Showing posts with label LDS - Tinh huong thuc tien. Show all posts
Showing posts with label LDS - Tinh huong thuc tien. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: LẠI CHUYỆN NGƯ DÂN KIỆN BẢO HIỂM

NAM CƯỜNG
Một chủ tàu cá vừa có đơn kêu cứu gửi báo Tiền Phong tại miền Trung về trường hợp tàu của ông ra khơi đánh bắt bị chìm từ tháng 11/2008, nhưng đến nay, Cty Bảo hiểm Bảo Minh từ chối bồi thường.
Ông Nguyễn Đức Thạch (tổ 22 phường Thanh Khê Đông, Thanh Khê, Đà Nẵng), trình bày, ngày 14/11/2008, tàu ĐNa – 90271 (CS 450CV) ra khơi đánh bắt hải sản tại vùng biển gần đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị). Ngày 20/11, trên đường vào bờ, tàu bị hỏng máy, nước tràn vào gây chìm. BĐBP phối hợp cùng tàu Chân Mây I (TT Huế) đưa 14 ngư dân vào bờ.
Riêng con tàu, ông Thạch phải thuê nhiều tàu trục vớt, lai dắt vào bờ. Sau khi sửa chữa, vụ tai nạn tính sơ sơ ông Thạch bị thiệt hại gần 400 triệu đồng.
Ông Thạch cầm lá đơn bức xúc: “Tôi đã cẩn thận mua bảo hiểm rồi mà đến phút chót hoá ra phải còng lưng lo liệu gần 400 triệu sửa tàu”.
Theo trình bày của ông Thạch, trị giá tàu ĐNa – 90271 khoảng một tỷ đồng (gồm thân, máy cùng nhiều ngư cụ khác), nên vào năm 2007 ông đã mua bảo hiểm của Cty Bảo hiểm Bảo Minh chi nhánh Quảng Nam (số AD 0001/08/B3 510) với giá tiền 10 triệu đồng/năm, mức bồi thường tối đa là 820 triệu đồng.
“Tôi đã hoàn tất hồ sơ, thủ tục về kiểm định thiệt hại, hóa đơn chứng từ chi phí cho việc sửa chữa tàu. Đơn vị bảo hiểm cũng đến xác nhận, chụp ảnh, nhưng cuối cùng họ từ chối thanh toán vì cho rằng tôi đã tự ý ra khơi khi có dự báo thời tiết nguy hiểm” – Ông Thạch buồn rầu.
Năm lần gọi, tòa vẫn chưa thể xử
Ông Thạch trình bày: “Chúng tôi là ngư dân Đà Nẵng, vì thế khi ra khơi căn cứ vào bản tin dự báo thời tiết của Đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng (DRT), mà đài này phát bản tin của Đài Khí tượng Thuỷ văn Trung Trung Bộ. Ngoài ra, vào ngày 14/11/2008, khi tàu tôi ra khơi, thời tiết bình thường, không có lệnh cấm nào của BĐBP Đà Nẵng, chính quyền cũng như BCH PCLB Đà Nẵng.

“Ông Nguyễn Đình Hoàng – GĐ Cty Bảo hiểm Bảo Minh tại Quảng Nam cho hay, vụ việc không còn thẩm quyền giải quyết của ông vì số tiền đền bù quá lớn.
“Theo luật, chúng tôi phải thuê một đơn vị thứ ba giám định. Chúng tôi sẽ theo kết quả giám định của họ để quyết định đền bù hay không. Còn kết quả thế nào hãy chờ tòa án giải quyết” – Ông Hoàng nói.
Vậy mà bên phía Cty Bảo Minh viện dẫn thông báo của Đài KTTV Khu vực Nam Bộ. Chúng tôi biết tin ai?” – Ông Thạch nói.
Theo tìm hiểu của PV, BCH Phòng chống Lụt bão TP Đà Nẵng dẫn nguồn tin của Đài KTTV (còn lưu trữ) cho biết: “Ngày 12/11/2008, có vùng áp thấp xuất hiện vị trí 9,3 – 10,3 độ vĩ bắc, 115,5-115,5 độ kinh đông – cách vị trí bờ biển Vũng Tàu 900km về phía đông và di chuyển hướng tây nam. Đến 14/11, áp thấp suy yếu ở vùng biển từ Bình Thuận – Cà Mau, Đài KTTV phát bản tin cuối cùng.
Do áp thấp ở vùng biển phía nam cách quá xa ngư trường hoạt động của Đà Nẵng, BCH PCLB và BĐBP Đà Nẵng không cấm tàu ra khơi. Việc tàu cá ĐNa – 90271 của ông Thạch xuất bến đánh cá vùng biển gần đảo Cồn Cỏ (18,00 độ vĩ bắc, 108,10 độ kinh đông) là không vi phạm yêu cầu của BCH PCLB”.
Ngoài ra, BĐBP Đà Nẵng cũng xác nhận tàu ĐNa – 90271 ra khơi hợp pháp. Thêm nữa, theo một cán bộ của BCH PCLB Đà Nẵng, thì ngay dự báo của Đài KTTV Nam Bộ cũng cho rằng ngày 14/11/2008, áp thấp suy yếu, chỉ bị ảnh hưởng vùng biển từ Bình Thuận – Cà Mau, ở vĩ độ 9,1 – 10,1. Trong khi tàu ông Thạch lại đánh bắt tận vĩ độ 18,00, có khoảng cách địa lý cả ngàn kilômét.
Được biết, ông Nguyễn Đức Thạch đã kiện Cty Bảo Minh ra TAND Quảng Nam, nhưng từ tháng 6/2009 đến nay, đã bốn lần tòa gọi hòa giải không thành do phía Cty Bảo Minh không đến.
Ngày 30/8, ông Nguyễn Đức Thạch lại đến VP đại diện báo Tiền Phongmiền Trung, bức xúc việc TAND tỉnh Quảng Nam tiếp tục hoãn phiên tòa.
Theo ông Thạch, phiên tòa dự kiến sẽ xử vào sáng 28/8 nhưng chiều 27/8, phía Cty Bảo Minh đem hồ sơ đến bổ sung, khiến TAND Quảng Nam lại phải hoãn để tiếp tục nghiên cứu.
“Cũng vì nghĩ đến rủi ro cho con tàu mà tôi mua bảo hiểm, bây giờ cả tiền sắm tàu lẫn tiền sửa tôi nợ đến 500 triệu. Thế mà họ viện lý do từ chối. Sao khi mời chào mua bảo hiểm lại ngon ngọt thế?” – Ông Thạch ngán ngẩm.
SOURCE: BÁO TIỀN PHONG

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHIẾU: “ÔM” CỔ PHIẾU RỒI “XÙ”

VI TRẦN
Vì giá cổ phiếu không như kỳ vọng, bên mua từ chối “ôm” dù đã ký hợp đồng, nhận tiền cổ tức… và tòa cũng hủy luôn việc mua bán này.
Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa tuyên hủy việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với bà Th. vì cho rằng giao dịch giữa hai bên không hợp pháp. Điều đáng nói là trước đó bà Th. đã đồng ý ký hợp đồng mua cổ phiếu, đã nhận tiền lãi hằng năm từ số cổ phiếu này…
Chỉ tại cổ phiếu không tăng
Đầu năm 2007, Công ty Xuất nhập khẩu B. chia cổ phần cho nhân viên để huy động vốn mở rộng kinh doanh. Theo chủ trương chung, công ty sẽ chia cổ phần cho nhân viên của công ty theo thâm niên công tác, mức lương…, sau đó sẽ phát hành ra ngoài. Công ty dự kiến mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 ngàn đồng.
Phán đoán giá cổ phiếu Công ty B. sẽ tăng, ông T. đã thỏa thuận mua hơn 130 cổ phiếu của hai nhân viên công ty với giá 150 ngàn đồng/cổ phiếu. Hai bên chỉ làm thỏa thuận mua bán bằng giấy tay vì Công ty B. chưa cấp sổ cổ đông cho nhân viên.
Có giấy thỏa thuận, ông T. bèn tìm người bán để kiếm lời và bà Th. đã đồng ý mua. Thay vì ông T. trực tiếp mua bán hơn 130 cổ phiếu với bà Th. thì ông lại nhờ một người bạn đứng ra giao dịch. Thế là vào tháng 10-2007, bà Th. đã ký vào tờ hợp đồng do ông T. soạn sẵn rồi giao hơn 400 triệu đồng cho bạn của ông T. mang về.
Sáu tháng sau thời điểm ông T. bán cổ phiếu cho bà Th., Công ty B. cấp sổ cổ đông cho nhân viên. Nhận được sổ, hai nhân viên Công ty B. liền chuyển số cổ phiếu cho ông T. như thỏa thuận ban đầu. Ông T. liền yêu cầu bà Th. đưa giấy tờ để ông chuyển tên sở hữu số cổ phiếu của mình cho bà. Song song đó, ông T. cũng đã chuyển đến bà Th. hơn ba triệu đồng tiền cổ tức mà Công ty B. chia cho số cổ phiếu trên.

Mọi chuyện tưởng xuôi chèo mát mái nhưng lúc này, cổ phiếu của Công ty B. không tăng giá như kỳ vọng nên bà Th. đã yêu cầu ông T. hủy hợp đồng mua bán cổ phiếu, trả lại tiền cho mình.
Tòa: Giao dịch không hợp pháp!
Tại phiên phúc thẩm vừa qua, ông T. nói tại thời điểm mua bán cổ phiếu với bà Th. thì ông có quyền tài sản trên hơn 130 cổ phiếu trên nên ông có quyền định đoạt chúng. Bà Th. đã ký vào thỏa thuận mua quyền của số cổ phiếu này và đã nhận tiền cổ tức của Công ty B. nên không thể nói là không tự nguyện.
Cạnh đó, ông T. cho rằng Luật Doanh nghiệp cũng không cấm chuyện mua bán này nên ông yêu cầu bà Th. phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết. Ông T. còn than: “Giả sử cổ phiếu này lên sàn và tăng giá, tôi chắc chắn rằng bà Th. sẽ rượt tôi để đòi sang tên chúng chứ không đòi hủy ngang hợp đồng như thế này”.
Tòa phân tích: Tại thời điểm ông T. mua cổ phiếu của hai nhân viên Công ty B., công ty này chưa cấp sổ cổ đông cho họ nên ông T. không có cổ phiếu tại đó. Nếu có chuyện mua bán giữa ông T. với hai nhân viên thì việc mua bán này là không hợp pháp bởi trong điều lệ, Công ty B. quy định việc mua bán cổ phiếu phải có sự đồng ý của công ty trong khi hai nhân viên kia lại tự ý bán.
Vì ngay từ đầu việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với hai nhân viên của Công ty B. không hợp pháp nên các hợp đồng, giao dịch sau đó sẽ đương nhiên vô hiệu. Do đó, tòa đã tuyên giao dịch giữa ông T. với bà Th. vô hiệu và phía ông T. phải trả lại cho bà Th. hơn 400 triệu đồng.

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: TRỔ CỬA SỔ SANG NHÀ HÀNG XÓM, BIẾT SAI NHƯNG KHÔNG DỄ BỊT!

