Showing posts with label Khoa Học Pháp Lý. Show all posts
Showing posts with label Khoa Học Pháp Lý. Show all posts

Saturday, November 23, 2013

Đôi điều về giải thích pháp luật theo nghĩa rộng

 Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Ở một góc độ khác, hoạt động giải thích pháp luật có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang.

1. Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là gì?

Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý. Giải thích pháp luật là một cấu thành tất yếu của pháp luật, một bảo đảm đối với pháp luật. Việc tạo lập một cơ chế thích đáng cho giải thích pháp luật là mục tiêu và yêu cầu của mỗi hệ thống pháp luật, mỗi quốc gia.

Giải thích pháp luật trong thực tế được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Ở góc độ phổ biến, thông thường, góc độ hẹp hiện nay, giải thích pháp luật được xem là: “một hoạt động có lý trí  đưa ra nghĩa của một văn bản pháp luật”1; là “hoạt động liên quan với việc xác định thông điệp có tính quy phạm mà nó xuất hiện từ văn bản”2; là “hoạt động để tìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích của tác giả văn bản pháp luật”3…(Từ đây, xin gọi giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp, nghĩa thông thường là giải thích pháp luật, để định rõ và phân biệt với giải thích pháp luật theo nghĩa rộng sẽ bàn đến sau).

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Đây là điều kiện cần và đủ đối với một hệ thống giải thích pháp luật hiện tại. Bản thân hoạt động giải thích được giới hạn bằng giới hạn của văn bản, và giới hạn của văn bản phải đặt trong giới hạn của ngôn ngữ. Một hoạt động là giải thích nếu nó đưa ra nghĩa trên văn bản phù hợp với một nghĩa (rõ ràng hoặc ẩn) trong ngôn ngữ (cộng đồng hoặc cá nhân) của văn bản. Giải thích pháp luật có tác dụng trong các giới hạn của ngôn ngữ. Nó truyền đạt cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ có thể mang. Hoạt động giải thích sẽ kết thúc tại “điểm cuối” của ngôn ngữ4.

Ở một góc độ khác, giải thích pháp luật được tiếp cận rộng hơn gấp nhiều lần và khác cơ bản so với giải thích pháp luật thông thường. Dưới góc độ này, hoạt động giải thích có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang. Để làm được điều đó, người giải thích có thể tiến hành hàng loạt các thao tác mà nó sẽ trái, thậm chí phá vỡ các luật lệ của giải thích pháp luật thông thường (sẽ phân tích sau)… Đó chính là giải thích pháp luật theo nghĩa rộng. Một số học giả còn gọi cách tiếp cận giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là một học thuyết - học thuyết không giải thích (Non-interpretive Doctrines).5

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng vượt ra ngoài ngôn ngữ của văn bản, chúng mang đến cho văn bản một sự hợp lý nhất định mà đôi khi, sự hợp lý đó không có cơ sở vững chắc trong ngôn ngữ của văn bản (tất nhiên, “chuẩn mực” của sự hợp lý phụ thuộc vào truyền thống của mỗi hệ thống pháp luật, vào cơ chế giải thích pháp luật của mỗi quốc gia, và vào tính mục đích, tài năng của bản thân mỗi chủ thể giải thích pháp luật…) Nói giản đơn, công việc của giải thích theo nghĩa hẹp đưa đến nghĩa một cái gì “là”; còn giải thích theo nghĩa rộng sẽ đưa đến nghĩa từ cái gì “là” đến cái gì “không là”. Ở giải thích theo nghĩa rộng, sự “có” của văn bản có thể được suy ra sự “không” của vấn đề khác. Lấy ví dụ, một mâu thuẫn giữa hai đạo luật, giải thích theo nghĩa hẹp sẽ quyết định ý nghĩa của mỗi đạo luật, rút ra hiệu lực của chúng từ các quy tắc giải thích, còn giải thích theo nghĩa rộng đưa đến cách giải quyết mâu thuẫn đó, đến khu vực chứa đựng sự mâu thuẫn.

 Trong lịch sử các hệ thống pháp luật truyền thống, giải thích theo nghĩa rộng là một phần của giải thích (thông thường), mặc dù nó đi xa và vượt khỏi giới hạn của sự giải thích. Ví dụ, trong hệ thống pháp luật Anh, thẩm phán có quyền thay đổi một văn bản - để tránh những điều ngớ ngẩn - được coi là một phần của hoạt động giải thích pháp luật của thẩm phán. Trong truyền thống pháp luật Đức thì lấp đầy một khoảng trống cũng được coi là hoạt động giải thích (theo nghĩa rộng).

2. Nội dung của giải thích pháp luật theo nghĩa rộng

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là một hoạt động đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng, phức tạp chứa đựng ngay trong nội dung của nó.

Lấp đầy các khoảng trống trong văn bản

Lấp đầy các kẽ hở trong văn bản là hoạt động khác biệt cơ bản so với giải thích pháp luật thông thường. “Giải thích là cung cấp nghĩa cho các quy phạm, còn lấp đầy kẽ hở là thêm ngôn ngữ vào văn bản, thêm quy phạm cho văn bản”6. Trên thế giới, cách tiếp cận với các văn bản là đối tượng của giải thích pháp luật tương đối bao quát, nó có thể là hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật, di chúc, hợp đồng…, tức là tất cả các văn bản, nếu nó liên quan đến cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý.

Khi nào thì một văn bản có kẽ hở? Thứ nhất, khi văn bản chứa đựng những hàm ý mà có thể làm rõ bằng sự giải thích thông thường; thứ hai, khi văn bản không đề cập đến một vấn đề mà nó không lưu tâm; thứ ba, khi sự cung cấp của văn bản đến vấn đề mà nó lưu tâm gây ra sự thiếu sót đối với các vấn đề mà nó không lưu tâm; và thứ tư, khi có sự thiếu khuyết thực sự của văn bản, bản thân văn bản không đủ để điều chỉnh những vấn đề nhất định mặc dù nó tương đối rõ ràng hoặc chắc chắn…7 Và giải thích theo nghĩa rộng cho phép lấp đầy các kẽ hở như vậy trong văn bản.

Việc lấp đầy các khoảng trống trong luật: Ở thế kỷ 19, trong hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, các thẩm phán đã có được quyền này trong việc lấp đầy các khoảng trống trong luật khi giải quyết vụ việc. Hiện nay, tòa án không được làm như vậy, mà họ phải sử dụng “cái tổ an toàn” của thông luật để giải quyết trong những trường hợp ngôn ngữ của một đạo luật không tương xứng để biểu đạt được mục đích của đạo luật đó8.

Pháp luật Anh cho phép lấp đầy khoảng trống trong luật đối với các trường hợp được bao hàm bởi các quy tắc pháp luật thông thường.

Việc lấp đầy kẽ hở trong hợp đồng: Kẽ hở trong hợp đồng tạo nên tình trạng không đầy đủ, thiếu thông tin và mâu thuẫn với mục đích của nó. Thông thường một kẽ hở trong hợp đồng được lấp đầy bằng các luật lệ ngầm định, phong tục hoặc tập quán, tất nhiên hiệu quả chung trong những trường hợp này là không lớn, nên trong thực tế các nguồn trên được sử dụng như một sự hướng dẫn.

Nguồn thứ hai bên cạnh các luật lệ ngầm định, phong tục hoặc tập quán để giải quyết, trong luật lệ của Anh còn có các “điều khoản mặc nhiên”, tức là việc lấp đầy khoảng trống trong hợp đồng là cần thiết cho hiệu quả và là bổn phận của hợp đồng mà các bên đảm nhiệm9.

Luật pháp của Mỹ cũng đã sử dụng các điều khoản hàm ý này, hiện nay thì đã có sự thay đổi, tuy nhiên gần đây, các học giả Mỹ cũng có lưu tâm đến việc sử dụng các “luật lệ ngầm định” để lấp đầy khoảng trống trong hợp đồng10.

Ở một vài quốc gia như Đức, Bồ Đào Nha, Pháp, các thẩm phán được phép lấp đầy các khoảng trống dựa trên các nguyên tắc của tính trung thực, nguyên tắc sự tin tưởng trong luật dân sự để lấp đầy các khoảng trống trong hợp đồng. Hệ thống pháp luật của Thụy Sỹ ủy quyền cho một thẩm phán lấp đầy khoảng trống theo mục đích khách quan của các bên nếu các bên thật thà, trung thực và dựa trên các nguyên tắc của công lý11.

Cách tiếp cận khác của Unidroit, “nếu các bên không đồng ý một giới hạn quan trọng đối với các quyền và nghĩa vụ của họ, tòa án sẽ bổ sung vào hợp đồng một giới hạn phù hợp với tình huống liên quan”12.

Về việc lấp đầy các khoảng trống trong di chúc: Truyền thống Đức đã từng cho phép lấp đầy khoảng trống trong di chúc. Tòa án Israeli có quy định rõ ràng việc thẩm phán được lấp đầy các khoảng trống trong văn bản, trong đó có di chúc.

Giải quyết mâu thuẫn mang tính quy phạm

Sự thống nhất trong hệ thống pháp luật là một yêu cầu quan trọng. Các quy tắc trong một hệ thống pháp luật phải nằm trong mối liên hệ và không được mâu thuẫn với nhau. Nhưng trong thực tế, ít có hệ thống pháp luật nào đạt được như vậy. Các quy tắc đối lập và mâu thuẫn với các nguyên tắc của luật lệ và với bản thân các quy tắc khác vẫn đang nảy sinh và tồn tại. Nếu không giải quyết được các mâu thuẫn này, chúng sẽ làm “xói mòn sự ổn định” và “sự tin tưởng chung” đối với cả hệ thống pháp luật. Yêu cầu đặt ra là phải thiết lập các luật lệ cho việc giải quyết các mâu thuẫn đó.

