Showing posts with label PHAP LUAT VE LAO DONG VA AN SINH XA HOI. Show all posts
Showing posts with label PHAP LUAT VE LAO DONG VA AN SINH XA HOI. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: THANH LÝ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI NGA TRƯỚC THỜI HẠN, AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG?

HẠNH LÊ
Bất đồng quan điểm trong việc bồi thường, 36 lao động (LĐ) từ Nga trở về trước thời hạn đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng là kéo nhau đến trụ sở Trung tâm Hợp tác lao động với nước ngoài (gọi tắt là Trung tâm) thuộc TCty Thép VN và Cục quản lý LĐ ngoài nước để đòi quyền lợi.
Trong khi đó, tới thời điểm này không thấy Cục quản lý lao động ngoài nước có thêm biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi cho người LĐ ngoài một công văn yêu cầu Trung tâm đẩy nhanh tiến độ thanh lý hợp đồng được ký cách đây hơn 1 tháng. Khi LĐ tập trung đòi quyền lợi tại trụ sở Cty và tại trụ sở của Cục quản lý lao động ngoài nước chiều 28/8 thì Cục cũng chưa có câu trả lời cũng như một hướng giải quyết cụ thể nào trong khi người LĐ đang đặt hết hi vọng vào cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.
5 tháng XKLĐ = 67 USD
36 LĐ – trong đó, có 34 LĐ là người Bắc Ninh, còn 2 LĐ trú tại Hà Nội ký hợp đồng với Trung tâm sang Nga làm việc cho chủ sử dụng lao động là Công ty APC từ tháng 9/2008. Chi phí cho chuyến đi là 3.000 USD/người. Tuy nhiên, khi sang Nga, NLĐ lại không làm việc cho Cty APC như hợp đồng mà được “chuyền tay” qua hết Cty này sang Cty khác như: Kamaz, Akvaxintez, Kaleri, Prophmarket… Mặt khác, thông tin trên thẻ lao động lại chỉ có vị trí “hoành tráng” như Giám đốc, Trưởng phòng, Tư vấn kinh doanh, nhân viên kinh doanh… chứ không phải thợ xây như hợp đồng lao động. “Cũng chính vì điều này mà NLĐ đã bị cơ quan chức năng Nga truy đuổi 3- 4 lần vì làm việc không đúng chức năng và không đúng địa điểm như thẻ lao động cấp!” – anh Nguyễn Hùng Vĩ – một lao động bức xúc.

Cũng theo hợp đồng, NLĐ được nhận lương từ 450 – 550 USD. Song trong thực tế, ngoài 300 USD được ứng thì tất cả đều không nhận được một đồng lương nào. Theo anh Vĩ, Cty tìm mọi cách bắt lỗi người lao động và trừ lương. Trong đó khoản nặng nhất là bị phạt 1.443 USD do LĐ đã làm hỏng công trình xây dựng biệt thự 5022. Vì vậy, sau 5 tháng làm việc, anh Vĩ – tổ trưởng tổ xây dựng chỉ còn lại… 67 USD. Cùng với hàng loạt lỗi khác, Cty APC đã đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ngày 19/6/2009, tất cả 36 lao động đã về nước trước hạn.
Thanh lý hợp đồng: đẩy lỗi cho người lao động
Sau khi về nước, đại diện LĐ đã liên lạc với Trung tâm để thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, sau hơn 2 tháng, hợp đồng chưa thể thanh lý bởi Trung tâm luôn khẳng định, người LĐ về nước hoàn toàn do lỗi của họ vi phạm đối với chủ sử dụng APC tại Nga. Vì vậy, người lao động sẽ hoàn toàn phải chịu phạt, thậm chí phải chi trả toàn bộ vé về. Trung tâm không thanh lý hợp đồng mà chỉ hỗ trợ khoản tiền nhất định. Ông Đặng Văn Việt – Giám đốc Trung tâm thừa nhận chuyện LĐ không có lương và bị chậm lương là do đối tác phía Nga đã phạt vì một số sai sót trong thiết kế tại công trình 5022. Thế nhưng, theo ông Việt đây là do DN của Nga đã “gài bẫy”, người LĐ đã ký vào biên bản nên Trung tâm không có cách nào đòi lại khoản tiền bị trừ từ Cty APC. Hiện, Trung tâm chỉ thu được khoản phí quản lý 1.000 USD/người và đã mua vé lượt về cho người LĐ hết 600 USD/người nên Trung tâm chỉ có thể trả số tiền còn lại và tiền hỗ trợ LĐ tổng cộng là 500 USD. Trong khi đó, yêu cầu của NLĐ là Trung tâm bồi thường 4.500 USD (trong đó 3.000 USD chi phí ban đầu và 5 tháng tiền lương). Đẩy lỗi về phía người LĐ nhưng những sai phạm trong hợp đồng như người LĐ bị “chuyền” qua nhiều Cty mặc dù ký hợp đồng với APC, thẻ lao động không đúng chức danh và vị trí làm việc, mức lương không đúng như thỏa thuận… thì ông Việt không đưa ra lời giải thích hợp lý. Hơn nữa, Trung tâm hợp tác lao động nước ngoài (TCty Thép) cũng là đơn vị môi giới tại VN. Trung tâm này đã thu của người LĐ 1.000 USD/người được gọi là phí quản lý. Tuy nhiên, trong thực tế trung tâm này hầu như không có vai trò gì, kể cả việc tuyển chọn, đào tạo người LĐ, thỏa thuận rõ ràng về định mức LĐ với chủ sử dụng tại Nga và bảo vệ quyền lợi của người LĐ khi cần thiết.
Việc người LĐ chịu phạt từ công trình 5022 cũng là điều phi lý. Bởi việc chịu trách nhiệm về kỹ thuật trong công trình xây dựng phải do người giám sát kỹ thuật mà không phải do người LĐ. Trong hợp đồng ký với chủ sử dụng LĐ cũng không có điều khoản nào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, Trung tâm môi giới tại VN, mặc dù không đồng ý về quyết định của chủ sử dụng LĐ là Cty APC nhưng cũng không còn cách giải quyết nào hơn. Kết quả là người LĐ phải gánh chịu toàn bộ hậu quả.
Tuy nhiên, khi về nước việc thanh lý hợp đồng gần như giậm chân tại chỗ. Trung tâm không có động thái tích cực để thương lượng, giải quyết dứt điểm. Chỉ đến khi người lao động vạ vật, tập trung đòi quyền lợi tại trụ sở trung tâm thì trung tâm mới đưa ra mức hỗ trợ, chứ không chấp nhận thanh lý hợp đồng.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: SA THẢI NHÂN VIÊN VÌ LỪA ĐỐI NHẬN THƯỞNG

HOÀNG LAM
Mức kỷ luật này quá nặng so với quy định của Bộ luật Lao động.
Năm 2005, anh T. (quận Phú Nhuận, TP.HCM) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn để làm công nhân cho một công ty của Nhật Bản có chi nhánh tại Việt Nam. Năm 2007, công ty thông báo hứa thưởng cho nhân viên cũ có công giới thiệu nhân viên mới vào công ty. Nếu người mới ký hợp đồng và làm việc dưới hai tháng thì người giới thiệu được thưởng 50 ngàn đồng, làm trên hai tháng thì thưởng 100 ngàn đồng, làm trên sáu tháng thì thưởng 150 ngàn đồng.
Muốn hưởng tiền thưởng, anh T. mạo nhận mình có giới thiệu một số nhân viên mới. Thật không may, công ty phát giác hành vi mạo nhận này nên đưa anh T. ra xem xét kỷ luật. Bởi lẽ khi đối chiếu thực tế, các nhân viên do anh T. mạo nhận giới thiệu đã khẳng định mình không hề quen biết anh T., cũng chưa từng nhờ anh nộp hồ sơ giúp.
Cuối tháng 2-2008, công ty lập biên bản kỷ luật anh T. về hành vi “vi phạm gian dối để nhận tiền công ty”, đồng thời ra quyết định sa thải anh T. với lý do “lừa dối nhận tiền công ty”. Điều này đồng nghĩa với việc công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh.
Cho rằng mình bị sa thải trái luật, anh T. nộp đơn kiện công ty ra TAND quận nơi công ty đặt trụ sở. Theo anh T., hành vi mạo nhận của mình tuy có thật nhưng mới là sai phạm lần đầu, chưa gây thiệt hại cho công ty. Bởi lẽ anh chưa nhận của công ty một đồng tiền thưởng nào. Giả như hành vi mạo nhận có trót lọt thì tiền thưởng anh nhận được cũng chỉ khoảng 600 ngàn đồng. Anh T. nói công ty cần áp dụng hình thức kỷ luật khác tương xứng với vi phạm của anh, chứ sa thải thì quá nặng.
Anh T. khẳng định công ty họp xét kỷ luật sa thải mà không mời anh tham gia. Trong đơn khởi kiện, anh yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết định sa thải của công ty, buộc công ty nhận anh trở lại làm việc. Ngoài ra, anh còn yêu cầu công ty trả cho mình hơn 20 triệu đồng, bao gồm tiền bồi thường vì bị sa thải trái luật và tiền lương trong những ngày anh không được làm việc. Nếu không muốn nhận anh trở lại làm việc, công ty phải trả cho anh trợ cấp thôi việc cùng một khoản tiền thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng.

Được biết, khi xem xét đơn kiện, TAND quận từng yêu cầu anh T. rút đơn vì cho rằng vụ án này buộc phải thông qua thủ tục hòa giải tại cơ sở. Theo giải thích (miệng) của thẩm phán, nếu anh T. chỉ kiện công ty về quyết định sa thải thì tòa sẽ thụ lý ngay. Đằng này anh còn yêu cầu công ty trả cho mình tiền bồi thường và lương.
Anh T. cho biết mình đã nộp đơn khởi kiện từ tháng 10-2008 nhưng không được thụ lý. Chiều 15-9, anh T. và đại diện công ty đã đến làm việc tại TAND quận. Tại đây, TAND quận tiếp tục yêu cầu các bên hòa giải mà chưa chính thức thụ lý vụ án.
Luật sư Phạm Quốc Hưng, Đoàn luật sư TP.HCM:
Không cần hòa giải tại cơ sở
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Lao động năm 2002 và Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, tôi cho rằng vụ án này không cần hòa giải tại cơ sở.
Công ty trên đã làm không đúng cả về hình thức lẫn nội dung khi sa thải anh T. Điều 85 Bộ luật Lao động quy định khi người lao động “có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp” thì bị sa thải. Trong khi đó, hành vi lừa dối nhưng chưa nhận tiền thưởng của anh T. không thuộc trường hợp này. Ngay việc họp xem xét xử lý kỷ luật mà không có anh T. tham gia đã đủ cơ sở để tòa án tuyên hủy quyết định sa thải.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC BẰNG EMAIL

HOÀNG YẾN
Người lao động kiện đòi bồi thường hơn 2,5 tỷ đồng bị tòa bác. Theo tòa, việc bà K. chỉ căn cứ vào hai thư điện tử để cho rằng công ty cho bà nghỉ việc trái luật là không đủ căn cứ. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa bác kháng cáo của hai bên đương sự trong một vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vụ án khá phức tạp bởi tranh chấp xoay quanh việc cho nghỉ việc bằng thư điện tử (email) và mức đòi bồi thường lên đến tiền tỷ.
Rắc rối từ email
Cuối tháng 9-2008, bà K. (ngụ ở Hong Kong) đã nộp đơn đến TAND TP.HCM kiện Công ty liên doanh U. Việt Nam vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà. Bà K. yêu cầu công ty bồi thường toàn bộ tổn thất hơn 2,5 tỷ đồng bao gồm tiền lương, phụ cấp, tiền phép năm cũng như bồi thường vì chấm dứt hợp đồng trái luật.
Theo bà K., tháng 9-2007, bà ký hợp đồng lao động làm trưởng phòng Dịch vụ khách hàng và thị trường của công ty đến năm 2010. Cuối tháng 3-2008, dù bà không hề có ý định bỏ việc nhưng lại nhận được hai email từ phía công ty nói là cho bà nghỉ việc.
Email đầu tiên bà nhận được vào ngày 26-3-2008, nội dung là người phụ trách về nhân sự đã cố gắng liên lạc với bà trong ngày nhưng không được. Do phải đi công tác lâu mới quay về nên người này đưa ra các đề nghị với bà. Cụ thể vào thứ Hai 31-3-2008, công ty sẽ thông báo với đội của bà rằng bà sẽ rời chức trách vì quyết định về Hong Kong. Hôm sau, quản lý nhân sự sẽ gặp bà để sắp xếp.

Cạnh đó, bà K. còn nhận được một bức thư của tổng giám đốc chấp nhận cho bà chấm dứt công việc, trở về Hong Kong và yêu cầu bà nghỉ làm trong những ngày còn lại của tuần. Sang tuần mới, người phụ trách về nhân sự sẽ liên lạc và sắp xếp cuộc họp.
Sau đó, bà K. đã trả lời email trên cho tổng giám đốc là không hề có ý định muốn nghỉ việc. Kể từ đó, email của bà bị khóa khiến bà không thể tiếp tục làm việc. Nhiều lần bà liên lạc với công ty để giải quyết về chuyện nghỉ việc của mình nhưng chỉ được trả lời miệng.
Đến tháng 9-2008, bà nhận được quyết định xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải của công ty và quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà.
Công ty phản tố
Ngược lại, phía công ty cho rằng sau khi bà K. gửi thư phản hồi cho tổng giám đốc về việc không muốn nghỉ việc thì nội dung của email ngày 26-3-2008 không thực hiện được nữa. Những ngày sau đó, hai bên ngồi lại bàn bạc nhưng không thống nhất được.
Đến ngày 15-5-2008, công ty gửi thông báo cho bà K. bằng nhiều đường: Gửi qua bưu điện, email và chuyển tay đề nghị bà đến công ty để làm việc nhưng không thấy đến. Vì bà K. không đến làm việc mà không có lý do nên công ty mới sa thải bà.
Cạnh đó, công ty phản tố yêu cầu bà K. bồi thường máy vi tính xách tay đã làm mất trị giá 24 triệu đồng, thanh toán toàn bộ chi phí hơn 670 triệu đồng mua báo cáo thị trường trong tháng 3-2008, bồi thường thiệt hại do các dự án của công ty bị ngưng trệ.
Ngoài ra, công ty còn yêu cầu bà K. trả lại chi phí vé máy bay đi về của trưởng bộ phận nghiên cứu thị trường khu vực từ Philippines sang Việt Nam để trực tiếp giải quyết những công việc tồn đọng do bà K. không đến công ty.
Cho nghỉ việc là đúng
Xử sơ thẩm hồi tháng 5, TAND TP nhận định việc bà K. chỉ căn cứ vào hai email để cho rằng công ty cho bà nghỉ việc trái luật là không đủ căn cứ. Bởi lẽ sau đó công ty có liên lạc với bà để bàn bạc giải quyết về quan hệ lao động. Trong bốn lần công ty mời bà đến làm việc vào tháng 8-2008, bà đều tự ý vắng mặt không lý do nhưng công ty vẫn trả lương cho bà đến đầu tháng 9-2008, cũng như cung cấp nhà, xe cho đến sau khi có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động.