LINH GIANG
Quy chuẩn xây dựng hiện hành không quy định việc trổ cửa.
Sáu hộ dân ngụ hẻm 47 Trần Hưng Đạo, quận 5, TP.HCM phản ánh: Hơn 50 năm nay, họ có sử dụng chung một nhánh rẽ của hẻm 47 để làm lối đi. Do nhánh rẽ là đường cùn nên các hộ đã nâng cấp, xây nhiều bồn cây, chậu kiểng làm thành một sân chung trồng nhiều cây xanh.
Tự ý trổ nhiều cửa
Lấn cấn phát sinh khi hộ 47/19 (không thuộc sáu hộ trên) xây dựng nhà ở vào tháng 5-2009. Do hông nhà này giáp ranh với nhánh rẽ, mặt tiền nhà quay ra đoạn đầu con hẻm nên trong quá trình thi công, chủ hộ là ông T. đã di dời, phá bỏ cây xanh nhằm mở cửa đi bên hông nhà. Khi bị sáu hộ phản đối, ông T. đã bít cửa hông này. Chừng khi xây lầu thì ông lại tiếp tục mở cửa bên hông trên lầu và cửa sổ nhìn trực diện vào nhà của sáu hộ. Ngoài ra, cửa thông gió phòng vệ sinh của nhà ông T. còn hướng thẳng vào nhà 47/28.
Theo một hộ dân, khi khởi công xây dựng thì ông T. có trao đổi với các hộ về việc trổ cửa sổ và cửa hông, đồng thời yêu cầu các hộ dọn dẹp cây xanh. Nhưng sáu hộ không chấp thuận cho trổ cửa. Bởi làm vậy thì hẻm sẽ bị thu hẹp và các cây xanh cũng bị phá hỏng. Nhưng viện lẽ đã được cấp phép xây dựng, ông T. vẫn cứ theo kế hoạch mà làm.
Không còn cách nào khác, sáu hộ đã khiếu nại đến UBND phường 6 và UBND quận 5. Ngày 25-5, đại diện Phòng Quản lý đô thị quận 5 đã mời hai bên đến làm việc và yêu cầu sáu hộ dân đồng ý cho ông T. trổ cửa sổ với điều kiện “cách mặt đất 2,5 m trở lên, chỉ được trổ ít cửa sổ và không mở trực diện nhìn thẳng sang nhà các hộ”. Sau đó, đại diện của Thanh tra xây dựng quận 5 có biên bản lưu ý: Theo bản vẽ kèm theo giấy phép xây dựng thì nhà 47/19 không có cửa hông lẫn cửa sổ. Nhưng để dễ đón nắng, ông T. được trổ ba cửa sổ.

Chưa có cơ sở điều chỉnh
Trong hai công văn trả lời khiếu nại của sáu hộ dân, UBND quận 5 cho biết: Quyết định 04 ngày 3-4-2008 của Bộ Xây dựng không khống chế việc mở cửa sổ tại hẻm công cộng. Quy chuẩn xây dựng Việt Nam năm 2008 chỉ quy định “khi thiết kế nhà ở liên kế, việc mở cửa sổ tại các phòng chức năng phải đảm bảo tính riêng biệt cho mỗi căn nhà” (khoản 5.5.1). Tiếp nữa, theo Công văn 5673 ngày 20-7-2009 của Sở Xây dựng, nhà ở và công trình xây dựng trong khu quy hoạch cải tạo các khu vực cũ trong đô thị phải đảm bảo khoảng cách tối thiểu đến ranh đất kề cận từ 2 m trở lên. Như vậy, hộ 47/19 không làm sai quy định trong việc trổ cửa sổ tại hẻm 4 m. Tất nhiên, việc mở cửa phải đảm bảo tính riêng biệt cho mỗi căn nhà.
Đáng lưu ý, cả hai công văn đều chưa thể hiện rõ ông T. có được phép mở cửa hông hay không. Riêng với lưu ý trên của Thanh tra xây dựng quận 5 (chỉ được mở tối đa ba cửa sổ), ông T. đã mở đến tám cửa sổ và hai cửa bên hông lại nhìn trực diện vào nhà của sáu hộ dân làm ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Ông Huỳnh Thiện Triết, Phó phòng Quản lý đô thị quận 5, thừa nhận: Rất khó ra công văn yêu cầu ông T. bít cửa sổ vì không có quy định về việc này. Trong khi đó, Công văn 5673 của Sở Xây dựng lại cho phép “công trình xây dựng có khoảng cách đến ranh đất của hộ liền kề từ 2 m trở lên được trổ cửa sổ”.
“Để đảm bảo được sự riêng tư của các hộ lân cận, phòng đã đề nghị Thanh tra xây dựng quận phối hợp với UBND phường buộc ông T. phải lắp gạch kính (không nhìn thấy bên ngoài) đối với các cửa sổ theo đúng thiết kế. Sắp tới, nếu ông T. không thực hiện việc này thì phòng sẽ xin ý kiến xử lý của UBND quận” – ông Triết nói.
Trước chi tiết, nay không
Theo Điều 7 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 682 ngày 14-12-1996 của Bộ Xây dựng, chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa sổ, cửa đi, lỗ thông hơi, lỗ thông gió theo quy định sau:
- Từ tầng hai (lầu một) trở lên, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh dưới 2 m không được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi (chỉ được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi trên các bức tường cách ranh giới đất với nhà bên cạnh ít nhất 2 m). Khi mở cửa cần có biện pháp tránh tia nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh (chắn tầm nhìn hoặc bố trí so le các cửa sổ giữa hai nhà).
- Mép ngoài cùng của ban công trông sang nhà hàng xóm phải cách ranh giới đất giữa hai nhà ít nhất là 2 m.
Tuy nhiên, quy chuẩn xây dựng này đã được thay thế bằng Quy chuẩn xây dựng ban hành kèm theo Quyết định 04 ngày 3-4-2008 của Bộ Xây dựng và việc trổ cửa đã không được đề cập đến.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ GIA SÚC BỊ THẤT LẠC: RỐI RẮM CHUYỆN CON BÒ ĐI LẠC

HỒ SỸ
Chủ bò muốn bắt đền người đã xẻ thịt con bò nhưng xã chỉ huyện, huyện lại đổ xã.
Con bò “bất hạnh” trên thuộc sở hữu của ông Phan Văn Hạnh, ngụ xã Tân Thuận (Hàm Thuận Nam, Bình Thuận). Sau khi vay tiền ngân hàng, ông Hạnh đã dùng 18 triệu đồng mua một con bò đực để cày đất và chở nông sản. Tối 5-2-2008 (nhằm ngày 29 Tết Mậu Tý), con bò thường ngày được cột trong vườn nhà ông Hạnh bị tuột dây, đi lạc.
Còn sống hay đã chết?
Ngày 20-6-2008, sau bốn tháng trời ròng rã truy tìm, ông Hạnh mới hay tin con bò của mình đã được ông C. (thôn Lập Phước, xã Tân Lập) bắt được và nuôi giữ. Ông C. cũng thừa nhận việc này nhưng lại cho rằng “đó là chuyện của quá khứ” vì vào đầu tháng 6 thì con bò đã chết và ông đã đem ra xẻ thịt.
Không dễ dàng cho qua việc này, ông Hạnh đã nộp đơn yêu cầu UBND xã Tân Lập xử lý. Gần ba tháng sau đó, xã mời ông Hạnh đến làm việc nhưng không phải về vụ đòi bò mà là vụ con bò của ông đã gây thiệt hại cho ông C. và một người khác cùng thôn vào đêm bị lạc. Theo biên bản do thôn lập ngày 6-2-2008 thì con bò của ông Hạnh đã ăn gần 1.500 trái và bông thanh long, đạp rách 12 tấm bạt để phủ đất và đạp bể 200 viên gạch. Theo đó, xã yêu cầu ông Hạnh phải bồi thường 6,4 triệu đồng.
Tuy nhiên, theo ông Lê Trọng Tâm, nguyên thôn phó thôn Lập Phước, biên bản trên được lập không có căn cứ. “Chỉ trong một đêm thì con bò không thể nào quậy phá tanh bành như thế! Nhưng thôn trưởng chỉ đạo tôi cứ lập biên bản để bắt chủ bò bồi thường nhằm lấy tiền làm quỹ thôn” – ông Tâm nói. Ông Tâm còn khẳng định: “Trong thời gian ở nhà ông C. thì con bò không chết và không hề bị xẻ thịt. Chính xác là ông C. đã bán bò cho một người ở thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân. Tôi đã thu âm được lời của hai người bàn việc mua, bán bò và tôi sẵn sàng đứng ra làm chứng việc này”.

Người nuôi giữ phải có trách nhiệm
Từ thông tin do ông Tâm cung cấp, cứ tưởng UBND xã Tân Lập sẽ nhanh chóng xác định thủ phạm “tẩu tán” con bò để bù đắp thiệt hại cho ông Hạnh nhưng không phải vậy. Ông Lê Chí Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Lập, cho biết: “Chúng tôi không đủ thẩm quyền giải quyết vụ việc này. Do vậy, chúng tôi đã chuyển đơn của ông Hạnh đến huyện”. Trong khi đó, vào tháng 6, 7-2009, UBND huyện Hàm Thuận Nam liên tiếp có hai văn bản yêu cầu xã Tân Lập giải quyết và có văn bản trả lời cho huyện. Mới đây nhất, vào ngày 14-8, UBND huyện lại có văn bản giao Công an huyện giải quyết vụ việc. Cách chuyển giao tới lui này khiến ông Hạnh bị xoay như đèn cù.
Theo Điều 242 Bộ luật Dân sự, người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo cho UBND xã nơi cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Chủ sở hữu nhận lại gia súc bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được. Sau sáu tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì gia súc đó thuộc sở hữu của người bắt được. Trong thời gian nuôi giữ, người nuôi phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.
Nếu ông Tâm nói đúng thì ông C. đã làm sai quy định khi không báo tin để UBND xã thông báo công khai và còn tự ý bán con bò đi lạc khi chỉ mới nuôi bốn tháng. Trường hợp con bò chết như trình bày của ông C. thì nguyên nhân chết cũng cần được làm rõ để có cơ sở ràng buộc trách nhiệm của ông C.
Được biết, ông Hạnh đang chuẩn bị các thủ tục cần thiết để khởi kiện ông C. ra tòa. “Trong đơn kiện tôi sẽ yêu cầu ông C. trả lại bò hoặc ông C. phải thanh toán cho tôi giá trị con bò” – ông Hạnh cho biết.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ: ĐỨT DÂY ĐIỆN LÀM HAI NGƯỜI CHẾT, CHỦ LƯỚI ĐIỆN PHẢI BỒI THƯỜNG?

VIỆT TƯỜNG
Trưa 31-12-2008, một sợi dây cáp điện của đường dây hạ thế 0,4 kV thuộc công trình lưới điện tại thôn Ngân Điền, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, Phú Yên bất ngờ bị đứt, rơi xuống vắt ngang sân nhà ông Nguyễn Thanh Sang.
Không may, đứa cháu nội gần ba tuổi của ông Sang bị vướng vào dây và bị điện giật ngã nhào. Trong cơn hoảng loạn, vợ ông Sang chạy ra kéo tay đứa cháu và sau đó thì cả hai đều chết. Cho rằng đơn vị quản lý lưới điện là Hợp tác xã Quản lý kinh doanh điện nông thôn Sơn Hà phải chịu trách nhiệm về thiệt hại trên, ông Sang đã nộp đơn yêu cầu chính quyền địa phương xử lý.
Tháng 7-2009, trả lời đơn khiếu nại của ông Sang, thượng tá Nguyễn Quốc Tuấn – Trưởng Công an huyện Sơn Hòa cho biết không thể xử lý ai cả. Bởi lẽ tai nạn xảy ra là do sự chủ quan, thiếu hiểu biết của gia đình nạn nhân. Thấy dây cáp điện bị đứt, rơi trước sân nhà nhưng gia đình không cảnh giác đề phòng, không báo cho người có trách nhiệm và có biện pháp an toàn cho người ở gần khu vực trên biết để đề phòng tai nạn. Khi cháu bé bị vướng dây cáp điện, bà nội không đủ tỉnh táo tìm vật liệu cách điện cứu cháu mà trực tiếp nắm tay nên cũng bị điện giật chết. Cũng theo thượng tá Tuấn, mặc dù có hậu quả xảy ra chết người nhưng đây là tai nạn ngoài ý muốn, không có lỗi trực tiếp của người nào, kể cả nhân viên trực tiếp quản lý và vận hành lưới điện. Căn cứ vào công văn này, UBND xã cũng đã có biên bản từ chối thanh toán chi phí mai táng cho hai nạn nhân trên.

