Showing posts with label Kỹ Năng. Show all posts
Showing posts with label Kỹ Năng. Show all posts

Wednesday, September 11, 2013

Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Môn học: Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự
Đề thi: HP2/DS-01
Thời gian: 150 phút
----------*--------
  Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Huy: Ngày 22.3.2010 ông và vợ là bà Lê Thị Hoa (cư trú tại quận LB, TP. H) cùng bà Phan Thùy Dung (cư trú tại quận HK, TP. H) ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp việc chuyển đổi nhà, đất giữa căn nhà số 37 phố B, quận Đ, TP.H do bà Dung là chủ sở hữu và căn nhà số 33 phố T, quận X, TP. H do vợ chồng ông là chủ sở hữu. Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận về đặt cọc và phạt cọc. Tại điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất có nội dung “.. Ngay sau khi nhận đặt cọc, bà Dung phải lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà nhận tiền thuê nhà của Công ty An Phú, thoả thuận chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn (hợp đồng thuê có thời hạn đến ngày 10/04/2012) và đại diện cho bà Dung trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp với công ty An Phú nếu các bên có tranh chấp…”. Căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng, ngày 23.3.2010 tại nhà bà Dung, vợ chồng ông đã đặt cọc cho bà Dung 100 lượng vàng SJC, bà Dung có viết giấy biên nhận, bà Dung đã giao cho vợ chồng ông bản chính các giấy tờ sở hữu nhà số 37 phố B, quận Đ, TP. H; hợp đồng thuê nhà của bà và Công ty cổ phần bảo hiểm An Phú (gọi tắt là công ty An Phú) có trụ sở chính tại quận Đ, TP. H.
  Trong quá trình triển khai thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông đã liên lạc rất nhiều lần đề nghị bà Dung thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng nhưng bà Dung không thực hiện. Nay  ông khởi kiện bà Dung yêu cầu bà Dung trả cho vợ chồng ông 100 lượng vàng SJC và phải chịu phạt cọc gấp ba lần theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất ngày 22.03.2010 là 300 lượng vàng SJC.
  Đơn khởi kiện của ông Huy được gửi đến Tòa án quận Đ, thành phố H
Câu hỏi 1: Theo anh (chị), Tòa án quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
  Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án. Theo lời trình bày của bà Dung tại tòa án: bà thừa nhận giữa bà và vợ chồng ông Huy có ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đúng như ông Huy trình bày. Nhà, đất tại số 37 phố B, quận Đ là tài sản riêng của bà được bố mẹ để lại thừa kế, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất từ năm 1998 và đến nay bà cũng chưa kết hôn cùng ai. Nhà số 33 phố T, quận X vợ chồng ông Huy cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở năm 2004. Việc vi phạm hợp đồng là do lỗi của vợ chồng ông Huy cụ thể: không cùng bà làm hợp đồng uỷ quyền tại phòng công chứng theo điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; giấy tờ chủ quyền nhà số 33, phố T, quận X tại thời điểm ký hợp đồng vợ chồng ông Huy đang thế chấp tại ngân hàng. Vợ chồng ông Huy không giải chấp để lấy lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, tự ý bán căn nhà 33 phố T, quận X không thông báo cho bà. Vì vậy bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Huy, đồng thời bà yêu cầu vợ chồng ông Huy phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC theo đúng thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng.
