Showing posts with label Luật Cổ. Show all posts
Showing posts with label Luật Cổ. Show all posts

Monday, August 12, 2013

Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức).

Hay còn được gọi là Bộ Luật Hồng Đức hay Lê Triều Hình Luật.

Gồm các chương :

1-DANH LỆ.( 49 ĐIỀU ).
2-VỆ CẤM ( 47 ĐIỀU ).
3-VI CHẾ ( 144 ĐIỀU )
4-QUẬN CHÍNH ( 43 ĐIỀU).
5-HỘ HÔN ( 58 ĐIỀU ).
6-ĐIỀN SÀN ( 32 Đ ).
7-THÔNG GIAN ( 10 Đ).
8-ĐẠO TẶC ( 54 Đ ).
9-ĐẤU TỤNG ( 50 Đ)
10-TRÁ NGUỴ ( 38 Đ )
11-TẠP LUẬT (92 Đ )
12-BỘ VONG ( 13 Đ ).
13-ĐOÁN NGỤC ( 65 Đ )

Chia làm sáu quyển và 722 điều...


Câu hỏi này đã có nhiều bạn sinh viên hỏi tôi, đây là một câu hỏi hay, dưới đây là một vài gợi ý trả lời. Xin được chia sẻ cùng các bạn sinh viên:

Trong cuốn sách Law and Society in Seventeenth and Eighteenth Century của tác giả Insun Yu, xuất bản tại Seoul, Hàn Quốc, năm 1990 đã chỉ ra rằng: "Trong số 722 điều khoản của Bộ luật Hồng Đức, có 261 điều vay mượn hoàn toàn hoặc một phần từ Luật nhà Đường, 53 điều từ Luật nhà Minh và 1 điều từ luật khác. Còn lại 407 điều là có riêng trong Bộ luật nhà Lê." [tr.72]

Điểm tương đồng:
Có nhiều điểm tương đồng nhưng điểm tương đồng rõ nét nhất là BLHĐ và các Bộ luật Trung Quốc đều được xây dựng trên nền tảng Nho giáo, nên BLHĐ và Luật của Trung Hoa đều coi trọng chữ TRUNG và HIẾU. (Trong đạo Tam cương, ba mối quan hệ quan trọng thời bấy giờ đều có những chuẩn mực nhất định: Quân nhân - Thần trung; Phu từ - Tử hiếu; Phu nghĩa - Phụ kính)

Ví dụ 1: Đều nêu lên qui định thập ác trong đó có tới 5 tội (Mưu phản, mưu đại nghịch, mưu chống đối, đại bất kính, bất nghĩa) liên quan đến quan hệ vua - tôi, đến sự ổn định của triều đình.

Ví dụ 2: Chương Vệ cấm gồm 47 điều, trong đó có 17 điều vay mượn từ các đạo luật Trung Hoa, nhằm bảo vệ tính mạng, thân thể, uy tín và quyền sở hữu tài sản của nhà vua.

Ví dụ 3: Điều 2 có tội bất hiếu gồm tố cáo, rủa mắng ông bà cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui chơi ăn mặc như thường, có tang ông bà cha mẹ mà giấu kín...

Điểm khác biệt:
Điểm khác biệt tương đối nhiều, nhưng dưới đây là 5 điểm khác biệt cơ bản:
Thứ nhất, Bảo vệ chế độ sở hữu nhà nước, sở hữu công của làng xã, sở hữu tư nhân về ruộng đất:
Các vua đầu thời Lê đã ra lệnh tịch thu ruộng đất của quân Minh và bọn tay sai. Sau đó, dùng một phần đất để ban cấp cho quý tộc, quan lại làm lộc điền (phần nhỏ là cấp vĩnh viễn, dần trở thành ruộng tư; phần lớn chỉ cấp cho sử dụng, sau khi chết vài ba năm phải hoàn lại cho nhà nước) và một phần bổ sung vào ruộng đất công của làng để chia cho dân cày cấy theo chế độ quân điền. (Xem Điều 183, 346, 347, 350, 353, 355, 356...);

Thứ hai, Bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia:
Là một nước nhỏ, bên cạnh một đế chế hùng cường, QTHL đã đặt ra các Điều như Đ72, 73, 74, 75, 88...thể hiện sự trừng phạt thích đáng những người bán ruộng đất, binh khí, vật cấm cho nước ngoài; những kẻ giữ cửa quan không làm tròn phận sự; những sứ thần ra nước ngoài lấy của hối lộ mà tiết lộ công việc quốc gia...

Thứ ba, thể hiện chính sách trọng nông, sự quan tâm đến đời sống dân sinh, đến việc chăm sóc người già cô đơn, bệnh tật, rủi ro:
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn thư [tr.457] có chép Vua Lê Thánh Tông đã tuyên bố "Những người có trọng trách ở một phương phải biết thể hiện theo lòng nhân của triều đình, yêu thương dân chúng..., mọi việc lợi nên làm, mọi mối họa nên tránh". Tư tưởng ấy được thể hiện ở nhiều điều luật.

Điều 181: "Nếu việc sửa đê những sông lớn không đúng hạn, việc giữ đê không vững để xảy ra vỡ đê, lũ lụt làm mất hoa màu của dân thì quan lộ và quan giám phải xử biếm hay bãi chức";

Điều 284: "Các quan ty làm việc ở ngoài nếu không biết làm việc lợi, trừ việc hại để dân phải phiêu bạt đi nơi khác thì bị tội bãi chức hay tội đồ"

Điều 294: "Trong kinh thành hay phường, ngõ và làng xóm có kẻ đau ốm mà không ai nuôi nấng, nằm ở đường xá, cầu, điếm, chùa, quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên để săn sóc và cho họ cơm cháo thuốc men, cốt sao cứu cho họ sống, không được bỏ mặc cho họ rên rỉ khốn khổ. Nếu không may mà họ chết thì phải chôn cất, không để được phơi lộ thi hài; nếu trái lệnh thì quan xã phải chịu biếm chức hay bã
i chức".

Có nhiều qui định bênh vực những người nghèo khổ. Ví dụ: Phạt người quyền quí ức hiếp, nhũng nhiễu dân đinh (Điều 300, Điều 302); Bảo vệ người dân cô quả, tàn tật, trẻ mồ côi (Đ294, 295); Chống nạn nô tỳ hóa (Đ365, 291);
Chính sách trọng nông, an dân. VD: Trừng phạt phá hoại đê (Đ596); phá hoại cây cối, hoa mầu (Đ601); Tự tiện giết trâu ngựa (Đ580); Thả trâu phá hoại hoa màu (Đ.581)

Thứ tư, Bảo vệ quyền lợi người phụ nữ:
Người phụ nữ có quyền bỏ chồng, có quyền ngang với nam giới trong việc hưởng thừa kế, có quyền quản lý tài sản khi chồng mất, có quyền thừa kế ruộng đất hương hỏa. Đây là những đặc quyền của phụ nữ Việt Nam thời phong kiến, không tìm thấy trong pháp luật Trung Hoa.
Có hai trường hợp người vợ được quyền bỏ chồng:

Điều 308: "Người vợ có quyền trình với quan sở tại và được quan sở tại chứng thực để xin bỏ chồng, nếu chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại";

Điều 333: "Con rể nếu lấy chuyện phi lý mắc nhiếc bố mẹ vợ thì người vợ có quyền bỏ chồng"

Người phụ nữ được thừa kế đất hương hỏa:
Điều 388 và 391: "Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 ruộng đất làm ruộng hương hỏa, còn lại chia đều cho các con không phân biệt trai, gái. Trường hợp người giữ hương hỏa không có con trai thì con gái được giao ruộng hương hỏa để thờ cúng tổ tiên".

Thứ năm, bảo vệ phong tục tập quán, những di tích văn hóa:
Khi quân Minh sang xâm lược, chính sách của chúng là một chữ không để sót và đập nát các bia không trừ một cái nào. Sau khi giành độc lập nhà Lê đã rất chú trọng bảo vệ những di tích văn hóa, nơi thờ tự.Ví dụ: Điều 178, 432, 599, 600...).

Bộ Luật Hồng Đức ra đời cũng không phủ nhận hoặc thay thế hoàn toàn những phong tục, tập quán của các dân tộc. VD: Điều 40. Nhiều vấn đề, Bộ luật đã để cho tập quán điều chỉnh, ví dụ Bộ luật không qui định độ tuổi kết hôn, không qui định trách nhiệm của học trò phải để tang thầy giáo, nhưng thực tế tập quán ở nhiều nơi, học trò cũng để tang thầy giáo để tỏ lòng thành kính, tôn sư trọng đạo.

Tóm lại, Bộ luật Hồng Đức đã phản ánh rõ nét giá trị tích cực của Nho giáo, nói chính xác đó chính là Nho giáo đã được tiếp biến, tương tác, chia sẻ, thâu hóa để biến đổi trở thành Nho giáo Việt Nam. Chắc chắn, những tác động tích cực như giúp con người sống hòa thuận, hiếu nghĩa, có trước sau, có trên dưới, coi trọng việc học suốt đời, coi việc học để tự tu tự tỉnh, rèn luyện liêm sỉ, biết xấu hổ và tiết độ dục vọng... sẽ mãi là những giá trị bất diệt của Nho giáo Việt Nam.

TS. Nguyễn Minh Tuấn

 BÀI TẬP VỀ LUẬT HỒNG ĐỨC

Cho tình huống sau:
Vợ chồng Ông A và Bà B có 2 mẫu ruộng (7200 m2 đất). Họ có 3 người con trai A1, A2, A3 và một người con nuôi là X. A1 có con gái, A2 có một con trai và một con gái. A3 và X chưa có con. Ông A có 2 vợ lẽ là bà C và bà D. Ông A và Bà C có một người con gái là A4.

Câu hỏi :

a. Anh/chị hãy chia thừa kế theo pháp luật căn cứ vào các qui định của Bộ luật Hồng Đức trong trường hợp :
+ Trường hợp 1: Ông A chết, A1 chết trước ông A. (3 điểm)
+ Trường hợp 2: Cả ông A và Bà B chết cùng một thời điểm (2 điểm)

b. Ruộng đất hương hỏa được sử dụng vào mục đích gì theo qui định của Bộ luật Hồng Đức? Ai sẽ là người được thừa kế ruộng đất hương hỏa ? Giải thích tại sao ? (2 điểm)

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI:

Nguyên tắc phân chia:

1. Những tài sản do vợ, chồng cùng làm ra thì chia đôi. Vợ, chồng không phải là người thừa kế của nhau vì vậy người còn sống sẽ nhận một phần, phần của người chết sẽ chia thừa kế.

2. Trước khi chia thừa kế phải dành 1/20 điền sản làm đất hương hỏa, phần còn lại mới chia theo nguyên tắc:
- Hàng thừa kế thứ nhất: các con (hoặc cháu). Theo đó, con trai = con gái = vợ lẽ; Con vợ lẽ = con nàng hầu = con nuôi = 1/2 con đẻ.
- Hàng thừa kế thứ hai: bố mẹ, hoặc vợ, chồng

3. Điều 374 có nói đến thừa kế thế vị, con cháu sẽ là người thế vị cha mẹ nhận di sản của ông bà.

Phân chia:

Trường hợp 1: Ông A chết, A1 chết trước ông A. (3 điểm)
Tài sản chia thừa kế của Ông A = 7200m2/2 = 3.600m2 đất
Đất hương hỏa = 3.600m2 x 1/20 = 180m2 đất
Còn lại là 3.600m2 - 180m2 = 3420m2
Vậy,
A1 = A2 = A3 = C = D = 570m2 đất
A4 = X = 285m2 đất
Vì A1 chết trước nên con của A1 sẽ được hưởng tài sản của ông.