Như vậy, bà K. đã tự ý bỏ việc từ giữa tháng 5-2008 đến đầu tháng 9-2008 khi công ty chính thức sa thải bà. Từ đó, tòa không chấp nhận việc bà K. yêu cầu hủy hai quyết định sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động của công ty. Công ty chỉ phải thanh toán cho bà K. tiền lương 10 ngày phép năm chưa nghỉ và tiền lương từ ngày 1 đến ngày 4-9, tổng cộng là 70 triệu đồng. Đồng thời, tòa cũng chỉ chấp nhận yêu cầu phản tố đòi bồi thường máy vi tính đã làm mất là 24 triệu đồng. Các thiệt hại còn lại mà công ty đưa ra theo tòa là không có căn cứ để chấp nhận.
Sau phiên xử này, hai bên đều không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm nên kháng cáo. Tuy nhiên mới đây, Tòa phúc thẩm TAND tối cao đã bác toàn bộ kháng cáo của cả hai bên vì cho rằng phán quyết của cấp sơ thẩm là chính xác.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Wednesday, March 19, 2014

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NĂM 2009: NGÀNH NÀO HẤP DẪN NHẤT


image QUỲNH LAM
Một số dự báo nhận định thị trường lao động năm 2009 sẽ có sự “đổi ngôi” giữa các ngành nghề. Một phần nguyên do của hiện tượng này đến từ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, và cũng đến từ cả những khó khăn nội tại của nền kinh tế trong nước.
Tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin u ám
Năm 2007 được xem là năm hoàng kim của ngành tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin. Năm 2008, những nghề này bắt đầu nằm trong diện chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cũng như những khó khăn trong nước.
Theo bà Winnie Lam, Giám đốc bộ phận Tư vấn nhân sự của Navigos Group, công ty cung cấp giải pháp nhân sự và tuyển dụng hàng đầu Việt Nam, trong tình hình kinh tế hiện nay, doanh nghiệp cũng như người lao động thường thận trọng hơn trong việc thay đổi nhân sự, thay đổi công việc. Với các công ty, thường thì họ chọn giải pháp hoặc bình ổn, hoặc thay đổi theo chiều hướng cắt giảm nhân sự.
Bà Winnie Lam cho rằng, khi quyết định cắt giảm nhân sự xảy ra, ảnh hưởng nhiều nhất sẽ đến với những ngành nghề đã phát triển quá nóng trong những năm qua. Tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin chính là những ngành được dự báo là ảnh hưởng nhiều nhất.
Ngoài ra, sự đổ vỡ hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới vừa qua đã khiến cho lĩnh vực tài chính, vốn thu hút nhiều nhân lực những năm gần đây, co cụm lại và đối mặt với một cuộc khủng hoảng thừa. Điều này cũng đã và đang thể hiện ở trong nước.
Ví dụ, tại Citigroup, ngân hàng lớn thứ hai của Mỹ cũng vừa có kế hoạch sa thải thêm 52.000 nhân viên vào đầu năm 2009. Trong 9 tháng đầu năm 2008, tập đoàn này cũng đã cắt giảm 23.000 việc làm. Kế hoạch cắt giảm việc làm này nằm trong chính sách cắt giảm chi tiêu để đối phó với tình hình khủng hoảng.

Trong nước, một phần ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm, nhiều công ty môi giới đã buộc phải giảm từ 20% – 30% nhân lực hoặc một khoản chi phí tương ứng. Nhiều ngân hàng thương mại cũng ở trong tình thế tương tự, đặc biệt là sau khó khăn trong 6 tháng đầu năm.
Ông Phạm Quang Ngọc, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cho rằng, nếu như năm 2007 đầu năm 2008 được coi là năm của nhân lực ngành tài chính với những mức lương ngất ngưởng, thậm chí sự cạnh tranh nhân lực luôn xảy ra với các công ty hoạt động trong lĩnh vực này, thì từ cuối năm 2008 và trong năm tới, sẽ có một cuộc đào thải lao động lớn trong ngành này; phía sau đó là chất lượng lao động sẽ được “siết chặt hơn”.
Một ngành thuộc diện “hot” trong những năm qua là công nghệ thông tin cũng đang chịu tác động của khủng hoảng kinh tế. Nếu như năm 2007 và 2008, nhiều học viêncông nghệ thông tin ra trường không sợ thất nghiệp, được mời chào với những mức lương khá hấp dẫn, thì năm 2009, nhiều chuyên gia dự báo, sẽ có 10% – 15% nhân viên công nghệ thông tin thất nghiệp.
Ngay từ tháng 7/2008, một trong những công ty công nghệ hàng đầu của Việt Nam là FPT cũng đã có quyết định cắt giảm 10% nhân sự. Gần đây là sự xôn xao trên thị trường công nghệ về một trường hợp “ghép” ba công ty con làm một để tinh gọn bộ máy, đồng nghĩa với một lực lượng lao động phải ra đi.
Ngành xây dựng, du lịch, dịch vụ  tiếp tục “ngủ đông”
Ngoài lao động trong ngành tài chính, các chuyên gia dự báo năm 2009 cũng sẽ là năm phẳng lặng của nhân lực ngành xây dựng, du lịch và dịch vụ. Lý do được đưa là trong thời khủng khoảng tài chính, nhu cầu và sức tiêu dùng ở lĩnh vực này sẽ sụt giảm.
Ông Nguyễn Xuân Vui, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ và Thương mại hàng không, cho rằng khi kinh tế khó khăn, người ta cũng ít nghĩ đến chuyện du lịch, giải trí. Các tour du lịch tại công ty ông cũng đã giảm đáng kể so với hồi đầu năm.
“Khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh đến  hiệu quả kinh doanh của ngành dịch vụ, du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của lao động động ngành này. Năm 2009, nếu tình hình không được cải thiện, chúng tôi sẽ buộc phải cắt giảm lao động”, ông Vui cho biết.
Y, dược, bán hàng, marketing “lên ngôi”
Trong khi phần lớn các ngành nghề đang “tụt hạng”, thì năm 2009 lại được dự đoán là năm của lao động ngành y, dược.
Tại một cuộc hội thảo về lĩnh vực này vừa được tổ chức tại Tp.HCM,  các chuyên gia nhận định, sự thiếu hụt nhân lực trong ngành y, dược mà Bộ Y tế vừa công bố chính là nhu cầu cho ngành này trong năm tới.
Theo số liệu từ cuộc hội thảo, trung bình mỗi năm, mỗi công ty trong ngành dược sẽ tuyển từ 40 – 80 lao động, chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học để đảm nhận những công việc như trình dược viên, nhân viên trong các công ty dược, bệnh viện và sở y tế các tỉnh, thành. Đó là chưa kể sự thiếu hụt nguồn nhân lực là các y, bác sỹ.
Còn theo báo cáo của Bộ Y tế, hiện cả nước có trên 85 triệu dân nhưng chỉ có 55.000 bác sỹ. Như vậy, tính trung bình chỉ có khoảng 6,4 bác sỹ trên 10.000 dân. Với vùng sâu, vùng xa, số lượng bác sỹ chỉ là 2/10.000 người.
Cũng theo bộ này, hiện mỗi năm việc khám chữa bệnh tại các bệnh viện cần thêm khoảng 6.000 bác sỹ, 1.500 dược sỹ, 10.000 điều dưỡng viên và khoảng 7.000 các cán bộ khác. Nhu cầu nhân lực cho các bệnh viện từ nay đến 2010 trên 74.000 người. Đây chính là “sức hút” nhân lực ngành y, dược trong năm tới.
Ở một chuyển động khác, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc kinh doanh đình trệ, các doanh nghiệp phải tìm đủ mọi cách để sản phẩm mình làm ra khẳng định được tên tuổi, chỗ đứng. Đây chính là cơ hội cho ngành truyền thông, marketing, bán hàng phát triển.
Trao đổi với VnEconomy về nguồn nhân lực cho ngành này, một giám đốc công ty truyền thông cho biết, sở dĩ ông thành lập công ty truyền thông vì nhận thấy đây là một ngành phát triển mạnh nhất trong nửa năm trở lại đây, hiện nhân lực trong lĩnh vực này luôn trong tình trạng cung không đủ cầu.
Ghi nhận từ thống kê trực tuyến của Vietnamworks.com cũng cho thấy, bán hàng, tiếp thị, truyền thông là những ngành có cầu nhân lực cao nhất hiện nay.
SOURCE: BÁO VNECONOMY

Wednesday, February 12, 2014

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – LÊ VĂN CƯƠNG
Trong giai đoạn 2008-2009, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới bắt đầu từ năm 2007 và đang tiếp tục diễn biến ngày một phức tạp và lan rộng. Một trong những tác động rõ nhất đó là tình trạng sụt giảm của thương mại toàn cầu thể hiện ở sự sụt giảm nhập khẩu hàng loạt hàng hoá tiêu dùng và các nguyên vật liệu từ thị trường bên ngoài. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc làm của người lao động ở các nước, trong đó có Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế
Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng giai đoạn 2006-2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, hợp tác để cùng phát triển tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Hơn hai năm Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, được đối xử bình đẳng trên “sân chơi chung” của thế giới. Hội nhập đem lại nhiều cơ hội việc làm, đặc biệt là việc làm theo hướng công nghiệp với hàm lượng vốn, tri thức cao; các rào cản pháp lý về di chuyển pháp nhân, thể nhân được nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động… được thiết lập tạo điều kiện cho lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực lao động và việc làm, cụ thể:
Gia nhập WTO tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam có cơ hội xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Tạo ra cơ hội gia tăng các giá trị tài sản vô hình cho bản thân người lao động và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với các nước có nền công nghiệp tiên tiến trên thế giới. Đó là các chuẩn mực, mô hình hệ thống tổ chức quản lý hiện đại được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất…
Tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng nhân lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao. Việt Nam gia nhập WTO sẽ đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt động kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá thể… Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật. Hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để có thể làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới.

Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án hợp tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn tài chính dồi dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt giảm. Tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào phân công và hợp tác lao động quốc tế. Đặt nền móng cho việc tạo việc làm một cách ổn định và bền vững.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta trong những năm tới lên khoảng 6,5-8,5%, đầu tư toàn xã hội năm 2009 ở mức khoảng 40% GDP, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta vốn đăng ký khoảng trên 60 tỷ USD và vốn thực hiện khoảng 9 tỷ USD thì nhu cầu lao động có đào tạo trong nước sẽ rất lớn. Đối với bên ngoài, việc mở rộng hợp tác của chúng ta ngày một nhiều thì nhu cầu lao động được đào tạo xuất khẩu sẽ đáng kể.
Bên cạnh những cơ hội đó, hiện nay Việt Nam đồng thời cũng phải đương đầu với các thách thức như: nền kinh tế nước ta tuy có tăng lên nhưng vẫn còn là một trong những nước nghèo với mức GDP khoảng 1000 USD/người (năm 2008), hệ thống chính sách kinh tế-xã hội đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý có sự chênh lệch lớn so với các nước phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản; mất việc làm, thiếu việc làm lớn trong khu vực phi chính thức; chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH… Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi các nền kinh tế lâm vào khủng hoảng thì việc làm sẽ giảm sút mạnh và tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng cao. Do vậy, việc xúc tiến việc làm của chúng ta ra nước ngoài sẽ khó khăn hơn.
Trong quá trình hội nhập, do cơ cấu lại nguồn nhân lực cộng với lao động dôi dư từ các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá, sẽ tạo ra các áp lực lớn về việc làm cho người lao động. Một bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp sẽ mất việc làm do trình độ chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra. Điều này gây tác động xấu về mặt xã hội, làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, người lao động mất việc làm, giảm thu nhập…
Cạnh tranh về lao động trình độ cao sẽ ngày càng gay gắt. Hội nhập, toàn cầu hoá trở thành xu thế chung, lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý…) tham gia vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, đồng thời lao động của Việt Nam cũng di chuyển ra nước ngoài nhiều hơn. Cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, nhiều người lao động bị mất việc làm; tốc độ đô thị hoá nhanh, người nông dân bị thiếu việc làm hoặc mất việc làm do thiếu đất canh tác…
Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các yêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao động phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt.
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn. Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của người lao động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm lao động.
Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt ra cho nguồn nhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng lên, các điều kiện làm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp hội tự do trong các ngành nghề…
513040.JPG
Vấn đề việc làm ở Việt Nam
Việt Nam luôn chú trọng và ưu tiên phần vốn ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Kết quả đầu tư ngân sách nhà nước đối với chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm như sau: Năm 2006 ngân sách nhà nước đầu tư cho chương trình là 265 tỷ đồng; năm 2007 là 300 tỷ đồng; năm 2008 là 327 tỷ đồng; năm 2009 là 413 tỷ đồng.
Vốn ngân sách nhà nước cho chương trình việc làm tăng đều qua các năm, trong đó bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm hàng năm tăng khá: năm 2006 bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm là 235.000 triệu đồng; năm 2007: 250.000 triệu đồng; năm 2008: 250.000 triệu đồng; năm 2009: 313.000 triệu đồng.
Năm 2006- 2007 tạo việc làm cho hơn 3,2 triệu lao động, ước tính năm 2008 tạo việc làm cho 1,615 triệu lao động (đạt 95% kế hoạch). Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị hàng năm đều giảm (năm 2006: 5,1%; năm 2007: 4,91%, năm 2008: ước đạt 4,9%). Tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn giảm dần (năm 2006: 5,86%; năm 2007: 5,79%, năm 2008: ước đạt 5,75%).
Nguồn nhân lực Việt Nam chưa đạt yêu cầu và còn yếu so với các nước trong khu vực. Tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực là 50%). Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế. Cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, theo trình độ còn nhiều bất cập. Chất lượng thấp làm lao động Việt Nam mất thế cạnh tranh, ngay cả ở thị trường lao động nội địa. Với chất lượng nguồn nhân lực như hiện tại, khi hội nhập với thị trường lao động quốc tế, lao động Việt Nam sẽ mất lợi thế và phải chấp nhận nhiều thiệt thòi.
Năng suất lao động của Việt Nam hiện tại còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Trong các năm 2006- 2008, năng suất lao động chung của nền kinh tế tăng từ 22,5 lên 26,5 triệu đồng/năm. Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 2 năm đầu của kế hoạch 2006- 2010 là tương đối khả quan nhưng năng suất lao động của nền kinh tế vẫn không được cải thiện nhiều thì sự chững lại của tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 và có thể cả trong một vài năm tiếp theo sẽ còn làm chậm hơn nữa tốc độ tăng của năng suất lao động.
Về xuất khẩu lao động: Trong 10 tháng qua, cả nước đã đưa được khoảng 72.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt khoảng 85,0% kế hoạch năm. Trong khi đó, rất nhiều người chuyển nguyện vọng sang các nước châu Âu, úc, Canada, Mỹ, Hàn Quốc… Chưa bao giờ hoạt động xuất khẩu lao động lại ở trong tình trạng phân hoá thị trường và nguồn lao động mạnh mẽ như hiện nay…
Giải pháp trong thời gian tới
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về lao động – việc làm: Sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Lao động, nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu; xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; kịp thời ban hành những chính sách liên quan tới giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động để khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm, đẩy mạnh mở rộng thị trường nhận lao động Việt Nam; Phê chuẩn các công ước và khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về lao động, việc làm và thị trường lao động; các thông lệ quốc tế và cam kết quốc tế liên quan của Việt Nam trong hội nhập…
Thứ hai, hoàn thiện quy hoạch hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm và cấp giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm cho các doanh nghiệp giới thiệu việc làm; đầu tư nâng cao năng lực các Trung tâm giới thiệu việc làm.
Thứ ba, có chính sách hỗ trợ người lao động trong quá trình đào tạo và đi xuất khẩu, cũng như nên có chính sách bảo vệ người lao động ở nước ngoài khi họ gặp khó khăn hay bị người quản lý lao động có những hành động không đúng pháp luật.
