều tiết lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng. Theo đó, lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN, lãi suất huy động đầu vào của TCTD và xu hướng biến động cung – cầu vốn, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong ngắn hạn.
- Nội dung Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN:
Thứ nhất, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay) bằng Đồng Việt Nam đối với khách hàng theo nguyên tắc lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố áp dụng trong từng thời kỳ. Định kỳ hàng tháng, NHNN công bố lãi suất cơ bản. Trong trường hợp cần thiết, NHNN công bố điều chỉnh kịp thời lãi suất cơ bản.
Thứ hai, Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19 tháng 5 năm 2008. Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Theo đó, việc huy động vốn bằng VND của các TCTD phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 hết hiệu lực thi hành.
- Tác động của việc thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản:
Thứ nhất, lãi suất cơ bản vừa phản ánh thực tế lãi suất thị trường, vừa đóng vai trò là lãi suất điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, cho nên góp phần tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay hợp lý và đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi tiền – TCTD – người vay vốn.
Thứ hai, với mức lãi suất cơ bản là 12%/năm, thì lãi suất cho vay tối đa của các TCTD là 18%/năm, tương đối phù hợp với mặt bằng lãi suất thị trường, không gây nên những xáo trộn lớn trên thị trường tiền tệ, tín dụng (theo báo cáo của các ngân hàng thương mại về lãi suất cho vay trên thị trường hiện nay, thấp nhất là 12% – 14%/năm, phổ biến là 15% – 18%/năm).
2. Để đảm bảo sự đồng bộ trong điều hành cơ chế lãi suất nhằm mục đích điều tiết tiền tệ một cách có hiệu quả, Thống đốc NHNN đã ban hành các Quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2008: Lãi suất tái cấp vốn là 13,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 11,0%/năm. Cơ chế này tạo nên hành lang giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu (chênh lệch 2%) có tác dụng góp phần điều tiết lãi suất thị trường liên ngân hàng; trong đó, lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở sẽ dao động trong hành lang này. Khi điều kiện thị trường tiền tệ thay đổi, NHNN sẽ xem xét, điều chỉnh các mức lãi suất biến động theo một biên độ nhất định, phù hợp với mục tiêu và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ.
SOURCE: TÀI LIỆU CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG PHIÊN HỌP BÁP NGÀY 17/5/2008

Monday, January 6, 2014

NGHỊ ĐỊNH VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH

CHÍNH PHỦ __________
Số: /2007/NĐ-CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
___________________________________
Hà Nội, ngày tháng năm 2007

NGHỊ ĐỊNH
Về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách
_____________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 5 năm 2004;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách là việc Nhà nước thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội huy động, tập trung các nguồn lực trong xã hội để cho người nghèo và các đối tượng chính sách vay ưu đãi, phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội.
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh:
1. Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
2. Các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế thuộc đối tượng được vay vốn theo qui định tại Nghị định này.
Điều 3. Nguyên tắc của tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách:
1. Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm cho vay đúng đối tượng, đúng qui định của Chính phủ và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan.
2. Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Điều 4. Ngân hàng thực hiện tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách:
1. Giao Ngân hàng Chính sách xã hội tổ chức thực hiện cơ chế tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
2. Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay trực tiếp đối với người nghèo và các đối tượng chính sách hoặc uỷ thác qua các tổ chức chính trị xã hội.
Chương II
NGUỒN VỐN ĐỂ THỰC HIỆN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH
Điều 5. Nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước cấp:
1. Vốn điều lệ của Ngân hàng Chính sách xã hội là 10.000 tỷ đồng;
2. Vốn để cho vay xoá đói giảm nghèo; tạo việc làm và thực hiện các chương trình chính sách xã hội khác;
3. Vốn ngân sách địa phương: Hàng năm, Ủy ban nhân dân các cấp bố trí trong dự toán chi ngân sách hoặc trích một phần từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách cấp mình để tăng nguồn vốn cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn;
4. Vốn ODA được Chính phủ giao.
Điều 6. Vốn huy động:
1. Huy động tiền gửi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
2. Phát hành trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác;
3. Các tổ chức tín dụng (trừ hệ thống Quĩ tín dụng nhân dân và Ngân hàng phát triển Việt Nam) có trách nhiệm duy trì số dư tiền gửi tại Ngân hàng Chính sách xã hội bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm trước. Tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội được trả lãi bằng lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn của các Tổ chức tín dụng tại cùng thời điểm;
4. Huy động tiết kiệm của người nghèo và huy động từ các nguồn khác.
Điều 7. Vốn đi vay:
1. Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước;
2. Vay Tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam;
3. Vay Ngân hàng Nhà nước.
Điều 8. Vốn đóng góp tự nguyện:
Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
Điều 9. Vốn nhận ủy thác:
Vốn nhận ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước.
Điều 10. Các nguồn vốn khác.
