Showing posts with label TTDS - Ly luan chung. Show all posts
Showing posts with label TTDS - Ly luan chung. Show all posts

Thursday, February 13, 2014

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ
Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:
Vụ việc
Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.
Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.
Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.
Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.
Vấn đề
Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:
- Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:
Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.
Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
- Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:
Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.
Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.
Án lệ
Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.
Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.
Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …
Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.
Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.
Áp dụng ở VN
VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.
Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.
Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.
Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG PHÂN PHỐI THIẾT BỊ

VŨ ÁNH DƯƠNG

Các bên
Các vấn đề được đề cập:
Nguyên đơn: Nhà xuất khẩu Mỹ
Bị đơn: Nhà phân phối Argentina
Hợp đồng phân phối hàng hoá
Phán quyết bộ phận
Chọn luật thực chất và hợp đồng không đàm phán (adhesion contract)
Chấm dứt hợp đồng
Rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng
Quan hệ trước khi ký kết hợp đồng
Giảm thiểu thiệt hại
Tóm tắt vụ việc:
Trong Hợp đồng phân phối hàng hoá quốc tế (sau đây gọi là hợp đồng) ký ngày 8/8/1979, nguyên đơn đã chỉ định bị đơn làm nhà phân phối thiết bị của mình ở Argentina.
Điều 15 của hợp đồng quy định khi có tranh chấp hoặc bất đồng xảy ra giữa các bên mà không thể dàn xếp thông qua thương lượng thì các bên sẽ đưa ra trọng tài theo các quy tắc của Phòng Thương mại quốc tế (ICC). Nơi xét xử trọng tài (như đã sửa đổi ngày 31/8/1979) là Trinidad và Tobago, West Indies. Hợp đồng sẽ tự động chấm dứt sau hai năm nhưng có thể gia hạn hợp đồng bằng một văn bản thoả thuận giữa hai bên. Hợp đồng đã hết hạn ngày 8/8/1981. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đã ký các thoả thuận gia hạn hợp đồng ngắn hạn và vì vậy, cả hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Ngày 9/3/1983, nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn là nguyên đơn đang trong quá trình soạn thảo một Hợp đồng phân phối hàng hoá quốc tế mới và chỉ còn vài tháng nữa hợp đồng mới này sẽ hoàn thành. Do đó, nguyên đơn quyết định gia hạn hợp đồng đang thực hiện thêm hai tháng tính từ thời điểm nguyên đơn đưa hợp đồng mới cho bị đơn để bị đơn có đủ thời gian để xem xét hợp đồng mới này. Nhưng sau đó nguyên đơn đã không gửi bản hợp đồng mới này.
Trong thời gian này ở Argentina, sau cuộc tuyển cử, một đảng chính trị khác lên nắm quyền. Chính phủ mới dự định sẽ ban hành các chính sách hoàn toàn mới liên quan đến tỷ lệ nội địa hoá của hàng hoá. Vì vậy, nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành một số cuộc thương lượng về vấn đề này và đây dần dần trở thành vấn đề chính đối với nguyên đơn. Tháng 11/1983, nguyên đơn nhận thấy các quy định thương mại đối với hoạt động của nguyên đơn ở Ac-hen-ti-na đã thay đổi và buộc nguyên đơn phải có sản xuất thực tế ở Argentina. Vì vậy, nguyên đơn muốn chỉ định một Cty khác làm đối tác và nhà phân phối.
Ngày 2 /12/1983, nguyên đơn đã gửi telex cho bị đơn chính thức thông báo từ ngày 1/2/1984 kết thúc bản hợp đồng đã được gia hạn liên tiếp. Cũng trong bản telex đó, nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn là nguyên đơn sẽ chọn một Cty Argentina khác làm nhà phân phối.
Bị đơn phản đối bản telex của nguyên đơn và thông báo nếu nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng, bị đơn sẽ kiện ra Toà án của Argentina. Nguyên đơn đề nghị nên cố gắng đàm phán và giải quyết một cách hữu nghị những thay đổi trong quan hệ thương mại giữa hai bên, đồng thời yêu cầu bị đơn đến California để làm việc với nguyên đơn. Sau đó, ngày 11/1/1984 nguyên đơn gửi một bản telex cho bị đơn để huỷ bỏ bản telex thông báo chấm dứt hợp đồng ngày 2/12/1983 nhằm “tạo điều kiện cho hai Cty đàm phán một bản hợp đồng liên quan đến việc tiếp tục các hoạt động của nguyên đơn ở Argentina”. Tháng 2/1984 nguyên đơn và bị đơn đã gặp nhau tại California, nhưng không giải quyết được bất đồng giữa hai bên.
Nhiều cách giải quyết đã được đưa ra nhằm rút dần các hoạt động hiện tại của nguyên đơn ở Argentina, nhưng bị đơn đã bác các đề nghị của nguyên đơn và yêu cầu bồi thường. Trong bản telex ngày 29/3/1984, nguyên đơn chính thức đề nghị gia hạn hợp đồng thêm hai năm với các điều khoản và điều kiện tương tự như bản hợp đồng gốc. Nhưng trong bản telex ngày 4/4/1984, bị đơn đã bác đề nghị của nguyên đơn và cho rằng nguyên đơn đã tự ý chấm dứt quan hệ giữa hai bên vào 2/12/1983.
