Showing posts with label DỰ THẢO. Show all posts
Showing posts with label DỰ THẢO. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT ĐAI: NHIỀU QUI ĐỊNH CHƯA THỐNG NHẤT

THIÊN LONG
Nhiều quy định nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau (Luật Công chứng, quy định về đăng ký bất động sản…) có nhiều điểm “vênh” so với các quy định của Luật Đất đai hiện hành. Đây là nhận định của nhiều chuyên gia pháp lý. Điều quan trọng bây giờ là phải nhận thấy những điểm “vênh” đó để sửa chữa đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2010.
Cần thống nhất dùng cụm từ “công chứng”
Luật sư Tuấn Anh- Đoàn Luật sư TP. Hà Nội nêu ý kiến: hai cụm từ công chứng trong Bộ luật Dân sự và công chứng nhà nước trong Luật Đất đai, Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã nảy sinh cách hiểu khác nhau: công chứng Nhà nước có giá trị pháp lý cao hơn công chứng tư. Nhưng thực chất, không có sự khác nhau giữa hai cụm từ này và Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là hình thức hành nghề công chứng khác nhau nhưng giá trị văn bản công chứng là như nhau. Vì thế, luật sư Tuấn Anh kiến nghị: cần thống nhất sử dụng cụm từ “công chứng” trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia bất động sản, so với Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn (Nghị định 79/2007 của Chính phủ, các qui định về công chứng, chứng thực trong các hợp đồng về quyền sử dụng đất (từ Điều 122 đến 131 Luật Đất đai 2003) không còn phù hợp. Về vấn đề này, mới đây, trong cuộc họp nhằm rà soát các qui định về đăng ký bất động sản, công chứng, chứng thực liên quan đến các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đất đai… Vụ Hành chính Tư pháp đề xuất sửa đổi theo hướng cho phép hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện chưa có tổ chức hành nghề công chứng được lựa chọn công chứng của tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn khác hoặc chứng thực của UBND cấp xã nơi có đất đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất.
Tách bạch thủ tục về giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất
Theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thúy Hiền, khoản 19 Điều 4 Luật Đất đai 2003 qui định: căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể đối với quyền sử dụng đất là sau khi đăng ký quyền sử dụng đất. Vậy các trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thừa kế quyền sử dụng đất, bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án liên quan đến quyền sử dụng đất, thì chủ thể có cần đăng ký mới được xác định quyền và nghĩa vụ đối với quyền sử dụng đất đó không? Do vậy, nên sửa đổi theo hướng công nhận thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với quyền sử dụng đất trong các trường hợp này là thời điểm có hiệu lực của quyết định giao đất, cho thuê đất, của bản án, quyết định của tòa án hay các hợp đồng giao dịch đã có công chứng. Còn việc đăng ký chỉ là thủ tục để công khai quyền của chủ thể đó đối với quyền sử dụng đất.
Luật gia Hoàng Giang – Hội Luật gia Việt Nam cho rằng, pháp luật hiện hành chưa xác định đúng bản chất của hành vi đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nên đã đồng nhất thẩm quyền cấp giấy chứng nhận với thẩm quyền quản lý nhà nước như giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của UBND cấp tỉnh và cấp huyện, cũng như đồng nhất quan hệ mang tính chất dịch vụ công với quan hệ hành chính. Bên cạnh đó, các qui định pháp luật cũng thể hiện sự không nhất quán khi điều chỉnh hành vi xác lập quyền sử dụng đất cho người dân (như UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, nhưng nếu quyền sử dụng đất đó được chuyển nhượng cho người khác thì lại do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (đơn vị dịch vụ công) thực hiện cấp. “Do đó, cần tách bạch thủ tục hành chính của UBND cấp tỉnh và cấp huyện trong việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với các hoạt động đăng ký bất động sản. Các quyết định này cũng như bản án, quyết định của Tòa án và giao dịch là căn cứ xác lập quyền của cá nhân, tổ chức đối với bất động sản, không phụ thuộc vào việc đăng ký các quyền đó”, luật gia Hoàng Giang nêu ý kiến.
Theo Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, một số nội dung liên quan đến giấy chứng nhận và cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập trong thực tiễn khi thực hiện chủ trương “một cửa, một giấy” theo Nghị quyết số 07 năm 2007 của Quốc hội. Do đó, sửa đổi Điều 48, Điều 52 Luật Đất đai 2003 là giải pháp có tính khả thi nhất trong giai đoạn hiện nay.
SOURCE: BÁO ĐỜI SỐNG VÀ PHÁP LUẬT
Trích dẫn từ:

CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG GÌ CHO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003?

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ – - Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – môi trường
Mở đầu
Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam được ban hành vào năm 1987. Thực chất của Luật này là luật hóa chính sách Nhà nước giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định và xây dựng nền móng đầu tiên của hệ thống địa chính Việt Nam. Chính sách đất đai vẫn tiếp tục được vận hành trên nguyên tắc Nhà nước bao cấp về đất đai, đất đai không có giá, không được giao dịch trên thị trường, việc chuyển quyền sử dụng đất đều phải có quyết định hành chính của cơ quan nhà nước.
Luật Đất đai lần thứ hai được Quốc hội thông qua vào năm 1993, trong đó nội dung đổi mới quan trọng nhất bao gồm: đất đai có giá và giá đất do Nhà nước quy định; hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có 5 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp đối với đất đai. Do tư duy của nhà quản lý mong muốn giá đất thấp để thuận lợi cho đầu tư phát triển nên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường quy định giá đất rất thấp, chỉ bằng 10%-30% giá đất chuyển nhượng trên thị trường (chuyển nhượng theo tài sản gắn liền với đất). Theo Luật Đất đai năm 1993, việc chuyển đổi đất đai để thực hiện các dự án đầu tư vẫn được tiếp tục áp dụng chỉ một cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc, tức là Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu hồi đất của người đang sử dụng đất và giao đất cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư, nhà đầu tư nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất cho Nhà nước và trả tiền bồi thường đối với đất bị thu hồi, tiền tái định cư cho người bị thu hồi đất ở theo giá đất do Nhà nước quy định.

Trong hai năm đầu thi hành Luật Đất đai năm 1993, các nhà đầu tư có một hình thức sử dụng đất là thuê đất của nhà nước có thời hạn theo thời hạn của dự án đầu tư. Đến năm 1996, ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trong đó tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để xây dựng kinh doanh nhà ở và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp để bán hay cho thuê mặt bằng sản xuất gắn với hạ tầng chung.
Từ sau năm 1996, ủy ban nhân dân các tỉnh đã nhận thấy rõ vai trò của các dự án đầu tư phát triển kinh tế, coi đó là cách thức duy nhất để tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, các địa phương đã tìm mọi biện pháp để ưu đãi đầu tư, khuyến khích các nhà đầu tư về địa phương mình, trong đó ưu đãi về đất đai là biện pháp thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Năm 1998, Quốc hội thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, trong đó tập trung chủ yếu về mở rộng quyền cho các nhà đầu tư dự án, nhưng không thay đổi về cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc. Các nhà đầu tư trong nước được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong ba trường hợp: một là thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở; hai là thực hiện dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp để bán hay cho thuê mặt bằng sản xuất gắn với hạ tầng chung; ba là thực hiện dự án sử dụng quỹ đất để xây dựng hạ tầng, hay còn gọi là dự án “đổi đất lấy hạ tầng”. Hơn nữa, các nhà đầu tư thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở và dự án “đổi đất lấy hạ tầng” còn được sử dụng đất lâu dài, tức là không có thời hạn như đất ở của hộ gia đình, cá nhân. Thực ra, đây là một sự đổi mới hơi “quá đà”, vì đầu tư thực hiện dự án gì cũng đều phải có thời hạn. ở nhiều nước tư bản phát triển, người ta công nhận sở hữu tư nhân về đất ở cũng có thời hạn, không được vô hạn.
Luật Đất đai năm 2003 đã tạo được sự đổi mới khá toàn diện của hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam. Thứ nhất, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được cụ thể hóa, có các quy định chi tiết về quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai trên nguyên tắc quyền sử dụng đất do Nhà nước giao có thu tiền được coi như tài sản của người sử dụng đất. Thứ hai, có quy định cụ thể về việc giải quyết các tồn tại lịch sử về đất đai, trong đó khẳng định việc Nhà nước sẽ trả lại đất mà Nhà nước đã mượn của dân trong thời gian trước đây. Thứ ba, giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường, tức là hệ thống tài chính đất đai mới được xác lập trên nguyên tắc “một giá đất”. Thứ tư, các tổ chức kinh tế có tài sản là quyền sử dụng đất được phép thực hiện các giao dịch về đất đai trên thị trường. Thứ năm, tạo sự bình đẳng hơn về quyền và nghĩa vụ đối với đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Thứ sáu, cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc theo quy định của pháp luật đất đai trước đó được hạn chế lại, chỉ áp dụng cho các trường hợp sử dụng đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và một số dự án đầu tư phát triển kinh tế quan trọng (như đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu dân cư đô thị và nông thôn, các dự án có vốn đầu tư thuộc nhóm lớn nhất), các trường hợp khác phải thực hiện cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người đang sử dụng đất. Thứ bảy, có quy định cụ thể về việc tính bồi thường về đất, điều kiện nơi tái định cư đối với các trường hợp được áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc. Thứ tám, thiết lập một hệ thống trình tự, thủ tục hành chính đối với đăng ký đất đai trên nguyên tắc cụ thể, đơn giản, ít chi phí, công khai, minh bạch. Thứ chín, tăng cường vai trò giám sát của dân đối với quản lý và sử dụng đất đai. Thứ mười, hoàn chỉnh cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai trên nguyên tắc nâng cao trách nhiệm của các cấp địa phương và chủ yếu chuyển sang hệ thống tòa án giải quyết.
Những yêu cầu cần sửa đổi, bổ sung đối với Luật Đất đai năm 2003
Đến nay, Luật Đất đai năm 2003 đã triển khai được 5 năm. Không có luật nào có thể đúng với mọi thời gian, nhất là Luật Đất đai khi đất đai luôn biến động theo nhu cầu sử dụng cho phát triển bền vững. Trong thời gian qua, các nhà quản lý cũng thấy sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung; các nhà đầu tư cũng đề xuất phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung; những người bị thiệt hại từ cơ chế nhà nước thu hồi đất cũng có bức xúc về một số nội dung. Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung có thể có nhiều, nhưng những nội dung cơ bản được tổng kết lại dưới đây.
1. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của nước ta chưa phù hợp với lý luận khoa học, trên thực tế chưa đủ sức để điều tiết thị trường sơ cấp về quyền sử dụng đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất; mặt khác, chưa bảo đảm được tính thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế và quy hoạch xây dựng.