Trường hợp 2: Ông A và Bà B chết cùng một thời điểm.
Tài sản chia thừa kế là: 7.200m2 đất; trong đó phần ông A là 3.600m2 và bà B là 3600m2
Đất hương hỏa = 7.200m2/20 = 360m2 đất
Phần đất của ông A chia như sau:
A1 = A2 = A3 = C = D = 570m2 đất
A4 = X = 285m2 đất
Phần đất của bà B chia như sau:
A1 = A2 = A3 = 977,14m2 đất
X = 488,57m2 đất
Tóm lại:
A1 = A2 = A3 = 1547,14m2 đất
C= D = 570m2 đất
X = 773,57m2 đất
A4 = 285m2 đất

b. Ruộng đất hương hỏa được sử dụng vào mục đích gì theo qui định của Bộ luật Hồng Đức? Ai sẽ là người được thừa kế ruộng đất hương hỏa ? Giải thích tại sao ? (2 điểm)

- Theo qui định của Bộ luật Hồng Đức ruộng đất hương hỏa gồm 1/20 điền sản được sử dụng để lo phần mộ cho người chết và họ hàng. Phần còn lại, người giữ hương hỏa được sử dụng cho bản thân.
Đất hương hỏa không được phép mua bán. Người ngoài họ không biết mà mua sẽ được phép lấy lại tiền và trả điền sản cho dòng họ có điền sản.

- Về nguyên tắc chung, đất hương hỏa bao giờ cũng chỉ giao cho con cháu người vợ cả, người thừa kế ruộng đất hương hỏa là con trai trưởng, không có con trai trưởng thì giao cho con trai thứ, khi không có con trai thứ thì trao cho con gái. Khi người con trai trưởng chết được giao cho cháu trai trưởng và tiếp tục đến đời sau.

- Việc thờ cúng là thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với ông, bà, cha, mẹ. Là thể hiện đạo hiếu của con cháu với ông bà, cha mẹ.

Th.S Nguyễn Minh Tuấn

 Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v…

Lịch sử
Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.

Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.

Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của trường luật khoa đại học do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội - 1991).
Một số học giả Pháp, khi khảo dịch và nghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật và nó là Lê triều điều luật được in năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 3Cool mà Phan Huy Chú đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí sau khi họ nghiên cứu thiên Hình luật chí trong cuốn sách này của ông cũng như bản chép tay của Quốc triều hình luật. Theo Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và có lẽ vào thời gian cuối của niên hiệu này. Ý kiến của Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê bộ Hồng Đức hình luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho bộ Hoàng Việt luật lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là bộ luật Hồng Đức.

Các ý kiến khác cho rằng bộ Quốc triều hình luật đã được soạn, sửa đổi liên tục từ đầu thời kỳ nhà Hậu Lê, trong đó có những đóng góp to lớn dưới thời Lê Thánh Tông. Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều. Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật v.v có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê. Thời điểm khởi thảo, ban hành lần đầu cho đến nay vẫn chưa rõ.

Bố cục
Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).
Bố trí cụ thể như sau:

  • 1. Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
  • 2. Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.
  • 3. Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.
  • 4. Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.
  • 5. Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
  • 6. Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này.
  • 7. Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
  • 8. Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua.
  • 9. Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ v.v
  • 10. Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
  • 11. Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh trên đây.
  • 12. Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này.
  • 13. Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này.


Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.[/list:u:1pxl2r2c]

Các quy định dân sựTrong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

Sở hữu và hợp đồng
QTHL đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).
Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v
Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355) v.v

Qua một số quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh 3 loại hợp đồng về ruộng đất:
  • Mua bán ruộng đất
  • Cầm cố ruộng đất
  • Thuê mướn ruộng đất


Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.

Thừa kế
Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ. Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điều đáng chú ý là bộ luật Hồng Đức cho người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Đây chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê.

Các quy định hình sự
Các nguyên tắc chủ đạo
Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:
  • Vô luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong
  • bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại.
  • Chiếu cố (điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v
  • Chuộc tội bằng tiền (điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.
  • Trách nhiệm hình sự (điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.
  • Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).
  • Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504)


Tội phạm
  • Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)
  • Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội
  • Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
  • Tính chất đồng phạm



Các nhóm tội cụ thể
Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:
  • Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431).
  • Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn.
  • Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (420 và 421).
  • Các nhóm tội phạm khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thể của vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thể thức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v



Hình phạt
Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ (điều 41).
Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác.

Ngũ hình
Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử.
  • Xuy (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cả cho nam và nữ.
  • Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng, chỉ áp dụng cho nam.


Đồ có 3 bậc là:
- Dịch đinh kèm 80 trượng cho nam và dịch phụ kèm 50 roi cho nữ. Dịch đinh/dịch phụ có nhiều hạng là:
  • Thuộc đinh: phục dịch ở các viện (dành cho quan chức có tội)
  • Quân đinh: phục dịch ở các sảnh
  • Khao đinh: phục dịch ở trong trại lính
  • Xã đinh: phục dịch ở các xã (dành cho thường dân nam có tội)
  • Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng (dành cho thường dân nữ có tội)
  • Viên phụ: làm các công việc trong vườn (dành cho vợ các quan chức)
  • Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuôi tằm, nếu phạm tội nặng


- Tượng phường binh (quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ (nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ.
- Chủng điền binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong các kho thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ.
- Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
  • Lưu cận châu, đày đi làm việc nặng ở Nghệ An với hình phạt phụ là thích vào mặt 6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
  • Lưu ngoại châu: Lưu đày đến Bố Chánh, Quảng Bình. Phụ hình có 90 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ.
  • Lưu viễn châu: đày đi Cao Bằng. Phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt, đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ.


- Tử (giết chết) có 3 bậc là:
  • Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
  • Khiêu (chém bêu đầu)
  • Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương.


Các hình phạt khác
- Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:
  • Biếm tư (điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định cho chuộc tội biếm bằng tiền theo điều 22.
  • Phạt tiền (điều 26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan. Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật (điều 2Cool, tiền đền mạng (điều 29).
  • Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản (nặng theo điều 426, 430) và tịch thu một phần tài sản (nhẹ, các điều 88, 523)
  • Thích chữ vào cổ hoặc mặt: Được áp dụng như là hình phạt phụ đối với các tội lưu, đồ, trượng, xuy.
  • Xung vợ con làm nô tỳ. Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn trong thập ác (điều 411, 412).


Các quy định trong hôn nhân-gia đình
Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.

Hôn nhân
Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn).
Kết hôn
Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thày (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339.

Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”, có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này.

Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng…Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

Chấm dứt hôn nhân
Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong người đã chết, ly hôn.
Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.

Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:
1. Buộc phải ly hôn (các điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã vi phạm các quy định cấm kết hôn.
2. Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như: không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như phong, hủi), dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp.
3. Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308 / 333 quy định người vợ có quyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (có quan xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ.

Quan hệ gia đình
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).
Quan hệ vợ-chồng: Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2, 7).
Quan hệ cha mẹ-con cái: Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 3Cool, nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo và nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (điều 2).
Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều 309, 481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các điều 487, 512), nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (điều 35).
Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi.

Các quy định tố tụng
Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:
  • Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)
  • Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667, 668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).



SO SÁNH
Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.

Luật Trung Hoa
Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh. Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.
Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy, trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.
Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng.

Bộ luật nhà Nguyễn
So với bộ Hoàng Việt luật lệ (HVLL hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như HVLL. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn so với HVLL. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về HVLL “bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ
trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng.” (Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973).

Các điểm tiến bộ
1. Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó cho thấy vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.

2. Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam.

3. Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v

4. Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân (các điều 294, 300, 302, 304, 365).

Trao đổi, thảo luận:

Tuần vừa qua thảo luận ở các lớp, có bạn sinh viên đặt câu hỏi: "Chứng minh rằng Bộ luật Hồng Đức có nhiều qui định tiến bộ bênh vực, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ?"
Để giúp sinh viên tìm hiểu về vấn đề này, dưới đây là một vài gợi ý trả lời và gợi mở để sinh viên tiếp tục nghiên cứu:

- Hai chương "Hộ hôn" và "Điền sản" là hai chương đặc sắc nhất của Bộ luật Hồng Đức. Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và đặc biệt vai trò của người phụ .

- Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ - chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà"(1). Điều 23 trong "Quốc triều hình luât" quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội.

- Điều 322 - "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị". Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm - nếu vợ đã có con). Nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn. Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình. Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều Lê. Ngay cả khi luật bắt buộc người chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan, điều 310 quy định: Vợ, nàng dâu đã phạm vào điều "thất xuất" mà người chồng ẩn nhẫn không bỏ thì phải tội biếm tùy theo nặng nhẹ.

Tuy nhiên, sẽ không thể ly hôn được nếu như khi phạm vào điều thất xuất người vợ đang ở trong ba trường hợp (tam bất khứ): đã để tang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về. Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không được đặt ra. Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quy định rõ hình thức thuận tình ly hôn: Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng. Vậy là, bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến.

- Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm.

- Thông thường, nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng (gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình. Trong trường hợp có lỗi; thường thì tự ý người vợ không đem theo tài sản hoặc trong một vài trường hợp luật định người vợ buộc phải để lại tài sản đó cho chồng, "người vợ mà đi gian dâm, tài sản phải trả về cho chồng"(2).

- Ngoài ra, việc phân chia và thừa kế tài sản còn tùy thuộc vào việc vợ
chồng có con hay không có con. Pháp luật quy định cụ thể ở các điều 374, 375 và 376 (Quốc triều hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung). Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung. Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.

- Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ). Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu). Khi người vợ/chồng chết, thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng.

- Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng. "Quốc triều hình luật" không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền sản, theo Vũ Văn Mẫu: "Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị".

Song trong "Hồng Đức thiện chính thư" (điều 258-259) đã không gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế. "Đến như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai, người sống được một phần làm chỗ ở, người chết được một phần làm nơi tế lễ". "Còn đến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêu cũng chia cho vợ con". "Của nổi" ở đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa, giường chiếu, đồ sứ, mâm thau... Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra.

- Trong quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai - con gái. Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con (điều 388); "người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng" (điều 391). "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không có thì giao cho cháu gái ngành trưởng".

- Về việc áp dụng hình phạt "ngũ hình", có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: không áp dụng hình phạt "trượng" cho đàn bà và áp dụng riêng từng loại tội "đồ" cho đàn ông và đàn bà (điều 1 - Quốc triều hình luật).

Tóm lại, bộ luật Hồng Đức có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Pháp luật ấy về cơ bản được duy trì để thi hành ở những thế kỷ sau, cho đến khi nhà Nguyễn ban hành bộ luật Gia Long thì uy tín, tinh thần những điều khoản luật Hồng Đức vẫn còn sống trong dân gian. Bộ luật ấy đã có những quy định tương đối tiến bộ, công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một số quyền lợi và phần nào bảo vệ họ đối với thái độ "trọng nam khinh nữ"... Có lẽ vì thế mà chúng ta mới thấy xuất hiện trong lịch sử những Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan... mạnh mẽ, mãnh liệt, khát khao bày tỏ tình cảm, mà cũng sâu sắc, trầm lắng biết bao! Họ lên tiếng cho người phụ nữ. Họ đấu tranh cho người phụ nữ...