Thứ tư, xây dựng quỹ bảo vệ và hỗ trợ người lao động ở nước ngoài trên cơ sở đóng góp của các công ty xuất khẩu lao động và người đi lao động nước ngoài theo một tỷ lệ phù hợp. Thành lập hiệp hội bảo vệ quyền lợi người lao động đi xuất khẩu, hoặc nâng cao vai trò của công đoàn trong lĩnh vực này nhằm không để bất cứ người lao động đi xuất khẩu bị thiệt thòi hay bị ngược đãi.
Thứ năm, thành lập Trung tâm quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động nhằm hình thành một hệ thống đồng bộ từ thu thập, xử lý tới phân tích, dự báo, quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động theo các cấp trình độ, các ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu về đào tạo và phát triển kinh tế của các vùng, ngành, các khu công nghiệp.
Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý các dự án, hoạt động trong Chương trình trong việc cho vay giải quyết việc làm, đầu tư nâng cao năng lực các Trung tâm giới thiệu việc làm… Phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ bảy, tập trung bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác lao động việc làm. Tiếp tục mở nhiều các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật tiến bộ và đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng giao tiếp thực hành cho người lao động để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động nước ngoài.
Tám là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động thế giới và các nước để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp cho việc xuất khẩu lao động sang các nước, tránh để tình trạng phân tán như hiện nay.
Chín là, kiểm soát và giám sát chặt chẽ thị trường xuất khẩu lao động để hạn chế tình trạng lừa đảo hoặc đẩy chi phí xuất khẩu lao động lên quá cao gây thiệt hại và khó khăn cho người có nhu cầu xuất khẩu lao động./.
SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 24 (440) THÁNG 12/2008

Saturday, October 26, 2013

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Đại hội đồng Liên hợp quốc,
Căn cứ Nghị quyết 56/168 ra ngày 19/12/2001 của Liên hợp quốc quyết định thành lập Uỷ ban đặc biệt để soạn thảo Công ước quốc tế toàn diện và lồng ghép nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, để ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên và các quan sát viên của Liên hợp quốc, dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện từ các hoạt động trong các lĩnh vực phát triển xã hội, nhân quyền và chống phân biệt đối xử đã được thực hiện và có tính đến các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban Phát triển xã hội,
Căn cứ các Nghị quyết có liên quan trước đây của Liên hợp quốc và Nghị quyết gần đây nhất là Nghị quyết 60/232 ra ngày 23/12/2005 và các Nghị quyết có liên quan của Ủy ban Phát triển xã hội và Ủy ban Nhân quyền,   
Hoan nghênh những đóng góp quý báu của các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu nhân quyền của các quốc gia cho các hoạt động của Uỷ ban đặc biệt,
1. Bày tỏ sự đánh giá cao của Liên hợp quốc đối với những nỗ lực của Uỷ ban đặc biệt để hoàn thiện Dự thảo Công ước quốc tế về người khuyết tật và Dự thảo Nghị định thư không bắt buộc của Công ước;  
2. Thông qua Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật và Nghị định thư không bắt buộc của Công ước đính kèm với Nghị quyết này sẽ được để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc tham gia ký kết tại trụ sở chính của Liên hợp quốc tại New York từ ngày 30/03/2007;    
3. Kêu gọi các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc xem xét việc ký kết và phê chuẩn Công ước và Nghị định thư không bắt buộc như là một trong những vấn đề ưu tiên, và bày tỏ hi vọng Công ước và Nghị định thư sẽ sớm có hiệu lực vào thời gian sớm nhất;  
4. Đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc bổ nhiệm nhân sự và cung cấp các trang thiết bị vật chất cần thiết cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước và Ủy ban được thành lập trong khuôn khổ Công ước và Nghị định thư không bắt buộc sau khi Công ước có hiệu lực, cũng như việc tuyên truyền về Công ước và Nghị định thư;
5. Đồng thời đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc từng bước tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn và hướng dẫn về tiếp cận để đảm bảo các trang thiết bị và dịch vụ tiếp cận được trong toàn hệ thống Liên hợp quốc, có xem xét đến các điều khoản có liên quan trong Công ước, đặc biệt là khi tiến hành cải tạo; 
6. Đề nghị các cơ quan và tổ chức của Liên hợp quốc, cũng như các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ cùng nỗ lực thực hiện công tác truyền thông về Công ước và Nghị định thư, và thúc đẩy sự hiểu biết về Công ước và Nghị định thư;    
7. Đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc trình báo cáo trước Đại hội đồng Liên hợp quốc tại phiên họp lần thứ 62 về tiến trình phê chuẩn Công ước và Nghị định thư và việc thực hiện Nghị quyết này với tiêu đề ”Công ước về Quyền của người khuyết tật”.
PHỤ LỤC I
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
LỜI NÓI ĐẦU
Các Quốc gia thành viên gia nhập Công ước này,
(a) Nhắc lại các nguyên tắc được tuyên bố tại Hiến chương của Liên Hợp Quốc công nhận phẩm giá và giá trị vốn có, quyền bình đẳng và bất di bất dịch của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như một nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới,
(b) Thừa nhận rằng Liên hợp quốc, trong Bản tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền, và trong các Công ước quốc tế về Nhân quyền, đã tuyên bố và thống nhất rằng mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và sự tự do được ghi trong các Công ước mà không có bất kỳ sự biệt nào,
(c) Tái khẳng định rằng tính phổ biến, khả năng không thể chia cắt, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự tương quan giữa quyền con người và các quyền tự do cơ bản, và nhu cầu của người khuyết tật phải được đảm bảo thụ hưởng một cách đầy đủ và không có bất kỳ sự phân biệt đối xử,
(d) Nhắc lại các Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Công ước quốc tế về xoá bỏ phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức, Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế chống lại sự tra tấn, sự đối xử, áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc bị nhục hình, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước quốc tế về bảo hộ  quyền của người người lao động nhập cư và gia đình họ,
(e) Thừa nhận rằng khuyết tật là một khái niệm mới và rằng khuyết tật là kết quả của sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy đủ, và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội,
(f) Thừa nhận rằng tầm quan trọng của các nguyên tắc và chính sách được đề cập trong Chương trình Hành động Thế giới về Người khuyết tật và Quy tắc chuẩn về Bình đẳng hoá Cơ hội cho Người khuyết tật trong việc tác động quá trình thúc đẩy, xây dựng và đánh giá các chính sách, kế hoạch, chương trình và hành động ở cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp quốc tế nhằm bình đẳng hoá hơn nữa cơ hội cho người khuyết tật,
(g) Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép vấn đề khuyết tật như là một phần không thể tách rời của các chiến lược phát triển bền vững,
(h) Thừa nhận rằng sự phân biệt đối xử đối với bất kỳ một người nào căn cứ trên sự khuyết tật của họ đều là sự xâm hại đến nhân phẩm và chân giá trị vốn có của con người,
(i) Thừa nhận sự đa dạng của các dạng tật khác nhau của người khuyết tật,
(j) Nhận thấy sự cần thiết phải thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền của tất cả người khuyết tật, kể cả những người cần có sự hỗ trợ chuyên sâu hơn,
(k) Lo ngại rằng, mặc dù đã có rẩt nhiều văn kiện pháp lý và những biện pháp đã được thực hiện, nhưng người khuyết tật vẫn tiếp tục phải đối mặt với những rào cản khi tham gia một cách bình đẳng như những thành viên khác trong xã hội và sự vi phạm nhân quyền của người khuyết tật diễn ra ở khắp nơi trên thế giới,
(l) Nhận thấy tầm quan trọng của hợp tác quốc tế trong việc cải thiện điều kiện sống cho người khuyết tật ở mỗi quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển,
(m) Ghi nhận những đóng góp  hiện tại và tiềm năng có giá trị mà người khuyết tật đã cống hiến cho sự thịnh vượng và đa dạng của cộng đồng họ, và rằng nhận thức của người khuyết tật được nâng cao về việc mình thuộc về xã hội và những tiến bộ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và con người và quá trình xóa đói nghèo là kết quả của việc thúc đẩy cơ hội được hưởng thụ đầy đủ quyền con người, các quyền tự do cơ bản, và sự tham gia của người khuyết tật,
(n) Thừa nhận tầm quan trọng của việc để người khuyết tật độc lập và tự quyết các vấn đề cá nhân của họ kể cả sự tự do lựa chọn cho riêng mình,
(o) Xem xét rằng người khuyết tật cần phải có cơ hội được chủ động tham gia trong quá trình ra quyết định về chính sách, về các chương trình, kể cả các chương trình có liên quan trực tiếp đến họ.
(p) Lo ngại về những điều kiện khó khăn mà người khuyết tật đang gặp phải bao gồm những hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính, chính kiến chính trị và các quan niệm khác, địa vị quốc gia, nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi, tuổi tác, hay các điều kiện khác,
(q) Thừa nhận rằng phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật thường phải chịu những rủi ro lớn hơn cả trong gia đình và ngoài xã hội như bạo hành gia đình, bị thương tích hay bị lạm dụng, bị đối xử thờ ơ, bị ngược đãi hay bị bóc lột,
(r) Thừa nhận rằng trẻ em khuyết tật cần được tận hưởng đầy đủ quyền con người, quyền tự do cơ bản công bằng như những trẻ em bình thường khác, và nhắc lại trách nhiệm mà các quốc gia thành viên tham gia  Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em phải thực hiện,
(s) Nhấn mạnh yêu cầu lồng ghép giới vào tất cả các nỗ lực nhằm đẩy mạnh sự thụ hưởng đầy đủ quyền con người và tự do cơ bản của người khuyết tật,
(t) Nhấn mạnh một thực tế là phần lớn người khuyết tật sống trong điều kiện nghèo đói, và do vậy nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải giải quyết những tác động tiêu cực của nghèo đói đối với người khuyết tật,
(u) Ghi nhớ rằng các điều kiện hoà bình và an ninh dựa trên sự tôn trọng đầy đủ các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và sự tuân thủ các văn kiện về nhân quyền thích hợp là không thể thiếu nhằm bảo vệ người khuyết tật một cách đầy đủ, đặc biệt là trong các cuộc xung đột vũ trang và trong điều kiện có sự chiếm đóng của nước ngoài,
(v) Nhận thấy tầm quan trọng của việc tiếp cận đối với người khuyết tật trong môi trường vật chất,  kinh tế, văn hoá, xã hội, tiếp cận với giáo dục, y tế, thông tin và truyền thông, nhằm hỗ trợ người khuyết tật được hưởng quyền con người và các quyền tự do cơ bản một cách đầy đủ,
(w) Nhận thấy rằng mỗi cá nhân, có trách nhiệm đối với các cá nhân khác và với cộng đồng của chính họ, đều phải có trách nhiệm nỗ lực thúc đẩy và tuân thủ các quyền được công nhận trong Luật quốc tế về nhân quyền.
(x) Thừa nhận rằng gia đình là đơn vị tự nhiên và cơ bản của xã hội và cần được nhà nước và xã hội bảo hộ, người khuyết tật và các thành viên gia đình của họ cũng phải được bảo vệ và có được sự trợ giúp cần thiết để đảm bảo gia đình của họ có những đóng góp cho sự hưởng thụ đầy đủ và công bằng về quyền của người khuyết tật,
(y) Công nhận rằng một Công ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm thúc đẩy  và bảo hộ Quyền và Nhân phẩm của người khuyết tật sẽ góp phần đáng kể trong công tác giải quyết những bất lợi sâu sắc về mặt xã hội mà người khuyết tật phải gánh chịu và thúc đẩy sự tham gia của họ trong mọi lĩnh vực văn hoá, xã hội, chính trị, kinh tế, dân sự với những cơ hội bình đẳng, ở cả các nước phát triển và đang phát triển,
Đã thống nhất những điều sau đây:
ĐIỀU 1 – MỤC ĐÍCH
Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo hộ và đảm bảo người khuyết tật  được hưởng thụ một cách đầy đủ và bình đẳng quyền con người và các quyền tự do cơ bản và nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của người khuyết tật.
Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội.
ĐIỀU 2 – CÁC ĐỊNH NGHĨA
Để phù hợp với Công ước này:
      “Truyền thông” bao gồm ngôn ngữ, trình bày dưới dạng văn bản, chữ nổi Braille, thông tin dưới dạng xúc giác, in ấn cỡ lớn, truyền thông đa phương tiện tiếp cận, cũng như các hình thức văn bản, nói, ngôn ngữ đơn giản, hình thức người đọc giúp, và các hình thức thay thế khác, phương tiện và kiểu mẫu truyền thông bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông tiếp cận;
       “Ngôn ngữ” bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ ký hiệu và các dạng giao tiếp phi ngôn ngữ khác;
      “Phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật” có nghĩa là bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ, sự hạn chế nào vì lý do khuyết tật mà có chủ ý hoặc có tác động làm phương hại hoặc vô hiệu hoá sự nhận thức, sự hưởng thụ, và việc thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác trên cơ sở công bằng với các thành viên khác trong xã hội.  Điều này bao gồm tất cả các hình thức phân biệt đối xử, kể cả việc từ chối đưa ra những điều chỉnh hợp lý;
      “Điếu chỉnh hợp lý” có nghĩa là sự điều chỉnh và sửa đổi cần thiết và phù hợp mà không tạo ra một gánh nặng quá sức hay bất cân đối, ở những nơi cần thiết trong những trường hợp cụ thể, để đảm bảo người khuyết tật có thể thụ hưởng hay thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng như những người bình thường khác;
      “Thiết kế hoà nhập” có nghĩa là việc thiết kế các sản phẩm, môi trường xung quanh, các chương trình và dịch vụ mà tất cả mọi người đều có thể sử dụng được ở mức độ tối đa mà không cần phải tính đến việc nâng cấp sửa chữa hay những thiết kế đặc biệt cho nhu cầu tiếp cận. "Thiết kế hoà nhập" bao gồm cả các thiết bị trợ giúp cho những nhóm người khuyết tật cụ thể khi có nhu cầu.
ĐIỀU 3 – CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG
Nguyên tắc của Công ước này bao gồm:
(a) Tôn trọng phẩm giá vốn có, quyền tự quyết cá nhân bao gồm tự do lựa chọn cho riêng mình, và khả năng độc lập của các cá nhân;
(b) Không phân biệt đối xử;
(c) Tham gia đầy đủ và hiệu quả và hoà nhập xã hội;
(d) Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như một phần của nhân loại và sự đa dạng của con người,
(e) Bình đẳng trong cơ hội;
(f) Khả năng tiếp cận;
(g) Bình đẳng giữa nam và nữ;
(h) Tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và tôn trọng quyền của trẻ em khuyết tật trong việc bảo tồn bản sắc của các em.