Nội dung sửa đổi, bổ sung này xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện hệ thống quản lý do các cơ quan quản lý nhà nước đề xuất.
2. Hệ thống đăng ký đất đai đang bị chia ra thành hai mảng: đất có nhà ở (được điều chỉnh bằng Luật Nhà ở, theo hệ thống quản lý nhà nước của ngành xây dựng) và đất không có nhà ở (được điều chỉnh bằng Luật Đất đai, theo hệ thống quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường). Một cuộc thảo luận giữa các cơ quan quản lý nhà nước dài tới 15 năm (từ năm 1994 khi Chính phủ ban hành Nghị định 60-CP), tới cuối năm 2007 Quốc hội thông qua Nghị quyết về kinh tế – xã hội năm 2008, trong đó có nội dung thống nhất hệ thống đăng ký cho cả đất đai và tài sản gắn liền với đất.
Nội dung sửa đổi, bổ sung này là yêu cầu trước hết để hoàn thiện hệ thống quản lý thống nhất về bất động sản do các cơ quan quản lý nhà nước đề xuất, đồng thời đây cũng là bức xúc của người dân, của doanh nghiệp khi phải đối mặt với sự phức tạp của hai hệ thống cơ quan đăng ký đất đai, hai loại giấy chứng nhận về đất đai.
3. Hệ thống tài chính đất đai mới được đặt ra, còn thiếu nhiều công cụ để quản lý giá đất (Luật này không đề cập tới hệ thống thuế về đất). Trước hết, định giá đất nông nghiệp theo thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như quy định trong pháp luật hiện hành chỉ đúng khi đất nông nghiệp đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và trong quy hoạch sử dụng đất vẫn tiếp tục được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; chính quy hoạch sử dụng đất cho chuyển một số diện tích đất đang sử dụng vì mục đích sản xuất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp làm cho giá đất nông nghiệp trên thị trường cao hơn, vì đang hướng tới giá đất phi nông nghiệp trong tương lai. Tiếp theo, pháp luật hiện hành quy định là giá đất áp dụng để tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, tính giá trị bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, tính giá trị tài sản doanh nghiệp có quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải được xác định phù hợp với giá đất trên thị trường và giao cho UBND cấp tỉnh quyết định. Giao như vậy, nhưng chưa chỉ ra được quy trình làm thế nào để xác định được giá đất trên thị trường. Người dân khiếu nại về giá tính bồi thường đất cho mình chưa phù hợp với giá thị trường cũng không đưa ra được luận cứ gì xác đáng. Vậy câu chuyện đặt ra là: làm thế nào để xác định được giá đất phù hợp với thị trường (cho cả đất nông nghiệp đã được quy hoạch chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp và cả đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp). Mặt khác, giá thuê đất của Nhà nước có cần phù hợp với thị trường hay không (như quy định hiện nay) cũng là việc phải bàn định kỹ lưỡng.
Nội dung sửa đổi, bổ sung này vừa xuất phát từ nhu cầu quản lý, vừa xuất phát từ nhu cầu về tính giá đất trong tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của doanh nghiệp, vừa xuất phát từ bức xúc của người dân bị thiệt thòi về giá trị bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
4. Cách thức để nhà đầu tư có đất để thực hiện dự án đầu tư theo pháp luật hiện hành được phân thành hai trường hợp: một là vận hành theo cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc với quy trình Nhà nước thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi, quyết định giao đất hoặc cho thuê đất cho nhà đầu tư; hai là vận hành theo cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở nhà đầu tư tự thương thảo với người đang sử dụng đất để nhận quyền sử dụng đất thông qua chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn. Lúc đầu, các nhà đầu tư năng động rất ủng hộ cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện vì mối quan hệ không phức tạp, bớt áp lực của các cơ quan hành chính… Chỉ sau đó 2 năm, thực tế nhiều trường hợp nhà đầu tư đã nhận chuyển nhượng được phần lớn đất cho dự án, còn lại một phần nhỏ thì người đang sử dụng đất nói giá rất cao để nhà đầu tư chỉ còn cách bỏ dở dự án, tiến thoái lưỡng nan. Thế là các nhà đầu tư lại mong muốn quay về với cơ chế quen thuộc – chuyển đổi đất đai bắt buộc với một quy trình rất cồng kềnh, phức tạp, tốn kém và đầy nguy cơ khiếu kiện của dân. Lúc này, cần xem xét lại rất nghiêm túc cách đổi mới cả hai cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc và tự nguyện, đồng thời xem xét lại ranh giới của phạm vi áp dụng đối với cả hai cơ chế này.
Nội dung sửa đổi, bổ sung này vừa xuất phát trước hết từ nhu cầu của hệ thống quản lý nhằm làm giảm khiếu kiện của người bị thu hồi đất, tạo ổn định xã hội trong quá trình đầu tư phát triển, đồng thời đây cũng vừa là nhu cầu của nhà đầu tư và nhu cầu của người bị thu hồi đất, đó là những đối tượng có chung quyền lợi từ đất đai.
5. Pháp luật đất đai hiện hành vẫn chưa tạo được sự bình đẳng về quyền giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài như quy tắc của sân chơi WTO. Tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước giao đất có thời hạn nộp tiền sử dụng đất hoặc được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm (trường hợp thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở thì tổ chức kinh tế trong nước được sử dụng đất vô thời hạn; trường hợp thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở để cho thuê thì tổ chức kinh tế trong nước được lựa chọn hình thức hoặc giao đất nộp tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có thời hạn nộp tiền thuê đất hàng năm). Tổ chức kinh tế trong nước được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân. Còn tổ chức kinh tế nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất thì trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền thuê đất hàng năm (trường hợp thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở thì tổ chức kinh tế nước ngoài được cho thuê đất có thời hạn dài nhất nộp tiền thuê đất bằng với tiền sử dụng đất mà tổ chức kinh tế trong nước phải nộp khi được giao đất, khi hết thời hạn thì được Nhà nước gia hạn và không phải nộp thêm bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào cho Nhà nước). Tổ chức kinh tế nước ngoài được nhận chuyển nhượng dự án, thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trong nước; không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ các hộ gia đình, cá nhân.
Các nhà đầu tư nước ngoài chưa có đề xuất gì nhưng nhà đầu tư trong nước đề nghị cũng được thuê đất trả tiền thuê một lần như nhà đầu tư nước ngoài. Đề nghị này chỉ vì muốn được lợi như nhà đầu tư nước ngoài được trả tiền thuê đất chỉ bằng 30% tiền sử dụng đất. Thực tế, việc thực thi pháp luật đất đai đã để cho nhà đầu tư nước ngoài được lợi hơn nhà đầu tư trong nước. Vậy phải sửa đổi quy định là tiền thuê đất trả một lần cho toàn bộ thời gian thuê được tính bằng tiền sử dụng đất, chứ không phải cho luôn nhà đầu tư trong nước được thuê đất trả tiền một lần như nhà đầu tư nước ngoài. Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có quyền và nghĩa vụ như nhà đầu tư trong nước được Nhà nước giao đất trả tiền sử dụng đất.
6. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đang gặp nhiều bức xúc, các vụ việc cũ chưa giải quyết xong thì các vụ việc mới từ công tác thu hồi đất lại tăng lên rất nhanh. Giải pháp chuyển các khiếu kiện cho địa phương giải quyết và tăng thêm sự tham gia của hệ thống tòa án là đúng về lý luận nhưng chưa phù hợp thực tiễn. Cần sửa đổi, bổ sung sao cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đạt hiệu quả hơn.
Nhu cầu sửa đổi, bổ sung này xuất phát trước hết từ các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời cũng là nguyện vọng của những người có đơn thư khiếu kiện.
Sửa đổi, bổ sung đối với Luật Đất đai 2003 nên đi theo hướng nào?
1. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của nước ta có nguồn gốc từ những tư duy của thời bao cấp, mang tính chủ quan nhiều hơn khách quan. Kết luận của mỗi bản quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thường là một bảng kê các loại đất, chỉ tiêu được chuyển từ loại đất này sang loại đất khác và một danh sách các dự án được chấp thuận. Đối với quy hoạch sử dụng đất đai, cái cần là sử dụng ở vị trí nào, vị trí nào được chuyển đổi thì lại không có. Như vậy, cũng không thể nói về giao đất, cho thuê đất theo đúng quy hoạch hay không đúng quy hoạch vì quy hoạch không chỉ ra vị trí.
Về lý luận khoa học, quy hoạch sử dụng đất phải đi theo hướng phân vùng sử dụng đất theo không gian, đâu là vùng chuyên lúa, vùng rừng đặc dụng cần phải bảo vệ, giữ nguyên, đâu là vùng sẽ sử dụng để phát triển đô thị, phát triển công nghiệp, cần phải cho chuyển đổi. Quy hoạch phân vùng này được chuẩn bị đồng thời với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, sau đó mới triển khai quy hoạch xây dựng để cụ thể hóa từng vùng sử dụng đất đã được phê duyệt.
Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của ta nên xây dựng lại theo sơ đồ này, thống nhất như các nước thường làm.
2. Cách sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục tình trạng hai hệ thống đăng ký đất đai hiện nay rất đơn giản: một là thống nhất hệ thống đăng ký, hệ thống giấy chứng nhận, được coi như đây là hệ thống đăng ký pháp lý về bất động sản và giao cho một bộ tổ chức triển khai, hai là quy định rõ mối quan hệ giữa hệ thống đăng ký pháp lý về bất động sản và hệ thống quản lý chuyên ngành về nhà ở, công trình xây dựng, rừng, vườn cây v.v.. để thống nhất mối quan hệ hành chính của cả nước, sao cho không có chồng chéo, không có khoảng hở.
3. Đổi mới hệ thống quản lý giá đất phù hợp với thị trường phải bắt đầu bằng việc xây dựng cơ chế quản lý đối với hệ thống dịch vụ định giá đất, vì đó chính là nơi cung cấp giá đất xác định theo thị trường cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp và người dân có nhu cầu thẩm định về giá trị bồi thường khi thấy chưa thỏa đáng. Tất nhiên, gắn với việc cung cấp dịch vụ định giá đất phải chỉ định được cơ quan phán quyết cuối cùng khi có tranh chấp về giá đất. Cơ quan phán quyết này có thể là trọng tài kinh tế hoặc tòa án kinh tế.
