Showing posts with label Nha nuoc va phap luat nuoc ngoai. Show all posts
Showing posts with label Nha nuoc va phap luat nuoc ngoai. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE TRONG VIỆC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THS. PHẠM BÌNH AN
Singapore là một đảo quốc, một thành phố với 682 km2 và dân số 3,4 triệu người. Với quy mô quốc gia nhỏ bé và có nhiều điểm đặc thù, Singapore khá thành công trong việc quản lý và điều tiết thị trường bất động sản.
1. Khái quát về chế độ sở hữu đất đai:
Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Đất do Nhà nước sở hữu chiếm tỷ trọng lớn nhất (gần 90%), số còn lại do tư nhân chiếm hữu, nhưng việc sở hữu này phải tuân thủ theo các chế độ quy hoạch sử dụng đất do Nhà nước quy định. Người nước ngoài được quyền sở hữu căn hộ hoặc căn nhà (biệt thự) kèm theo với đất ở. Chế độ sử dụng đất phổ biến là hợp đồng thuê của Nhà nước trong thời hạn cụ thể:
Mục đích sử dụng đất
Thời hạn sử dụng (năm)
1. Đất sử dụng để xây nhà ở 99
2. Đất sử dụng cho mục đích thương mại
99
3. Đất sử dụng cho mục đích công nghiệp
60
4. Đất sử dụng cho mục đích giáo dục
30
5. Đất sử dụng cho mục đích tôn giáo
30
6. Đất sử dụng cho mục đích phúc lợi xã hội
30
7. Đất nông nghiệp
10-20
2. Quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch
Quy hoạch được nhận thức là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc phát triển ổn định thị trường bất động sản. Phương thức quy hoạch của Singapore rất bài bản và có những điểm khác với cách thức mà TP.HCM đang làm. Theo họ có 3 loại quy hoạch chính, tiến hành theo từng bước:
(1) Quy hoạch định hướng, hay quy hoạch ý tưởng (Concept plan): định hướng phát triển các khu chức năng, trong đó xem xét các yếu tố như hướng phát triển; cơ cấu diện tích, mối tương quan giữa các khu chức năng (còn gọi là quy hoạch cơ cấu). Quy hoạch định hướng có giá trị trong 10 năm. Quy hoạch tổng mặt bằng các tỉnh ở Việt Nam đang tiến hành tương tự loại quy hoạch định hướng này.
(2) Quy hoạch tổng thể (Master plan) có thời hạn thực hiện trong 05 năm, dựa trên quy hoạch định hướng để xây dựng các nội dung chi tiết cho từng khu vực, từng cụm dân cư theo các tỷ lệ khác nhau. Gọi là Master plan (bao gồm cả nội dung quy hoạch kinh tế – xã hội), nhưng đây thực sự là quy hoạch chi tiết. Quy hoạch tổng thể được công bố công khai rộng rãi cho mọi người dân tham gia góp ý chỉnh sửa và công bố chính thức để thực hiện.
(3) Trong quá trình triển khai thực hiện dự án theo quy hoạch, các chủ đầu tư lập dự án cụ thể phù hợp với quy hoạch chi tiết đã đề ra và trình Cơ quan Tái Phát triển Đô thị (URA) xem xét phê duyệt (Guiding plan). Từ quy hoạch sẽ xác định phân bổ sử dụng đất đai hợp lý.
* Một số kinh nghiệm về quy hoạch:
+ Nhận thức được tầm quan trọng của quy hoạch, họ tập trung nguồn lực để xây dựng quy hoạch, đảm bảo quy hoạch đạt chất lượng cao và ít phải điều chỉnh. Quy hoạch theo thứ tự hợp lý và nhất quán từ định hướng đến chi tiết. Quy hoạch triển khai từng bước, chắc chắn, một số khu vực chưa quy hoạch còn để trống và đề rõ “khu vực đang nghiên cứu”.
+ Quy hoạch mang tính dân chủ công khai, đảm bảo mọi người dân và các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp được quyền tham gia và được thông tin đầy đủ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau khi nội dung quy hoạch đã được công bố, giá trị pháp lý của quy hoạch được đảm bảo, không phụ thuộc vào sự can thiệp của cá nhân hoặc cơ quan nào. Nếu phát sinh một dự án mới ngoài quy hoạch mà muốn thực hiện thì phải chờ điều chỉnh quy hoạch trong giai đoạn 5 năm tiếp theo. Việc quản lý xây dựng theo quy hoạch rất nghiêm khắc, phía bạn cho biết chưa có trường hợp vi phạm nghiêm trọng về giấy phép xây dựng nào phải xử phạt.
+ Quy hoạch không phụ thuộc vào ranh giới hành chính mà theo các phân khu chức năng, do đó việc quy hoạch và triển khai thực hiện thống nhất.
+ Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quy hoạch đô thị, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề trong quy hoạch đô thị. Sau khi có quy hoạch, nhà nước thu hồi đất và giao đất (bán hoặc cho thuê) cho các công ty (nhà nước hoặc tư nhân) thực hiện đúng quy hoạch chi tiết.
+ Quy hoạch được công bố trước khi thu hồi đất 2-3 năm, sau khi nhà đầu tư được giao đất phải cam kết thực hiện dự án trong vòng 6 năm (thường là các dự án lớn). Nhà nước không cho phép chủ đầu tư mua đi bán lại trên mảnh đất được giao, trừ một số trường hợp đặc biệt.
3. Thu hồi đất, đền bù và tái định cư:
3.1. Thu hồi đất:
Sau khi có quy hoạch chi tiết và có dự án cụ thể, nhà nước tiến hành thu hồi đất để triển khai thực hiện. Nhà nước toàn quyền quyết định trong vấn đề thu hồi đất, người dân có nghĩa vụ phải tuân thủ (theo Luật về thu hồi đất – Land Acquisition Act). Công tác thu hồi đất dựa trên nguyên tắc:
- Thu hồi đất bắt buộc phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và chỉnh trang đô thị.
- Hạn chế thu hồi đất tư nhân, chỉ thu hồi khi thực sự cần thiết.
- Công tác thu hồi đất phải được sự cho phép bởi Chính phủ và các thành viên trong Nội các Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến cộng đồng.
- Việc thu hồi đất được tiến hành theo từng bước chặt chẽ và có thông báo trước cho người dân 2 – 3 năm.
Nếu người dân không chịu đi để nhà nước thu hồi đất sẽ áp dụng cưỡng chế hoặc phạt theo Luật xâm chiếm đất công (State Lands Encroachment Act).
3.2. Chính sách đền bù:
Mức đền bù thiệt hại căn cứ vào giá trị bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển hợp lý; chi phí mua vật tư thay thế; thuế sử dụng nhà mới… Nếu người dân không tin tưởng Nhà nước, có thể thuê một tổ chức định giá tư nhân để định giá lại và chi phí do Nhà nước chịu. Kinh nghiệm xác định giá đền bù cho thấy: Nhà nước Singapore đền bù giá thấp hơn giá hiện tại, vì giá bất động sản hiện tại đã bao gồm giá trị gia tăng do nhà nước đầu tư hạ tầng, do đó nhà nước điều tiết một phần giá trị đã đầu tư. Nhà nước không thể đáp ứng yêu cầu đền bù theo giá trong tương lai.
Ngoài ra, các yếu tố sau đây cũng được xem xét khi đền bù: giá trị bất động sản gia tăng do công trình công cộng đi ngang qua, nhà nước sẽ điết tiết; ngược lại công trình công cộng ảnh hưởng xấu đến mảnh đất (như tiếng ồn, khói bụi, người ngoài có thể nhìn vào nhà…), nhà nước sẽ tăng đền bù; công trình cắt manh mún mảnh đất hiện hữu; chi phí để hoàn tất thủ tục cho mảnh đất còn lại.
Tuy nhiên, cũng có những yếu tố không chấp nhận khi tính mức đền bù, đó là: đòi được thưởng để di dời sớm hoặc muốn ở lại chỗ cũ nên đòi tăng đền bù mới chịu đi; đòi bồi thường vào việc đầu tư thêm vào căn nhà, sau khi đã có quyết định giải tỏa, trừ khi căn nhà quá tệ cần được sơn sửa lại. Trong vòng 2 năm công bố giải tỏa mà cố ý xây dựng nhà lớn đẹp để đòi đền bù; đòi đền bù theo giá đã mua (ý định đầu cơ đất); hoạt động kinh doanh nhưng không có giấy phép, không có căn cứ pháp lý để đền bù; tổ chức, cá nhân sử dụng bất động sản bất hợp pháp. Ngoài ra, sự gia tăng giá đất trong vòng 7 năm do sự phát triển của hạ tầng công cộng cũng được xem xét điều tiết.
Phương thức thanh toán khi đền bù là trả trước 20% khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ, phần còn lại trả khi hoàn tất việc di dời. Nếu hộ gia đình có nhu cầu cấp bách về nhà ở, sẽ thu xếp cho thuê với giá phù hợp.
Ngoài ra, nhà nước Singapore còn có các chính sách hỗ trợ khác đảm bảo quyền lợi của chủ bất động sản phải di dời. Trong quá trình đền bù, chủ bất động sản có quyền khiếu kiện về giá trị đền bù. Hội đồng đền bù sẽ là tổ chức quyết định giá trị đền bù đối với người khởi kiện. Nếu chủ bất động sản vẫn không đồng ý có thể đưa vụ việc lên Tòa Thượng thẩm.
Nhìn chung, chính sách đền bù được tiến hành thận trọng (nhất là đất của tư nhân), có văn bản luật quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi và chính sách đền bù công bằng đối với mọi tổ chức, cá nhân, do đó tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội. Tỷ lệ cưỡng chế chiếm một tỷ trọng không đáng kể, dưới 1%.
* Một số kinh nghiệm khác trong đền bù thiệt hại khi giải toả:
+ Có chính sách hỗ trợ tối đa về thiệt hại và tạo điều kiện công ăn việc làm cho người nông dân khi chuyển thành thị dân (chủ yếu trong thời gian cách đây 20-30 năm). Tuy nhiên, do số lượng nông dân không nhiều nên đây không là vấn đề nghiêm trọng. Đối với các hộ kinh doanh thương mại hoặc cơ sở công nghiệp, hướng đền bù bằng tiền mặt và căn cứ vào thu nhập thực tế trước đó.
+ Đối với các cơ sở tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ khi giải tỏa được bố trí xây dựng mới trên địa điểm và diện tích khu đất phù hợp (thường rộng rãi hơn), nhằm phục vụ khu dân cư mới.
+ Việc giải tỏa di dời ít làm xáo trộn công ăn việc làm của người dân (do đất nước Singapore quá nhỏ bé nên việc đi lại thuận tiện)
+ Không có trường hợp người nông dân tự chuyển nhượng đất cho nhà đầu tư để xây dựng các khu dân cư (như ở Việt Nam). Lý do là thời gian sử dụng đất khác nhau và nhà nước không cho phép. Mọi việc chuyển nhượng làm thay đổi mục đích sử dụng phải thông qua cơ quan nhà nước. Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong việc đền bù giải tỏa và không để ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
+ Theo thông tin do phía Singapore cung cấp, tính bình quân, tiền đền bù chỉ chiếm khoảng 9% tổng giá trị đầu tư một dự án (trong khi đó, tỷ lệ này ở Việt Nam có thể đến 70-80%). Kiểm soát tốt giá đền bù là một trong những lý do giúp chương trình phát triển hạ tầng và phúc lợi công cộng thành công.