Mâu thuẫn mang tính quy phạm là mâu thuẫn giữa các quy tắc mà mỗi quy tắc có giá trị của chính nó, nhưng các quy tắc đó lại không thể áp dụng đồng thời, cùng nhau, cho các vấn đề giống nhau. Trong thực tế, chúng có thể biểu hiện dưới các dạng sau:

Mâu thuẫn giữa các quy tắc trong cùng một văn bản: Khi hai hay nhiều quy tắc pháp luật đều không thể cung cấp cách giải quyết vấn đề, khi đó mâu thuẫn xuất hiện. Ví dụ một trường hợp mà tồn tại hai quy tắc, một quy tắc cho phép và một quy tắc cấm đoán, thì hai quy tắc đó mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn giữa các quy tắc chính là biểu hiện lỗi của hệ thống pháp luật.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, bản thân mâu thuẫn cần phải được xác định. Một mâu thuẫn chỉ thực sự tồn tại khi kết thúc tất cả các quá trình giải thích liên quan. Tòa án là chủ thể có vai trò dẫn dắt đến cách giải quyết các mâu thuẫn này nhờ vào sự giúp đỡ của các luật lệ giải thích. “Một mâu thuẫn thực sự tồn tại khi nó làm kiệt sức tất cả các khả năng giải thích đối với nó”. Việc xác định rõ giá trị pháp lý của mỗi quy tắc là hoạt động giải thích theo nghĩa hẹp và quá trình xác định mối liên hệ giữa một quy tắc và một quy tắc khác – giải thích theo nghĩa rộng là khác nhau. Luật lệ để giải quyết mâu thuẫn giữa các quy tắc trong các văn bản khác nhau là luật lệ của giải thích theo nghĩa rộng.

Mâu thuẫn có thể tồn tại khi trong một văn bản có hai quy tắc mâu thuẫn với các quy tắc khác. Vậy quy tắc nào sẽ có hiệu lực áp dụng. Thông thường các hệ thống pháp luật đều có cách lựa chọn đối với quy tắc ra đời sau, hoặc quy tắc có giá trị pháp lý cao hơn.

Mâu thuẫn giữa các quy tắc trong các văn bản khác nhau: Mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai quy tắc có giá trị pháp lý ngang nhau ở các đạo luật ngang nhau, đưa vào các văn bản khác nhau. Nếu mâu thuẫn là có thực, sau khi thẩm phán đã sử dụng hết các khả năng giải thích thông thường, thì cái chiếm ưu thế sẽ là quy tắc được ban hành muộn hơn, điều này có giá trị đối với cả các đạo luật, di chúc và hợp đồng. 

Mâu thuẫn giữa các quy tắc có giá trị pháp lý khác nhau: Vấn đề đặt ra là nếu một quy tắc cao mâu thuẫn với một quy tắc thấp hơn, câu trả lời thường xuyên là quy tắc cao nhất có giá trị áp dụng. Vậy vấn đề đặt ra là, làm thế nào để quy tắc cao nhất vẫn là cao nhất, và quy tắc thấp hơn vẫn có thể phát huy được giá trị hợp lý của nó. Ví dụ Hiến pháp New Dilan quy định các thẩm phán không được xem lại tính hợp hiến của các đạo luật. Trong hệ thống pháp luật Hà Lan thì nguyên tắc cao nhất là chính trị chứ không phải là pháp luật, các cơ quan lập pháp không được hoạt động ngoài nguyên tắc này.

Như vây, cao nhất có lẽ không phải là pháp luật, cũng không phải là chính trị, mà chính là cái có thể làm mất hiệu lực của một quy tắc thấp hơn. Tiêu chuẩn có tác dụng quyết định đến mối liên hệ giữa hiến pháp và đạo luật; đạo luật và các văn bản dưới luật là tiêu chuẩn của giải thích theo nghĩa rộng. Các thẩm phán không đưa ra nghĩa của các văn bản khác nhau mà xác định rõ hơn hiệu lực pháp lý của chúng, điều này dựa vào luật lệ của giải thích theo nghĩa rộng.

Sửa chữa lỗi trong văn bản

Thông thường sự sửa chữa lỗi trong văn bản thuộc về tác giả của chúng. Tuy nhiên, thẩm phán trong luật lệ của giải thích thông thường có thể sửa chữa các lỗi đó, trên cơ sở không thêm hoặc bớt; nhưng sẽ là tốt hơn nếu thẩm phán được phép cân nhắc sửa chữa cái có thật xung quanh văn bản hơn là sửa chữa một lỗi, vì với vị trí của họ, thẩm phán là chủ thể mà không ai có thể tranh luận hơn.

Trong thực tế cũng có quan điểm cho rằng: “Nếu các từ ngữ của một hành động là trong sáng, anh (tòa án) phải theo chúng, thậm chí dù anh nghĩ chúng sẽ dẫn dắt đến một sự vô lý. Tòa án sẽ là vô lý nếu hỏi, nhà lập pháp liệu có tận tâm không, và tòa án không có gì để làm trong trường hợp này”13.

Đây là một nhận định tương đối khắc nghiệt, nó phù hợp hơn với giải thích thông thường, bởi vì sự sửa chữa lỗi của thẩm phán trong thực tế đôi khi giúp nhận ra mục đích của đạo luật, ý định chung của các bên trong hợp đồng và ý định của người lập di chúc trong di chúc.

Vì vậy trong những trường hợp nhất định, thẩm phán đã được phép tác động đến một lỗi trong đạo luật trên cơ sở giảng giải, để tránh việc làm hỏng ý định của nhà lập pháp hoặc mục đích của đạo luật, nhất là đối với những trường hợp mà bất cứ một người đọc văn bản nào cũng có thể nhận ra lỗi mà văn bản đó chứa đựng.

Truyền thống pháp luật Anh ủy quyền một thẩm phán sửa chữa những lỗi hiển nhiên trong một văn bản đã được ban hành, đây cũng là ý muốn của các cơ quan lập pháp để ý định của văn bản có thể được nhận ra.

Hầu hết các hệ thống pháp luật đều cho phép các thẩm phán sửa chữa lỗi trong hợp đồng14. Lỗi trong hợp đồng chính là khoảng trống giữa sự thỏa thuận thực sự đạt được bởi các bên, và sự thỏa thuận mà họ đã thể hiện bằng ngôn ngữ của hợp đồng.

Trong Sucession Law, 1965, L.S.I quy định: “Nơi mà một di chúc chứa đựng một lỗi rõ ràng, hoặc một lỗi khi mô tả về người hoặc tài sản, mô tả thời hạn, số liệu, lịch hoặc các vấn đề tương tự mà sự mô tả này có khả năng để quyết định rõ ràng ý định đúng của người để lại di chúc, thì thẩm phán có thể sửa chữa lỗi đó”15.

Thay đổi ngôn ngữ trong văn bản để tránh sự vô lý

Sự giải thích theo nghĩa hẹp làm cho văn bản được hiểu theo một nghĩa thông thường và tự nhiên của nó. Tuy nhiên không phải lúc nào nghĩa thông thường và tự nhiên của văn bản cũng được ngôn ngữ của văn bản đảm bảo sự hợp lý và thỏa đáng. Khi đó, phải có một “nguyên tắc vàng” của giải thích theo nghĩa rộng xuất hiện, để có thể tránh sự vô lý được mang tới từ các nghĩa của ngôn ngữ văn bản. Thứ nhất, đó là thẩm phán được phép phân chia, làm chệch hướng từ nghĩa tự nhiên, nghĩa thông thường của ngôn ngữ nếu các nghĩa đó sẽ dẫn đến kết quả vô lý16. Nó hướng dẫn người giải thích chọn một nghĩa pháp luật hợp lý của văn bản giữa một số ít các ngữ nghĩa học mà văn bản có thể tổng hợp trong ngôn ngữ. Thứ hai, văn bản có thể mang lại một sự vô lý xa hơn giới hạn của ngôn ngữ, thì cho phép một thẩm phán chữa ngôn ngữ, thêm vào nó, hoặc làm trượt ra từ nó, để tránh sự vô lý17.

Hoàn thành mục đích của văn bản bằng những thay đổi nhất định

Trong thực tế, đôi khi mục đích mang tính tổng quát của văn bản không được thể hiện ở ngôn ngữ của nó. Trường hợp này, nguyên tắc của giải thích pháp luật thông thường là chỉ được đưa đến cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ của nó có thể mang, hay mục đích của văn bản chính là cái được thể hiện trực tiếp tại ngôn ngữ hiện hữu của văn bản.