Theo cách thức quản lý này, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được xây dựng trên cơ sở giá định theo một tổ chức cung cấp dịch vụ định giá. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã đưa quy trình định giá vào trong trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Trường hợp người bị thu hồi đất cảm thấy giá đất để tính bồi thường chưa thỏa đáng cũng cần thuê dịch vụ định giá để xem có nên khiếu nại hay không, khi khiếu nại cũng phải có căn cứ giá do tổ chức nào thẩm định.
4. Đổi mới cơ chế chuyển đổi đất đai hiện vẫn là nội dung quan trọng, khó khăn, phức tạp nhất. Cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc phải có những nghiên cứu để làm giảm đi mức độ tham gia của các cơ quan hành chính, tăng lên sự tham gia của các đơn vị dịch vụ công, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư nơi có đất v.v.. Những nội dung cần xem xét bao gồm:
a. Thống nhất hình thức Tổ chức phát triển quỹ đất là loại hình doanh nghiệp nhà nước, thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cho cả trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch và thu hồi đất theo dự án đã được giới thiệu địa điểm đầu tư (không sử dụng hình thức Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng do ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập như hiện nay). Tổ chức phát triển quỹ đất được vay tiền từ hệ thống ngân hàng đầu tư phát triển, quỹ đầu tư phát triển để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị thực hiện quyết định hành chính của cơ quan nhà nước về thu hồi đất và là đơn vị phối hợp với các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư để bảo đảm tính đồng thuận giữa các bên tham gia và sự chia sẻ quyền lợi giữa các bên có chung quyền lợi, làm giảm được tác động trực tiếp của bộ máy hành chính lên cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc.
b. Cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được tham gia cung cấp dịch vụ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên cơ sở ký hợp đồng với Tổ chức phát triển quỹ đất, với nhà đầu tư.
c. Nhà nước thành lập quỹ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từ ngân sách nhà nước, từ đóng góp của các nhà đầu tư, từ quyên góp xã hội để tạo thuận lợi, làm tốt hơn việc hỗ trợ dài hạn cho các cộng đồng, người dân bị thiệt hại trong quá trình chuyển đổi đất đai.
d. Thực hiện chặt chẽ quy trình định giá đất theo giá thị trường do các tổ chức định giá cung cấp dịch vụ để làm căn cứ cho cơ quan nhà nước quyết định giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
đ. Bổ sung thêm một số hình thức của quan hệ về đất đai giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất như ưu tiên cho người đang sử dụng đất được góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc được cho thuê đất với nhà đầu tư thay cho việc Nhà nước quyết định thu hồi đất để giao cho nhà đầu tư.
e. Có quy định cụ thể về quy trình thực hiện chuyển đổi đất đai trong trường hợp thực hiện các dự án có tác động lớn, trên diện rộng đến cộng đồng dân cư như các dự án thủy điện lớn, dự án khai thác khoáng sản, dự án xây dựng hồ thủy lợi lớn v.v. trên nguyên tắc xem xét cụ thể chính sách chia sẻ lợi ích (cả bằng tiền và không bằng tiền) giữa các bên tham gia, các bên có quyền lợi liên quan.
g. Có quy định cụ thể về quy trình chuyển đổi đất đai trong trường hợp các dự án thực hiện chỉnh trang nâng cấp hạ tầng đô thị, khu dân cư nông thôn, xây dựng lại các khu dân cư cũ nát trên nguyên tắc áp dụng chính sách góp đất, điều chỉnh đất đai của những cư dân trong khu dân cư.
Cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện cần đổi mới theo quy trình cụ thể gồm các bước:
a. Nhà đầu tư đăng ký thực hiện cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện với Văn phòng đăng ký đất đai đối với một khu vực đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
b. Nhà đầu tư thuê tư vấn định giá đất thực hiện định giá đất theo giá thị trường đối với loại đất đang sử dụng và giá đất đối với loại đất sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng.
c. Nhà đầu tư thương thảo với người đang sử dụng đất để thống nhất phương thức chuyển quyền sử dụng đất, giá đất tương ứng có sự chứng kiến của đại diện cộng đồng dân cư, đại diện của Văn phòng đăng ký đất đai.
d. Khi không đạt được thỏa thuận với đại đa số người đang sử dụng đất thì nhà đầu tư cần tìm khu vực đất khác phù hợp với dự án đầu tư của mình.
đ. Khi nhà đầu tư đã nhận chuyển quyền được phần lớn đất cho dự án, còn lại một phần đất không thể thương thảo thành công với người đang sử dụng đất thì nhà đầu tư có thể đệ trình cơ quan nhà nước can thiệp bằng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc đối với phần đất còn lại (kinh nghiệm từ thực tế hiện nay, các nhà đầu tư đề nghị khi đã nhận chuyển quyền được khoảng 80% diện tích đất thì cần trợ giúp của cơ quan nhà nước đối với 20% diện tích đất còn lại).
Vấn đề còn lại cần xem xét là lấy tiêu chí gì làm ranh giới giữa hai cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc và tự nguyện đối với các dự án đầu tư thuần túy vì mục đích lợi nhuận. Như hiện nay, dự án nhóm A được áp dụng cơ chế bắt buộc, dự án dưới nhóm A được áp dụng cơ chế tự nguyện. Có thể lấy tiêu chí vốn đầu tư như hiện nay hoặc có thể căn cứ mức độ ưu tiên đầu tư trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
5. Sự bình đẳng về quyền giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cũng cần xem xét, điều chỉnh trong sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai lần này. Sự sửa đổi này còn tạo nên bình đẳng trong áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc hay tự nguyện ở phần trên (hiện nay mọi loại dự án có 100% vốn nước ngoài đều được áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất để giao). Hệ thống quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư có thể được thiết kế lại theo sơ đồ sau:
a. Cho phép nhà đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất trực tiếp từ hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc phạm vi dự án đầu tư đã được thống nhất địa điểm với cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (tương đương như quyền của nhà đầu tư trong nước theo pháp luật hiện hành). Quyền này của nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện trong phạm vi đất cho dự án đã được phê duyệt, không được thực hiện ngoài phạm vi dự án.
b. Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều được sử dụng đất có thời hạn theo ba hình thức:
- Do được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được thực hiện các quyền giao dịch đối với đất đai;
- Do được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, chỉ được thực hiện các quyền giao dịch đối với tài sản gắn liền với đất và Nhà nước tiếp tục cho thuê đất đối với người mua tài sản;
- Do nhận chuyển quyền sử dụng đất, mua tài sản gắn liền với đất từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân; trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được sử dụng ổn định lâu dài từ hộ gia đình, cá nhân thì thời hạn sử dụng đất là thời hạn dài nhất theo quy định của luật pháp, hết thời hạn được kéo dài mà không phải thực hiện thêm bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào với Nhà nước (như quy định hiện hành đối với nhà đầu tư nước ngoài nhưng lại giảm bớt quyền của nhà đầu tư trong nước).
6. Những bức xúc trong quy trình giải quyết khiếu nại về đất đai sẽ được giải quyết nếu có hệ thống cơ quan tài phán hành chính trực thuộc trung ương. Cơ quan ban hành quyết định hành chính mà bị khiếu nại sẽ có trách nhiệm giải quyết lần đầu, cơ quan tài phán hành chính ban hành quyết định giải quyết cuối cùng nếu người khiếu nại tiếp tục không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu. Cơ quan tài phán hành chính vừa là cơ quan có quyền lực quyết định ở trung ương, phù hợp với nguyện vọng của người dân ở địa phương, vừa là cơ quan giúp thêm tư liệu cho toà án nếu người khiếu kiện tiếp tục không đồng ý với quyết định giải quyết cuối cùng mà khởi kiện ra tòa án nhân dân.
Lời kết
Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003 là một việc phức tạp, dễ chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, dễ chỉ nhìn thấy bức xúc về hình thức mà không thấy bản chất của nội dung đang nằm ở quy định khác trong luật. Hơn nữa, những quy định dễ dàng thì đã được xem xét đầy đủ khi xây dựng Luật Đất đai năm 2003, giờ chỉ còn lại những vấn đề thuộc phạm vi phức tạp, nhậy cảm.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ
Trích dẫn từ:

DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 (LẦN 1)




QUỐC HỘI
Luật số: /2009/QH12
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày ….tháng…… năm 2009
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khóa XII, kỳ họp thứ 4
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai
1. Sửa đổi khoản 7 Điều 9 như sau:
“7. Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, tổ chức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư (trong Luật này gọi là tổ chức, cá nhân nước ngoài) được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.”
2. Sửa đổi khoản 1 và khoản 2 Điều 20 như sau:
“1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được lập năm năm một lần thể hiện kết quả kiểm kê đất đai quy định tại Điều 53 của Luật này.
2. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất thể hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, được lập gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 24 của Luật này.”
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều 21. Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Việc lập quy hoạch sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh;
2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết, quy hoạch sử dụng đất của mỗi cấp phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất để đáp ứng các lợi ích cơ bản của cấp mình, quy hoạch sử dụng đất của cấp trên phải định hướng cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới, quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên;
3. Quy hoạch sử dụng đất của mỗi cấp phải đảm bảo cân đối nhu cầu sử dụng đất và phân bố quỹ đất cho việc phát triển các ngành, lĩnh vực.
4. Sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ nghiêm ngặt lớp đất canh tác nông nghiệp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;
5. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh;
6. Dân chủ và công khai;
7. Quy hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó.”
4. Sửa đổi Điều 23 như sau:
“Điều 23. Nội dung quy hoạch sử dụng đất của cả nước
1. Xác định chỉ tiêu diện tích khống chế đối với một số loại đất có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo đảm an ninh lương thực, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững gồm: đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất quốc phòng, đất an ninh; phân bổ các chỉ tiêu diện tích khống chế đến từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Xác định chỉ tiêu diện tích đất theo các mục đích sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực có tầm quan trọng quốc gia và vùng.
3. Khoanh định ranh giới các khu vực đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất quốc phòng, đất an ninh; xác định vị trí các công trình có tầm quan trọng quốc gia.
4. Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách và đề xuất các chương trình, dự án nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch.”
TẢI TOÀN BỘ DỰ THẢO TẠI ĐÂY
TẢI VĂN BẢN SO SÁNH GIỮA DỰ THẢO VỚI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 TẠI ĐÂY

Monday, November 18, 2013

BÁO CÁO SỐ 248/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai được các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở Tổ (chiều ngày 22/5/2009) và tại Hội trường (sáng ngày 02/6/2009). Qua ý kiến thảo luận và một số ý kiến tham gia bằng văn bản, cho thấy, về cơ bản các đại biểu Quốc hội nhất trí với Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và nội dung của Dự án Luật. Đồng thời, cũng còn một số ý kiến tập trung vào một số vấn đề về: sự cần thiết, đối tượng được sở hữu nhà, số lượng nhà được sở hữu, quyền và nghĩa vụ của người mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất… Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo nghiên cứu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai như sau:
1. Về sự cần thiết
Đa số ý kiến đại biểu đều nhất trí với sự cần thiết phải sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai để điều chỉnh các đối tượng và điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Có một số ý kiến đề nghị cần phải làm rõ tính cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung Dự án Luật này và sử ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ở trong nước.