Bộ luật Dân sự xếp hệ thống tải điện vào nguồn nguy hiểm cao độ. Theo Điều 623 bộ luật này, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bảo quản, trông giữ nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định; phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra kể cả khi không có lỗi (trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng…).
Được biết, do sử dụng lâu ngày nên kẹp đấu nối xuống công tơ khách hàng bị lỏng, dẫn đến hiện tượng phóng điện, gây phát nóng cục bộ và làm đứt dây. Nhiều ý kiến cho rằng nếu làm tốt việc bảo quản, trông giữ lưới điện thì hợp tác xã đã không để xảy ra sự cố đứt dây… Căn cứ vào điều luật trên, hợp tác xã không thể viện lẽ không có lỗi để phủi tay trước cái chết ngoài ý muốn của hai bà cháu.
Hiện ông Sang đang làm thủ tục khởi kiện Hợp tác xã Sơn Hà ra tòa để đòi bồi thường thiệt hại.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ: BẦU SỐ KIỆN CA SĨ

HOÀNG YẾN
Tòa bác yêu cầu bồi thường gần 60 triệu đồng của bầu sô vì không chứng minh được ca sĩ vi phạm hợp đồng.
Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử phúc thẩm một tranh chấp hợp đồng đầu tư khá lạ giữa bầu sô H. với nam ca sĩ T.
Đầu xuôi, đuôi không lọt
Theo đơn kiện, tháng 8-2004, bà H. ký hợp đồng độc quyền với nhóm ca NC gồm bốn thành viên, trong đó có ca sĩ T. (bà H. ký hợp đồng riêng với từng người). Đầu năm 2005, Album Vol 1 của nhóm ca được phát hành. Đến cuối năm, một người trong nhóm tự rút ra khi thời hạn hợp đồng vẫn còn. Bà H. và ba thành viên còn lại vẫn quyết định duy trì hoạt động.
Do điều kiện khó khăn, bà cho nhóm ca tạm nghỉ bốn tháng để chuẩn bị rồi đến tháng 6-2006 sẽ ký hợp đồng mới để thực hiện Album Vol 2. Thời gian nhóm ca tạm nghỉ, bà H. vẫn trả cho mỗi thành viên 500 ngàn đồng mỗi kỳ lương nửa tháng. Nhưng khi đến hạn ký hợp đồng mới, ca sĩ T. lại từ chối. Tiếp đó, hai thành viên còn lại của nhóm ca cũng dứt khoát không hợp tác nữa.
Bà H. đòi bồi thường thì ca sĩ T. không chịu và cũng không hề liên hệ với bà để biết tình hình hoạt động của nhóm. Vì thế, bà H. khởi kiện ra TAND quận 10 (TP.HCM), đòi ca sĩ T. phải trả tổng cộng gần 60 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng tiền vi phạm hợp đồng, bốn triệu đồng tiền lương đã nhận khi tạm nghỉ cùng một số khoản vay lắt nhắt khác.
Ngược lại, ca sĩ T. nói sau khi một người trong nhóm ca rút ra, hoạt động của nhóm chỉ mang tính chất cầm chừng để chờ bà H. tìm người mới tái lập bộ tứ như cam kết ban đầu. Tuy nhiên, chờ mãi mà bà H. vẫn không tìm được người, nhóm ca không thể nhận các sô biểu diễn, thu nhập của anh em kém hẳn đi.

Đến tháng 7-2006, khi bà H. đề nghị ca sĩ T. ký hợp đồng mới thì nội dung lại chỉ là thành lập một nhóm ca ba người và có nhiều điều chưa phù hợp. Cạnh đó, ca sĩ T. thấy nghiệp ca hát của mình không tiến triển sau hai năm hợp tác với bà H. nên từ chối. Ca sĩ T. không đồng ý bồi thường cho bà H. vì cho rằng mình không tự ý chấm dứt hợp đồng đã ký ban đầu. Hợp đồng của ca sĩ T. là hợp đồng độc lập giữa anh với bà H. nên không có nghĩa vụ liên đới bồi thường khi một thành viên khác của nhóm ca ra đi…
Tòa: Ca sĩ không có lỗi
Thụ lý được một thời gian, TAND quận 10 đã chuyển hồ sơ lên Tòa kinh tế TAND TP để giải quyết theo thẩm quyền.
Tháng 11-2008, Tòa kinh tế TAND TP đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm, nhận định hợp đồng ký kết giữa bà H. và ca sĩ T. là hợp đồng giữa hai cá nhân. Trong hợp đồng không quy định là nếu nhóm ca có người rút ra thì các thành viên còn lại phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường. Hợp đồng cũng không hề ghi rằng nhóm ca có hoạt động khi thiếu người hay không, nếu thiếu người thì chấm dứt hợp đồng hay tiếp tục… Thực tế là các bên không ngồi lại bàn bạc để chấm dứt hợp đồng hay thanh lý hợp đồng. Sau khi ca sĩ T. không ký hợp đồng mới, bà H. cũng không yêu cầu hai thành viên còn lại tiếp tục thực hiện hợp đồng…
Mặt khác, việc nhóm ca thiếu người nhưng bà H. không tìm được người bổ sung, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên cũng có phần lỗi của bà H. Đồng thời, việc ca sĩ T. từ chối ký hợp đồng mới không có lỗi của anh.
Như vậy, bà H. đã không chứng minh được ca sĩ T. có lỗi vi phạm hợp đồng nên tòa bác yêu cầu bồi thường. Tòa cũng bác cả các yêu cầu khác của bà H. bởi tiền lương trong thời gian nhóm ca tạm nghỉ là lương hỗ trợ, không có chứng cứ gì chứng minh nếu ca sĩ T. không ký tiếp hợp đồng mới thì sẽ phải trả lại. Còn về các khoản nợ lắt nhắt, bà H. chỉ trình sổ bà tự ghi chép trong khi ca sĩ T. lại cương quyết phủ nhận.
Ngay sau đó, bà H. kháng cáo. Sau nhiều lần hoãn xử vì triệu tập các thành viên nhóm ca không được, mới đây Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã y án sơ thẩm vì đồng tình với phân tích, nhận định của cấp sơ thẩm.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN: KIỆN NHAU. . . VÌ CÁI ĐUÔI CỨU *

HOÀNG VĂN
Nghi ngờ bị đơn chặt đuôi để lừa bán cừu giống xấu thành cừu giống tốt, nguyên đơn đã kiện ra tòa đòi bồi thường.
Cuối năm 2004, vợ chồng ông T., ngụ phường Cam Lộc, thị xã Cam Ranh (Khánh Hòa) có ý định mua cừu giống về nuôi. Qua giới thiệu, họ được biết ông B. ở phường Ba Ngòi có một bầy cừu 52 con muốn bán. Thế là vợ chồng ông T. đến gặp ông B., thỏa thuận mua bầy cừu này với giá 185 triệu đồng.
Biến cừu xấu thành cừu tốt?
Sau khi mang bầy cừu về nuôi, một hôm tắm cho chúng, vợ chồng ông T. bất ngờ phát hiện trong số 44 con cừu cái giống chỉ có sáu con là giống cụt đuôi (loại tốt, giống cừu thuần chủng của Việt Nam), một con giống dài đuôi (loại xấu), 37 con còn lại đều là giống dài đuôi nhưng đã bị… chặt cụt đuôi!
Nghi ngờ ông B. đã chặt đuôi cừu để lừa bán cừu giống xấu thành cừu giống tốt cho mình, vợ chồng ông T. yêu cầu ông B. trả lại số tiền chênh lệch 38 con cừu giống xấu với giá mỗi con 1,7 triệu đồng, tổng cộng gần 65 triệu đồng. Ông B. không chịu, bảo việc mua bán giữa hai bên diễn ra công khai. Vật mua bán là con cừu nên bên mua có thể quan sát một cách toàn diện. Cái đuôi cừu thì nằm ở bên ngoài, bên mua có thể quan sát, sờ mó được chứ không phải là đặc điểm ẩn giấu bên trong nên “đã mua là phải chịu”.
Mỗi tòa một phán quyết
Không ai chịu ai nên tháng 5-2005, vợ chồng ông T. đã khởi kiện ông B. ra TAND thị xã Cam Ranh.

Bốn tháng sau, tòa này đưa vụ kiện ra xử. Theo tòa, dù hợp đồng mua bán không ghi cụ thể chủng loại cừu nhưng ông B. xác định cả đàn cừu ông bán đều là cừu cụt đuôi giống tốt trừ một con cừu dài đuôi giống xấu. Nhưng thực tế lại có đến 37 con cừu dài đuôi giống xấu đã bị chặt cụt đuôi để giả làm cừu giống tốt. Như vậy, ông B. đã cố tình giao cho vợ chồng ông T. số cừu này. Việc vợ chồng ông T. yêu cầu ông B. bồi thường tiền chênh lệch cừu giống xấu là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Đi vào cụ thể, tòa phân tích theo hợp đồng mua bán giữa hai bên thì vợ chồng ông T. mua cả đàn cừu 52 con của ông B. với số tiền 185 triệu đồng. Giá bình quân mỗi con cừu này là hơn 3,5 triệu đồng, trong khi giá cừu giống xấu trên thị trường tại thời điểm đó là 2,5 triệu đồng/con nên tiền chênh lệch giá mỗi con là hơn một triệu đồng. Từ đó, tòa buộc ông B. phải bồi thường cho vợ chồng ông T. tổng cộng hơn 40 triệu đồng.
Ông B. lập tức kháng cáo. Tháng 1-2006, TAND tỉnh Khánh Hòa đưa vụ kiện ra xử phúc thẩm với một phán quyết trái ngược hoàn toàn.
Tòa phúc thẩm phân tích: Vợ chồng ông T. nói ông B. đã có hành vi gian dối khi bán cừu song lại không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông B. thỏa thuận bán cho vợ chồng ông loại cừu giống gì. Hai bên chỉ thỏa thuận rằng mua một bầy cừu 52 con, trong đó có 44 con tơ và mẹ, hai con đực lớn, một con cái choai và năm con đực vừa mà thôi. Như vậy, không có cơ sở để khẳng định ông B. lừa dối vợ chồng ông T. trong việc ký kết cũng như thực hiện hợp đồng mua bán bầy cừu như cấp sơ thẩm nhận định.
Mặt khác, trong thời gian chờ thanh toán đủ tiền để nhận cừu, gia đình ông T. đã đến tiếp xúc, làm quen và quản lý, chăn cừu nên không thể cho rằng ông B. cố tình che giấu khuyết tật của vật giao dịch được. Vì thế, tòa phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của ông B., tuyên bác yêu cầu bồi thường của vợ chồng ông T.
Cả tòa tối cao cũng vào cuộc
Vụ tranh chấp vì cái đuôi cừu này chưa dừng lại bởi sau đó bản án phúc thẩm nói trên đã bị kháng nghị giám đốc thẩm. Xử giám đốc thẩm, Tòa dân sự TAND tối cao đã quyết định hủy án, giao hồ sơ cho TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm lại theo hướng công nhận bản án sơ thẩm.
Theo TAND tỉnh Khánh Hòa, quá trình giải quyết lại vụ án, tòa đã hai lần triệu tập hợp lệ nhưng ông B. vẫn không đến tham gia phiên phúc thẩm lần hai. Vì vậy, tháng 7-2009, tòa đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, tức bản án dân sự sơ thẩm của TAND thị xã Cam Ranh (tuyên vợ chồng T. thắng kiện) có hiệu lực pháp luật.
Chưa chịu, mới đây ông B. đã gửi đơn khiếu nại tới các cơ quan chức năng, cho rằng mình không hề nhận được giấy triệu tập nào của TAND tỉnh Khánh Hòa cả. Ông bảo cũng không được nhận văn bản kháng nghị và quyết định giám đốc thẩm trước đó…
* Tiêu đề bài viết Civillawinfor đặt lại
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
Trích dẫn từ:

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: GIÁ GIAO DỊCH GIẤY TAY CAO HƠN HỢP ĐỒNG CÔNG CHỨNG, XỬ THEO HỢP ĐỒNG MỚI ĐÚNG LUẬT?