  Theo ông Huy, bà Hoa thì việc bà Dung phải thực hiện công việc ủy quyền cho ông Huy tại phòng công chứng là điều kiện để thực hiện các công việc tiếp theo là phía bà Dung phải ra công chứng ký kết hợp đồng mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung đều không thực hiện. Ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán căn nhà số 33 phố T, quận X cho người khác.
Câu hỏi 2: Anh (chị) hãy xác định quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, giải thích tại sao?
Câu hỏi 3: Theo anh (chị) yêu cầu của bà Dung có phải là yêu cầu phản tố không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
           Tại Điều 4 của hợp đồng chuyển đổi nhà đất giữa vợ chồng ông Huy, bà Dung ghi: “..Bên B (vợ chồng ông Huy) có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, Tp. H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thỏa thuận. Bên B có trách nhiệm cho thuê nhà 33 phố T với giá ít nhất là 10.000USD/1 tháng, trường hợp không cho thuê được thì Bên B phải có trách nhiệm tìm cách tự bán nhà 33 phố T, quận X để bù số tiền 05 tỷ đồng cho Bên A (bà Dung) để mua nhà 37 phố B, quận Đ của Bên A. Bên A phải lập thông báo ngay cho bên thuê nhà thông báo việc cử bên B bằng hợp đồng ủy quyền thay mặt lấy tiến thuê nhà và các vấn đề liên quan đến việc thuê nhà. Tiền thuê nhà 37 phố B, quận Đ, Bên B được hưởng kể từ thời điểm ký hợp đồng đặt cọc…”.
Câu hỏi 4: Anh (chị) hãy xác định các tình tiết cần phải làm rõ trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
          Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: sau khi ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X tại ngân hàng; đã tiến hành tìm đối tác để cho thuê nhà nhưng không đảm bảo được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thỏa thuận với bà Dung nên ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán nhà 33 phố T, quận X cho vợ chồng ông Linh, bà Loan cư trú tại quận X để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thỏa thuận hai bên đã ký trong hợp đồng. Vợ chồng ông Huy đề nghị được trả 05 tỷ đồng cho bà Dung để thực hiện việc mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung không đồng ý bán.
Câu hỏi 5: Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: bà Dung vẫn lĩnh tiền thuê nhà hàng tháng của công ty An Phú, công ty An Phú không nhận được bất cứ thông báo nào về việc ủy quyền của bà Dung cho ông Huy giải quyết hợp đồng thuê. Công ty An Phú hoàn toàn không biết thỏa thuận chuyển đổi nhà, đất giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung.
Tại biên bản đối chất ngày 18.3.2011 ông Huy, bà Hoa tiếp tục yêu cầu bà Dung thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển đổi nhà, đất nhưng bà Dung từ chối không thực hiện. Ông Huy, bà Hoa cũng đề nghị được mua nhà số 37 phố B, quận Đ với giá thỏa thuận trong hợp đồng nhưng do bà Dung không đồng ý nên vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Dung trả lại tiền đặt cọc và bồi thường gấp ba lần, tổng cộng là 400 lượng vàng SJC.
Có ý kiến cho rằng hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đã ký kết giữa hai bên là hợp đồng vô hiệu do lỗi của vợ chồng ông Huy vì tại thời điểm ký hợp đồng căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng. Việc ký hợp đồng đặt cọc trao đổi nhà giữa các bên là vi phạm khoản 4 Điều 348 Bộ luật dân sự 2005.
Câu hỏi 6:.Anh (chị) có đồng ý với ý kiến trên không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.5.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung.
Câu hỏi 7: Thẩm phán có tiến hành phiên hòa giải được không, Tại sao? Quan điểm của anh (chị) về hướng giải quyết yêu cầu của bên nguyên đơn.


