Showing posts with label Hoc Luat. Show all posts
Showing posts with label Hoc Luat. Show all posts

Tuesday, October 20, 2026

SINH VIÊN LUẬT HILLARY CLINTON

—
Hillary Diane Rodham Clinton (sinh năm 1947) là thượng nghị sĩ Mỹ, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ, và là ứng cử viên đảng Dân Chủ cho chức vị tổng thống trong cuộc tổng tuyển cử năm 2016 của Mỹ.
Hillary Clinton có một sự nghiệp chính trị bắt đầu từ rất sớm, trước cả khi bà bước vào Nhà Trắng năm 1993 trong vai trò Đệ nhất phu nhân, vợ của Tổng thống Mỹ khi ấy là Bill Clinton. Trước khi trở thành một người vợ chính khách tận tụy chăm lo cho sự nghiệp của chồng mình, Hillary Clinton đã là luật sư, giảng viên luật, nhà hoạt động nhân quyền nổi bật chuyên về quyền trẻ em và quyền phụ nữ.

Bà Clinton tiếp tục sự nghiệp chính trị của mình một cách độc lập sau khi tổng thống Bill Clinton hết nhiệm kỳ và cuối cùng sau hai lần thất bại trước tổng thống Barack Obama năm 2008 và 2012, năm nay bà Clinton đã trở thành ứng cử viên của đảng Dân Chủ cho chức vị tổng thống Mỹ. Bà là ứng cử viên nữ đầu tiên cho chức vị cao nhất đất nước trong lịch sử 240 năm của đất nước cờ hoa non trẻ nhưng quyền lực bậc nhất thế giới.
Trong cuốn tiểu sử “Người Phụ Nữ Lãnh Đạo: Cuộc Đời Hillary Clinton” (A Woman In Charge: The Life of Hillary Clinton) xuất bản năm 2007 của mình, tác giả nhà báo kỳ cựu Carl Bernstein đã tường thuật lại chi tiết câu chuyện cuộc đời đầy thăng trầm của bà Hillary Clinton.
Đoạn trích sau đây về giai đoạn học luật rất sôi nổi tại Yale đầu những năm 70 sau khi tốt nghiệp đại học Wellesley của bà Clinton cho chúng ta thêm một số kiến giải về quan điểm và tư tưởng chính trị của bà.

Trích đoạn “Người Phụ Nữ Lãnh Đạo: Cuộc Đời Hillary Clinton”

Carl Bernstein (Alfred A. Knopf xuất bản năm 2007):

“…Hillary đã luôn có tham vọng làm điều tốt một cách vĩ đại, và ngay từ những ngày học tại đại học Wellesley bà đã chớm thể hiện một bản năng trong việc trung hòa nguyên tắc với sự thực dụng – mà không phải từ bỏ những niềm tin cơ bản. Cách tiếp cận này có vẻ là một cách khả thi và mạnh mẽ để làm điều tốt trên diện rộng.
Bill Clinton cũng muốn làm điều tốt một cách vĩ đại nhưng tầm nhìn của ông bị giới hạn ở mức chính trị trần tục và thực tế. Hillary nhìn lên những tầm cao hơn và hướng tới thông điệp của linh mục John Wesley về sự phục vụ cộng đồng. Một phần những gì mà Hillary mang tới cuộc hôn nhân của bà với Bill chính là một chí hướng gần như tới mức của một đấng cứu thế, một tinh thần cao thượng, và một tầm nhìn trong sáng vượt lên trên chính trị chính thống. Bill có những niềm tin chính trị vững vàng nhưng “với Bill, bạn cảm giác ông ta chỉ muốn làm tổng thống trong khi với Hillary bà ta có một nhiệt tâm nóng hổi cho việc làm tổng thống,” một người bạn từ thời học luật cho biết. Hillary dường như đã có một niềm tin từ thời niên thiếu rằng cuộc đời của bà là một cuộc tìm kiếm bất tận để lần ra cái đúng đắn và biến nó thành sự thật.
Trong cuộc tìm kiếm đó, Hillary nộp hồ sơ và được nhận vào cả hai trường luật Harvard và Yale nhưng bà chần chừ đưa ra quyết định cuối cùng sẽ vào trường nào. Ngay từ đầu bà ngả theo hướng Yale. Chính trường luật Yale, chứ không phải trường luật Harvard, là ngọn cờ đầu của phong trào những năm 1960 xem luật pháp như là công cụ chính cho việc thay đổi xã hội, nối gót Thurgood Marshall [luật sư nổi tiếng và là thẩm phán da màu đầu tiên của Tối Cao Pháp Viện Mỹ] và suy tôn những luật sư dân quyền vốn xem tòa án – thay vì quốc hội, tổng thống hay ngành lập pháp – là nơi bắt nguồn lực đẩy cho sự hòa hợp chủng tộc và bảo vệ dân quyền của người dân Mỹ.đã 
Thư viện trường luật đại học Yale (Nguồn ảnh: wikimedia.org)
Việc chọn Yale của Hillary được chính thức quyết định sau một chuyến thăm tìm hiểu trường luật Harvard của bà, khi bà được giới thiệu với một vị giáo sư danh tiếng. Vị giáo sư này đã nói với Hillary rằng “Ừ thì đầu tiên phải nói là chúng tôi không có đối thủ thật sự. Thứ hai, chúng tôi không cần thêm phụ nữ.”
Hillary tới Yale vào mùa thu năm 1969. Bà là một trong 27 nữ sinh viên trong số 235 sinh viên luật của trường. Hillary mang theo mình từ trường Wellesley danh tiếng bản thân bà như là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và một nhà hoạt động có vẻ còn vĩ đại hơn những gì đã được biết đến. “Chúng tôi đều cảm thấy kính nể sự dũng cảm của Hillary,” Carolyn Ellis, một bạn học mới của Hillary, kể. “Khi cô ấy vừa có mặt là chúng tôi đã nghĩ ngay rằng cô ấy là người lãnh đạo. Chúng tôi đều đã thấy hình cô ấy trên tạp chí quốc gia và ngay ở đấy chỉ ba tháng sau chúng tôi được thấy cô ấy ngồi trong lớp với mình.” Bạn học trường luật của Hillary đều cho rằng một sự nghiệp chính trị dân cử thể nào cũng sẽ đến với Hillary và việc chọn lựa Yale chính là một sự định hướng tối ưu cho tham vọng của bà.
Năm đầu tiên trong trường luật dường như được thiết kế cho sự cất cánh như tên lửa của Hillary. Bà không hề có vẻ nghi ngờ bản thân một chút nào. Hillary “biết là cô ấy muốn trở thành một con người có ảnh hưởng chính trị hàng đầu. Cô ấy muốn sự công nhận,” một bạn học nữ nói. Tại trường Wellesley, bạn học của Hillary luôn bị cuốn hút về phía bà. Họ đều cảm nhận rằng nơi bà chính là nơi có chuyện hay ho diễn ra.
…
Như thường lệ, Hillary cẩn thận tính toán đường đi nước bước giữa những thái cực đối nghịch [của môi trường chính trị đại học] và hình thành nghị trình của riêng bà. Danh tiếng bà có được từ bài phát biểu kết khóa tại trường Wellesley dẫn tới việc bà nhận được lời mời tham gia ủy ban tư vấn giới thanh niên của Hiệp Hội Nữ Cử Tri (League of Women Voters).
Tháng 10 năm 1969, Hillary tham gia một hội nghị của Hiệp Hội Nữ Cử Tri tại thành phố Fort Collins, Colorado. Hội nghị có mục đích động viên các lãnh đạo trẻ tham gia chính trị chủ lưu (mainstream) hay ít ra là loại chính trị tôn trọng các thiết chế xã hội truyền thống và các phương thức nghị luận truyền thống.
Sự có mặt tại hội nghị này của Hillary để lại một ấn tượng sâu đậm cho những người cùng thời với bà. Chủ đề của hội nghị là vấn để giảm tuổi đi bầu từ 21 xuống 18. Hillary đã lập lại một khẩu hiệu cũ rằng những người nào đủ trẻ để ra chiến trường thì cũng đủ trưởng thành để đi bầu cử. Quan trọng hơn nội dung của hội nghị này chính là những người bạn mới mà Hillary gặp tại đó, những người sẽ trở thành một phần trong nhóm bạn của Rodham-Clinton trong ba thập niên sau đó.
Họ bao gồm Vernon Jordan, lúc đó đang lãnh đạo một chiến dịch đăng ký đi bầu cho người da đen miền Nam trong vai trò giám đốc của Dự án Giáo Dục Cử Tri của Hội đồng khu vực phía nam thành phố Atlanta; David Mixner, người tổ chức chính của phong trào biểu tình đòi dừng cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1969 và sau này là một nhà lãnh đạo phong trào nhân quyền cho người đồng tính; và Peter Edelman, lúc đó là đồng giám đốc của Trung tâm công lý và nhân quyền Robert F. Kennedy và là chủ tịch ủy ban thanh niên của Hiệp Hội Nữ Cử Tri.
Cuộc gặp mặt với Peter Edelman đặc biệt có ý nghĩa. Ông kể cho Hillary biết về công việc mà người vợ tương lai của ông là Marian Wright đang làm lúc đó. Một sinh viên luật tốt nghiệp khóa năm 1963 của Yale, Marian Wright là nữ luật sư da đen đầu tiên được nhận vào luật sư đoàn bang Missisipi; lúc đó bà ta đang trong quá trình thành lập một tổ chức vận động tại Washington với chú trọng bảo vệ quyền lợi của trẻ em nghèo tại Mỹ. Hillary cảm thấy hứng thú với việc này và Peter khuyến khích Hillary gặp Marian sớm. “Bạn có thể cảm nhận ngay là bạn đang gặp một con người cực kỳ ấn tượng.” Peter nói về Hillary.