3.3. Vấn đề tái định cư và cung cấp nhà ở công (public housing):
Chính sách tái định cư gắn liền với bố trí nhà ở công – loại nhà do nhà nước xây dựng và cung cấp giá rẻ kèm theo một số điều kiện. Đây là một điểm đặc thù và rất độc đáo của thị trường bất động sản tại Singapore. Singapore thiết lập một cơ quan tập trung thực hiện việc cung cấp nhà ở công cho người dân trong đó chủ yếu phục vụ tái định cư – Cục Phát triển Nhà (HDB). Được thành lập từ năm 1960, cho đến nay với khoảng 8.000 nhân viên, HDB đã cung cấp nhà cho 85% dân số Singapore, trong đó có 2% thuê căn hộ (năm 2001).
a/ Các bước chuẩn bị cho công tác tái định cư:
Các nhân viên của HDB tiến hành điều tra xã hội học kỹ lưỡng về hộ gia đình trước khi triển khai việc tái định cư, trong đó lưu ý các chi tiết về số thành viên trong gia đình, kể cả con cái; nguồn thu nhập; nghề nghiệp, nơi làm việc, tình trạng pháp lý của bất động sản… Các đơn vị, tổ chức khác như cơ quan, nhà thờ, cơ sở công nghiệp – thương mại … đều được điều tra tỉ mỉ và đưa vào danh sách tái định cư. Việc điều tra tỉ mỉ, thận trọng sẽ tạo bằng chứng chắc chắn cho việc hỗ trợ tái định cư chính xác, công bằng.
b/ Điều kiện để được tái định cư tại các căn hộ do HDB cung cấp
Cơ quan quản lý đất Singapore (SLA) bảo lãnh và làm thủ tục giới thiệu các hộ thuộc diện tái định cư được mua hoặc thuê nhà của Trung tâm phát triển nhà (HDB) với điều khoản ưu đãi: ưu đãi về thủ tục mua và thuê, miễn thế chấp,… Chính sách cung cấp nhà ở công của HDB có phân biệt các trường hợp cụ thể, trong đó ưu tiên công dân Singapore. Nếu không sử dụng nhà do HDB cung cấp sẽ được nhà nước hỗ trợ thêm tiền (khoảng 1.200 đôla Singapore).
c/ Cung ứng nhiều loại nhà ở để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân
Có nhiều loại nhà phù hợp với nhu cầu đa dạng của người dân. HDB chủ yếu cung cấp các căn hộ trong các tòa nhà cao tầng. Có 5 loại căn hộ cơ bản là:
Loại căn hộ Diện tích chuẩn (m2) Giá bán hoặc cho thuê (*)
1 phòng 32 26-33$/tháng
2 phòng 45 44-75$/tháng
3 phòng 85
4 phòng 90 126.000$
5 phòng 110 203.000$
(*) Chủ yếu các căn hộ có 1-2 phòng để cho những người thu nhập thấp thuê, các căn hộ 4-5 phòng chủ yếu để bán. Đơn vị tính là đô la Singapore – 1$ tương đương 9.000 VND
Ngoài ra, còn có các căn hộ hạng sang (Executive) hoặc các căn hộ cho người già (Studio Apartment). Như vậy, chương trình cung cấp nhà ở do HDB triển khai đã đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhà ở của hầu hết mọi người dân Singapore, kể cả những người có thu nhập thấp.
Để hạn chế tình trạng mua đi bán lại và đầu cơ, Chính phủ quy định khi mua nhà của HDB phải ở 5 năm mới được bán và sau 10 năm (kể từ khi bán căn nhà thứ nhất) mới được mua căn nhà thứ hai của HDB.
d/ Chính sách tài chính
Cung cấp nhà ở công với giá ưu đãi là một đặc điểm riêng của Singapore, do đó nhà nước có chính sách về tài chính tương ứng để hỗ trợ chương trình này. Có 2 phương thức chủ yếu là: (1) HDB vay nhà nước, các ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu (bond) để phát triển các khu dân cư, bán cho người dân và thu hồi vốn để hoàn trả vốn vay; (2) Chính phủ hỗ trợ vốn cho người dân mua nhà trả góp của HDB (có thế chấp nhà), thông qua phát hành trái phíêu kho bạc từ Quỹ Tiết kiệm Trung ương. Ngoài ra HDB còn vay mượn từ thị trường vốn (trái phiếu trung hạn) và các thể chế tài chính khác.
4. Các hình thức cung cấp đất công để thực hiện dự án:
Ở Singapore đất thuộc sở hữu Nhà nước chiếm gần 90%. Để chuyển giao đất công cho các đơn vị phát triển bất động sản, có 3 hình thức chủ yếu:
a/ Đấu giá hoặc đấu thầu: Đây là phương thức đầu tiên bán đất cho khu vực tư nhân, nhằm bán được mảnh đất ngang giá thị trường, tạo cơ hội bình đẳng cho người mua và tăng nguồn thu cho ngân sách.
Nguyên tắc cơ bản trong phương thức này là công khai và minh bạch về nội dung quy hoạch khu đất; điều kiện được mua, giá khởi điểm,… trên các phương tiện thông tin đại chúng và internet. Chính phủ cam kết không thay đổi nội dung đưa ra đấu giá hoặc đấu thầu. Các đối tượng được tham gia rộng rãi sẽ hạn chế việc khống chế giá. Giá khởi điểm do Người Thẩm Định Giá Trưởng (Chief Value – thuộc Bộ Tài chính) phối hợp với Cơ quan quản lý đất đai (SLA) xác định.
b/ Bán trực tiếp: Mục đích bán cho các đơn vị phát triển nhà ở công như HDB hoặc phát triển công nghiệp như Jurong Town Corporation (JTC) hoặc các cơ quan Chính phủ theo chức năng luật định. Giá bán dựa vào Người Thẩm Định Giá Trưởng quy định theo giá thị trường để sử dụng đất có hiệu quả nhất. Trường hợp đặc biệt: bán cho các tổ chức phúc lợi hoặc từ thiện do Chính phủ quy định giá. Hình thức bán trực tiếp cho tư nhân còn áp dụng đối với một số mảnh đất quá nhỏ hẹp muốn phát triển phải nối kết với miếng đất khác liền kề.
c/ Đấu thầu hạn chế: trong trường hợp bán miếng đất của nhà nước nằm lọt giữa các mảnh đất của tư nhân, thì ưu tiên cho các chủ đất xung quanh.
* Lưu ý một số kinh nghiệm khi cung cấp đất cho thị trường:
- Các mục đích sử dụng đất khác nhau sẽ có giá bán khác nhau. Ví dụ, để phát triển trường tiểu học, trung học nhà nước cung cấp đất miễn phí, nhưng các trường đại học, kỹ thuật, tổng hợp… thì phải mua. Đất xây dựng các cơ sở thương mại, công nghiệp phải theo giá thị trường. Đất phát triển nhà ở công do Người Thẩm Định Giá Trưởng quy định.
- Khi bán đất, nhà nước luôn kèm các điều kiện cần thiết để xây dựng công trình trên mảnh đất đó. Về cơ bản không cho phép nhà đầu tư mua đi bán lại mảnh đất đã mua.
- Nhà nước điều tiết thị trường bằng việc điều chỉnh lượng đất bán ra phù hợp, ví dụ năm 1997 khi có khủng hoảng kinh tế, nhà nước ngưng bán đất cho tư nhân; hoặc khi thị trường phát triển quá nóng, nhà nước tăng lượng bán ra. Do nhà nước chủ động điều tiết thị trường và có những quy định nghiêm ngặt trong việc sử dụng đất có hiệu quả, nên không có hiện tượng găm giữ hoặc đầu cơ đất.
5. Một số kinh nghiệm về quản lý thị trường bất động sản:
Có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng từ việc quản lý thị trường bất động sản tại Singapore để có thể nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng:
(1) Nhà nước đóng vai trò trung tâm và chủ động trong việc quản lý và điều tiết thị trường bất động sản. Không chỉ chiếm phần lớn đất đai để dễ dàng điều tiết thị trường, nhà nước Singapore còn có một hệ thống pháp luật về thị trường bất động sản khá hoàn chỉnh và thực hiện rất nghiêm trong việc quản lý sử dụng đất.
(2) Công tác quy hoạch được đặc biệt chú trọng, tạo sự phát triển bền vững cho thị trường bất động sản. Việc xây dựng quy hoạch được tiến hành từng bước khoa học, kỹ lưỡng và trước khi công bố công khai phải có ý kiến đóng góp rộng rãi của người dân.
(3) Nhà nước chịu trách nhiệm thu hồi đất, sau đó cung cấp cho các đơn vị để thực hiện dự án theo quy hoạch (bán hoặc cho thuê), tránh tình trạng đối đầu giữa nhà đầu tư và chủ đất trong quá trình đền bù giải phóng mặt bằng. Không có hiện tượng tư nhân thương lượng với người dân để mua lại đất xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở thương mại… để kinh doanh.
(4) Công tác thu hồi đất, đền bù, giải tỏa được thực hiện theo luật định, công bằng và bình đẳng đối với mọi tổ chức, cá nhân, có xem xét điều tiết giá trị gia tăng do nhà nước đầu tư hạ tầng đô thị. Việc đền bù được điều tra khảo sát tỉ mỉ, đảm bảo quyền lợi của người dân.
(5) Nhà nước can thiệp khá sâu và tích cực vào thị trường bất động sản, đặc biệt là thực hiện thành công chính sách nhà ở công, nhằm cung cấp cho hầu hết người dân Singapore có nhà ở thích hợp, đồng thời có những hạn chế việc mua đi bán lại.
(6) Chính vì chế độ sử hữu đất rõ ràng, quản lý sử dụng đất chặt chẽ, tiềm lực nhà nước rất mạnh, Singapore hầu như không có hiện tượng đầu cơ bất động sản và giá bất động sản không biến động nhiều để có thể ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế. Một trong những nguyên nhân nữa để thị trường bất động sản phát triển ổn định là ý thức tuân thủ pháp luật của người dân và cả cơ quan hành pháp rất cao.
Trên đây là một số kinh nghiệm rút ra từ đợt khảo sát thị trường bất động sản của Singapore. Do thời gian khảo sát rất ngắn (03 ngày), chắc chắn những vấn đề nêu ra chưa thể đầy đủ. Nhóm công tác sẽ tiếp tục nghiên cứu các tài liệu có liên quan thu thập được để học tập những kinh nghiệm tốt và đề xuất áp dụng vào công tác quản lý phát triển thị trường bất động sản tại TP.HCM.
SOURCE: NỘI SAN KINH TẾ SỐ 12/2003 – VIỆN KINH TẾ TPHCM

Wednesday, March 19, 2014

CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ KHI THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ DUNG – Đại học Luật Hà Nội
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới. Và, thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị. Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế – xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng. Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình.
1. Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực
Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm. Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá. Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư. Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư…
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường(1).
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc
2. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế. Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng.
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất.
Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất.
Thứ năm, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả.
Thứ sáu, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn. Chẳng hạn như: Quyết định 143/QĐ-UB sửa đổi bổ sung một số vấn đề về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/08/2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội…Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện.
Thứ bảy, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả.
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án. Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản.
Để góp phần làm lành mạnh thị trường bất động sản, tạo thuận lợi cho việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, phục vụ quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, theo chúng tôi, cần xử lý một số vấn đề sau:
Một là, đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tránh tình trạng mỗi địa phương, mỗi dự án, mỗi công trình có mức bồi thường và hỗ trợ khác nhau, từ đó làm nảy sinh ý tưởng so sánh quyền lợi từ phía người dân. Khẩn trương hoàn thiện các quy định của pháp luật, theo hướng dựa trên cơ sở thị trường để giải quyết vấn đề bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Hai là, nâng cao chất lượng công trình quy hoạch tái định cư; chú ý đến yếu tố văn hóa, tập quán, thói quen của đồng bào các dân tộc khi xây các khu tái định cư.
Ba là, nâng cao năng lực thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các ban, ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn, cũng như tinh thần trách nhiệm, sự tuân thủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, của cán bộ thực thi việc kiểm kê, kiểm đếm, lập phương án đền bù.
Bốn là, có một kế hoạch dài hạn với nguồn tài chính đảm bảo trong nhiều năm để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khống chế một cách nghiêm chỉnh về quy mô thu hồi đất; xác định tiêu chuẩn bồi thường một cách hợp lý và hoàn thiện hơn nữa quy trình thu hồi đất.
Năm là, khắc phục những khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân.
Tóm lại, những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là không thể tránh khỏi đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Khắc phục những tồn tại đó sẽ đảm bảo sự ổn định, nâng cao điều kiện sống cho người dân ở những khu vực có đất bị thu hồi, góp phần vào sự vận hành và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam./.