MAI MINH
Năm 2003, vợ chồng bà Trần Thị Ngọc Sương có mua căn nhà 552 Cách Mạng Tháng Tám, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Đến năm 2007, sau khi chồng bà đột ngột qua đời, bà phải đối mặt với khoản nợ lớn gần gấp ba lần số tiền mua căn nhà ban đầu.
Buộc phải trả số vàng chênh lệch
Theo hợp đồng mua bán nhà ở lập ngày 24-12-2003 giữa vợ chồng bà Sương với người bán (đã được Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương chứng nhận), giá mua bán căn nhà trên là 546 triệu đồng. Hợp đồng ghi rõ: “Giá này là giá cố định, không thay đổi trong trường hợp giá thị trường lên, xuống. Bên mua có trách nhiệm thanh toán một lần sau khi ký hợp đồng. Sau khi thanh toán đủ, bên mua được giao nhà đất”. Đầu năm 2004, vợ chồng bà Sương đã nhận nhà và làm xong thủ tục sang tên.
Mọi chuyện trôi qua yên ả cho đến tháng 3-2007, tức hơn ba năm sau thời điểm hai bên mua bán nhà. Bấy giờ, chủ nhà cũ đã khởi kiện bà Sương ra tòa, yêu cầu phải trả nợ 92,5 lượng vàng thay cho người chồng đã chết. Theo nguyên đơn, trước đây chồng bà Sương mua nhà trên với giá 300 lượng vàng và chỉ mới trả được hơn 200 lượng vàng. Để chứng minh, nguyên đơn đưa ra giấy viết tay lập ngày 18-12-2003 (trước ngày đi công chứng hợp đồng mua bán nhà). Giấy này không ghi tên người nhận tiền, chỉ ghi “Gửi cho thầy số vàng 207,5 lượng vàng, còn lại 92,5 lượng vàng”. Chủ nhà cũ khẳng định đó là giấy của chồng bà Sương xác nhận việc nợ tiền mua nhà.
“Theo hợp đồng, giá mua bán chỉ hơn 500 triệu đồng, tương đương 80 lượng vàng ở thời điểm giao dịch. Vậy con số 300 lượng vàng lấy đâu ra?” – Từ các thắc mắc này, bà Sương không đồng ý trả nợ.

Thế nhưng cả hai bản án sơ thẩm tháng 7-2007 của TAND thị xã Thủ Dầu Một và phúc thẩm tháng 9-2007 của TAND tỉnh Bình Dương đều tuyên xử “bà Sương phải trả nốt 92,5 lượng vàng”. Hai tòa này đều căn cứ vào giấy tay nêu trên để cho rằng việc nợ nần “là có thật” và không đả động gì đến số tiền giao dịch ghi trên hợp đồng mua bán nhà được công chứng.
Xử vậy là sai?
Luật sư Nguyễn Thế Anh (Đoàn luật sư TP Hà Nội) nhận định: “Cả hai cấp tòa đều xử sai luật”. Bởi theo khoản 1c Điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự, những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh. Tòa án phải căn cứ vào những chứng cứ đó để phán quyết cho hợp lẽ. Trong trường hợp hai bên cùng đưa ra chứng cứ, một bên là chứng cứ hợp pháp và một bên là chứng cứ chưa được kiểm nghiệm thì tòa án không thể bỏ qua chứng cứ hợp pháp.
Luật sư Nguyễn Minh Luận (Đoàn luật sư TP.HCM) còn chỉ ra một sai sót khác: Dù hết thời hiệu khởi kiện nhưng tòa án vẫn thụ lý đơn kiện của chủ nhà cũ nộp tháng 3-2007. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 159 bộ luật trên thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm. Kế tiếp, Nghị quyết 02 ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn: “Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 1-1-2005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày 1-1-2005”. Do vợ chồng bà Sương đã hoàn tất thủ tục sang tên nhà từ đầu năm 2004 nên nếu thực sự có việc nợ nần mà không chịu khởi kiện thì đến ngày 1-1-2007, chủ cũ đã mất quyền khởi kiện.
Ngoài ra, tòa án hai cấp còn vi phạm thủ tục tố tụng khi không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án. Luật sư Luận phân tích: “Khi chồng bà Sương chết không để lại di chúc, vợ, các con và cha mẹ ruột của ông được đồng thừa kế phần nhà thuộc sở hữu hợp pháp của ông. Theo khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Như vậy, khi bị kiện tụng thì không chỉ bà Sương mà hai con đã thành niên của vợ chồng bà cùng cha mẹ chồng của bà (nếu còn sống) đều là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phải tham gia vụ án”.
Các bạn có đồng tình với hai quan điểm của hai luật sư nêu trên, nhất là về việc tòa án cần dựa vào hợp đồng công chứng để làm căn cứ xét xử tranh chấp? Do việc làm hai hợp đồng khác nhau để đối phó với cơ quan thuế vẫn hay xảy ra trên thực tế nên chúng tôi ghi nhận được nhiều ý kiến liên quan. Mời bạn đọc theo dõi tiếp ở số báo sau.
Vì sao phải làm hai hợp đồng?
Khi mua bán nhà, đất, người bán phải nộp thuế thu nhập cá nhân (theo quy định cũ là chuyển quyền sử dụng đất); phần người mua nộp lệ phí trước bạ nhà, đất.
- Thuế thu nhập cá nhân bằng 2% theo giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng hoặc theo giá do UBND tỉnh quy định trong trường hợp giá ghi trên hợp đồng thấp hơn mức giá của tỉnh. Hoặc người bán có thể nộp 25% trên tiền lãi.(Thuế chuyển quyền sử dụng đất ở bằng 4% theo bảng giá do UBND tỉnh quy định).
- Lệ phí trước bạ nhà, đất bằng 0,5% (quy định cũ là 1%) theo giá ghi trên hợp đồng hoặc theo giá do UBND tỉnh quy định trong trường hợp giá ghi trên hợp đồng thấp hơn bảng giá của tỉnh.
Sợ ghi đúng theo giá giao dịch trên thực tế thì phải đóng thuế, lệ phí cao, hai bên mua, bán đã thỏa thuận làm hai hợp đồng: Một hợp đồng tay ghi chính xác giá mua bán để hai bên thực hiện; một hợp đồng ghi không đúng giá mua bán để hai bên đi công chứng.
PV
Ý KIẾN CỦA MỘT SỐ CHUYÊN GIA
Ông Trần Đông Chu, kiểm sát viên cao cấp VKSND tối cao:
Sẽ đầy đủ hơn nếu xem xét thêm giấy tay
Trước giờ, trong rất nhiều trường hợp mua bán nhà, đất, tuy giá giao dịch thực tế một đằng nhưng giá ghi trên hợp đồng được công chứng, chứng thực lại là một nẻo. Thường là giá giao dịch luôn cao hơn rất nhiều so với hợp đồng công chứng. Sở dĩ xảy ra điều này vì các bên ý thức rõ: nếu ghi đúng giá giao dịch thực có thể phải đóng thuế, lệ phí cao.
Ở góc độ pháp lý, trong hợp đồng mua bán nhà, đất, công chứng viên xác nhận nhiều nội dung. Khi có tranh chấp, hợp đồng mua bán nhà, đất được công chứng, chứng thực có giá trị pháp lý để chứng minh hành vi mua bán là hợp pháp.
Nhưng xét riêng về giá cả (như bên bán kiện đòi bên mua thanh toán số tiền chênh lệch theo hợp đồng) thì hợp đồng công chứng không phải là căn cứ duy nhất để xác định giá trị thực của căn nhà mà cần phải dựa vào nhiều chứng cứ khác (như hợp đồng tay, hợp đồng nguyên tắc, người làm chứng, giá cả của hội đồng định giá do tòa trưng cầu…) để ra phán quyết.
Cần lưu ý, chúng ta chưa có cơ quan chuyên môn thẩm định giá cả nên công chứng viên không chịu trách nhiệm về giá cả của hợp đồng mà giá cả là do các bên tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm với nhau. Đây là cách làm phù hợp với luật tố tụng dân sự.
Đồng ý là việc ghi sai giá chuyển nhượng trong hợp đồng công chứng là hành vi ăn gian, đáng phê phán. Nhưng tiếc rằng pháp luật chưa có thang điểm về chứng cứ, cơ chế phạt hành vi ăn gian này nên đến giờ các vi phạm vẫn còn tồn tại.
Bà Nguyễn Thị Minh Hương, thẩm phán TAND quận 10, TP.HCM:
Phải căn cứ vào giá giao dịch thật
Về nguyên tắc, tòa án cần xác định đối tượng tranh chấp là gì để sử dụng nó làm vật ngang giá nhằm xử lý tranh chấp của các bên. Khi các bên tự thừa nhận giá trị thật của tài sản không phải là giá trị ghi trong hợp đồng công chứng, tòa án không thể dựa vào hợp đồng công chứng đó để xét xử.
Bên cạnh đó, tòa án có quyền định giá lại tài sản tranh chấp khi có sự không phù hợp về giá. Chẳng hạn, một căn nhà nằm ở vị trí đắc địa, có nhiều lợi thế thì không thể có giá quá thấp như ghi trong hợp đồng công chứng. Trong trường hợp này, pháp luật cho phép tòa án được diễn giải, suy đoán một cách có căn cứ để tìm ra giá trị thật của tài sản tranh chấp.
Luật sư Phạm Quốc Hưng, Đoàn luật sư TP.HCM:
Nếu giả tạo thì không có giá trị pháp lý
Trên nguyên tắc, tòa phải xử dựa vào hợp đồng công chứng vì đây là chứng cứ không cần chứng minh. Nhưng nếu các bên chứng minh được giá giao dịch thật thì hợp đồng công chứng lúc này chỉ là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng thật khác. Do hợp đồng giả tạo không có giá trị pháp lý nên tòa án cần căn cứ vào hợp đồng tay để xét xử.
Việc chứng minh hợp đồng công chứng là hợp đồng giả tạo thường khá phức tạp. Để tránh những thiệt thòi có thể xảy ra về sau, các bên không nên vì lợi nhỏ trước mắt mà gian dối khi kê khai giá chuyển nhượng. Người dân được hưởng phúc lợi từ nhà nước và xã hội nên phải có nghĩa vụ đóng thuế. Đây vừa là nghĩa vụ pháp lý, vừa là nghĩa vụ đạo lý.
Tất nhiên, nhà nước cũng cần xem xét lại chính sách thuế và việc sử dụng tiền thuế sao cho có tác dụng động viên người dân đóng thuế.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=265302

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: HẠNH PHÚC CẦN BÁNH MÌ VÀ HOA HỒNG