Sinh viên luật Hillary Rodham (Nguồn ảnh: pictures.ozy.com)
…
Một con đường truyền thống để xây dựng danh tiếng bản thân trong trường luật Mỹ là được bổ nhiệm vào ban biên tập một tạp chí luật và không có tạp chí nào có ảnh hưởng và quan trọng hơn các tạp chí luật của Harvard và Yale. Nhưng vào mùa xuân năm 1970, một tạp chí luật mới, Tạp Chí Luật và Hoạt Động Xã Hội trường Yale (The Yale Review of Law and Social Action) xuất bản số đầu tiên với Hillary có tên trong ban biên tập.
Tựa đề của cuốn tạp chí tuyên bố rõ mục đích của nó, cũng như phần giới thiệu do Hillary và các biên tập viên viết: “Cuốn này là số đầu tiên của Tạp Chí Luật và Hoạt Động Xã Hội. Nó là sự khởi đầu của việc tìm hiểu các lãnh vực vượt ra khỏi các mối quan tâm pháp lý truyền thống của chúng tôi. Đã qua lâu rồi các vấn đề pháp lý được định nghĩa và thảo luận như là những học thuyết hàn lâm thay vì là những chiến lược thay đổi xã hội.  Tạp Chí Luật và Hoạt Động Xã Hội là một nỗ lực vượt lên trên cách tiếp cận hạn hẹp đó để trình bày những nghiên cứu pháp luật và tác phẩm báo chí chú trọng vào các giải pháp có hệ thống cho các vấn đề xã hội.”
Những lời này có vẻ là tiếp nối những gì Hillary đã nhắc đến trong bài phát biểu kết khóa tại Wellesley (“đã quá lâu rồi các nhà lãnh đạo của chúng ta sử dụng chính trị chỉ như một ngành nghệ thuật của cái khả dĩ…”).
Các mối quan tâm của Hillary “không phải là trong pháp lý học thuật,” một người bạn trường luật nói. “Các mối quan tâm của cô ấy là trong việc hành nghề luật và sử dụng luật pháp để phục vụ con người.” Một sự phục vụ như thế chính là phục vụ nhu cầu pháp lý của người nghèo – một trong những nguyên tắc sáng lập của tờ tạp chí mới.
Số đầu tiên của tạp chí mới này chủ yếu gồm hai đề tài: cuộc chiến tranh Việt Nam và phong trào Báo Đen (Black Panther) [phong trào phản kháng của người da đen theo chủ nghĩa xã hội tại Mỹ từ 1966 đến 1982]. Tâm điểm của phong trào Báo Đen vừa chuyển từ miền bắc California đến thành phố New Haven, “thành phố cảng xám xịt bang Connecticut nơi có khuôn viên trường Yale, pháo đài của tinh thần tội lỗi dân da trắng trung lưu, bị bao vây bởi một khu dân cư da đen” –   theo cách một người chế diễu.
Tại tòa án liên bang trên trung tâm thành phố New Haven, chủ tịch phong trào Báo Đen Bobby Seale và bảy đồng chí của của ông đang hầu tòa với tội giết một thành viên phong trào Báo Đen khác vốn bị cáo buộc là tay trong của cảnh sát Mỹ.  Hàng ngàn người biểu tình tập trung tại New Haven cho vụ xử án này. Họ chắc chắn rằng các thành viên phong trào Báo Đen đang bị Cục Điều Tra Liên Bang (FBI) của giám đốc Hoover ngược đãi theo lệnh của Bộ Tư Pháp dưới quyền Tổng thống Nixon. Phiên tòa kết thúc với một bồi thẩm đoàn “treo” [hung jury – bồi thẩm đoàn không quyết định dứt khoát được là có tội hay không].
…
Tại Washington ngày 7 tháng 5 năm 1970, Hillary là một trong những diễn giả tại hội nghị năm mươi năm của Hiệp Hội Nữ Cử Tri. Việc này cho thấy danh tiếng đang lên của bà. Hillary mang một dải băng đen trên cánh tay trong lúc phát biểu. Đấy là để tượng niệm những người bị giết trong vụ cảnh sát xả súng vào đoàn người biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại trường đại học Kent State. Cảm xúc của Hillary, sau này bà kể lại, thể hiện rõ khi bà tranh luận trong bài diễn thuyết rằng việc mở rộng cuộc chiến sang Campuchia là “trái luật và vi hiến.”
Với những người lớn tuổi hơn, Hillary cố gắng giải thích hoàn cảnh của những cuộc biểu tình đầy thống khổ đang diễn ra trong khuôn viên các trường đại học. Tại Yale, Hillary vận động cho sự dấn thân (engagement) “chứ không phải sự phá vỡ (disruption) hay cách mạng (revolution)”, nhiều năm sau Hillary nói như thế về giai đoạn đầy chính biến năm 1970.
Hillary đã chủ trì một buổi họp mặt nơi các sinh viên luật bỏ phiếu 329 phiếu thuận và 12 phiếu chống cho việc tham gia phong trào sinh viên cả nước bãi khóa để phản đối các động thái quân sự tại Campuchia của Mỹ. Bà đã gọi những động thái đó là “sự mở rộng một cách vô lương tâm một cuộc chiến vốn đã không nên được bắt đầu.”…
….
Bốn tuần sau hội nghị của Hiệp Hội Nữ Cử Tri, Hillary chuyển đến ở Washington trong mùa hè để làm việc cho người dẫn dắt mới của bà [Marian Edelman].
Hillary đã thuyết phục được Hội đồng Sinh Viên Luật Nghiên Cứu về Dân Quyền (Law Students Civil Rights Research Council) tài trợ một khóa học việc – thông qua hình thức một khoản trợ cấp – cho tổ chức mới của Marian Edelman là Dự án Nghiên Cứu Washington. “Tôi đã luôn thích những người có thể hoàn thành công việc,” Marian Edelman nói.
Marian giao cho Hillary việc phát triển thông tin cho một điều tra của Thượng viện Mỹ về tình trạng sống và tình trạng làm việc của những người nhập cư làm công trong các nông trại và gia đình của họ. Tiểu ban thượng viện phụ trách cuộc điều tra này là Thượng nghị sỹ Walter Mondale, người đã làm việc rất thân cận với Edelman để giúp thông qua Đạo luật về các dịch vụ trẻ em và gia đình, một thành quả pháp lý mang tính bước ngoặt tạo điều kiện cho việc trợ cấp cho giáo dục trẻ em và nhà trẻ cho những trẻ em nghèo.
Hillary biết về điều kiện sống của những gia đình người nhập cư làm công này từ những ngày làm nghề giữ trẻ cho một số gia đình này tại bang Illinois. Nhiều đứa trẻ đã đến học tại trường tiểu học của Hillary vài tháng hàng năm, và vào các sáng thứ bảy trong vụ mùa hè thu, Hillary thường ngồi trông trẻ tại các khu cắm trại của người nhập cư cùng các thành viên khác trong nhóm dạy thêm cuối tuần cho trẻ em của bà.
Nhiệm vụ của Hillary tại Washington được xây dựng trên những kinh nghiệm đó. Bà được yêu cầu báo cáo các thông tin xác thực về các khó khăn y tế và giáo dục của trẻ em nhập cư. Các nghiên cứu của Hillary tập trung vào miền Nam nơi trẻ em nhập cư phải đối mặt với một sự phân biệt chủng tộc rất ác độc, bên cạnh những thứ khác.
Các trường thuộc bang Virginia và sau đó là các trường trong các bang miền nam lúc đó có trò biến các trường công toàn học sinh da trắng thành các trường tư không cho da màu nhằm tránh phải áp dụng các chính sách hòa hợp chủng tộc do hệ thống tòa án áp đặt. Con cái da trắng của các công nhân nhập cư thì không có đủ tiền để học trường tư trong khi con cái của các công nhân nhập cư da màu và Châu Mỹ La Tinh thì không được nhận vào các trường tư vì chính sách phân biệt chủng tộc.
Chính phủ Nixon lúc đó có khuynh hướng cho phép các học viện tư nhân được hưởng việc miễn thuế như một phần trong chiến dịch thu hút một “đa số Cộng Hòa đang lớn mạnh” – bằng cách chiều theo ý của đám dân miền Nam vẫn muốn duy trì việc phân biệt chủng tộc. Đám này từ trước đến khi ấy hay bầu cho đảng Dân Chủ.
Với Hillary, mùa hè năm đó là một sự giáo dục về cách mà những người dân ít quyền lực nhất phải chịu khốn khổ vì một chính phủ hiểm ác và vì sự lạm dụng luật pháp…”