Về vấn đề này trong tờ trình của Chính phủ cũng như báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế đã phân tích khá chi tiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin làm rõ thêm như sau: việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai vừa là đáp ứng nguyện vọng, mong mỏi của đông đảo bà con kiều bào và vừa là nhằm tiếp tục cụ thể hóa cho đầy đủ hơn, toàn diện hơn chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, góp phần tạo điều kiện để bà con kiều bào gắn bó với quê hương và thuận lợi khi về Việt Nam làm ăn, sinh sống, tạo tâm lý yên tâm để họ về nước đầu tư kinh doanh, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Hơn nữa, việc ban hành Dự án Luật này cũng là tạo sự tương thích với các chính sách của nhà nước đối với người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo Nghị quyết số 19/2008/QH12 của Quốc hội về việc thí điểm cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Theo báo cáo của Chính phủ thì việc trình Quốc hội thông qua Dự án Luật này có thể có tác động đến thị trường bất động sản ở trong nước. Nhưng hiện nay nguồn cung về nhà ở trong nước là khá lớn, qua thống kê về tình hình phát triển nhà ở trong 5 năm trở lại đây cho thấy, bình quân mỗi năm cả nước xây dựng được khoảng 37 triệu m2 nhà ở, riêng năm 2008 cả nước xây dựng được khoảng 50 triệu m2, trong đó tại đô thị là 28 triệu m2, riêng tại TP.HCM mỗi năm xây dựng được khoảng 5-6 triệu m2, riêng tại TP.Hà Nội xây dựng được khoảng gần 2 triệu m2. Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy khi Luật này được ban hành thì không phải tất cả hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều có thể mua nhà ở tại Việt Nam, mà chỉ có số đối tượng có nhu cầu, thực sự có năng lực tài chính và có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì mới có thể mua được nhà ở tại Việt Nam.
Đối với việc hạn chế các hành vi mua, bán nhà ở để kiếm lời, Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, hiện nay Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật có liên quan đến vấn đề sở hữu nhà ở như các Luật về thuế (gồm Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp), Luật Kinh doanh bất động sản và trong thời gian tới Quốc hội sẽ xem xét thông qua Luật thuế nhà, đất. Theo đó, nếu chủ sở hữu có hành vi kinh doanh như mua, bán, cho thuê nhà ở thì phải đăng ký kinh doanh và nộp các loại thuế cho Nhà nước. Mặt khác, trong dự thảo Luật cũng đã ghi rõ là chỉ được “sở hữu nhà để bản thân và gia đình sinh sống tại Việt Nam”. Theo đó, Chính phủ sẽ phải quy định cụ thể các điều kiện khi chủ sở hữu được bán hoặc cho thuê nhà ở, điều này sẽ hạn chế đối với việc lợi dụng chính sách để đầu cơ, mua đi, bán lại kiếm lời.
Với các phân tích như trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy cần thiết trình Quốc hội ban hành Dự án Luật này.
2. Về Điều 126 của Luật nhà ở “Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài”
- Về đối tượng được sở hữu nhà ở
Đa số các ý kiến đồng ý với các nhóm đối tượng quy định như trong Dự thảo Luật, tuy nhiên còn có ý kiến đại biểu băn khoăn về một số vấn đề sau:
- Đề nghị làm rõ đối tượng “người gốc Việt Nam” nêu trong Dự thảo Luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy khái niệm người gốc Việt Nam đã được quy định cụ thể trong Luật Quốc tịch năm 2008, theo đó, người gốc Việt Nam là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, do đó không cần thiết phải nhắc lại trong Luật này.
- Có ý kiến đề nghị làm rõ nhóm đối tượng “người về đầu tư trực tiếp” vì quy định như thế không bao hàm hết, và đề nghị cân nhắc đối tượng“người đầu tư gián tiếp” đang sinh sống tại Việt Nam thì có được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không. Ví dụ: người đầu tư vào chứng khoán, đầu tư các quỹ tài chính…
Về vấn đề này Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, khái niệm người về đầu tư trực tiếp đã được quy định rõ trong Luật đầu tư năm 2005, tức là người bỏ vốn của mình đầu tư thực hiện các dự án cụ thể được các cấp có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cho phép, do vậy không nên nhắc lại trong dự thảo Luật này. Riêng “người đầu tư gián tiếp” do chỉ tham gia đầu tư tài chính thường diễn ra trong một thời gian ngắn, không ổn định và dễ rút vốn kinh doanh khi không còn nhu cầu đầu tư… Do đó, đề nghị chưa đưa đối tượng này vào diện khuyến khích để được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến của một số đại biểu để làm rõ hơn khái niệm người về đầu tư trực tiếp, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được bổ sung thêm cụm từ “theo pháp luật về đầu tư” vào cuối cụm từ “người về đầu tư trực tiếp” nêu tại điểm b khoản 1 Điều 126 của Luật nhà ở.
- Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn các đối tượng “người có công đóng góp cho đất nước, nhà văn hóa, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt”.
Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, nhóm đối tượng người có công đóng góp cho đất nước đã được quy định trong pháp luật về ưu đãi người có công, cụ thể như: người tham gia hoạt động cách mạng, Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, người là nòng cốt trong các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ tốt với trong nước, gắn với lợi ích quốc gia; người được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Hội… . Các đối tượng là nhà văn hóa, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt là những người được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật, thể dục-thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế – xã hội đang làm việc tại Việt Nam… Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, trong quá trình thực thi chính sách thì có thể sẽ phải tiếp tục bổ sung thêm đối tượng người có công, nhà văn hóa, nhà khoa học hoặc người có kỹ năng đặc biệt, vì vậy, đề nghị Quốc hội không quy định tiêu chuẩn cụ thể các nhóm đối tượng trong Dự thảo Luật mà giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết đối với các nhóm đối tượng này.
- Có ý kiến đề nghị bỏ các đoạn “để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam” và đoạn “mà có nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chồng” quy định tại khoản 1 Điều 126; có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về giải quyết vấn đề nhà ở sau ly hôn đối với trường hợp người có vợ hoặc chồng là công dân sinh sống trong nước.
Về các vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, mục đích của việc sửa đổi, bổ sung Điều này là nhằm tạo điều kiện để các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài có chỗ ở ổn định, giúp họ yên tâm khi về Việt Nam làm việc, sinh sống, việc có cụm từ ”để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam” trong Dự thảo Luật là để bản thân các đối tượng được sở hữu nhà ở có ý thức chấp hành sử dụng đúng mục đích, mặt khác để Chính phủ theo đó có các quy định cụ thể, chi tiết điều kiện khi chuyển nhượng, cho thuê… do vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ cụm từ “để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam” trong Dự thảo Luật.
Về ý kiến đề nghị bỏ đoạn “mà có nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chồng”, do vấn đề này đã được quy định trong các luật liên quan như Bộ Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình… Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và bỏ cụm từ này. Riêng vấn đề giải quyết tài sản nhà ở sau ly hôn của vợ hoặc chồng, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, vấn đề này sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự, do đó không quy định cụ thể trong Luật này.
- Về ý kiến đề nghị Dự thảo Luật cần làm rõ cụm từ “mà Việt Nam có nhu cầu” là tổ chức hay cá nhân Việt Nam.
Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, ghi cụm từ này là khẳng định rõ những đối tượng như nhà văn hóa, nhà khoa học, người có kỹ năng đặc biệt phải làm việc tại Việt Nam theo yêu cầu cụ thể của các cơ quan, tổ chức kinh tế, xã hội được Nhà nước cho phép, do vậy, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội xin thay cụm từ “mà Việt Nam có nhu cầu” bằng cụm từ “mà các cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu”. Các cơ quan, tổ chức này bao gồm: cơ quan Đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội, nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế của Việt Nam được Nhà nước cho phép…và sẽ được Chính phủ quy định cụ thể trong Nghị định hướng dẫn.
- Đối với ý kiến về số lượng nhà được sở hữu
Về vấn đề này Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng: về nguyên tắc cần có sự phân biệt về quyền được sở hữu nhà ở giữa các nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 126, cũng như giữa các đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người đang sinh sống ở trong nước. Tuy nhiên, để tương thích với các chính sách và pháp luật hiện hành như Hiến pháp[1], Bộ Luật dân sự[2], Luật nhà ở[3]… quy định về quyền của công dân về nhà ở, xin trình Quốc hội cách thể hiện tại khoản 1 Điều 126 Dự thảo Luật, tạo tâm lý yên tâm, phấn khởi, tin tưởng cho bà con kiều bào. Xin được nêu ví dụ về 2 trường hợp dưới đây:
- Một nhà đầu tư trực tiếp có dự án đầu tư ở TP.Hà Nội và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, nếu có nhu cầu nhà ở riêng thì có thể được mua và sở hữu nhà ở cả 2 địa phương trên.
- Một nhà khoa học làm việc cho cơ sở khoa học tại TP.Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng nếu có nhu cầu nhà ở riêng thì cũng có thể được mua nhà ở tại 2 địa phương trên.
Việc hạn chế lợi dụng chính sách để đầu cơ, mua đi bán lại kiếm lời sẽ được điều chỉnh bằng các quy định về chính sách thuế và giao dịch bất động sản (Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế giá trị gia tăng và sắp tới sẽ có Luật thuế nhà, đất). Hơn nữa, ngay trong Dự thảo Luật đã ghi rõ mục đích là “để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam” là nhằm để cho người sở hữu nhà ở có ý thức rõ về mục đích sử dụng và để Chính phủ phải có các quy định cụ thể các điều kiện ràng buộc khi không có nhu cầu để ở, cần chuyển nhượng, cho thuê nhằm hạn chế việc sử dụng nhà không đúng mục đích.
Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã chỉ đạo Đoàn Thư ký kỳ họp gửi Phiếu xin ý kiến các vị đại biểu Quốc hội về đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật nhà ở, với kết quả cụ thể như sau:
- Tổng số ý kiến đồng ý: 284/320, chiếm 88,75%.
- Tổng số ý kiến không đồng ý: 22/320, chiếm 6,87%.
- Không có ý kiến: 6/320, chiếm 1,87%.
- Ý kiến khác: 8/320, chiếm 2,5%.
Do vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin đề nghị Quốc hội cho giữ như trong dự thảo Luật.