Truyền thống thông luật thừa nhận học thuyết giải thích theo nghĩa rộng đối với trường hợp của luật hợp đồng và di sản. Nếu một hợp đồng hoặc một hành động pháp lý của một bên di tặng tài sản cho mục đích công cộng, và mục đích đó không thể được đáp ứng, một thẩm phán có thể ra lệnh tài sản đó được sử dụng cho một mục đích có thật tương tự. Ví dụ: một người để lại di sản của mình cho bệnh viện trong việc điều trị bệnh X. Nhưng thời gian trôi qua, các nhà khoa học đã triệt tiêu được căn bệnh X. Vậy bệnh viện đó có thể sử dụng quỹ đó để chữa trị căn bệnh Y không? Sự giải thích thông thường không cho phép. Nhưng hoạt động giải thích theo nghĩa rộng thì khác, nó có thể dẫn dắt đến kết quả số tiền để chữa bệnh X có thể được dùng để điều trị căn bệnh Y. Hoạt động giải thích theo nghĩa hẹp khi đến giới hạn của nó, người giải thích phải dừng lại; nhưng hoạt động giải thích theo nghĩa rộng thì có thể đi tiếp, cụ thể trong trường hợp này, thẩm phán có thể quyết định rằng quỹ đó được phép sử dụng để chữa trị các căn bệnh khác, và điều này là phù hợp với mục đích và ý tưởng của người để lại tài sản.

3. Nguyên tắc của giải thích pháp luật theo nghĩa rộng

Giải thích theo nghĩa rộng chính là hành động rời xa ngôn ngữ của văn bản mà chủ thể giải thích (thẩm phán) mang đến trong quá trình thực hiện. Giải thích theo nghĩa rộng chỉ diễn ra trong thực tế khi có sự cho phép, các chủ thể giải thích phải được ủy quyền, và hoạt động này sẽ chấm dứt khi sự ủy quyền đó kết thúc. Vì vậy, hoạt động này không xuất hiện một cách thông thường, nó là một ngoại lệ và cần có sự bảo vệ bằng một học thuyết đặc biệt, bằng cả một cơ chế giải thích và thực hiện pháp luật nhất định. Nguyên tắc chung, phổ biến là các thẩm phán, các chủ thể giải thích vẫn phải làm việc trong giới hạn của ngôn ngữ. Giải thích theo nghĩa rộng chỉ xuất hiện khi kết thúc tất cả các giai đoạn và thủ thuật giải thích thông thường, khi giải thích theo nghĩa hẹp đã đi hết các chặng đường của nó. Các chủ thể được ủy quyền phải sử dụng những nội dung nhất định của cách giải thích này, trong một giới hạn, phạm vi vấn đề cụ thể, nếu không, các quy tắc giải thích thông thường, nguyên tắc phân chia quyền lực, nguyên tắc dân chủ trong hiến pháp, nguyên tắc tôn trọng sự tự trị của các văn bản tư… sẽ bị xâm phạm.

4. Giá trị và sự vận dụng lý thuyết giải thích pháp luật theo nghĩa rộng vào Việt Nam

Giá trị của giải thích theo nghĩa rộng nằm trong bản thân những nội dung mà hoạt động này chứa đựng, tuy nhiên cũng từ chính những nội dung này cho thấy đây là một hoạt động phức tạp và đòi hỏi sự thận trọng cao khi tiến hành. Việc chấp nhận và vận dụng những mức độ nào đó của lý thuyết này tùy thuộc vào quan niệm, vào truyền thống pháp luật, vào cơ chế thực hiện pháp luật, và vào trình độ, hiệu quả hoạt động của các chủ thể giải thích.

Nội dung của giải thích theo nghĩa rộng còn có thể được bổ sung, bởi nó phụ thuộc vào nhu cầu, vào cách thức tiếp cận văn bản khi hiểu, thực hiện trong thực tế, vào chính yêu cầu của văn bản khi giải thích, nó cũng biến đổi cùng với sự biến đổi chung của đời sống pháp lý… Tính mục đích là điều phải được cân nhắc đầu tiên khi vận dụng cách thức giải thích pháp luật này. Tiếp đến là việc thừa nhận vai trò của thẩm phán, sự tin tưởng đối với các kết quả xét xử, đến việc tạo lập và phát triển một cơ chế giải thích pháp luật hiệu quả…

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng, ở một khía cạnh nào đó, sẽ tạo nên những tác động nhất định đến các nhà lập pháp trong việc biểu đạt và dự liệu các vấn đề có thể xảy ra bằng ngôn ngữ văn bản. Nó yêu cầu hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản phải có sự cân nhắc, dự liệu, bao quát và sát thực cao nhất có thể, đối với các tình huống trong cuộc sống.

Việc tiếp cận, vận dụng lý thuyết giải thích pháp luật theo nghĩa rộng một cách hợp lý là điều cần thiết. Tuy nhiên, muốn vận dụng có hiệu quả thì phải kiểm soát được nó, phải nhận thức và phát huy được những ưu điểm nó có thể mang lại, đồng thời hạn chế được những hậu quả kinh khủng mà nó có thể gây ra, nếu như tính mục đích trong quá trình giải thích bị điều khiển.

Việt Nam chúng ta đang bước đầu chú trọng đến công tác giải thích pháp luật, một phần vì thực trạng giải thích pháp luật thời gian qua, một phần vì chúng ta không thể đứng ngoài xu thế chung của thời đại.

Việc có một lý thuyết giải thích pháp luật đồng bộ, một thực tiễn giải thích pháp luật tương ứng là một mục tiêu lớn của Việt Nam. Hoạt động giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là hoạt động đòi hỏi một trình độ cao trên tất cả các phương diện pháp lý. Tham khảo, vận dụng ở mức độ thích hợp lý thuyết này, cũng chính là một cách hoàn thiện về lý luận và thực tiễn giải thích pháp luật của chúng ta trong quá trình hội nhập và phát triển.

(1) C. Ogden and I.Richard, The meaning of meaning, (10th ed, 1956); M.S.Moore, “Semantics of Judging”, 54 S. Cal. L.Rev. 151 (1981); H.Hart and A. Sachs, “ The legal process”, 1994

(2) K.Larenz, “Methodenlehre der Rechtswissenchaft”, (5th ed, 1983)

(3) F.V.Hawkins, “On the Priciple of Legal Interpretation”, (298-357, 1860) (4) J. Steyn, “Interpretation: Legal Texts and Their Landscape,” (73, 82, B. Markesinis ed, 2000)

(5) Aharon Barak, “Porposive Interpretation in Law”, (61-97, Princeton Uni, 2005)

(6) J. H. Merryman, “The Italian Legal Style III: Interpretation”, 18 Stan. L. Rev. 583, 1996

(7) Aharon Barak, “Porposive Interpretation in Law”, (67-68, Princeton Uni, 2005)

(8) N. Marsh, “Interpretation in a National and International”, (67, 1974)

(9) The Moorcock (1889) 14 P.D. 64; Luxor (Easthourne) Ltd v. Cooper (1941) A.C. 108

(10) E.A. Farnsworth, “Disputes over Omission in Contracts”, 68 colum. L. Rev. 860 (1986)

(11) Section 239 of the Portuguese Civil Code; E. Bucher et al., Schweizerisches Obligationenrecht 160 (1979)

(12) Article 4.8 of Unidroit, “Principle of International Commercial Contracts”, 284, 1994.

(13) R. v. Lord Esher, “Judge of City of London Court”, (273, 290, Q.B, 1892)

(14) Lewison,  supra p.42, note 130 at 227.

 (15) Sucession Law, 1965, 19 L.S.I. 58, 63, sec. 32.

 (16) Benion, supra p.6, note 13 at 751; Cross, supra p.3, note 3 at 16; Lewison, supra p.42, note 130 at 85

 (17) Cross, supra p.3, note 3 at 16.

Phạm Thị Duyên Thảo - Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội

Nguồn: Tạp Chí Nghiên Cứu Lập pháp

Văn bản hành chính có vai trò như thế nào ??

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương là làm sao cho các văn bản ban hành đạt chất lượng cao nhất. Nhưng làm thế nào để đo được chất lượng của việc ban hành văn bản? Một khiếm khuyết dễ nhận thấy và đã để lại nhiều hệ lụy là việc phân tích chính sách ít được quan tâm đúng mức để làm cơ sở cho việc ban hành văn bản, thậm chí ngay trong Luật Ban hành các văn bản pháp luật cũng không đề cập công đoạn này. Các văn bản kém chất lượng thường xuất phát từ những nguyên nhân sau: Không thiết lập được những ưu tiên chính sách chính yếu; không đưa ra được những lựa chọn giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau; không chuyển hóa được những ưu tiên thành các văn bản hoạt động cụ thể; tạo ra một khoảng trống về chính sách do không có tính liên tục trong bộ máy hành chính hoặc do những nền tảng chính sách yếu kém và thiếu gắn kết; vai trò của tổ chức không rõ ràng hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chương trình công tác của các bộ, ngành hoặc vì cả hai lý do này; các ý kiến đệ trình lên chính phủ không đánh giá đầy đủ về các khoản chi phí theo ngành dọc; có sự tồn tại song song các nhóm lợi ích từ bên ngoài không chịu trách nhiệm nhưng lại có khả năng tác động lên chính sách.

Có bốn nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong một quy trình ra quyết định: tính kỷ luật, tính minh bạch, tính bền vững và lựa chọn cấu trúc. Theo nguyên tắc ra văn bản có tính kỷ luật cao, các quyết định cần phải nhất quán, có tính thực tiễn về mặt tài chính và khả năng thực hiện. Trong khi nguyên tắc này có vẻ hiển nhiên, trên thực tế nó lại ít khi được tôn trọng. Ở những nền hành chính kém phát triển, người ta thường ban hành quyết định mà không có sự cân nhắc, xem xét đầy đủ những chi phí tiềm tàng, đặc biệt là gánh nặng chi phí theo ngành dọc tác động lên ngân sách. Ví dụ, kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Phi cho thấy hơn hai phần ba quyết định của nội các đưa ra không bao giờ được thực hiện. Ngoài ra, tính bền vững của việc ra quyết định cũng có vai trò quan trọng. Các quyết định nông nổi thường là cản trở lớn cho các hoạt động kinh tế.