Wednesday, October 14, 2026

HỌC BỔNG NGHIÊN CỨU TOÀN PHẦN CỦA ĐẠI HỌC HARVARD

Chương trình học bổng dành cho mọi ứng viên có học vị Tiến sĩ và  các nghiên cứu sinh.
Chương trình xác định và hỗ trợ những học giả nổi bật trong các khối ngành khoa học xã hội (bao gồm lịch sử và pháp luật) tinh thông ngôn ngữ, lịch sử, hoặc văn hóa của các quốc gia và vùng lãnh thổ ngoài phương Tây. Học bổng hỗ trợ các nghiên cứu giúp người tham gia làm sáng tỏ những vấn đề trong nước, những vấn đề so sánh, xuyên quốc gia trong quá khứ và hiện tại.

Các học giả được tuyển chọn hợp thành một cộng đồng những người tháo vát, chủ động, có tinh thần học hỏi cùng với các nghiên cứu có tính nguyên bản; những người mà công việc của họ trong môi trường ngoài những tổ chức phương Tây hứa hẹn là một nền tảng cho sự nghiệp xuất sắc tại các trường đại học lớn hoặc các tổ chức quốc tế.
Ứng viên thành công sẽ được chỉ định làm việc trong khoảng thời gian 2 năm tại Học viện Harvard về Nghiên cứu Quốc tế và Khu vực; được cung cấp thời gian, hướng dẫn và hỗ trợ tiếp cận các cơ sở vật chất của Đại học Harvard. Họ cũng sẽ nhận nhận được những hỗ trợ đáng kể về mặt tài chính và nghiên cứu để thực hiện những dự án lâu dài của mình và/hoặc nhận được sự đào tạo bổ sung trong lĩnh vực mà mình đã chọn. Các học giả cao cấp (Senior Scholars), một nhóm thành viên cấp cao riêng biệt đến từ các khoa của Đại học Harvard, sẽ đóng vai trò làm người hướng dẫn cho các học viên.
Điều kiện:
Chương trình chỉ dành cho những ứng viên là tân Tiến sĩ hoặc là nghiên cứu sinh Tiến sĩ. Các nghiên cứu sinh cần hoàn thành lộ trình đào tạo của mình và có kết quả luận văn tốt trước khi đăng kí chương trình Academy Scholars. Những người đã trở thành tiến sĩ trên 3 năm không thuộc đối tượng được tham gia chương trình.
Mỗi năm sẽ có từ 4 đến 5 ứng viên được chọn tham gia 2 năm chương trình Academy Scholars. Trong thời gian đó, các học giả sẽ cư trú tại khu vực Cambridge/Boston trừ khi di chuyển vì các mục đích nghiên cứu được phê duyệt trước.
Giá trị học bổng
  • Học giả Hàn lâm sau tiến sĩ (các tân tiến sĩ được chọn) sẽ nhận được một khoản trợ cấp hằng năm là 67,000 USD.
  • Học giả Hàn lâm tiền tiến sĩ (các nghiên cứu sinh được chọn) sẽ nhận được một khoản trợ cấp hằng năm là 31,000 USD.
Khoản trợ cấp có thể được bổ sung thông qua các khoản tài trợ tổ chức hội thảo và các chuyến nghiên cứu, trợ lý nghiên cứu và bảo hiểm y tế. Việc giảng dạy được cho phép nhưng không bắt buộc.
Mọi ứng viên có trình độ không phân biệt quốc tịch, giới tính và chủng tộc đều có thể ứng tuyển chương trình.
Yêu  cầu cụ thể
Chương trình Academy Scholars tiếp nhận đơn của mọi công dân đến từ mọi quốc gia, những người vừa hoàn tất bậc Tiến sĩ, sắp hoàn thành bậc Tiến sĩ hoặc các chứng chỉ tương đương trong khối ngành khoa học xã hội.
Chương trình Academy Scholars không phải là chương trình đào tạo cấp bằng. Nếu ứng viên không thuộc đối tượng vừa hoàn thành bậc Tiến sĩ hoặc đang là nghiên cứu sinh hay tương đương thì sẽ bị truất quyền đăng ký.
Các ứng viên tiền Tiến sĩ phải hoàn thành mọi lĩnh vực nghiên cứu trong chương trình đào tạo và đang trong quá trình viết luận văn ở thời điểm đăng kí.
Đối với các ứng viên là tân Tiến sĩ, thời điểm hoàn thành bậc Tiến sĩ của họ phải không quá 3 năm tính từ ngày 1/10/2016 – deadline của chương trình. Nếu vừa tròn 3 năm, thời điểm ứng viên hoàn thành bậc Tiến sĩ phải sau ngày 30/9/2013.
Danh sách cuối cùng sẽ được công bố và các ứng viên được tuyển chọn sẽ trải qua vòng phỏng vấn vào ngày 6/12/2016.
Học viện Harvard sẽ sắp xếp và chi trả chi phí đi lại và khách sạn cho những ứng viên vào vòng phỏng vấn tại Cambridge, Massachusetts, Mỹ.

Cách thức đăng ký
Hồ sơ đăng ký bao gồm:
  1. Thư xin học bổng (Cover letter)
  2. Sơ yếu lý lịch (CV/ resumé)
  3. Đề cương nghiên cứu (tối đa 2500 từ)
  4. Bảng điểm chính thức của chương trình Tiến sĩ
  5. Ba lá thư giới thiệu
Hồ sơ cần gửi đến Ủy ban tuyển chọn.
Thư giới thiệu cần được gửi đến đúng hạn 1/10/2016
Việc đăng kí hoàn toàn được tiến hành online
Hạn đăng ký chương trình: 1/10/2016
Mọi thủ tục tiến hành sau hạn chót sẽ không được xem xét.
Liên hệ để có thêm thông tin qua email: applicationinquiries@wcfia.harvard.edu
Lưu ý: Ứng viên có thể thêm footnote, endnotes và/hoặc danh mục tham khảo trong đề cương nghiên cứu, nhưng không bắt buộ và chúng sẽ không được tính vào lượng từ giới hạn của đề cương .
Chương trình không yêu cầu đính kèm bản sao các bài báo đã công bố hay bản tóm tắt khi đăng ký.
Liên quan đến hồ sơ từ các trường đại học không thuộc nước Mỹ: cơ sở đào tạo mà ứng viên từng theo học có thể sẽ được yêu cầu cung cấp thêm nhiều văn bản chính thức để xác minh quá trình học của ứng viên kể cả bậc Thạc sĩ lẫn Tiến sĩ.
Các lĩnh vực nghiên cứu được tham gia chương trình:
  • Luật
  • Chính quyền
  • Lịch sử
  • Quan hệ quốc tế
  • Kinh tế Chính trị và Chính phủ
  • Khoa học chính trị
  • Chính sách công
  • Chính sách xã hội
  • Khoa học Xã hội
  • Xã hội học
Ngoài ra, còn có các lĩnh vực: Nghiên cứu Châu Phi, Nhân chủng học, Nghiên cứu Châu Á, Nghiên cứu Trung Á, Cổ điển, Ngôn ngữ và các nền văn minh Đông Á, Kinh tế học, Nghiên cứu Đông Âu, Dân tộc học, Địa lý, Y tế toàn cầu, Nội Á và nghiên cứu Altai, Nghiên cứu Mỹ Latin và Iberia, Ngôn ngữ học (trừ tiếng Anh), Nghiên cứu về thời kỳ trung cổ (ngoài phương Tây), Nghiên cứu Trung Đông, Ngôn ngữ và Văn minh Cận Đông , Tâm lý học, Lịch sử khoa học (ngoài phương Tây), Nghiên cứu về nước Nga, Nghiên cứu về tiếng Phạn và tiếng Ấn, Ngôn ngữ và Văn minh Bắc Âu, Nghiên cứu Nam Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Ukraina, Nghiên cứu về Phụ nữ, Giới tính và Tình dục (ngoài phương Tây)./.