3. Về Điều 121 của Luật đất đai “Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”
Đa số các ý kiến đồng ý như quy định của Dự thảo Luật, tuy nhiên có ý kiến đề nghị bổ sung thêm quyền “được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất. Cũng có ý kiến đề nghị làm rõ quy định “thời gian tạm thời không sử dụng để ở” nêu tại điểm d, khoản 2 Điều 121.
Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, vấn đề bồi thường đã được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan. Theo đó, những người có sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở mà bị Nhà nước thu hồi đất thì sẽ được bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Điều 106 Luật đất đai quy định rõ các quyền như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, do vậy, để việc thi hành pháp luật gặp thuận lợi, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và bổ sung thêm quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vào khoản 2 Điều 121 của Luật đất đai. Về đề nghị cần làm rõ cụm từ thời gian tạm thời không sử dụng để ở, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu theo hướng cho phép chủ sở hữu được cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng, nhưng phải dùng vào mục đích để ở, không được sử dụng vào mục đích khác và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đăng ký, nộp thuế…
4. Về một số ý kiến khác
Có ý kiến cho rằng, trong Tờ trình của Chính phủ chưa nói rõ lý do tại sao lại không trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định mở rộng đối tượng, mà nêu nguyên nhân là do hạn chế của Luật.
Về vấn đề này Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhận thấy: Theo tờ trình của Chính phủ thì Dự án Luật này không chỉ mở rộng đối tượng mà còn sửa đổi cả điều kiện được sở hữu nhà ở và thay đổi nội dung, cơ cấu của Điều 126 của Luật nhà ở. Do có những vấn đề không thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên cần phải trình Quốc hội sửa đổi Điều này mới phù hợp. Mặt khác, do Điều 126 Luật nhà ở có liên quan đến Điều 121 của Luật đất đai năm 2003, đặc biệt là quy định về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất ở gắn với nhà ở, vì vậy việc trình Quốc hội sửa đổi cả Điều 121 Luật đất đai hiện hành là cần thiết.
Có ý kiến đề nghị Dự thảo Luật cần quy định điều kiện để được sở hữu nhà ở là phải đủ 18 tuổi trở lên, đồng thời phải chứng minh nguồn tiền mua nhà ở để phòng tránh rửa tiền.
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin giải trình như sau: Theo quy định của Bộ luật dân sự thì quyền sở hữu tài sản của cá nhân thuộc về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân nên không bị hạn chế vào độ tuổi, dân tộc, giới tính… (các điều 14, 15, 16 của Bộ luật dân sự). Do đó, để phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành đề nghị không quy định cụ thể độ tuổi có quyền sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Riêng việc chứng minh nguồn tiền và phòng, chống rửa tiền đã được pháp luật có liên quan điều chỉnh như: Bộ Luật hình sự, Luật các tổ chức tín dụng, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính[4], pháp luật về phòng, chống rửa tiền[5]…
Có ý kiến đề nghị cần chú ý việc kiểm tra, giám sát để bảo đảm đúng đối tượng, đặc biệt là xem xét về vấn đề an ninh, quốc phòng.
Về vấn đề này Uỷ ban thường vụ Quốc hội thấy rằng: Vấn đề bảo đảm an ninh, quốc phòng cũng đã được đặt ra trong quá trình xây dựng Dự án Luật, trong đó quy định cụ thể về điều kiện người được sở hữu nhà ở, đó là phải có Giấy miễn thị thực, phải được phép cư trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về cư trú từ 3 tháng trở lên, những đối tượng phản động, chống phá đất nước sẽ không được cấp Giấy miễn thị thực và không được phép về cư trú tại Việt Nam. Ngoài ra, đối với đối tượng là “người gốc Việt Nam”, việc cư trú của đối tượng này được điều chỉnh theo pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú.
Có ý kiến đề nghị quy định ngày có hiệu lực thi hành của Luật phải sau 6 tháng kể từ ngày được Quốc hội thông qua để Chính phủ có thời gian chuẩn bị văn bản hướng dẫn.
Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin giải trình như sau: Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành đã được Chính phủ chuẩn bị cùng với Dự án Luật và hiện nay, Chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện theo ý kiến góp ý của các vị đại biểu Quốc hội. Theo Dự án Luật thì Chính phủ sẽ có thời gian 3 tháng tiếp theo để hoàn thiện và ban hành Nghị định này. Vì vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin Quốc hội cho phép giữ nguyên như Dự thảo.
Ngoài các vấn đề trên đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan rà soát, chỉnh lý về mặt kỹ thuật văn bản và được thể hiện trong Dự thảo Luật trình Quốc hội.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Trên đây là báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai, kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Đức Kiên

[1] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, Điều 58 quy định:
“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.”
[2] Bộ Luật dân sự, Điều 212 Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân, quy định: 
“1. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư  nhân.
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
2. Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức sở hữu sở hữu tư nhân”.
[3] Luật nhà ở, Điều 4. Quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở, quy đinh:
“Công dân có quyền có chỗ ở thông qua việc tạo lập nhà ở hợp pháp hoặc thông qua việc thuê, mượn, ở nhờ nhà ở theo quy định của pháp luật. Người tạo lập nhà ở hợp pháp có quyền sở hữu đối với nhà ở đó”.
[4] Bộ Luật hình sự, Điều 251 Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, khoản 1 quy định: “Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.
Luật các tổ chức tín dung, Điều 19 Trách nhiệm đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp, quy đinh:
“ 1. Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp.
2. Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, Điều 17 Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, khoản 1 quy định: “Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là việc sung vào quỹ nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính”.
[5] Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2005 Về phòng, chóng rửa tiền của Chính phủ, Điều 9. Mức giá trị giao dịch phải báo cáo, khoản 1 quy định:
“ 1. Một hoặc nhiều giao dịch trong một ngày do cá nhân hay tổ chức thực hiện bằng tiền mặt có tổng giá trị từ 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) trở lên hoặc bằng ngoại tệ, bằng vàng có giá trị tương đương, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ”.

Saturday, October 26, 2013

DỰ THẢO TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ những nội dung chính liên quan đến Dự thảo Luật như sau:
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN
Ở nước ta, quyền được thông tin đã được xác định trong Hiến pháp năm 1992. Cụ thể, Điều 69 của Hiến pháp quy định công dân có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Về phương diện quốc tế, quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự – chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948[1], trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quyền này tiếp tục được khẳng định trong Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường. Một loạt các quốc gia trên thế giới cũng đã ban hành các luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công chúng.[2]
Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời nội luật hoá một số quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản quy định về quyền được tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (các thông tin về môi trường, thông tin về quy hoạch, về xây dựng, về đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, về chi tiêu ngân sách…) đã được ban hành. Đó là Luật phòng, chống tham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn… và các văn bản quy định chi tiết thi hành các luật trên. Việc quy định trách nhiệm công khai, minh bạch và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước trong các văn bản pháp luật được ban hành sau ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn so với các văn bản được ban hành trước.
Như vậy, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền được tiếp cận thông tin của người dân, đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải công khai thông tin do mình nắm giữ. Thông qua các quy định pháp luật, chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã từng bước đi vào cuộc sống.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cho thấy việc thể chế và chi tiết hoá quyền được thông tin được ghi nhận trong văn kiện của Đảng, trong Hiến pháp thành các quy định của luật và các văn bản pháp quy còn chậm và chưa hệ thống; chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể, đơn giản để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệu quả, nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế. Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc, tính khái quát hơn là tính thực tiễn. Các quy định về tiếp cận thông tin chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách và kết quả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin. Do thiếu một số quy định chung về các loại thông tin phải công bố công khai rộng rãi; các loại thông tin phải đăng trên trang thông tin điện tử; các loại thông tin cung cấp theo yêu cầu; quy trình yêu cầu cung cấp thông tin; lý do từ chối cung cấp thông tin; kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định về tiếp cận thông tin… nên quy trình cung cấp thông tin trong các văn bản chuyên ngành hoặc chưa được quy định; hoặc được quy định còn phức tạp, thiếu rõ ràng, mâu thuẫn, chồng chéo và không thuận tiện cho việc tiếp cận thông tin của người dân. Trách nhiệm cung cấp thông tin cũng chưa được quy định một cách cụ thể, ví dụ như loại thông tin nào bắt buộc phải công bố công khai rộng rãi, thông tin nào được cung cấp khi có yêu cầu, thông tin nào không có trách nhiệm cung cấp, dẫn đến tình trạng một số cán bộ, công chức còn có thói quen giữ bí mật thông tin do mình nắm giữ để hoặc là đảm bảo “an toàn” cho chính bản thân hoặc dùng thông tin để trục lợi hoặc rơi vào tình trạng không biết mình có trách nhiệm cung cấp thông tin hay không.
Ngoài ra, việc liệt kê các thông tin mà các cơ quan, tổ chức phải công khai trong các luật chuyên ngành là cần thiết, nhưng các quy định này chưa điều chỉnh được một cách vĩ mô và không thể bao quát hết các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng đã có quy định về chức danh người phát ngôn của các cơ quan nhà nước (theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ), song nhiệm vụ của người phát ngôn chỉ mới là cung cấp thông tin cho báo chí chứ không bao gồm việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng. Thêm vào đó, về cơ bản, hoạt động của người phát ngôn là không thường xuyên, chỉ mang tính định kỳ và theo một số vụ việc. Chính vì thế, cơ chế người phát ngôn chưa thực sự là một giải pháp hữu hiệu để tăng cường, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân.
Do các quy định pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập như đã nêu, nên trên thực tế, việc tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn khó khăn, dẫn tới việc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước chưa được thực hiện một cách triệt để, biểu hiện rõ nhất là trong lĩnh vực đất đai, đền bù giải toả, dự án ưu đãi, các khoản tín dụng, cứu trợ thiên tai…Việc thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin là nguy cơ phát sinh tình trạng lợi dụng đặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác dễ dàng tiếp cận thông tin để trục lợi, gây nên sự bất bình đẳng, thiếu công bằng trong xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh, đầu tư. Việc thiếu minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý nhà nước và thiếu cơ chế tiếp cận thông tin chưa tạo cơ chế hữu hiệu để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; đã phần nào làm hạn chế sự tham gia của tổ chức, công dân vào hoạt động quản lý nhà nước với tính chất là người giám sát, phản biện. Trong việc thi hành pháp luật, do thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý đã làm hạn chế về mặt nhận thức, tư duy của những người thi hành pháp luật, bao gồm cả các công chức thực thi pháp luật, dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất; còn thiếu bình đẳng trong việc áp dụng pháp luật. Việc thiếu công khai, minh bạch cũng là nguy cơ dẫn đến tình trạng tham nhũng, tuỳ tiện của cán bộ, công chức.