Ngày 16/5/1984 bị đơn đã ký hợp đồng phân phối độc quyền với một Cty Pháp, đối thủ cạnh tranh của nguyên đơn. Đổi lại, nguyên đơn đã ký hợp đồng phân phối độc quyền với một Cty Argentina khác vào tháng 4/1985. Tháng 8/1984, nguyên đơn nộp yêu cầu xét xử trọng tài cho ICC, và muốn có một phán quyết trọng tài “tuyên bố hợp đồng đã được chấm dứt hợp lệ” và “cấm bị đơn khởi kiện ở Argentina”. Bị đơn đã kiện lại đòi bồi thường thiệt hại 19.000.000 USD liên quan đến các thiệt hại về: Dự trữ phụ tùng thiết bị; Thiết bị thuộc sở hữu của bị đơn và thiết bị cho người khác thuê; Hợp đồng cho thuê thiết bị; Hợp đồng bảo dưỡng thiết bị; Tổn thất liên quan đến việc bán phụ tùng nâng cấp thiết bị đã được lắp đặt; Tổn thất hợp đồng trong quá trình thực hiện; Lợi nhuận bị giảm do mất thị phần tương lai; Chi phí đi lại. Ngày 26/11/1985, các bên và các trọng tài viên đã ký Văn bản về thẩm quyền của trọng tài. Các vấn đề sẽ giải quyết là:
Khiếu kiện của nguyên đơn:
Bản telex nguyên đơn gửi cho bị đơn ngày 2/12/1983 trong đó nguyên đơn thông báo cho bị đơn ý định (hoặc quyết định) chấm dứt hợp đồng từ ngày 1/2/1984 có phải là chấm dứt bất hợp pháp hợp đồng và những bản gia hạn hợp đồng mà hai bên đã thoả thuận không? Giả sử bản telex ngày 2/12/1983 vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thì liệu bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn (bị đơn đã trả lời bản telex này bằng bản telex ngày 19/1/1984) có được coi là rút lại hợp pháp yêu cầu chấm dứt hợp đồng không?
Đề nghị của nguyên đơn ngày 29/3/1984 (gia hạn hợp đồng thêm hai năm với các điều khoản và điều kiện giống như hợp đồng gốc) cùng với bản telex ngày 4/4/1984 của bị đơn có chấm dứt quan hệ thương mại giữa hai bên và giải phóng nguyên đơn khỏi các trách nhiệm và nghĩa vụ đối với bị đơn không?
Việc nguyên đơn ký kết hợp đồng với một Cty Argentina khác hoặc bị đơn ký kết hợp đồng với một Cty Pháp, hoặc các hoạt động hay ký kết hợp đồng của nguyên đơn và bị đơn với các Cty khác có phải là sự vi phạm nghĩa vụ của một bên với bên kia trong hợp đồng hay không?
Khiếu kiện của bị đơn:
Bị đơn có quyền đòi nguyên đơn bồi thường các thiệt hại và tổn thất không?
Nếu cho rằng bị đơn sẽ được bồi thường, liệu bị đơn có quyền nhận toàn bộ số tiền yêu cầu không?
Phí trọng tài:
Bên nào sẽ chịu phí trọng tài và các chi phí pháp lý? Nếu cả hai bên đều phải chịu phí trọng tài và các chi phí pháp lý thì tỷ lệ phân chia cho các bên sẽ như thế nào?
Trong bản biện hộ ngày 16/1/1986, bị đơn đã điều chỉnh lại số tiền đòi bồi thường là 27.500.000 USD.
Vì vậy, với thời hạn hai tháng gia hạn hợp đồng lần cuối cùng kết thúc vào 30/4/1983, nguyên đơn đã gia hạn hợp đồng trong một khoảng thời gian không hạn định, hợp đồng được gia hạn thêm hai tháng sau một thời điểm không xác định, tức là khi bị đơn nhận được bản hợp đồng phân phối quốc tế mới. Dù có quan điểm khác nhau về cách diễn đạt trên, các bên hoàn toàn chấp thuận rằng văn thư ngày 9/3/1983 là cơ sở của việc gia hạn hợp đồng. Tuy nhiên, các bên không thống nhất quan điểm về hiệu lực pháp lý của nội dung văn thư này liên quan đến việc cung cấp bản hợp đồng mới của nguyên đơn và thời gian trả lời hai tháng dành cho bị đơn.
UBTT không cho rằng với văn thư ngày 9/3/1983 nguyên đơn đã cam kết không chấm dứt hợp đồng hiện tại nếu không đưa trước bản hợp đồng phân phối quốc tế mới để bị đơn xem xét. Trước hết, quan hệ pháp lý giữa các bên ngày 9/3/1983 về cơ bản là trên cơ sở hợp đồng không thời hạn, mà theo Luật California các bên có quyền chấm dứt hợp đồng không thời hạn, miễn là hợp đồng đã thực hiện được một khoảng thời gian hợp lý.
Tuy nhiên, các bên cần biết rằng các điều kiện thực hiện của hợp đồng không thời hạn về cơ bản dễ bị thay đổi. Trong vụ này, bị đơn đã biết nguyên đơn rất cần đối tác ở Argentina. Ngoài ra, các điều khoản mới của hợp đồng phân phối hàng hoá mớitrong đó đặc biệt là các điều khoản liên quan đến các điều kiện thực hiện hợp đồng, thời hạn,… đã không được xác định rõ.Điều này cho thấy giữa các bên chưa hề đạt được một thoả thuận nào về các điều kiện này cũng như chưa hề bàn bạc cụ thể trước ngày 9/3/1983 hoặc vào bất kỳ thời điểm nào trước khi thông báo chấm dứt hợp đồng vào tháng 12.
Từ các căn cứ nêu trên, UBTT kết luận nguyên đơn không bị mất quyền chấm dứt hợp đồng. Nếu UBTT quyết định khác thì nguyên đơn, để giải quyết những khó khăn do có thay đổi hoàn cảnh trong quá trình thực hiện hợp đồng vô thời hạn, sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đưa vào bản hợp đồng mới những điều khoản mà bị đơn không thể chấp nhận được.