ĐIỀU 4 – CÁC TRÁCH NHIỆM CHUNG
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo và thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do khuyết tật. Để đạt được điều này, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết:
(a) Thực hiện tất cả các biện pháp hành chính, lập pháp và các biện pháp khác để thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này;
(b) Sử dụng các biện pháp phù hợp kể cả lập pháp để sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật, quy định, phong tục tập quán và thông lệ chứa đựng các nội dung mang tính phân biệt đối xử đối với người khuyết tật;
(c) Đưa việc bảo hộ và nâng cao quyền của người khuyết tật vào tất cả các chính sách và chương trình;
(d) Không thực hiện hay áp dụng những hành động hay biện pháp không phù hợp với Công ước này và đảm bảo các thể chế hay tổ chức quyền lực công hành động theo Công ước này;
(e) Áp dụng tất cả các biện pháp phù hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp đối với người khuyết tật;
(f) Thực hiện hay thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển các phương tiện, dịch vụ, hàng hoá, trang thiết bị được thiết kế phổ cập theo quy định tại Điều 2 của Công ước này yêu cầu các phương án nâng cấp hay sửa chữa tối thiểu có thể với chi phí ít tốn kém nhất để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người khuyết tật, thúc đẩy sự sẵn có và tính năng sử dụng của các phương tiện, dịch vụ, hàng hoá, trang thiết bị này,  và thúc đẩy thiết kế phổ cập trong việc xây dựng các hướng dẫn hay tiêu chuẩn tiếp cận;
(g) Thực hiện hay thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển của công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông, các thiết bị trợ giúp vận động, các thiết bị và công nghệ trợ giúp phù hợp với người khuyết tật, thúc đẩy sự sẵn có và tính năng sử dụng của các phương tiện này, và đưa ra những ưu tiên cho công nghệ ở mức chi phí hợp lý; (h) Cung cấp các thông tin có thể tiếp cận được cho người khuyết tật về các thiết bị hỗ trợ vận động, và công nghệ và thiết bị trợ giúp bao gồm cả công nghệ mới, cũng như các dạng hỗ trợ, các dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ khác;
(i) Thúc đẩy tập huấn cho các cán bộ và nhân việc làm việc với người khuyết tật về các quyền được thừa nhận trong Công ước này nhằm cung cấp tốt hơn sự hỗ trợ và các dịch vụ được đảm bảo bởi các quyền đã nêu trong Công ước.
2. Đối với các quyền về văn hoá, xã hội, kinh tế, mỗi Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện để tận dụng các nguồn lực sẵn có khi cần thiết và để đạt được việc thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước một cách có hiệu quả trong khuôn khổ hợp tác quốc tế và không có định kiến với những nguyên tắc được đề cập trong Công ước này mà được áp dụng ngay lập tức theo luật pháp quốc tế.
3. Khi xây dựng và thực thi luật pháp và chính sách để thực hiện các điều khoản của Công ước này và trong các quá trình đưa ra quyết định khác có liên quan đến các vấn đề về người khuyết tật, các Quốc gia thành viên của Công ước cần phải tham vấn một cách sát sao và chủ động làm việc với người khuyết tật, kể cả trẻ em khuyết tật và các tổ chức đại diện của người khuyết tật.
4. Không có nội dung nào trong Công ước này có ảnh hưởng đến các điều khoản công nhận quyền của người khuyết tật và các điều khoản được quy định trong pháp luật của một Quốc gia thành viên của Công ước này hoặc luật pháp quốc tế mà Quốc gia đó gia nhập. Không có sự giới hạn hay vi phạm nào đối với các quyền con người và các quyền tự do cơ bản đã được công nhận hoặc hiện có ở một Quốc gia thành viên tham gia Công ước này căn cứ trên cơ sở luật pháp, các công ước, các quy định hoặc phong tục tập quán với lý do Công ước này không công nhận các quyền con người và các quyền tự do cơ bản  hoặc công nhận chúng trong phạm vi hẹp hơn.
5. Các điều khoản của Công ước này sẽ mở rộng ra khắp cả các nước mà không có bất kỳ sự hạn chế hay ngoại trừ nào.
ĐIỀU 5 – BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ và được hưởng những lợi ích của pháp luật một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết nghiêm cấm tất cả các hành vi phân biệt đối xử đối vì lý do khuyết tật và đảm bảo người khuyết tật được bảo hộ  tích cực bằng luật pháp khỏi sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào. 
3. Để thúc đẩy sự công công bằng và xoá bỏ sự phân biệt đối xử, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện tất cả các biện pháp phù hợp để đảm bảo có sự điều chỉnh hợp lý.
4. Các biện pháp cụ thể cần thiết để xúc tiến hoặc đạt được sự công bằng trên thực tế của người khuyết tật sẽ không bị coi là sự phân biệt đối xử theo các thuật ngữ của Công ước này.
ĐIỀU 6 – PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận rằng phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật phải chịu sự phân biệt đối xử gấp nhiều lần, và do vậy cần phải có những biện pháp để đảm bảo phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật được hưởng đầy đủ và công bằng quyền con người và các quyền tự do cơ bản.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển, tiến bộ và nâng cao vị thế của phụ nữ, với mục đích đảm bảo cho họ được thực hiện và thụ hưởng một cách đầy đủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản được quy định trong Công ước này.
ĐIỀU 7 – TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp cần thiết để đảm bảo trẻ em khuyết tật được thụ hưởng đầy đủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản như những trẻ em khác.
2. Trong tất cả các hoạt động có liên quan đến trẻ em khuyết tật, thì những lợi ích tối ưu nhất của một trẻ khuyết tật phải được quan tâm hàng đầu.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo trẻ em khuyết tật có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình về tất cả các vấn đề có liên quan đến các em, quan điểm của các em sẽ được xem xét một cách thích đáng phù hợp với lứa tuổi và sự chín chắn của các em, giống như những trẻ em khác, và sẽ có được những hỗ trợ phù hợp với lứa tuổi và tình trạng khuyết tật để có thể thực hiện được quyền đó.
ĐIỀU 8 – NÂNG CAO NHẬN THỨC
1. Các quốc gia triển khai áp dụng các biện pháp phù hợp, hiệu quả và ngay lập tức nhằm:
(a) Nâng cao nhận thức về người khuyết tật cho toàn xã hội, bao gồm cả gia đình của người khuyết tật, và thúc đẩy sự tôn trọng về quyền và nhân phẩm của người khuyết tật
(b) Chống lại các quan niệm cố hữu, những định kiến, và những thông lệ không tốt  bao gồm cả những vấn đề như vậy có liên quan đến giới tính, tuổi tác và tất cả các lĩnh vực khác của cuộc sống mà có liên quan đến người khuyết tật;
(c) Nâng cao nhận thức về năng lực và những đóng góp của người khuyết tật.
2. Các biện pháp thực hiện bao gồm:
(a) Khởi sướng và duy trì các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức hiệu quả cho đông đảo người dân nhằm:
(i) Khuyến khích sự hiểu biết về quyền của người khuyết tật;
(ii) Thúc đẩy những quan điểm tích cực và nhận thức xã hội rộng hơn về người khuyết tật;
(iii) Thúc đẩy việc ghi nhận các kỹ năng, phẩm chất và năng lực của người khuyết tật và những đóng góp của họ cho nơi làm việc và thị trường lao động;
(b) Khuyến khích thái độ tôn trọng quyền của người khuyết tật ở tất cả các cấp trong hệ thống giáo dục, bao gồm cả trẻ em ở mọi lứa tuổi;
(c) Khuyến khích các cơ quan báo chí nêu gương người khuyết tật với thái độ thống nhất với mục đích của Công ước này;
(d) Thúc đẩy các chương trình tập huấn nâng cao nhận thức về người khuyết tật và quyền của người khuyết tật.
ĐIỀU 9 – KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
1. Nhằm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập và tham gia đầy đủ trên mọi lĩnh vực của đời sống, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận với môi trường vật chất, giao thông, thông tin và truyền thông bao gồm các hệ thống và công nghệ  công nghệ thông tin và truyền thông và các trang thiết bị và dịch vụ khác được mở ra hay cung cấp cho công chúng  cả vùng nông thôn và đô thị một cách bình đẳng. Những biện pháp này bao gồm cả việc xác định và loại bỏ tất cả những trở ngại, rào cản tới môi trường tiếp cận được cam kết áp dụng cho, chưa kể đến các biện pháp khác:
(a) Các toà nhà, đường xá, giao thông và các trang thiết bị trong và ngoài các công trình bao gồm trường học, nhà ở, các cơ sở y tế và nơi làm việc;
(b) Thông tin, truyền thông và các dịch vụ khác bao gồm các dịch vụ điện tử và các dịch vụ khẩn cấp
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết áp dụng các biện pháp phù hợp để:
(a) Xây dựng, ban hành và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn và hướng dẫn về khả năng tiếp cận của các trang thiết bị và dịch vụ được mở ra hoặc cung cấp cho công chúng;
(b) Đảm bảo các đơn vị tư nhân cung cấp trang thiết bị và dịch vụ mở cửa với hoặc cung cấp cho công chúng phải tính đến tất cả các yếu tố tiếp cận cho người khuyết tật;
(c) Tổ chức tập huấn cho các bên liên quan về các vấn đề tiếp cận mà người khuyết tật gặp phải;
(d) Trang bị các biển báo cho các toà nhà và công trình khác được mở cửa cho cho công chúng bằng chữ nổi Braille và phải dễ đọc, dễ hiểu;
(e) Cung cấp các phương tiện và các hình thức hỗ trợ cá nhân như các hướng dẫn viên, người đọc giúp, phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu chuyên nghiệp, đưa vấn đề tiếp cận vào các toà nhà  và các công trình khác được mở cửa cho công chúng;
(f) Thúc đẩy các hình thức hỗ trợ khác cho người khuyết tật để họ có thể tiếp cận được thông tin;
(g) Đẩy mạnh khả năng tiếp cận cho người khuyết tật tới công nghệ thông tin và truyền thông mới bao gồm cả Internet;
(h) Thúc đẩy việc thiết kế, phát triển, sản xuất và phân phối các hệ thống và công nghệ thông tin và truyền thông tiếp cận ngay từ giai đoạn bắt đầu để các công nghệ và hệ thống này tiếp cận được với mức chi phí tối thiểu.
ĐIỀU 10 – QUYỀN ĐƯỢC SỐNG
Các Quốc gia thành viên của Công ước này tái  khẳng định rằng mỗi con người đều có quyền vốn có của mình là được sống và cam kết thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết đảm bảo người khuyết tật được hưởng quyền được sống trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
ĐIỀU 11 – TÌNH TRẠNG NGUY HIẺM RỦI RO VÀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CẦN TRỢ GIÚP NHÂN ĐẠO
Các Quốc gia thành viên của Công ước này, trên cơ sở các nghĩa vụ của các quốc gia này với luật pháp quốc tế bao gồm: luật nhân đạo quốc tế và luật về nhân quyền quốc tế, cam kết áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và bảo hộ người khuyết tật trong tình trạng nguy hiểm rủi ro bao gồm xung đột vũ trang, tình trạng khẩn cấp cần trợ giúp nhân đạo và thiên tai.
ĐIỀU 12 – ĐƯỢC THỪA NHẬN BÌNH BẰNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này tái khẳng định rằng người khuyết tật có quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất kỳ nơi nào.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận người khuyết tật có được hưởng năng lực pháp lý trong tất cả các mặt của cuộc sống trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý.
4. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng tất cả các biện pháp có liên quan đến việc thực hiện năng lực pháp lý quy định các cách thức bảo hộ phù hợp và có hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng theo đúng các quy định của luật nhân quyền quốc tế. Các cách thức bảo hộ  như vậy phải đảm bảo rằng các biện pháp liên quan đến việc thực hiện năng lực pháp lý phải tôn trọng các quyền, ý chí và sở thích của một cá nhân; phải không xung đột về quyền lợi và  không có ảnh hưởng một cách thái quá; phải tương xứng và thích ứng với các điều kiện của cá nhân đó; phải áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể; và phải  được một cơ quan độc lập, trung lập và có thẩm quyền, hoặc cơ quan tư pháp đánh giá thường xuyên. Các cách thức bảo hộ đó phải tương xứng đến một mức độ mà các biện pháp có liên quan đến việc thực hiện năng lực pháp lý có thể tác động đến quyền và lợi ích của các nhân đó.
5. Theo các khoản được ghi trong trong Điều 12 thì các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp và hiệu quả để đảm bảo quyền bình đẳng của người khuyết tật trong việc sở hữu hay thừa kế tài sản, kiểm soát vấn đề tài chính của bản thân họ, và tiếp cận một cách bình đẳng với các khoản cho vay của ngân hàng, các khoản thế chấp và các loại hình tín dụng khác, và để đảm bảo người khuyết tật không bị tịch thu tài sản một cách vô cớ.
ĐIỀU 13 – TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ TƯ PHÁP  
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết  đảm bảo khả năng tiếp cận có hiệu quả đối với các dịch vụ tư pháp cho người khuyết tật bao gồm thông qua việc cung cấp các điều chỉnh về thủ tục tố tụng  và phù hợp với lứa tuổi, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, nhằm hỗ trợ người khuyết tật có vai trò hiệu quả hơn với tư cách là người tham gia trực tiếp và gián tiếp bao gồm cả việc làm nhân chứng trong tất cả các vụ kiện tính từ giai đoạn điều tra sơ bộ cho đến các giai đoạn sau.
2. Nhằm giúp đảm bảo khả năng tiếp cận có hiệu quả đối với các dịch vụ tư pháp cho người khuyết tật, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy việc triển khai các khoá tập huấn phù hợp cho những người làm việc trong lĩnh vực tư pháp bao gồm cảnh sát và cán bộ quản giáo.
ĐIỀU 14 – TỰ DO VÀ AN NINH CÁ NHÂN
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng như những người khác:
(a) Thụ hưởng quyền tự do và an ninh cá nhân;
(b) Không bị tước quyền tự do một cách vô cớ hay bất hợp pháp, và rằng bất kỳ một sự tước đoạt quyền tự do nào đều phải phù hợp với Công ước này, và rằng việc có khuyết tật trong bất cứ trường hợp nào không thể biện minh cho việc tước quyền tự do.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng nếu người khuyết tật bị tước đoạt quyền tự do ở bất cứ tiến trình nào, thì họ có quyền được bảo hộ theo luật nhân quyền quốc tế trên cơ sở bình đẳng như những người khác, và phải được đối xử theo các mục tiêu và nguyên tắc của Công ước này bao gồm những quy định về điều chỉnh hợp lý.
ĐIỀU 15 – KHÔNG BỊ TRA TẤN, BỊ ĐỐI XỬ, BỊ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT MỘT CÁCH TÀN NHẪN, VÔ NHÂN ĐẠO HOẶC BỊ NHỤC HÌNH
1. Không một người nào không bị tra tấn, bị đối xử, bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc bị nhục hình. Đặc biệt, không một người nào phải làm vật thí nghiệm của các thử nghiệm khoa học hay y học nếu không có sự cho phép của chính người đó.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết áp dụng các biện pháp lập pháp, hành chính, và tư pháp có hiệu quả và các biện pháp khác để bảo vệ người khuyết tật khỏi bị tra tấn, bị đối xử, bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc bị nhục hình, trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
ĐIỀU 16 – KHÔNG BỊ BÓC LỘT, KHÔNG BỊ BẠO HÀNH VÀ KHÔNG BỊ LẠM DỤNG
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp về lập pháp, hành chính, xã hội, giáo dục phù hợp và các biện pháp khác để bảo hộ người khuyết tật, cả ở trong gia đình và ngoài xã hội, khỏi các hình thức bị bóc lột, bị bạo hành và bị lạm dụng, kể cả những yếu tố có liên quan đến vấn đề giới.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết áp dụng các biện pháp phù hợp để ngăn chặn những hình thức bóc lột, bạo hành và lạm dụng bằng cách đảm bảo, chưa kể đến các biện pháp khác, các hình thức hỗ trợ và trợ giúp mang tính nhạy cảm về tuổi tác và nhạy cảm về giới cho người khuyết tật, gia đình và những người chăm sóc của họ bao gồm cả việc cung cấp thông tin và giáo dục về cách phòng tránh, nhận biết và tố cáo các vụ việc bóc lột, bạo hành và lạm dụng. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng các công tác bảo hộ phải mang tính nhạy cảm về giới, tuổi tác và khuyết tật
3. Để ngăn chặn sự xuất hiện của các hình thức bóc lột, bạo hành và lạm dụng, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng tất cả các phương tiện và chương trình được thiết kế phục vụ người khuyết tật phải được một cơ quan độc lập giám sát một cách hiệu quả.
4. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao khả năng phục hồi về mặt tâm lý, nhận thức và thể chất, phục hồi chức năng và khả năng tái hoà nhập xã hội của người khuyết tật, những người là nạn nhân của bất kỳ hình thức bóc lột, bạo hành hay lạm dụngnào. Các biện pháp này phải bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ bảo hộ. Việc phục hồi chức năng và tái hoà nhập nêu trên cần phải được thực hiện trong môi trường mà ở đó khuyến khích chăm sóc sức khỏe, chăm lo đến hạnh phúc, khuyến khích lòng tự tôn, tôn trọng phẩm giá và khả năng tự quyết của một cá nhân khuyết tật và có tính đển nhu cầu cụ thể về giới và tuổi tác.
5. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết sử dụng các chính sách và pháp luật hiệu quả kể cả những chính sách và luật pháp tập trung vào trẻ em và phụ nữ để đảm bảo rằng những trường hợp bóc lột, lạm dụng và bạo hành đối với người khuyết tật được xác minh, điều tra và truy tố nếu phù hợp.
ĐIỀU 17 – BẢO VỆ SỰ TOÀN VẸN CÁ NHÂN
Mỗi người khuyết tật đều có quyền được tôn trọng sự toàn vẹn về mặt thể chất và trí lực của mình trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
ĐIỀU 18 – TỰ DO ĐI LẠI VÀ TỰ DO VỀ QUỐC TỊCH
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này công nhận quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú và tự do lựa chọn quốc tịch của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng như những người khác, kể cả việc đảm bảo người khuyết tật:
(a) có quyền nhập và thay đổi quốc tịch và không bị tước quốc tịch một cách vô cớ hoặc với lý do là bị khuyết tật;
(b) không bị tước khả năng được cấp, được phép sở hữu và sử dụng các văn bản giấy tờ chứng nhận quốc tịch hay giấy tờ chứng minh nhân dân khác, hoặc khả năng sử dụng các văn bản giấy tờ có liên quan như thủ tục xuất nhập cảnh cần thiết chỉ vì họ bị khuyết tật để hỗ trợ việc thực hiện quyền tự do đi lại của người khuyết tật;
(c) được tự do rời khỏi một nước nước kể cả chính nước mình;
(d) không bị tước đoạt quyền quay trở lại chính nước mình một cách vô cớ hoặc với lý do là bị khuyết tật.
2. Trẻ em khuyết tật phải được đăng ký khai sinh ngay sau khi được sinh ra, và có quyền được đặt tên từ khi sinh ra, có quyền nhập quốc tịch và, , trong khả năng tối đa, có quyền được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ chăm sóc.
ĐIỀU 19 – SỐNG ĐỘC LẬP VÀ ĐƯỢC HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG
Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền bình đẳng của tất cả người khuyết tật được sống trong cộng đồng, có sự lựa chọn bình đẳng như những người khác; và cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp và hiệu quả để hỗ trợ người khuyết tật được hưởng quyền được sống trong cộng đồng cũng như được hòa nhập và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng một cách đầy đủ, bao gồm cả việc đảm bảo rằng:
(a) người khuyết tật có cơ hội lựa chọn nơi cư trú  và lựa chọn người cùng chung sống trên cơ sở bình đẳng như những người khác, và không phải sống theo sự sắp đặt đặc biệt nào.
(b) người khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ tại nhà, tại khu dân cư và tại cộng đồng  kể cả sự trợ giúp cá nhân cần thiết để có những hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống và hoà nhập cộng đồng, và để ngăn ngừa sự cô lập hoặc tách biệt với cộng đồng;
(c) Dịch vụ và trang thiết bị cộng đồng dành cho người dân nói chung phải sẵn có trên cơ sở bình đẳng với người khuyết tật và đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật.
ĐIỀU 20 – DI CHUYỂN CÁ NHÂN
Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp hiệu quả để đảm bảo sự di chuyển cá nhân ở mức độ độc lập nhất có thể cho người khuyết tật, bao gồm:
(a) hỗ trợ khả năng di chuyển cá nhân của người khuyết tật theo cách và vào thời điểm mà họ lựa chọn, với chi phí hợp lý;
(b) hỗ trợ khả năng tiếp cận của người khuyết tật với các phương tiện trợ giúp di chuyển có chất lượng, các trang thiết bị, công nghệ trợ giúp, các phương tiện và các hình thức hỗ trợ cá nhân, và bao gồm cả việc tạo ra sự dồi dào của các phương tiện ở chi phí hợp lý ;
(c) tổ chức tập huấn các kỹ năng di chuyển cho người khuyết tật và các chuyên gia làm việc hỗ trợ người khuyết tật.
(d) khuyến khích các đơn vị sản xuất dụng cụ và công nghệ trợ giúp di chuyển quan tâm đến tất cả các khía cạnh và yếu tố di chuyển cho người khuyết tật.
ĐIỀU 21 – TỰ DO BÀY TỎ Ý KIẾN, TỰ DO NGÔN LUẬN, VÀ TỰ DO TIẾP CẬN THÔNG TIN
Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện tẩt cả các biện pháp phù hợp để đảm bảo rằng người khuyết tật có thể thực hiện quyền tự do bày tỏ ý kiến và tự do ngôn luận kể cả quyền tự do đưa tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin và quan điểm trên cơ sở bình đẳng như những người khác, và bằng nhiều hình thức truyền thông do họ lựa chọn, như đã được ghi trong Điều 2 của Công ước này, bao gồm:
(a) cung cấp thông tin hướng đến đại chúng cho người khuyết tật dưới hình thức và công nghệ tiếp cận phù hợp với nhiều dạng tật khác nhau vào đúng thời điểm mà không có chi phí phát sinh;
(b) thừa nhận và hỗ trợ việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi Braille, các hình thức truyền thông thay thế, và tất cả các cách thức, các kiểu và các loại hình có thể sử dụng được của truyền thông tiếp cận khác do người khuyết tật tự lựa chọn trong quá trình giao tiếp chính thức;
(c) thúc giục các đơn vị tư nhân cung cấp dịch vụ cho đại chúng, kể cả qua Internet, cung cấp thông tin và dịch vụ với hình thức tiếp cận được và sử dụng được cho người khuyết tật;
(d) khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả nhà cung cấp thông tin qua Internet cung cấp các dịch vụ với hình thức tiếp cận được cho người khuyết tật;
(e) Thừa nhận và thúc đẩy việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu.
ĐIỀU 22 – TÔN TRỌNG SỰ RIÊNG TƯ
1. Không một người khuyết tật nào, bất kể sinh sống ở đâu hay đang sống nhờ vào sự giúp đỡ, phải chịu sự can thiệp vô cớ hay bất hợp pháp đến đời tư, gia đình, nhà cửa hay thư tín, và các loại hình trao đổi thông tin khác hoặc bị xúc phạm một cách bất hợp pháp đến danh dự và hoặc uy tín cá nhân của người đó. Người khuyết tật có quyền được pháp luật bảo hộ để chống lại những sự can thiệp hay xâm hại như vậy.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết bảo hộ  sự riêng tư của các thông tin cá nhân, thông tin về tình trạng sức khỏe, và về vấn đề phục hồi chức năng của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
ĐIỀU 23 – QUYỀN ĐƯỢC TÔN TRỌNG GIA ĐÌNH VÀ TỔ ẤM
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp và hiệu quả để xoá bỏ sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật ở tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân , gia đình, quyền làm cha làm mẹ, và các vấn đề có liên quan khác, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, nhằm đảm bảo:
(a) thừa nhận quyền của tất cả người khuyết tật ở độ tuổi kết hôn được kết hôn và xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn đồng ý và tự nguyện của hai bên nam nữ;
(b) thừa nhận quyền của người khuyết tật tự do và tự chụi trách nhiệm trong việc quyết định về số con cái và khoảng cách sinh giữa các con và có quyền tiếp cận đến những thông tin phù hợp với lứa tuổi, tiếp cận với kiến thức về kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản; cung cấp các phương tiện cần thiết để hỗ trợ họ thực hiện những quyền này;
(c) người khuyết tật, kể cả trẻ em có quyền duy trì khả năng sinh sản của họ, trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật liên quan đến trách nhiệm bảo hộ, trách nhiệm giám hộ, trách nhiệm ủy thác nuôi dưỡng, nhận con nuôi, hoặc những thể chế tương tự như vậy ở những nơi những khái niệm này được sử dụng trong luật pháp quốc gia; trong mọi trường hợp thì lợi ích tối ưu nhất của trẻ em sẽ được ưu tiên hàng đầu. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đưa ra những hỗ trợ phù hợp cho người khuyết tật trong việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dạy con cái.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo trẻ em khuyết tật có quyền bình đẳng đối với cuộc sống gia đình. Nhằm thừa nhận những quyền này và ngăn ngừa sự giấu giếm, cấm đoán, ruồng bỏ, và cách ly trẻ em khuyết tật, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết cung cấp thông tin, các dịch vụ và hỗ trợ đầy đủ và kịp thời cho trẻ em khuyết tật và gia đình trẻ em khuyết tật.
4. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo một đứa trẻ không bị buộc phải cách ly khỏi bố mẹ em nếu trái với ý muốn của cha mẹ em, trừ trường hợp các cơ quan có thẩm quyền chụi sự giám sát của pháp luật quyết định trong khuôn khổ pháp luật và các thủ tục được áp dụng rằng một sự cách ly như thế là cần thiết vì lợi ích tốt nhất của đứa trẻ đó. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được phép cách ly một đứa trẻ khỏi bố mẹ nó vì lý do khuyết tật của trẻ đó hoặc của một trong hai hoặc cả hai bố mẹ.
5. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết nỗ lực để có giải pháp chăm sóc thay thế trẻ em khuyết tật trong một gia đình lớn hơn hoặc nếu không thành công thì gửi các em vào sống trong một gia đình nào đó trong cộng đồng, khi mà gia đình riêng của trẻ khuyết tật không thể chăm sóc và nuôi dưỡng các em.
ĐIỀU 24 – GIÁO DỤC
1.  Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền được học tập và giáo dục của người khuyết tật. Nhằm thừa nhận quyền này mà không có sự phân biệt đối xử và trên cơ sở bình đẳng về cơ hội, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo hệ thống giáo dục hoà nhập ở tất cả các cấp và học tập suốt cuộc đời để hướng tới:
(a) phát triển đầy đủ tiềm năng con người và ý nghĩa của nhân phẩm, của sự tự tôn giá trị và tăng cường sự tôn trọng quyền con người, quyền  tự do cơ bản và sự đa dạng của con người;
(b) phát triển đầy đủ nhất nhân cách, tài năng và sự sáng tạo cũng như năng lực thể chất và trí tuệ của người khuyết tật;
(c) hỗ trợ người khuyết tật tham gia một cách hiệu quả vào một xã hội tự do.
2. Để thừa nhận quyền này, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo:
(a) người khuyết tật không bị loại trừ khỏi hệ thống giáo dục chung vì lý do bị khuyết tật, và rằng trẻ em khuyết tật không bị loại trừ khỏi chương trình giáo dục tiểu học miễn phí và bắt buộc, hoặc chương trình giáo dục trung học cơ sở vì lý do bị khuyết tật;
(b) người khuyết tật có thể tiếp cận với giáo dục hòa nhập miễn phí và có chất lượng ở cấp tiểu học, giáo dục trung học cơ sở trên cơ sở bình đẳng như những người khác trong cộng đồng mà họ sinh sống;
(c) cung cấp các điều kiện học tập phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân;
(d) người khuyết tật được nhận hỗ trợ cần thiết, trong hệ thống giáo dục chung, để có thể học tập hiệu quả;
(e) cung cấp các biện pháp hỗ trợ đặc thù có hiệu quả trong những môi trường có thể tối đa hoá sự phát triển về mặt kiến thức và xã hội, phù hợp với mục tiêu hoà nhập đầy đủ.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết hỗ trợ người khuyết tật học tập các kỹ năng phát triển xã hội và cuộc sống nhằm tạo điều kiện cho họ có thể tham gia một cách đầy đủ và bình đẳng trong giáo dục như những thành viên khác trong cộng đồng.  Để đạt được điều này, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp, bao gồm:
(a) tạo điều kiện cho việc học chữ nổi Braille, các chữ viết thay thế, các phương thức và cách thức thay thế,  và các hình thức truyền thông và định hướng, các kỹ năng di chuyển, và tạo điều kiện cho việc hỗ trợ và tư vấn đồng đẳng;
(b) tạo điều kiện cho việc học ngôn ngữ ký hiệu, và thúc đẩy việc thống nhất ngôn ngữ ký hiệu cho cộng đồng người điếc;
(c) đảm bảo rằng giáo dục của những người bị mù, bị điếc, hoặc vừa bị điếc vừa bị mù, và đặc biệt là trẻ em được thực hiện thông qua ngôn ngữ phù, cách thức và cách giao tiếp phù hợp cho từng cá nhân, và trong môi trường mà ở đó có thể tối đa hóa sự phát triển về kiến thức và phất triển xã hội.
4. Nhằm hỗ trợ đảm bảo việc hiện thực hóa quyền này, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp để tuyển dụng giáo viên, kể cả những giáo viên là người khuyết tật biết sử ngôn ngữ ký hiệu hoặc/và chữ nổi Braille, và đào tạo những cán bộ và nhân việc làm việc ở tất cả các cấp học. Những lớp tập huấn như vậy phải lồng ghép cả chương trình nâng cao nhận thức và việc sử dụng các cách thức phương tiện và cách giao tiếp thay thế, các tài liệu và kỹ thuật giảng dạy để hỗ trợ người khuyết tật.
5. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tiếp cận với giáo dục cao đẳng và đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục cho người lớn, việc học tập suốt đời mà không có sự phân biệt đối xử và trên cơ sở bình đẳng như những người khác. Để đạt được mục tiêu này, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo cung cấp những điều chỉnh phù hợp cho người khuyết tật.
ĐIỀU 25 – Y TẾ
Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận người khuyết tật có quyền thụ hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất có thể mà không có sự phân biệt đối xử vì lý do bị khuyết tật. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật có thể tiêp cận được các dịch vụ y tế mang tính nhạy cảm giới, bao gồm phục hồi chức năng có liên quan đến vấn đề y tế. Cụ thể, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết:
(a) Cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và chương trình chăm sóc y tế có chất lượng đảm bảo, đủ tiêu chuẩn và miễn phí hoặc có thể chi trả được tương tự như các dịch vụ và chương trình cung cấp cho các đối tượng khác bao gồm các chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và các vấn đề sinh lý và các chương trình y tế công cộng về vấn đề dân số;
(b) Cung cấp các dịch vụ y tế như trên khi người khuyết tật có nhu cầu đặc biệt là vì lý do bị khuyết tật của họ kể cả các biện pháp phù hợp về xác định sớm và can thiệp sớm và cung cấp các dịch vụ được thiết kế để giảm thiểu và ngăn ngừa các dạng khuyết tật khác kể cả cho trẻ em và người già;
(c) Cung cấp các dịch vụ y tế như vậy càng gần cộng đồng dân cư càng tốt, kể cả ở các vùng nông thôn;
(d) Yêu cầu các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật như chăm sóc sức khỏe cho những người khác, kể cả các dịch vụ miễn phí, chưa kể đến các dịch vụ khác, đồng thời nâng cao nhận thức về quyền, nhân phẩm, quyền tự quyết và nhu cầu của người khuyết tật thông qua tập huấn, và ban hành các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề y trong cả lĩnh vực dịch vụ y tể công và dịch vụ y tể tư;
(e) Nghiêm cấm cấm phân biệt đối xử đối với người khuyết tật khi cung cấp bảo hiểm y tế, và bảo hiểm nhân thọ được luật pháp của Quóc gia thành viên cho phép, và các loại hình bảo hiểm này phải được cung cấp một cách hợp lý và công bằng;
(f) Nghiêm cấm việc từ chối mang tính phân biệt đối xử trong công tác chăm sóc sức khỏe, cung cấp các dịch vụ y tế, thực phẩm và đồ uống vì lý do khuyết tật.