(1) Changchui He, Opening statêmnt at the Reghional Conference on Land Titling in Thailand, 19-21,2003, Bangkok, Thailand,http://www.fao.org/reguonal/rap/speeches/2003/3030219.html; 2-Land Ownership in Thailand, http//www.phuket-realestate-law.com/law/law- Ownership.htm)
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 11 (179) NĂM 2009

Wednesday, February 12, 2014

TÌM HIỂU CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÀI HÒA HÓA VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

LÊ DUY
Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.
Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.
Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của CHDC ND Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.
Để cụ thể hoá các quy định về các biện pháp khắc phục thương mại, năm 1997 Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành các quy định và thủ tục kiện chống bán phá giá và đối kháng, gọi là các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của CH DCND Trung Hoa (thường được gọi là Quy định cũ). Khi các quy định này được soạn thảo, trong các quy định liên quan đến chống bán phá giá chỉ duy nhất Trung Quốc là vẫn bảo hộ các doanh nghiệp của mình trong các cuộc điều tra chống bán phá giá do các thành viên của WTO tiến hành. Cho đến tận cuối năm 1997 Trung Quốc mới khởi xướng cuộc điều tra chống bán phá giá đầu tiên đối với giấy in báo. Do vậy, dù các quy định được soạn thảo bằng cách tham khảo Hiệp định các biện pháp đối kháng, chống trợ cấp và chống bán phá giá của WTO thì rất nhiều điều khoản trong đó khá chung chung, hầu như không hướng dẫn về việc áp dụng các quy định vào thực tế như thế nào. Hơn nữa, một số điều khoản trong đó khác với trong các hiệp định của WTO. Trong suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, một số thành viên WTO lo ngại rằng hệ quả của việc áp dụng các điều khoản này là các cuộc điều tra về các biện pháp khắc phục thương mại mà chính quyền Trung Quốc tiến hành sẽ không phù hợp với các quy định của WTO nếu như Trung Quốc trở thành thành viên của WTO.
Việc Trung Quốc cam kết thay đổi luật và các quy định thương mại theo hướng phù hợp với các Hiệp định của WTO là một phần trong tiến trình gia nhập. Theo đó, Trung Quốc phải bãi bỏ các quy định cũ và ban hành hai quy định mới là “Các quy định về chống bán phá giá” và “Các quy định về chống trợ cấp” bằng cách tách các vấn đề về chống bán phá giá ra khỏi các vấn đề về trợ cấp đối kháng. Các quy định này có hiệu lực từ 01/01/2002 ngay sau khi lộ trình gia nhập vào WTO được Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn. Quy định mới về chống bán phá giá được đưa ra một cách toàn diện và cụ thể với 59 điều khoản trong 6 chương. Các quy định này được chi tiết hoá bởi rất nhiều các quy định tạm thời do MOFTEC và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế (SETC) ban hành.
Theo Điều 71 Hiến pháp Trung Quốc, đối với các vấn đề thuộc quyền hạn của chính quyền, các bộ, các uỷ ban và các cơ quan ban ngành khác của Nhà nước có thể ban hành các quy định phù hợp với luật quốc gia, các quyết định và chỉ thị mang tính hành chính của Hội đồng nhà nước. Trong thực tế các quy định này tồn tại dưới hình thức các quy định tạm thời do chưa có một luật hay quy định hành chính hiện hành nào phù hợp hoặc do Quốc hội hay Uỷ ban Nhà nước chưa sẵn sàng soạn thảo luật cho một vấn đề cụ thể nhưng các quy định lại trở nên rất cần thiết. Người ta dự định rằng các quy định tạm thời sẽ dần được thay thế bởi các luật cụ thể hay các quy định hành chính.
Theo Nghị quyết của Quốc hội về Cải cách thể chế của Uỷ ban nhà nước và thông báo của Uỷ ban Nhà nước về cơ cấu tổ chức thì Chính phủ Trung Quốc phải xem xét kỹ lưỡng việc cơ cấu lại then chốt vào tháng 03/2003. Do vậy Bộ Thương mại (MOFCOM) được thành lập để đảm nhận trách nhiệm của MOFTEC và SETC, trong đó có vai trò điều chỉnh bán phá giá và trợ cấp. Về thay đổi cơ cấu tổ chức, Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được sửa đổi vào tháng 3/2004 và có hiệu lực từ 01/06/2004. Quy định về chống bán phá giá năm 2004 bao gồm nhiều vấn đề từ xác định việc bán phá giá, tính toán biên độ, xác định thiệt hại, quy trình điều tra, thuế chống bán phá giá, cam kết về giá, rà soát cuối kỳ và thông báo. Vào tháng 10/2003, MOFCOM đã ban hành “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống bán phá giá” và “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống trợ cấp”.
Bài viết này sẽ phân tích hệ thống luật chống bán phá giá của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề mang tính quy trình. Để làm được việc này thì Luật Ngoại Thương, Quy định chống bán phá giá, các quy định tạm thời và các quy định của MOFCOM sẽ được đưa ra xem xét. Những quy định mang tính quy trình thuộc các luật và quy định này sẽ được so sánh với Hiệp định chống bán phá giá của WTO để xem xét xem liệu luật và quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc có phù hợp với các quy định của WTO hay không.
a. Đơn xin điều tra và vai trò của các ngành sản xuất nội địa
Luật Ngoại thương của Trung Quốc trao quyền được tiến hành các cuộc điều tra chống bán phá giá cho một cơ quan ngang bộ thuộc Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm về ngoại thương. Theo Nghị quyết của Quốc hội về cải cách thể chế nhà nước và Thông báo của Hội đồng nhà nước về cơ cấu tổ chức thì công việc này đang được MOFCOM đảm nhiệm, cơ quan này có thể tự tiến hành điều tra hoặc điều tra khi nhận được đơn kiện của ngành sản xuất nội địa. Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc công nhận quyền khởi kiện của một ngành sản xuất nội địa, một cá nhân, một pháp nhân hay một tổ chức có liên quan đại diện cho ngành sản xuất nội địa đệ đơn lên MOFCOM xin tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá.
Quyền đệ đơn được đề cập trong các quy định tạm thời về Tiến hành điều tra chống bán phá giá. Theo các quy định này thì một đơn kiện phải do một ngành sản xuất nội địa hoặc tổ chức đại diện đưa ra và khi đó cơ quan chức năng sẽ tiến hành điều tra chống bán phá giá nếu các nhà sản xuất trong nước ủng hộ đơn kiện này có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm hơn 50% tổng sản lượng được sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất trong nước đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện và sản lượng sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất này chiếm ít nhất là 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước. Nếu ngành sản xuất nội địa sụp đổ và kéo theo một số lượng lớn các nhà sản xuất khác thì MOFCOM sẽ xem xét lại vai trò của nguyên đơn bằng các phương pháp thống kê lấy mẫu đang được sử dụng.
Theo các nguyên tắc và quy định tạm thời của Trung Quốc, thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sn phẩm tương tự ở Trung Quốc hoặc một số nhà sản xuất trong đó có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng sản phẩm đó trên cả nước và “tỷ lệ lớn” này là hơn 50%. Một số nhà sản xuất trong nước sẽ không nằm trong danh sách các nhà sản xuất nội địa nếu các nhà sản xuất này có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm này hoặc chính họ là các nhà nhập khẩu hàng hóa hoặc các sản phẩm tương tự được bán phá giá.
Thêm vào đó, các quy định tạm thời bao gồm cả khái niệm “khu vực sản xuất nội địa vùng”. Theo đó, những nhà sản xuất ở một khu vực nhất định trong nước có thể được coi như một ngành sản xuất riêng biệt (ngành sản xuất nội địa vùng) miễn là họ bán tất cả hoặc hầu hết các sản phẩm tương tự ở khu vực thị trường đó, và các nhà sản xuất ở những khu vực khác của Trung Quốc không đáp ứng đủ nhu cầu về sản phẩm tương tự của thị trường này. Khi xác định một “ngành sản xuất nội địa vùng” như vậy thì phải tính đến cả tình hình bán hàng và nhu cầu với sản phẩm ở trong khu vực đó.
Một vài khía cạnh trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có thể được đưa ra xem xét bằng cách so sánh với luật lệ của WTO. Điểm phân tích đầu tiên là khái niệm ngành sản xuất nội địa. Làm thế nào để định nghĩa khái niệm “ngành sản xuất nội địa” là một vấn đề thiết yếu liên quan đến các vấn đề như vị trí, xác định thiệt hại, phạm vi các loại sản phẩm chịu thuế chống bán phá giá. Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, thuật ngữ “ ngành sản xuất nội địa” dùng để chỉ các nhà sản xuất sản xuất tất cả các sản phẩm tương tự hoặc các nhà sản xuất có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. Do thuật ngữ “tỷ trọng lớn” không được định nghĩa trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO nên vẫn có nhiều tranh luận khi thuật ngữ này được dịch ra.
Ví dụ như trong Vụ kiện chống bán phá gía sản phẩm gia cầm của Argentina, Brazil đã kiện rằng do thuật ngữ “a major proportion” cũng giống như “the majority” (có nghĩa là hơn 50%) nên Argentina đã vi phạm quy định của WTO khi cho rằng ngành sản xuất nội địa là những nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm hơn 46% tổng sản phẩm nội địa và thu thập được những số liệu về thiệt hại liên quan đến các nhà sản xuất này.
Chống lại đơn kiện này, Argentina (bên bị đơn), Mỹ và EC (các bên thứ 3) lập luận rằng việc sử dụng thuật ngữ “a major proportion” khác với “the major proportion”, “the major proportion” không nhất thiết phải là một tỷ trọng lớn. Theo họ, “a major proportion” có nghĩa là một tỷ trọng có ý nghĩa quan trọng mà không nhất thiết phải là tỷ trọng lớn. Các lý do mà Hoa Kỳ và EC đưa ra cho việc dịch các thuật ngữ này là:
(i) Thực tế là các nhà soạn thảo ra điều khoản về ngành sản xuất nội địa đã nêu không rõ ràng về thuật ngữ “tỷ lệ 50%” trái với điều 5.4 (tỷ lệ yêu cầu là 50%). Điều 5.4 chỉ ra rằng họ dự định đưa ra một tiêu chuẩn khác.
(ii) Theo điều 5.4, một đơn kiện có thể được coi là đại diện cho ngành sản xuất nội địa thậm chí nếu các nhà sản xuất ủng hộ đơn này có sản lượng sản xuất ra chiếm dưới 50% tổng sản phẩm nội địa. Vì thế cho nên ở điều 4.1, tỷ trọng chủ yếu có thể dưới 50%.
(iii) Điều 4.1 chỉ đề cập đến khái niệm “ngành sản xuất nội địa” và không đặt ra bất kỳ trách nhiệm nào cho các thành viên.
Trong khi khước từ khiếu nại của Mỹ rằng điều 4.1 chỉ đơn thuần là một điều khoản nêu định nghĩa, thì Ban hội thẩm cũng tán thành quan điểm của Mỹ và EC rằng chúng ta được phép định nghĩa “ngành sản xuất nội địa” theo hướng là các nhà sản xuất trong nước mà chiếm giữ tỷ lệ quan trọng, có ý nghĩa trong tổng sản phẩm nội địa.
Vấn đề này cũng đang được đưa ra tranh luận trong các vòng đàm phán Doha. Thí dụ như Nhóm các nước chống bán phá giá đã đưa ra quy định về ngưỡng 50%. Theo nhóm này thì nếu được chấp thuận tỉ lệ này có thể tăng cường tính nhất quán trong việc xác định thiệt hại trong quy trình điều tra chống bán phá giá. Cho dù quy định nào được áp dụng thì Các quy định của Trung Quốc dường như vẫn phù hợp với các quy định của WTO vì tỷ lệ hơn 50% chắc chắn là một tỷ lệ lớn. Quy định này là một minh chứng cho sự rõ ràng về nghĩa trong các điều khoản của WTO.