ĐÁP ÁN KỲ THI HỌC PHẦN LỚP ĐÀO TẠO NGUỒN THẨM PHÁN
Môn: Kỹ năng giải quyết các vụ việc Dân sự


Câu hỏi
Nội dung trả lời
Điểm

Điểm HV


1

* Theo anh (chị) Tòa án nhân dân quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không?
TAND quận Đ,Thành phố H. không có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy. Lý do: ông Huy yêu cầu khởi kiện là trả tiền đặt cọc và phạt cọc từ hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc để bảo đảm thực hiện chuyển đổi nhà đất. Tranh chấp này không liên quan đến bất động sản toạ lạc tại quận Đ, thành phố H. Do đó, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo lãnh thổ là toà án nơi bà Dung cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS  (TAND quận HK, thành phố H.)

1 đ

2

* Quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Lý do:
-  Các bên đã xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà đất theo Đ 358 BLDS;
-  Thực tế vợ chồng ông Huy đã thực hiện việc đặt cọc và bên nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vi phạm hợp đồng đặt cọc.
-  Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đặt cọc và phạt cọc.
1,5 đ




3

* Yêu cầu của bà Dung là yêu cầu phản tố
- Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC do nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc. Đây là yêu cầu độc lập, không cùng yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 176 và hướng dẫn tại tiểu mục 11.3 phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm”.
1 đ





4

* Anh (chị) xác định các tình tiết cần làm rõ trong vụ án:
- Các tình tiết để xác định hiệu lực của hợp đồng đặt cọc: nhà đất số 33 phố T, quận X, thành phố H có thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Huy không; nhà 37 phố B quận Đ có thuộc quyền sở hữu của bà Dung không.
- Các thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng đặt cọc về nghĩa vụ có điều kiện để thực hiện việc chuyển đổi hay mua bán;
- Việc thực hiện thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đặt cọc:
+ Việc không ký hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà Dung nhận tiền thuê nhà do lỗi của nguyên đơn hay bị đơn?
+ Thực tế ông Huy đã giải chấp ngôi nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H chưa?
+ Có việc ông Huy tìm đối tác để cho thuê nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H nhưng không bảo đảm được điều kiện thuê nhà và có việc vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ, thành phố H theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc không?.

2 đ




 5

* Xác định tư cách đương sự trong vụ án:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thanh Huy, giải thích theo k2 Đ 56 BLTTDS;
- Bị đơn: bà Phan Thùy Dung, giải thích theo k3 Đ 56 BLTTDS;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Hoa, giải thích theo k4 Đ56 BLTTDS
1 đ




 6

* Không đồng ý với ý kiến Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng:
- Theo quy định tại k4 Đ 348 BLDS năm 2005 thì: “bên thế chấp tài sản không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp bên nhận thế chấp đồng ý”.
- Hợp đồng xác lập giữa các bên là hợp đồng đặt cọc để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển đổi nhà, không phải là hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp nên không áp dụng khoản 4 Điều 348 BLDS năm 2005.
- Trong hợp đồng đặt cọc hai bên đã thoả thuận việc giải chấp tài sản: vợ chồng ông Huy có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, thành phố H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thoả thuận.





1,5 đ





 7

* Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.05.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung:
- Do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có mặt đầy đủ nên Tòa án tiến hành hòa giải theo Điều 184 BLTTDS, vụ án không thuộc trường hợp không hoà giải được.
*  Hướng giải quyết yêu cầu của nguyên đơn:
+  Hợp đồng đặt cọc ngày 22/03/2010 giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung có hiệu lực theo Đ122 BLDS năm 2005;
+ Bị đơn có hành vi vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc vì theo tình tiết thì bên nguyên đơn đã thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc: sau khi ký hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X; đã tiến hành tìm đối tác cho thuê nhà nhưng không bảo đảm được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thoả thuận với bà Dung nên vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X để lấy tiền mua nhà số 37, phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thoả thuận của vợ chồng ông Huy và bà Dung trong hợp đồng đặt cọc.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huy: Bà Dung có nghĩa vụ phải trả cho ông Huy và bà Hoa tiền đặt cọc 100 lượng vàng và phạt cọc 300 lượng vàng SJC theo điều 294, 358 BLDS năm 2005;