ĐIỀU 26 – PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp và hiệu quả, kể cả hỗ trợ đồng đẳng, để hỗ trợ người khuyết tật có thể đạt được và duy trì tối đa khả năng độc lập, khả năng học nghề, khả năng xã hội, trí lực, thể lực và sự tham gia và hoà nhập đầy đủ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Để đạt được mục tiêu này, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tổ chức, củng cố và mở rộng các dịch vụ và chương trình phục hồi chức năng, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, việc làm, giáo dục, và dịch vụ xã hội, theo cách mà các dịch vụ và chương trình này:
(a) Bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất và dựa trên đánh giá chặt chẽ về nhiều mặt về nhu cầu và thể lực cá nhân;
(b) Hỗ trợ sự tham gia và hoà nhập cộng đồng và mọi mặt của xã hội, và sự hỗ trợ này phải tự nguyện, và sẵn cócho người khuyết tật và sự hỗ trợ này càng gần cộng đồng càng tốt, kể cả vùng nông thôn.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy việc xây dựng các chương trình đào tạo ban đầu và đào tạo thường xuyên cho các chuyên viên và cán bộ làm việc trong lĩnh vực phục hồi chức năng.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy khả năng sẵn có, kiến thức và việc sử dụng công nghệ và thiết bị hỗ trợ được thiết kế cho người khuyết tật vì các công nghệ và thiết bị hỗ trợ này có liên quan đến phục hồi chức năng.
ĐIỀU 27 – CÔNG VIỆC VÀ NGHỀ NGHIỆP
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền của người khuyết tật được làm việc, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, bao gồm quyền có cơ hội để kiếm sống bằng công việc do chính họ tự do lựa chọn hay chấp nhận trong thị trường lao động và trong môi trường làm việc cởi mở, hoà nhập và tiếp cận cho người khuyết tật.  Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện trên thực tế quyền được làm việc, kể cả những người bị khuyết tật trong quá trình làm việc bằng cách áp dụng từng biện pháp phù hợp, thông qua pháp luật, chưa kể đến những biện pháp khác, nhằm:
(a) Nghiêm cấm phân biệt đối xử trên tất cả các mặt có liên quan đến vấn đề việc làm bao gồm điều kiện tuyển dụng, công tác tuyển dụng và việc làm, quá trình làm việc, có hội  thăng tiến trong nghề nghiệp và các điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh;
(b) Bảo hộ quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi bao gồm cả cơ hội làm việc bình đẳng và được trả lương công bằng cho những công việc có giá trị như nhau, được làm việc trong những điều kiện an toàn và lành mạnh bao gồm cả việc được bảo vệ khỏi sự lạm dụng, và được bồi thường cho những tổn thất về tinh thần của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
(c) Đảm bảo người khuyết tật có thể thực hiện quyền lao động và công đoàn bình đẳng như những người khác,
(d) Tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận một cách có hiệu quả tới các chương trình hướng dẫn học nghề và kỹ thuật nói chung, các dịch vụ sắp xếp việc làm và đào tạo nghề và đào tạo nghề thường xuyên;
(e) Thúc đẩy cơ hội việc làm và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp cho người khuyết tật trên thị trường lao động, đồng thời hỗ trợ tìm việc làm, tiếp cận việc làm, duy trì và quay trở lại làm việc;
(f) Thúc đẩy cơ hội tự tạo việc làm, thành lập doanh nghiệp, phát triển hợp tác xã và khởi nghiệp kinh doanh của chính họ;
(g) Tuyển dụng người khuyết tật làm việc trong lĩnh vực công;
(h) Thúc đẩy vấn đề việc làm cho người khuyết tật trong lĩnh vực tư nhân bằng những biện pháp và chính sách phù hợp như các chương trình hành động cương quyết, các ưu đãi và các biện pháp khác;
(i) Đảm bảo có các điều chỉnh hợp lý cho người khuyết tật tại nơi làm việc;
(j) Khuyến khích người khuyết tật tiếp thu các kinh nghiệm làm việc trên thị trường lao động mở;
(k) thúc đẩy các chương trình phục hồi chức năng nghề nghiệp, duy trì việc làm và quay trở lại làm việc dành cho người khuyết tật;
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo người khuyết tật không bị đối xử như nô lệ hoặc bị quy phục, và phải được bảo hộ  khỏi các hình thức lao động bắt buộc hay lao động cưỡng bức, trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
ĐIỀU 28 – MỨC SỐNG THÍCH ĐÁNG VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền của người khuyết tật được hưởng mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình, bao gồm đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, và được cải thiện điều kiện sống thường xuyên; và cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo hộ và thúc đẩy việc thực hiện quyền này trên thực tế mà không có sự phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền của người khuyết tật đối với bảo trợ xã hội và người khuyết tật được hưởng quyền này mà không bị phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật; và cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm và thúc đẩy sự việc thực hiện quyền này trên thực tế. Các biện pháp đó bao gồm:
(a) đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng tới các dịch vụ nước sạch, và tiếp cận tới các dịch vụ, các trang thiết bị và các trợ giúp khác theo nhu cầu liên quan đến khuyết tật một cách phù hợp và ở mức chi phí hợp lý;
(b) đảm bảo người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em khuyết tật, và người già bị khuyết tật được tiếp cận tới các chương trình bảo trợ xã hội, và các chương trình xoá đói giảm nghèo;
(c) đảm bảo người khuyết tật nghèo và gia đình của họ là hộ nghèo được tiếp cận với các trợ giúp về các chi phí có liên quan đến khuyết tật từ Nhà nước bao gồm hỗ trợ tài chính, tập huấn, tư vấn, và an dưỡng;
(d) đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận các chương trình nhà ở công;
(e) đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng các chương trình và trợ cấp hưu trí.
ĐIỀU 29 – SỰ THAM GIA TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH – CHÍNH TRỊ
Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo người khuyết tật có các quyền về chính trị và cơ hội được hưởng những quyền chính trị này trên cơ sở bình đẳng như những người khác, và cam kết:
(a) Đảm bảo người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả trong lĩnh vực hành chính – chính trị và xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện được họ tự do lựa chọn, bao gồm các quyền và cơ hội cho người khuyết tật tham gia bầu cử và được bầu, chưa kể đến những cái khác, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, bằng cách:
(i) Đảm bảo các thủ tục, các trang thiết bị và tài liệu phục vụ công tác bầu cử phải phù hợp, tiếp cận được, dễ hiểu, và dễ sử dụng;
(ii) Bảo hộ quyền được bầu cử của người khuyết tật bằng cách bỏ phiểu kín trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý công khai mà không gặp phải sự đe doạ, quyền được ứng cử, quyền nắm giữ một cách hiệu quả các vị trí được bầu, và quyền thi hành các nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả ở tất cả các cấp trong chính quyền; tạo điều kiện cho việc sử dụng các công nghệ trợ giúp và công nghệ mới khi phù hợp;
(iii) Đảm bảo quyền tự do thể hiện ý chí cá nhân của người khuyết tật với vai trò cử tri, và để đạt được mục tiêu này, khi cần thiết, theo yêu cầu của người khuyết tật, thì cho phép người khuyết tậ có sự trợ giúp để thực hiện bầu cử từ một người được người khuyết tật đó lựa chọn để bỏ phiếu nhân danh họ.
(b) Chủ động thúc đẩy một môi trường mà ở đó người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và hiệu quả vào quá trình điều hành các công việc xã hội mà không gặp phải sự phân biệt đối xử và trên cơ sở bình đẳng như những người khác, và khuyến khích người khuyết tật tham gia vào các công việc xã hội, bao gồm:
(i) tham gia vào các hội và các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến hành chính – chính trị của đất nước, tham gia vào các hoạt động và quản lý của các đảng chính trị;
(ii) thành lập và tham gia các tổ chức của người khuyết tật để đại diện cho chính người khuyết tật ở cấp quốc tế, quốc gia, khu vực, và địa phương.
ĐIỀU 30 – SỰ THAM GIA TRONG LĨNH VỰC VĂN HOÁ, GIẢI TRÍ, THỂ THAO.
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền của người khuyết tật tham gia vào đời sống văn hoá, trên cơ sở bình đẳng như những người khác và cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo rằng  người khuyết tật:
(a) được tiếp cận đối với tài liệu văn hoá ở dạng tiếp cận được;
(b) được tiếp cận đối với các chương trình truyền hình, phim, kịch và các hoạt động văn hoá khác, ở dạng tiếp cận được;
(c) được tiếp cận với những nơi có các dịch vụ hoặc biểu diễn văn hoá, như nhà hát, bảo tàng, rạp chiếu phim, thư viện, các dịch vụ du lịch, và càng nhiều càng tốt, được tiếp cận với những đài kỷ niệm và địa điểm diễn ra sự kiện văn hoá quan trọng của quốc gia.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để hỗ trợ người khuyết tật có cơ hội phát triển và tận dụng tiềm năng, sáng tạo, nghệ thuật và tri thức của họ, không chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân họ, mà còn làm giàu thêm cho xã hội.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp, theo luật pháp quốc tế, để đảm bảo rằng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không chứa đựng những rào cản bất hợp lý hoặc mang tính phân biệt đối xử đối với khả năng tiếp cận của người khuyết tật tới các tài liệu văn hoá.
4. Người khuyết tật có quyền được hỗ trợ và thừa nhận những đặc thù về ngôn ngữ và văn hoá bao gồm ngôn ngữ ký hiệu và văn hoá của người điếc, trên cơ sở bình đẳng như những người khác.
5. Nhằm hỗ trợ người khuyết tật tham gia vào các hoạt động thể thao, giải trí, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết  thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm:
(a) Khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia một cách đầy đủ nhất của người khuyết tật trong các hoạt động thể thao hòa nhập ở tất cả các cấp;
(b) Đảm bảo rằng người khuyết tật có cơ hội tổ chức, phát triển và tham gia vào các hoạt động giải trí và thể thao cụ thể dành cho người khuyết tật và để đạt được mục tiêu này  khuyến khích việc cung cấp các hướng dẫn, đào tạo và nguồn lực phù hợp, trên cơ sở bình đẳng như những người khác;
(c) Đảm bảo rằng người khuyết tật tiếp cận được đối với các địa điểm du lịch, thể thao và giải trí;
(d) Đảm bảo rằng trẻ em khuyết tật được tiếp cận bình đẳng như những trẻ em khác vào các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí, kể cả các hoạt động thể thao, vui chơi và giải trí trong hệ thống giáo dục;
(e) Đảm bảo rằng người khuyết tật tiếp cận được tới các dịch vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao, du lịch.
ĐIỀU 31 – THỐNG KẾ VÀ THU THẬP SỐ LIỆU
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện thu thập các thông tin phù hợp, bao gồm các số liệu nghiên cứu và thống kế, để hỗ trợ cho việc xây dựng và thực hiện chính sách để đảm bảo hiệu lực thi hành của Công ước này. Quá trình thu thập và lưu giữ thông tin cần:
(a) tuân thủ các bảo hộ được pháp luật đặt ra bao gồm cả luật về bảo hộ số liệu nhằm đảm bảo tính bảo mật và tôn trọng sự riêng tư của người khuyết tật;
(b) tuân thủ các chuẩn được quốc tế chấp nhận để bảo hộ  quyền con người, các quyền tự do cơ bản, và nguyên tắc đạo đức trong việc thu thập và sử dụng số liệu thống kê.
2. Các thông tin thu được theo quy định tại điều này phải được phân loại và được sử dụng để hỗ trợ đánh giá việc thực hiện các cam kết của các Quốc gia thành viên của Công ước này, khi phù hợp, và để xác định cũng như giải quyết trở ngại mà người khuyết tật gặp phải khi thực hiện quyền của họ.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết có trách nhiệm chia sẻ các số liệu thống kê và đảm bảo người khuyết tật và những người khác có thể tiếp cận được tới các số liệu thống kê này.
ĐIỀU 32 – HỢP TÁC QUỐC TẾ
1. Hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực, các tổ chức xã hội dân sự và đặc biệt là các tổ chức của người khuyết tật, các Quốc gia thành viên của Công ước này nhận thấy tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, trong việc hỗ trợ các nỗ lực của mỗi quốc gia hiện thực hóa các mục đích, mục tiêu của Công ước này, và cam kết áp dụng các biện pháp phù hợp và hiệu quả để trong lĩnh vực hợp tác quốc tế song phương và đa phương, khi phù hợp. Các biện pháp này, chưa kể đến các biệp pháp khác, bao gồm:
(a) Đảm bảo việc hợp tác quốc tế, bao gồm các chương trình phát triển quốc tế, mang tính hòa nhập và tiếp cận được đối với người khuyết tật.
(b) Tạo điều kiện và hỗ trợ nâng cao năng lực, bao gồm chia sẻ và trao đổi thông tin, kinh nghiệm, các chương trình đào tạo và các trường hợp điển hình;
(c) Tạo điều kiện cho công tác hợp tác trong nghiên cứu, tiếp cận tới các kiến thức khoa học và kỹ thuật;
(d) Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và kinh tế, khi phù hợp, bao gồm việc tạo điều kiện để tiếp cận và chia sẻ công nghệ hỗ trợ mang tính tiếp cận, và thông qua chuyển giao công nghệ.
2. Các khoản quy định trong Điều 32 không có tác động đến nghĩa vụ mà mỗi Quốc gia thành viên phải thực hiện trong khuôn khổ Công ước này.
ĐIỀU 33 – THỰC HIỆN VÀ GIÁM SÁT Ở CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết, tuỳ thuộc vào hệ thống tổ chức của quốc gia thành viên đó, cam kết phân công một hoặc một số cán bộ chuyên trách trong chính phủ để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các điều khoản của Công ước này, và cam kết xem xét một cách thích đáng việc thành lập hay chỉ định một cơ chế điều phối trong chính phủ để hỗ trợ thực hiện các hoạt động liên quan đến các lĩnh vực khác nhau, và ở các cấp khác nhau.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này, , tuỳ thuộc vào hệ thống quản lý hành chính và pháp lý của Quốc gia thành viên đó, cam kết duy trì, đẩy mạnh, chỉ định hoặc thiết lập trong chính phủ một khung hành động, bao gồm một hoặc nhiều cơ chế độc lập nếu cần thiết để thúc đẩy, bảo hộ, và giám sát việc thực hiện Công ước này. Khi chỉ định hay thành lập một cơ chế như vậy, thì các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tính đến đến các nguyên tắc có liên quan đến chức năng và vị trí của các thiết chế nhà nước cho việc bảo hộ và nâng cao quyền con người.
3. Các tổ chức xã hội dân sự, đặc biệt là người khuyết tật và các tổ chức đại diện của người khuyết tật phải được tham gia một cách đầy đủ vào quá trình giám sát.