Và cho đến bây giờ, người phụ nữ đã bình đẳng với nam giới, không còn sự "trọng nam khinh nữ" nữa, quyền lợi của người phụ nữ đã được công nhận và bảo vệ như nam giới, thì chúng ta mới thấy được những quyền lợi của người phụ nữ xưa vẫn còn quá ít ỏi, họ còn bị gò bó, ràng buộc, chi phối bởi biết bao nhiêu nguyên tắc đạo đức phong kiến, những "tam tòng, tứ đức"... Tuy nhiên, phải thấy rằng, nhà nước thời Lê đã bắt đầu nhận thấy vai trò lớn lao của người phụ nữ trong sản xuất và trong cuộc sống. Đó là điều tiến bộ trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

Th.S Nguyễn Minh Tuấn

HISTORY OF LAW AND STATES.

Đối với pháp luật Việt Nam hiện nay, quan niệm về tội phạm và cách phân loại tội phạm luôn là một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong pháp luật hình sự, một trong những ngành luật quan trọng nhất trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Việt Nam lại đang trên bước đường hội nhập toàn cầu, xã hội biến đổi ngày càng nhanh chóng khiến cho tầm quan trọng và yêu cầu đối với pháp luật ngày càng nâng cao. Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi luật pháp cho phù hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cần thiết. Một trong những phương pháp nghiên cứu, sửa đổi tốt nhất đối với pháp luật chính là nghiên cứu các qui định của pháp luật cổ xưa, từ đó rút ra những kinh nghiệm, những nét đặc sắc riêng để áp dụng đối với pháp luật hiện hành. Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu đề tài :" Quan niệm về tội phạm và cách phân loại tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt Nam" có những giá trị, tầm quan trọng trong việc sửa đổi, bổ sung lại các quan niệm cũng như cách phân loại tội phạm trong bộ luật hình sự hiện nay.

I- Các quan niệm về tội phạm thời phong kiến:
Theo luật hình sự Việt Nam hiện nay, tội phạm là những hành vi của con người gây nên một mức độ nguy hiểm cho xã hội thì đối với xã hội phong kiến trước đây, quan niệm về tội phạm được hiểu rất rộng. Tuy không có những định nghĩa cụ thể về tội phạm là gì nhưng trong Bộ Quốc Triều Hình Luật (QTHL) thời Lê đã có những quan niệm về tội phạm là việc xâm hại đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung (nhóm tội Thập ác), xâm phạm trật tự kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm Nho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, tài sản của con người. Đến thời nhà Nguyễn, trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ cũng không có những định nghĩa chung về tôi phạm mà chỉ đi thẳng vào các qui định cụ thể đối với từng loại tội.

Nhìn chung pháp luật Phong kiến chưa có những qui định, định nghĩa về tòng phạm nhưng ta cũng có thể hiểu được quan niệm tội phạm của pháp luật phong kiến là tất cả những hành vi vi phạm không chỉ trong lĩnh vực hình sự mà trong cả các lĩnh vực dân sự, hành chính, thuế khóa, ruộng đất và kể cả trong quan hệ đạo đức (Ví dụ: Điều 130- QTHL quy định:Có tang ông bà, cha mẹ và chồng mà giấu không khóc thì phải tội đồ làm khao đinh).

II- Các phương pháp phân loại thời phong kiến:
Nếu như việc không đưa ra các định nghĩa rõ ràng về tội phạm là một hạn chế đối với cổ luật thì các nhà làm luật phong kiến lại rất tiến bộ trong việc đặt ra các phương pháp phân loại tội phạm. Pháp luật phong kiến đã đưa ra rất nhiều quan điểm phân loại tội phạm và có nhiều quan điểm phân loại tội phạm đó còn được lưu giữ và áp dụng đến ngày nay: Phân loại tội phạm dựa theo ý chí người phạm tội; Phân loại tội phạm theo nhóm tội thập ác và ngoài thập ác; Phân loại tội phạm dựa theo loại hình phạt; Phân loại tội phạm dựa vào khách thể của tội phạm; Phân loại tội phạm theo giai đoạn thực hiện tội phạm; Phân loại tội phạm đồng phạm.

1) Phân loại tội phạm dựa theo ý chí người phạm tội:
Phân biệt tội phạm dựa theo ý chí của người phạm tội nói đơn giản là sự phân biệt giữa vô ý phạm tội và cố ý phạm tội. Ngay từ thời Lê, trong bộ luật Hồng Đức đã có những qui định thể hiện điều này, cụ thể trong Điều 47: " Những người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau, nhưng phải phân biệt sự phạm tội vì lầm lỡ hay cố ý ..., không nên câu nệ để hợp với ý nghĩa xét xử hình án " Tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ "". Qui định này tuy còn rất chung chung nhưng đã thể hiện được quan niệm của nhà làm luật thời Lê. Đến thời nhà Nguyễn, quan điểm này đã được thể hiện rõ nét hơn khi được qui định rõ ràng trong các điều luật.
Ví dụ như các điều luật về tội giết ngừơi thuộc tình tiết giảm nhẹ: Ngộ sát, lầm lẫn xử trượng, đồ, lưu (điều 262); Chồng giết chết gian phu, gian phụ miễn tội (điều 254)...

2) Phân loại tội phạm theo nhóm tội thập ác và ngoài thập ác
Do ảnh hưởng từ luật pháp nhà Đường, tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam đều tiến hành phân chia tội phạm ra thành hai nhóm là nhóm tội thập ác và nhóm tội ngoài thập ác:

-Tội thập ác là những tội xâm hại đến vương quyền của nhà vua, đến trật tự xã hội của Nho giáo. Bởi vậy, dưới cái nhìn của nhà làm luật phong kiến, thập ác là những trọng tội nguy hiểm nhất, và luôn đi kèm với đó là những hình phạt nghiêm khắc và tàn bạo nhất: " Những kẻ mưu làm phản, mưu làm việc đại nghịch thì xử tội chém bêu đầu, kẻ tòng phạm và thân đảng biết việc ấy đều phải tội chém, vợ con điền sản đều bị tịch thu làm của công... " [ Điều 411 Quốc triều hình luật ]. Do đặc điểm này mà pháp luật phong kiến quy định các tội thập ác không được hưởng nghị giảm theo chế độ bát nghị, không được chuộc tội bằng tiền, không được hưởng chế độ đặc xá, đại xá...

Thập ác bao gồm:

  • 1. Mưu phản: lật đổ nền cai trị của nhà vua, làm xụp đổ xã tắc.
  • 2. Mưu đại nghịch: phá đền đài, lăng tẩm, cung điện của nhà vua.
  • 3. Mưu bạn: phản bội Tổ quốc theo giặc.
  • 4. Ác nghịch: mưu giết hay đánh ông bà, cha mẹ, tôn thuộc.
  • 5. Bất đạo: vô cớ giết nhiều người, cắt tay chân người sống, chế thuốc độc bùa mê, tàn ác, hung bạo...
  • 6. Đại bất kính: lấy trộm các đồ tế trong lăng tẩm, các vật dụng của vua, làm giả ấn vua...
  • 7. Bất hiếu: cáo giác hay chửi rủa ông bà, bố mẹ hay ông bà, bố mẹ chồng. Không phụng dưỡng bố mẹ, tự ý bỏ nhà, tự ý phân chia tài sản, cưới xin khi có tang cha mẹ, vui chơi trong khi tang chế, được tin bố mẹ, ông bà chết không chịu tang hoặc phát tang giả dối.
  • 8. Bất mục: mưu giết hay bán các thân thuộc (cho đến ngũ đại), đánh hoặc cáo giác chồng hay các tôn thuộc (cho đến tam đại).
  • 9. Bất nghĩa:dân giết quan lại sở tại, lính tốt giết quan chỉ huy, học trò giết thầy dạy, vợ không để tang chồng, ăn chơi và tái giá.
  • 10. Nội loạn: tức là tội loạn luân (thông dâm với thân thuộc hay với các thiếp của bố hay của ông).


- Nhóm tội phạm ngoài thập ác cũng rất phong phú và đa dạng, được chia thành nhiều nhóm khác nhau tuỳ theo khách thể bị hành vi tội phạm tác động. Đó có thể là những tội xâm phạm an toàn của nhà vua; tới trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính...; tới tính mạng, sức khoẻ, nhân thân của con người; tới an ninh quốc gia, trật tự chế độ xã hội phong kiến; tới chế độ sở hữu; tới chế độ hôn nhân - gia đình phong kiến; tới hoạt động tư pháp hoặc các tội phạm quân sự... ( theo QTHL). Đó cũng có thể là những tội đạo tặc (trộm cướp), nhân mạng (giết người), đấu ẩu (đánh nhau), lăng mạ (chửi mắng), trá ngụy (man trá, giả mạo), phạm gian (gian dâm), tạp phạm (nhóm tội chuộc bằng tiền), tội phạm về quan chức, về dân sự, hôn nhân - gia đình... ( theo HVLL).

3) Phân loại tội phạm dựa theo loại hình phạt:
Hệ thống các hình phạt ngũ hình cũng là một trong những yếu tố Trung Hoa trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam.Nhằm đề cao tính răn đe, ngũ hình được qui định ở ngay điều 1 của cả hai bộ luật QTHL và HVLL. Nhóm hình phạt này luôn là nhóm hình phạt chính trong hệ thống pháp luật của các triều đại phong kiến. Chính vì vậy, các nhà làm luật phong kiến đã dựa vào nhóm hình phạt này để phân loại tội phạm. Nhóm tội phạm ngũ hình gồm có 5 loại là : Xuy; Trượng; Đồ; Lưu; Tử.
  • Xuy hình là hình phạt đánh bằng roi, thường áp dụng đối với các loại tội nhẹ như đấu ẩu, lăng mạ... Cốt để phạm nhân xấu hổ.
  • Trượng hình là hình phạt đánh bằng trượng, nặng hơn xuy áp dụng với các tội như đấu ẩu, nhận hối lộ...
  • Đồ hình là hình phạt bắt làm tù khổ sai, áp dụng với các tội tương đối nặng như hối lộ, trộm cắp...
  • Lưu hình là hình phạt bắt đi lưu đày, tội nặng thì đi xa, tội nhẹ thì đi gần. Các tội phạm áp dụng hình phạt lưu thường là ở mức cao nhất của các tội hối lộ, trộm cắp...
  • Tử hình là hình phạt nặng nhất thường là chém hoặc treo cổ. Loại hình phạt này thường xuyên áp dụng đối với nhóm tội thập ác.


Ngoài ra đối với một số loại tội phạm pháp luật phong kiến còn cho phép một số quan lại chuộc tội bằng tiền do đó còn có thể chia tội phạm thành hai nhóm là nhóm tội phạm chuộc được bằng tiền và nhóm tội phạm không thể chuộc được bằng tiền.Ví dụ như trong điều 6- QTHL:" Những người họ hoàng hậu nếu bị ghép vào tội trượng, tội thích chữ vào mặt thì được phép chuộc bằng tiền" hoặc nhóm tội Tạp phạm được qui định ở luật Gia Long.

4) Phân loại tội phạm theo giai đoạn thực hiện tội phạm:
Căn cứ theo các giai đoạn thực hiện tội phạm, cổ luật chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, như: đã hành động, chưa hành động, đã thành, chưa thành... Đặc biệt, cổ luật còn quy định tội phạm cho các hành vi mới xuất hiện trên phương diện là mưu đồ hoặc là có nguy cơ cao, nhằm ngăn ngừa hậu quả thiệt hại gây ra cho xã hội, nhưng đặc biệt vẫn là để ngăn chặn các hành vi nguy hại tới vương quyền của nhà vua, như bộ Quốc triều hình luật có quy định: "những người vào trong cung điện làm việc hết giờ mà không ra khỏi khu vực ngoại điện thì xử tội lưu, ở trong cung bị xử tội giảo, ở lại nơi vua nằm thì xử tội chém" (Điều 55).