Tuy nhiên, đây chưa phải là kết luận cuối cùng của UBTT. UBTT thấy rằng tuyên bố rõ ràng của nguyên đơn trong văn thư ngày 9/3/1983 về bản hợp đồng mới cùng với một loạt tuyên bố rõ ràng hoặc ngụ ý của nguyên đơn trong năm 1982 và 1983 về quan hệ tương lai giữa nguyên đơn và bị đơn đã khiến bị đơn hi vọng về triển vọng một quan hệ lâu dài. Trong hoàn cảnh này, quyền tự do đơn phương chấm dứt quan hệ hợp đồng của nguyên đơn không còn ở mức độ tuyệt đối như trước khi các tuyên bố trên chưa được đưa ra. UBTT thấy việc nguyên đơn chấm dứt hợp đồng là quá bất ngờ. Nguyên nhân chủ yếu của việc chấm dứt hợp đồng từ phía nguyên đơn là những thay đổi trong chính sách kinh tế của đảng chính trị mới thắng cử ở Argentina ngày 30/10/1983. Nhưng rõ ràng là vào thời điểm tháng 11 hoặc 12/1983 các chính sách mới của đảng thắng cử chưa thể thành hiện thực và vì thế động cơ thúc ép nguyên đơn chấm dứt ngay hợp đồng.
Nguyên đơn lập luận rằng vào năm 1983, bị đơn đã đưa ra rất nhiều bằng chứng về sự bấp bênh trong quan hệ hiện tại và tương lai với nguyên đơn. Thực tế hồ sơ vụ kiện cũng phản ánh sự bấp bênh đó và cũng có nhiều lời khai của các nhân chứng của cả hai bên về điều này. Tuy nhiên hồ sơ vụ kiện cũng cho thấy trong suốt thời gian đó nguyên đơn vẫn khích lệ bằng văn bản và bằng lời với bị đơn về triển vọng tiếp tục hợp tác giữa hai bên. Như vậy, ở đây có cả những yếu tố khẳng định và phủ định việc bản thân bị đơn nhận thức được về khả năng nguyên đơn sẽ chấm dứt hợp đồng. UBTT nhận định rằng vào ngày 9/3/1983 và sau đó, các yếu tố phủ định có vẻ có ưu thế hơn do đó bác lập luận của nguyên đơn rằng trong trường hợp này không cần phải thông báo trước cho bị đơn về việc chấm dứt hợp đồng vì bị đơn đã biết rõ về khả năng này. Luật áp dụng để giải quyết vấn đề này là luật California. Mặc dù về nguyên tắc luật California không bắt buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ nêu tại các hợp đồng chưa được các bên chấp thuận chính thức, nhưng luật này cũng đồng thời qui định nghĩa vụ hành động của các bên phải một cách thiện chí cho dù hợp đồng chưa chính thức ký kết. Trong vụ này, nghĩa vụ thiện chí của nguyên đơn đối với bị đơn đòi hỏi Nguyên đơn phải thông báo chấm dứt hợp đồng trước một khoảng thời gian nhiều hơn là nguyên đơn đã làm trên thực tế.
Tóm lại, vì những lý do nói trên, UBTT cho rằng thông báo hai tháng trước khi chấm dứt hợp đồng là quá ngắn và vì vậy, hợp đồng đã bị chấm dứt đột ngột. Do đó, việc chấm dứt hợp đồng và các hợp đồng đã gia hạn của nguyên đơn là trái pháp luật.
4. Rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng:
Luật Thương mại California quy định trước khi kết thúc thời hạn thực hiện nghĩa vụ của bên muốn chấm dứt hợp đồng, bên muốn chấm dứt hợp đồng có thể rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng của mình, với điều kiện là bên kia không phản đối việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc không coi quyết định chấm dứt hợp đồng đó là quyết định cuối cùng. Các toà án California, trong một số vụ việc, đã cho rằng bên quyết định chấm dứt hợp đồng sẽ không bị coi là vi phạm hợp đồng nữa nếu sau đó bên này rút lại quyết định huỷ bỏ hợp đồng. Vì vậy, nguyên đơn lập luận là với bản telex ngày 11/1/1984, nguyên đơn không còn bị coi là đã vi phạm hợp đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng nữa.
Tuy nhiên, các toà án cũng nhấn mạnh là để rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng một cách rõ ràng, bên muốn rút lại quyết định phải thể hiện ý định rõ ràng. Bên đó phải khôi phục lại quan hệ pháp lý như trước khi nó bị vi phạm hợp đồng. Bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn thực tế không đề cập đến việc khôi phục hợp đồng phân phối; ngược lại, nó lại được chú thích là “Đàm phán để giải quyết quan hệ hiện tại giữa nguyên đơn và bị đơn”. UBTT nhận thấy bản telex này giống một lời đề nghị rút dần quan hệ hơn là để khôi phục lại quan hệ trước đó.
Như tuyên bố của Toà án tối cao California trong vụ Taylor, bên bị thiệt hại có thể lựa chọn nhiều cách giải quyết. Bên đó có thể coi việc chấm dứt hợp đồng là một sự vi phạm hợp đồng trước thời hạn và ngay lập tức đòi bồi thường cho sự vi phạm hợp đồng đó, … hoặc bên đó có thể coi yêu cầu chấm dứt hợp đồng đơn giản chỉ là một sự đe doạ không mấy giá trị… Theo ý kiến của UBTT, văn bản trả lời ngày 19/1/1984 của bị đơn không thể coi là bị đơn đã quyết định bỏ qua vi phạm này của nguyên đơn. Bị đơn chỉ bày tỏ rõ nguyện vọng muốn đến California để tìm ra một giải pháp bảo vệ các quyền lợi của mình.
Vì vậy, các trọng tài viên quyết định rằng bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn không được coi là sự sửa đổi hợp pháp vi phạm của nguyên đơn do đơn phương chấm dứt hợp đồng.
5. Chấm dứt quan hệ thương mại:
UBTT cho rằng trong bản telex ngày 29/3/1984 nguyên đơn chính thức đề nghị bị đơn gia hạn hợp đồng với các điều khoản và điều kiện tương tự như hợp đồng gốc thêm hai năm kể từ ngày bị đơn chấp thuận. Đây là một đề nghị hợp lý và có thiện ý để tiếp tục thực hiện hợp đồng theo bản hợp đồng gốc.