HỌC BỔNG NGHIÊN CỨU TIẾN SĨ LUẬT QUENTIN BRYCE TẠI ÚC


Học bổng Tiến sĩ Luật Quentin Bryce của trường UTS cho phép ứng viên theo học chương trình Tiến sĩ trong một môi trường nghiên cứu năng động với những giáo viên hướng dẫn được công nhận trong nước và quốc tế.
  • Nghiên cứu sinh ngành luật của UTS đang làm việc trong các lĩnh vực có tiềm năng tác động và thay đổi thế giới trên thực tế. Công việc nghiên cứu ở đây sáng tạo và sử dụng phương pháp tiếp cận mang tính đa ngành, pháp lý- xã hội, lý thuyết, lý luận để giải quyết các vấn đề nghiên cứu. Một số ví dụ về phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại UTS bao gồm những nghiên cứu về các quy định về công nghệ y sinh học, pháp luật tị nạn, pháp luật về gia đình và họ hàng, các quy định về phương tiện thông tin và truyền thông, pháp luật và văn hóa, lịch sử pháp luật …

Giá trị học bổng
  • Một khoản trợ cấp $ 40,000 /năm trong 4 năm
  • Hỗ trợ nghiên cứu $ 1,500/ năm
  • Nghỉ lễ, ốm đau, thai sản và các kỳ nghỉ vì lý do con trẻ có hưởng lương.
Sinh viên quốc tế có thể nhận được những hỗ trợ riêng biệt khác để trang trải học phí.
Điều kiện ứng tuyển
Học bổng cấp cho sinh viên trong nước (tức nước Úc – ND) lẫn sinh viên quốc tế.
Ngoài ra, ứng viên cần đáp ứng tất cả yêu cầu sau:
(a)   Ứng viên phải hoàn thành bậc Thạc sĩ chuyên về nghiên cứu hoặc có bằng cử nhân hạng nhất (first class honour) hoặc có thể được xem xét nếu có trình độ tương đương.
(b)   Trường hợp ứng viên không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản (a), Khoa có thể xem xét và tham khảo trường Đại học mà ứng viên đã theo học và đạt trình độ tương đương với yêu cầu của học bổng. Trong quá trình này, trường có thể cân nhắc đến quá trình học tập và nghiên cứu trước đây của ứng viên, kinh nghiệm làm việc có liên quan, các ấn phẩm nghiên cứu, báo cáo trọng tài và những kinh nghiệm nghiên cứu khác.
(c)   Ứng viên phải được chấp thuận theo học bậc Tiến sĩ Triết học của Khoa Luật trước khi được đưa vào danh sách cấp học bổng và bắt đầu chương trình học vào cùng năm mà chương trình học bổng bắt đầu. Hội đồng tuyển chọn có thể cân nhắc cấp học bổng cho ứng viên đã ghi danh khóa học Tiến sĩ tại khoa Luật.
(d)   Ứng viên phải ghi danh học toàn thời gian khi được cấp học bổng. Việc ghi danh học bán thời gian chỉ được chấp thuận trong các trường hợp mà ứng viên chứng minh được tình trạng bất khả kháng của mình bao gồm:
  • Trách nhiệm phải chăm sóc con trẻ chưa đến tuổi đi học
  • Trách nhiệm phải chăm sóc con trẻ đang độ tuổi đi học một mình và duy nhất, với rất ít hỗ trợ từ bên ngoài.
  • Trách nhiệm phải chăm sóc vợ/chồng/con/cha mẹ bị khuyết tật hoặc mất khả năng tự chăm sóc; hoặc
  • Ứng viên gặp phải một bệnh lý làm hạn chế khả năng nghiên cứu và học tập toàn thời gian
Ngoài những yêu cầu nêu trên, ứng viên không phải là công dân Úc hay New Zealand hoặc không thường trú ở Úc phải đáp ứng thêm các điều kiện:
(a)   là sinh viên quốc tế
(b)   đáp ứng yêu cầu về thị thực sinh viên quốc tế theo quy định của Bộ Di trú và Quốc tịch (DIAC), gồm yêu cầu về mua và duy trì một Bảo hiểm y tế du học sinh theo tiêu chuẩn đã được Bộ Y tế và Cao niên của Chính phủ thông qua.
Học bổng không bao gồm học phí của khóa học
Ứng viên không đủ điều kiện dự tuyển nếu  thuộc các trường hợp sau:
  • Hiện là Tiến sĩ hoặc tương đương trong ngành luật hoặc trong lĩnh vực đề nghị cấp học bổng
  • Hiện đang nhận được một giải thưởng, học bổng tương đương hoặc có tiền lương nghiên cứu cao hơn 75% mức học bổng.
  • Đang nhận lương khi theo học khóa đào tạo Tiến sĩ trao đổi
  • Đã nhận một học bổng tài trợ học phí khóa học
  • Đã nhận APA hoặc một giải thưởng nghiên cứu sau đại học của chính phủ Úc
Quy trình xét tuyển
Học bổng sẽ được trao theo các tiêu chí lựa chọn sau đây:
  • Thành tích học tập của ứng viên
  • Nghiên cứu và kinh nghiệm liên quan khác của ứng viên;
  • Hồ sơ của ứng viên;
  • Chất lượng của các dự án nghiên cứu; và,
  • Tính liên quan của nghiên cứu đề xuất với thế mạnh nghiên cứu của Khoa.
Chương trình giảng dạy dành cho Nghiên cứu sinh (Doctoral Teaching Fellowship)
Ứng viên được cấp học bổng còn có thể nhận được Học bổng Nghiên cứu sinh giảng dạy, là cơ hội được tham gia giảng dạy và có thêm nhiều kinh nghiệm giá trị tại Khoa Luật UTS.
Nghiên cứu sinh có tham gia giảng dạy sẽ nhận được mức lương $25,000/năm ngoài số tiền nhận được từ học bổng đào tạo tiến sĩ của trường, và sẽ giảng dạy 4 giờ mỗi tuần trong kỳ học mùa Thu và mùa Xuân.
Nghiên cứu sinh sẽ được bố trí làm việc 12 tháng nếu họ mong muốn lại nhận được  học bổng này thêm 2 năm nữa đến 3 năm.
Việc có được xem xét để tiếp tục làm Nghiên cứu sinh giảng dạy phụ thuộc vào việc Nghiên cứu sinh đó phải:
  • Tiếp tục chương trình học bổng Tiến sĩ Luật Quentin Bryce;
  • Đáp ứng đủ yêu cầu để tiếp tục nhận học bổng (Xem thêm trong các điều kiện nhận Học bổng) ; và,
  • Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của chương trình học bổng Nghiên cứu sinh giảng dạy.
Đăng ký
Ứng viên học bổng Quentin Bryce trước hết phải hoàn tất quá trình đánh giá sơ bộ bắt buộc của khoa để được xác định đủ điều kiện tham gia chương trình tiến sĩ. Thông tin chi tiết về quá trình này xem thêm ở đây (http://www.uts.edu.au/future-students/law/essential-information/application-information#higher-degree-research-students)
Để đăng ký, ứng viên thực hiện các bước cơ bản sau:
  • Tìm khóa học phù hợp tại UTS ( ở đây là ngành luật, bậc tiến sĩ)
  • Tìm giáo viên hướng dẫn tiềm năng
  • Xây dựng đề cương nghiên cứu
  • Điền đơn đăng ký
  • Đính kèm các tài liệu liên quan, bao gồm:
  • Bảng điểm học tập, bao gồm bản sao có chứng thực học bạ
  • Chứng minh khả năng thành thạo tiếng Anh, bao gồm một bản sao có chứng thực của điểm kiểm tra tiếng Anh của ứng viên
  • Đối với ứng viên thuộc đối tượng miễn trừ: đưa ra những giấy tờ chứng minh tình trạng của bản thân
  • Một xác nhận từ nhà tuyển dụng trước đây của ứng viên để chứng minh những kinh nghiệm chuyên môn đã nêu trong CV.
  • Gửi đơn và các tài liệu liên quan đến UTS
Xem thêm thông tin chi tiết về quy trình đăng ký tại http://www.uts.edu.au/future-students/international/essential-information/applying-study-uts
Lưu ý: ứng viên phải hoàn thành bản đánh giá sơ bộ và đơn đăng kí chính thức theo đúng thời hạn của Học bổng Quentin Bryce.