Ngoài ra, các tội phạm về mưu đồ cũng được qui định rõ ở từng điều lệ trong bộ HVLl như ở tội Nhân Mạng chia làm 3 hạng mưu sát nhân đã thực hiện nhưng chưa thành, không gây thương tích; đã làm bị thương hoặc đã thành. Tùy theo giai đoạn mà mức hình phạt khác nhau. Đối với một số trọng tội ( nhóm tội nguy hại đến vương quyền như mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn) dù chưa có hành vi phạm tội chỉ là âm mưu phạm tội cũng được coi là tội phạm và là tội phạm đã hoàn thành.

5) Phân loại tội phạm đồng phạm:
Điều 469- QTHL: " đồng mưu đánh người bị thương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm, kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội,còn người tòng phạm thì được giảm một bậc.

Như vậy pháp luật thời Lê đã có những qui định về phạm tội đồng phạm nhưng lại không có những định nghĩa rõ ràng về đồng phạm và những người đồng phạm. Đến triều Nguyễn, những qui định về đồng phạm cũng đã rõ ràng hơn. Nhà làm luật đã đưa ra các khái niệm:
  • Đồng phạm là cùng phạm tội gồm chính phạm và tòng phạm. Chính phạm xử nặng hơn tòng phạm một bậc.
  • Chính phạm là kẻ chủ mưu, tác giả tinh thần, ý đồ, tạo ý, đầu nậu, khởi xướng .
  • Tòng phạm là những người tham gia, thừa hành, hành động hoặc không hành động chia của, che giấu, xúi giục, giúp đỡ hoặc là cùng thực hiện ( Điều 29- HVLL)


Các tội phạm về đồng phạm cũng được qui định rõ trong các điều luật cụ thể về tội phạm: Ví dụ như tội Nhân Mạng (giết người) hạng nhẹ nhất là " thực hiện chưa thành , không gây thương tích , chủ mưu xử 100 trượng đồ 3 năm, a tùng cùng mưu xử 100 trượng."

6) Phân loại tội phạm dựa vào khách thể của tội phạm:
Khách thể của quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội bị hành vi xâm hại. Việc căn cứ theo khách thể của tội phạm để phân loại này có tử thời Nguyễn, bộ Hoàng Việt luật lệ chia tội phạm ra thành 6 nhóm, tương ứng với 6 quyển trong bộ luật:lại luật gồm 27 điều (quyển 4 - 5); hộ luật gồm 66 điều (quyển 6, 7, Cool; lễ luật gồm 26 điều (quyển 9); binh luật gồm 58 điều(quyển 10 và 11); hình luật gồm 166 điều (quyển 12 - 20); công luật gồm 10 điều (quyển 21). Cách phân loại này còn được thể hiện gián tiếp thông qua các chế định về Tội thập ác và tội ngoài thập ác, khách thể trong mối quan hệ này chính là nguyên tắc Tam Cương của Nho giáo ( Tam Cương là ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội phong kiến: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).
  1. Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ.
  2. Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng phục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng.
  3. Phu thê: Trong quan hệ chồng vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng).


III- Tổng kết:
Xuyên suốt quá trình phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam, các nhà làm luật phong kiến đã dựng nên rất nhiều bộ luật nổi tiếng như Quốc triều hình luật, Hoàng việt luật lệ... Hầu hết các bộ luật này đều tổng hợp về nhiều ngành luật và được trình bày dưới hình thức các qui phạm pháp luật hình sự.

Các bộ luật này đã có nhiều quan điểm tiến bộ trong việc phân loại các tội phạm ra từng loại tội phạm cụ thể , với các mức độ hình phạt khác nhau nhưng các bộ luật này đều còn những thiếu sót trong việc đưa ra khái niệm về các loại tội phạm đó. Khái niệm tội phạm được sử dụng rộng rãi hơn rất nhiều so với pháp luật hiện hành, mọi vi phạm đều bị coi là tội phạm và đều phải bị áp dụng những chế tài hình sự: dân sự, hành chính, thuế khoá,ruộng đất..., thậm chí có khi đó chỉ là những vi phạm trên lĩnh vực đạo đức đơn thuần.

Sự khác biệt này có lẽ xuất phát từ sự chênh lệch về trình độ kỹ thuật lập pháp, từ sự khác nhau về nền tảng kinh tế - xã hội đương thời: Vì đối với xã hội phong kiến Nho giáo là nền tảng cho trật tự xã hội nên vấn đề bảo vệ đạo đức Nho giáo luôn là nhiệm vụ hàng đầu của pháp luật.

 Theo Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ), tội phạm là việc xâm hại đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung, xâm phạm trật tự kỷ cưưương, đạo đức xã hội theo quan điểm Nho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, tài sản của con người. BLHĐ nói riêng và luật phong kiến nói chung luôn coi trọng nguyên tắc đạo đức, do đó, có nhiều hành vi mà theo luật hình sự hiện nay chỉ có thể là hành vi vi phạm đạo đức, hoặc vi phạm pháp luật khác đã đđđược quy định trong BLHĐ là tội phạm

Ví dụ: Điều 130 quy định: Có tang ông bà, cha mẹ và chồng mà giấu không khóc thì phải tội đồ làm khao đinh>>>; hoặc Điều 99 quy định: >>>Người giấu sách vở đem vào trường thi phải phạt 80 trượng>>>>>> Nếu như trong luật hình sự hiện hành, chỉ có hành vi của con người và hành vi đó phải có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội mới bị coi là tội phạm thì trong BLHĐ, không những không xét đến mức độ của tính nguy hiểm mà trong một số lĩnh vực cần sự bảo vệ đặc biệt thì còn bị coi là tội phạm ngay cả khi chủ thể chỉ có mưu (ý đồ) phạm tội như mưu làm phản (Điều 411), mưu giết người (Điều 415))))

Một trong những nguyên tắc tiến bộ của BLHĐ, đó là khi xác định mức độ chịu trách nhiệm hình sự có tính đến trường hợp phạm tội do cố ý và trường hợp phạm tội do lầm lỡ. Điều 47 quy định: Những người phạm tội tuy tên gọi giống nhau, nhưng phải phân biệt sự phạm tội do lầm lỡ hay cố ý>>> ; Tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt người cố ý không kể tội nhẹ>>>>>>Từ nguyên tắc chung này, hình phạt quy định đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể cũng có sự phân biệt. Ví dụ: Điều 497 quy định: Trong khi đánh nhau lỡ đánh lầm phải người xung quanh bị thương hay đến chết, thì xử nhẹ hơn tội đánh chết ng¬ười một bậc>>>.

Trong chính sách hình sự của BLHĐ, nguyên tắc nhân đạo cũng được chú trọng. Điều 16 quy định: Những ngư¬ời từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật, phạm từ tội lưu trở xuống đều cho phạt bằng tiềnnnn Người từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng những ng¬ười bị ác tật, phạm tội phản nghịch, giết người đáng phải tội chết thì cũng phải tâu Vua để xét định, ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra thì không bắt tội. Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dẫu có bị tội chết cũng không hành hình>>>. Bên cạnh đó, BLHĐ còn dự liệu những trường hợp mà pháp luật hình sự hiện nay gọi là trường hợp bất khả kháng. Điều 182 quy định: Nếu đường đê vững chắc lại cố giữ gìn, song vì nước lụt quá to, sức người không chống nổi mà đê vỡ thì không bị xử tội>>>.

Có thể nói, ngoài một số hạn chế do những đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội đương thời chi phối, những quy định trong BLHĐ thể hiện sự tiến bộ trong công tác xây dựng pháp luật của những nhà làm luật thời kỳ phong kiến. Những nguyên tắc cơ bản trong BLHĐ không chỉ đề cao tính giai cấp mà còn thể hiện tính nhân đạo vốn là nét đẹp truyền thống của người Việt Nam. Chính bởi vậy, nhiều nguyên tắc tiến bộ trong BLHĐ đã tiếp tục được kế thừa và phát huy trong luật hình sự Việt Nam hiện đại.

Thursday, August 8, 2013

HABEAS CORPUS ACT (1679)



    Nguyễn Minh Tuấn

    Đạo luật Habeas Corpus do Nghị viện Anh thông qua năm 1679 (dưới thời trị vì của nhà vua Charles II) được coi là đạo luật quan trọng trong lịch sử của Anh, cũng như lịch sử pháp luật thế giới qui định các biện pháp nhằm ngăn chặn việc bắt, giam người trái pháp luật.
    Đến nay "Habeas corpus" trở thành một thuật ngữ phổ biến và trở thành một  trong những công cụ pháp lý quan trọng nhất bảo vệ quyền tự do của cá nhân chống lại sự xâm phạm của nhà nước ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ví dụ: Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức hiện hành tại Điều 2 Khoản 2 Câu 2 LCB và Điều 104 Khoản 2 và 3 LCB; Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Điều 1, Section 9, Câu 2: "The privilege of the writ of habeas corpus shall not be suspended, unless when in cases of rebellion or invasion, the public safety may require it."; Hiến pháp Canada năm 1982, tại Điều 10: "Everyone has the right on arrest or detention... (c) to have the validity of the detention determined by way of habeas corpus and to be released if the detention is not lawful."...

    Dưới đây xin giới thiệu với bạn đọc bản dịch Tiếng Anh đạo Luật này từ  trang web Wikisource: http://en.wikisource.org/wiki/Habeas_Corpus_Act, truy cập gần nhất ngày 6 tháng 3 năm 2011. An act for the better securing the liberty of the subject, and for prevention of imprisonments beyond the seas.