Friday, August 9, 2013

Kỹ năng luật sư trong việc đại diện ngoài tố tụng

Đại diện trong dân sự: Là việc nhân dânh và vì lợi ích của người khác, theo quy định pháp luật hoặc theo ủy quyền, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Khái niệm
1.1. Đại diện trong dân sự: Là việc nhân dânh và vì lợi ích của người khác, theo quy định pháp luật hoặc theo ủy quyền, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Có hai hình thức đại diện, gồm:
- Đại diện theo pháp luật: Là đại diện do pháp luật quy định, như: đại diện cho pháp nhân; đại diện hộ gia đình; đại diện tổ hợp tác; đại diện cho người mất năng lực hành vi hay hạn chế năng lực hành vi; đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên; đại diện của người giám hộ đối với người được giám hộ.
- Đại diện theo ủy quyền: Là đại diện được xác lập bằng hợp đồng ủy quyền, theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc Bộ luật tố tụng dân sự.
1.1. Đại diện ngoài tố tụng trong dân sự: Là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch ngoài phạm vi tố tụng dân sự do Toà án tiến hành.
Đại diện ngoài tố tụng của luật sư trong việc dân sự là đại diện theo ủy quyền.
2. Xác định thời điểm đại diện ngoài tố tụng
2.1. Thời điểm bắt đầu:
- Khi việc đại diện theo pháp luật phát sinh.
- Khi việc đại diện theo ủy quyền được xác lập hợp pháp bằng Hợp đồng ủy quyền.
2.1. Thời điểm chấm dứt hợp đồng ủy quyền: theo pháp luật quy định hoặc khi hết hạn; khi công việc đã hoàn thành hoặc theo thỏa thuận; khi một bên chết, mất tích, đã chết, mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi; khi một bên đơn phương chấm dứt.
Đơn phương chấm dứt Hợp đồng ủy quyền:
+ Đối với hợp đồng có thù lao thì có thể chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao và bồi thường thiệt hại nếu có.
+ Đối với hợp đồng không có thù lao, cũng có thể chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, bên ủy quyền phải thông báo việc chấm dứt này cho bên thứ 3.
3. Việc xác lập đại diện ngoài tố tụng theo ủy quyền
- Đại diện ngoài tố tụng theo ủy quyền: được xác lập bằng Hợp đồng ủy quyền theo quy định của BLDS (Điều 581). Hợp đồng ủy quyền có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói, có thể có công chứng, chứng thực hoặc không, tùy từng trường hợp cụ thể và tuỳ từng yêu cầu của mỗi bên.
- Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên đại diện (bên được ủy quyền) có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên được đại diện (bên ủy quyền), còn bên được đại diện chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.
- Thời hạn ủy quyền là một năm, nếu không có thỏa thuận thời hạn trong hợp đồng hoặc pháp luật không quy định.
- Việc ủy quyền lại phải được bên ủy quyền đồng ý, hình thức phải phù hợp với hợp đồng ủy quyền chính và không vượt quá phạm vi.
4. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện ngoài tố tụng