BẨY TƯ DUY SINH VIÊN LUẬT NÊN TRÁNH - CHỦ NGHĨA TƯƠNG ĐỐI


Café Luật Khoa
—
Không như tại Mỹ, nơi luật là một môn học ở cấp độ sau đại học; Anh, Úc, New Zealand và nhiều nước thông luật khác, luật là một môn được dạy và học ở cấp độ đại học, và cũng là một trong những môn học vào loại ‘hot’ nhất với số lượng sinh viên đông đảo.
Thống kê đầu năm học 2014 của Hội Luật Sư Anh cho thấy cả nước Anh và xứ Wales có hơn 21,000 sinh viên luật vào đại học. Có lẽ khá nhiều người trong con số 21,000 này đã đọc qua cuốn sách “Những Bức Thư Gửi Một Sinh Viên Luật: Cẩm Nang Học Luật Đại Học” (Letters to a Law Student: A Guide to Studying Law at University) của giáo sư luật trường đại học Cambridge Nicholas McBride.
Tốt nghiệp đại học Oxford năm 1999, McBride giảng dạy luật nhiều năm trước khi bắt đầu tham gia phụ trách tuyển chọn sinh viên ngành luật cho trường Pembroke College (1 trong 31 college cấu thành đại học Cambridge).
Xứng với danh tiếng đã tồn tại hàng trăm năm về chất lượng và yêu cầu tuyển chọn, khoa luật trường đại học Cambridge là một trong những khoa luật khó vào nhất tại Anh quốc với quy trình tuyển chọn khắt khe về điểm số và bao gồm phỏng vấn chi tiết. Năm 2015, có 25% số sinh viên nộp đơn được nhận (257 từ 1015 ứng cử viên).

Trường Pembroke College – Đại học Cambridge (Nguồn ảnh: nomanbefore.com)
Cuốn sách “Những Bức Thư Gửi Một Sinh Viên Luật” được McBride viết năm 2007 là kết quả tích tụ những hiểu biết và kinh nghiệm của ông từ những năm tham gia tuyển chọn và giúp đỡ sinh viên làm quen với việc học luật trong môi trường đại học Anh. Cuốn sách hơn 200 trang gồm 20 lá thư McBride viết cho một người học sinh để khuyên nhủ, dặn dò,và khuyến khích người học sinh trong 5 chủ đề: Nghĩ về việc học luật; Chuẩn bị học luật; Cách học luật; Cách ôn thi kiểm tra; và Tương lai nghề nghiệp.
Trong một trong những lá thư thú vị nhất, lá thư thứ 8, McBride nói một cách rất thực tế (trong môi trường học đường cấp độ đại học) về cách tránh những chiếc bẫy tư duy có thể làm cho việc học luật của một người sinh viên năm nhất trở nên khó khăn hơn cần thiết rất nhiều, hai trong số những chiếc bẫy tư duy đấy là Chủ Nghĩa Tương Đối và Chủ Nghĩa Tương Đối về Đạo Đức.
—

Trích đoạn “Những Bức Thư Gửi Một Sinh Viên Luật: Cẩm Nang Học Luật Đại Học”

(Letters to a Law Student: A Guide to Studying Law at University)

(Nhà xuất bản Pearson Education Limited năm 2007)

“…Chủ nghĩa tương đối (Relativism)
Ngay đầu cuốn sách kinh điển “Sự Khép Đóng của Tâm Trí Mỹ”, Allan Bloom – một trí thức Mỹ rất vĩ đại – đã bình luận, “Có một thứ mà một người giáo sư có thể hoàn toàn chắc chắn: gần như người sinh viên nào cũng vào trường đại học với niềm tin, hay bảo rằng họ có niềm tin, rằng sự thật mang tính tương đối.”
Có thể hiểu tại sao sinh viên lại chọn quan điểm như vậy. Sinh viên, nhìn chung, muốn tỏ ra là những con người tử tế, đầu óc rộng mở và khoan dung; và điều này dĩ nhiên là rất đáng khen ngợi.
Giờ giả sử tôi bảo với bạn rằng thế giới này là một thế giới phẳng. Chỉ có hai cách mà bạn có thể phản ứng. Bạn có thể bảo là tôi sai, theo đó ngụ ý rằng tôi ngu dốt và được giáo dục tồi – cách này không tử tế là mấy. Hoặc là bạn có thể nói, “Ừ thì mọi sự thật đều chỉ là tương đối, thế nên tôi không thể nói với ông rằng ông sai. Với ông thì thế giới phẳng; với tôi, nó đại khái mang hình cầu – nhưng không có gì ở đây cho chúng ta bất đồng cả. Chúng ta đều đúng, từ quan điểm của khác nhau của mỗi chúng ta.”
Nghe có vẻ là một câu trả lời tử tế hơn, rộng mở và khoan dung, và vì thế là một câu trả lời mà các sinh viên thích hơn. Thế nhưng, tư duy kiểu này vừa rất ngớ ngẩn, vừa rất có hại cho khả năng học giỏi luật của bạn.
Đầu tiên, tại sao là ngớ ngẩn khi nghĩ rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’? Vì chúng ta đều biết lời tuyên bố ‘mọi sự thật đều tương đối’ (‘all truth is relative’) tự nó không thể hoàn toàn là sự thật, bởi vì nếu lời tuyên bố đó tuyệt đối đúng thì không phải sự thật nào cũng mang tính tương đối (vì bản thân nội dung tuyên bố ‘mọi sự thật đều tương đối’ tự nó bao hàm một ‘sự thật’ và không hề kèm điều kiện loại trừ chính nó khỏi nội dung nó đề cập, nên nếu đúng là ‘mọi sự thật đều tương đối’ thì hẳn là bản thân sự thật trong nội dung tuyên bố này cũng chỉ mang tính tương đối chứ không thể tuyệt đối được – ND) .
Ở đây chỉ có hai khả năng. Hoặc là lời tuyên bố ‘mọi sự thật đều tương đối’ hoàn toàn sai – nếu thế thì chúng ta không nên chấp nhận nó. Hoặc là lời tuyên bố ‘mọi sự thật đều tương đối’ chỉ đúng cho một số người và sai cho một số người khác – nếu vậy thì tại sao chúng ta phải chấp nhận nó là sự thật? Dù bằng cách nào đi nữa thì thật điên rồ khi nghĩ rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’. Như nhà triết học Roger Scruton nói, ‘Một người viết nào mà viết rằng trên đời không có sự thật nào sất, hay là mọi sự thật đều “chỉ là tương đối”, thì người viết đó đang yêu cầu bạn không nên tin vào họ. Vậy thì đừng tin họ.”
Thứ hai, tại sao việc tin rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’ lại có hại cho một người sinh viên luật? Vì một trong những việc quan trọng nhất mà bạn sẽ phải học khi làm sinh viên luật là viết tiểu luận. Và những người tư duy rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’ thường viết tiểu luận rất tệ.