Điểm phân tích thứ hai là trong khái niệm ngành sản xuất nội địa không đề cập đến phạm vi của các nhà sản xuất. Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép loại trừ các thành viên của mình ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa mà được gọi là “các nhà sản xuất có liên quan”, họ là các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu các sản phẩm được cho là bán phá giá. Hiệp định này đưa ra định nghĩa cho từ “có liên quan” mà sử dụng mối quan hệ với từ “kiểm soát” là tiêu chuẩn chính như sau:
Các nhà sản xuất được cho là có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu chỉ khi (a) một bên trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia; hoặc (b) cả hai bên đều bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một bên thứ 3; hoặc (c) cả hai trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát một bên thứ 3 miễn là có cơ sở để tin tưởng hay nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ như vậy khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan.
Theo các quy định của Trung Quốc, các cơ quan điều tra có thể loại trừ các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu sản phẩm được cho là bán phá giá. Tuy nhiên nếu loại trừ quá mức thì sẽ tạo ra sự thiếu nhất quán. Hiệp định của WTO cho phép loại trừ một số nhà sản xuất có liên quan nhất định được đề cập trong Hiệp định chống bán phá giá. Hiệp định này đặt ra 2 điều kiện để được xem là các nhà sản xuất có liên quan: (i) sự tồn tại mối liên hệ kiểm soát; và (ii) bất kỳ lý do nào để nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ đó sẽ khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan. Trong trường hợp mà việc loại trừ các nhà sản xuất có liên quan là một yêu cầu quan trọng thì trách nhiệm chứng minh liệu các điều kiện này có phù hợp trong một trường hợp cụ thể hay không thuộc về bên cố gắng loại trừ một số các nhà sản xuất nhất định ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa với lý do là có sự tồn tại của mối liên hệ kiểm soát. Có nghĩa là nếu một cơ quan điều tra đang cố gắng giới hạn ngành sản xuất nội địa bằng cách loại trừ một số các nhà sán xuất trong nước nhất định thì cơ quan này không những phải chỉ ra mối liên hệ kiểm soát tồn tại giữa các nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu mà còn phải đưa ra cơ sở cho sự nghi ngờ rằng mối liên hệ này sẽ dẫn tới các cách cư xử khác nhau của họ. Do vậy khi đưa ra quyết định về nhà sản xuất có liên quan nếu cơ quan điều tra bỏ qua việc xem xét điều kiện hoặc đẩy trách nhiệm chứng minh cho các nhà xuất khẩu hoặc cho bên đệ đơn thì họ đã vi phạm các quy định có liên quan của WTO.
MOFCOM có thể định nghĩa thuật ngữ “các nhà sản xuất có liên quan” theo nghĩa rộng hơn trong hiệp định của WTO. Điều này có thể xảy ra khi điều kiện thứ hai không được xem xét tới hoặc khi chuyển giao trách nhiệm chứng minh. Nếu được hiểu theo nghĩa rộng hơn thì bất kỳ nhà sản xuất nào mà không có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng có thể được xem như các nhà sản xuất có liên quan và loại trừ ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa. Trong trường hợp không có điều khoản định nghĩa cho thuật ngữ “ có liên quan” trong luật và các quy định của Trung Quốc (mà trái ngược với hiệp định của WTO) thì sẽ luôn luôn tiềm ẩn khả năng loại trừ quá mức và sự thiếu nhất quán với quy định của WTO.
Điểm thứ ba là điều khoản về ngành sản xuất nội địa vùng trong các quy định của Trung Quốc phù hợp với Hiệp định chống bán phá giá của WTO ở chỗ là cả hai đều điều chỉnh các yếu tố như nhau (ví dụ như tình hình kinh doanh và nhu cầu) được xem như các tiêu chí để nhận biết một ngành sản xuất nội địa độc lập. Trong thực tế mặc dù hiếm khi được MOFCOM sử dụng nhưng điều khoản này rất phù hợp khi được áp dụng ở một lãnh thổ rộng lớn như Trung Quốc. Theo các quy định của WTO, khi nhận biết một ngành sản xuất nội địa vùng thì thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng chủ yếu với các sản phẩm trong diện nghi vấn được bán để phục vụ cho việc tiêu dùng cuối cùng ở khu vực cụ thể. Các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc vẫn rất chú ý đến điều này khi đưa ra các quyết định.

b. Tiến hành điều tra

Theo các quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, trong vòng 60 ngày kể từ khi có đơn kiện, MOFCOM phải xem xét nội dung của đơn, chứng cứ và đơn có do ngành sản xuất nội địa hay đại diện của họ đưa ra hay không, đồng thời quyết định có tiến hành điều tra hay không. Trước khi đưa ra quyết định tiến hành điều tra MOFCOM phải thông báo quyết định này cho chính phủ của nước xuất khẩu. Trách nhiệm thông báo trước này phù hợp với quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO.
Trong trường hợp ngoại lệ, MOFCOM có thể tiếp tục tự mình tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá. Để làm được điều này, MOFCOM phải đưa ra các chứng cứ đầy đủ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó. Cơ chế tự điều tra và các điều kiện phải phù hợp với quy định chống bán phá giá của WTO.
Theo các quy định của Trung Quốc, MOFCOM phải kết thúc điều tra khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
(i) bên kiện rút đơn
(ii) không có đầy đủ chứng cứ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó.
(iii) biên độ phá giá dưới 2%
(iv) số lượng thực tế và ước tính của hàng nhập khẩu bị bán phá giá hoặc thiệt hại là không đáng kể
(v) các trường hợp khác mà MOFCOM cho là không thích hợp để tiếp tục điều tra chống bán phá giá.
Các căn cứ để kết thúc điều tra có vẻ phù hợp với các quy định chống bán phá giá của WTO trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định mức chuẩn biên độ phá giá tối thiểu là 2%. Tuy nhiên vẫn nảy sinh các tranh luận xung quanh tiêu chuẩn “số lượng nhập khẩu không đáng kể”. Theo quy định của WTO thì nếu lượng hàng hoá bán phá giá nhập khẩu từ một nước nhất định chiếm dưới 3% lượng nhập khẩu hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu thì lượng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá được coi là không đáng kể, và cơ quan điều tra phải chấm dứt quá trình điều tra. Trong Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc thì mức tiêu chuẩn lượng nhập khẩu 3% này được nêu ra trong Điều 9 về “đánh giá tích lũy về bán phá giá” , trong khi đó một mức tiêu chuẩn như vậy lại không được nêu ra trong Điều 27, điều khoản chung quy định về bất cứ trường hợp nào mà hàng hoá nhập khẩu không đáng kể. Về lý thuyết, người ta có thể nghi ngờ việc MOFCOM sử dụng mức tiêu chuẩn 3% khi đánh giá lượng hàng nhập khẩu bán phá giá là không đáng kể chứ không cộng dồn lượng hàng hoá bán phá giá được nhập khẩu từ nhiều nước. Do vậy nếu MOFCOM tiến hành bất cứ cuộc điều tra nào hoặc không chấm dứt điều tra thì sẽ là vi phạm các quy định của WTO cho dù lượng nhập khẩu hàng bán phá giá từ một nước cụ thể chiếm dưới 3% lượng hàng nhập khẩu tương tự ở Trung Quốc. Tuy nhiên trong thực tế MOFCOM đã chấp nhận mức chuẩn 3% như một mức ngưỡng để xác định lượng hàng nhập khẩu không đáng kể trong mọi trường hợp.
C. Xác định biên độ phá giá
Biên độ phá giá là mức độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường của hàng nhập khẩu. Do vậy làm thế nào để so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường là một vấn đề quan trọng trong việc xác định biên độ phá giá.
Theo Các quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc, MOFCOM có thể lựa chọn hai phương pháp so sánh sau: cách thứ nhất là so sánh giá thông thường bình quân trọng số với giá trung bình trong tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được (gọi là so sánh “A-to-A”); cách thứ hai là so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu dựa trên cơ sở các giao dịch (gọi là so sánh “T-to-T”). Do các mức giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua khác nhau, các khu vực và khoảng thời gian khác nhau nên rất khó để so sánh bằng những phương pháp này, khi đó có thể so sánh giữa giá thông thường bình quân và giá trong những giao dịch xuất khẩu đơn lẻ (gọi là so sánh “A-to-T). Các điều khoản này có được là do nỗ lực chi tiết hoá và cải thiện các điều khoản trong quy định cũ mà trong đó chỉ đơn giản là so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường một cách hợp lý và công bằng.
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong các trường hợp ngoại lệ các cơ quan điều tra có thể áp dụng phương pháp so sánh A-to-T. Nếu sử dụng phương pháp này thì cơ quan điều tra phải giải thích nguyên nhân tại sao không áp dụng các phương pháp thông thường như A-to-A hoặc T-to-T. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra có trách nhiệm phải chỉ ra một trường hợp ngoại lệ.
Theo Quy định của Trung Quốc thì các cơ quan điều tra có thể chấp nhận phương pháp A-to-T trong các trường hợp ngoại lệ nhưng không có trách nhiệm trong việc đưa ra nguyên nhân. Do vậy trong rất nhiều cuộc điều tra cơ quan điều tra đã đẩy trách nhiệm chỉ ra các trường hợp ngoại lệ sang các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất liên quan tới cuộc điều tra. Hơn nữa theo các quy định về chống bán phá giá của WTO thì Ban hội thẩm của WTO chỉ có thể xác định rằng thông tin mà cơ quan điều tra đưa ra có chính xác và các đánh giá của họ về sự việc đó có công bằng và khách quan hay không. Do vậy nếu WTO tranh luận về việc áp dụng phương pháp A-to-T của MOFCOM thì bên khiếu nại sẽ không những phải chỉ ra rằng không có trường hợp đặc biệt nào mà còn phải chỉ rằng đánh giá về sự việc của MOFCOM (tức là phán quyết của MOFCOM là không tồn tại trường hợp đặc biệt nào) là không công bằng và thiếu khách quan. Đây là trách nhiệm nặng nề cho các nhà xuất khẩu hoặc sản xuất liên quan đến cuộc điều tra chống bán phá giá. Nếu như MOFCOM áp dụng phương pháp A-to-T mà không giải thích tại sao các phương pháp so sánh thông thường không được áp dụng để làm làm rõ việc giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua, những khu vực và khoảng thời gian khác nhau, thì điều này là vi phạm các quy định của WTO.
Một vấn đề khác trong hệ thống luật của Trung Quốc là cho dù đã sửa đổi những Quy định cũ nhưng hệ thống luật này vẫn không chỉ rõ chúng ta phải xem xét những nhân tố điều chỉnh nào khi so sánh một cách công bằng giá thông thường và giá xuất khẩu. Xem xét vấn đề này, Hiệp định chống bán phá giá của WTO đã nêu rõ các nhân tố khác nhau về thời gian và cấp độ giao dịch khi so sánh. Hiệp định còn giải quyết vấn đề chuyển đổi tiền tệ và sự biến động của tỷ giá hối đoái. So sánh cũng cho thấy rằng Quy định cũ của Trung Quốc có một nguyên tắc khá đơn giản rằng “giá xuất khẩu và giá thông thường của một sản phẩm xuất khẩu sẽ được so sánh công bằng và hợp lý với điều kiện là các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng so sánh về giá. Các nhân tố này là gì và làm thế nào để xem xét chúng là những câu hỏi mà các cơ quan điều tra của Trung Quốc đang băn khoăn. Sự cân nhắc này có thể không phù hợp với các quy định của WTO.
D. Các cam kết về giá
Trong suốt quá trình điều tra chống bán phá giá, một nhà xuất khẩu bán phá giá hàng hóa có đề xuất với MOFCOM một cam kết nhằm thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hoá bán phá giá. Cam kết này được gọi là “cam kết về giá”. Điều khoản Cam kết về giá của Trung Quốc định nghĩa như sau:
Thuật ngữ “Cam kết về giá” được đề cập đến trong các quy định này là cam kết một cách tự nguyện của các nhà xuất khẩu và các nhà sản xuất với MOFCOM, họ hưởng ứng cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hóa đang được điều tra chống bán phá giá để được MOFCOM chấp thuận đình chỉ hoặc chấm dứt điều tra.