Nguyên tắc cuối cùng của một quy trình ban hành văn bản là lựa chọn cấu trúc. Nhiều quyết định đệ trình lên chỉ là những vấn đề thường nhật, ví dụ như việc phê duyệt những thay đổi nhỏ về nhân sự của một bộ, hoặc phê chuẩn việc bổ nhiệm nhân sự trong ngành ngoại giao… Những quyết định loại này thường được dễ dàng thông qua. Nhưng ở nhiều nước, cũng có việc dồn trách nhiệm dẫn tới việc nhiều vấn đề nhỏ nhặt cũng phải chờ chính phủ phê duyệt. Vì thế, cần phải thực hiện phân cấp ủy quyền để chính phủ có thời gian đầu tư vào những vấn đề chiến lược.

Từ những nguyên tắc chung, đã có những khuyến cáo những nhiệm vụ cụ thể cần được thực hiện, theo đó một cơ chế lập và điều phối để ban hành văn bản tốt phải thực hiện hiệu quả ít nhất năm nhiệm vụ sau: 1. Cung cấp hệ thống thu thập, xử lý thông tin và cảnh báo sớm về vấn đề cần quyết định; 2. Bảo đảm tham khảo đầy đủ ý kiến của mọi cơ quan và ban, ngành có liên quan tới vấn đề đang quan tâm; 3. Cung cấp các phân tích hỗ trợ và xem xét thận trọng các khả năng lựa chọn; 4. Ghi chép và phổ biến các quyết định; và 5. Giám sát quá trình thực hiện và theo dõi sát các bước tiến triển tiếp theo.

Tuy nhiên, nói chung, quy mô của các nhóm trực tiếp ban hành văn bản có thể là nhỏ nên hiệu quả của việc ban hành văn bản sẽ cao hơn, với điều kiện phải có một số cơ chế nhất định để tổ chức thu thập ý kiến rộng rãi từ các cơ quan của chính phủ cũng như từ công chúng. Do đó, điều quan trọng là không nên nhìn nhận các cơ chế lập chính sách trung ương một cách biệt lập. Thông thường, trong thành công của những cơ chế đó luôn có sự hỗ trợ của các cơ chế điều phối bổ sung. Những cơ chế này là rất đa dạng, từ những tiểu ban của chính phủ, các nhóm đặc trách liên bộ và các nhóm làm việc cho tới các văn phòng liên lạc với quốc hội và những ủy ban điều phối quan hệ giữa chính phủ và giới doanh nghiệp là những thiết chế có thể đóng vai trò bổ trợ hữu ích. Và một điều quan trọng cuối cùng là chính phủ cũng nên tìm cách khuyến khích sự hợp tác phi chính thức ở mọi cấp hành chính nhà nước, khơi thông dòng thông tin trong nội bộ chính phủ đến các cấp.

Nhiệm vụ và vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật


KHPL -
Nhiệm vụ và vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật (NGUYỄN NGỌC LÂM)

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 1 /2004

Nhiệm vụ và vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật

NGUYỄN NGỌC LÂM

ThS. Quỵền Trưởng Khoa Luật Quốc tế trường ĐH Luật TP.HCM

1. Vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật

1.1. Trong khoa học pháp lý Liên Xô (cũ) có nhiều quan điểm khác nhau về vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật. Tư pháp quốc tế được coi là nằm trong hệ thống pháp luật quốc tế hay là trong hệ thống pháp luật quốc gia. Theo quan điểm của nhiều tác giả như: S.B Krulov; M.A Plokin; S.A Golunsky; M.S Strogovich; B.E Graba; A.M Ladưzinsky; I.P Blisenko; L.N Talenskaia… Các quy phạm của Tư pháp quốc tế nằm trong Luật quốc tế với nghĩa rộng của nó. Quan điểm này được các tác giả xây dựng dựa trên cơ sở theo đó giữa Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế có mối quan hệ về bản chất nội dung, có họ hàng gần gũi, có sự thống nhất về nguồn luật và được các tác giả coi sự thống nhất này có ý nghĩa quyết định. Trong giáo trình Luật điều ước quốc tế, xuất bản năm 1930 – S.B Krưlov viết: “Cần phải xem xét nội dung chủ yếu của Tư pháp quốc tế… thực sự đó là việc nghiên cứu các điều ước quốc tế mang nội dung của Tư pháp quốc tế”1. Quan điểm này dựa trên lý luận cho rằng trong các quan hệ của Tư pháp quốc tế mặc dù đó là các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động giữa các thể nhân và pháp nhân nhưng có yếu tố nước ngoài nên nó có sự liên quan chặt chẽ đến quan hệ giữa các quốc gia, theo đó mọi tranh chấp, xung đột trong mọi lĩnh vực pháp luật dân sự giữa các công ty riêng biệt, ngay cả xung đột về ly hôn giữa công dân của các quốc gia khác nhau cũng có thể phát sinh thành xung đột giữa các quốc gia.

1.2. Một trường phái khác do L.A Luns đứng đầu và được các tác giả khác như A.B Gureev; K.Ph Egorov; V.P Zvekov; S.N Lelegev; A.L Makovsky; G.K Matvev; N.V Orlova; V.S Pozniakov; M.G Pozenberg; A.A Rubanov; O.N Sadikov… ủng hộ. Trong bộ giáo trình Tư pháp quốc tế (3 tập) của mình L.A Luns cho rằng để xem xét bản chất nội dung của các quy phạm Tư pháp quốc tế trước hết cần phải xem xét đến tính chất của các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó, mà trước hết các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ mang tính chất dân sự. Do vậy Tư pháp quốc tế trước hết nó là một bộ phận của pháp luật dân sự quốc gia. Khoa học Tư pháp quốc tế là một bộ phận của khoa học pháp luật dân sự2.

Trong nhiều công trình về Công pháp quốc tế nhiều tác giả như I.I Lukasuk; E.T Usenko; A.P Movchan… cũng có quan điểm cho rằng xét về nội dung của các quy phạm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh thì Tư pháp quốc tế là một bộ phận của của hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau.

1.3. Trong khoa học pháp lý Tư pháp quốc tế ở Việt Nam mặc dù còn non trẻ chưa có nhiều công trình nghiên cứu lớn và chuyên sâu trong lĩnh vực này, “ngay cả trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời kỳ này (1945-1975) cũng rất hiếm khi đề cập đến các quan hệ Tư pháp quốc tế”3. Nhưng bước đầu Tư pháp quốc tế ở Việt Nam cũng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu như: Trong giáo trình Tư pháp quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội của tập thể tác giả do tiến sĩ Bùi Xuân Nhự chủ biên cho rằng “Tư pháp quốc tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, mặt khác trong khoa học nói chung nó lại là một ngành khoa học độc lập mà đối tượng nghiên cứu của nó là lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự, phát sinh trong đời sống quốc tế…. Điều này khẳng định rằng: Thứ nhất Tư pháp quốc tế nghiên cứu các quan hệ pháp luật dân sự”4. Trong giáo trình Tư pháp quốc tế của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội của tập thể tác giả do tiến sĩ Nguyễn Bá Diến chủ biên cũng cho rằng “Nhờ mang tính chất tài sản, nhân thân và có yếu tố nước ngoài mà đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế đã góp phần khẳng định rằng: Tư pháp quốc tế là một ngành luật riêng biệt, không những độc lập với các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật quốc gia, mà còn độc lập với luật quốc tế”5. Trong sách tham khảo Một số vấn đề lý luận cơ bản của Tư pháp quốc tế của tiến sĩ Đoàn Năng lại cho rằng “Hiện tại Tư pháp quốc tế tồn tại độc lập với Công pháp quốc tế và cả với pháp luật quốc gia như là một tiểu hệ thống nằm giữa hai hệ thống, nhưng liên quan, gắn bó rất chặt chẽ với cả Công pháp quốc tế và Pháp luật quốc gia”6.

Như vậy trong hai giáo trình Tư pháp quốc tế ở Việt Nam không khẳng định một cách cụ thể là Tư pháp quốc tế nằm trong hệ thống pháp luật quốc tế hay hệ thống pháp luật quốc gia, như cách làm của các nhà khoa học nước ngoài - thường khẳng định rõ quan điểm của mình. Ngược lại có quan điểm khác lại cho rằng Tư pháp quốc tế là một tiểu hệ thống (pháp luật) nằm giữa hai hệ thống (Pháp luật quốc tế và Pháp luật quốc gia). Thật vậy “Không có một lĩnh vực nghiên cứu pháp luật nào trong khoa học pháp lý như lĩnh vực khoa học về Tư pháp quốc tế – Một lĩnh vực mà trong đó còn tồn tại rất nhiều các quan điểm trái ngược nhau về ngay cả những vấn đề cốt lỏi như vị trí của nó trong hệ thống pháp luật nói chung và trong hệ thống pháp luật quốc gia nói riêng”7.