Một bài tiểu luận tốt trình bày lý do cho việc nghĩ rằng một mệnh đề là thật. Một bài tiểu luận tốt chọn một chỗ đứng. Nó nói rằng, ‘X là sự thật – và đây là lý do tại sao mọi người phải nghĩ rằng X là sự thật.’
Giờ giả sử bạn được yêu cầu viết một bài luận văn về vấn đề ‘Luật về mưu sát có nên được cải cách?’ và giả sử bạn cho là luật phải được cải cách. Một bài tiểu luận tốt theo quan điểm như vậy phải nói được, ‘Luật về mưu sát đang cần cải cách,’ và tiến tới vạch ra các lý do tại sao mọi người nên nghĩ rằng luật về mưu sát phải cần cải cách.
Nếu bạn bắt đầu quen lối tư duy rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’ thì bạn sẽ không viết được một bài luận như thế. Cái ý tưởng rằng bạn có thể chọn một chỗ đứng, rằng bạn có thể nói một số điều là sự thật, rằng bạn có thể trình bày các lý do cho việc suy nghĩ rằng X là thật – tất cả những điều này đều sẽ trở nên lạ lẫm với bạn.
Kết quả là bài luận của bạn về việc ‘Luật về tội danh mưu sát có nên được cải cách?’ sẽ chỉ ngắn gọn là, ‘Ừ thì tôi nghĩ rằng, cho dù nhiều người sẽ bất đồng với tôi và họ có quyền có ý kiến của riêng họ như tôi có quyền có ý kiến của riêng tôi, và ý kiến của tôi là luật về mưu sát nên được cải cách.’
Một bài luận như thế sẽ được điểm kém. Thực sự nó không hề là một bài luận, mà là một bài báo cáo – báo cáo bạn nghĩ gì.  
Thế nên bạn lỡ có thói quen nghĩ rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’, làm ơn bỏ nó đi càng sớm càng tốt. Bạn đơn giản là không thể làm một sinh viên luật giỏi nếu nghĩ như thế.