Bị đơn không tiếp tục chấp thuận các điều khoản của hợp đồng gốc vì thời hạn của hợp đồng được nguyên đơn đề nghị là hai năm và hơn nữa, trong đó có những điều khoản đã làm tổn hại quan hệ giữa hai bên. Tuy nhiên, sau khi nhận được lời đề nghị, lẽ ra bị đơn phải trình bày rõ tất cả các lý do phản đối các điều khoản đó, kể cả điều khoản về thời hạn hợp đồng vì như vậy sẽ buộc người đưa ra lời đề nghị phải xem xét sửa đổi đề nghị của mình. Nhưng bị đơn đã đương nhiên coi lời đề nghị đó là hoàn toàn không thể chấp nhận và không có thiện ý, và vì lý do này bị đơn đã bác lời đề nghị thông qua bản telex 2379 ngày 4/4/1984. Theo quan điểm của các trọng tài viên, sự bác bỏ như vậy không có đủ cơ sở.
Tuy nhiên, điều này cũng không giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị đơn từ phía nguyên đơn. UBTT đã quyết định rằng nguyên đơn đột ngột thông báo chấm dứt quan hệ hợp đồng cho bị đơn ngày 2/12 /1983. Vì vậy, bị đơn có quyền đòi bồi thường cho những tổn thất phát sinh mà bên đó có thể chứng minh được, nhưng chỉ xét những tổn thất phải gánh chịu cho đến khi bị đơn vô lý bác đề nghị gia hạn hợp đồng của nguyên đơn.
UBTT thấy rằng phù hợp với Bộ luật dân sự California việc trì hoãn thực hiện hợp đồng buộc một bên có thể phải bồi thường toàn bộ và đầy đủ các thiệt hại cho bên kia. Trong hợp đồng này, thời gian không phải là vấn đề cốt lõi đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy tắc Luật California về giảm thiểu thiệt hại. UBTT tin rằng sẽ không công bằng khi một bên từ chối cho bên kia cơ hội để sửa chữa sai lầm.
Các trọng tài viên không quyết định làm thế nào để đánh giá hoặc giảm thiểu thiệt hại gây ra bởi sự chấm dứt hợp đồng sai trái. Điều đó sẽ được giải quyết trong phán quyết cuối cùng khi UBTT dựa trên tất cả những chứng cứ để ra quyết định về vấn đề thứ năm và điểm thứ sáu trong số các vấn đề cần quyết định.
6. Ký kết hợp đồng với các đối thủ cạnh tranh (tiềm tàng):
UBTT đã tuyên bố Luật California thừa nhận một nghĩa vụ ngầm định về thiện chí và công bằng khi giao kết hợp đồng và không làm tổn hại đến quyền lợi của bên kia nhằm đạt được lợi ích từ hợp đồng.Từ các tài liệu và chứng cứ do các bên trình bày, các trọng tài viên nhận thấy nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành giao dịch và đàm phán không chính thức với các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của bên kia. Không bên nào đã cư xử thiện chí khi thực hiện các cuộc đàm phán và giao dịch đó.
Có thể thấy cả hai bên đều vi phạm nghĩa vụ về thiện chí. Nhưng UBTT không có ý định xem xét sự công bằng giữa các bên trong những giao dịch đó bởi vì không bên nào có chứng cứ thuyết phục UBTT rằng việc làm sai trái của bên kia nghiêm trọng đến mức phải bồi thường.
Các trọng tài viên đã quyết định như sau:
Thông báo chấm dứt hợp đồng của nguyên đơn quá bất ngờ và vì thế bị coi là chấm dứt hợp đồng bất hợp pháp.
Bản telex ngày 11/1/1982 của nguyên đơn không có giá trị rút lại việc chấm dứt hợp đồng bất hợp pháp nói trên.
Đề nghị ngày 24/3/1984 của nguyên đơn cùng với bản telex ngày 4/4/1984 của bị đơn, chấm dứt quan hệ thương mại giữa hai bên, nhưng không làm cho nguyên đơn thoát khỏi trách nhiệm phải bồi thường cho bị đơn các thiệt hại và tổn thất phát sinh.
Không có đủ chứng cứ chứng minh các bên ký kết hợp đồng với đối thủ cạnh tranh (tiềm tàng) của bên kia.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

Wednesday, October 9, 2013

NHỮNG VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NGUYỄN MINH HẰNG  - Học viện tư pháp
NGUYỄN MINH HIẾU  – Toà dân sự TAND TP HCM
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 lần đầu tiên đã pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự, trong đó có việc hôn nhân và gia đình. Có thể nói, đây là một bước đột phá về thủ tục tố tụng, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc giải quyết nhanh, giản lược các việc mang tính chất đặc trưng là không có tranh chấp, nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự, hôn nhân gia đình… Bên cạnh những ưu điểm, thực tiễn thụ lý và giải quyết các việc dân sự (theo nghĩa rộng) nói chung và việc hôn nhân gia đình nói riêng đã và đang đặt ra khá nhiều vướng mắc cần tháo gỡ và cần có sự hướng dẫn thống nhất.
Điều 28 của BLTTDS liệt kê 7 loại việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi phát sinh quyền yêu cầu đối với mỗi loại việc này thì thủ tục giải quyết được dẫn chiếu tới các quy định tại phần thứ 5 “thủ tục giải quyết việc dân sự” của BLTTDS. Nhìn từ góc độ đối sánh, nếu như trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự các quy định về thủ tục từ nhận đơn, hướng dẫn bổ sung nội dung đơn kiện, trả lại đơn hay thụ lý đơn, việc ra các quyết định và các thủ tục khác… được quy định rất chi tiết thì đối với thủ tục giải quyết việc dân sự, phần nhiều các quy định của Luật còn mang tính khái quát, thiếu cụ thể và chi tiết.
Về nguyên tắc chung việc giải quyết việc dân sự, những quy định tại chương XX “Quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự” được ưu tiên áp dụng, những vấn đề chưa được quy định cụ thể tại chương XX thì được áp dụng các quy định khác của BLTTDS (Điều 311 BLTTDS). Tuy nhiên, ngay trong một số vấn đề giải quyết việc hôn nhân và gia đình mặc dù có hướng dẫn áp dụng nhưng chưa có sự thống nhất quan điểm dẫn tới các cách hiểu khác nhau. Điều này dễ kéo theo sự “tùy tiện” trong việc áp dụng luật. .