1.4. Theo chúng tôi thì hiện tại trong các sách báo pháp lý ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài đều thể hiện một cách khá rõ ràng là “Bên cạnh hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia còn tồn tại hệ thống pháp luật quốc tế”8. Như vậy trên thực tế chỉ tồn tại hai hệ thống pháp luật đó là hệ thống Pháp luật quốc tế và hệ thống Pháp luật quốc gia mà không tồn tại một hệ thống pháp luật trung gian thứ ba nào khác. Do vậy Tư pháp quốc tế không là một ngoại lệ. Hoặc Tư pháp quốc tế nằm trong hệ thống pháp luật quốc tế hoặc trong hệ thống pháp luật quốc gia. “Theo quan điểm được nhiều người thừa nhận hiện nay. Tư pháp quốc tế là một bộ phận pháp luật quốc gia chứ không phải pháp luật quốc tế hay bộ phận pháp luật liên hệ thống. Hơn thế Tư pháp quốc tế được xem là một ngành pháp luật độc lập đặc biệt trong hệ thống pháp luật quốc gia”9. Mặc dù có một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận là Tư pháp quốc tế ở Việt Nam hiện nay đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển. Còn nhiều vấn đề trong lý luận chưa được hoàn chỉnh, thiếu sự thống nhất trong cách tiếp cận ngay cả những vấn đề cơ bản nhất.

Do vậy khi bàn đến vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật chúng tôi cho rằng cần phải xem xét một cách toàn diện trên cơ sở phân tích, so sánh các nội dung như: Đối tượng điều chỉnh; Phương pháp điều chỉnh; Chủ thể; Nguồn luật cũng như cách thức thực hiện biện pháp chế tài của Tư pháp quốc tế với Luật dân sự và Tư pháp quốc tế với Công pháp quốc tế để từ đó có kết luận mang tính thuyết phục hơn.

- Thứ nhất: Về đối tượng điều chỉnh thì Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ mang tính chất dân sự (dân sự theo nghĩa rộng), khác với quan hệ dân sự của pháp luật quốc gia đó là các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài tham gia. Yếu tố nước ngoài tham gia trong các quan hệ Tư pháp quốc tế có thể được phân thành ba nhóm phụ thuộc vào quan hệ pháp luật mà nó có liên quan.

+ Nhóm thứ nhất: Yếu tố nước ngoài là chủ thể tham gia trong các quan hệ pháp luật mang tính chất dân sự. Đó là các thể nhân và pháp nhân nước ngoài, trong một số trường hợp Quốc gia tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt.

+ Nhóm thứ hai: Yếu tố nước ngoài ở đây là khách thể của quan hệ pháp luật, là các tài sản có liên quan đến quan hệ pháp luật đó đang nằm ở nước ngoài.

+ Nhóm thứ ba: Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật đó xảy ra ở nước ngoài.

Yếu tố nước ngoài trong quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế có thể tồn tại trong bất kỳ nhóm nào. Quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong Bộ luật Dân sự CHXHCN Việt Nam năm 1995 tại Điều 826 đó là “…Yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Căn cứ vào quy định tại Điều 826 Bộ luật Dân sự thì ở Việt Nam đã có quan điểm khẳng định: Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật dân sự đó phải có yếu tố nước ngoài tham gia.

Yếu tố nước ngoài theo chúng tôi đó là quan hệ mang tính chất dân sự vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia. Khác với quan hệ mang tính chất chính trị giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế.

Như vậy về mặt bản chất đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế - được coi là có tính “quốc tế” này hoàn toàn khác nhau.

Xét về đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với Luật dân sự thì sự khác nhau là khá rõ ràng đó là Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật “Tư”. Nó bao gồm các quan hệ trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động… hay nói một cách khác là các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài tham gia, còn đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là những nhóm “…Quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự”10.

- Thứ hai: Về phương pháp điều chỉnh thì Công pháp quốc tế điều chỉnh chủ yếu bằng phương pháp thỏa thuận (thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế) giữa các chủ thể của Công pháp quốc tế với nhau. Còn Tư pháp quốc tế điều chỉnh bằng hai phương pháp mang tính đặc thù của ngành luật này đó là phương pháp thực chất - bằng cách áp dụng các quy phạm thực chất, trong đó quy phạm này quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như cách thức áp dụng các biện pháp chế tài theo quy định của một hệ thống pháp luật quốc gia xác định và phương pháp xung đột – áp dụng các quy phạm xung đột để “dẫn chiếu” đến hệ thống pháp luật quốc gia cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó. Như vậy ở đây chúng ta cũng thấy rõ sự khác nhau giữa phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với Luật dân sự đó là phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột còn phương pháp của luật dân sự là phương pháp bình đẳng thỏa thuận.

Tóm lại: Theo Lý luận nhà nước và pháp luật truyền thống khoa học pháp lý để phân biệt ngành luật này với một ngành luật khác cần phải “Dựa trên hai căn cứ là đối tượng điều chỉnh (những quan hệ xã hội có đặc điểm cùng loại cần điều chỉnh) và phương pháp điều chỉnh (cách thức tác động vào các quan hệ đó)”11 thì chúng ta có thể kết luận sơ bộ rằng Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế là những ngành luật độc lập với nhau.

- Thứ ba: Xét về chủ thể của hai ngành luật này chúng ta thấy: Chủ thể cơ bản của Công pháp quốc tế đó là các quốc gia có chủ quyền. Còn chủ thể cơ bản của Tư pháp quốc tế đó là các thể nhân và pháp nhân của các nước khác nhau, trong một số trường hợp quốc gia tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế. Như vậy chủ thể của hai ngành luật này là các “loại” chủ thể khác nhau về quyền lực và địa vị pháp lý khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.

- Thứ tư: Biện pháp chế tài của Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế cũng khác nhau về mặt bản chất. Biện pháp chế tài của Tư pháp quốc tế là bồi thường thiệt hại mang tính tài sản, pháp luật của các quốc gia được áp dụng để điều chỉnh. Còn chế tài trong Công pháp quốc tế mang tính chính trị, phản đối về ngoại giao… tuy rằng có những trường hợp áp dụng các chế tài mang tính tài sản như bồi thường thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế gây thiệt hại của quốc gia gây nên cơ sở pháp lý của việc áp dụng các biện pháp chế tài là do chính các chủ thể thỏa thuận trong các điều ước quốc tế.

- Thứ năm: Ngoài một điểm riêng của Tư pháp quốc tế có nguồn là pháp luật quốc gia thì hai ngành luật này đều có nguồn chung đó là điều ước quốc tế. Đây cũng được coi là điểm cơ bản làm xuất phát điểm để nhiều tác giả cho rằng Tư pháp quốc tế là một phần của Luật quốc tế, đặc biệt là trong tương lai khi các quốc gia tham gia vào mọi lĩnh vực hợp tác quốc tế, thì các điều ước quốc tế sẽ là nguồn cơ bản chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ trong mọi lĩnh vực của quốc gia. Sự phát triển của quá trình hội nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế – thương mại, sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật lên sự điều chỉnh pháp luật - Tất cả các yếu tố này cho thấy một xu hướng vai trò, vị trí của điều ước quốc tế là nguồn của Tư pháp quốc tế ngày càng được nâng cao.

Theo chúng tôi, một điều không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn của Tư pháp quốc tế là các điều ước quốc tế, nhưng pháp luật quốc gia vẫn tồn tại như là một “quy luật” tất yếu khách quan, không thể không có pháp luật quốc gia, đây chính là chủ quyền cơ bản của quốc gia được pháp luật quốc tế khẳng định và ghi nhận. Pháp luật quốc gia là cơ sở là nền tảng cho mọi quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.

Như vậy pháp luật quốc gia được coi và vẫn tiếp tục được coi là nguồn cơ bản của Tư pháp quốc tế. Điều này đã được công nhận trong khoa học pháp lý của nhiều quốc gia trên thế giới. A. Batiffol một luật gia người Pháp khẳng định pháp luật của quốc gia này là hoàn toàn khác với pháp luật của quốc gia khác. Vì vậy tồn tại một cách độc lập pháp luật của Đức, Pháp, Italia…12. “Không thể tồn tại một Tư pháp quốc tế thống nhất – GS. Kh Fonbar khẳng định trong bài phát biểu của mình năm 1987 – Các quốc gia khác nhau có Tư pháp quốc tế riêng của mình và nội dung của nó có sự khác nhau về cơ bản”13. Như vậy ở mỗi quốc gia khác nhau (ngoại trừ những trường hợp áp dụng các nguyên tắc và quy phạm thực chất và xung đột thống nhất trong các điều ước quốc tế) trong việc điều chỉnh các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài tham gia không sử dụng một loại quy phạm của Tư pháp quốc tế chung, mà mỗi quốc gia khác nhau áp dụng các quy phạm khác nhau.

1.5. Căn cứ vào những phân tích trên cho chúng ta thấy đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế thực chất là các quan hệ pháp luật dân sự “đặc biệt”, tính đặc biệt này được thể hiện là các quan hệ này có yếu tố nước ngoài tham gia. Chính vì vậy theo chúng tôi đưa Tư pháp quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia là hợp lý nhất. Nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia nhưng Tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập. Như đã phân tích ở phần trước Tư pháp quốc tế có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Ở Việt Nam do chưa có điều kiện ban hành một đạo luật Tư pháp quốc tế riêng, nên các quy phạm của Tư pháp quốc tế nằm trong Bộ luật Dân sự và ở một số ngành luật khác như trong luật thương mại, đầu tư, quốc tịch, hôn nhân và gia đình, lao động… nhưng cũng không phải vì thế mà cho rằng Tư pháp quốc tế là một phần của Luật dân sự trong nước.