Bạn có thể tương đối chủ nghĩa với mọi thứ, trong mọi hoàn cảnh? Kể cả khi viết bài luận trong trường đại học? (Nguồn ảnh: clearlens.org)
Chủ nghĩa tương đối về đạo đức (Moral Relativism)
‘Ừ đúng,’ bạn có thể nói, ‘rằng không có lý nếu nghĩ rằng ‘mọi sự thật đều tương đối’ khi chúng ta nói về các vấn đề dữ kiện (fact). Nhưng chắc rằng khi chúng ta nói về các vấn đề giá trị hay tính đạo đức, ai cũng có ý kiến khác nhau cả, và đơn giản là không thể nói rằng ý kiến của một người thì đúng trong khi ý kiến của người kia sai. Vậy trong lĩnh vực các giá trị hay đạo đức, thì đúng thật là ‘mọi sự thật đều tương đối’”.
Nếu bạn nghĩ thế này thì bạn đã rơi vào cái bẫy thứ hai mà tôi muốn khẩn xin bạn phải tránh: cái bẫy của thuyết tương đối về đạo đức.
Chúng ta thử cùng nhau giúp bạn thoát ra khỏi cái bẫy này bằng việc xem xét một ví dụ rõ ràng nhé.
Trong cuốn tiểu thuyết tuyệt hay Anh Em Nhà Karamazov của ông, nhà văn Fyodor Dostoevsky kể lại một số trường hợp được ghi chép lại của các vụ bạo hành với trẻ em xảy ra vài thế kỷ trước tại Nga. Đây là vụ cuối cùng trong số đó:
Hồi đầu thế kỷ có một vị tướng quân, ông ta có nhiều mối quan hệ cấp cao và là một chủ đất rất giàu có… Ông ta có hàng trăm con chó trong những chuồng chó của ông và gần cả trăm những người giữ chó… [M]ột hôm nọ có một đứa nông nô giúp việc nhà, một thằng bé, chỉ mới tám tuổi, quăng một hòn đá trong lúc chơi giỡn và làm bị thương chân một con chó săn mà viên tướng quân yêu thích. ‘Sao con chó của tao lại đi cà nhắc?’ Có người bảo viên tướng là thằng bé nông nô đã làm đau chân con chó. ‘Vậy là mày hả,’ viên tướng nhìn thằng bé từ trên xuống dưới. ‘Dẫn nó đi!’ Họ mang thằng bé đi, đi khỏi mẹ nó, và giam giữ thằng bé cả đêm. Sáng hôm sau lúc bình minh viên tướng mặc đồ đi săn cưỡi ngựa ra… vây xung quanh hắn… là những con chó, những người giữ chó, đám thợ săn, tất cả trên lưng ngựa. Đám nông nô giúp việc nhà được tụ tập lại cho một màn khai trí, mẹ thằng bé có lỗi đứng ngay hàng đầu. Thằng bé được đưa ra từ chỗ giam giữ… Viên tướng ra lệnh lột đồ thằng bé; nó bị lột trần truồng , nó run rẩy, nó điên cuồng vì sợ hãi, nó không dám ngước nhìn lên… ‘Rượt nó!’ Viên tướng ra lệnh. Đám thợ săn hét, ‘Chạy đi, chạy đi!’ và thằng bé chạy…’[B]ắt nó!’ viên tướng hét lên và thả dây cho cả một bầy cho săn đuổi theo thằng bé. Viên tướng săn thằng bé ngay trước mắt mẹ nó và bầy chó xé xác thằng bé thành trăm mảnh…
Một câu chuyện có thật. Thế bạn nghĩ gì? Việc viên tướng làm có sai về đạo đức không? Tôi hy vọng bạn sẽ nói, ‘Đúng là nó sai về đạo đức – và ai nghĩ viên tướng đúng về đạo đức thì họ nghĩ sai.’ Nếu bạn làm vậy, thì bạn đã chấp nhận là thuyết tương đối về đạo đức là sai: chúng ta có thể nói rằng giá trị hay ý kiến của một ai đó trong lĩnh vực đạo đức là sai.
Nhưng nếu mà bạn giống các sinh viên tôi từng phỏng vấn đầu vào của trường tôi, bạn có thể sẽ nói, ‘Ừ thì ý kiến cá nhân tôi cho rằng hành vi của viên tướng đó là sai và nếu tôi có thể ngăn cản ông ta tôi đã làm rồi. Nhưng cùng lúc tôi nhận ra rằng một số người có thể nghĩ rằng hành vi đó không có vấn đề gì – và nếu họ nghĩ như thế, tôi không thể nói là họ sai được. Họ có quyền có ý kiến cá nhân họ.’
Nếu bạn nói như thế này, thì bạn đang tự mâu thuẫn với bản thân. Nếu bạn thật sự nghĩ rằng, ‘Việc viên tướng đã làm là sai’ thì bạn cũng phải nghĩ rằng lời tuyên bố rằng ‘Việc viên tướng đã làm không có vấn đề gì,’ là sai. Nếu bạn đã nghĩ rằng tuyên bố đó là sai, thì bạn cũng phải nghĩ rằng bạn, tôi hay bất kỳ ai khác đang mắc sai lầm khi chúng ta nói rằng ‘Việc viên tướng đã làm không có vấn đề gì.’
Sự thật là thuyết tương đối về đạo đức không thể được biện minh một cách đàng hoàng. Nó là một sự làm ra vẻ mà chúng ta thực hành bởi vì một nỗi mong muốn đáng khen của chúng ta: nỗi mong muốn tránh bị xem là chướng tai gai mắt, hay độc ác, khi chúng ta nói với ai đó rằng việc họ làm là xấu hay sai trái về mặt đạo đức.
Thật sự, nó là một sự làm ra vẻ mang tính phủ định bản thân bởi vì những ai thực hành cái sự làm ra vẻ đó là những người đầu tiên nhấn mạnh rằng hành vi cư xử một cách chướng tai gai mắt hay ác độc với người khác là một hành vi sai trái về đạo đức – và bất kỳ ai nghĩ khác vậy thì đơn giản là sai.
Nếu bạn thực hành cái sự làm ra vẻ đó, tôi muốn bạn bỏ nó đi ngay tức khắc.