Xin được trao đổi về những vướng mắc của thủ tục thụ lý, hòa giải và đường lối giải quyết… xung quanh việc hiểu và áp dụng các quy định về thủ tục giải quyết việc hôn nhân gia đình khi chưa có những quy định thủ tục giải quyết cụ thể đối với các tình huống như thuận tình ly hôn, hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng…
1.Thuận tình ly hôn
Thụ lý việc thuận tình ly hôn
BLTTDS quy định hai thủ tục giải quyết ly hôn theo thủ tục vụ án dân sự – ly hôn do một bên yêu cầu (Điều 27 khoản 1, Điều 179) và giải quyết thuận tình ly hôn theo loại việc dân sự (Điều 28 khoản 1, Điều 311). Cơ sở để xác định thủ tục tố tụng khi thụ lý giải quyết vụ án hay việc hôn nhân và gia đình xuất phát từ việc xác định thế nào là sự thể hiện ý chí thuận tình ly hôn. Trên thực tế, có trường hợp cả hai vợ chồng ký tên vào đơn thuận tình ly hôn và yêu cầu toà án công nhận, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp thỏa thuận (thuận tình) ly hôn không được thể hiện trong hình thức và nội dung đơn. Chẳng hạn, trường hợp vợ (chồng) nộp đơn yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), sau khi thụ lý thì chồng (vợ) gửi đơn đồng ý ly hôn hoặc trong biên bản tự khai thể hiện ý chí cũng đồng ý với đơn xin ly hôn của vợ (chồng). Như vậy, trong trường hợp này có xác định được là sự thuận tình hay không, để nhận đơn thụ lý theo việc hay vụ án hôn nhân và gia đình? Về vấn đề này, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đã có hướng dẫn tại công văn số 62/2001/KHXX ngày 13/6/2001 về cách hiểu thế nào là thuận tình ly hôn, cụ thể là: “Trường hợp vợ chồng cùng viết một đơn xin thuận tình ly hôn, thì họ là đồng nguyên đơn. Khi thụ lý tuy chỉ có một bên nộp tạm ứng án phí nhưng cần hiểu là có sự thoả thuận với nhau ”. Hiện nay, BLTTDS không có quy định cụ thể về trường hợp nào là thuận tình ly hôn để thụ lý theo thủ tục việc dân sự. Vấn đề đặt ra là, có thể dựa vào tinh thần của công văn trên để thụ lý vụ, việc dân sự theo quy định của BLTTDS không?
Chúng tôi cho rằng, cách xác định của công văn trên là hợp lý. Bởi lẽ, thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ và chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân, được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng. Đơn xin thuận tình ly hôn là văn bản xác nhận chính thức ý chí và yêu cầu của cả hai người (theo quy định tại Điều 312 BLTTDS) ngay từ khi nộp đơn yêu cầu toà án giải quyết. Do vậy, đó là cơ sở để thụ lý theo thủ tục việc dân sự (Điều 311 BLTTDS). Còn khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của một bên đương sự, trong quá trình toà án giải quyết vụ án, thì nếu có sự thoả thuận ly hôn (đơn trình bày của bị đơn có nội dung chấp nhận ly hôn, bản tự khai thể hiện ý chí thuận tình ly hôn) cũng không làm thay đổi thủ tục giải quyết vụ án.
Thực tiễn xét xử cũng gặp những vướng mắc nhất định khi áp dụng các quyết định tố tụng liên quan đến việc thể hiện ý chí thuận tình ly hôn sau khi tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án. Chẳng hạn, trường hợp vợ (chồng) làm đơn xin ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu) sau đó trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tòa án tiến hành hòa giải, vợ (chồng) lại thuận tình ly hôn và thỏa thuận được tất cả các vấn đề giải quyết trong vụ án. Tòa án có thể áp dụng được Điều 187 BLTDS để ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn trên cơ sở biên bản hòa giải đoàn tụ không thành được hay không? Về vấn đề này, hiện nay tồn tại 2 quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Không thể áp dụng Điều 187 BLTTDS để ra quyết định trong trường hợp này được, do đây là loại quan hệ mang đầy đủ những tính chất đặc trưng của quan hệ hôn nhân gia đình, vì vậy phải áp dụng quy định hướng dẫn của Luật nội dung về vấn đề này. Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NĐ- HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại mục 10b hướng dẫn về thủ tục ly hôn do một bên yêu cầu có quy định rõ: “trong trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung”. Như vậy, kết quả của việc hòa giải đoàn tụ không thành là cơ sở để ra phán quyết bằng một bản án chứ không thể là một quyết định công nhận thuận tình ly hôn được.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: áp dụng mục 7, phần I Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005: “nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì tòa án phải lập biên bản về sự thỏa thuận đó và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự theo quy định tại Điều 187 BLTTDS”.
Chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ nhất bởi lẽ, theo BLTTDS, khi các đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì toà án lập biên bản hoà giải thành (Điều 186 khoản 2). Căn cứ vào biên bản hoà giải thành, toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Điều 187). Còn trong vụ án xin ly hôn, toà án có tiến hành hoà giải trên cơ sở để các đương sự đoàn tụ với nhau. Nếu các đương sự vẫn thuận tình ly hôn, có nghĩa là toà án hoà giải không thành, do đó, sẽ không thuộc trường hợp toà án lập biên bản về sự thoả thuận và ra quyết định công nhận sự thoả thuận, theo hướng dẫn của Mục 7.1 phần I Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 đã nêu ở trên. Vì vậy, tòa án phải mở phiên toà xét xử vụ án, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000.