MOFCOM có thể đưa ra đề xuất cam kết về giá nhưng không được ép buộc các nhà xuất khẩu chấp thuận đề xuất đó. Thực tế là việc các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất không đưa ra một cam kết về giá hoặc không chấp thuận một cam kết về giá được đề xuất có thể làm ảnh hưởng đến sự chính xác của cuộc điều tra, việc xác định bán phá giá và biên độ phá giá. Nếu MOFCOM cho rằng đề xuất cam kết về giá do các nhà xuất khẩu đưa ra có thể chấp nhận được thì MOFCOM có thể quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra chống bán phá giá mà không cần áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay áp thuế chống bán phá giá. Quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra phải được công bố. Nếu MOFCOM không chấp thuận đề xuất cam kết về giá thì MOFCOM phải đưa ra được lý do không chấp thuận cho các nhà xuất khẩu có liên quan. Nếu cơ quan điều tra không có kết luận sơ bộ khẳng định có hiện tượng bán phá giá và việc bán phá giá này gây thiệt hại thì sẽ không có các cam kết về giá.
Cho dù cuộc điều tra bị đình chỉ hay kết thúc thì MOFCOM vẫn có thể tiếp tục điều tra chống bán phá giá và xác định thiệt hại theo yêu cầu của nhà xuất khẩu hoặc nếu chính cơ quan này thấy cần thiết phải như vậy. Căn cứ vào kết quả của cuộc điều tra, cam kết về giá sẽ tự động chấm dứt nếu kết luận cuối cùng là không có việc bán phá giá hoặc không có thiệt hại, nếu kết luận là ngược lại thì cam kết vẫn có hiệu lực. MOFCOM có thể yêu cầu một trong số các nhà xuất khẩu chấp thuận cam kết về giá định kỳ cung cấp thông tin và tài liệu liên quan tới việc thực hiện cam kết về giá và xác minh những thông tin và tài liệu này. Những yêu cầu của MOFCOM là cần thiết để giám sát tình hình thực hiện các cam kết này.
Bên cạnh những điều khoản này thì trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có rất nhiều các điều khoản chi tiết về quy trình cam kết về giá. Hầu hết các quy định này không mâu thuẫn với Hiệp định của WTO vì chúng điều chỉnh những vấn đề về quy trình mà Hiệp định không đề cập tới.
Tuy nhiên có hai khía cạnh mà Quy định của Trung Quốc không phù hợp với quy định của WTO. Thứ nhất là trong các quy định tạm thời về cam kết giá thì MOFCOM có thể chỉ chấp thuận các đề xuất đưa ra bởi các nhà xuất khẩu hợp tác hiệu quả trong suốt quá trình điều tra. Theo Hiệp định của WTO, cam kết về giá đưa ra không nhất thiết phải được chấp thuận nếu cơ quan điều tra cho rằng sự chấp thuận này là không hợp lý hoặc vì lí do “chính sách chung” và khi từ chối thì cơ quan điều tra phải đưa ra lý do cho các nhà xuất khẩu và cho họ cơ hội đóng góp ý kiến.
Thiếu đi một chuẩn mực cho việc xác định rằng thế nào là “hợp tác hiệu quả” và không có sự áp dụng phù hợp cho các trường hợp thực tế nên sẽ rất khó khăn để nhận biết rằng lý do để từ chối một đề xuất cam kết về giá là thiếu “sự hợp tác hiệu quả” có phù hợp với quy định của WTO hay không. Thêm vào đó nếu cơ quan điều tra của Trung Quốc không đưa ra cho các nhà xuất khẩu lý do từ chối hoặc không cho họ cơ hội để đưa ra ý kiến, thì sẽ càng vi phạm các quy định của WTO. Trong văn bản trả lời các câu hỏi của Mexico tại cuộc họp của Uỷ ban về thực tiễn chống bán phá giá, Trung Quốc đã giải thích rằng nếu một công ty không hợp tác trong quá trình điều tra thì sẽ rất khó khăn để xác định rằng liệu cam kết về giá của công ty đó có được giám sát hiệu quả hay không. Vì vậy Trung Quốc thấy rằng sẽ là không phù hợp nếu chấp thuận những đề xuất như vậy. Tuy nhiên lý do này đưa ra là không thuyết phục do không có sự tương quan cần thiết giữa cách cư xử của các công ty trong suốt quá trình điều tra và quá trình thực hiện cam kết. Hơn nữa điều 8.6 của Hiệp định chống bán phá giá cũng đã đưa cho cơ quan điều tra chống bán phá giá các công cụ giám sát hữu hiệu đối với các nhà xuất khẩu không hợp tác, chẳng hạn như quyền thu thập thông tin từ các nhà xuất khẩu và áp dụng các biện pháp tạm thời, sử dụng thông tin tốt nhất sẵn có trong trường hợp có sự vi phạm cam kết.
Thứ hai là theo Quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, nếu các nhà xuất khẩu vi phạm các thỏa thuận về cam kết giá thì cơ quan điều tra của Trung Quốc có thể tiếp tục cuộc điều tra dựa trên các thông tin sẵn có tốt nhất và quýêt định áp dụng các biện pháp tạm thời và áp thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố lên các sản phẩm nhập khẩu trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời, miễn là trước khi vi phạm cam kết các sản phẩm nhập khẩu không bị áp thuế có hiệu lực hồi tố. Quy định “áp dụng hiệu lực hồi tố 90 ngày” này về cơ bản là phù hợp với các quy định của WTO.
Các Quy định tạm thời về cam kết giá quy định thêm rằng nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức thấp hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ, thì khoản chênh lệch phải được hoàn lại. Điều khoản này phù hợp với nguyên tắc bồi hoàn theo Hiệp định chống bán phá giá.
Tuy nhiên vấn đề nghiêm trọng về sự thiếu nhất quán với các quy định của WTO là ở đoạn sau của quy định này cho biết “nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ thì khoản chênh lệch này vẫn bị đánh thuế.”
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong trường hợp vi phạm cam kết về giá thì cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời với nguồn thông tin sẵn có tốt nhất. Trong những trường hợp này, mức thuế chính thức áp dụng cho các sản phẩm tiêu dùng không quá 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp tạm thời phải phù hợp với Hiệp định. Một điều khoản khác của WTO quy định rằng “nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn thuế tạm thời đã thu thì mức chênh lệch sẽ không phải nộp bổ sung”. Điều khoản này không có ngoại lệ khi vi phạm cam kết về giá.
Từ các quy định này của WTO, có thể kết luận rằng trong trường hợp vi phạm cam kết về giá, bất kỳ khoản thu bổ sung nào đối với các khoản chênh lệch (nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức thuế tạm thời đã thu) sẽ không được coi là khoản thuế chính thức phù hợp với Hiệp định của WTO. Việc thu bổ sung như vậy sẽ dẫn tới sự vi phạm Hiệp định của WTO.
Quả thực là rất khó tìm ra một chính sách nào phù hợp để thu những khoản chênh lệch như vậy từ nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất vi phạm cam kết. Thật không đúng khi các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất vi phạm cam kết bị ngăn cản làm việc này do việc truy thu thuế có hiệu lực hồi tố. Các nhà xuất khẩu và sản xuất biết rằng trong trường hợp vi phạm họ phải phụ thuộc vào sự bất lợi của những thông tin sẵn có và vì vậy không có sự truy thu thuế có hiệu lực hồi tố nào có thể làm họ nản lòng thêm. Nói cách khác việc ngay lập tức áp mức thuế tạm thời trên cơ sở các thông tin sẵn có tốt nhất là đủ để chống lại việc vi phạm các cam kết. Chúng ta chỉ nên áp dụng thêm biện pháp truy thu thuế có hiệu lực hồi tố đối với các nhà xuất khẩu và sản xuất vi phạm cam kết mà hầu như không thể bào chữa được.
Kết luận
Hệ thống luật pháp hiện đại của Trung Quốc từ sau khi bắt đầu cải cách năm 1978 đã được hơn 25 năm. Các quy định khắc phục thương mại của Trung Quốc chỉ bắt đầu hình thành sau khi WTO được thành lập. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của mình thông qua những sự thay đổi về luật pháp và cơ cấu tổ chức. Trong khi sự cải thiện tổng thể hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng thì vẫn thiếu các định nghĩa về một số thuật ngữ luật chủ yếu và một số vấn đề về luật vẫn cần được giải quyết và làm rõ. Tất nhiên sự im lặng trong luật và quy định của Trung Quốc về bản chất là không vi phạm các nghĩa vụ của WTO. Ở nhiều phần trong các luật và quy định của Trung Quốc như Điều 142 phần Các nguyên tắc chung của Luật dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Điều 9 trong Quy định về các vụ kiện hành chính trong thương mại quốc tế, nêu ra rằng các luật trong nước của Trung Quốc phải được hiểu theo cách phù hợp nhất với các giao ước quốc tế. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc thường xuyên thể hiện rằng họ rất sẵn lòng tuân theo các quy định của WTO khi không có điều khoản tương ứng nào ở các luật trong nước. Theo tuyên bố về nguyên tắc hiểu các luật trong nước và cách diễn đạt ý chí chính trị, Trung Quốc sẽ tiếp tục làm sáng tỏ và cải thiện các quy định thương mại.
Dường như với sự thành lập của MOFCOM, Trung Quốc đã hoàn thành các cải cách về tổ chức trong hệ thống các giải pháp khắc phục thương mại. Như một tổ chức mới chịu trách nhiệm về các giải pháp khắc phục thương mại, Bộ sẽ chấp thuận áp dụng các quy định mang tính thủ tục thay thế các quy định tạm thời do MOFCOM và SETC ban hành. Trong quá trình này, các vấn đề được đưa ra trong bài viết này sẽ phải được giải quyết thích đáng để hệ thống luật minh bạch hơn và phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế.
Trên cơ sở quy mô của nền kinh tế Trung Quốc và tầm ảnh hưởng của các chính sách khắc phục thương mại của Trung Quốc, vấn đề này là thiết yếu và không chỉ tác động tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng nội địa Trung Quốc mà còn tới hầu hết cộng đồng kinh doanh trên thế giới.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CÁC CAM KẾT TRONG WTO TỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

BÙI HƯƠNG QUẾ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Sau 15 năm đàm phán căng thẳng, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/12/2001. Kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này, đầu tư và thương mại của Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm đạt 9,5% (năm 2006 ước đạt 10,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đứng hàng thứ ba. Trung Quốc cũng đã trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới.
Trong lĩnh vực pháp luật, việc gia nhập WTO đã tác động lớn đến hệ thống pháp luật và thể chế của Trung Quốc. Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc đã tiến hành một đợt rà soát pháp luật toàn diện. Hàng nghìn văn bản pháp luật, Bgiải thích pháp luật của toà án có liên quan tới WTO đã được đối chiếu, rà soát với các cam kết của WTO. Trung Quốc cũng đã ban hành rất nhiều luật có liên quan tới thương mại như các luật có liên quan tới công ty, phá sản, ngân hàng, thể chế tài chính. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp và bổ trợ tư pháp của Trung Quốc cũng đã được cải tổ theo xu hướng hiện đại. Số lượng cán bộ pháp luật ở Trung Quốc cũng tăng nhanh trong thời gian vừa qua đặc biệt là luật sư. Số lượng luật sư của Trung Quốc dự kiến sẽ tăng lên khoảng 200.000 vào năm 2010 so với 175.000 vào năm 1999.
Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp Trung Quốc, bài viết dưới đây xin trình bày về những cam kết chính của Trung Quốc đối với WTO, trên cơ sở đó sẽ đưa ra những đánh giá và bình luận về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc. Những kinh nghiệm của Trung Quốc sau 5 năm thực hiện cam kết gia nhập WTO sẽ là bài học quý báu cho quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
I. Cam kết của Trung Quốc với WTO
WTO là hệ thống thương mại đa biên nhằm nâng cao sự thịnh vượng của các quốc gia thành viên thông qua việc cắt giảm các hạn chế của Chính phủ đối với thương mại. Các nghĩa vụ trong WTO bao trùm lên các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, minh bạch hoá và quyền khiếu kiện với 2 nghĩa vụ chính: (a) nghĩa vụ tiếp cận thị trường (các nước thành viên cam kết mở cửa thị trường trong nước cho các hàng hoá và dịch vụ cụ thể của các nước thành viên khác) (b) nghĩa vụ quy tắc, là những quy tắc của WTO để điều hành các  hoạt động thương mại quốc tế. Các cam kết về tiếp cận thị trường ở các nước thành viên có thể khác nhau và được đàm phán nhưng quy tắc ứng xử của WTO là thống nhất và việc thay đổi nó không hề dễ dàng. Các quy tắc của WTO khá rộng không chỉ bao trùm lên các biện pháp biên giới ví dụ như thuế quan và hạn chế nhập khẩu mà còn bao gồm các biện pháp nội địa ảnh hưởng tới thương mại ví dụ như thuế và quy định nội địa, tiêu chuẩn về kỹ thuật và sức khoẻ, trợ cấp chính phủ, yêu cầu về đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc thực thi các nghĩa vụ WTO sẽ được đảm bảo thực thi thông qua cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này có thẩm quyền bắt buộc và quyết định của cơ quan này có giá trị ràng buộc đối với các bên. Nếu bên thua kiện không thực hiện các phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp WTO, thì WTO cho phép được áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. WTO cũng yêu cầu các nước thành viên phải thông báo các hoạt động thương mại và rà soát thương mại định kỳ.

Là một nước đàm phán gia nhập, Trung Quốc có nghĩa vụ thực hiện các cam kết về tiếp cận thị trường và tuân thủ các quy định của WTO. Phạm vi và mức độ cam kết tiếp cận thị trường của Trung Quốc khá rộng và được cho là cam kết cao nhất trong lịch sử WTO. Đối với thương mại hàng hoá, Trung Quốc đã cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan ở mức mà rất ít nước có thể thực hiện được. Đối với thương mại dịch vụ, các cam kết của Trung Quốc còn rộng hơn so với các cam kết mà một số nhóm nước trong đó có các nước phát triển đưa ra trong vòng đàm phán Uruguay. Mức độ tự do hoá thương mại ở Trung Quốc được cho là đáng khích lệ trong điều kiện Trung Quốc là một nước đang phát triển. Có thể nói rằng các cam kết của Trung Quốc đối với WTO được chia thành 2 loại chính. Loại thứ nhất là các nghĩa vụ vượt quá yêu cầu của các quy định chung của WTO. Các nghĩa vụ này được gọi là WTO cộng. Các nghĩa vụ WTO cộng liên quan tới các điều kiện về kinh tế thị trường, đầu tư nước ngoài và quản lý trong nước. Loại thứ hai liên quan tới vấn đề về đối xử của các quốc gia khác với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Các quy định theo loại này cho phép các thành viên nhập khẩu loại bỏ các nguyên tắc tiêu chuẩn của WTO để sử dụng các biện pháp thương mại như phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với các hàng hoá của Trung Quốc trên cơ sở có sự phân biệt đối xử. Trong khi một số quy định có thời hạn bãi bỏ thì một số quy định lại tồn tại vĩnh viễn. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã đồng ý không nhận các ưu đãi về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển theo Hiệp định của WTO. Tất cả các cam kết về thị trường và các nghĩa vụ theo quy định của WTO của Trung Quốc được đảm bảo thực thi thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Để đảm bảo việc thực hiện các cam kết mở rộng của Trung Quốc, một cơ chế rà soát định kỳ đã được thiết lập nhằm đảm bảo sự tuân thủ các cam kết của Trung Quốc. Theo cơ chế này, thực tiễn áp dụng của Trung Quốc cũng là đối tượng để các quốc gia thành viên rà soát hàng năm trong thời gian 8 năm kể từ sau khi gia nhập và rà soát lần cuối sau 10 năm. Cơ chế rà soát định kỳ hoàn toàn tách biệt với rà soát chính sách thương mại thường xuyên do WTO thực hiện đối với các nước thành viên.
Tóm lại, Trung Quốc phải thực hiện các nghĩa vụ cao hơn nhiều so với bất kỳ thành viên nào của WTO. Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc là điều ước quốc tế đầu tiên có những điều khoản phân biệt đối xử. Nhưng tại sao mà Chính phủ Trung Quốc lại chấp nhận thực hiện các nghĩa vụ nặng nề này trong hoàn cảnh Trung Quốc vẫn đang được hưởng thuế MFN của WTO đối với hầu hết các đối tác thương mại chính. Hơn thế nữa, quy chế thành viên WTO cũng sẽ không mang lại khả năng tiếp cận thị trường nhiều hơn cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc? Động cơ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đưa ra quyết định như vậy vẫn còn là ẩn số nhưng một điều rõ ràng rằng chính phủ Trung Quốc đang muốn khai thác nguồn lực bên ngoài, sự gia tăng cạnh tranh của các nhà đầu tư nước ngoài khi cam kết về mở cửa thị trường được nới rộng. Đồng thời các quy tắc đa phương của WTO sẽ giúp cho việc chuyển dịch trong khu vực kinh tế nhà nước của nền kinh tế. Để đạt được mục tiêu chiến lược này, Chính phủ Trung Quốc đã sẵn sàng chấp nhận sự đối xử phân biệt và không công bằng như là cái giá của việc gia nhập. Nói một cách khác, việc gia nhập WTO là quyết định mang tính chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhằm tự do hóa hơn nữa nền kinh tế của Trung Quốc. Tăng trưởng nhảy vọt trong thương mại và đầu tư kể từ khi gia nhập chính là kết quả trực tiếp của quá trình tự do hóa này.
II. Tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc
2.1. Tác động đến Hiến pháp
WTO là tổ chức quốc tế đầu tiên có thẩm quyền can thiệp vào các chính sách nội địa của các nước thành viên mà Trung Quốc gia nhập. WTO cũng là tổ chức quốc tế đầu tiên mà Trung Quốc gia nhập có cơ chế giải quyết tranh chấp ràng buộc với tất cả các nước thành viên. Vì thế, việc gia nhập WTO tạo ra rất nhiều thách thức mới cho hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Một trong những vấn đề đầu tiên mà hệ thống pháp luật Trung Quốc gặp phải là vị trí pháp lý của các Hiệp định WTO đối với pháp luật trong nước. Hiến pháp Trung Quốc không đề cập tới vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Trung Quốc. Câu hỏi được đặt ra là các Hiệp định của WTO có được áp dụng trực tiếp ở Trung Quốc mà không cần phải chuyển hoá hay không? Trước khi gia nhập WTO vấn đề này cũng không được chú ý lắm do Trung Quốc chưa bao giờ phải đối mặt với nhiều nghĩa vụ như trong WTO. Sau rất nhiều tranh luận khoa học, cuối cùng cũng đi đến một một thống nhất là các Hiệp định WTO không được áp dụng trực tiếp theo luật Trung Quốc mà thay vào đó là các quy định của Hiệp định được chuyển hóa vào pháp luật trong nước. Mặc dù các Hiệp định của WTO không có hiệu lực áp dụng trực tiếp theo pháp luật của Trung Quốc nhưng Trung Quốc cũng vẫn bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ với WTO giống như pháp luật quốc tế. Nếu Trung Quốc không thực thi các nghĩa vụ này thì có thể dẫn đến những trừng phạt theo luật của WTO mà không cần quan tâm tới vị trí của các nghĩa vụ WTO theo pháp luật trong nước.
Đối với hệ thống văn bản pháp luật mà đầu tiên là Hiến pháp, việc gia nhập WTO cũng đã ảnh hưởng đến Hiến pháp do các nghĩa vụ WTO cộng mà Trung Quốc cam kết có một số nghĩa vụ tác động đến các khía cạnh cơ bản của nền kinh tế. Những cam kết của Chính phủ bao gồm: (a) để thị trường điều chỉnh giá của hàng hoá và dịch vụ trừ trường hợp danh mục một số hàng hoá cụ thể [1]; (b) cho phép trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập, tất cả công ty bao gồm cá nhân và pháp nhân nước ngoài đầu tư hoặc đăng ký ở Trung Quốc được tham gia hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu và hạn chế hoạt động kinh doanh của nhà nước đối với danh mục cụ thể [2]; (c) không ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các quyết định thương mại của các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trừ những trường hợp phù hợp với các Hiệp định của WTO. Tất cả các cam kết đều đòi hỏi Chính phủ Trung Quốc phải duy trì các điều kiện cần thiết cho việc phát triển nền kinh tế thị trường.
Cam kết nền kinh tế thị trường vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật trong nước của Trung Quốc. Hiến pháp Trung Quốc quy định nhà nước Trung Quốc tiến hành quản lý kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm này về mặt pháp lý chưa xác định cụ thể. Tuy nhiên có thể thấy rằng các yếu tố của nền kinh tế thị trường gần như là vắng mặt khi nhà nước can thiệp, hoạt động định giá và hầu hết việc quản lý giá đã bị dỡ bỏ trước khi Trung Quốc gia nhập WTO. Chính việc gia nhập WTO đã giúp cho Chính phủ Trung Quốc hạn chế can thiệp vào xây dựng giá. Cũng chính việc gia nhập WTO cũng giúp cho Trung Quốc chấm dứt việc quản lý trực tiếp đối với các hoạt động ngoại thương. Mặc dù vào thời điểm gia nhập, hệ thống ngoại thương của Trung Quốc đã được phân cấp, chính phủ chỉ nắm giữ quyền phân phối quyền thực hiện hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Trung Quốc cuối cùng cũng đã bỏ việc kế hoạch hoá trung ương khi chính phủ thực hiện thực thi các cam kết của WTO nhằm tự do hoá quyền thương mại trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập. Đối với các doanh nghiệp nhà nước đang tiếp tục độc quyền trong một số lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, Hiến pháp chỉ công nhận quyền quản lý tự chủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên các cam kết của WTO buộc Chính phủ không được can thiệp vào việc quản lý của bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào. Mặc dù  trên thực tế để kiểm tra việc thực hiện các cam kết của Trung Quốc là rất khó nhưng dù sao chính phủ cũng đã bị ràng buộc về mặt pháp lý. Điều này trước đây chưa từng đề cập trong pháp luật Trung Quốc. Tóm lại với cam kết về nền kinh tế thị trường Hiến pháp và một số các văn bản pháp luật trong nước của Trung Quốc đã phải sửa đổi và bổ sung nhằm đảm bảo sự phù hợp với cam kết.
2.2. Tác động đến các văn bản pháp luật về thương mại
a) Tác động đến các văn bản pháp luật về thương mại quốc tế
Nhằm tự do hoá chế độ thương mại quốc tế và có được chế độ phù hợp với yêu cầu của WTO, Trung Quốc cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, mở rộng một số lĩnh vực dịch vụ quan trọng nhất cho nhà đầu tư nước ngoài. Về mặt thể chế, chính phủ Trung Quốc đã chuyển dịch dần từ việc quản lý trực tiếp đối với thương mại sang vai trò của người điều chỉnh. Trên phương diện pháp lý, những luật chính điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế bao gồm luật ngoại thương, luật hải quan, luật và các quy định về tiêu chuẩn sức khoẻ và kỹ thuật, sở hữu trí tuệ và thủ tục hành chính đều được sửa đổi để đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu của WTO. Kết quả là, Trung Quốc hiện nay đang duy trì một chế độ ngoại thương tự do hơn so với một số nước đang phát triển khác. Ngoài ra, để bảo hộ nền sản xuất trong nước, Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp trừng phạt thương mại và các biện pháp phi thuế quan khác trong thương mại.