Thay vì nói: ‘Ý kiến riêng của tôi là làm việc x là sai trái, nhưng người khác có thể nghĩ khác,’ hãy nói rằng: ‘Làm việc x là sai trái – và đây là các lý do tại sao làm x là sai trái.’
Thay vì nói: ‘Ý kiến cá nhân tôi là nên làm x chứ đừng nên làm y, nhưng nếu ai đó có quan điểm khác tôi không thể nói là họ sai,’ hãy nói rằng: ‘Nên làm x thay vì làm y – và đây là các lý do tại sao việc nghĩ rằng làm y tốt hơn làm x là sai lầm.’
Thay vì nói: ‘Thật là khó để nói rằng nếu x xảy ra thì sẽ tệ hại hay là không – nhìn tổng thể thì tôi cho rằng nó sẽ tệ, nhưng người khác có thế có quan điểm khác,’ hãy nói rằng: ‘Sẽ rất tệ nếu x xảy ra – và sau đây là lý do tại sao các luận điểm cho rằng x xảy ra là một điều tệ mạnh hơn các luận điểm cho rằng x xảy ra là điều tốt.’
Lý do tại sao tôi khẩn cầu bạn làm việc này là vì trong vai trò một sinh viên luật, bạn sẽ thường xuyên được yêu cầu đánh giá (evaluate) một lĩnh vực luật nào đó – yêu cầu cho ý kiến là bạn có nghĩ rằng lĩnh vực luật đó có cần cải cách không.
Bạn sẽ rất khó nói ra được rằng bạn có nghĩ một lĩnh vực luật nào đó cần cải cách hay không nếu như bạn không sẵn sàng có những đánh giá về giá trị (value judgments).
Ví dụ, bạn có thể tranh luận rằng một lĩnh vực luật nào đó cần cải cách bởi vì lĩnh vực luật đó đối xử với những người làm việc x giống hệt như đối xử với những người làm việc y, nhưng luật không nên như thế vì người có hành vi x thì tệ hại hơn người có hành vi y. Tranh luận như thế là bạn đang đưa ra một đánh giá về giá trị – rằng làm x thì tệ hơn là làm y. Một người theo thuyết tương đối về đạo đức sẽ không sẵn sàng đưa ra một đánh giá về giá trị như thế và theo đó một người theo thuyết tương đối về đạo đức không thể phê bình được việc luật đang đối xử với người có hành vi x giống hệt như người có hành vi y.
Một người theo thuyết tương đối về đạo đức cùng lắm là có khả năng nói thế này, ‘Theo ý kiến cá nhân tôi, việc có hành vi x thì tệ hơn việc có hành vi y. Thế nên theo ý kiến của tôi, luật cần cải cách bởi vì nó đối xử với người có hành vi x như là nó đối xử với người có hành vi y. Nhưng có thể là người khác sẽ có quan điểm khác, và nếu ý kiến của họ được tôn trọng hơn thì rõ ràng là luật không cần cải cách.’
Đây là một tranh luận rất tệ – thật sự nó chả phải là tranh luận tí nào – và sẽ bị điểm rất thấp.
Thế nên nếu bạn có thói quen suy nghĩ như một người theo thuyết tương đối về đạo đức, bỏ thói quen ấy càng sớm càng tốt…”

ST

CÔNG TỐ VIÊN HÀN QUỐC LÀ GÌ?

CÔNG TỐ VIÊN HÀN QUỐC LÀ GÌ?  

Công tố viên Hàn Quốc là người của cơ quan công tố, được cơ quan tư pháp trao trách nhiệm điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trong các vụ án hình sự trong các phiên tòa xét xử, là trưởng đại diện pháp lý của quá trình tố tại Hàn Quốc theo hệ thống đối tụng thông luật hoặc hệ thống tố tụng thẩm vấn.

Các công tố là bên chịu trách nhiệm pháp lý buộc tội trong một phiên tòa hình sự đối với một cá nhân bị tố cáo vi phạm pháp luật.
Các công tố viên thường là luật sư có bằng đại học luật, và được tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền công nhận là chuyên gia pháp lý, trong đó họ có ý định để đại diện cho xã hội (có nghĩa là họ đã được thừa nhận ở phiên tòa).

Nhiệm vụ & Quyền hạn của công tố viên

– Kiểm soát việc khởi tố, các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của công an điều tra.
– Nêu ra những yêu cầu trong điều tra
– Triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn nhân sự, bị đơn nhân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
– Giám sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam
– Tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm soát liên quan đến việc giải quyết vụ án, hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa.
– Giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng và kiểm soát các bản án, quyết định của Tòa án.
– Kiểm soát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm soát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm soát.
– Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng Viện kiểm soát về những hành vi và quyết định của mình.

Các tìm kiếm liên quan đến công tố viên hàn quốc là gì: nghề công tố viên ở hàn quốc, công tố viên việt nam, viện công tố hoa kỳ, công tố viên ở mỹ, lương của công tố viên, công tố viên hoa kỳ, viện công tố việt nam, khái niệm công tố là gì
ST

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code