Khi thụ lý giải quyết việc thuận tình ly hôn cũng cần xác định thời điểm chung sống để xác định tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân, đặc biệt đối với trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Việc xác định thời điểm chung sống là căn cứ để phân biệt việc thụ lý theo quan hệ thuận tình ly hôn hay hủy kết hôn trái pháp luật. Theo đó, cần lưu ý hai trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Nam nữ kết hôn trước ngày 13/1/1960 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực pháp luật) thì dù không tuân theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, khi họ có đơn xin thuận tình ly hôn cần phải xác định đây là việc về thuận tình ly hôn chứ không phải là hủy kết hôn trái pháp luật.
Đối với trường hợp một người sinh sống ở miền Nam có nhiều vợ trước 25/3/1977 (ngày ban hành Nghị quyết 76/CP của Chính phủ công bố văn bản luật áp dụng trong cả nước), nay nộp đơn yêu cầu thuận tình ly hôn với một trong các người vợ, cần xác định quan hệ chung sống như vợ chồng giữa họ là quan hệ hôn nhân thực tế. Do đó, việc thụ lý giải quyết yêu cầu này phải theo thủ tục thuận tình ly hôn. Điều này cũng phù hợp với hướng dẫn tại điểm a) khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành pháp lệnh thừa kế năm 1990 “Trường hợp một người có nhiều vợ (. . . trước ngày 25/3/1977 – ngày công bố các danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước đối với miền Nam . . .) thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng…”
- Trường hợp 2: Đối với cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ (có chồng) ở miền Nam tập kết ra Bắc năm1954 lại lấy vợ hoặc chồng khác ở miền Bắc, theo hướng dẫn tại Thông tư số 60/DS ngày 22/2/1978 của TANDTC thì đây là những trường hợp ngoại lệ, có vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng nhưng không nhất thiết phải xử hủy việc kết hôn của họ.
Thủ tục hòa giải
Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, trong khi đó, bản chất của việc dân sự là sự xác nhận một sự kiện pháp lý nên về nguyên tắc, không có thủ tục hòa giải và không có thủ tục phản tố. Vấn đề là, đối với việc thuận tình ly hôn, tòa án có áp dụng quy định chung về việc dân sự để không tiến hành hòa giải hay không? Chúng tôi cho rằng, quan hệ hôn nhân mang tính chất đặc thù riêng, vì vậy tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải với mục đích để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và đoàn tụ với nhau. Nếu hòa giải đoàn tụ không thành thì tòa án mới mở phiên họp ra quyết định giải quyết việc dân sự. Đây cũng là quy định hợp lý vì Điều 311 BLTTDS cũng không cấm việc hòa giải: “toà án áp dụng những quy định của chương này (chương quy định giải quyết theo thủ tục việc dân sự), đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ Luật này không trái với những quy định của chương này để giải quyết việc dân sự” Tại Điều 10 BLTTDS cũng quy định: “toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: “trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì tòa án phải tiến hành hòa giải. Trong trường hợp tòa án hòa giải không thành thì tòa án lập biên bản về sự tự nguyện ly hôn và hòa giải đoàn tụ không thành”. Như vậy, có cơ sở pháp lý trong việc tòa án tiến hành hòa giải riêng đối loại việc thuận tình ly hôn.
2.Không công nhận quan hệ vợ chồng (Hộp)
Từ quy định của Luật nội dung đối với loại quan hệ này, công tác xét xử đang gặp lúng túng khi xác định thẩm quyền của toà án khi thụ lý vụ, việc dân sự. Điều 27, Điều 28 BLTTDS chỉ quy định về thủ tục giải quyết các vụ, việc về ly hôn; không quy định về thủ tục thụ lý yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.
Khó khăn ở chỗ, có trường hợp một người nộp đơn đề nghị toà án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ với người mà họ đang chung sống. Người yêu cầu thực sự khó khăn trong việc xây dựng tiêu đề cho lá đơn. Pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng, tức là không có sự hình thành một quan hệ hôn nhân, nên không thuộc trường hợp loại tranh chấp khác hoặc loại việc khác theo Điều 27 khoản 6 hoặc Điều 28 khoản 7 BLTTDS, để toà án thụ lý theo sổ thụ lý vụ án. Nếu đương sự làm đơn với tiêu đề “yêu cầu ly hôn” thì họ biết chắc yêu cầu của họ sẽ không được toà án chấp nhận. Điều 11 khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.
Vì vậy, xét về bản chất vụ việc, đây là việc xác nhận một sự kiện pháp lý. Chúng tôi cho rằng cần đi từ đặc trưng, tính chất của việc dân sự, hôn nhân gia đình để xác định thủ tục thụ lý vụ hay việc trong hai trường hợp sau:
(1) Nếu người yêu cầu thỏa thuận về việc đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng, tài sản, con cái thì giải quyết đồng thời trong quyết định giải quyết việc không công nhận quan hệ vợ chồng (thụ lý và giải quyết theo việc hôn nhân gia đình). Tuy nhiên, nếu người liên quan đến việc thỏa thuận tài sản có tranh chấp với người có đơn yêu cầu thì phần tranh chấp đó không thể được giải quyết theo thủ tục việc dân sự. Chẳng hạn, A, B đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng và cùng thỏa thuận mỗi người trả một nửa số nợ với C là 20 triệu đồng/1 người. Nhưng khi được thông báo C cho rằng A, B nợ C 50 triệu đồng chứ không phải là nợ 40 triệu đồng thì quan hệ nợ này phải được tách ra giải quyết ở vụ án khác;
(2) Nếu người yêu cầu chỉ đề nghị tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng nhưng về tài sản và con cái, họ có tranh chấp với nhau. Trong trường hợp này cần xác định hai thủ tục để giải quyết. Một là giải quyết theo việc hôn nhân gia đình với yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, hai là giải quyết theo án với yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản và con cái.