Luật Ngoại thương năm 1994 được sửa đổi, bổ sung năm 2004 được coi là bước phát triển quan trọng nhất làm thay đổi chế độ thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trung Quốc cam kết cho phép tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế trừ danh mục một số mặt hàng cụ thể là đối tượng của kinh doanh nhà nước trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập. Luật sửa đổi nhằm thực thi các cam kết có hiệu lực vào ngày 01/07/2004, 6 tháng trước lộ trình. Việc sửa đổi này đã thay thế hệ thống cấp phép bằng hệ thống đăng ký khi thực hiện các hoạt động ngoại thương ở Trung Quốc. Theo hệ thống mới, bất kỳ cá nhân hay thể nhân trong nước hay nước ngoài muốn tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá hoặc công nghệ ở Trung Quốc chỉ phải hoàn tất các thủ tục đăng ký nhất định với Bộ Thương mại Trung Quốc. Tài liệu đăng ký chủ yếu nhằm mục đích xác nhận và Bộ Thương mại Trung Quốc phải hoàn tất thủ tục đăng ký trong vòng năm ngày kể từ khi nhận được đầy đủ giấy tờ đăng ký. Có thể nói hệ thống thương mại này là một ví dụ của việc chuyển đổi vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Trung Quốc – Chính phủ chuyển từ vai trò người điều hành trực tiếp các hoạt động ngoại thương sang vai trò người điều chỉnh hệ thống thương mại dựa trên cơ sở thị trường. Việc tự do hoá quyền thương mại gắn liền với lĩnh vực phân phối nội địa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Xin xem thêm phần dưới)
b) Tác động đến các văn bản pháp luật về thuế quan, hạn ngạch và thương mại nhà nước
Theo cam kết về tiếp cận thị trường với WTO, Trung Quốc chịu mức thuế ràng buộc rất thấp. Năm 2005, tỷ lệ MFN trung bình cho nhập khẩu được áp dụng là 9,7% so với mức 39,5% vào năm 1994. Đối với xuất khẩu, Trung Quốc cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu trừ một số hàng hoá cụ thể. Hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt. Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã duy trì việc hạn chế số lượng chủ yếu sử dụng hạn ngạch, cấp phép, và hoạt động thương mại nhà nước. Sau khi gia nhập, Trung Quốc đã xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu, giảm các dòng thuế là đối tượng của cấp phép đến một nửa. Trong khi mức độ hoạt động thương mại nhà nước không có nhiều thay đổi nhưng hoạt động của họ trở nên minh bạch hơn. Hàng hoá là đối tượng của kinh doanh nhà nước đã được liệt kê trong nghị định thư gia nhập và việc sửa đổi danh mục hàng hoá cũng như các doanh nghiệp được quyền kinh doanh những mặt hàng đó được Bộ Thương mại đăng tải công khai và thông báo cho WTO.
c) Tác động đến các văn bản pháp luật về tiêu chuẩn kỹ thuật và sức khỏe
Các hàng rào phi thuế quan mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng là các tiêu chuẩn kỹ thuật và sức khoẻ đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Tiêu chuẩn kỹ thuật được tạo ra nhằm mục đích đảm bảo chất lượng và độ an toàn của sản phẩm hoặc bảo vệ con người, động thực vật hoặc môi trường. Tuy nhiên các tiêu chuẩn kỹ thuật này lại tạo ra hàng rào thương mại nhằm hạn chế việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu do chúng được áp dụng tuỳ tiện và phân biệt đối xử. Vì lý do này mà WTO yêu cầu các quy định về kỹ thuật và sức khỏe trong nước không được tạo ra những hạn chế thương mại, nhằm đảm bảo mục tiêu chính đáng và không được áp dụng với cách thức có thể dẫn đến sự tuỳ tiện và phân biệt đối xử giữa các nước. Các thành viên WTO có nghĩa vụ sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hiện có và liên quan làm cơ sở cho các tiêu chuẩn của quốc gia mình. Các quy định về tiêu chuẩn cụ thể được quy định tại Hiệp định của WTO về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS).
Sau khi gia nhập, Trung Quốc đã sửa đổi một số luật và quy định liên quan nhằm đảm bảo sự phù hợp với WTO và cơ cấu lại các cơ quan trung ương chịu trách nhiệm quản lý và thực thi các quy định về kỹ thuật và sức khỏe. Hoạt động thiết lập và áp dụng tiêu chuẩn cũng ngày càng được các đối tác thương mại của Trung Quốc quan tâm. Hiện nay, phần lớn các tiêu chuẩn của Trung Quốc không dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Có rất nhiều lời phàn nàn về thủ tục rườm rà, tốn kém, phiền toái cho việc đăng ký sản phẩm, cấp phép và chứng nhận sản phẩm nhằm hạn chế việc xuất khẩu và nhập khẩu. Hơn thế nữa, trong những năm gần đây Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn của riêng mình trong các lĩnh vực mà thế giới đã có những tiêu chuẩn được công nhận từ lâu, một ví dụ điển hình là tiêu chuẩn an ninh WAPI của Trung Quốc cho mạng không dây LAN.
d) Tác động đến các văn bản pháp luật về các biện pháp thương mại
Trung Quốc trong thời gian vừa qua sử dụng khá nhiều các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước khỏi sự cạnh tranh nước ngoài. Chống bán phá giá (ví dụ bán sản phẩm ra nước ngoài với giá thấp hơn so với giá trung bình) và việc trợ cấp của chính phủ được cho là những hoạt động thương mại không công bằng. WTO cho phép các thành viên áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm phá giá và trợ cấp nếu phát hiện ra là chúng tạo ra hoặc đe doạ thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp trong nước. Hơn thế nữa, WTO cho phép các nước thành viên tiến hành các biện pháp bảo hộ (thuế quan và hạn ngạch) chống lại việc nhập khẩu khi có sự đột biến trong nhập khẩu mà có thể đe doạ hoặc gây thiệt hại cho nhà sản xuất trong nước và thậm chí khi không có hoạt động thương mại công bằng liên quan. Quy định của WTO đối với các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và bảo hộ rất phức tạp và đã có rất nhiều các tranh chấp WTO liên quan tới các biện pháp thương mại đã xảy ra.
Trung Quốc đã ban hành quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đầu tiên vào năm 1997, sau đó đã được huỷ bỏ bởi hai quy định riêng rẽ về các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng và quy định về bảo hộ đầu tiên vào năm 2001. Những quy định này nhìn chung đã tuân thủ các tiêu chuẩn của WTO nhưng các điều khoản ít chi tiết hơn so với các Hiệp định liên quan của WTO. Theo những quy định này, Bộ Thương mại được giao là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt động điều tra có liên quan và đưa ra quyết định về các biện pháp thương mại.
Kể từ khi tiến hành điều tra chống bán phá giá đầu tiên vào năm 1997, Trung Quốc đã trở thành nước đứng đầu trong việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá trên thế giới. Trong suốt 4 năm đầu tiên kể từ khi gia nhập, Trung quốc đã thực hiện 103 cuộc điều tra chống bán phá giá và thực hiện các biện pháp thương mại trong 68 vụ. Trung Quốc trở thành nước sử dụng các biện pháp chống bán phá lớn thứ ba sau Ấn Độ và Hoa Kỳ. Hầu hết các cuộc điều tra tập trung vào các công ty đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu sau đó là Nga, Đài Loan, Ấn Độ và một số nước khác. Tuy nhiên đáng chú ý là các bị đơn nước ngoài đã giành thắng lợi một phần hoặc toàn bộ trong hơn 40% các vụ kiện. Cho đến nay, Trung Quốc mới chỉ sử dụng một lần cơ chế tự vệ để đáp lại thuế tự vệ của Hoa Kỳ đối với thép vào năm 2002. Gần đây, Trung Quốc chưa tiến hành một cuộc điều tra đối kháng nào.
Cùng với các biện pháp về chống bán phá giá, đối kháng và tự vệ, Luật Ngoại thương cho phép chính phủ thực hiện các biện pháp thương mại khác dựa trên kết quả điều tra thương mại. Các điều tra thương mại bao gồm các hàng rào thương mại ở các nước khác, hạn chế phân biệt đối xử trong thương mại của các nước khác chống lại Trung Quốc, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của thể nhân Trung Quốc ở các nước, các hoạt động cạnh tranh không bình đẳng gây thiệt hại cho trật tự ngoại thương, và các hoạt động thương mại khác ảnh hưởng tới lợi ích an ninh quốc gia.
Khuynh hướng bảo hộ bằng các biện pháp thương mại trong luật và thực tiễn ở Trung Quốc là điều hiển nhiên. Khi hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị giảm đi một cách đáng kể thì các ngành công nghiệp trong nước sẽ phải tìm kiếm các hình thức bảo hộ thông qua việc sử dụng những biện pháp thương mại mang tính hiếu chiến. Bên cạnh đó, bản thân Trung Quốc cũng là nạn nhân của các biện pháp thương mại này. Trong nhiều năm nay, Trung Quốc trở thành mục tiêu của các vụ kiện về chống bán phá giá. Mỹ, Châu Âu và một số đối tác thương mại coi Trung Quốc là một nước có nền kinh tế phi thị trường và Trung Quốc trở thành đối tượng của hàng loạt vụ kiện chống bán phái giá bởi vì quy chế kinh tế phi thị trường cho phép các nước nhập khẩu được loại bỏ giá trong nước của Trung Quốc và thay vào đó sử dụng giá của nước thứ ba như là cơ sở để quyết định giá thông thường cho sản phẩm nhập khẩu, chủ yếu dẫn đến việc phát hiện bán phá giá của các nhà sản xuất Trung Quốc và áp dụng mức thuế bán phá giá cao hơn so với hàng của Trung Quốc. Trung Quốc cũng tỏ ra thất vọng khi việc gia nhập WTO không chấm dứt được tình trạng này. Nghị định thư gia nhập của Trung Quốc cho phép các nước thành viên tiếp tục đối xử với Trung Quốc là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 15 năm trong các vụ kiện về chống bán phá giá và một giai đoạn không xác định trong các vụ kiện về đối kháng. Hơn thế nữa, trái với các yêu cầu rõ ràng của WTO, các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử, nghị định thư gia nhập cho phép các nước nhập khẩu có thể loại bỏ sản phẩm của Trung Quốc vì lý do hạn chế nhập khẩu. Các biện pháp tự vệ chống lại sản phẩm của Trung Quốc chỉ được sử dụng trong vòng 12 năm, đối với hàng dệt may là vào cuối năm 2008.
e) Tác động đến các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ
Việc phát triển luật sở hữu trí tuệ của Trung Quốc có liên hệ mật thiết với việc phát triển ngoại thương và đầu tư. Kể từ khi Luật nhãn hiệu hàng hoá được ban hành năm 1982, Trung Quốc đã ban hành rất nhiều luật và quy định liên quan tới hàng loạt đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.
Hiệp định của WTO về các khía cạnh thương mại có liên quan tới sở hữu trí tuệ (TRIPS) cung cấp khung pháp lý tổng thể cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định TRIPS đưa ra thủ tục nhất định về dân sự, hành chính, hình sự và những biện pháp mà các thành viên WTO cần phải thực hiện để đảm bảo quyền của chủ sở hữu theo pháp luật trong nước. Nếu không tuân thủ TRIPS, quyền lợi của các bên sẽ được đảm bảo thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và dẫn đến các trừng phạt theo thẩm quyền của WTO.
Để đảm bảo sự tuân thủ với TRIPS, Trung Quốc đã nỗ lực cả về pháp luật thực định và cả về thể chế. Về mặt lập pháp, các luật chính về sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi bao gồm luật sáng chế năm 2000, luật nhãn hiệu hàng hoá năm 2001, luật bản quyền năm 2001. Cũng trong năm 2001, rất nhiều các quy định được ban hành bao gồm nghị định về bảo vệ phần mềm máy tính, thiết kế bố trí mạch tích hợp và giống vật nuôi mới. Cùng với các chế tài về hành chính và dân sự, một số tội danh về vi phạm sở hữu trí tuệ cũng được bổ sung vào bộ luật hình sự. Về mặt thể chế, hệ thống các cơ quan nhà nước đã được thiết lập để quản lý và thực thi luật sở hữu trí tuệ bao gồm một cơ quan xét xử đặc biệt phụ trách lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong Toà án nhân dân. Kết quả của những nỗ lực này, đến nay Trung Quốc được coi là đã có một khuôn khổ pháp lý về cơ bản phù hợp với WTO trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Mặc dù có một khuôn khổ pháp lý phù hợp với WTO, việc vi phạm sở hữu trí tuệ vẫn khá phổ biến ở Trung Quốc. Các đối tác thương mại chính của Trung Quốc nhận xét đó là do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương chịu trách nhiệm về việc thực thi sở hữu trí tuệ; các hình phạt về hình sự, hành chính và dân sự chưa tạo ra sự ngăn chặn thích đáng; cán bộ nhà nước chưa được đào tạo đầy đủ. Mặc dù trong những năm gần đây, Chính phủ đã tăng cường nỗ lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn rất yếu kém. Đó cũng chính là vấn đề hàng đầu mà các công ty nước ngoài đang kinh doanh tại Trung Quốc phàn nàn.