Ngày nay Tư pháp quốc tế có sự phát triển nhanh chóng trên cơ sở từ các chế định, nguyên tắc của Luật quốc tế cũng như các chế định của luật Dân sự trong nước của các quốc gia khác nhau. Do vậy khi nghiên cứu môn khoa học pháp lý này cần vận dụng phương pháp so sánh pháp luật để nghiên cứu mối liên hệ giữa Tư pháp quốc tế với Công pháp quốc tế, Tư pháp quốc tế với Luật dân sự nhằm đạt hiệu quả và có cách nhìn nhận đánh giá vấn đề một cách toàn diện hơn.

2. Nhiệm vụ của Tư pháp quốc tế Việt Nam

Trong điều kiện hiện nay việc tăng cường hợp tác với tất cả các quốc gia, thực hiện việc đổi mới quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút hoạt động đầu tư nước ngoài đã đặt ra trước khoa học Tư pháp quốc tế của nước ta những nhiệm vụ mới, liên quan đến việc xây dựng, soạn thảo những văn bản pháp lý khác nhau điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, bảo hiểm và các quan hệ khác trong thực tiễn đời sống có yếu tố nước ngoài tham gia…. Trên cơ sở này đã hình thành những nhiệm vụ chủ yếu của Tư pháp quốc tế ở Việt Nam đó là:

- Hoàn thiện về mặt pháp lý đối với quá trình hội nhập của nước ta trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế nói riêng và trong mọi mặt của đời sống xã hội của Nhà nước Việt Nam nói chung.

- Thúc đẩy việc áp dụng những hình thức hợp tác mới, sâu rộng hơn và mang lại hiệu quả hơn, trước hết là những hình thức khác nhau của hoạt động liên doanh, liên kết trong hoạt động kinh tế, thương mại.

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, của công dân, tổ chức và các công ty của nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ở nước ngoài.

- Mở rộng việc bảo hộ các quyền hợp pháp của người nước ngoài ở Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau như: thương mại, đầu tư, lao động, hôn nhân và gia đình. Bảo đảm các quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong tố tụng dân sự của người nước ngoài tại Việt Nam và của công dân Việt Nam ở nước ngoài…

Trong thế kỷ của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, của sự hợp tác trong điều kiện hội nhập kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia, khi mà các hoạt động được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia nhưng có quan hệ đến các quốc gia khác và có thể mang lại một hậu quả pháp lý nhất định giữa các quốc gia thì sự hiểu biết về Tư pháp quốc tế có thể giúp các cơ quan có chức năng thẩm quyền trong việc bảo vệ có hiệu quả hơn tài sản quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân của Việt Nam ở nước ngoài.

Bên cạnh đó ý nghĩa thực tiễn to lớn của việc nghiên cứu và nắm vững những vấn đề của Tư pháp quốc tế là hết sức cần thiết không những cho các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động kinh tế mà cũng hết sức cần thiết cho các Thẩm phán, Kiểm sát viên; Công chứng viên và các Luật gia, Luật sư làm việc trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực “...Theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…”14

1 Xem Giáo trình Luật điều ước quốc tế,C.B. Krưlov, Nxb Maxcơva, 1930, tr. 21.

2 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế (3 tập) Phần chung, GS-TS. Luật học L.A Luns, Nxb. Maxcơva, 1973, tr. 11 - 60.

3 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế, Khoa luật ĐHQG Hà Nội, PGS-TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr. 63.

4 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường ĐH Luật HN, TS Bùi Xuân Như chủ biên, Nxb Công an nhân dân, 1997, tr. 6 - 7.

5 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế, Khoa luật ĐHQG Hà Nội, sđd, tr. 7.

6 Xem Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế (sách tham khảo), TS Đoàn Năng, Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr. 51.

7 Xem Mối quan hệ giữa Tư pháp quốc tế và Luật dân sự, TS Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1996, tr. 24.

8 Xem Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, PGS-TS Lê Minh Tâm (chủ biên), Nxb Công an nhân dân, 1998, tr. 403.

9 Xem Mối quan hệ giữa Tư pháp quốc tế và Luật dân sự, TS Nguyễn Trung Tín, bài đã dẫn, tr 24.

10 Xem Điều 1 Bộ luật dân sự CHXHCN Việt Nam 1995.

11 Xem Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, PGS-TS Lê Minh Tâm (Chủ biên), sđd, tr. 393.

12 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế (Bản tiếng Nga), GS-TS Luật học M.M. Boguxlavski, Nxb Iurixt Moscova, 1998, tr. 27.

13 Xem Giáo trình Tư pháp quốc tế (Bản tiếng Nga), GS-TS luật học M.M.Boguxlavski, sđd, tr. 27.

14 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 120.