[ Assented đến ngày 27 tháng năm 1679 . ]
I. Xét vì sự chậm trễ lớn đã được sử dụng bởi cảnh sát trưởng , gaolers và các viên chức khác , để có quyền nuôi con, bất kỳ đối tượng của nhà vua đã được cam kết cho các vấn đề tội phạm hình sự hoặc phải , trong việc đưa ra lợi nhuận của trát của quyền giam giữ cho họ đạo , bằng cách đứng ra một aliaspluries quyền giam giữ , và đôi khi nhiều hơn , và những thay đổi khác để tránh sự vâng phục năng suất của họ để trát như vậy, trái với nhiệm vụ của họ và pháp luật được biết đến đất đai , trong đó nhiều đối tượng của nhà vua có được, và sau này có thể dài bị giam giữ tại nhà tù , trong trường hợp như vậy, nơi của pháp luật họ bailable , để phí tuyệt vời của họ và bực tức . và

II. Cho ký tên dưới đây phòng chống , và cứu trợ nhanh chóng hơn tất cả những người bị giam giữ vì bất kỳ vấn đề tội phạm hình sự hoặc phải như vậy ; được nó được ban hành bởi oai nghi nhất của nhà Vua , bởi và với sự tư vấn và sự đồng ý của lãnh chúa tinh thần và thời gian, và Commons , trong Quốc hội hiện tại này lắp ráp , và quyền hành. Mà whensoever bất kỳ người hoặc những người có trách nhiệm mang lại bất kỳ ngữ habeas đạo cho đến bất kỳ cảnh sát hoặc cảnh sát trưởng , cai tù , Bộ trưởng hoặc người nào khác , cho bất kỳ người nào trong anh hoặc tạm giữ và cho biết lệnh sẽ được phục vụ trên cho biết nhân viên , hoặc trái tại các tù hoặc tù với bất kỳ dưới cán bộ , dưới giữ, hoặc cấp phó của các cán bộ cho biết , thủ , mà cho biết viên chức hoặc cán bộ , mình hoặc theo sĩ quan của họ , dưới giữ , đại biểu , thì trong thời hạn ba ngày sau khi dịch vụ hiện như trên, (trừ khi các cam kết nêu trên là vì tội phản quốc hoặc trọng tội , rõ ràng và thể hiện đặc biệt trong việc bảo hành các cam kết ) , sau khi thanh toán hoặc đấu thầu những chi phí đưa các tù nhân cho biết , để được xác định do Thẩm phán Tòa án hoặc mà tặng giải thưởng này , và ủng hộ khi cho biết lệnh , không quá mười hai xu cho mỗi dặm, và khi an ninh được đưa ra bởi trái phiếu của chính mình để thanh toán các khoản mang lại các tù nhân , nếu anh ta được giam của Tòa án hoặc Thẩm phán mà ông sẽ được đưa ra theo mục đích thực sự của hành động này hiện nay, và rằng ông sẽ không thực hiện bất kỳ lối thoát bằng cách này , hãy quay trở lại như vậy lệnh , và mang lại, hoặc gây được đưa ra, cơ thể của các bên có cam kết hoặc hạn chế , cho đến hoặc trước khi Chưởng , hoặc Chúa Keeper của con dấu lớn của nước Anh trong thời gian này , hoặc Thẩm phán hoặc Barons của Tòa án cho biết từ đó cho biết lệnh ban hành , hoặc cho đến trước và người hoặc những người khác như trước khi mà các cho biết lệnh được thực hiện trả lại , theo lệnh của nó , và sau đó tương tự như vậy sẽ xác nhận nguyên nhân thực sự của Chieám hoặc phạt tù của mình, trừ khi các cam kết của các bên biết được ở bất kỳ nơi xa hơn khoảng cách của hai mươi dặm từ nơi hoặc những nơi như vậy tòa án hoặc người đang hoặc sẽ được sống , và nếu vượt quá khoảng cách của hai mươi dặm, và không hơn một trăm dặm, thì trong thời hạn mười ngày, và nếu vượt quá khoảng cách của một trăm dặm, sau đó trong không gian hai mươi ngày , sau khi giao hàng nói trên như vậy, và không còn .

III. Và mục đích mà không có cảnh sát , cai tù hoặc nhân viên khác , có thể giả vờ không hiểu biết về nhập khẩu của bất kỳ lệnh như vậy , nó được ban hành bởi các cơ quan nêu trên , Đó là tất cả trát này sẽ được đánh dấu theo cách này, trung bình mỗi statutum tricesimo primo Caroli secundi Regis , và phải có chữ ký của người đó giải thưởng như nhau, và nếu bất kỳ người hoặc những người phải đứng hoặc cam kết hoặc bị bắt giữ như trên, đối với bất kỳ tội phạm , trừ trường hợp đối với trọng tội hoặc tội phản bội rõ ràng thể hiện trong các bảo đảm cam kết , trong các kỳ nghỉ , thời gian, và ngoài hạn , nó có trách nhiệm và có thể là hợp pháp và cho người hoặc những người để cam kết hay giam giữ (trừ những người bị kết án hoặc trong thực hiện các quy trình pháp lý) hoặc bất kỳ một trên của mình hoặc đại diện của họ , để kháng cáo hoặc khiếu nại Chúa tướng hoặc Chúa Keeper, hoặc bất kỳ một trong những thẩm phán hoàng mình, một trong những băng ghế dự bị một hoặc của người khác , hoặc Barons của Bộ trưởng Tài chính của các văn bằng của mu và cho biết Chưởng , Chúa Keeper, Thẩm phán hoặc Barons hoặc bất kỳ người trong số họ , trên quan điểm của các bản sao hoặc bản sao của bảo đảm hoặc bảo đảm cam kết và Chieám , hoặc khi tuyên thệ làm bản sao hoặc bản sao đã bị từ chối được đưa ra bởi người đó hoặc người có giam giữ tù nhân hay những tù nhân là hoặc bị giam giữ , đều bãi ủy quyền và yêu cầu, theo yêu cầu bằng văn bản của người đó hoặc người , hoặc bất kỳ trên của ông , bà, hoặc đại diện cho họ , chứng thực và đăng ký bởi hai nhân chứng có mặt tại việc cung cấp các giống nhau, để giải thưởng và cấp ngữ liệu habeas dưới con dấu của Tòa án ký tên dưới đây như sau đó ông sẽ là một trong những thẩm phán, để được hướng dẫn cho nhân viên hoặc cán bộ trong có tạm giữ của bên có cam kết hoặc bắt giữ được , trả lại ngay lập tức trước khi nói Chưởng hay Chúa thủ môn hay Tư pháp như vậy, Baron hoặc bất kỳ pháp khác hoặc Baron của mức độ của mu của bất kỳ của Tòa án cho biết , và yêu cầu dịch vụ đó như nêu trên , viên chức hoặc cán bộ , mình hay của họ dưới đốc hoặc dưới cán bộ , dưới thủ môn hoặc dưới giữ, hoặc cấp phó của họ, mà bị giam giữ bên là để cam kết hoặc bị giam giữ, trong phạm vi thời gian tương ứng trước khi hạn chế, mang tù hoặc tù nhân trước khi nói Chưởng hay Chúa Keeper, hoặc thẩm phán như vậy, Barons hoặc một trong số họ , mà trước đây cho biết lệnh được thực hiện trả lại , và trong trường hợp vắng mặt của mình trước khi bất kỳ khác của họ , với sự trở lại của lệnh như vậy , và nguyên nhân thực sự của sự cam kết và Chieám và vì vậy , trong vòng hai ngày sau khi bên được đưa ra trước đó, cho biết Chưởng hay Chúa Keeper, hoặc như tư pháp hoặc Baron trước khi mà các tù nhân sẽ được đưa ra như trên, sẽ xuất viện cho biết tù nhân khỏi nhà tù của mình, lấy mình hoặc số tiền bảo chứng của họ , với một hoặc nhiều bảo lãnh hoặc các bảo đảm , trong bất kỳ một khoản theo discretions của họ , quan tâm đến chất lượng của các tù nhân và tính chất của hành vi phạm tội , cho mình hoặc của họ xuất hiện tại Tòa án của băng ghế dự bị của nhà vua sau hạn , hoặc tại số đo tiếp theo , phiên hoặc chung tù - và cung cấp cho các quận như vậy, thành phố , hoặc nơi mà các cam kết đã được, hoặc trong trường hợp là phạm tội , hoặc tại tòa án khác như vậy, nơi này cho biết hành vi phạm tội là đúng thuộc phạm vi , như trường hợp đòi hỏi phải có , và sau đó xác nhận cho biết lệnh với sự trở lại của chúng, và nói số tiền bảo chứng hoặc recognizances cho đến nói Toà án nơi xuất hiện như vậy là để được thực hiện , trừ khi nó sẽ xuất hiện cho đến nói Chưởng hay Chúa Keeper hoặc Tư pháp hoặc thẩm phán , hoặc Baron hoặc Barons , các bên có cam kết đang bị giam giữ trên một quá trình luật pháp , trật tự hoặc đảm bảo , trong một số tòa án là người có thẩm quyền về các vấn đề hình sự , hoặc bằng một số lệnh ký và đóng dấu bằng bàn tay và con dấu của bất kỳ của thẩm phán nói hoặc Barons , hoặc một số lý hay thẩm phán của Hòa bình , về các vấn đề như vậy , phạm tội cho mà pháp luật quy định các tù nhân là không bailable .

IV. Cung cấp luôn luôn , và được ban hành nó , rằng nếu bất kỳ người nào có trách nhiệm đã cố tình bỏ qua bởi không gian của cả hai điều kiện sau khi bị giam cầm , cầu nguyện một Habeas Corpus cho mở rộng của mình, người đó nên cố tình bỏ qua sẽ không có bất kỳ Corpus Habeas được cấp trong thời gian nghỉ, trong căn cứ của hành động này .

V. Và nó tiếp tục được ban hành bởi các cơ quan nói trên , rằng nếu bất kỳ viên chức hoặc cán bộ , ông hoặc dưới sĩ quan của họ hoặc thiếu cán bộ , thiếu thủ môn hoặc dưới giữ, hoặc cấp phó , sẽ bỏ qua hoặc từ chối việc nêu trên trở về , hoặc để mang lại các cơ quan, các cơ quan của tù nhân hoặc tù nhân theo lệnh của lệnh nói , trong thời gian tương ứng nêu trên , hoặc theo yêu cầu thực hiện bởi các nhà tù hoặc người đại diện của mình, từ chối cung cấp, hoặc trong không gian của sáu tiếng đồng hồ sau khi nhu cầu không phải giao cho người nói như vậy đòi hỏi , một bản sao thực sự của lệnh hoặc đảm bảo cam kết và Chieám của tù nhân như vậy, mà ông và họ đang hướng cần thiết để cung cấp cho phù hợp; tất cả và tất cả các gaolers đầu và gìn giữ tù nhân như vậy, và người khác như vậy trong có giam giữ tù nhân được giam giữ, trách nhiệm cho các hành vi phạm tội đầu tiên mất đến tù nhân hoặc bên đau buồn tổng của £ 100 ; và cho hành vi phạm tội thứ hai là tổng của £ 200 , và có trách nhiệm và là hướng làm không có khả năng để giữ hoặc thực hiện cho biết văn phòng của ông , cho biết hình phạt để được phục hồi bởi các tù nhân hoặc bên buồn , Chấp hành viên hoặc quản trị viên của mình, đối với người phạm tội như vậy , chấp hành viên của mình, hoặc quản trị , bởi bất kỳ hành động của nợ , phù hợp với, hóa đơn , nại hoặc thông tin , trong bất kỳ Toà án của nhà vua tại Westminster , trong đó không essoin , bảo vệ , đặc quyền , mệnh lệnh , đặt cược của pháp luật , hoặc ở lại bị truy tố bởi không vult ulterius prosequi hoặc sẽ được thừa nhận hoặc cho phép , hoặc nhiều hơn bất kỳ trên một imparlance , và bất kỳ phục hồi hoặc án theo phù hợp với bất kỳ bên nào buồn , sẽ là một niềm tin đầy đủ cho hành vi phạm tội đầu tiên , và bất kỳ phục hồi sau hoặc án theo phù hợp của một bên đau buồn đối với bất kỳ hành vi phạm tội sau khi bản án đầu tiên , sẽ là một đủ niềm tin để mang lại cho cán bộ hoặc người trong hình phạt cho vi phạm lần thứ .