ĐIỀU 34 – UỶ BAN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1. Uỷ ban về Quyền của người khuyết tật sẽ được thành lập (Sau đây gọi tắt là “Uỷ ban”) để thực hiện các nhiệm vụ được nêu ra dưới đây.
2. Uỷ ban cần bao gồm 12 chuyên gia, kể từ khi Công ước này có hiệu lực. Sau khi có thêm 60 quốc gia phê chuẩn hay gia nhập Công ước, thì số thành viên của Uỷ ban sẽ tăng thêm sáu thành viên nữa, và sẽ đạt số lượng tối đa là 18 thành viên.
3. Các Ủy viên trong Uỷ ban sẽ phục vụ theo năng lực riêng của họ, có phẩm chất đạo đức tốt, có kinh nghiệm và năng lực được thừa nhận trên các lĩnh vực mà Công ước đề cập. Khi đề cử các ứng viên là công dân của nước mình, các Quốc gia thành viên của Công ước này  phải cam kết xem xét một cách thích đáng đến các quy định được ghi trong Điều 4.3 của Công ước này. 
4. Các Ủy viên của Uỷ ban sẽ được các Quốc gia thành viên của Công ước này bầu chọn có tính đến các yếu tố về địa lý, đại diện của các xã hội khác nhau, và đại diện của các hệ thống pháp luật chủ yếu, yếu tố cân bằng giới, và có sự tham gia của các chuyên gia là người khuyết tật.
5. Các Ủy viên của Uỷ ban sẽ được bầu bằng cách bỏ phiếu kíntheo danh sách đề cử của các Quốc gia thành viên lựa chọn từ các ứng viên là công dân của nước họ tại các phiên họp của Hội nghị các Quốc gia thành viên. Tại các phiên họp đó, phải có tối thiểu hai phần ba tổng số các Quốc gia thành viên đến dự. Số người được bầu vào Uỷ ban sẽ là những người đạt được số phiếu nhiều nhất và thu được tuyệt đại đa số phiếu bầu của đại diện của các Quốc gia thành viên có mặt tham gia bỏ phiếu.
6. Lần bầu cử lần đầu sẽ được tiến hành không chậm quá 6 tháng kể từ sau ngày Công ước có hiệu lực. Ít nhất là bốn tháng trước ngày bầu cử, Tổng thư ký Liên hợp quốc sẽ gửi thư tới các Quốc gia thành viên đề nghị trong khoảng hai tháng đề cử ứng viên của mình vào Ủy ban.  Sau đó, Tổng thư ký Liên hợp quốc sẽ thành lập một danh sách theo thứ tự bảng chữ cái của tất cả những ứng viên được đề cử và ghi rõ Quốc gia thành viên nào đã đề cử họ và sẽ gửi danh sách đó tới Quốc gia thành viên của Công ước này.
7. Các thành viên của Uỷ ban sẽ được bầu với nhiệm kỳ bốn năm. Họ có thể được bầu lại một lần. Tuy nhiên, nhiệm kỳ của sáu thành viên được lựa chọn ở lần bầu cử đầu tiên sẽ chấm dứt trong haiấhi năm, ngay sau khi đợt bầu cử đầu tiên, tên của sáu thành viên này sẽ do Chủ tạo của phiên họp được ghi trong khoản 5 Điều 34 lựa chọn bằng cách rút thăm. 
8. Việc lựa chọn sáu thành viên bổ sung cho Uỷ ban sẽ được tổ chức trong các dịp bầu cử thường kỳ, phù hợp với các khoản của Điều 34.
9. Nếu một Ủy viên của Uỷ ban bị chết hay từ chức, hoặc tuyên bố ngừng thực hiện các nhiệm vụ của mình vì bất cứ lý do nào, thì Quốc gia thành viên đã đề cử Ủy viên đó sẽ chỉ định một chuyên gia khác có kiến thức chuyên môn tương tự và đáp ứng được các tiêu chuẩn ghi trong các khoản liên quan của Điều 34 thay thế cho đến hết nhiệm kỳ.
10. Uỷ ban sẽ tự định ra điều lệ làm việc của riêng mình.
11. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ bổ nhiệm nhân sự  và cung cấp các trang thiết bị vật chất cần thiết để Uỷ ban hoạt động một cách hiệu quả trong khuôn khổ Công ước này; và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ triệu tập cuộc họp đầu tiên của Ủy ban.
12. Khi có sự sự phê chuẩn của Đại hội đồng Liên hợp quốc, các Ủy viên của Uỷ ban được thành lập trong khuôn khổ Công ước này sẽ được nhận lương từ nguồn tài trợ của Liên Hợp Quốc theo thể thức và điều kiện do Đại hội đồng Liên hợp quốc ấn định căn cứ vào trọng trách trong Uỷ ban.
13. Các Ủy viên của Uỷ ban sẽ được phép sử dụng các trang thiết bị vật chất, được hưởng các quyền ưu đãi và quyền miễn trừ khi thực hiện nhiệm vụ cho Liên Hợp Quốc theo quy định của Công ước về Quyền ưu đãi và Quyền miễn trừ của Liên Hợp Quốc.
ĐIỀU 35 – BÁO CÁO CỦA CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
1. Mỗi Quốc gia thành viên cam kết đệ trình lên Uỷ bản, thông qua Tổng thư ký Liên hợp quốc, một bản báo cáo tổng hợp về các biện pháp được Quốc gia đó thông qua nhằm tăng tính hiệu lực cho các nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ Công ước này và những tiến bộ đã đạt được khi thực hiện các nghĩa vụ đó trong vòng hai năm sau khi Công ước có hiệu lực tại Quốc gia thành viên có liên quan.
2. Sau đó, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đệ trình báo cáo tới Uỷ ban ít nhất là bốn năm một lần và bất kỳ thời điểm nào khi Uỷ ban yêu cầu.
3. Uỷ ban sẽ ấn định các hướng dẫn được áp dụng đối với nội dung của báo cáo.
4. Mỗi Quốc gia thành viên đã đệ trình một báo báo tổng thể đầu tiên tới Uỷ ban rồi thì trong các báo cáo tiếp theo của mình không cần nhắc lại những thông tin đã được đề cập đến trong báo cáo trước đó. Khi chuẩn bị báo cáo, Quốc gia thành viên của Công ước này phải cam kết thực hiện quá trình chuẩn bị báo cáo một cách cởi mở và minh bạch và cam kết xem xét một cách thích đáng đến các quy định được ghi trong Điều 4.3 của Công ước này. .
5. Nội dung của báo cáo phải chỉ ra các nhân tố và khó khăn có ảnh hưởng đến việc hoàn thành các nghĩa vụ mà Công ước đưa ra.
ĐIỀU 36 – XEM XÉT BÁO CÁO
1. Mỗi báo cáo sẽ được Uỷ ban xem xét, điều này sẽ giúp Uỷ ban đưa ra các đề xuất và khuyến nghị chung về báo cáo và khi xét thấy phù hợp Ủy ban sẽ chuyển các đề xuất và khuyến nghị chung  đó cho các Quốc gia thành viên. Các Quốc gia thành viên sẽ có phản hồi về bất kỳ thông tin nào mà Quốc gia đó lựa chọn tới Uỷ ban. Uỷ ban có thể yêu cầu các Quốc gia thành viên cung cấp các thông tin cụ thể hơn có liên quan đến việc thực hiện Công ước này.
2. Nếu một Quốc gia thành viên của Công ước này đệ trình báo cáo quá muộn so với thời hạn quy định, thì Uỷ ban sẽ thông báo cho Quốc gia thành viên đó biết về yêu cầu cần phải kiểm tra việc thực hiện Công ước tại Quốc gia đó, và dựa trên các thông tin đáng tin cậy mà Uỷ ban thu được và nếu báo cáo không được nộp trong vòng 3 tháng kể từ thông báo, Uỷ ban sẽ yêu cầu Quốc gia thành viên đó tham gia kiểm tra. Nếu Quốc gia đó nộp báo cáo, thì các quy định trong khoản 1 của Điều 36 sẽ được áp dụng.
3. Tổng thư ký Liên Hợp quốc sẽ gửi các báo cáo tới tất cả các Quốc gia thành viên của Công ước này.
4. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết công bố báo cáo một cách rộng rãi trước công chúng của Quốc gia đó, và cam kết tạo điều kiện để công chúng có thể tiếp cận đến những đề xuất, gợi ý chung của Ủy ban có liên quan đến báo cáo.
5. Nếu xét thấy phù hợp, Uỷ ban sẽ gửi báo cáo do các Quốc gia thành viên của Công ước này đệ trình tới các cơ quan chuyên môn, các tổ chức và các chương trình của Liên Hợp Quốc và các cơ quan có thẩm quyền khác để yêu cầu hỗ trợ hay tư vấn về kỹ thuật có trong báo cáo bên cạnh những nhận xét và khuyến nghị nếu có của Ủy ban về những yêu cầu này.
ĐIỀU 37 – HỢP TÁC GIỮA CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN VÀ UỶ BAN
1. Mỗi Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết hợp tác với Uỷ ban và hỗ trợ các Ủy viên của Uỷ ban hoàn thành nhiệm vụ họ.
2. Trong mối quan hệ với các Quốc gia thành viên của Công ước này, Uỷ ban sẽ xem xét một cách thích đáng các phương thức và cách thức để nâng cao năng lực của các quốc gia trong việc thực hiện các điều khoản của Công ước cho Quốc gia thành viên của Công ước này, kể cả thông qua hợp tác quốc tế.
ĐIỀU 38 – MỐI QUAN HỆ CỦA UỶ BAN VỚI CÁC CƠ QUAN KHÁC
Để đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả Công ước này và khuyến khích hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực mà Công ước đề cập đến:
(a) Các cơ quan chuyên môn và các cơ quan khác của Liên Hợp Quốc được quyền đại diện trong quá trình xem xét thực hiện các điều khoản của Công ước trong khuôn khổ nhiệm vụ của họ. Nếu xét thấy phù hợp, Uỷ ban có thể yêu cầu các cơ quan chuyên môn và các cơ quan có thẩm quyền khác tư vấn chuyên môn cho việc việc thực hiện Công ước theo lĩnh vực trong phạm vi nhiệm vụ tương ứng của họ. Uỷ ban có thể yêu cầu các cơ quan chuyên môn và các tổ chức khác của Liên Hợp Quốc nộp báo cáo về việc thực hiện Công ước theo các lĩnh vực trong phạm vi hoạt động của họ.
(b) Uỷ ban, khi muốn hủy bỏ nhiệm vụ nào của mình, khi phù hợp, phải tham vấn với các cơ quan khác có liên quan chụi sự chi phối của các Hiệp ước nhân quyền quốc tế, nhằm đảm bảo sự nhất quán trong các hướng dẫn, các đề xuất và khuyến nghị chung tương ứng trong việc chuẩn bị báo cáo, và nhằm tránh sự trùng lặp và chồng chéo khi thực hiện chức năng của mình.
ĐIỀU 39 – BÁO CÁO CỦA UỶ BAN
Uỷ ban sẽ phải báo cáo hai năm một lần đến Đại Hội đồng Liên hợp quốc và tới Uỷ ban Kinh tế Xã hội về các hoạt động của Uỷ ban, và có thể có những đề xuất và khuyến nghị chung dựa trên việc đánh giá các báo cáo và các thông tin nhận được từ các Quốc gia thành viên của Công ước này. Các đề xuất và khuyến nghị chung đó phải được đề cập trong báo cáo của Uỷ ban cũng với những nhận xét nếu có từ Quốc gia thành viên của Công ước này.
ĐIỀU 40 – HỘI NGHỊ CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này sẽ họp thường kỳ tại Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước để xem xét những vấn đề có liên quan đến việc thực hiện Công ước.
2. Không quá sáu tháng kể từ ngày Công ước có hiệu lực, Tổng thư ký Liên hợp quốc sẽ triệu tập Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước. Các cuộc họp tiếp theo sẽ được Tổng thư ký LHQ triệu tập hai năm một lần, hoặc do các Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước ấn định.
ĐIỀU 41 – LƯU CHIỂU CÔNG ƯỚC
Tổng thư ký LHQ chịu trách nhiệm lưu chiểu Công ước này.
ĐIỀU 42 – KÝ KẾT CÔNG ƯỚC
Công ước này sẽ để ngỏ cho các quốc gia, các tổ chức hợp tác khu vực tham gia  ký kết việc gia nhập bắt đầu từ ngày 30 tháng 3 năm 2007 tại trụ sở chính của Liên hợp quốc tại New York.
ĐIỀU 43 – ĐẠT ĐƯỢC SỰ ĐỒNG THUẬN
Công ước này sẽ tùy thuộc vào các Quốc gia thành viên đã tham gia ký kết Công ước phê chuẩn và tùy thuộc vào các tổ chức hợp tác khu vực đã tham gia ký kết Công ước chính thức xác nhận việc gia nhập. Công ước này sẽ để ngỏ cho bất kỳ một quốc gia hay tổ chức hợp tác khu vực nào chưa tham gia ký kết Công ước.
ĐIỀU 44 – CÁC TỔ CHỨC HỢP TÁC KHU VỰC
1. “Tổ chức hợp tác khu vực” có nghĩa là một tổ chức do các Quốc gia có chủ quyền ở một khu vực nào đó thành lập và các Quốc gia thành viên  trao quyền cho Tổ chức hợp tác khu vực đó trong phạm vi các vấn đề được đề cập trong Công ước này. Những tổ chức hợp tác khu vực như vậy sẽ tuyên bố, trong văn kiện khẳng định hoặc gia nhập chính thức của mình, phạm vi thẩm quyền của mình đối với các vấn đề được để cập trong Công ước này. Sau đó các tổ chức này sẽ thông báo việc lưu chiểu bất kỳ phần sửa đổi đáng kể nào trong phạm vi quyền hạn của mình.
2. Khi nói đến “Các quốc gia thành viên” trong Công ước này có nghĩa là bao gồm cả các tổ chức như vậy trong phạm vi giới hạn thẩm quyền của họ.
3. Để phù hợp với khoản 1 Điều 45, và khoản 2 và 3 của Điều 47, bất kỳ văn kiện nào do một tổ chức hợp tác khu vực lưu chiểu sẽ không được tính đến.
4. Các tổ chức hợp tác khu vực, trong pham vi quyền hạn của mình, có thể thực hiện quyền bỏ phiếu tại Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước này với số phiếu ngang bằng với số lượng Quốc gia thành viên của tổ chức hợp tác khu vực đó mà đã tham gia Công ước này. Các tổ chức hợp tác khu vực như vậy không được thực hiện quyền bỏ phiếu nếu bất kỳ Quốc gia thành viên nào của tổ chức hợp tác khu vực đó thực hiện quyền bỏ phiếu đó và ngược lại.
ĐIỀU 45 – HIỆU LỰC
1. Công ước này sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 20. 
2. Đối với một Quốc gia thành viên hay tổ chức hợp tác khu vực phê chuẩn, chính thức khẳng định hoặc gia nhập Công ước sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chính thức khẳng định hoặc gia nhập thứ 20, thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, chính thức khẳng định hoặc gia nhập đó.
ĐIỀU 46 – BẢO LƯU Ý KIẾN
1. Ý kiến bảo lưu không phù hợp với mục đích và mục tiêu của Công ước sẽ không được chấp nhận.
2. Ý kiến bảo lưu có thể được hủy bỏ vào bất kỳ thời điểm nào.