Khắc phục tình trạng nêu trên, Luật tiếp cận thông tin cần xác lập cơ chế pháp lý hữu hiệu, đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm người dân thực hiện quyền hiến định. Theo đó, nội dung Luật tập trung để giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xây dựng một luật khung về quyền tiếp cận thông tin trên cơ sở pháp điển hoá một cách chung nhất các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, các loại thông tin phải công khai rộng rãi, các thông tin phải được đang tải trên trang thông tin điện tử, các thông tin được tiếp cận khi có yêu cầu.
Thứ hai, quy định trình tự, thủ tục chung về tiếp cận thông tin, cơ sở từ chối cung cấp thông tin để tạo cơ sở pháp lý cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của mình.
Thứ ba, quy định trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin còn là thông điệp gửi đến bạn bè quốc tế với thiện ý của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế; Việt Nam đã và đang nỗ lực đẩy mạnh cải cách pháp luật, cải cách hoạt động của bộ máy nhà nước, mở rộng dân chủ, công khai hoá mọi hoạt động của nhà nước, đồng thời bảo đảm một trong những quyền cơ bản của con người là quyền tiếp cận thông tin.
Vì những lý do nêu trên, cần thiết phải sớm ban hành Luật tiếp cận thông tin. Đó cũng là lý do Chính phủ đã đề xuất Quốc hội chính thức đưa Dự án Luật vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 thay vì chương trình dự bị và ban hành trong năm 2011 như dự kiến ban đầu.
II. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG DỰ THẢO LUẬT
Việc xây dựng Dự thảo Luật được tiến hành dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:
1. Tiếp tục thể chế hoá các quan điểm, chủ trương trong các nghị quyết của Đảng về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong việc tiếp cận thông tin;
2. Bảo đảm sự phù hợp của Dự thảo Luật với Hiến pháp và tính thống nhất của Dự thảo Luật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật;
3. Bảo đảm tính kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến minh bạch, công khai thông tin trong các lĩnh vực;
4. Tăng cường tính minh bạch trong hoạt động và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước;
5. Bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam; phù hợp với điều kiện về cơ sở hạ tầng của Việt Nam, nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy và các nguồn lực khác; bảo đảm tính khả thi của Luật.
6. Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, bảo đảm tính tương thích và phù hợp với thông lệ, pháp luật quốc tế; phù hợp với các nguyên tắc về quyền tự do thông tin của Liên Hiệp Quốc;
III. QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO VĂN BẢN
Xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của Dự thảo Luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan ở trung ương, địa phương tiến hành khảo sát tình hình tiếp cận thông tin tại một số cơ quan trung ương, địa phương (bao gồm cả cấp tỉnh, huyện, xã); rà soát các quy định của luật, pháp lệnh và văn bản dưới luật có liên quan đến tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực khác nhau; khảo sát tình hình thực hiện các văn bản pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin.
Ngày 22 tháng 12 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã thành lập Ban soạn thảo với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin – Truyền thông, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số chuyên gia, nhà khoa học.
Trong quá trình soạn thảo, Bộ Tư pháp đã tổ chức nghiên cứu pháp luật trong nước, nghiên cứu thực tiễn và pháp luật nước ngoài về tiếp cận thông tin; tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo với các chuyên gia trong nước và nước ngoài, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức với nhiều quy mô, hình thức ở các giai đoạn soạn thảo khác nhau về những nội dung liên quan đến Dự thảo Luật.
Ban soạn thảo đã nghiêm túc nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và áp dụng pháp luật của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Ấn độ, Hàn Quốc, Nhật Bản… (Báo cáo Tự do thông tin thế giới năm 2006, Báo cáo nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của các nước Bắc Âu năm 2009 của Hội Luật gia Việt Nam, Sách "Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin"- Nhà Xuất bản công an nhân dân năm 2007).
IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
Dự thảo Luật gồm 5 chương 41 điều. Sau đây, Bộ Tư pháp xin báo cáo những nội dung cơ bản của Dự thảo Luật:
1. Chương I – Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 12)
Chương này quy định về mục đích ban hành Luật (Điều 1), phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 2), giải thích từ ngữ (Điều 3), cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 4), thông tin được tiếp cận (Điều 5), thông tin không được tiếp cận và chưa được tiếp cận (Điều 6); xác định nội hàm quyền tiếp cận thông tin (Điều 7), quy định các nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 8), phương thức tiếp cận thông tin (Điều 9), quy định nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp cận thông tin (Điều 10), quy định các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 11), xác định mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các luật khác có liên quan (Điều 12).
Về quyền tiếp cận thông tin, Điều 7 Dự thảo Luật khẳng định mọi công dân, tổ chức được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam đều có quyền tiếp cận thông tin. Đối với người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam, các tổ chức nước ngoài được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cũng có quyền được tiếp cận đối với các thông tin liên quan đến họ hoặc lĩnh vực hoạt động của họ.
Dự thảo Luật cũng xác định nội hàm của tiếp cận thông tin là xem, nghe, đọc, ghi chép, trích dẫn, sao chép, chụp hồ sơ, tài liệu; được trả lời trực tiếp, được nhận bản sao chép, bản chụp hồ sơ, tài liệu, trừ hồ sơ, tài liệu có chứa thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh (khoản 3 Điều 3). Để thực hiện quyền này, Điều 9 Dự thảo Luật quy định hai phương thức tiếp cận thông tin, đó là: tiếp cận thông tin được công bố công khai rộng rãi và tiếp cận thông tin theo yêu cầu.
Với mục đích bảo đảm hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân cũng như bảo đảm tính công khai, minh bạch của các cơ quan nhà nước, Điều 8 Dự thảo Luật quy định các nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, gồm: – bảo đảm công khai, minh bạch và kịp thời trong việc cung cấp thông tin; – bảo dảm quyền tiếp cận thông tin chính đáng của cá nhân, tổ chức; – bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của thông tin; – bảo đảm sự bình đẳng; – bảo đảm lợi ích cộng đồng; – bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh. Các nguyên tắc này được quán triệt và thể hiện xuyên suốt toàn bộ các quy định của Dự thảo Luật.
Nhằm khắc phục tình trạng hiện nay, mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật có quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin nhưng lại chưa có quy định, chưa quy định rõ hoặc quy định chưa phù hợp về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin, dẫn đến thực tế thông tin được công khai nhưng người dân vẫn khó tiếp cận, Dự thảo Luật xác định rõ mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các luật khác có liên quan, theo đó Luật này áp dụng chung cho việc tiếp cận thông tin; trong trường hợp luật khác có quy định khác rộng hơn về phạm vi thông tin được tiếp cận, thuận lợi hơn về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin thì áp dụng quy định của luật đó (Điều 12).
Dự thảo Luật cũng xác định rõ các thông tin được tiếp cận và thông tin không được tiếp cận hoặc chưa được tiếp cận. Theo đó, thông tin được tiếp cận là thông tin được công bố công khai rộng rãi và thông tin tiếp cận theo yêu cầu (Điều 5). Thông tin không được tiếp cận gồm các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh; thông tin chưa được tiếp cận gồm thông tin trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; thông tin đang trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát; thông tin có trong hồ sơ, tài liệu đang trong quá trình soạn thảo (Điều 6).
2. Chương II – Thông tin được công bố công khai rộng rãi (từ Điều 13 đến Điều 16)
Chương này quy định về các thông tin phải được công bố công khai rộng rãi (Điều 13), hình thức công bố công khai rộng rãi thông tin (Điều 14), quy định những thông tin phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử (Điều 15), quy định việc công bố công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng (Điều 16).
Một trong những điểm nổi bật của Dự thảo Luật so với các quy định hiện hành về công bố công khai thông tin là đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chủ động công bố công khai các thông tin do mình nắm giữ. Theo đó, Dự thảo Luật khuyến khích các cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin công bố công khai các thông tin do mình nắm giữ, trừ các thông tin không được tiếp cận và chưa được tiếp cận quy định tại Điều 6 của Dự thảo Luật. Dự thảo Luật còn quy định rõ các loại thông tin phải được công bố công khai (khoản 2 Điều 13) và các loại thông tin phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin (khoản 1 Điều 15) và ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập, cập nhật và công bố công khai danh mục thông tin do mình nắm giữ (khoản 3 Điều 13). Về cơ bản, các thông tin phải được công bố công khai được xây dựng trên cơ sở rà soát, tập hợp các quy định pháp luật hiện hành về công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước như Luật ngân sách nhà nước, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đặc biệt là Luật phòng, chống tham nhũng và các luật khác.
Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm lợi ích cộng đồng thông qua việc tạo điều kiện cho mọi người đều được tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật quy định việc công bố công khai rộng rãi thông tin vì lợi ích cộng đồng (Điều 16). Theo đó, đối với các thông tin không thuộc trường hợp phải công bố công khai rộng rãi theo quy định tại Dự thảo Luật, trong trường hợp việc công bố công khai rộng rãi thông tin là cần thiết nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin có trách nhiệm công bố công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức hoặc thông qua các hình thức khác quy định tại khoản 1 Điều 14 của Dự thảo Luật (đăng tải trên ấn phẩm chính thức của cơ quan, tổ chức; niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng…); kịp thời cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình để công bố công khai rộng rãi thông tin.
3. Chương III – Thông tin tiếp cận theo yêu cầu (từ Điều 17 đến Điều 31)
Như đã nêu ở trên, mặc dù đã có một số văn bản quy định về công bố thông tin trong một số lĩnh vực nhưng một trong những khiếm khuyết đáng kể của hệ thống pháp luật hiện nay là thiếu quy định cụ thể về quy trình tiếp cận thông tin cũng như các hình thức cung cấp thông tin khi mỗi cá nhân có nhu cầu tiếp cận, tìm hiểu thông tin, dẫn đến sự e ngại của người dân khi muốn tiếp cận thông tin và sự lúng túng của cán bộ, công chức về cách thức giải quyết công việc. Do vậy, Dự thảo Luật tập trung vào quy định rõ thông tin được tiếp cận theo yêu cầu (Điều 17), các hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu (Điều 18). Tương ứng với các hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu, Dự thảo Luật quy định cụ thể yêu cầu tiếp cận thông tin có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản (Điều 19). Dự thảo Luật còn quy định rõ trình tự giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin (Điều 21), quy định về quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu cung cấp thông tin, theo đó khi nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu về quyết định chấp nhận, quyết định từ chối yêu cầu cung cấp thông tin hoặc cần gia hạn thời gian để xem xét việc giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, trong trường hợp từ chối yêu cầu cung cấp thông tin phải ra quyết định bằng văn bản và nêu rõ lý do của việc từ chối (Điều 22); quy định cụ thể về thực hiện việc tiếp cận thông tin (Điều 23).