VI . Và để phòng ngừa bất công bực tức bởi đã nhắc lại cam kết cho cùng một tội phạm ; được nó được ban hành bởi các cơ quan nêu trên , mà không có người hoặc những người mà được giao hoặc ngồi chung trên bất kỳ Habeas Corpus sẽ bất cứ lúc nào sau đây được một lần nữa bị bỏ tù hoặc cam kết cho cùng một hành vi phạm tội của bất kỳ người nào hoặc người nào , trừ theo lệnh và quá trình của Tòa án như vậy trong đó ông hoặc họ sẽ bị ràng buộc bởi số tiền bảo chứng xuất hiện , hoặc Tòa án khác có thẩm quyền của các nguyên nhân pháp lý , và nếu bất kỳ người hoặc những người khác có trách nhiệm cố ý , trái với hành động này , recommit hoặc bỏ tù, hoặc cố ý mua hoặc gây được recommitted hoặc bị bỏ tù , cho cùng một tội phạm hoặc hành vi phạm tội giả dối , bất kỳ người nào hoặc người được chuyển giao hoặc đặt ở lớn như nêu trên , hoặc là cố ý giúp đỡ hoặc hỗ trợ trong đó , thì người đó thì mất đến tù nhân hoặc bên đau buồn tổng của £ 500 ; bất kỳ giả có thể tin được hoặc biến đổi trong các bảo đảm hoặc bảo đảm cam kết tuy nhiên , để được phục hồi như trên.

VII . Cung cấp luôn luôn , và nó tiếp tục được ban hành , nếu bất kỳ người hoặc những người được cam kết cho tội phản quốc hoặc trọng tội , rõ ràng andspecially thể hiện trong các bảo đảm cam kết , khi cầu nguyện , kiến ​​nghị tại Tòa án mở trong tuần đầu tiên của thuật ngữ này , hoặc đầu tiên ngày của phiên của oyer và Terminer , hoặc giao hàng tù chung được đưa ra xét xử của mình, không được truy tố một số thời gian trong nhiệm kỳ mới , kỳ họp của oyer và Terminer , hoặc giao hàng tù chung , sau khi cam kết như vậy , nó có trách nhiệm và có thể là hợp pháp và cho Thẩm phán Tòa án của vua của Bench và thẩm phán của oyer và Terminer hoặc giao hàng chung tù , và họ đều bãi yêu cầu khi chuyển động để họ thực hiện trong Tòa án mở ngày cuối cùng của thời hạn , kỳ họp hoặc tù giao hàng, hoặc của tù nhân hoặc bất kỳ một trong danh nghĩa của mình , để thiết lập tự do các tù nhân khi tại ngoại, trừ khi nó có vẻ như Thẩm phán và Hội thẩm phán khi tuyên thệ thực hiện mà các nhân chứng cho vua không thể được sản xuất cùng kỳ hạn , kỳ họp hoặc giao tù chung ; và nếu bất kỳ người hoặc những người cam kết như trên, khi cầu nguyện , kiến ​​nghị tại Tòa án mở trong tuần đầu tiên trong ngày hạn hoặc đầu tiên của khóa họp của oyer và Terminer và giao hàng chung tù , để đưa ra xét xử của mình, sẽ không bị truy tố và cố gắng nhiệm kỳ thứ hai , kỳ họp của oyer và Terminer hoặc giao hàng chung tù , sau khi cam kết của mình , hoặc khi thử nghiệm của ông sẽ được tuyên bố trắng án , thì sẽ được thải ra từ các tù của mình.

VIII . Cung cấp luôn luôn , rằng không có gì trong hành động này được áp dụng để xả ra khỏi nhà tù bất cứ người bị buộc tội trong nợ nần, hoặc hành động khác, hoặc với quá trình trong bất kỳ nguyên nhân dân sự , nhưng mà sau khi ông sẽ được giải phóng khỏi sự giam cầm như vậy cho hành vi phạm tội của mình, ông được tạm giữ theo quy định của pháp luật , cho phù hợp khác .

IX. Cung cấp luôn luôn , và được nó được ban hành bởi các cơ quan nói trên , rằng nếu bất kỳ người hoặc những người , đối tượng của lĩnh vực này , được cam kết bất kỳ nhà tù , hoặc bị giam giữ của bất kỳ viên chức hoặc cán bộ nào, cho bất kỳ vấn đề tội phạm hình sự , rằng: cho biết người sẽ không được gỡ bỏ từ nhà tù cho biết , lưu ký vào sự giám sát của bất kỳ viên chức hoặc cán bộ khác , trừ khi đó là bằng Habeas Corpus hoặc một số khác của pháp luật lệnh , hoặc nơi các tù nhân được gửi đến cảnh sát viên hoặc nhân viên cấp dưới khác để thực hiện tù nhân như một số tù chung ; hoặc nơi bất kỳ người nào để gửi theo lệnh của bất kỳ Thẩm phán hoặc giá hoặc Justice of the Peace , cho bất kỳ trại tế bần chung hoặc nhà sửa chữa , hoặc nơi các tù nhân được lấy ra từ một nhà tù hay nơi khác trong cùng một quận , để thử nghiệm hoặc xả của mình trong khóa học do pháp luật , hoặc trong trường hợp hỏa hoạn bất ngờ hoặc nhiễm trùng, hoặc cần thiết khác , và nếu bất kỳ người hoặc những người có trách nhiệm , sau khi nói trên cam kết như vậy , lập và ký , hoặc khẩu hiệu bất kỳ đảm bảo hoặc đảm bảo cho việc loại bỏ đó nêu trên , trái với hành động này , cũng ông mà làm cho hay các dấu hiệu hoặc countersigns bảo đảm hoặc bảo đảm với tư cách sĩ quan , công chức đó chấp hành hoặc thực hiện như nhau, phải chịu đau khổ và chịu những đau đớn và tịch thu trong hành động này trước đã đề cập, cả về các tội đầu tiên và thứ hai tương ứng, để được phục hồi theo cách nói trên của phía buồn lòng.

X. cung cấp cũng có, và nó tiếp tục được ban hành bởi các cơ quan nói trên , nó sẽ và có thể là hợp pháp và cho bất kỳ tù nhân và tù nhân như nêu trên , để di chuyển và có được của mình hoặc Habeas Corpus của họ , cũng ra khỏi Tòa án Tối cao Chancery hoặc Toà án của Bộ trưởng Tài Chính , như ra khỏi tòa án của vua của Bench hoặc Pleas chung , hoặc một trong hai người trong số họ , và nếu nói Chưởng hay Chúa Keeper, hoặc bất kỳ Thẩm phán hoặc Thẩm phán , Baron hoặc Barons cho thời gian được về mức độ các mu , của bất kỳ của Tòa án nêu trên , trong thời gian nghỉ, khi đó các bản sao hoặc bản sao của bảo đảm hoặc bảo đảm cam kết hoặc Chieám , hoặc khi tuyên thệ làm bản sao hoặc bản sao đã bị từ chối như nêu trên , sẽ từ chối bất kỳ lệnh của Habeas Corpus bởi hành động này cần thiết để được cấp , được chuyển cho như nêu trên thì rẽ mất đến các tù nhân hoặc bên đau buồn tổng của £ 500 , để được phục hồi theo cách nói trên.

XI . Và có thể là tuyên bố và ban hành bởi các cơ quan nêu trên , mà một Corpus Habeas , theo ý định đích thực và ý nghĩa của hành động này , có thể được hướng dẫn và thấy trong bất kỳ quận Palatine, các cảng Cinque , hay những nơi đặc quyền khác trong Kindgom nước Anh , thống trị của xứ Wales , hoặc thị trấn Berwick trên Tweed, và các đảo Jersey và Guernsey , luật pháp hoặc sử dụng cho dù trái .

XII . Và , để ngăn chặn bỏ tù bất hợp pháp trong các nhà tù ngoài biển , có thể là tiếp tục được ban hành bởi các cơ quan nêu trên mà không có chủ đề của lĩnh vực này mà bây giờ là , hoặc sau này sẽ là một cư dân hoặc resiant Trong Anh thuộc Vương quốc Anh , thống trị của xứ Wales , hoặc thị trấn của Berwick trên Tweed, sẽ hoặc có thể được gửi vào tù Scotland, Ireland , Jersey , Guernsey , Tangier , hoặc vào pháo đài, đơn vị đồn trú , hải đảo, hoặc những nơi bên ngoài các vùng biển , trong đó có hoặc bất cứ lúc nào sau đây phải nằm trong hoặc không có lãnh địa của Đức Vua , người thừa kế , hoặc kế , và rằng tất cả các tù như vậy là hướng ban hành và tòa tuyên phán là bất hợp pháp , và rằng nếu bất kỳ của các đối tượng nói tại là hoặc sau này sẽ được để bị cầm tù , tất cả mọi người và người đó để bỏ tù, có trách nhiệm và có thể , cho tất cả các tù như vậy, duy trì , nhờ hành động này , một hành động hoặc hành động của tù sai , trong bất kỳ Toà án của Hoàng thượng của hồ sơ, đối với người hoặc những người bởi ai người ấy sẽ được như vậy cam kết , bắt giữ , bị cầm tù , gửi tù nhân , hoặc vận chuyển , trái với ý nghĩa thực sự của hành động này , và chống lại tất cả hoặc bất kỳ người nào hay người đó sẽ định hình , mưu , viết , có con dấu , hoặc khẩu hiệu bất kỳ lệnh hoặc bằng văn bản cho cam kết như vậy , Chieám , bỏ tù, hoặc giao thông vận tải , hoặc được tư vấn , giúp đỡ , hoặc hỗ trợ trong việc giống nhau, hoặc bất kỳ người trong số họ , và nguyên đơn trong từng hành động như vậy sẽ có sự phán xét để thu hồi chi phí cú ăn ba của mình , bên cạnh những thiệt hại , gây tổn thương nên được đưa ra không được thấp hơn £ 500 , trong đó hành động không chậm trễ , ở lại, hoặc ngừng làm thủ tục theo nguyên tắc , trình tự, hoặc lệnh , cũng không phải không có lệnh , bảo vệ, hoặc đặc quyền nào, cũng không có nhiều hơn một imparlance , được cho phép , ngoại trừ quy định như vậy của tòa án trong đó các hành động phụ thuộc , sản xuất tại tòa án mở , như được nghĩ trong công lý cần thiết , cho các nguyên nhân đặc biệt được thể hiện trong các quy tắc nói, và người hoặc những người cố ý thì khung , xoay sở , viết , niêm phong hoặc khẩu hiệu bất kỳ lệnh cho cam kết như vậy , Chieám , hoặc vận chuyển, hoặc sẽ để cam kết , bắt giữ, bỏ tù, hoặc vận chuyển bất kỳ người hoặc những người trái với hành động này , hoặc có cách nào tư vấn , trợ giúp , hoặc trợ giúp trong đó, bị kết án đó hợp pháp , sẽ bị vô hiệu hóa từ Từ đó phải chịu bất kỳ văn phòng của niềm tin hoặc lợi nhuận trực thuộc cho biết lĩnh vực của Anh, thống trị của xứ Wales , hoặc thị trấn Berwick trên Tweed, hoặc bất kỳ của các đảo , lãnh thổ hoặc lãnh thereunto thuộc , và phải chịu và duy trì những cơn đau , tiền phạt và tịch thu bị hạn chế hoặc bị từ chối , và được cung cấp, trong và quy chế của Dự phòng và Praemunire thực hiện trong năm thứ mười sáu của vua Richard lần thứ hai , và không có khả năng của bất kỳ xung đột với nhà vua, người thừa kế hoặc người kế nhiệm ông , của nói tịch thu , thiệt hại hoặc khuyết tật hoặc bất kỳ của họ .

XIII . Cung cấp luôn luôn , rằng không có gì trong hành động này được áp dụng để cung cấp cho lợi ích cho bất kỳ người nào có trách nhiệm theo hợp đồng bằng văn bản đồng ý với bất kỳ thương gia , chủ sở hữu đồn điền bất kỳ , hoặc người nào khác , được vận chuyển đến bất kỳ bộ phận ngoài biển, và nhận một cách nghiêm túc theo thoả thuận như vậy, mặc dù người đó sau này sẽ từ bỏ hợp đồng đó.