Nguon: Tap Chi Khoa Hoc Phap Ly - DH.Luat TP.HCM

Triết học pháp luật trong hệ thống các khoa học pháp lý

16 Tháng 9
Tóm tắt. Bài viết phân tích những vấn đề cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu của triết học pháp luật liên hệ vào thế giới đương đại. Triết học pháp luật, xã hội học pháp luật và lý luận pháp luật là ba cách thức – ba hướng nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý hiện đại. Tác giả cũng nêu lên một số vấn đề cơ bản, cấp bách của triết học pháp luật hiện nay như: mối quan hệ giữa đạo đức, pháp luật, dân chủ và tự do, giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, nhận thức pháp luật và một số vấn đề triết học pháp luật chuyên ngành khác. Tác giả đề xuất việc triển khai nghiên cứu triết học pháp luật trên cả hai phương diện: tích hợp ngay trong nghiên cứu lý luận pháp luật truyền thống cùng với xã hội học pháp luật và: xây dựng triết học pháp luật như là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập trong hệ thống các khoa học pháp lý.
Đặt vấn đề
Trong hệ thống các khoa học pháp lý, triết học pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trên cấp độ chung và cấp độ chuyên ngành. Nói một cách đơn giản nhất, triết học pháp luật chính là cách tiếp cận triết học các vấn đề pháp luật và các vấn đề nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật. Ở nước ta, trong những năm gần đây đã bắt đầu có sự quan tâm nghiên cứu, bàn luận về triết học pháp luật. Tuy vậy, so với tầm vóc và ý nghĩa của bộ môn khoa học pháp lý này cũng như sự phát triển của nó trên thế giới, việc nghiên cứu ở nước ta về triết học pháp luật vẫn còn rất khiêm tốn, cả trong lý luận hàn lâm và lý luận giảng đường.
1. Ba con đường – ba cách thức – ba hướng cơ bản về tiếp cận pháp luật
Trong khoa học từ xa xưa đã hình thành nên ba con đường hay ba cách thức cơ bản về tiếp cận pháp luật, nhà nước: lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật. Đó cũng chính là ba hướng tiếp cận pháp luật cần được quan tâm triển khai ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Có làm được điều này thì chúng ta mới có thể khắc phục nhanh chóng được sự lạc hậu và chủ động tham gia hội nhập, trong đó có hội nhập về tư tưởng, về khoa học và đào tạo luật học. Cũng cần phải nhấn mạnh thêm, ngoài ra còn một số cách tiếp cận khác về nhà nước, pháp luật như: tâm lý học pháp luật, kinh tế học pháp luật, nhân chủng học pháp luật v.v… Nhưng với tư cách là những cách thức, hướng tiếp cận có tính liên ngành, chung và cơ bản nhất vẫn là: triết học pháp luật, lý luận pháp luật và xã hội học pháp luật.
Ba cách thức – ba hướng tiếp cận các vấn đề pháp lý không phải hoàn toàn tách biệt nhau mà luôn có sự tích hợp trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Về phương diện này những năm gần đây ở nước ta bước đầu đã được triển khai nghiên cứu tuy chưa thường xuyên và sâu sắc. Ví như vấn đề triết lý của luật thương mại, triết lý của quan hệ lao động, triết lý lập pháp, mối quan hệ giữa xã hội và pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán, luật tục, hương ước, tôn giáo, đạo đức v.v… Không chỉ trong các ấn phẩm khoa học mà cả trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật, đặc biệt là tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, trong nhiều môn học đã có sự tích hợp ba cách tiếp cận pháp luật này – lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật.
Lý luận pháp luật nghiên cứu nội dung bên trong và mối quan hệ của các quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật. Lý luận pháp luật có hai cấp độ cơ bản: lý luận chung về pháp luật và lý luận pháp luật chuyên ngành – lĩnh vực pháp luật như lý luận luật hình sự, lý luận luật hành chính, luật lao động, luật dân sự v.v… Lý luận pháp luật có đặc trưng tiêu biểu là nghiên cứu các khái niệm, các phạm trù, các nguyên tắc pháp luật, hệ thống pháp luật thực định, đương nhiên không chỉ nghiên cứu bản thân hệ thống pháp luật thực định mà cả những nguyên lý tạo thành, áp dụng, vận động và phát triển của pháp luật. Như vậy, thực chất cũng đã có sự tích hợp một số cách tiếp cận triết học pháp luật vào lý luận pháp luật. Xét trên bình diện tổng thể, đến lượt mình, bản thân lý luận pháp luật đích thực cũng đã phải bao hàm các cấp độ của triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật và lý luận pháp luật. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự tích hợp triết học pháp luật vào nội dung của lý luận pháp luật như là phần bổ sung không thôi thì cũng chưa đầy đủ mà cần hình thành và phát triển một hướng nghiên cứu mang tính độc lập tương đối về triết học pháp luật với tư cách là một hướng, một cách thức tiếp cận pháp luật chuyên sâu. Tại các quốc gia có nền văn hoá pháp luật lâu đời và tiên tiến, triết học pháp luật luôn được quan tâm trong giảng dạy, nghiên cứu và ứng dụng. Hiệp hội triết học pháp luật của nhiều nước châu Âu vẫn được nhóm họp hàng năm để hợp tác các hoạt động nghiên cứu chung.
Xã hội học pháp luật có đối tượng nghiên cứu đó là những gì phát sinh và phát triển, gây ảnh hưởng và tác động đến pháp luật, tức là xem xét cơ sở xã hội của pháp luật, tính bị quy định về xã hội của pháp luật [1, tr.448]. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật cần xác định rõ để không lẫn lộn với phương pháp xã hôi học trong nghiên cứu của lý luận về pháp luật – nghiên cứu pháp luật trong đời sống thực tiễn. Tính quy định xã hội của pháp luật chính là vấn đề cơ bản nhất của xã hội học pháp luật. Theo đấy, xã hội học pháp luật tập trung nghiên cứu (lý thuyết và ứng dụng, thực nghiệm) sự tác động của các nhân tố tâm lý – xã hội – công nghệ – kỹ thuật đối với các hiện tượng của đời sống pháp luật và nhà nước. Sự tác động trở lại của pháp luật đối với đời sống xã hội cũng là nội dung quan trọng của xã hội học pháp luật như vấn đề hiệu quả của pháp luật trong các lĩnh vực xã hội: kinh doanh, lao động, việc làm; trật tự an toàn giao thông, hiệu quả của các loại hình dịch vụ pháp lý vv…
Triết học pháp luật (THPL) xuất hiện từ thời cổ đại như là khát vọng mong muốn đạt được nhận thức quy luật tồn tại của pháp luật, mục đích và nhiệm vụ, khả năng, ưu điểm và hạn chế của pháp luật. Với tư cách là khoa học pháp lý độc lập, THPL có nhiệm vụ thực hiện những chức năng khoa học chung, có tính chất phương pháp luận, nhận thức luận và là bộ môn khoa học liên ngành của luật học và triết học. THPL nghiên cứu ý nghĩa, bản chất, khái niệm pháp luật, các cơ sở tồn tại và vị trí của pháp luật trong xã hội, giá trị và tầm quan trọng của pháp luật, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. THPL có nhiệm vụ tìm kiếm chân lý trong pháp luật, tính công bằng, nhân văn của pháp luật. THPL không chỉ nghiên cứu pháp luật, mà còn nghiên cứu cả nhà nước, mặc dù trọng tâm là pháp luật. Trong THPL của mình, Hêghen cũng có cách tiếp cận như vậy: “Hệ thống các học thuyết về nhà nước, pháp luật, xã hội chính là triết học pháp quyền của Hêghen”[2, tr.46]. Cách tiếp cận triết học pháp luật của Mônteskiơ cũng được thể hiện rõ, trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” – ông nghiên cứu cả Nhà nước trong mối tương quan với pháp luật và ngược lại.
THPL là một khoa học liên ngành giữa luật học và triết học. Cả khoa học pháp lý và triết học đều cần tìm kiếm chân lý pháp luật đều cần đến một ngành khoa học. Chính bản thân lĩnh vực pháp lý có mối quan tâm đến phương diện triết học chứ không phải là một sự ghán ghép, áp đặt. Ví dụ như vấn đề triết học trong lĩnh vực pháp luật lao động, trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt, xu hướng vận động của tội phạm cũng như hình phạt, mối quan hệ biện chứng giữa tự do và trách nhiệm trong trách nhiệm hình sự v.v… Hoặc, trong lĩnh vực luật hiến pháp, tư duy triết học là cơ sở khoa học cho các nguyên tắc và quy tắc hiến pháp. Ngay bản thân Nhà nước pháp quyền, trên phương diện tư tưởng, học thuyết thì đây đích thực là một học thuyết triết học – chính trị – pháp lý về nhà nước, pháp luật. Nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng vậy, tiếp cận triết học pháp luật sẽ cho phép nhận thức đúng bản chất và từ đó mới có sự áp dụng đúng đắn trên thực tiễn nguyên tắc phân chia quyền lực. Phải nhận thức vấn đề phân chia quyền lực – sự thống nhất của các mặt đối lập, thống nhất là tuyệt đối, độc lập, phân chia là tương đối trong thể thống nhất về quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước về bản chất là thống nhất. Những sự kiện trên thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua đã làm tăng thêm tính đa dạng, phong phú, sinh động, phức tạp và mới trong đời sống chính trị – pháp lý toàn cầu, những sự kiện như: một quốc gia hai chế độ, sự thành lập và củng cố các liên minh nhà nước, quốc hội, hiến pháp chung của các thiết chế này v.v… Đó là những điều cần phải được lý giải dưới góc độ của THPL.
Mối quan tâm chính của THPL là ý nghĩa, vị trí, vai trò của pháp luật và luật học trong thế giới quan triết học, trong hệ thống các học thuyết triết học về thế giới, về xã hội, con người, hình thức và quy phạm của đời sống xã hội, về con đường và phương pháp nhận thức, về hệ thống các giá trị pháp luật, giá trị đạo đức, giá trị tôn giáo v.v… THPL nói một cách đơn giản nhất là sự tiếp cận pháp luật từ phương diện triết học – hay những vấn đề triết học của pháp luật. Theo Hêghen, tác giả của tác phẩm nổi tiếng: “Triết học pháp quyền” thì triết học pháp quyền nghiên cứu tư tưởng của pháp luật. Nhiệm vụ chủ yếu của triết học pháp quyền là tìm hiểu những tư tưởng chủ đạo nằm trong pháp luật tạo nên tinh thần pháp luật [3, tr.59]. Tư tưởng triết học pháp quyền của Hêghen thực chất là tư tưởng về nguyên tắc và tính chất của pháp luật [4, tr.13].
THPL nghiên cứu bản chất, vai trò, giá trị của pháp luật, lý luận pháp luật nghiên cứu nội dung bên trong và mối tương quan của các quy phạm pháp luật, các quan hệ pháp luật; các kỹ năng áp dụng pháp luật, còn xã hội học pháp luật – chính là thực tiễn pháp luật, là mối tương tác đa chiều giữa pháp luật và các nhân tố xã hội. Cả ba lĩnh vực trên ở mức độ này hay mức độ khác đều có thể được xem là những lĩnh vực tri thức khoa học độc lập, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong việc xem xét các vấn đề pháp lý. THPL, xã hội học pháp luật và lý luận pháp luật là ba cách, ba con đường, ba hướng tiếp cận pháp luật. Mỗi một vấn đề pháp lý thuần tuý luôn luôn chịu sự chi phối, tác động của các vấn đề xã hội. Đó là hướng – cấp độ nghiên cứu pháp luật của xã hội học pháp luật. Trong việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý dù ở cấp độ chung, khái quát hay chuyên ngành cụ thể, chúng ta đều không thể bỏ qua, không thể lẩn tránh được các vấn đề của triết học pháp luật và xã hội học pháp luật. Các vấn đề triết học về nhà nước và pháp luật. Vấn đề quyền con người cũng phải tiếp cận từ phương diện triết học pháp luật, trong đó có mối quan hệ giữa quyền con người và sự giới hạn quyền lực nhà nước, giới hạn cả bản thân quyền con người, tương quan giữa quyền con người và lợi ích công cộng…