HOÀNG YẾN
TAND quận X (TP.HCM) vừa giải quyết một vụ ly hôn mà cả tòa lẫn những người trong cuộc đều thấy khó xử. Lý do chia tay chỉ là sự không hòa hợp về tâm hồn: Người vợ sống nội tâm, nhạy cảm trong khi người chồng lại khô khan, ít quan tâm đến cảm xúc của vợ…
Lòng tốt thôi chưa đủ
Theo hồ sơ, bà T. là giáo viên, còn ông V. là tài xế. Họ đều đã hơn 40 tuổi, kết hôn từ 11 năm nay và có với nhau ba mặt con. Tháng 3-2009, bà T. nộp đơn ra tòa xin được ly hôn.
Bà trình bày rằng ông V. tính tình hiền lành, chịu khó làm lụng nên được mọi người quý mến. Đó cũng là ưu điểm lớn nhất để bà đồng ý kết hôn với ông. Trong quá trình chung sống, ông V. là người chồng tốt, người cha tốt, chịu khó giúp đỡ vợ chăm sóc con. Ông đi làm về giao hết tiền lương cho vợ, còn bản thân tiêu xài tằn tiện, ít mua sắm cho bản thân, không ăn chơi, tụ tập ăn nhậu. Nói chung, ông V. có những điểm tốt cơ bản.
Thế nhưng, theo bà T., giữa vợ chồng có những điểm khác biệt không thể dung hòa về quan niệm sống, cách giáo dục con cái… Bà T. bảo mình là người sống nội tâm, nhạy cảm và lãng mạn, còn ông V. thì bàng quan, lạnh lùng, khô khan, không cần biết cảm xúc của vợ, càng không biết âu yếm hay chiều chuộng vợ. Tính bà chu đáo, thích quan tâm đến người thân, còn chồng thì hời hợt, vô tâm. Bà nói mình cực nhọc suốt ngày để cùng chồng nuôi con cũng được nhưng phải có sự âu yếm lẫn trân trọng của chồng để làm nguồn động viên.

Thời gian đầu, bà T. có chủ động trao đổi trực tiếp với ông V. để vợ chồng hiểu nhau nhưng hiếm khi nào bà nhận được sự hưởng ứng tích cực từ chồng. Nghĩ rằng nói chuyện trực tiếp hay dẫn đến nóng nảy, mất bình tĩnh nên thỉnh thoảng bà cũng trao đổi qua thư từ, nhật ký, bày tỏ những suy nghĩ thật để mong được chồng cảm thông, chia sẻ nhưng tiếc là không được như mong đợi.
Sáu năm trước, khi chỉ mới có với nhau một mặt con, bà đã nộp đơn lên tòa xin đơn phương ly hôn nhưng sau đó rút đơn lại vì hy vọng ông V. sẽ thay đổi nhưng đến giờ bà thấy không còn hy vọng gì nữa nên cương quyết xin tòa cho ly hôn. Bà tự nguyện nhận nuôi ba con và chỉ nhận trợ cấp từ ông V. một triệu đồng/tháng cho các cháu.
Vì tương lai con trẻ!
Trong các phiên hòa giải, bà T. luôn thừa nhận ông V. là người chồng, người cha tốt, có trách nhiệm với gia đình nhưng lại thiếu thứ quan trọng nhất là sự lãng mạn. Bà nói: “Nếu đối với một phụ nữ nào đó hơi vô tâm thì anh V. là người mẫu mực. Nhưng với tôi, sống với anh ấy tinh thần tôi nặng nề, không thoải mái”.
Trình bày với tòa, ông V. lại không đồng ý ly hôn vì sợ các con nhỏ thiếu cha, thiếu mẹ. Ông bảo cũng biết vợ là người lãng mạn nhưng vì cuộc sống khó khăn nên ông đã trao đổi với vợ là tạm gác những chuyện không cần thiết, cố gắng làm ăn lo cho gia đình. Tính ông đơn giản, nhiều lúc không muốn phiền ai thì bà T. lại cho đó là hời hợt, bàng quan. Ông ít nói nên mỗi khi vợ chồng xích mích, ông không thích nói qua nói lại thì bị vợ nghĩ là vô tâm…
Hòa giải không được, tòa phải mở phiên xử. Tòa lựa nhiều lời khuyên giải nhưng bà T. vẫn cương quyết giữ nguyên ý kiến. Đến nước này, tòa chỉ còn biết tiếp tục xét xử.
Theo tòa, ông V. là người có trách nhiệm với gia đình, hiền lành, siêng năng, toàn bộ thu nhập hằng tháng đều đưa cho vợ. Mâu thuẫn vợ chồng chỉ nảy sinh từ tính tình, cách thức thể hiện tình cảm nhưng không đối lập nhau về mục đích. Cạnh đó, quá trình chung sống ông V. chưa hề có một lời nói hay hành vi nào xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của vợ. Mâu thuẫn giữa họ cũng chưa một lần được bà con thân thích hoặc cơ quan tổ chức nào đứng ra hòa giải.
Như vậy, hôn nhân của ông bà chưa trầm trọng đến mức phải đường ai nấy đi. Nếu họ cùng quan tâm tìm hiểu, tích cực giải quyết mâu thuẫn thì chắc chắn sẽ giải tỏa được và mang lại hạnh phúc cho gia đình. Nếu có thiện chí, hai bên vẫn có thể khắc phục những điều chưa hòa hợp để cùng nhau nuôi dạy con cái nên người.
Từ đó, tòa đã bác yêu cầu của bà T. Sau phiên xử, một vị hội thẩm gọi riêng ông V. ra tâm sự, mong ông biết cách quan tâm hơn đến suy nghĩ, tình cảm của vợ để giữ gìn ngọn lửa yêu thương trong gia đình. Bởi lẽ hôn nhân để đạt được sự bền vững và hòa hợp thì chỉ bánh mì thôi chưa đủ mà vẫn cần phải có cả hoa hồng!
Thẩm phán Lê Thị Kim Thoa, Chánh án TAND quận 11 (TP.HCM):
Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định là nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa quyết định cho ly hôn.
Trên thực tế, khi giải quyết yêu cầu ly hôn, tòa phải xem xét từng trường hợp cụ thể mà chấp nhận hay không. Trong quá trình giải quyết, nếu xét thấy những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chỉ là nhất thời, không đáng, có thể khắc phục được thì tòa sẽ bác đơn. Hoặc khi một bên cương quyết đòi ly hôn với lý do chồng (vợ) có quan hệ tình cảm với người khác mà không có căn cứ rõ ràng hoặc người chồng (vợ) đó đã sửa sai thì thẩm phán cũng tạo điều kiện cho hai bên đoàn tụ.
Tòa cũng bác đơn đối với những người xin ly hôn với lý do không chính đáng, chẳng hạn như đã sống chung hàng chục năm mà lại nói là tính tình không hòa hợp…
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: BÁN LÚA NON

NGUYÊN TRƯỜNG
Một bên nói chỉ bán lúa non mới trồng, bên kia lại khăng khăng rằng bỏ tiền ra để mua đất chứ ai lại chỉ mua hoa màu… Theo dự kiến, ngày 18-6 tới, TAND tỉnh Bến Tre sẽ xét xử phúc thẩm một vụ tranh chấp khá lạ: Một bên cương quyết chỉ bán hoa màu trên đất (lúa non mới trồng), bên kia lại khăng khăng rằng bỏ tiền ra để mua đất chứ ai lại chỉ mua hoa màu…
Bán hoa màu hay bán đất?
Theo bà M., ngày 26-3-1993, vợ chồng bà đã mua của vợ chồng bà Đ. một thửa đất ruộng diện tích hơn 1.700 m2 tại xã Quới Sơn, Châu Thành (Bến Tre). Do thời điểm này pháp luật về đất đai chưa cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên hai bên phải cùng nhau thỏa thuận làm “giấy nhượng hoa màu trên đất ruộng”. Nội dung giấy này ghi rõ “sang nhượng quyền canh tác một thửa ruộng với diện tích hơn 1.700 m2 tổng cộng 8,5 chỉ vàng 24K”.
Bà M. kể, vợ chồng bà Đ. cam kết nếu sau này có ai tranh chấp thì họ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Ngoài ra, vợ chồng bà Đ. còn hứa là khi nào được cấp giấy đỏ sẽ làm thủ tục chuyển tên cho vợ chồng bà. Từ ngày làm giấy nhượng hoa màu, vợ chồng bà đã nhận đất và trồng lúa. Mãi đến năm 2002, sau khi chồng bà Đ. chết thì hai bên phát sinh tranh chấp: bà Đ. đã đòi vợ chồng bà phải trả lại đất cho mình vì cho rằng chỉ bán hoa màu trên đất chứ không bán đất.

Tòa buộc trả đất
Nói lý với nhau không được, bà M. đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện Châu Thành buộc bà Đ. phải chuyển quyền sử dụng đất cho mình.
Tại tòa, bà Đ. khẳng định năm 1993, vợ chồng bà chỉ chấp nhận bán lúa non mới trồng chứ không bán đất cho vợ chồng bà M. Bà Đ. trình bày thêm, lúc đó hai bên còn thỏa thuận khi nào vợ chồng bà có nhu cầu chuộc lại đất thì chỉ phải trả cho vợ chồng bà M. đúng 8,5 chỉ vàng 24K.
Hòa giải không thành, TAND huyện Châu Thành đã đưa vụ án ra xét xử. Theo tòa, dựa vào nội dung giấy sang nhượng hoa màu trên đất ruộng ngày 26-3-1993 giữa hai bên thì đất chuyển nhượng là đất ruộng, không có công trình kiến trúc, cây lâu năm trên đó. Ở thời điểm sang nhượng, vợ chồng bà Đ. chưa được cấp giấy đỏ, gần hai tháng sau thì ông Đ. được cấp giấy đỏ nhưng vợ chồng bà M. lại không liên hệ để chuyển quyền sử dụng đất. Vì thế, căn cứ vào điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 Phần 2 Nghị quyết số 02 ngày 10-4-2002 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì hợp đồng “sang nhượng quyền canh tác đất ruộng” giữa hai bên không được công nhận.
Từ đó, tòa đã tuyên buộc vợ chồng bà M. phải giao trả hơn 1.700 m2 đất cho bà Đ. Ngược lại, tòa cũng tuyên buộc bà Đ. phải trả cho vợ chồng bà M. 70 triệu đồng, tương đương với giá trị 8,5 chỉ vàng 24K vào thời điểm năm 1993.
Ngay sau khi tòa tuyên án, vợ chồng bà M. đã kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem lại vì theo họ “Đất này chúng tôi đã canh tác hơn 16 năm. Trước đây giá trị đất rất thấp nên chúng tôi mua với giá 8,5 chỉ vàng 24K là mua đất chứ không phải mua hoa màu trên đất”…
Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 1-7-1980 (ngày Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP) đến trước ngày 15-10-1993 (ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực):
B. Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thì tòa án công nhận hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
b.1. Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
b.2. Trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND có thẩm quyền, UBND đã cho phép việc chuyển nhượng;
b.3. Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh, không vi phạm quy định về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển quyền sử dụng đất xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh trên đất đó.
(Theo điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 Phần 2 Nghị quyết số 02 ngày 10-4-2002 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM SỨC KHỎE:

HOÀNG LAM
Tháng 8-2008, khi đi bộ đến chỗ làm việc, anh Nguyễn Đình Lộc (huyện Bến Cát, Bình Dương) bị một xe cuốc đất đụng. Anh bị gãy kín nửa dưới hai xương cẳng chân phải, gãy khung xương chậu và viêm phúc mạc do vỡ đại tràng.
Anh Lộc phải nhiều lần đến bệnh viện ở Bình Dương và TP.HCM để điều trị, phẫu thuật, tổng chi phí điều trị đã hơn 70 triệu đồng. Tuy nhiên, người gây tai nạn chỉ mới bồi thường cho anh chưa đến 10 triệu đồng. Anh yêu cầu được giám định thương tật để có cơ sở xử lý hình sự người gây tai nạn nhưng cơ quan chức năng chưa chấp thuận.
Tháng 3-2009, Công an thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) có công văn cho biết sẽ giám định khi thương tích của anh Lộc thực sự bình phục. Hiện tại anh vẫn đang điều trị nên không thể xác định tỷ lệ thương tật và “chưa đủ căn cứ xử lý người gây tai nạn bằng pháp luật hình sự hay hành chính”.