XIV . Cung cấp luôn luôn , và được ban hành nó , rằng nếu bất kỳ người hoặc những người , bị kết án hợp pháp của bất kỳ trọng tội, thì trong Tòa án mở , cầu nguyện để được vận chuyển ngoài biển, và Toà án nghĩ rằng phù hợp để anh ta hoặc họ trong nhà tù cho mục đích đó , người đó hoặc người có thể được vận chuyển vào bất kỳ bộ phận ngoài biển ; hành động này , hoặc bất cứ điều gì trong đó có ngược lại mặc dù .

XV . Cung cấp cũng có, và nó được ban hành , không có gì trong đây sẽ được coi là , hiểu , hoặc thực hiện, mở rộng để cầm tù bất cứ người nào trước khi ngày đầu tiên của tháng Sáu , 1670 và chín, hoặc bất cứ điều gì khuyên , mua sắm, nếu không thực hiện , liên quan đến tù như vậy , bất kỳ điều trong đây ngược lại mặc dù .

XVI . Cung cấp cũng có, mà nếu có người hoặc những người bất cứ lúc nào resiant thời gian trong lĩnh vực này thì có phạm tội vốn ở Scotland hoặc Ireland, hoặc bất kỳ của các đảo , hoặc trồng nước ngoài của nhà vua , người thừa kế hoặc người kế nhiệm ông , nơi mà người phải bị xét xử vì hành vi phạm tội như vậy thì người đó hoặc người có thể được gửi đến nơi như vậy , có nhận được thử nghiệm như vậy, theo cách như cùng có thể đã được sử dụng để lập hành động này , bất cứ điều gì trong tài liệu này đều đi ngược lại mặc dù .

XVII . Cung cấp cũng có, và nó được ban hành , mà không có người hoặc những người sẽ bị kiện , impleaded , lạm dụng tình dục , hoặc gặp khó khăn đối với bất kỳ hành vi phạm tội chống lại hành động này , trừ khi các bên vi phạm bị kiện hoặc impleaded cho cùng trong vòng hai năm tại nhiều nhất sau khi thời gian như vậy trong đó shallbe phạm pháp luật , trong trường hợp bên buồn không được sau đó trong nhà tù , và nếu anh được ở trong tù, sau đó trong không gian của hai năm sau khi decease của người bị cầm tù , hoặc giao hàng của mình ra khỏi nhà tù , mà đầu tiên sẽ xảy ra .

XVIII . Và , với ý định không có người có thể tránh được thử nghiệm của mình - hoặc giao tù chung bằng cách mua sắm loại bỏ trước khi các số đo , tại thời điểm đó của anh có thể được đưa trở lại để nhận thử nghiệm của mình ở đó , có thể là ban hành , rằng sau khi số đo tuyên bố cho rằng quận nơi các tù nhân bị giam giữ , không có người sẽ bị loại ra khỏi tù chung dưới bất kỳ Corpus Habeas cấp trong căn cứ của hành động này , nhưng khi có Habeas Corpus đó sẽ được đưa ra trước thẩm phán của Tòa án số đo trong mở , người liền sau khi làm những gì để thẩm phán sẽ về phận sự .

XIX . Cung cấp , tuy nhiên, rằng sau khi số đo được kết thúc, bất kỳ người nào hoặc người bị bắt giữ , có thể có Habeas Corpus của mình theo sự chỉ đạo và mục đích của hành động này .

XX . Và có thể là cũng được ban hành bởi các cơ quan nói trên , rằng nếu bất kỳ thông tin , phù hợp với, hoặc hành động sẽ được đưa ra trưng bày hoặc chống lại bất kỳ người nào hoặc người nào vi phạm cam kết hoặc được cam kết chống lại hình thức của luật này , nó sẽ được hợp pháp như vậy bị cáo bào chữa các vấn đề chung , họ không có tội , hoặc là họ nợ không có gì , và để cung cấp cho vấn đề đặc biệt trong bằng chứng cho bồi thẩm đoàn rằng sẽ bằng như nhau, mà quan trọng được kêu gọi đã được tốt và đầy đủ vấn đề trong pháp luật có thải cho biết bị cáo hoặc bị cáo so với thông tin cho biết , phù hợp với, hoặc hành động , và nói rằng vấn đề sẽ được sau đó là có sẵn cho anh ta hoặc họ, để tất cả các tính năng, như thể anh hoặc họ đã difficiently đã nhận , quy định , hoặc tố cáo , cùng một vấn đề trong thanh xả thông tin như vậy, phù hợp với, hay hành động.


XXI . Và bởi vì nhiều lần người bị buộc tội phản quốc nhỏ hoặc trọng tội , hoặc là chấp nhận thanh thereunto , cam kết trên chỉ nghi ngờ , và rồi họ là bailable , hoặc không , tùy theo hoàn cảnh làm ra rằng những nghi ngờ ít nhiều nặng , được biết đến nhiều nhất để các thẩm phán hòa bình mà phạm người , và có các kỳ thi trước đó, hoặc thẩm phán khác của Hòa Bình trong quận , do đó nó được ban hành khi bất kỳ người nào sẽ xuất hiện để được thực hiện bởi bất kỳ Thẩm phán hoặc Justice of the Peace , và tính như phụ kiện trước khi thực tế , đối với bất kỳ tội phản quốc nhỏ hoặc trọng tội , hoặc khi đó nghi ngờ , hoặc nghi ngờ phản bội nhỏ hoặc trọng tội , mà tội phản quốc nhỏ hoặc trọng tội phải rõ ràng và thể hiện đặc biệt trong việc bảo hành cam kết , người đó thì không được loại bỏ hoặc bảo lãnh bởi đức hạnh của hành động này , hay trong bất cứ cách nào khác hơn là họ có thể có được trước khi việc làm của hành động này


    [Assented to 27th May, 1679.]
    I. WHEREAS great delays have been used by sheriffs, gaolers and other officers, to whose custody, any of the King's subjects have been committed for criminal or supposed criminal matters, in making returns of writs of habeas corpus to them directed, by standing out an aliaspluries habeas corpus, and sometimes more, and by other shifts to avoid their yielding obedience to such writs, contrary to their duty and the known laws of the land, whereby many of the King's subjects have been, and hereafter may be long detained in prison, in such cases where by law they are bailable, to their great charges and vexation. and

    II. For the prevention whereof, and the more speedy relief of all persons imprisoned for any such criminal or supposed criminal matters; be it enacted by the King's most excellent majesty, by and with the advice and consent of the lords spiritual and temporal, and Commons, in this present Parliament assembled, and by the authority thereof. That whensoever any person or persons shall bring any habeas corpus directed unto any sheriff or sheriffs, gaoler, minister or other person whatsoever, for any person in his or their custody, and the said writ shall be served upon the said officer, or left at the gaol or prison with any of the under-officers, under-keepers, or deputy of the said officers or keepers, that the said officer or officers, his or their under-officers, under-keepers or deputies, shall, within three days after the service thereof as aforesaid, (unless the commitment aforesaid were for treason or felony, plainly and specially expressed in the warrant of commitment), upon payment or tender of the charges of bringing the said prisoner, to be ascertained by the Judge or Court that awarded the same, and endorsed upon the said writ, not exceeding twelve pence per mile, and upon security given by his own bond to pay the charges of carrying back the prisoner, if he shall be remanded by the Court or Judge to which he shall be brought according to the true intent of this present act, and that he will not make any escape by the way, make return of such writ; and bring, or cause to be brought, the body of the party so committed or restrained, unto or before the Lord Chancellor, or Lord Keeper of the great seal of England for the time being, or the Judges or Barons of the said Court from which the said writ shall issue, or unto and before such other person or persons before whom the said writ is made returnable, according to the command thereof; and shall then likewise certify the true causes of his detainer or imprisonment, unless the commitment of the said party be in any place beyond the distance of twenty miles from the place or places where such Court or person is or shall be residing; and if beyond the distance of twenty miles, and not above one hundred miles, then within the space of ten days, and if beyond the distance of one hundred miles, then within the space of twenty days, after such delivery aforesaid, and no longer.

    III. And to the intent that no sheriff, gaoler or other officer, may pretend ignorance of the import of any such writ; be it enacted by the authority aforesaid, That all such writs shall be marked in this manner, Per statutum tricesimo primo Caroli secundi Regis, and shall be signed by the person that awards the same; and if any person or persons shall be or stand committed or detained as aforesaid, for any crime, unless for felony or treason plainly expressed in the warrant of commitment, in the vacation-time, and out of term, it shall and may be lawful to and for the person or persons so committed or detained (other than persons convict or in execution of legal process) or any one on his or their behalf, to appeal or complain to the Lord Chancellor or Lord Keeper, or any one of his Majesty's Justices, either of the one bench or of the other, or the Barons of the Exchequer of the degree of the coif; and the said Lord Chancellor, Lord Keeper, Justices or Barons or any of them, upon view of the copy or copies of the warrant or warrants of commitment and detainer, or otherwise upon oath made that such copy or copies were denied to be given by such person or persons in whose custody the prisoner or prisoners is or are detained, are hereby authorized and required, upon request made in writing by such person or persons, or any on his, her, or their behalf, attested and subscribed by two witnesses who were present at the delivery of the same, to award and grant an habeas corpus under the seal of such Court whereof he shall then be one of the Judges, to be directed to the officer or officers in whose custody the party so committed or detained shall be, returnable immediate before the said Lord Chancellor or Lord Keeper or such Justice, Baron or any other Justice or Baron of the degree of the coif of any of the said Courts; and upon service thereof as aforesaid, the officer or officers, his or their under-officer or under-officers, under-keeper or under-keepers, or their deputy, in whose custody the party is so committed or detained, shall, within the times respectively before limited, bring such prisoner or prisoners before the said Lord Chancellor or Lord Keeper, or such Justices, Barons or one of them, before whom the said writ is made returnable, and in case of his absence before any other of them, with the return of such writ, and the true causes of the commitment and detainer; and thereupon, within two days after the party shall be brought before them, the said Lord Chancellor or Lord Keeper, or such Justice or Baron before whom the prisoner shall be brought as aforesaid, shall discharge the said prisoner from his imprisonment, taking his or their recognizance, with one or more surety or sureties, in any sum according to their discretions, having regard to the quality of the prisoner and nature of the offense, for his or their appearance in the Court of the King's bench the term following, or at the next assizes, sessions or general gaol-delivery of and for such county, city, or place where the commitment was, or where the offense was committed, or in such other court where the said offense is properly cognizable, as the case shall require, and then shall certify the said writ with the return thereof, and the said recognizance or recognizances unto the said Court where such appearance is to be made; unless it shall appear unto the said Lord Chancellor or Lord Keeper or Justice or Justices, or Baron or Barons, that the party so committed is detained upon a legal process, order or warrant, out of some court that hath jurisdiction of criminal matters, or by some warrant signed and sealed with the hand and seal of any of the said Justices or Barons, or some Justice or Justices of the Peace, for such matters or offenses for the which by the law the prisoner is not bailable.

    IV. Provided always, and be it enacted, that if any person shall have willfully neglected by the space of two whole terms after his imprisonment, to pray a Habeas Corpus for his enlargement, such person so willfully neglecting shall not have any Habeas Corpus to be granted in vacation time, in pursuance of this act.