Bên cạnh đó, Dự thảo Luật quy định cụ thể về việc cung cấp thông tin trực tiếp bằng lời nói (Điều 24), về cho phép người yêu cầu đọc, xem, nghe, ghi chép, trích dẫn nội dung tài liệu, hồ sơ (Điều 25), về cung cấp thông tin qua mạng điện tử (Điều 26), cung cấp bản sao, bản chụp tài liệu, hồ sơ (Điều 27), về gia hạn việc giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin (Điều 30) và chi phí cung cấp thông tin (Điều 31).
Dự thảo Luật cũng quy định rõ cơ sở pháp lý để cơ quan từ chối cung cấp thông tin (Điều 28), đặt ra nguyên tắc cơ quan được yêu cầu chỉ từ chối cung cấp thông tin trong các trường hợp nêu trên nếu việc phân tích, đánh giá cho thấy việc từ chối là cần thiết nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng và việc cung cấp thông tin sẽ phương hại đến lợi ích công (khoản 2 Điều 28) và giao trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan hoặc người được người uỷ quyền quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định từ chối.
Về nguyên tắc, Nhà nước bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, nhưng quyền này cũng là một quyền có giới hạn. Trong hầu hết các luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đều có những quy định về hạn chế tiếp cận các thông tin, tài liệu mật liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, thông tin cá nhân… và coi những thông tin này thuộc trường hợp ngoại lệ – không thuộc diện thông tin phải công bố, phải cung cấp theo yêu cầu trừ những trường hợp cụ thể muốn tiếp cận phải có những điều kiện nhất định và điều kiện đó cũng phải được pháp luật quy định cụ thể. Ví dụ: về nguyên tắc, cơ quan công quyền không cung cấp thông tin cá nhân của một người, nhưng nếu người đó đồng ý cho cung cấp thì có thể cung cấp mà không vi phạm. Hoặc, đối với thông tin mà việc công khai có thể gây tổn hại cho việc điều hành nền kinh tế, chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước; tổn hại đến lợi ích thương mại hoặc tài chính hợp pháp của cơ quan nhà nước nhưng nếu việc công khai thông tin đó là cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng hoặc việc công khai thông tin sẽ có lợi cho cộng đồng hơn so với việc không công khai thông tin thì cơ quan nắm giữ thông tin có trách nhiệm phải cân bằng lợi ích, cân nhắc các tổn hại có thể gây ra nếu không cung cấp thông tin, ưu tiên bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng.
Ngoài ra, Dự thảo Luật dành một điều quy định về việc cung cấp thông tin trong trường hợp đặc biệt (Điều 29).
4. Chương IV – Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (từ Điều 32 đến Điều 38)
Dự thảo Luật quy định về trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin (Điều 32) trong việc chỉ định, bố trí bộ phận cán bộ, công chức làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu và cung cấp thông tin; bố trí hợp lý cán bộ, công chức bảo đảm việc tiếp cận thông tin; thiết lập và vận hành trang thông tin điện tử; sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng của cơ quan, tổ chức; tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan; củng cố và tăng cường vai trò của bộ phận tiếp dân của cơ quan, bảo đảm trụ sở tiếp công dân đủ điều kiện để cá nhân, tổ chức thực hiện tốt nhất quyền tiếp cận thông tin; lập, cập nhật và công khai rộng rãi danh mục thông tin do mình nắm giữ sao cho việc tìm kiếm thông tin dễ dàng; bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất khác nhằm mục đích tạo thuận lợi cao nhất cho việc tiếp cận thông tin.
Trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, việc bố trí đầu mối tiếp nhận yêu cầu, cung cấp và ra quyết định cung cấp thông tin có ý nghĩa quan trọng. Thông lệ các nước đều có cán bộ, công chức phụ trách riêng về tiếp cận thông tin; mỗi cơ quan có thể có một số cán bộ hoặc tối thiểu phải bố trí một cán bộ. Dự thảo Luật không quy định cụ thể về cán bộ phụ trách về tiếp cận thông tin mà chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin phải bố trí cán bộ đảm bảo việc tiếp cận thông tin (khoản 1 Điều 32). Quy định này nhằm bảo đảm sự linh hoạt cho các cơ quan, đồng thời nhằm tận dụng nguồn nhân lực từ các Trung tâm Thông tin, Trung tâm Tin học tại các Bộ, ngành, từ các phòng thông tin, bộ phận văn phòng và phòng tiếp dân của các cơ quan, tổ chức để không tăng thêm biên chế. Trong điều kiện thực hiện chính sách tinh giản biên chế còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cần tận dụng nguồn lực sẵn có, đối với việc thực thi Luật, không nhất thiết cơ quan chỉ bố trí 1 cán bộ mà có thể nhiều hơn mà không phải tăng biên chế cũng như tăng chi phí, ngân sách cho Nhà nước.
Dự thảo Luật cũng quy định trách nhiệm thiết lập và vận hành trang thông tin điện tử (Điều 33); bảo đảm nguồn lực thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 34); cơ chế khiếu nại, khiếu kiện (Điều 35); xử lý vi phạm (Điều 36); giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 37); trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 38).
5. Chương V – Điều khoản thi hành (từ Điều 39 đến Điều 41)
Điều 39 quy định trách nhiệm của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật và các biện pháp thi hành Luật, trách nhiệm của các cơ quan nắm giữ thông tin quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin do mình nắm giữ; Điều 40 quy định về điều khoản chuyển tiếp; Điều 41 xác định thời điểm có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2012.
Dự kiến Luật tiếp cận thông tin sẽ có hiệu lực sau 2 năm được thông qua để bảo đảm tính khả thi của Luật, bảo đảm thời gian cho việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn, sửa đổi các văn bản pháp luật trái với tinh thần và quy định của Luật, bảo đảm thời gian cho các cơ quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thi hành Luật, nhất là xây dựng các cơ sở vật chất, thiết lập các trang thông tin điện tử và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thực thi tốt các quy định của Luật. Đây cũng là kinh nghiệm của một số nước đều dành một thời gian tương đối dài như Anh là 5 năm, Slovenia là 3 năm… để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thực thi luật có hiệu quả.
V. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN
1. Về chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 4 Dự thảo Luật)
Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật, còn có các ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin.
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước – cơ quan công quyền (bao gồm cả cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp) và các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước (bao gồm các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước, quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật), trừ tổ chức chính trị, bởi các lý do như: tất cả các cơ quan, tổ chức này đều sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước, ít hay nhiều đều nắm giữ một số thông tin công, đều thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức, người lao động… và việc công khai những thông tin liên quan đến các hoạt động này là cần thiết.
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ nên giới hạn trong phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước. Cơ sở cho sự lựa chọn loại ý kiến này xuất phát từ vị trí, chức năng, tính chất của các cơ quan nói trên. Theo đó, để thực hiện chức năng quản lý, điều hành, các cơ quan hành chính nhà nước đương nhiên là chủ thể nắm giữ nhiều thông tin nhất và các thông tin do cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ trực tiếp liên quan đến người dân nhất. Thêm vào đó, trong thời gian vừa qua đây cũng là khu vực mà tình hình công khai thông tin còn nhiều tồn tại, bức xúc.
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng, chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước (bao gồm cả cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp).
Sau khi nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước và căn cứ vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam, Bộ Tư pháp thấy rằng:
Trách nhiệm cung cấp thông tin và quyền tiếp cận thông tin phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước và nhân dân. Vì vậy, tất cả các cơ quan nhà nước từ Quốc hội đến Chính phủ, chính quyền địa phương, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân… với tư cách là những cơ quan thực hiện quyền lực công đều nắm giữ những thông tin mà nhân dân cần được biết để một mặt tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan này. Hơn nữa, thông qua việc tiếp cận thông tin, người dân có cơ hội tham gia hiệu quả hơn vào hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Trong số các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin, có thể thấy chủ thể liên quan nhất là các cơ quan hành chính nhà nước. Các văn kiện của Đảng cũng như các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trong thời gian qua luôn nhấn mạnh đến trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc công bố công khai, cung cấp một số thông tin do mình nắm giữ. Các chủ thể khác như Quốc hội, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cũng là những chủ thể nắm giữ các thông tin mà người dân quan tâm. Cụ thể là các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều được đăng tải công khai, kịp thời qua các phương tiện thông tin đại chúng để người dân tham gia đóng góp ý kiến; những vấn đề quan trọng của đất nước được thảo luận công khai; các phiên chất vấn tại Quốc hội được truyền hình trực tiếp. Bên cạnh đó, thông qua các buổi tiếp xúc cử tri, các hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tất cả những vấn đề mà cử tri quan tâm được đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp thông báo, trao đổi với cử tri.
Đối với Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, chủ trương từng bước công khai các bản án, phán quyết của toà án đã xây dựng nền tảng cho việc công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Bên cạnh đó, các chương trình hoạt động, kế hoạch xét xử của tòa án; các thông tin liên quan đến thi tuyển, bổ nhiệm nhân sự, cách thức chi tiêu tài chính của hệ thống Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cũng cần được công khai rộng rãi.
Việc công khai thông tin của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như Luật ngân sách nhà nước, Luật cán bộ, công chức, Luật quản lý và sử dụng tài sản công…, do vậy việc tiếp cận thông tin của các tổ chức này đã được đảm bảo ở mức độ nhất định. Ngoài ra, hoạt động của các tổ chức này còn được quy định bởi các điều lệ của từng tổ chức.
Để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức, Dự thảo Luật xây dựng theo hướng trên cơ sở các nguyên tắc quy định trong Luật, Chính phủ quy định cụ thể về việc tiếp cận thông tin do các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước nắm giữ.
Từ những lý do trên, Bộ Tư pháp đã lựa chọn loại ý kiến thứ ba và quy định những chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin tại Điều 4 của Dự thảo Luật.
2. Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức phải thiết lập, vận hành trang thông tin điện tử (Điều 33 Dự thảo Luật)
Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin, đa số các ý kiến đều nhất trí việc thiết lập trang thông tin điện tử, vì cho rằng đây là phương tiện công khai thông tin một cách kịp thời và ít tốn kém nhất. Tuy nhiên, các ý kiến còn khác nhau về việc có nhất thiết phải quy định trách nhiệm của tất cả các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin phải thiết lập trang thông tin điện tử hay không.