Chương III
TÍN DỤNG ƯU ĐÃI
Điều 11. Đối tượng được vay vốn:
1. Hộ nghèo;
2. Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn;
3. Các hộ gia đình thuộc đối tượng thực hiện: chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; xây dựng cụm tuyến dân cư vùng đồng bằng sông Cửu Long;
4. Các cá nhân thuộc gia đình chính sách đi lao động có thời hạn tại nước ngoài;
5. Các đối tượng được vay vốn của Quĩ quốc gia về việc làm;
6. Các hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn;
7. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng người lao động là người sau cai nghiện ma tuý;
8. Thương nhân kinh doanh thương mại tại vùng khó khăn;
9. Các đối tượng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 12. Điều kiện để được vay vốn:
1. Đối với người nghèo phải có địa chỉ cư trú hợp pháp và có trong danh sách hộ nghèo được Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo theo qui định của pháp luật, được tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
2. Đối với các đối tượng khác thực hiện theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của pháp luật hiện hành.
Điều 13. Mục đích sử dụng vốn vay:
Vốn vay được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của đối tượng được vay vốn, phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật.
Điều 14. Mức vốn cho vay:
1. Mức vốn cho vay đối với người nghèo và đối tượng chính sách được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của người vay và nguồn vốn có thể huy động được trong từng thời kỳ.
2. Mức vốn cho vay đối với người nghèo và đối tượng chính sách do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định.
Điều 15. Thời hạn cho vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn:
1. Thời hạn cho vay được xác định trên cơ sở mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn thu hồi vốn của chương trình, dự án và khả năng trả nợ của đối tượng được vay vốn.
2. Trường hợp đối tượng vay vốn chưa trả được nợ đúng kỳ hạn đã cam kết do nguyên nhân khách quan, được Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét cho gia hạn nợ.
3. Trường hợp đối tượng vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc không trả được nợ đúng hạn mà không được Ngân hàng Chính sách xã hội cho gia hạn nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội chuyển nợ quá hạn đồng thời kết hợp với chính quyền sở tại, các tổ chức chính trị – xã hội có biện pháp thu hồi nợ.
4. Thời hạn cho vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn do Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quy định.
Điều 16. Lãi suất cho vay:
1. Nguyên tắc xác định lãi suất cho vay:
a) Lãi suất cho vay được phân loại theo nhóm đối tượng vay căn cứ vào khả năng tài chính của đối tượng vay và khả năng hỗ trợ của Nhà nước.
- Đối với người nghèo, học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng vay vốn Quĩ quốc gia về việc làm: Lãi suất cho vay tối đa bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm.
- Đối với các đối tượng còn lại: Lãi suất cho vay tối đa bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng với biên độ không vượt quá 3%/năm.
b) Lãi suất cho vay do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định và công bố vào tháng 01 hàng năm.
2. Lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng và không thay đổi trong cả thời hạn vay vốn.
3. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 150% lãi suất khi cho vay.
Điều 17. Quy trình, thủ tục vay vốn:
Ngân hàng Chính sách xã hội quy định quy trình và thủ tục vay đối với từng đối tượng được vay vốn bảo đảm đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện.
Điều 18. Bảo đảm tiền vay:
1. Đối tượng vay vốn quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11 Nghị định này khi vay vốn không phải thế chấp tài sản.
2. Đối với các đối tượng khác thực hiện theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của pháp luật hiện hành.
Điều 19. Trích lập dự phòng:
Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 20. Xử lý rủi ro tín dụng:
1. Mọi rủi ro xảy ra trong quá trình cho vay người nghèo và đối tượng chính sách do nguyên nhân khách quan được xử lý theo qui chế xử lý rủi ro do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
2. Những thiệt hại do nguyên nhân chủ quan thì đối tượng gây thiệt hại phải bồi hoàn và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Chương III
KẾ HOẠCH TÍN DỤNG
Điều 21. Lập kế hoạch tín dụng:
Hàng năm, Ngân hàng Chính sách xã hội lập kế hoạch tín dụng báo cáo Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt.
Điều 22. Nội dung của kế hoạch tín dụng, gồm:
1. Tổng mức tăng trưởng tín dụng, trong đó chi tiết cụ thể cho từng chương trình và từng đối tượng vay theo tiến độ cho vay trong năm.
2. Nguồn vốn để thực hiện kế hoạch tăng trưởng tín dụng, trong đó chi tiết từng loại nguồn vốn, phù hợp với tiến độ cho vay trong năm.
3. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước để cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Điều 23. Bộ Tài chính
1. Chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trình Chính phủ ban hành hoặc hướng dẫn, ban hành các cơ chế, chính sách liên quan về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
2. Hướng dẫn và kiểm tra giám sát việc thực hiện Nghị định này.
3. Thay mặt Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và giám sát đối với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các vấn đề thuộc quyền của chủ sở hữu đối với Ngân hàng Chính sách xã hội do Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội trình.
4. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí vốn ngân sách Nhà nước để thực hiện tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách theo qui định tại Nghị định này.
Điều 24. Bộ Kế hoạch và đầu tư:
1. Tổng hợp kế hoạch tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và dài hạn để trình Thủ tuớng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước để thực hiện tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
3. Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng xây dựng chính sách, tham gia kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
Điều 25. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
1. Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư lập kế hoạch giải quyết việc làm hàng năm và 5 năm, kế hoạch bổ sung ngân sách hàng năm cho Quĩ Quốc gia về việc làm để tổng hợp trình Chính phủ xem xét, trình Quốc Hội.
2. Hướng dẫn, kiểm tra giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của Quĩ Quốc gia về việc làm.
Điều 26. Bộ Giáo dục và đào tạo.
Thực hiện các nhiệm vụ trong chương trình tín dụng đối với học sinh sinh viên do Thủ tướng Chính phủ qui định.
Điều 27. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán có liên quan đến hoạt động tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
2. Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
Điều 28. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước theo thẩm quyền đối với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Điều 29. Các cơ quan, tổ chức được cử người tham gia Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội, ngoài chức năng quản lý chuyên ngành thuộc thẩm quyền, có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau :
1. Tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về chủ trương, chính sách và giải pháp cơ bản để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
2. Trực tiếp chỉ đạo thực hiện các giải pháp chuyên ngành có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
3. Cử đại diện có đủ thẩm quyền tham gia Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.
Điều 30. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm :
1. Chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, Ban Chỉ đạo Chương trình xoá đói, giảm nghèo địa phương, ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án sản xuất – kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu, lựa chọn cây trồng, vật nuôi, ngành nghề, các chương trình chuyển giao công nghệ, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hướng dẫn thị trường với việc sử dụng vốn tín dụng; kết hợp chương trình kinh tế với chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng và chương trình văn hoá – xã hội nhằm hỗ trợ Người vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả và hạn chế rủi ro.
2. Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về việc trích một phần từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách địa phương hàng năm để chuyển cho Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn theo quy định tại Nghị định này.
3. Quyết định thành lập và giám sát hoạt động của Ban đại diện Hội đồng quản trị tại địa phương theo quy định của Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
4. Chỉ đạo các tổ chức nhận ủy thác trong việc chấp hành chính sách tín dụng đối với Người vay tại địa phương, xử lý các sai phạm, khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân có đóng góp trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
5. Tập trung các nguồn vốn có nguồn gốc từ Ngân sách địa phương đang cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác quy định trong Nghị định này, kể cả Quỹ cho vay xoá đói, giảm nghèo do địa phương lập (nếu có) vào đầu mối Ngân hàng Chính sách xã hội.
6. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Điều 31. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm :
1. Chỉ đạo các ngành và Ban Chỉ đạo Chương trình xoá đói, giảm nghèo của huyện phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và tạo điều kiện để thực hiện chính sách tín dụng đối với Người vay trên địa bàn.
2. Chỉ đạo ủy ban nhân dân cấp xã chấp hành đầy đủ các quy định về thành lập tổ tiết kiệm và vay vốn, bình xét cho vay, xác nhận danh sách hộ nghèo đủ điều kiện vay, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, trả nợ, trả lãi tiền vay của đối tượng được vay vốn.
3. Quyết định thành lập và giám sát hoạt động của Ban đại diện Hội đồng quản trị theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Điều 32. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
1. Lập danh sách hộ nghèo theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố.
2. Chỉ đạo việc thành lập và chấp thuận hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn.
3. Tổ chức và chỉ đạo Ban Chỉ đạo Chương trình xoá đói, giảm nghèo cấp xã phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội giám sát việc bình xét hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn, bảo đảm dân chủ và công khai, xác nhận danh sách hộ nghèo vay vốn, phối hợp với tổ chức cho vay, tổ tiết kiệm và vay vốn kiểm tra việc sử dụng vốn vay và đôn đốc thu hồi nợ.
4. Có ý kiến về đề nghị của đối tượng vay vốn đối với các trường hợp xin gia hạn nợ và xử lý rủi ro.
5. Phối hợp với các Ban, ngành chức năng ở cấp huyện, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức tài trợ và tổ chức cho vay mở các lớp hướng dẫn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, kiến thức về thị trường…, quy chế vay vốn, trả nợ của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Điều 33. Những tổ chức và cá nhân có thành tích trong việc tạo lập nguồn vốn, chấp hành tốt các quy định về cho vay mang lại hiệu quả thiết thực sẽ được khen thưởng.
Hàng năm, Hội đồng quản trị, Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp xem xét và đề nghị khen thưởng bằng các hình thức thích hợp.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 34. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và thay thế Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
Các đối tượng đang được vay vốn theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật.
Điều 35. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
- Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,
chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các Phó Chủ nhiệm,
Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,
Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, KTTH (8b). Hoà 320 bản.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code