Theo luật sư Phạm Quốc Hưng (Đoàn luật sư TP.HCM), hướng xử lý trên của Công an thị xã Thủ Dầu Một chưa ổn thỏa vì có thể vô tình giúp người gây tai nạn được nhẹ tội và giảm trách nhiệm bồi thường. Theo Điều 14 Quyết định 18 ngày 5-1-2007 của Bộ Công an về quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ, cơ quan công an có thể ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án dựa vào tỷ lệ thương tật tạm thời. sau khi thu thập đầy đủ giấy chứng thương của bệnh viện, đơn vị thụ lý vụ tai nạn giao thông cần đối chiếu các quy định liên quan để sơ bộ đánh giá tỷ lệ phần trăm thương tật của người bị nạn. Kết quả sơ bộ đánh giá tỷ lệ phần trăm thương tật là căn cứ để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án.
Ông Lê Ngọc Hùng, Giám đốc Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Đồng Nai, cho biết không nên chờ nạn nhân thực sự bình phục mới tiến hành giám định vì thời gian chờ bình phục trong nhiều trường hợp có thể sẽ rất lâu. Nạn nhân điều trị tại cơ sở y tế sẽ được cấp giấy chứng nhận thương tích (gọi là y chứng). Có y chứng, nạn nhân cần đề nghị cơ quan điều tra cho tiến hành giám định tỷ lệ thương tật. Cơ quan điều tra buộc phải ra quyết định trưng cầu giám định pháp y. Tiếp đó, nạn nhân đem y chứng, quyết định trưng cầu giám định đến trung tâm giám định pháp y. Trung tâm sẽ xem xét thương tích trên người nạn nhân, thực hiện các kiểm tra như chụp X-quang, đo điện não, siêu âm các bộ phận trên cơ thể… để đối chiếu với y chứng. Sau khi có kết quả kiểm tra, một hội đồng giám định được thành lập để tính tỷ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm. Đây là tỷ lệ thương tật tạm thời và là cơ sở để cơ quan điều tra xử lý người gây tai nạn.
Luật đã rõ và cách thực hiện cũng đã thông. Vậy mà đã chín tháng qua, anh Lộc phải dùng nạng để đi lại mà vẫn chưa được giám định thương tích. Đề nghị Công an thị xã Thủ Dầu Một sớm xem xét, giải quyết lại vụ việc để bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của anh Lộc.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH: LOAY HOAY KÊU KIỆN MẤT HÀNH LÝ MÁY BAY

GIA LINH
Do phải đổi chuyến bay nên khách hàng và hành lý phải về Việt Nam trên 2 chuyến bay khác nhau. Lúc nhận hành lý, khách hàng tá hoả khi túi bị lục tung, 2 chiếc máy tính xách tay không cánh mà bay…
Hành lý bị lục tung, 2 máy tính xách tay biến mất
Phản ánh với phóng viên VietNamNet, anh Trương Quang Huy hiện đang sống và làm việc tại Houston, Texas, Hoa Kỳ cho biết: "Do có kế hoạch về Việt Nam để lập gia đình nên tôi đã mua vé máy bay của hãng Korean Air theo chặng Houston – Dallas – Seoul – TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do chuyến bay từ Houston đi Dallas phải huỷ bỏ nên tôi được bố trí đi trên chuyến bay UA869 của hãng United Airlines theo lộ trình: Houston – San Francisco – Hong Kong về TP. Hồ Chí Minh vào đêm 21/5/2009. Trong khi đó, hành lý của tôi được chuyên chở trên một chuyến bay VN939 từ Seoul về TP. Hồ Chí Minh ngày 24/5/2009.
Sau khi về tới TP. Hồ Chí Minh, tôi đã liên hệ với Sân bay Tân Sơn Nhất thì được hẹn đến chiều ngày 23/5 và cuối cùng là ngày 24/5/2009 tới bộ phận Thất lạc hành lý để nhận lại hành lý. Đúng hẹn, chiều 24/5 tôi đã tới khu vực Hành lý thất lạc ở ga đến Quốc tế – Sân bay Tân Sơn Nhất nhận đồ thì phát hiện toàn bộ các túi hành lý ký gửi của tôi đều bị lục tung, nhiều túi đồ dùng bị xé toạc và 2 chiếc máy tính xách tay (hiệu Sony Vaios và Dell) mới tinh, còn nguyên trong hộp giấy đã biến mất.

Phát hiện ra việc hành lý bị lục lọi, 2 chiếc máy tính biến mất, ngay lập tức tôi đã khiếu nại với bộ phận Hành lý thất lạc của Sân bay Tân Sơn Nhất và được một nhân viên trả lời rằng "Chắc là người ta lục" và sau đó nhân viên này đã hướng dẫn tôi liên hệ với hãng United Airlines để đòi bồi thường.
Không thoả mãn với những giải thích của nhân viên bộ phận Hành lý thất lạc, sáng 25/5/2009, tôi đã quay lại gặp bộ phận An ninh của Sân bay Tân Sơn Nhất để khiếu nại thì được họ trả lời rằng "Không thể tìm lại được 2 chiếc máy tính vì…không biết ai lấy" và họ cũng đề nghị tôi liên hệ với United Airlines để được bồi thường.
Tuy nhiên, điều khiến tôi thắc mắc là tại sao sau nhiều lần đi lại khắp nước Mỹ, mỗi lần bị thất lạc hành lý thì tôi chỉ cần liên hệ với hãng hàng không chuyên chở là sau đó sẽ được nhận lại hành lý nguyên vẹn nhưng lần này, sau khi được chuyên chở trên chuyến bay VN939 của Vietnam Airlines để về Việt Nam, hành lý của tôi lại bị lục tung và mất 2 chiếc máy tính như vậy? Và ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường số tài sản đã bị mất cho tôi?
Vietnam Airlines chỉ chuyển hành lý, không giải quyết khiếu nại
Liên quan đến những khiếu nại và thắc mắc của khách hàng Trương Quang Huy, ông Lưu Minh Hiếu – Phó trưởng Trung tâm Thông tin phản hồi, Vietnam Airlines cho biết: "Sau khi tiến hành kiểm tra ký thông tin với các đơn vị có liên quan, chúng tôi được biết anh Huy đã mua vé và đặt chỗ hành trình Houston – Dallas – Seoul – TP. Hồ Chí Minh trên các chuyến bay của các hãng hàng không Continental và Korean Air. Do chuyến bay Houston – Dallas bị chậm nên anh Huy được chuyển đổi hành trình bay Houston – San Francisco – Hong Kong để về TP. Hồ Chí Minh. Chặng cuối cùng Hong Kong – TP. Hồ Chí Minh, anh Huy bay trên chuyến bay UA869 ngày 20/5/2009 của hãng hàng không United Airlines.
Do hành lý của anh Huy bị thất lạc nên hãng hàng không United Airlines đã lập hồ sơ tìm kiếm hành lý trên hệ thống tìm kiếm hành lý thất lạc toàn cầu (World Tracer) và sau đó đã tìm thấy, gửi về TP. Hồ Chí Minh trên chuyến bay VN939 ngày 24/5/2009.
Trong trường hợp này, Vietnam Airlines chỉ là hãng chuyển chở hành lý của anh Trương Quang Huy theo yêu cầu của hãng khác (United Airlines) nên theo thông lệ quốc tế, Vietnam Airlines không có trách nhiệm giải quyết khiếu nại mất hành lý của anh Huy. Vậy, đề nghị anh Trương Quang Huy liên hệ trực tiếp với hãnh hàng không United Airlines để khiếu nại đòi bồi thường".
Về phía khách hàng Trương Quang Huy, sau khi nhận được câu trả lời của Vietnam Airlines về vấn đề trách nhiệm bồi thường đối với 2 chiếc máy tính xách tay bị mất, hành lý bị lục tung, anh Huy khẳng định sẽ sớm liên hệ với United Airlines để đòi bồi thường.
SOURCE: VIETNAMNET

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN: BÁN NHÀ NHƯNG KHÔNG GIAO GIẤY TỜ

TÂN HỢP
Căn cứ án tòa, bên bán chỉ đi công chứng hợp đồng mua bán nhà, bỏ mặc bên mua loay hoay sang tên. Tháng 2-2009, TAND TP.HCM xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa ông M. (ngụ quận 9, TP.HCM) là nguyên đơn với bà Đ. (ngụ gần bên) là bị đơn.
Bên muốn hủy, bên không
Ông M. cho biết vào năm 1997, ông có ký hợp đồng bán một phần căn nhà ở phường Tăng Nhơn Phú, quận 9 cho bà Đ. với giá 30 lượng vàng. Bà Đ. đã thanh toán 12 lượng vàng và đã được ông M. giao nhà. Thời điểm này, phần nhà đó vẫn thuộc sở hữu nhà nước và ông M. là người đứng tên thuê.
Sau khi hai bên chuyển nhượng xong, con của ông M. (cũng có tên trong hợp đồng thuê nhà) đã đứng ra phản đối. Vì thế, ông M. đã đến gặp bà Đ. để thương lượng hủy hợp đồng nhưng bà Đ. không chịu.
Đến năm 2002, ông M. được cấp giấy hồng cho căn nhà trên. Nay ông M. đòi lấy lại phần nhà đã bán cho bà Đ. kèm theo điều kiện sẽ hoàn lại cho bà Đ. 12 lượng vàng và hơn 50 triệu đồng chi phí sửa chữa nhà.