3. Huỷ việc kết hôn trái pháp luật
Thời hiệu yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật
Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã liệt kê những trường hợp kết hôn trái pháp luật: kết hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối; kết hôn mà chưa đủ tuổi; kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng; với người mất năng lực hành vi; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ hàng trong phạm vi ba đời; kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với những người đã từng là con nuôi, giữa bố chồng với con dâu, giữa mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2002 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân và Đgia đình năm 2000 quy định: nếu sau khi bị ép buộc, lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối, bị cưỡng ép đã biết, nhưng đã thông cảm và tiếp tục chung sống hoà thuận, thì không quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn, thì toà thụ lý vụ án để giải quyết việc ly hôn theo thủ tục chung.
Qớuy định trên liên quan đến quy định của BLTTDS về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật” và có những bất cập. Theo Điều 159 khoản 2 BLTTDS, toà án chỉ thụ lý giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật trong thời hạn một năm, kể từ ngày biết quyền lợi của mình bị xâm hại, làm phát sinh quyền yêu cầu. Sau thời hạn này tòa án sẽ không thụ lý giải quyết nữa. Vấn đề là hiểu như thế nào về ngày phát sinh quyền yêu cầu? Chẳng hạn, A và B kết hôn trái pháp luật tháng 1/2005 đến thời điểm tháng 1/2007 mới có đơn yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật. Trong trường hợp này tòa án có xác định là hết thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Có đặt ra vấn đề quyền yêu cầu phát sinh ngay từ khi quan hệ hôn nhân trái pháp luật đó diễn ra trên thực tế hay đây thuộc trường hợp ngoại lệ không hạn chế về thời gian yêu cầu? Đây là một vấn đề cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể. Chúng tôi cho rằng, quan hệ hôn nhân hợp pháp gắn chặt với quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ. Điều 24 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định: “quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tại khoản 2 Điều 25 BLDS có quy định việc bảo vệ quyền nhân thân “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai”. Vì vậy, đối với việc hủy hôn nhân trái pháp luật có cơ sở trong việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 160 BLDS năm 2005: “Không áp dụng thời hiệu yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng, việc xác định thời hiệu yêu cầu và giải quyết những trường hợp hết thời hiệu phải căn cứ vào tính chất của từng yêu cầu:
Đđối với yêu cầu toà án giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật” do bị lừa dối, bị ép buộc hoặc bị cưỡng ép kết hôn (Điều 15 khoản 1 của Luật ĐHôn nhân và gia đình năm 2000), ườợnhưng nếu cuộc sống hôn nhân của người bị lừa dối, bị ép buộc hoặc bị cưỡng ép kết hôn đã ởêđược thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận (như hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán) khi có yêu cầu chấm dứt quan hệ chung sống, toà án sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết cho ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng.
Đđối với yêu cầu toà án giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật’ do kết hôn mà chưa đủ tuổi; kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng; với người mất năng lực hành vi; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ hàng trong phạm vi ba đời; kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với những người đã từng là con nuôi; giữa bố chồng với con dâu; giữa mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng, chủ thể nào có quyền yêu cầu? Và chủ thể của quyền yêu cầu này có bao gồm cả cơ quan viện kiểm sát hay không? Theo quy định tại Điều 15 khoản 2 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì : “Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của luật này” Điều 21 khoản 1 BLTTDS quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Vấn đề là, quyền yêu cầu của viện kiểm sát theo quy định của pháp luật hiện hành là gì, có bao gồm quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Chúng tôi cho rằng, cần phải xác định lại quyền khởi kiện vụ án dân sự hay việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước với các chủ thể được quy định cụ thể tại Điều 162 BLTTDS mà không có chủ thể là viện kiểm sát. Điều này cũng phù hợp với hướng dẫn tại mục 1 phần III “Quyền yêu cầu của viện kiểm sát đối với tòa án” trong thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT – VKSNDTC-TANDTC ngày 1/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Thông tư này đã giải thích rõ Điều 21 của BLTTDS về quyền yêu cầu của viện kiểm sát đối với tòa án đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chứ không phải quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự.
Về thủ tục tố tụng
Điều 28 khoản 1 và Điều 311 BLTTDS quy định: Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật được giải quyết bằng loại việc dân sự. Còn Điều 27 khoản 1 quy định giải quyết nuôi con, chia tài sản khi ly hôn bằng một vụ án dân sự.
Vậy khi có yêu cầu giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật và giải quyết tranh chấp về quan hệ con cái, tài sản, ậthì toà án có phải giải quyết riêng đối với yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật bằng loại việc dân sự và xét xử vụ án đối với tranh chấp về con cái, àtài sản hay không? Có hai loại quan niệm đang tồn tại trên thực tế: Quan điểm thứ nhất cho rằng, căn cứ Điều 27 khoản 1, 2, và Điều 28 khoản 1 BLTTDS, phải giải quyết riêng yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật bằng thủ tục việc dân sự và nuôi con, chia tài sản bằng vụ án dân sự. Còn quan điểm thứ hai cho rằng, nên căn cứ vào yêu cầu chính của đương sự để áp dụng thủ tục tố tụngảế. Yêu cầu chính trong vụ việc này là yêu cầu “huỷ kết hôn trái pháp luật”, trên cơ sở đó thì các đương sự mới yêu cầu giải quyết tranh chấp nuôi con và phân chia tài sản. Vậy nên áp dụng thủ tục việc dân sự để giải quyết chung ba mối quan hệ trên.
Chúng tôi cho rằng, cần giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật theo thủ tục việc dân sự, đối với tranh chấp nuôi con và chia tài sản thì thụ lý và giải quyết theo án dân sự doì thủ tục tố tụng của hai loại vụ, việc này là óáhoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con thuộc diện được cấp dưỡng, thì trong quyết định giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật nên áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (giao con chưa thành niên cho cá nhân, tổ chức trong nom nuôi dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng) theo Điều 102 khoản 1, 2 và Điều 119 BLTTDS.
Trường hợp nếu đương sự yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và thoả thuận được về quan hệ nuôi con và chia tài sản, thì căn cứ vào Điều 28 khoản 1, 2 BLTTDS giải quyết chung theo thủ tục việc dân sự.