2.3. Tác động đến các văn bản pháp luật về minh bạch hóa
Trung Quốc đã nỗ lực ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy quá trình minh bạch hóa, đáng chú ý là “Luật cho phép hành chính” có hiệu lực vào ngày 01/7/2004. Luật này đã đưa ra cơ sở pháp luật, cơ quan và thủ tục cho việc cấp phép hành chính nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất hơn các biện pháp này và vì thế có thể thúc đẩy minh bạch hóa. Cụ thể, Điều 5 quy định các điều khoản về cấp phép hành chính phải được ban hành trước khi chúng được sử dụng để cấp phép, trừ trường hợp có liên quan tới bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh hoặc bí mật cá nhân, các kết quả giải quyết việc cấp phép phải được công bố công khai. Điều 40 và Điều 61 cho phép công chúng có quyền biết các quyết định cấp phép hành chính của các cơ quan hành chính và biên bản cấp phép của cá nhân được cấp phép. Điều 30 quy định cơ quan hành chính phải công bố công khai tại trụ sở của mình tất cả các vấn đề có liên quan tới việc áp dụng và các biện pháp cấp phép bao gồm cả cơ sở của việc ấp phép, yêu cầu, số lượng, thủ tục, thời hạn và loại tài liệu liên quan tới việc cho phép cùng với mẫu đơn đăng ký. Cùng thời điểm này, việc rà soát trên cả nước đã được thực hiện nhằm sàng lọc các thủ tục cấp phép hiện có để tiêu chuẩn hóa hoạt động của các cơ quan hành chính và thúc đẩy quá trình minh bạc hóa. Hơn thế nữa, Luật Ban hành văn bản pháp luật có hiệu lực vào ngày 01/07/2000 quy định rằng cơ quan ban hành các văn bản pháp luật phải lấy ý kiến của các cơ quan và tổ chức thông qua hội thảo, hội nghị. Dự thảo các văn bản pháp luật cũng phải lấy ý kiến của nhân dân trên công báo hoặc báo. Hơn thế nữa, các Bộ và chính quyền địa phương phải có hệ thống thông tin công bố của mình.
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, việc tham gia của công chúng vào quy trình lập pháp ngày càng tích cực hơn và vì thế minh bạch hóa ngày càng được nâng cao. Nhìn chung các luật quy định sẽ có hiệu lực sau khi được ban hành một thời gian và tất cả các luật, quy định liên quan tới thương mại đều được đăng công khai tại Tạp chí hợp tác kinh tế thương mại Trung Quốc. Điểm hỏi đáp và trang web hỏi đáp được thiết lập tại Bộ MOFCOM và AQSIQ. Trung Quốc thực hiện chế độ thông báo thường xuyên với WTO. Hơn thế nữa, Vụ Công tác pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc vụ viện Trung Quốc thường biên tập và dịch các luật ra tiếng Anh. Đồng thời, Vụ Các vấn đề pháp luật của Hội đồng Nhà nước cũng biên tập và đăng các văn bản luật và quy định liên quan tới thương mại.
Việc nâng cao minh bạch hóa và chống lại nạn tham nhũng cũng được thực hiện ở ngành kiểm sát và cơ quan kiểm toán nhà nước. Ví dụ, năm 2004, cơ quan kiểm sát đã tiến hành điều tra 2.900 cán bộ nhà nước phạm tội tham nhũng trên phạm vi cả nước. Trong thời gian gần đây việc kiểm toán của Văn phòng kiểm toán nhà nước cũng là một bộ phận thông tin để kiểm sát có thể tiến hành điều tra và việc kiểm toán của Quốc vụ viện Trung Quốc luôn được cập nhật trên mạng. Tháng 12/2003, Chính phủ đã tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng.
Chính phủ cũng thúc đẩy việc sử dụng internet nhằm nâng cao minh bạch hóa. Cuối năm 2004, đã có hơn 16.000 trang web chính thức của các bộ, cơ quan và tổ chức của Hội đồng nhà nước cũng như chính quyền địa phương. Nhìn chung các biện pháp hành chính và lập pháp của chính quyền trung ương và địa phương thường được đăng tải thường xuyên trên internet. Việc lấy ý kiến của công chúng vào các dự thảo văn bản pháp luật cũng thường được đăng trên mạng internet.
2.4. Tác động đến việc xem xét lại của toà án đối với các quyết định hành chính
WTO yêu cầu các nước thành viên phải có một cơ quan xét xử độc lập bao gồm cả tư pháp và hành chính cũng như phải duy trì các thủ tục xét lại các quyết định hành chính liên quan tới thương mại nhằm đảm bảo rằng các biện pháp của Chính phủ đối với thương mại phải được điều hành hợp lý, khách quan và không phân biệt đối xử. Nghị định thư gia nhập của Trung Quốc quy định cơ quan xét xử phải là cơ quan độc lập với cơ quan thực thi hành chính và không có bất kỳ quyền lợi nào liên quan tới các kết quả của vấn đề. Hơn thế nữa, Nghị định thư gia nhập cũng yêu cầu Trung Quốc phải cho các bên bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính có cơ hội được khởi kiện ra cơ quan tư pháp trong mọi trường hợp. Đây là một yêu cầu được cho là vượt quá các nghĩa vụ chung của WTO và chính vì vậy mà việc khởi kiện các quyết định hành chính này phải được thực hiện bằng văn bản.
Trước đây theo luật của Trung Quốc thì các quyết định hành chính liên quan tới một số lĩnh vực thương mại nhất định bị loại khỏi việc xem xét của toà án bao gồm các quyết định liên quan tới hiệu lực của sáng chế, thương hiệu và các quyết định trong các vụ kiện về phá giá và đối kháng. Để thực thi cam kết trong WTO, Trung Quốc đã sửa đổi một số các văn bản pháp luật liên quan để cho phép quyền khởi kiện đến toà án đối với các vấn đề liên quan tới WTO. Hơn thế nữa, Toà án tối cao cũng ban hành ba bộ tài liệu về giải thích pháp luật nhằm làm rõ phạm vi và tiêu chuẩn cho các xem xét của toà án đối với các quyết định hành chính liên quan tới WTO. Trong số đó, Toà án nhân dân tối cao cũng trao quyền cho toà trung thẩm xử sơ thẩm đối với các vụ kiện về thương mại, chống bán phá giá và đối kháng. Đây là động thái nhằm đảm bảo sự công bằng và chất lượng của các phán quyết đối với các vấn đề liên quan tới WTO bởi vì các thẩm phán ở toà cấp cao ít bị sự can thiệp của bên ngoài cũng như có trình độ hơn so với các thẩm phán ở toà cơ sở. Tuy nhiên với một số ít các vụ kiện được công bố thì vẫn còn quá sớm để đưa ra nhận xét về việc xem xét của toà án đối với các vụ kiện liên quan tới WTO.
2.5. Tác động đến việc quản lý nhà nước
Trong báo cáo gia nhập, Trung Quốc cam kết sẽ áp dụng và thực hiện các luật, quy định và biện pháp bao gồm các các biện pháp ở địa phương một cách thống nhất, công bằng và hợp lý. Cụ thể Trung Quốc cam kết sẽ huỷ bỏ các quy định và biện pháp của các địa phương không phù hợp với các nghĩa vụ của Trung Quốc trong WTO. Trung Quốc cũng đồng ý thành lập cơ chế khởi kiện mà theo đó các bên tư có thể kiện cơ quan nhà nước về việc áp dụng chế độ thương mại không thống nhất, cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải giải quyết ngay và đưa ra biện pháp trừng phạt trong trường hợp này. Những cam kết đặc biệt này nhằm chống lại chủ nghĩa bảo hộ địa phương mà đó là một trong những hàng rào chính về thương mại và đầu tư ở Trung Quốc.
Kể từ sau khi gia nhập, những biện pháp mà Trung Quốc thực thi các cam kết này vẫn chưa được thể hiện rõ. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề liên quan tới chủ nghĩa địa phương. Trong thời gian gần đây, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã thông qua một chiến lược cải cách quan trọng trong đó chính quyền địa phương sẽ được linh hoạt hơn trong việc thông qua các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP và cho phép được hưởng lợi trực tiếp từ sự phát triển này. Kết quả là chính phủ địa phương đã tham gia khá nhiều trong việc đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp địa phương. Nhằm thúc đẩy các quyền lợi kinh tế của họ, chính quyền địa phương sẽ trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương hoặc bảo vệ họ đối với cạnh tranh bên ngoài. Họ có rất ít động lực để thực thi luật về sở hữu trí tuệ nếu các doanh nghiệp địa phương hưởng lợi từ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Việc xét xử của toà án địa phương mà một bên là quyền lợi kinh tế địa phương sẽ rất khó để có một phán quyết công bằng, độc lập. Mối quan hệ chặt chẽ giữa quan chức địa phương và doanh nghiệp địa phương là rào cản đối với việc đấu tranh chống tham nhũng.
Về nguyên tắc các quy định của WTO sẽ được áp dụng thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ của nước thành viên WTO. Các nước thành viên có trách nhiệm đối với những vi phạm do cơ quan của mình thực hiện. Hiệp định của WTO cho phép các thành viên được khởi kiện ra cơ quan tài phán của WTO đối với các biện pháp do chính quyền địa phương của nước thành viên khác thực hiện. Chính vì vậy, nếu chính phủ Trung Quốc không quyết tâm hơn trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ địa phương thì các thành viên khác sẽ có cơ sở để khởi kiện lên WTO.
Tóm lại, gia nhập WTO đã đem lại những thay đổi lớn về chế độ đầu tư và thương mại nước ngoài cho Trung Quốc. Những thay đổi này đã làm giảm bớt những hàng rào trong đầu tư và thương mại của Trung Quốc đồng thời cũng thúc đẩy các chính sách và hệ thống pháp luật liên quan tới thương mại. Có thể nói, hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc đã bắt đầu cởi mở hơn và dần phù hợp với các tiêu chuẩn của WTO kể từ sau khi gia nhập WTO./.
Bùi Hương Quế – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

[1] Nghị định thư gia nhập, mục 9 phụ lục 4 của Nghị định thư liệt kê danh mục hàng hoá và dịch vụ là đối tượng quản lý giá. Bao gồm (i) bốn loại hàng hoá là thuốc lá, muối ăn, ga và dược phẩm và bốn lĩnh vực dịch vụ là dịch vụ công ích, dịch vụ bưu chính viễn thông, vé vào cửa tại các điểm du lịch, dịch vụ giáo dục là các đối tượng chịu sự quản lý giá của chính phủ; và (ii) 6 loại hàng hoá bao gồm (ngũ cốc, dầu thực vật, dầu chế biến, phân, kén tằm và cotton) và 6 lĩnh vực dịch vụ (dịch vụ vận chuyển, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ ngân hàng, giá nhà cho thuê và các dịch vụ liên quan tới sức khoẻ vẫn thuộc đối tượng hướng dẫn giá của nhà nước. Hơn thế nữa Trung Quốc bị yêu cầu phải cố gắng giám sát và hạn chế việc kiểm soát giá này và không được mở rộng việc kiểm soát giá ngoài những hàng hoá và dịch vụ được liệt kê tại phụ lục 4 trừ trường hợp ngoại lệ và phải thông báo cho WTO.
[2] Nghị định thư, mục 5.1 và 5.2. Doanh nghiệp nhà nước được nhập khẩu 84 sản phẩm trong 7 loại hàng hoá (bao gồm ngũ cốc, dầu thực vật, đường, thuốc lá, dầu chế biến, phân hoá học và cotton) và xuất khẩu 134 sản phẩm nông nghiệp và hàng hoá như chè, ngũ cốc, kim loại, than, dầu, lụa và cotton. Xem Phụ lục 2 của Nghị định thư.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Trích dẫn từ:

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code