Một số ý kiến cho rằng cần thiết phải quy định trách nhiệm bắt buộc đối với tất cả các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong việc thiết lập trang thông tin điện tử riêng để đăng tải các thông tin cần thiết, quan trọng và phổ biến. Có như vậy mới tạo điều kiện để người dân được chủ động trong việc tiếp cận thông tin, dễ dàng tiếp cận với thông tin mà không phải mất nhiều thời gian, công sức cho việc tìm kiếm hay phải yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp. Việc thiết lập trang thông tin điện tử và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức phải đăng tải các thông tin cần thiết trên trang thông tin điện tử cũng sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức trong việc cập nhật, đăng tải thông tin, mà không phải tốn thời gian cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Các ý kiến khác lại cho rằng không cần thiết phải quy định trách nhiệm bắt buộc đối với tất cả các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp thông tin phải thiết lập trang thông tin điện tử riêng. Bởi lẽ, hiện nay, do yêu cầu của quá trình cải cách hành chính và chiến lược xây dựng Chính phủ điện tử, về cơ bản, Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, đã thiết lập trang thông tin điện tử của mình để đăng tải các thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý, điều hành của mình. Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã có trang thông tin điện tử, thậm chí, một số Uỷ ban nhân dân phường ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập trang thông tin điện tử riêng. Tuy nhiên, xét về tổng thể thì hiện nay ở cấp huyện mới chỉ có rất ít nơi thiết lập trang thông tin điện tử. Riêng đối với cấp xã, thì ngoài một số phường, xã ở một vài thành phố lớn có trang thông tin điện tử, số còn lại chưa thiết lập trang thông tin điện tử vì nhiều lý do. Nếu quy định ngay trách nhiệm phải thiết lập trang thông tin điện tử ở tất cả cấp xã thì trước mắt Nhà nước phải đầu tư một khoản kinh phí rất lớn cho việc thiết lập, vận hành, duy trì trang thông tin điện tử. Bên cạnh đó, năng lực vận hành, duy trì trang thông tin điện tử ở cấp xã cũng còn rất hạn chế.
Bộ Tư pháp thấy rằng, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin không chỉ dừng ở việc các cơ quan cung cấp thông tin mà còn đặt ra yêu cầu phải đăng tải và phổ biến rộng rãi những tài liệu bắt buộc phải công bố và có thể được công bố mà các cơ quan này đang nắm giữ. Việc tiếp cận thông tin của người dân có hiệu quả hay không tuỳ thuộc vào việc các cơ quan nắm giữ thông tin có chủ động và tích cực đăng tải để công bố công khai rộng rãi các loại thông tin do mình nắm giữ. Trang thông tin điện tử là một phương tiện quan trọng để đăng tải thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan. Tuy nhiên, việc thiết lập và duy trì trang thông tin điện tử ở Việt Nam hiện nay phải có lộ trình nhất định. Do vậy, Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng: các cơ quan quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Dự thảo Luật, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thiết lập và vận hành trang thông tin điện tử.
Trang thông tin được thiết lập chung cho Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Trường hợp chưa có trang thông tin điện tử, các cơ quan quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Dự thảo Luật, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường phải thiết lập và đưa vào vận hành trước khi Luật này có hiệu lực.
Chậm nhất là trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, trang thông tin điện tử của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn phải được thiết lập và đưa vào vận hành.
3. Về cơ chế giám sát, theo dõi, đánh giá việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 37, Điều 38 Dự thảo Luật)
Để quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, đồng thời hạn chế việc các cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin lạm dụng quyền hạn của mình từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không kịp thời cho người dân thì cần thiết phải có cơ chế theo dõi, đánh giá và giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Thực tiễn thi hành Luật tiếp cận thông tin tại nhiều quốc gia cho thấy, các cơ quan quản lý thông tin – đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước, nơi nắm giữ phần lớn các thông tin mà người dân muốn được tiếp cận – thường có xu hướng không muốn cung cấp thông tin hoặc trì hoãn việc cung cấp thông tin. Thực tế này dẫn đến tình trạng những quy định của luật dễ trở thành những tuyên bố mang tính hình thức, không có giá trị thực thi, từ đó làm giảm sút lòng tin của người dân đối với chính sách của Nhà nước. Vì vậy, để tránh tình trạng này, hầu hết các quốc gia đã ban hành Luật tiếp cận thông tin đều quy định cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đạo luật này.
Một trong những cơ chế giám sát có tính chất truyền thống mà hầu hết các quốc gia đều thực hiện, đó là cơ chế giám sát trong nội bộ hệ thống hành chính thông qua việc giải quyết khiếu nại hành chính. Công dân có quyền khiếu nại đối với một quyết định từ chối cung cấp thông tin lên cơ quan cấp trên của cơ quan từ chối cung cấp thông tin. Quy trình này được cho là ít tốn kém và nhanh chóng, nhưng thực tiễn ở phần lớn các quốc gia cho thấy, đây là một quy trình kém hiệu quả, vì các cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính thường có xu hướng ủng hộ các quyết định từ chối cung cấp thông tin của cơ quan cấp dưới.[3]
Sau khi quy trình giải quyết khiếu nại hành chính kết thúc, pháp luật các nước đều quy định công dân có thể tiếp tục khiếu nại đến một cơ quan khác không nằm trong hệ thống cơ quan hành chính. Khoảng trên 20 quốc gia cho phép công dân khiếu nại đến một cơ quan giám sát do Quốc hội thành lập (gọi là Ombudsman). Cơ quan này có thẩm quyền xem xét lại các quyết định do cơ quan hành chính đã ban hành bao gồm cả quyết định từ chối cung cấp thông tin và quyết định giải quyết khiếu nại trước đó. Cơ quan Ombudsman của Quốc hội không có quyền ban hành các quyết định mang tính cưỡng chế, nhưng ở hầu hết các quốc gia, những khuyến nghị của cơ quan này có tầm ảnh hưởng lớn và thường được các cơ quan hành chính tuân thủ. Ở một số quốc gia, cơ quan Ombudsman có quyền lực rất lớn, có thể thực hiện các hoạt động điều tra khi xem xét các vụ khiếu nại.
Tuy nhiên, xu hướng chung của các quốc gia thời gian gần đây là thành lập một Uỷ ban thông tin độc lập để chuyên trách thực hiện chức năng giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Uỷ ban này có thể là một cơ quan trực thuộc Quốc hội hoặc trực thuộc Văn phòng Thủ tướng, thậm chí có thể là một thiết chế độc lập hoàn toàn. Ở một số quốc gia như Slovenia, Serbia, Ireland và Vương quốc Anh, Uỷ ban thông tin được coi như một cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng, quyết định của Uỷ ban này có tính chất cưỡng chế và các cơ quan hành chính phải tuân theo.
Bộ Tư pháp thấy rằng, trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay, phương án thành lập một cơ quan hoàn toàn độc lập chuyên trách giám sát việc thực thi Luật Tiếp cận thông tin như Ủy ban thông tin của các nước nói trên là chưa khả thi.
Tuy nhiên, nếu không có uỷ ban độc lập thì vẫn phải có một cơ quan của Quốc hội đảm nhận chức năng giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Cơ quan này có thể là một trong số các Uỷ ban của Quốc hội hiện nay hoặc nâng cấp Ban Dân nguyện của Quốc hội lên thành một Ủy ban của Quốc hội và giao cho cơ quan này chức năng giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin. Trong điều kiện hiện nay, phương án thứ hai là tương đối khả thi vì từ một vài năm nay, việc nâng cấp Ban Dân nguyện lên thành một Ủy ban của Quốc hội đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo. Trong Báo cáo năm 2008 của Đảng đoàn Quốc hội trước Bộ Chính trị về tình hình giám sát Luật Khiếu nại, tố cáo và giám sát về tình hình thực hiện vấn đề nhân quyền, Đảng đoàn Quốc hội cũng đã đưa ra kiến nghị về việc thành lập Ủy ban Dân nguyện.
Vì vậy, Dự thảo Luật tiếp cận thông tin quy định tại khoản 1 Điều 37: “Quốc hội giao cho một cơ quan của Quốc hội giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”.
Theo phương án này, thì Chính phủ phải có cơ chế theo dõi, đánh giá riêng để báo cáo chung trước Quốc hội và cần giao cho một cơ quan của Chính phủ đảm trách nhiệm vụ này. Các cơ quan của Chính phủ có thể được đưa vào danh sách cân nhắc lựa chọn là Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và Bộ Thông tin – Truyền thông. Mỗi cơ quan nêu trên đều có những lợi thế riêng trong việc thi hành Luật nhưng do hạn chế về thẩm quyền riêng, có chức năng riêng mà không có đầy đủ thẩm quyền so với một cơ quan độc lập như của một số nước. Thanh tra Chính phủ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại; Bộ Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, đánh giá chung về công tác thi hành pháp luật, chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật về bảo đảm quyền công dân; Bộ Nội vụ quản lý công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu và cán bộ, công chức, giúp Chính phủ theo dõi, thống nhất việc thực hiện chủ trương cải cách hành chính; Bộ Thông tin – Truyền thông phụ trách lĩnh vực báo chí, phát thanh và truyền hình, công nghệ thông tin, điện tử…
Sau khi cân nhắc, Bộ Tư pháp thấy rằng, việc giao cho bộ nào của Chính phủ giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin là vấn đề lớn, vì vậy, Bộ Tư pháp thiết kế ba phương án trong Dự thảo Luật để Chính phủ quyết định.
Trên đây là những nội dung chính liên quan đến Dự thảo Luật tiếp cận thông tin, Bộ Tư pháp trình Chính phủ xem xét, quyết định./.

Nơi nhận:
- Các thành viên Chính phủ;
- Văn phòng Chính phủ;
- Lưu: VT, Vụ PLHS-HC (3b).
BỘ TRƯỞNG
Hà Hùng Cường

[1] Khoản 2 Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ".
[2]Trên thế giới, tính đến năm 2009, đã có 86 nước ban hành Luật về quyền tiếp cận thông tin, nước đầu tiên ban hành Luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng có đạo luật riêng như Mỹ ban hành luật Tự do thông tin (năm 1966), Canada (1983), Hungary (1992), Anh (2000), Nam Phi (2000),… Ở châu Á, một số nước đã ban hành Luật này như Thái Lan (12-1997), Hàn Quốc (1-1998), Nhật Bản (4-2001), Ấn Độ (2005), Inđônêxia,… Một số quốc gia khác cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành các nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.
[3] Báo cáo tự do thông tin thế giới năm 2006 của Tổ chức Privacy International cho biết, tại Vương quốc Anh, 77% đơn khiếu nại theo trình tự khiếu nại nội bộ trong hệ thống hành chính bị từ chối trong năm 2005.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code