ĐIỀU 47 – SỬA ĐỎI
1. Bất cứ Quốc gia thành viên nào của Công ước này có thể đề nghị sửa đổi Công ước và gửi đề nghị sửa đổi đó lên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuyển mọi đề nghị sửa đổi cho các Quốc gia thành viên nào của Công ước cùng với một yêu cầu đề nghị các Quốc gia thành viên cho biết liệu họ có muốn triệu tập một hội nghị các Quốc gia thành viên nhằm xem xét và hay thông qua các đề nghị sửa đổi đó hay không. Trong vòng 4 tháng kể từ ngày thông báo, nếu có ít nhất một phần ba số nước tuyên bố tán thành việc tổ chức hội nghị nói trên thì Tổng thư ký sẽ triệu tập hội nghị dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc. Văn kiện sửa đổi được hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên tham dự Hội nghị và bỏ phiếu thông qua thì sẽ được Tổng thư ký trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc chuẩn y và sau đó gửi tới tất cả các Quốc gia thành viên của Công ước chấp nhận.
2. Văn kiện sửa đổi được thông qua và chuẩn y nêu ở khoản 1 Điều 47 sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi có hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên của Công ước gửi văn kiện chấp nhận sửa đổi và các văn kiện chấp nhận này được lưu chiểu kể từ ngày thông qua sửa đổi.  Sau đó, văn kiện sửa đổi sẽ có hiệu lực tại các Quốc gia thành viên của Công ước vào ngày thứ 30 kể từ ngày Quốc gia thành viên đó lưu chiểu văn kiện chấp nhận sửa đổi của chính Quốc gia đó. Văn kiện sửa đổi sẽ chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với những Quốc gia thành viên đã chấp thuận sửa đổi.
3. Nếu được Hội nghị các Quốc gia thành viên của Công ước quyết định với sự thống nhất cao, văn kiện sửa đổi được thông qua và chuẩn y nêu ở khoản 1 Điều 47 mà đặc biệt có liên quan đến các Điều 34, 38, 39, 40  sẽ có hiệu lực đối với tất cả các Quốc gia thành viên của Công ước vào ngày thứ 30 sau khi  có hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên của Công ước gửi văn kiện chấp nhận sửa đổi và các văn kiện chấp nhận sửa đổi này được lưu chiểu kể từ ngày thông qua sửa đổi. 
ĐIỀU 48 – RÚT KHỎI CÔNG ƯỚC
Một Quốc gia thành viên của Công ước muốn rút khỏi Công nước phải thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Việc rút khỏi Công ước sẽ có hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày Tổng thư ký nhận được thông báo.
ĐIỀU 49 – DẠNG THỨC TIÊP CẬN CỦA CÔNG ƯỚC
Nội dung của Công ước sẽ được trình bày dưới các dạng thức tiếp cận khác nhau.
ĐIỀU 50 – NGÔN NGỮ
Nguyên văn Công ước này được viết bằng tiếng Ả-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha và đều có giá trị như nhau.
Để làm bằng chứng những đại biểu được Chính phủ nước họ trao toàn quyền ký tên dưới đây, đã ký vào bản Công ước này.
PHỤ LỤC II
NGHỊ ĐỊNH THƯ KHÔNG BẮT BUỘC CỦA CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 
Các Quốc gia thành viên tham gia Nghị định thư không bắt buộc này cam kết các điều sau đây:
ĐIỀU 1
1. Một Quốc gia thành viên tham gia Nghị định thư này (Sau đây gọi tắt là "Quốc gia thành viên”) công nhận thẩm quyền của Ủy ban về Quyền của Người Khuyết Tật (Sau đây gọi tắt là "Ủy ban”) để tiếp nhận và xem xét các thông tin tố cáo từ hoặc nhân danh một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân được Nghị định thư này bảo hộ tố cáo rằng họ bị Quốc gia thành viên đó xâm hại, vi phạm các điều khoản của Công ước về Quyền của người khuyết tật.     
2. Không một thông tin tố cáo nào được Ủy ban tiếp nhận nếu thông tin tố cáo đó liên quan đến một Quốc gia thành viên tham gia Công ước về Quyền của người khuyết tật nhưng lại không là thành viên của Nghị định thư không bắt buộc này.
ĐIỀU 2
Ủy ban sẽ coi các thông tin tố cáo là không được chấp nhận khi  :
(a) Là thông tin tố cáo nặc danh;
(b) Thông tin tố cáo lợi dụng quyền được gửi thông tin tố cáo hoặc thông tin tố cáo không phù hợp với các điều khoản của Công ước về Quyền của người khuyết tật;   
(c) Những thông tin như vậy sẽ được Ủy ban kiểm tra trong khuôn khổ các quy định khác về giải quyết tranh chấp hay điều tra quốc tế; 
(d) Tất cả các giải pháp sẵn có trong nội bộ Quốc gia thành viên đó sẽ không được xem xét đến. Điều này sẽ không được phép xảy ra ở một Quốc gia thành viên mà việc áp dụng các giải pháp cho các thông tin tố cáo kéo dài một cách không hợp lý hoặc có thể không mang lại những giải pháp có hiệu quả;     
(e) Thông tin tố cáo đó rõ ràng là không có căn cứ hoặc là không chứng minh được một cách đầy đủ; hoặc khi
(f) Các vụ việc thực tế của thông tin tố cáo xảy ra trước khi Nghị định thư này có hiệu lực tại Quốc gia thành viên có liên quan trừ phi những vụ việc đó tiếp diễn đến sau ngày Nghị định thư có hiệu lực. 
ĐIỀU 3
Như đã nêu trong các khoản của Điều 2 của Nghị định thư này, Ủy ban sẽ bí mật chuyển các thông tin tố cáo tới Quốc gia thành viên bị cáo buộc để giải quyết.. Trong vòng sáu tháng, Quốc gia thành viên bị cáo buộc đó phải có báo cáo giải trình với Ủy ban về các vụ việc đó và đề xuất các giải pháp nếu có mà Quốc gia thành viên đó đã tiến hành để giải quyết các vụ việc.
ĐIỀU 4
1. Vào thời điểm bất kỳ sau khi nhận được thông tin tố cáo và trước khi đưa ra hướng giải quyết vụ việc, Ủy ban có thể yêu cầu Quốc gia thành viên có liên quan đó phải xem xét một cách khẩn trương và đưa ranhững biện pháp tạm thời cần thiết để tránh những thiệt hại không thể bù đắp được có thể xảy ra cho nạn nhân hoặc các nạn nhân đã bị xâm hại.
2. Khi Ủy ban thực hiện thẩm quyền của mình được ghi trong khoản 1 Điều 4 của Nghị định thư này, thì điều này không có nghĩa là đây là một phán quyết về việc gia nhập Nghị định thư hay về việc giải quyết vụ việc bị tố cáo đó.
ĐIỀU 5
Ủy ban sẽ phải tổ chức các cuộc họp kín khi điều tra các vụ việc bị tố cáo trong khuôn khổ Nghị định thư này. Sau khi điều tra xong vụ việc, Ủy ban sẽ chuyển các giải pháp và khuyến nghị của mình, nếu có, tới Quốc gia thành viên có liên quan và tới người gửi đơn thư tố cáo.   
ĐIỀU 6
1. Nếu Ủy ban nhận được thông tin tin cậy chứng minh rằng một Quốc gia thành viên vi phạm nghiêm trong hoặc vi phạm một cách có hệ thống các quyền của người khuyết tật ghi trong Công ước về Quyền của người khuyết tật thì Ủy ban sẽ yêu cầu Quốc gia thành viên đó hợp tác kiểm tra thông tin và sau đó sẽ đưa ra báo cáo kết quả kiểm tra liên quan đế vụ việc có liên quan.
2. Xem xét cả báo cáo do Quốc gia thành viên có liên quan đệ trình cũng như các nguồn thông tin tin cậy sẵn có khác của mình, Ủy ban có thể sẽ cử một hay một số Ủy viên của Ủy ban tiến hành thẩm vấn và báo cáo khẩn cấp cho Ủy ban. Khi được đảm bảo và có sự chấp thuận của Quốc gia thành viên đó, trong quá trình điều tra có thể sẽ bao gồm cả một chuyến điều tra thực địa tới Quốc gia thành viên có liên quan.    
3. Sau khi thẩm tra kết quả của cuộc điều tra, Ủy ban sẽ chuyển báo cáo điều tra tới Quốc gia thành viên có liên quan cùng với các nhận xét và khuyến nghị của Ủy ban. 
4. Trong vòng 06 tháng kể từ khi nhận được báo cáo điều tra cùng với các nhận xét và khuyến nghị của Ủy ban, Quốc gia thành viên có liên quan phải trình báo cáo điều tra của mình cho Ủy ban. 
5. Một cuộc điều tra như vậy phải được tiến hành bí mật và phải đảm bảo có sự hợp tác của Quốc gia thành viên có liên quan ở tất các các giai đoạn của trình tự thủ tục điểu tra. 
ĐIỀU 7
1. Ủy ban có thể yêu cầu Quốc gia thành viên có liên quan đó phải trình bày chi tiết các giải pháp trong báo cáo điều tra của mình theo quy định tại Điều 35 của Công ước về Quyền của người khuyết tật trong suốt quá trình điều tra được thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Nghị định thư này.  
2. Ủy ban có thể yêu cầu Quốc gia thành viên có liên quan thông báo các giải pháp đã được thực hiện trong suốt quá trình điều tra sau khi kết thúc thời hạn 06 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 6, nếu thấy cần thiết.   
ĐIỀU 8
Mỗi Quốc gia thành viên có thể tuyên bố rằng Quốc gia thành viên đó không công nhận thẩm quyền của Ủy ban được nêu trong Điều 6 và 7, vào thời điểm ký kết hay phê chuẩn Nghị định thư này hoặc gia nhập sau đó.  
ĐIỀU 9
Tổng thư lý Liên hợp quốc sẽ lưu chiểu Nghị định thư này.
ĐIỀU 10
Nghị định thư này sẽ để ngỏ cho các Quốc gia thành viên các tổ chức hợp tác khu vực đã tham gia ký kết việc gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật tham gia ký kết bắt đầu từ ngày 30 tháng 3 năm 2007 tại trụ sở chính của Liên hợp quốc ở New York.  
ĐIỀU 11
Nghị định thư này sẽ tùy thuộc vào việc phê chuẩn của các Quốc gia thành viên đã tham gia ký kết Nghị định thư này mà đã phê chuẩn hay gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật. Nghị định thư này sẽ tùy thuộc vào sự khẳng định chính thức của các tổ chức hợp tác khu vực đã tham gia ký kết Nghị định thư này mà đã chính thức khẳng định hay gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật. Nghị định thư này sẽ để ngỏ cho bất kỳ Quốc gia thành viên hay tổ chức hợp tác khu vực nào mà đã phê chuẩn, khẳng định chính thức hay gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật nhưng chưa ký kết Nghị định thư gia nhập Nghị định thư.      
ĐIỀU 12
1. “Tổ chức hợp tác khu vực” có nghĩa là một tổ chức do các Quốc gia có chủ quyền ở một khu vực nào đó thành lập và các Quốc gia thành viên  trao quyền cho Tổ chức hợp tác khu vực đó trong phạm vi các vấn đề được đề cập trong Công ước và Nghị định thư. Những tổ chức hợp tác khu vực như vậy sẽ tuyên bố trong văn kiện khằng định hoặc gia nhập chính thức của mình, phạm vi thẩm quyền của mình đối với các vấn đề được để cập trong Công ước và Nghị định thư. Sau đó các tổ chức này sẽ thông báo việc lưu chiểu bất kỳ phần sửa đổi đáng kể nào trong phạm vi quyền hạn của mình
2. Khi nói đền “các Quốc gia thành viên” trong bản Nghị định thư này có nghĩa là bao gồm cả các tổ chức hợp tác khu vực như vậy trong phạm vi giới hạn thẩm quyền của họ.
3. Để phù hợp với khoản 1, Điều 13, và khoản 2 Điều 15, bất kỳ một văn kiện nào được các tổ chức hợp tác khu vực như vậy lưu chiểu sẽ không được tính đến.
4. Tổ chức hợp tác khu vực, trong phạm vi quyền hạn của mình, có thể thực hiện quyền bỏ phiếu tại các phiên họp của các Quốc gia thành viên của Nghị định thư này, với số phiếu ngang bằng với số lượng các Quốc gia thành viên của tổ chức hợp tác khu vực đó mà là thành viên của Nghị định thư này. Tổ chức hợp tác khu vựcsẽ không có quyền bỏ phiếu nếu các Quốc gia thành viên của tổ chức đó bỏ phiếu và ngược lại.
ĐIỀU 13
1. Khi Công ước có hiệu lực thì Nghị định thư này sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hay gia nhập thứ 10.   
2. Đối với từng Quốc gia thành viên hoặc tổ chức hợp tác khu vực phê chuẩn, khẳng định chính thức hay gia nhập Nghị định thư sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, khẳng định chính thức hay gia nhập Nghị định thư thứ 10, thì Nghị định thư sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiếu văn kiện Nghị định thư phê chuẩn, khẳng định chính thức hay gia nhập đó. 
ĐIỀU 14
1. Ý kiến bảo lưu mà không phù hợp với đối tượng và mục đích của Nghị định thư này sẽ không được chấp nhận. 
2. Ý kiến bảo lưu có thể được hủy bỏ vào bất kỳ thời điểm nào.
ĐIỀU 15
1. Bất kỳ Quốc gia thành viên nào cũng có thể đề xuất sửa đổi Nghị định thư và trình đề xuất sửa đổi lên Tổng thư ký Liên hợp quốc.  Tổng thư ký sẽ chuyển đề xuất sửa đổi cho các Quốc gia thành viên với một yêu cầu đề nghị họ cho biết liệu có cần triệu tập một cuộc họp các Quốc gia thành viên về việc xem xét và thông qua đề xuất sửa đổi đó. Trong vòng 4 tháng tính từ ngày thông báo, nếu có ít nhất một phần ba tổng số các Quốc gia thành viên của Nghị định thư tuyên bố tán thành tồ chức cuộc họp xem xét dự thảo sửa đổi, thì Tổng thư ký sẽ triệu tập cuộc họp dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc. Mọi sửa đổi nào được hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên tham dự phiên họp thông qua sẽ được Tổng thư ký đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc để phê chuẩn và sau đó các Quốc gia thành viên chấp thuận.       
2. Văn kiện sửa đổi được thông qua và phê chuẩn tại khoản 1 Điều 15 sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi có hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên của Nghị định thư gửi văn kiện chấp nhận sửa đổi và các văn kiện chấp nhận này được lưu chiểu kể từ ngày thông qua sửa đổi. Sau đó văn kiện sửa đổi sẽ có hiệu lực tại các Quốc gia thành viên tham gia vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện chấp thuận sửa đổi của chính các Quốc gia thành viên đó.Văn kiện sửa đổi chỉ có hiệu lực ràng buộc tại các Quốc gia thành viên đã chấp thuận sửa đổi.
ĐIỀU 16
Một Quốc gia thành viên muốn rút khỏi Nghị định thư này phải thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Việc rút khỏi Nghị định thư này sẽ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo rút khỏi Nghị định thư.   
ĐIỀU 17
Nội dung của bản Nghị định thư này sẽ trình bày dưới các dạng thức tiếp cận khác nhau. 
ĐIỀU 18
Nguyên văn Nghị định thư này được viết bằng tiếng Ả-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha và đều có giá trị như nhau.
Để làm bằng chứng những đại biểu được Chính phủ của nước họ trao toàn quyền ký tên dưới đây, đã ký vào bản Nghị định thư này.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code