Phía bà Đ. lại cho rằng hai bên đã thỏa thuận giá mua bán phần nhà nêu trên là hơn 15 lượng vàng và bà Đ. đã thanh toán trước 12 lượng vàng. Từ khi bán nhà, phía ông M. không hề gặp bà để yêu cầu hủy hợp đồng. Khi có giấy tờ nhà thì ông M. đòi bà trả thêm 400 ngàn đồng/m2 nhưng bà không chấp nhận. Bà Đ. yêu cầu ông M. tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Tòa phúc thẩm đã tuyên xử hai bên mua, bán tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng một phần căn nhà theo hợp đồng lập từ năm 1997. Hai bên mua, bán có trách nhiệm liên hệ với cơ quan công chứng để tiến hành các thủ tục mua bán căn nhà, hạn chót là ngày 25-4. Ngoài ra, bà Đ. phải thanh toán thêm cho ông M. 400 triệu đồng (chia làm hai lần) sau khi đã công chứng xong. Nếu quá thời hạn mà bà Đ. không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì ông M. có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại căn nhà để thi hành bản án và các chi phí phát sinh.
Chỉ làm như án tuyên
Sau khi bản án trên có hiệu lực, ông M. và bà Đ. đã đi công chứng hợp đồng mua bán nhà. Sau đó, bà Đ. đã giao đủ tiền cho ông M. đúng như án tuyên. Nhưng đến khâu đóng thuế và sang tên thì ông M. lại không đưa giấy tờ nhà cho bà Đ. hoàn tất hai thủ tục này.
Theo ông M., ông đã làm đúng như nội dung ghi trong bản án tức chỉ đi công chứng mà thôi, mọi việc còn lại bà Đ. phải tự làm. Hiện bà M. đang kêu trời vì chưa được đứng tên làm chủ sở hữu căn nhà đã mua hợp pháp.
Ông Nguyễn Yểng, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 6, TP.HCM, cho biết bên mua có thể một mình đến cơ quan thuế để hoàn tất các nghĩa vụ thuế liên quan đến việc mua bán nhà với điều kiện phải có bản chính giấy tờ nhà. Nếu bên mua không có các giấy tờ này thì cơ quan thuế không thể giải quyết cho bên mua nộp thuế.
Tương tự như thế, ông Trần Anh Tuấn, Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường quận Gò Vấp, cũng cho biết việc đăng bộ nhà không cần sự có mặt của bên bán nhưng bắt buộc phải có bản chính giấy tờ nhà. Nếu không đáp ứng được yêu cầu này, bên mua sẽ chưa được đứng tên trên giấy tờ nhà.
Xử lý thế nào?
Theo Điều 168 Bộ luật Dân sự, việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thế nhưng theo Điều 63 Luật Nhà ở, thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở tính từ ngày hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực.
Luật định vậy nhưng trên thực tế sau khi công chứng hợp đồng xong, hai bên mua bán còn phải tiếp tục liên hệ với cơ quan thuế để nộp thuế và UBND cấp huyện để được cập nhật biến động trên giấy hồng cũ hay được cấp hẳn giấy hồng mới.
Chính vì lý do này mà các bản án thường tuyên các bên có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng để hoàn tất thủ tục mua bán nhà chứ không đơn thuần tuyên liên hệ với cơ quan công chứng.
Ở trường hợp cụ thể nêu trên, có ý kiến cho rằng do bản án chỉ yêu cầu bên bán đi công chứng nên nay khi ông M. vẫn không chịu đưa giấy tờ cho bà Đ. đi đóng thuế, đăng bộ thì bà Đ. có thể khởi kiện ông M. ra tòa bằng một vụ án khác để yêu cầu ông M. giao giấy tờ nhà cho bà.
Song cũng có ý kiến đề nghị viện trưởng VKSND tối cao và chánh án TAND tối cao nên xem xét lại bản án trên theo trình tự giám đốc thẩm để giải quyết rốt ráo quyền lợi của người mua nhà hợp pháp.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG CỦA CỘNG ĐỒNG: TỰ Ý ĐỤC TƯỜNG NHÀ NGƯỜI KHÁC

CẨM TÚ
Viện lẽ không phải sở hữu riêng, ban quản trị chung cư đã tự đục tường các căn hộ để dời đồng hồ nước ra ngoài. Chiều 27-5, khi đi làm về, chị Nhung (chủ căn hộ số A9-8 chung cư cao tầng Khánh Hội đặt tại 360C Bến Vân Đồn, quận 8, TP.HCM) phát hoảng khi thấy nhà mình bị đục một lỗ thủng to tướng trên tường để dời đồng hồ nước ra ngoài. Không chỉ riêng nhà chị Nhung, nhiều căn hộ khác trong chung cư này cũng bị đục tường.
Không thể lấy ý kiến
“Theo thông báo được dán ở chân cầu thang máy, ban quản trị chung cư sẽ dời đồng hồ nước ra hộp gen chung kể từ ngày 27-5. Tuy nhiên, khi chưa được sự đồng ý của chủ nhà thì họ đã tự ý đục tường để thực hiện việc này” – chị Nhung phản ánh. Nhiều người khác cũng bức xúc: “Trong hợp đồng mua bán nhà với chúng tôi, chủ đầu tư đã ghi rõ chúng tôi được sở hữu tường nhà. Có lẽ vì ban quản trị là người của chủ đầu tư nên họ mới giành cho mình quyền tự đục đẽo tường nhà người khác”.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Văn Lộc, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Khánh Hội (chủ đầu tư chung cư trên), thừa nhận ban quản trị chung cư do công ty cử ra chứ chưa được thành lập theo đúng luật định. Về việc đục tường, ông Lộc giải thích: “Trước đây chúng tôi bố trí đồng hồ nước nằm trong nhà dân. Căn cứ vào đồng hồ tổng, chúng tôi sẽ trả tiền nước cho công ty cấp nước rồi mới thu lại tiền của các hộ. Hai năm nay, do mỗi tháng chung cư bị thất thoát 700-800 m3 nước nên chúng tôi phải tổ chức dời đồng hồ nước ra ngoài để dễ ghi chỉ số nước của từng hộ. Giai đoạn đầu chúng tôi làm thí điểm ở 20 hộ, sau đó mới triển khai ra toàn chung cư. Việc đục tường không thể lấy ý kiến rộng rãi trước khi thực hiện, bởi lẽ chung cư có 330 căn hộ với hơn 500 nhân khẩu nhưng khi họp thì chỉ chừng 100 người đến nên cũng không bàn bạc được gì. Do vậy, có việc gì là ban quản trị dán thông báo chỗ thang máy để mọi người đều biết”. Cũng theo ông Lộc, phần tường bị đục thuộc sở hữu chung trong nhà chung cư. “Tuy nằm trên phần tường nhà của người mua nhưng đây là phần thông giữa các tầng để cấp nước cho các hộ nên nó phải thuộc sở hữu chung” – ông Lộc nói.
Ban quản trị làm sai quy định
Theo quy chế quản lý chung cư Khánh Hội do Công ty Khánh Hội ban hành năm 2008, sở hữu chung trong nhà chung cư là “phần diện tích còn lại trừ phần diện tích sở hữu riêng…”, còn sở hữu riêng là “phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công gắn liền với căn hộ đó”. Gần đây, dự thảo quy chế quản lý, sử dụng chung cư do Sở Xây dựng TP.HCM soạn thảo cũng có định nghĩa tương tự như trên về phần sở hữu riêng, sở hữu chung. Trường hợp nhà chung cư có những công trình, diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư hoặc chủ sở hữu khác thì phải nêu rõ, ví dụ bể bơi, sân tennis, siêu thị, nơi để xe phục vụ cho kinh doanh v.v…
Cần lưu ý, khi tính diện tích căn hộ để mua bán, cấp chủ quyền, các cơ quan chức năng đều tính cả phần tường bao ngoài. Nhưng khi xác lập sở hữu riêng cho các hộ thì các quy chế chỉ nêu “là phần diện tích bên trong căn hộ”. Chính sự bất nhất này đã dẫn đến những xung đột đáng tiếc giữa chủ đầu tư và người mua nhà chung cư.
Trở lại việc đục tường nêu ở phần trên, ngay cả khi phần tường bị đục thuộc sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư thì việc tự ý đục tường của ban quản trị cũng sai pháp luật. Bởi lẽ theo khoản 2 Điều 225 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu các căn hộ chung cư có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng phần diện tích và thiết bị chung. Ngoài ra, khoản 2 Điều 223 bộ luật này cũng yêu cầu “việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung”. Như vậy, khi chưa được sự đồng ý của các chủ sở hữu căn hộ, ban quản trị chung cư Khánh Hội (nói cách khác là chủ đầu tư chung cư) không được quyền tự ý đục tường mà các hộ đang sử dụng bất kể mục đích gì.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU VÉ SỐ TRÚNG THƯỞNG: TRÚNG ĐỘC ĐẮC THÀNH NGƯỜI TRẮNG TAY

NGUYỄN THE
Người bán vé số khai: “… không biết ai trúng thưởng” nhưng hai cấp tòa lại phán cho một bên thắng kiện!
Bà N. và bà V. (cùng ngụ huyện Bình Long, Bình Phước) là chỗ thân tình nên thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau. Sáng một ngày tháng 3-2007, bà N. đến nhà bà V. chơi, tình cờ thấy một người bán vé số dạo đi ngang.
Biết tính bạn hay mua vé số, bà N. liền gọi người bán dạo vào, nói bà V. mua giúp người này 20 tờ vé số cuối cùng (đài Bà Rịa-Vũng Tàu). Toàn bộ số vé này sau đó đều không trúng giải.
Vì tiền mất bạn
Hôm sau, bà V. tiếp tục mua một xấp vé số (đài Đồng Nai) từ một người bán dạo khác. Sau khi dò, bà phát hiện mình đã trúng hai tờ độc đắc, trị giá tổng cộng 250 triệu đồng.
Biết chuyện, hai ngày sau, bà N. đã tìm đến nhà bà V. nói hai tờ vé số trúng độc đắc ấy là của mình. Bà N. lý giải rằng hai tờ vé số này bà để lộn trong xấp 20 tờ mà bà đã bảo bà V. mua ủng hộ người bán dạo bữa nọ.
Hai bên tranh cãi nhau khá căng thẳng. Bàn đi tính lại, gia đình bà V. khuyên bà nên chia cho bà N. một phần tiền trong số 250 triệu đồng trúng số. Vì không muốn mối quan hệ thân tình giữa hai bên bị rạn nứt, cuối cùng bà V. đã đồng ý và quyết định cho bạn 50 triệu đồng.

Chấp nhận cầm 50 triệu đồng về rồi, vài ngày sau bà N. lại tìm đến nhà bà V. đòi thêm 20 triệu đồng nữa. Lần này bà N. nói rằng xin tiền không phải để cho mình mà để… xây nhà cho người bán vé số dạo vì thấy hoàn cảnh khó khăn (!?).
Trước lý do nghe hơi lạ này, bà V. đã cương quyết từ chối nên hai bên tiếp tục tranh chấp. Thế rồi bà N. đã làm đơn khởi kiện bà V. ra TAND huyện Bình Long để đòi bà V. phải trả cho mình toàn bộ 250 triệu đồng đã trúng số.
Thua vì nhân chứng
Cuối năm 2007, TAND huyện Bình Long đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Tại tòa, bà V. khẳng định vé số trúng giải là của mình vì căn cứ vào nơi phát hành vé số. Vé trúng của bà thuộc đài Đồng Nai, còn xấp vé số 20 tờ mà bà N. nói bà mua giùm người bán dạo là của đài Bà Rịa-Vũng Tàu thì không thể có chuyện là của bà N. được.
Ngược lại, bà N. vẫn cho rằng hai tờ vé số trúng độc đắc là của mình nhưng do bà kẹp nhầm vào xấp 20 tờ đưa cho bà V. nên mới mất.
Nhân chứng (người đã bán hai tờ vé số độc đắc cho bà V.) khai là hôm đó có bán vé số đài Đồng Nai nhưng không biết ai trúng thưởng. “Hai hôm sau có một phụ nữ (bà N. – PV) tìm đến nhà cho tui một triệu đồng và nói cô ta mua hai tờ vé số đó nhưng đưa nhầm cho người khác, giờ đang tranh chấp nên nhờ tôi ra làm chứng giùm”.
Nhân chứng chỉ khai có như thế nhưng TAND huyện Bình Long lại nhận định có cơ sở kết luận hai tờ vé số trúng là của bà N. (?). Từ đó, tòa tuyên buộc bà V. phải trả cho bà N. tổng giá trị của hai tờ vé số độc đắc trên.
Quá bất ngờ, bà V. đã làm đơn kháng cáo. Sau đó, TAND tỉnh Bình Phước xử phúc thẩm vẫn bác kháng cáo của bà, tuyên y án với cùng nhận định như tòa sơ thẩm.
Từ người may mắn trúng hai tờ vé số độc đắc bỗng dưng trở thành trắng tay, bà V. đã làm đơn cầu cứu đến VKSND tối cao và TAND tối cao đề nghị xem xét lại toàn bộ vụ án nhưng đến nay vẫn chưa được hồi âm. Bà chỉ còn biết than trời trách đất và trách số mình quá hẩm hiu.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÚC PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN: VU KHỐNG CÔ GIÁO HIẾN THÂN, PHẢI XIN LỖI!