4.1. Một số quyền cơ bản của người đại diện ngoài tố tụng
- Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện công việc ủy quyền;
- Chủ động thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền, hưởng thù lao ủy quyền theo thỏa thuận và được thanh toán chi phí hợp lý.
4.2. Một số nghĩa vụ của người đại diện ngoài tố tụng
- Báo cho bên thứ 3 về thời gian và phạm vi được ủy quyền;
- Thực hiện công việc được ủy quyền một cách tốt nhất và thường xuyên thông báo với bên ủy quyền. Bảo quản, giữ gìn tài liệu được giao, giữ bí mật biết được từ công việc ủy quyền;
- Bồi thường thiệt hại nếu có lỗi;
- Giao lại tài sản phát sinh cho bên ủy quyền.
II. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ
1. Kỹ năng xác lập quan hệ Luật sư – Khách hàng.
- Tiếp xúc, trao đổi với khách hàng, lắng nghe khách hàng trình bày yêu cầu (đối với công việc hoặc đối với luật sư);
- Đề nghị nhận hồ sơ nghiên cứu (và thu phí nghiên cứu hồ sơ);
- Nghiên cứu hồ sơ, xác định tính hợp pháp hoặc có căn cứ, tính chất phức tạp nhiều hay ít trong yêu cầu của khách hàng. Xác định nội dung trả lời và khung phí dự thu, chuẩn bị hợp đồng ủy quyền;
- Xác lập quan hệ Luật sư – Khách hàng: Gặp lại khách hàng, thống nhất nội dung cơ bản của hợp đồng ủy quyền và lệ phí luật sư;
- Ký hợp đồng ủy quyền hợp pháp, thu phí. Có thể lập thêm biên bản thỏa thuận về một số chi tiết quan trọng, cần thiết trong việc thực hiện giao dịch được ủy quyền (rất cần thiết).
2. Kỹ năng đại diện
- Nghiên cứu các quy định pháp luật và tài liệu có liên quan tới công việc đại diện;
- Phân tích yêu cầu đại diện của khách hàng thành từng yếu tố có căn cứ hợp pháp, hợp lý theo từng mức độ;
- Thu thập thông tin có liên quan;
- Lập phương án thực hiện và thống nhất với khách hàng;
- Tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch được ủy quyền, thường xuyên thông báo diễn tiến và đề xuất các ý kiến mới (lưu ý: nếu có điều chỉnh, bổ sung nội dung ủy quyền thì phải lập thành văn bản mới);
- Kết thúc thành công công việc được ủy quyền.
3. Một số trường hợp đại diện ngoài tố tụng
3.1. Đại diện trong kinh doanh thương mại: Luật sư có thể làm các công việc như:
- Đàm phán (bàn bạc, chuẩn bị cho sự thỏa thuận hợp tác);
- Thương lượng (bàn bạc, đề nghị chấp thuận sự thay đổi, điều chỉnh, bổ sung)
- Hoà giải (bàn bạc giải quyết tình huống tranh chấp).
* Luật sư cần lưu ý:
+ Đàm phán; thương lượng; hoà giải không phải là sự ganh đua
+ Quan tâm tới lợi ích chung, lợi ích bổ sung, lợi ích đối lập;
+ Tự tin và có khả năng thiết phục;
+ Thu thập đầy đủ thông tin và chuẩn bị tốt;
+ Làm chủ cảm xúc.
3.2. Đại diện trong vụ án dân sự, việc dân sự:
Luật sư có thể thực hiện vai trò đại diện ngoài tố tụng song song với hoặc động tố tụng của Toà án; có thể biến hoà giải ngoài tố tụng thành hoà giải trong tố tụng.
(SUN LAW FIRM)