    V. And be it further enacted by the authority aforesaid, that if any officer or officers, his or their under-officer or under-officers, under-keeper or under-keepers, or deputy, shall neglect or refuse to make the returning aforesaid, or to bring the body or bodies of the prisoner or prisoners according to the command of the said writ, within the respective times aforesaid, or upon demand made by the prison or person in his behalf, shall refuse to deliver, or within the space of six hours after demand shall not deliver to said person so demanding, a true copy of the warrant or warrants of commitment and detainer of such prisoner, which he and they are hereby required to deliver accordingly; all and every the head gaolers and keepers of such prisoner, and such other person in whose custody the prisoner shall be detained, shall for the first offense forfeit to the prisoner or party grieved the sum of one hundred pounds; and for the second offense the sum of two hundred pounds, and shall and is hereby made incapable to hold or execute his said office; the said penalties to be recovered by the prisoner or party grieved, his executors or administrators, against such offender, his executors, or administrators, by any action of debt, suit, bill, plaint or information, in any of the King’s Courts at Westminster, wherein no essoin, protection, privilege, injunction, wager of law, or stay of prosecution by non vult ulterius prosequi or otherwise, shall be admitted or allowed, or any more than on one imparlance; and any recovery or judgment at the suit of any party grieved, shall be a sufficient conviction for the first offense; and any after recovery or judgment at the suit of a party grieved for any offense after the first judgment, shall be a sufficient conviction to bring the officers or person within the said penalty for the second offense.

    VI. And for the prevention of unjust vexation by reiterated commitments for the same offense; be it enacted by the authority aforesaid, that no person or persons which shall be delivered or sit at large upon any Habeas Corpus shall at any time hereafter be again imprisoned or committed for the same offense by any person or persons whatsoever, other than by the legal order and process of such Court wherein he or they shall be bound by recognizance to appear, or other Court having jurisdiction of the cause; and if any other person or persons shall knowingly, contrary to this act, recommit or imprison, or knowingly procure or cause to be recommitted or imprisoned, for the same offense or pretended offense, any person or persons delivered or set at large as aforesaid, or be knowingly aiding or assisting therein, then he or they shall forfeit to the prisoner or party grieved the sum of five hundred pounds; any colourable pretense or variation in the warrant or warrants of commitment notwithstanding, to be recovered as aforesaid.

    VII. Provided always, and be it further enacted, that if any person or persons shall be committed for high treason or felony, plainly andspecially expressed in the warrant of commitment, upon his prayer or petition in open Court the first week of the term, or first day of the Sessions of Oyer and Terminer, or general gaol delivery to be brought to his trial, shall not be indicted some time in the next term, Session of Oyer and Terminer, or general gaol delivery, after such commitment; it shall and may be lawful to and for the Judges of the Court of King’s Bench and Justices of Oyer and Terminer or general gaol delivery, and they are hereby required upon motion to them made in open Court the last day of the term, Session or gaol delivery, either by the prisoner or any one in his behalf, to set at liberty the prisoner upon bail, unless it appear to the Judges and Justices upon oath made that the witnesses for the King could not be produced the same term, Session or general gaol delivery; and if any person or persons committed as aforesaid, upon his prayer or petition in open Court the first week of the term or first day of the Session of Oyer and Terminer and general gaol delivery, to be brought to his trial, shall not be indicted and tried the second term, Session of Oyer and Terminer or general gaol delivery, after his commitment, or upon his trial shall be acquitted, he shall be discharged from his imprisonment.

    VIII. Provided always, that nothing in this act shall extend to discharge out of prison any person charged in debt, or other action, or with process in any civil cause, but that after he shall be discharged of his imprisonment for such his criminal offense, he shall be kept in custody according to the law, for such other suit.

    IX. Provided always, and be it enacted by the authority aforesaid, that if any person or persons, subjects of this realm, shall be committed to any prison, or in custody of any officer or officers whatsoever, for any criminal or supposed criminal matter, that the said person shall not be removed from the said prison and custody into the custody of any other officer or officers; unless it be by Habeas Corpus or some other legal writ; or where the prisoner is delivered to the constable or other inferior officer to carry such prisoner to some common gaol; or where any person so sent by order of any Judge or Assize or Justice of the Peace, to any common workhouse or house of correction; or where the prisoner is removed from one prison or place to another within the same county, in order to his or her trial or discharge in due course of law; or in case of sudden fire or infection, or other necessity; and if any person or persons shall, after such commitment aforesaid, make out and sign, or countersign any warrant or warrants for such removal aforesaid, contrary to this act; as well he that makes or signs or countersigns such warrant or warrants to as the officer or officers that obey or execute the same, shall suffer and incur the pains and forfeitures in this act before mentioned, both for the first and second offenses respectively, to be recovered in manner aforesaid by the party grieved.

    X. Provided also, and be it further enacted by the authority aforesaid, that it shall and may be lawful to and for any prisoner and prisoners as aforesaid, to move and obtain his or their Habeas Corpus, as well out of the High Court of Chancery or Court of Exchequer, as out of the Courts of King’s Bench or Common Pleas, or either of them; and if the said Lord Chancellor or Lord Keeper, or any Judge or Judges, Baron or Barons for the time being of the degree of the coif, of any of the Courts aforesaid, in the vacation time, upon such of the copy or copies of the warrant or warrants of commitment or detainer, or upon oath made that such copy or copies were denied as aforesaid, shall deny any writ of Habeas Corpus by this act required to be granted, being moved for as aforesaid, they shall severally forfeit to the prisoner or party grieved the sum of five hundred pounds, to be recovered in manner aforesaid.

    XI. And be it declared and enacted by the authority aforesaid, that an Habeas Corpus, according to the true intent and meaning of this act, may be directed and seen in any county Palatine, the Cinque Ports, or other privileged places within the Kindgom of England, dominion of Wales, or town of Berwick upon Tweed, and the islands of Jersey and Guernsey; any law or usage to the contrary notwithstanding.

    XII. And, for preventing illegal imprisonments in prisons beyond the seas, be it further enacted by the authorities aforesaid that no subject of this realm that now is, or hereafter shall be an inhabitant or resiant Of this Kingdom of England, dominion of Wales, or town of Berwick upon Tweed, shall or may be sent prisoner into Scotland, Ireland, Jersey, Guernsey, Tangier, or into forts, garrisons, islands, or places beyond the seas, which are or at any time hereafter shall be within or without the dominions of His Majesty, his heirs, or successors; and that every such imprisonment is hereby enacted and adjudged to be illegal; and that if any of the said subjects now is or hereafter shall be so imprisoned, every such person and persons so imprisoned, shall and may, for every such imprisonment, maintain, by virtue of this act, an action or actions of false imprisonment, in any of His Majesty’s Courts of record, against the person or persons by whom he or she shall be so committed, detained, imprisoned, sent prisoner, or transported, contrary to the true meaning of this act, and against all or any person or persons that shall frame, contrive, write, seal, or countersign any warrant or writing for such commitment, detainer, imprisonment, or transportation, or shall be advising, aiding, or assisting in the same, or any of them; and the plaintiff in every such action shall have judgment to recover his treble costs, besides damages, which damages so to be given shall not be less than five hundred pounds; in which action no delay, stay, or stop of proceeding by rule, order, or command, nor no injunction, protection, or privilege whatsoever, nor any more than one imparlance, shall be allowed, excepting such rule of the Court wherein the action shall depend, made in open Court, as shall be thought in justice necessary, for special cause to be expressed in the said rule; and the person or persons who shall knowingly frame, contrive, write, seal or countersign any warrant for such commitment, detainer, or transportation, or shall so commit, detain, imprison, or transport any person or persons contrary to this act, or be any way advising, aiding, or assisting therein, being lawfully convicted thereof, shall be disabled from thenceforth to bear any office of trust or profit within the said realm of England, dominion of Wales, or town of Berwick upon Tweed, or any of the islands, territories, or dominions thereunto belonging, and shall incur and sustain the pains, penalties and forfeitures limited, or denied, and provided, in and by the statute of Provision and Praemunire made in the sixteenth year of King Richard the Second; and be incapable of any pardon from the King, his heirs or successors, of the said forfeitures, losses or disabilities or any of them.

    XIII. Provided always, that nothing in this act shall extend to give benefit to any person who shall by contract in writing agree with any merchant or owner of any plantation, or other person whatsoever, to be transported to any parts beyond the seas, and receive earnest upon such agreement, although that afterwards such person shall renounce such contract.

    XIV. Provided always, and be it enacted, that if any person or persons, lawfully convicted of any felony, shall in open Court, pray to be transported beyond the seas, and the Court shall think fit to leave him or them in prison for that purpose, such person or persons may be transported into any parts beyond the seas; this act, or anything therein contained to the contrary notwithstanding.

    XV. Provided also, and be it enacted, that nothing herein contained shall be deemed, construed, or taken, to extend to the imprisonment of any person before the first day of June, one thousand six hundred seventy and nine, or to any thing advised, procured or otherwise done, relating to such imprisonment; any thing herein contained to the contrary notwithstanding.

    XVI. Provided also, that if any person or persons at any time resiant in this realm, shall have committed any capital offense in Scotland or Ireland, or any of the islands, or foreign plantation of the King, his heirs or successors, where he or she ought to be tried for such offense, such person or persons may be sent to such place, there to receive such trial, in such manner as the same might have been used before the making of this act; any thing herein contained to the contrary notwithstanding.

    XVII. Provided also, and be it enacted, that no person or persons shall be sued, impleaded, molested, or troubled for any offense against this act, unless the party offending be sued or impleaded for the same within two years at the most after such time wherein the offense shallbe committed, in case the party grieved shall not be then in prison; and if he shall be in prison, then within the space of two years after the decease of the person imprisoned, or his or her delivery out of prison, which shall first happen.

    XVIII. And, to the intent no person may avoid his trial – or general gaol delivery by procuring his removal before the Assizes, at such time as he cannot be brought back to receive his trial there, be it enacted, that after the Assizes proclaimed for that county where the prisoner is detained, no person shall be removed from the common gaol under any Habeas Corpus granted in pursuance of this act, but upon any such Habeas Corpus shall be brought before the Judge of Assizes in open Court, who is thereupon to do what to justices shall appertain.

    XIX. Provided nevertheless, that after the Assizes are ended, any person or persons detained, may have his or her Habeas Corpus according to the direction and intention of this act.

    XX. And be it also enacted by the authority aforesaid, that if any information, suit, or action shall be brought or exhibited against any person or persons for any offense committed or to be committed against the form of this law, it shall be lawful for such defendant to plead the general issue, that they are not guilty, or that they owe nothing, and to give such special matter in evidence to the jury that shall by the same, which matter being pleaded had been good and sufficient matter in law to have discharged the said defendant or defendants against the said information, suit, or action, and the said matter shall be then as available to him or them, to all intents and purposes, as if he or they had difficiently pleaded, set forth, or alledged, the same matter in bar or discharge of such information, suit, or action.



    XXI. And because many times persons charged with petty treason or felony, or as acceptances thereunto, are committed upon suspicion only, whereupon they are bailable, or not, according as the circumstances making out that suspicions are more or less weighty, which are best known to the Justices of Peace that committed the persons, and have the examinations before them, or to other Justices of the Peace in the county; be it therefore enacted that when any person shall appear to be committed by any Judge or Justice of the Peace, and charged as accessory before the fact, to any petty treason or felony, or upon suspicion thereof, or with suspicion of petty treason or felony, which petty treason or felony shall be plainly and specially expressed in the warrant of commitment, that such person shall not be removed or bailed by virtue of this act, or in any other manner than they might have been before the making of this act 

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code