Vấn đề giải quyết việc huỷ kết kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp kết hôn chưa đủ tuổi
Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 quy định tuỳ trường hợp mà quyết định. Nếu đến thời điểm yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian qua đãkhông hạnh phúc, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Còn  cả hai đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian qua họ đã chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung, thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn, thì toà án thụ lý vụ án để giải quyết việc ly hôn theo thủ tục chung.
ằVới quy định trên, ậvô hình trung, Luật chỉ dự liệu trường hợp các đương sự trong vụ tảo hôn đều còn chung sống vào thời điểm có yêu cầu toà án giải quyết. Thực tiễn, nhiều quan hệ hôn nhân trái pháp luật yêu cầu huỷ việc kết hôn xuất phát từ động cơ tranh giành di sản hơn là chống tảo hôn. Ví dụ, một người nam 20 tuổi xác lập quan hệ hôn nhân với người nữ 16 tuổi. Sau ba năm chung sống thì người nam chết, cũng không có con chung và cha mẹ của người chết cũng đã chết trước đó. Toà án sẽ có hai quan điểm xử lý như sau: Quan điểm 1 thừa nhận quan hệ hôn nhân không thể bị huỷ được nữa, nên người vợ sẽ là người thừa kế theo pháp luật duy nhất ở hàng thừa kế thứ nhất (khoản 1, Điều 679 của BLDS). Còn quan điểm 2 thì cho rằng, kết hôn trái pháp luật vẫn có thể bị huỷ, dù người chồng đã chết. Sìau khi kết hôn trái pháp luật bị huỷ, những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba sẽ được nhận di sản.
Chúng tôi cho rằng, pháp luật đã dành cho đương sự quyền yêu cầu toà án giải quyết huỷ kết hôn trái pháp luật trong thời hạn một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu. Trong thời hạn một năm này, nếu đương sự vẫn không yêu cầu, tức là đương sự đã có cuộc sống chung hoà thuận hạnh phúc. Vấn đề còn lại là, khi xác định người còn sống cóả thuộc diện thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất theo nghĩa vợ (chồng) của người đã chết hay không, thì căn cứ vào thời điểm mở thừa kế, các bên đã đủ tuổi kết hôn hay chưa. Nếu các bên đã đủ tuổi kết hôn thì được coi như là vợ chồng hợp pháp và được thừa hưởng di sản của nhau. Nếu các bên chưa đủ tuổi kết hôn thì không coi là vợ chồng hợp pháp và không được hưởng di sản thừa kế.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Thursday, October 3, 2013

TỪ NGÀY 1/7/2009: ÁN PHÍ HÔN NHÂN TĂNG GẤP 4 LẦN

LS. HUỲNH MINH VŨ (Đoàn Luật sư TP.HCM)
Từ ngày 1/7/2009, Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án có hiệu lực thi hành. Đáng lưu ý là theo quy định mới, lệ phí, án phí bình quân tăng gấp bốn lần so với quy định cũ.
Xin giới thiệu những quy định mới về án phí, lệ phí trong các vụ, việc về HNGĐ.
* Những trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí, lệ phí:
- Người khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Cơ quan, tổ chức yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
* Những yêu cầu về HNGĐ (còn gọi là việc dân sự) thuộc diện phải nộp lệ phí, mức thu 200.000đ/việc bao gồm:
- Cá nhân yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi …
* Những tranh chấp về HNGĐ (còn gọi là vụ án dân sự) thuộc diện phải nộp án phí, mức thu 200.000đ/ vụ, bao gồm:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
- Tranh chấp về cấp dưỡng…
* Một số lưu ý về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
– Các đương sự trong vụ án về HNGĐ có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, thì ngoài việc chịu án phí dân sự nói trên, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với phần giá trị tài sản mà họ được chia.
Sau đây là mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch (trích Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án, ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/2/2009):
Ví dụ: Khi anh A và chị B ly hôn, nhưng có tranh chấp tài sản với tổng giá trị là 8.000.000.000đ. Kết quả cuối cùng tòa án xử chia đôi, thì ngoài án phí ly hôn 200.000đ, mỗi bên còn phải nộp 112.000.000đ án phí, tương ứng với 4.000.000.000đ được chia (phần tài sản tranh chấp có giá ngạch).
Trường hợp nếu ban đầu anh A và chị B có tranh chấp về tài sản chung, nhưng sau khi tòa án hòa giải, các bên đã thỏa thuận được về vấn đề chia tài sản chung (chia đôi) trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, thì tương ứng với 4.000.000.000đ được chia, mỗi bên chỉ phải nộp 56.000.000đ án phí (tức 50% mức án phí
quy định).
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ví dụ: anh A đơn phương xin ly hôn với chị B, thì anh A phải nộp án phí dân sự là 200.000đ, bất luận là tòa án xử cho ly hôn hay "bác" đơn của anh A, chị B không phải nộp án phí.
Như vậy, với pháp lệnh mới, mức án phí HNGĐ rất cao. Là người làm công tác trong ngành tư vấn Luật, tôi thành thật đề nghị các gia đình trước "ngưỡng" ly hôn nên cân nhắc thật kỹ, kẻo không tài sản, tiền bạc không chia được cho nhau là mấy lại vừa mất hết tình thâm… Con cái thiệt thòi.
 Giá trị tài sản có tranh chấp
Mức án phí
a) Từ 4.000.000đ trở xuống
200.000đ
b) Từ trên 4.000.000đ đến 400.000.000đ
5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000đ đến 800.000.000đ
20.000.000đ + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000đ
d) Từ trên 800.000.000đ đến 2.000.000.000đ
36.000.000đ + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000đ
đ) Từ trên 2.000.000.000đ đến 4.000.000.000đ
72.000.000đ + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000đ
e)  Từ trên 4.000.000.000đ
112.000.000đ + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000đ.
SOURCE: PHUNUONLINE.COM.VN

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code