Kỹ năng hành nghề Luật sư trong các vụ án hình sự



Ở nước ta hiện nay, kinh tế, xã hội ngày càng phát triển. Bên cạnh sự phát triển tích cực còn có rất nhiều sự phát triển theo hướng tiêu cực. Chính từ đó mà các vụ án kinh tế, hình sự gia tăng. Chính vì vậy việc đòi hỏi sự công bằng xã hội trong mỗi vụ án ngày càng cao. Do đó pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng. Cũng phải tự điều chỉnh sao cho phù hợp.
Pháp luật nước ta quy định rõ ràng tại hiến pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật “. Xuất phát từ lẽ đó mà phương để giải quyết 1 vụ án, hơn một lúc nào hết hiện tại và tương lai ngày càng đảm bảo sự thoả đáng “bình đẳng”, thoả đáng “công bằng”. Tuy vậy không phải ai cũng có điều kiện để hiểu sâu, hiểu rõ pháp luật. Chính vì vậy, luật sư  là người góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tăng cường quản lý kinh tế – xã hội theo pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, sự tham gia của luật sư trong quá trình tố tụng là không thể thiếu, không thể phủ nhận nhưng để làm tốt được vai trò của mình thì luật sư cần phải có sự hiểu biết sâu sắc pháp luật. Do vậy, ngoài việc học còn phải trải qua một thời gian thực tế, qua rất nhiều giai đoạn. Tuy nhiên, trong hoạt động của luật sư thì hoạt động chuẩn bị luận cứ bào chữa là một trong những hoạt động cần thiết, thiết thực, không thể thiếu trong một vụ án hình sự nói riêng và trong hoạt động của luật sư trong các lĩnh vực nói chung. Đây chính là một trong những lý do để em chọn đề tài này.
I. CHUẨN BỊ LUẬN CỨ BÀO CHỮA
1.Vì sao phải chuẩn bị luận cứ bào chữa ?
Thông qua các hoạt động nghề nghiệp của mình, Luật sư bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Thông qua đó luật sư còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và công bằng cho xã hội. Để thực hiện được điều đó, luật sư phải có một thái độ nghiêm túc, tận tuỵ và trung thực, luôn đặt ra vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong suốt quá trình hành nghề. Đặc biệt tại các vụ án hình sự-nơi mà có các hành vi nguy hiểm cho xã hội, liên quan tới cả mạng sống của nhiều người thì luật sư lại càng phải thận trọng hơn, tỷ mỷ hơn.
Luật sư muốn thể hiện mình tại phiên toà thì không thể không có luận cứ bào chữa. Nó là cả một quá trình luật sư phải tìm tòi, suy nghĩ và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn sao cho bảo về quyền và nghĩa vụ hợp pháp  của thân chủ.
2.Những yêu cầu trong công tác chuẩn bị luận cứ bào chữa:
Trong luận cứ bào chữa của mỗi luật sư thì họ phải  cẩn trọng, cân nhắc một cách cẩn thận, thể hiện kỹ năng hành nghề của luật sư, kỹ năng phân tích các tình tiết của vụ án. Kỹ năng đó mà thuật ngữ  chuyên môn người ta gọi là tính tác nghiệp“ mà luật sư thể hiện trong quá trình tham gia tố tụng. Đó chính là khả năng, năng lực, kinh nghiệm của luật sư để thực hiện tốt việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ. Như vậy trong mọi trường hợp luật sư luôn là người đại diện cho thân chủ của mình trước pháp luật. Giữa luật sư và các cơ quan xét xử đã tạo thành hai hệ thống độc lập, tạo ra sự khách quan trong hoạt động xét xử. Tại các phiên toa hình sự, sự lập luận, đối chứng của luật sư giúp cho cơ quan xét xử tìm ra sự thật một cách khách quan hơn, trên cơ sở bổ sung cần thiết đó sẽ bảo vệ và duy trì pháp luật, đồng thời sẽ hạn chế tối đa sự oan, sai cho thân chủ và thông qua đó sẽ có nhận thức đúng đắn hơn về pháp luật. Đây là một trong những đòi hỏi cần thiết mà mỗi luật sư phải đạt được khi hành nghề trong xã hội. luật sư phải luôn thể hiện đúng vai trò, vị trí, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của mình đối với xã hội, với thân chủ, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử.
Trong quá trình bào chữa tại phiên toà, luật sư phải dẫn ra được những chứng cứ chứng minh cho những lý lẽ, lập luận mà mình đã đưa tra trong luận cứ bào chữa.