NAM KIÊN
Cô giáo L. đã bật khóc nức nở tại phiên tòa phúc thẩm vì thầy T. bịa chuyện cô tự nguyện hiến thân cho thầy T. Sự bịa đặt ấy đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và hạnh phúc gia đình của cô L. nhưng cho đến tận phiên xử phúc thẩm mới đây, cô vẫn chưa hề nhận được một lời xin lỗi nào từ phía thầy T.
Bị từ chối tình cảm nên vu khống
Vụ án này từng được Pháp Luật TP.HCM phản ánh ngay sau khi phiên xử sơ thẩm của TAND TP Rạch Giá (Kiên Giang) diễn ra. Theo hồ sơ, cô L. và thầy T. là đồng nghiệp dạy cùng một trường ở TP Rạch Giá. Vì cô L. xinh xắn, có duyên, thầy T. nhiều lần buông lời chọc ghẹo bóng gió và tỏ ra quan tâm quá mức tình đồng nghiệp, tình bạn. Tính tình nghiêm túc, lại đã lập gia đình nên cô L. rất khó chịu, nhiều lần cô thẳng thắn nhắc nhở thầy T.
Thầy T. không tiếp thu mà còn phao tin khắp nơi rằng “Cô ta đã hiến thân cho tôi rồi”. Sau khi cô L. báo cáo sự việc, đề nghị lãnh đạo trường làm rõ, thầy T. còn đứng trước hội đồng nhà trường khẳng định: “Cô L. quyến rũ tôi. Tôi nhiều lần cho cô ấy tiền, từ 20 ngàn đồng đến 100 ngàn đồng mỗi lần”… Sau đó, thầy T. còn hùng hồn tuyên bố trước hai cô giáo khác cùng trường: “Tôi biết được… vết tích trên thân thể cô ta”. Lãnh đạo trường nhiều lần mời thầy T. đến làm việc, yêu cầu chấm dứt việc phao tin sai sự thật nhưng thầy T. vẫn không chấp hành. Vì thế, chủ tịch UBND TP Rạch Giá ra quyết định kỷ luật thầy T. với hình thức khiển trách vì đã có hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, uy tín, danh dự, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của đồng nghiệp và uy tín của đơn vị.

Bị kỷ luật rồi nên khỏi xin lỗi!?
Bị xúc phạm, cô L. đã khởi kiện, yêu cầu TAND TP Rạch Giá buộc thầy T. phải xin lỗi công khai trên báo chí vì đã phao tin xấu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, hạnh phúc gia đình và danh dự, nhân phẩm của cô.
Tại phiên xử sơ thẩm, thầy T. không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh những lời phao tin của mình không phải là bịa đặt. Về phần mình, cô L. cũng rút lại yêu cầu đòi xin lỗi trên báo chí mà chỉ yêu cầu thầy T. xin lỗi cô ngay tại phiên tòa. Dù vậy, TAND TP Rạch Giá vẫn bác đơn khởi kiện của cô L. với lý do thầy T. đã bị UBND TP Rạch Giá xử lý kỷ luật. Không chấp nhận bản án nên cô L. kháng cáo.
Tòa sơ thẩm bác đơn là sai
Tại phiên xử phúc thẩm vừa qua của TAND tỉnh Kiên Giang, nghẹn ngào trong nước mắt, cô L. trình bày: “Sau khi sự việc xảy ra, T. đã bị kỷ luật và chuyển đi trường khác nhưng vẫn tiếp tục phao tin, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tôi tại trường mới. Do sợ mất lòng, liên lụy… nên không ai ở đây dám đứng ra làm chứng cho tôi. T. chưa từng xin lỗi tôi và quyết định kỷ luật T. mãi về sau này tôi mới được biết. Nếu biết, tôi đã khiếu nại quyết định đó rồi”.
Theo hội đồng xét xử, những chứng cứ về hành vi vu khống, bịa đặt của thầy T. đã rõ ràng, thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Việc TAND TP Rạch Giá lấy lý do thầy T. đã bị kỷ luật để bác yêu cầu của cô L. là chưa thỏa đáng. Đó là trách nhiệm của công chức, viên chức đối với nhà nước, nếu vi phạm thì phải bị xử lý kỷ luật, còn đối với cô L., chưa có chứng cứ nào thể hiện thầy T. đã xin lỗi và cải chính những lời xúc phạm của mình.
Sau khi nghe tòa phân tích, thầy T. tỏ ra ân hận nói: “Đứng trước tòa, tôi đã nhận thấy những lỗi lầm của mình. Tôi thành thật xin lỗi cô L.”. Vì đã có lời xin lỗi chính thức từ thầy T. tại tòa, trước mặt chồng cô L. nên cô chấp nhận lời xin lỗi của thầy T. và xin rút đơn khởi kiện. Tòa đã chấp nhận đề nghị rút đơn kiện của cô L. và đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, tòa vẫn nhắc nhở, cảnh báo thầy T. nên chấm dứt sự việc tại đây. Nếu tái diễn việc phao tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cô L. thì theo luật, rất có thể thầy T. sẽ bị khởi tố về tội vu khống. Phiên xử khép lại, thầy T. đi nhanh ra khỏi phòng xử án.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: 18 NĂM NGÕ ĐI CHUNG VẪN BỊ BỊT KÍN

GIA VĂN
Sau 18 năm bị gia đình ông Đức bịt ngõ đi chung phải đi nhờ qua nhà hàng xóm, mới đây, ông Nguyễn Duy Năng và ông Nguyễn Trọng Thuỷ (số 11, ngõ 22b, làng Trung Tự cũ, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) được người hàng xóm thông báo: Chuẩn bị xây nhà bịt lối đi nhờ của hai gia đình…
Muốn ra khỏi nhà phải… trèo thang!
Cách đây gần 2 năm, VietNamNet đã từng đưa vụ việc Bị bịt cổng, 16 năm ra ngõ qua… sân hàng xóm phản ánh về tình trạng hai gia đình ôngNăng và ông Thuỷ bị bịt cổng đi chung mà chưa được các cơ quan chức năng giải quyết.
Từ đó đến nay, sự việc vẫn bị bỏ mặc, bất chấp gia đình ông Năng và ông Thuỷ vẫn thường xuyên có đơn kêu cứu lên các cơ quan chức năng.
Ngày 27/5/2009, ông Ngô Văn Nhiên, người đã cho hai gia đình ông Năng và ông Thuỷ đi nhờ suốt 19 năm qua thông báo chuẩn bị xây nhà bịt ngõ đi chung nên không thể cho 2 gia đình tiếp tục đi nhờ qua nhà.
Trước thông báo của ông Nhiên, ông Năng và ông Thuỷ không khỏi lo lắng vì nếu xây nhà bịt lối đi nhờ thì hai gia đình sẽ bị cô lập.
Trao đổi với PV VietNamNet, ông Năng và ông Thuỷ không khỏi bức xúc khi con ngõ đi chính (ngõ 22b) trước nhà mình đã bị gia đình ông Đức tự xưng là đất dòng họ tự ý xây bịt lại suốt 18 năm nay mà vẫn không được phường Phương Liên và quận Đống Đa giải quyết dứt điểm.
Tay cầm chiếc thang mới mua dựng ngay ở cổng nhà đã bị bịt suốt 18 năm qua, ông Thuỷ nói: “Nếu nhà ông Nhiên làm nhà hết đường đi nhờ thì không còn cách nào khác chúng tôi phải bắc thang qua cổng bị gia đình ông Đức xây bịt khi muốn ra khỏi nhà”.
Hiện tại, hai gia đình ông Năng, ông Thuỷ có 9 người cùng sinh sống trong hai căn hộ bị bịt ngõ, nhưng có 4 người già yếu nên việc trèo thang ra ngoài hết sức khó khăn.  
“Người bình thường ra ngoài bằng thang còn khó huống gì là người già ốm bị tai biến mạch máu não như tôi. Nếu không được chính quyền giải quyết mở thông ngõ đi chung thì chắc tôi không thể ra khỏi nhà được!”, ông Năng than phiền.
Với bà Ngô Thị Minh, vợ của ông Thuỷ thì nỗi lo còn đáng ngại hơn nhiều. Bà Minh bảo: “Từ lâu, mấy hộ dân ngõ 22b vẫn tự xưng đây là đường của dòng họ nhà mình, cho dù các thông báo, trả lời của quận Đống Đa và thành phố đều khẳng định đây là ngõ đi chung do Nhà nước quản lý. Không có đường phải trèo thang đã khổ rồi, nhưng không biết, khi trèo thang đi vào đường anh em dòng họ ông Đức có gây khó dễ gì không?”.
Trên chỉ đạo, phường phớt lờ?
Cho tới thời điểm này, dù đã có rất nhiều thông báo, quyết định của UBND quận Đống Đa và thành phố Hà Nội khẳng định ngõ 22b là ngõ công do Nhà nước quản lý, nhưng con ngõ đi chính vào nhà ông Năng và ông Thuỷ vẫn bị bịt kín.
Trước đó, ngày 14/6/2007, UBND quận Đống Đa có Thông báo số 45/TB-UBND đề nghị: UBND phường Phương Liên tổ chức lực lượng tháo dỡ bức tường và cửa sắt xây dựng không phép ngăn nhà ông Nguyễn Duy Năng và ngõ 22b, xong trước ngày 30/7/2007.
UBND quận Đống Đa từng có văn bản số 625/CVUB-XDĐT, ngày 12/10/2007 gửi Bộ Xây dựng xin ý kiến về việc mở ngõ đi liên quan đến gia đình ông Năng, ông Thuỷ. Sau đó, Bộ Xây dựng có trả lời: “Hiện nay không có quy định nào cấm người dân không được mở cửa đi ra ngõ công cộng…”.
Ngày 27/8/2007, đích thân Quận uỷ Đống Đa đứng ra tổ chức cuộc họp và ra thông báo số 69 – TB/QU giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ phường Phương Liên lãnh đạo thực hiện nghiêm túc nội dung chỉ đạo của Thường trực Quận uỷ, UBND quận giải quyết vụ việc tại Thông báo số 46/TB – UBN, ngày 14/6/2007, thời gian hoàn thành trước ngày 20/9/2007… Nếu không giải quyết dứt điểm, Quận uỷ, UBND quận sẽ xem xét trách nhiệm tập thể và cá nhân đứng đầu cấp uỷ, chính quyền phường Phương Liên.
Thế nhưng, bức tường ngăn tại ngõ đi chung 22b vẫn không được phường Phương Liên tháo dỡ.
Mới đây, ngày 14/1/2009, trong Quyết định số 222/QĐ- UBND Thành phố do Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký một lần nữa khẳng định: “Ngõ đi tại tổ 22b phường Phương Liên thuộc thửa số 189, diện tích 135,4m2, tờ bản đồ 6H-I-39 là ngõ đi chung đã được UBND phường Phương Liên quản lý… Việc ông Nguyễn Văn Mần (một trong số hộ dân xây tường bịt ngõ) khiếu nại việc thành phố bàn giao đất công, đất chưa sử dụng cho UBND phường Phương Liên quản lý (trong đó có diện tích ngõ đi tại tổ 22b) là không có cơ sở…”.
Ngày 6/5/2009, HĐND thành phố Hà Nội có công văn số 142 đề nghị Chủ tịch UBND quận Đống Đa khẩn trương chỉ đạo giải quyết vụ việc, báo cáo kết quả tới Thường trực HĐND Thành phố trước ngày 20/5/2009 và trả lời người có đơn.
Sự việc đã rất rõ ràng, nhưng chẳng hiểu vì lý do gì UBND quận Đống Đa không giải quyết dứt điểm để gia đình ông Năng, ông Thuỷ có lối đi.
SOURCE: VIETNAMNET.VN

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code