Luật sư phải đọc, hiểu một cách tường tận những quy định pháp luật và chính sách của Nhà nước để có căn cứ chính xác, từ đó tìm ra được những yếu tố chứng cứ có lợi nhất cho thân chủ của mình.
Tuy nhiên với mỗi nhóm tội khác nhau thì nội dung luận cứ cũng khác nhau. Do đó việc chuẩn bị luận cứ bào chữa của luật sư là cả một quá trình nghiên cứu khoa học đòi hỏi luận cứ phải làm việc hết sức nghiêm túc để có được sự chắt lọc kỹ lưỡng các vấn đề được đưa ra nghiên cứu. Song, không phải vì thế mà luật sư đưa ra những tình tiết, chứng cứ không có thật hoặc thiếu căn cứ để bao che cho thân chủ của mình. Những chứng cứ này phải được đưa ra trên cơ sở có căn cứ pháp lý rõ ràng và không trai với quy định của pháp luật.
Để hoàn thành một bản luận cứ bào chữa xúc tích, chặt chẽ, có tính thuyết phục cao, luật sư phải bám vào những yếu tố cấu thành của từng loại tội phạm, nắm vững các đặc điểm về tình tiết định khung, định tội. Bên cạnh đó, các vấn đề được đưa ra trong bản luận cứ bào chữa cần phải được sắp xếp đảm bảo tính lôgíc, có bố cục chặt chẽ, thể hiện được trình tự, diễn biến của phiên toà, thể hiện bản chất của sự việc tạo cho người nghe một tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái.
Luận cứ bào chữa phải được trình bày một cách rõ ràng, khoa học. Đồng thời, các vấn đề được đưa ra chứng minh phải đảm bảo tính chính xác và thuyết phục cao. Luận cứ bào chữa cũng phải nhấn mạnh, tập trung vào những vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ thân chủ, tránh sa đà vào những vấn đề không liên quan làm cho luận cứ bào chữa trở nên lan man, gây mất thời gian của sự tập trung của người nghe tại phiên toà. Luận cứ bào chữa chỉ thực sự có giá trị khi tạo ra được sự chủ động, tự tin của luật sư trước Hội đồng xét xử.
Trong mọi trường hợp, luật sư không vì quyền lợi cho thân chủ của mình mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác trong vụ án. Đây chính là vấn đề đạo đức nghề  nghiệp của luật sư.
Thành công của luật sư tại phiên toà chính là ở sự thuyết phục của luận cứ bào chữa trước Hội đồng xét xử, thể hiện luật sư đã có một quá trình nghiên cứu, suy nghĩ tìm hiểu sự thật vụ án một cách nghiêm túc. Trong luận cứ bào chữa, luật sư đưa ra các lý lẽ của mình, trình bày tất cả chứng cứ và tình tiết có lợi ích cho thân chủ nhằm thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận Để luận cứ bào chữa đạt yêu cầu, nhất thiết luật sư phải có sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng. Muốn vậy luật sư phải có kiến thức am hiểu một cách sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội, có khả năng nghiên cứu, tóm tắt, ghi nhớ các thông tin, tổng hợp những tài liệu, chứng cứ để đánh giá, phân tích một cách ngắn gọn, nội dung xúc tích, bố cục chặt chẽ với đầy đủ nội dung cơ bản vì mỗi tội phạm riêng biệt có các luận cứ bào chữa riêng song nó muốn trở thành một bản bào chữa có tính thuyết phục thì cần phải tuân thủ các bước cơ bản.
II. CÁC GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ LUẬN CỨ
BÀO CHỮA
1.Giai đoạn chuẩn bị, tiếp xúc với thân chủ :
Điều cơ bản ở giai đoạn này là luật sư phải nắm bắt được tâm lý, suy nghĩ của thân chủ để có được biện pháp xử lý thích hợp, yêu cầu thân chủ trình bày một cách cụ thể, khách quan và chính xác. Luật sư cũng phải ghi chép một cách tỉ mỉ các vấn đề cần thiết liên quan tới yêu cầu của khác hàng.
2.Thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc:
Từ giai đoạn tiếp xúc với khách hàng luật sư đã nắm bắt được các vấn đề cơ bản rồi từ đó nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ và thu thập tài liệu cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ án.
Mục đích cơ bản mà giai đoạn này luật sư cần làm được, đó là tìm ra các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết có lợi cho thân chủ của mình. Để làm được điều đó, luật sư phải có phương pháp nghiên cứu hồ sơ nắm được các đặc điểm về cấu thành tội phạm, đặc biệt là các tội danh gần giống nhau.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, cáo trạng, tiếp xúc với thân chủ, luật sư phải nghiên cứu kỹ lưỡng hành vi của thân chủ để có định hướng bào chữa “cụ thể”, ví dụ nếu hành vi của thân chủ không cấu thành tội phạm đó thì sẽ có định hướng bào chữa vô tội, nếu có cấu thành nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì hướng bào chữa là giảm nhẹ hình phạt…
Do vậy luật sư phải nghiên cứu hồ sơ thật kỹ, vận dụng các quy định của pháp luật có liên quan để lập luận, dẫn chiếu và phân tích để chứng minh cho quan điểm bào chữa của mình là có căn cứ và đúng pháp luật.
3.Hoàn thành luận cứ bào chữa :
Từ sự nghiên cứu trên luật sư phải tổng hợp, phân tích, sắp xếp một cách khoa học, lô gíc những tình tiết đó để xây dựng đề cương lập cứ bảo vệ cho thân chủ của mình. Còn nếu bản luận cương đó mà gửi tới Hội đồng xét xử thì luật sư phải viết nó dưới dạng một bài viết hoàn chỉnh.
III. KẾT CẤU CỦA MỘT LUẬN CỨ BÀO CHỮA
Các luận cứ bào chữa thông thường có :
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
1.Phần mở đầu :
-Luật sư tự giới thiệu về bản thân (Họ tên, nơi hành nghề, địa chỉ…)
-Trình bày lý do tham dự phiên toà (có thể do luật sư được thân chủ mời, có thể do Toà án chỉ định)
2.Phần nội dung :
Phần nội dung được trình bày theo 2 định hướng :
2.1.Giảm nhẹ :
Luật sư cần đưa ra tối đa các tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ quy định ở Điều 46, Bộ luật hình sự hiện hành. Ngoài ra đối với những tình tiết có lợi cho thân chủ, luật sư cần phân tích, đánh giá theo hướng giảm nhẹ.
2.2.Vô tội :
Điều cơ bản của định hướng này là luật sư phải đưa ra các chứng cứ thuyết phục để bác bỏ quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát đối với thân chủ của mình.
Cụ thể :
- Vô tội do chứng cứ không đầy đủ
- Vô tội do hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm
- Do sự thay đổi của pháp luật hình sự
- Do tất cả các yếu tố trên
3.Phần kết luận :
3.1.Nếu luận cứ theo hướng giảm nhẹ :
- Luật sư tóm tắt, đánh giá lại tính chất, mức độ hành vi phạm tội của thân chủ theo hướng có lợi.
- Tóm tắt lại những tình tiết có liên quan đến việc lượng hình đối với thân chủ.
- Phân tích hoàn cảnh gia đình, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo.
- Đề nghị mức hình phạt, các biện pháp áp dụng cũng như trách nhiệm dân sự và các vấn đề có liên quan (nếu có).
3.2.Nếu luận cứ  theo hướng vô tội :
- Luật sư tóm tắt, phân tích, đánh giá chứng cứ hoặc những quy định của pháp luật xác định bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị trả tự do ngay cho bị cáo, nếu bị cáo đang bị tạm giam.
- Đề xuất vấn đề liên quan đến các biện pháp tư pháp do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát áp dụng.
* BỔ SUNG LUẬN CỨ :
Ngoài ra, luận cứ bào chữa sẽ được sửa đổi bổ sung thêm ngay tại phiên toà. Vì ở đó có thể nảy sinh thêm các tình thiết như : vi phạm về mặt tố tụng (các biên bản làm việc, kết quả giám định…), vi phạm về nội dung (sự định tội sai của Viện kiểm sát…) và các tình tiết khác nếu xét thấy không có lợi cho thân chủ luật sư cần bổ sung, chỉnh sửa ngay sao cho công việc bào chữa đạt hiệu quả cao nhất.
IV. KẾT LUẬN
Tóm lại, việc chuẩn bị luận cứ bào chữa là rất quan trọng. Nó thể hiện trình độ chuyên môn, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Một luận cứ chu đáo sẽ thuận lợi cho việc bào chữa của luật sư và ngược lại nếu luận cứ đó là qua loa, đại khái thì nó sẽ thể hiện là một luật sư tồi, hay luật sư không thực sự tâm huyết với nghề nghiệp và tất yếu hiệu quả của việc bào chữa là rất thấp. Bên cạnh sự chuẩn bị luận cứ bào chữa, luật sư cũng cần phải chú ý đến cách thức trình bày nó tại phiên toà.
Luận cứ bào chữa phải ngắn gọn, chính xác đồng thời thể hiện được bản chất của sự việc, tạo cho người nghe một tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái.
Từ giọng nói, âm điệu để trình bày bản luận cứ bào chữa sao cho thuyết phục. Đây chính là việc để góp một phần không nhỏ cho luận cứ của luật sư thành công hơn.
Luật sư Nguyên - Đoàn Luật sư Hà Nội

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code