Bất kỳ một hiện tượng pháp luật nào, một loại hành vi pháp luật – hợp pháp hay không hợp pháp về nguyên tắc đều phải được tiếp cận theo cả ba cách thức: lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật. Chỉ có điều, tuỳ thuộc vào yêu cầu, mục đích của việc nghiên cứu cụ thể mà hàm lượng và tỷ lệ tương quan giữa chúng được phân bổ hợp lý. Ví như trong nghiên cứu hiện tượng tham nhũng, bên cạnh việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật hiện hành về xử lý hành vi tham nhũng, cần thiết phải nghiên cứu các vấn đề triết học và xã hội học của tham nhũng như sự tác động của các nhân tố tâm lý – xã hội đến tham nhũng, xu hướng vận động của hiện tượng này. Có như vậy mới có sự đánh giá một cách khách quan, toàn diện, có hệ thống về tham nhũng và trên cơ sở đó có thể đề xuất những giải pháp hữư hiệu để hạn chế đến mức thấp nhất loại tội phạm này này. Vấn đề tham nhũng theo đấy được nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học, ngay trong luật học cũng cần được nghiên cứu từ góc độ lý luận chung về pháp luật và lý luận của các chuyên ngành luật học.
Lâu nay giữa các nhà chính trị học, nhà luật học thay vì liên kết, hợp tác chặt chẽ họ lại riêng rẽ trong việc nghiên cứu các vấn đề nhà nước, pháp luật và xã hội. Mỗi khoa học thường chỉ theo đuổi mục đích, đặc thù nghiên cứu riêng của mình. Nhà luật học, chẳng hạn thường là ít hoặc không quan tâm đến các qúa trình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của quốc gia và nhân loại. Còn nhà chính trị học lại ít quan tâm đến các vấn đề pháp luật, áp dụng pháp luật… Trong khi đó, pháp luật, sự ban hành và áp dụng pháp luật lại là những vấn đề xã hội, phụ thuộc vào những điều kiện khách quan của xã hội, chỉ có thể lý giải và minh chứng từ chính các quá trình xã hội. Trong trường hợp đó, THPL là khoa học nghiên cứu, liên kết cả hai. Sự tách biệt giữa hai khoa học này – chính trị học và luật học cần được khắc phục cũng chính như sự độc lập tương đối của bản thân các vấn đề chính trị và pháp luật. Khoa học triết học pháp luật có thể làm nhiệm vụ đó.
Triết học pháp luật có nhiệm vụ tìm kiếm chân lý trong pháp luật. Đã đành rằng pháp luật do công quyền quy định, người đại diện chính thức cho toàn xã hội, song nói đến pháp luật còn phải xem xét đến tính chân lý, công bằng, tính đúng đắn, tính nhân văn. Trong lý luận pháp luật thường có sự đồng nhất giữa Luật và Pháp luật. Quan điểm tiếp cận này về pháp luật, coi pháp luật nói chung là pháp luật khách quan, pháp luật thực định tức đã đồng nhất pháp luật với luật. Điều đặc trưng cho lý thuyết pháp luật nói chung là quy về quy phạm học, cách quan niệm này cho rằng chân lý của pháp luật ở chính trong pháp luật và được giới hạn ở ý chí của nhà làm luật, quan điểm và ý kiến của người cầm quyền chính là pháp luật khách quan. Quan điểm này tất nhiên không hoàn toàn phù hợp với bản chất và yêu cầu của chân lý, pháp luật chân chính không phải được dựa trên ý chí chủ quan của một thế lực nào mà là dựa trên chân lý, lẽ phải. Đó là những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của THPL. Trong THPL có một phần quan trọng đó là lý luận nhận thức pháp luật, mà cơ sở của nó là vấn đề sự khác biệt và tương quan giữa pháp luật và luật.
Một trong những nội dung nghiên cứu của THPL là pháp luật trong sự khác biệt và tương quan với các loại quy tắc điều chỉnh xã hội khác. Theo đấy, có những mối quan hệ thường trực như mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, tôn giáo và ngay chính với nhà nước. Xét về cơ cấu, triết học pháp luật có hai phần: phần chung của THPL là những vấn đề triết học của pháp luật như bản chất, vai trò, giá trị xã hội của pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật với các loại công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác, mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và pháp luật, giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự; giữa nội dung và hình thức nhà nước; mối quan hệ của cá nhân và pháp luật; v.v… Phần riêng của THPL là những tư tưởng truyền thống và hiện đại của THPL. Theo đấy là những quan điểm cơ bản về pháp luật và nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật, cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước và pháp luật trong các hệ tư tưởng pháp luật của nhân loại qua các chặng đường lịch sử.
Trong tương quan giữa xã hội học pháp luật và triết học pháp luật, nếu xã hội học pháp luật quan tâm đến hành vi thực tế, đến thực tại pháp luật thì triết học pháp luật cung cấp khả năng về nhận thức – những nhận thức về vai trò giá trị xã hội của pháp luật, vị trí, ý nghĩa sự điều chỉnh pháp luật, giá trị của pháp luật đối với thang giá trị xã hội nói chung.
2. Một số vấn đề cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu của THPL trong bối cảnh hiện nay
Nhiệm vụ và vai trò của THPL là rất to lớn, đối tượng nghiên cứu của THPL do vậy cũng bao gồm nhiều vấn đề. Bước đầu có thể nêu một số vấn đề, một số hướng chủ yếu trong THPL hiện nay như sau.
2.1. Về nhận thức – quan niệm pháp luật
Một trong những vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới lý luận đó là nhận thức về pháp luật, pháp luật là gì, nên hiểu như thế nào và đến giới hạn nào về pháp luật. Từ xa xưa triết gia người Đức Kantơ đã nhận xét: các luật gia luôn đi tìm một định nghĩa về pháp luật, câu nói đó vẫn còn nguyên giá trị cho đến thời đại ngày nay. Pháp luật là sự phản ánh cái đang tồn tại, cái hiện thực, cái có sẵn hay pháp luật là cái cần phải có… Trong lịch sử đã từng tồn tại các quan niệm khác nhau về pháp luật, tạo nên những trường phái đặc thù như: trường phái tôn giáo về pháp luật, pháp luật tự nhiên, pháp luật thực định: xã hội học pháp luật, triết học pháp luật, tâm lý pháp luật; quan niệm giai cấp về pháp luật. Hiện nay quan niệm pháp luật là đại lượng của tự do, công bằng đang là xu thế thời đại. Quan niệm triết học về pháp luật, về nguyên tắc của tự do: pháp luật được xác định các điều kiện, trong đó con người có thể hành động một cách tự do, có nghĩa là xác định lĩnh vực hay là giới hạn, khuôn khổ – đại lượng tự do cá nhân. Do vậy, cần đi sâu nghiên cứu về pháp luật, bản chất, giá trị, công năng, các thuộc tính và mối quan hệ với các công cụ điều chỉnh hành vi khác.
2.2. Nghiên cứu mối quan hệ giữa đạo đức, pháp luật, dân chủ và tự do
Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền dân chủ và xã hội dân sự, các vấn đề chi phối sự quan tâm của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia, dân tộc và thời đại đó là tương quan giữa đạo đức, pháp luật, dân chủ và tự do. Những vấn đề này về nguyên tắc cũng đã được thể chế hoá trong pháp luật. Sự nhận thức, thực hành các giá trị này vốn đã phức tạp nay lại càng phức tạp hơn trong xã hội hiện đại. Tiếp cận THPL sẽ cho phép lý giải nhiều vấn đề cơ bản của mối quan hệ đa chiều giữa các phạm trù đạo đức, pháp luật, dân chủ và tự do.
Pháp luật chỉ quan hệ với tự do có giới hạn, tự do của một người bị giới hạn bằng tự do của người khác. Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, tự do được mở rộng đối với mỗi cá nhân, tự do được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Các nhà tư tưởng lỗi lạc của nhân loại đã lý giải và xây dựng những đề án về tự do: “Tự do được thừa nhận về mặt pháp lý tồn tại trong nhà nước dưới hình thức pháp luật. Luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định tích cực, rõ ràng, phổ biến trong đó tự do có được sự tồn tại không phụ thuộc vào sự tuỳ tiện của cá nhân riêng lẻ. Bộ luật là kinh thánh tự do của nhân dân”. Từ J.Lôcke đến Montesquieu với tác phẩm bất hủ vượt thời gian “Tinh thần pháp luật”, đã xây dựng lí thuyết phân chia quyền lực và khẳng định, ở đâu không có pháp luật thì cũng không có tự do, bởi vì pháp luật là công cụ cơ bản quyết định việc giữ gìn và mở rộng tự do cá nhân, đồng thời bảo đảm cho cá nhân tránh khỏi sự tuỳ tiện và ý chí độc đoán của những người cầm quyền [5, tr.100-101].
2.3. Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Giữa đạo đức và pháp luật có sự thống nhất bao hàm sự khác biệt, không đồng nhất, không thay thế nhau và loại trừ nhau mà luôn tồn tại trong một thể thống nhất. Pháp luật hay đạo đức, dân chủ hay tự do thì cũng đều phải giải quyết vấn đề lợi ích, vấn đề tương quan giữa quyền và nghĩa vụ, sự tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ, tôn vinh các giá trị, các quyền con người. Đây là những điều kiện thiết yếu để thực hành đạo đức, dân chủ, tự do và pháp luật. Về nguyên tắc, không phải pháp luật phán xét đạo đức mà ngược lại, đạo đức mới có quyền phán xét pháp luật. Trong lịch sử và mãi mãi, pháp luật chưa bao giờ lấn át được đạo đức. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức luôn là tiêu chí tác động đến nội dung của các quy phạm pháp luật, được tính đến khi xem xét các vấn đề pháp lý và ngược lại, trong từng vấn đề của đạo đức đều phải xem xét cả phương diện pháp lý.
2.4. Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật
Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật không chỉ phải quan tâm đến sự thống nhất nội tại, sự cần thiết có nhau của nhà nước và pháp luật mà còn phải xem xét đến sự khác biệt, sự không tương thích, hay những mâu thuẫn tất yếu của nhà nước và pháp luật. Sự không tương xứng với nhau của nhà nước và pháp luật được thể hiện ở rất nhiều vấn đề cụ thể, ví như sự không phù hợp giữa hoạt động tổ chức của nhà nước với hoạt động xây dựng pháp luật hay nhận thức, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ áp dụng pháp luật nhiều khi lạc hậu so với các lý luận khoa học và thực tiễn, thậm chí với chính các quy định pháp luật mới. Sự thống nhất bao hàm sự khác biệt, không đồng nhất, không thay thế nhau và loại trừ nhau, nhà nước và pháp luật luôn luôn tồn tại trong một thể thống nhất. Bất kỳ một sự thống nhất nào cũng không có nghĩa là đồng nhất. Đó chính là biện chứng của nhà nước và pháp luật trong mối quan hệ sinh tồn của chúng.
2.5. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, Nhà nước pháp quyền và quyền con người
Một Nhà nước pháp quyền đích thực phải được tồn tại trong môi trường có sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự và ngược lại. Hai loại thực thể này trên phương diện triết học vừa đối lập vừa nằm trong một thể thống nhất, phụ thuộc, nương tựa, ảnh hưởng lẫn nhau và cũng phải tự phân định phạm vi giới hạn chủ quyền của nhau và phạm vi của sự hợp tác. Trong xã hội dân sự, hoạt động của nhà nước cần được tiến hành trong các hình thức pháp lý dân chủ để bảo vệ các quyền con người và các giá trị nhân đạo khác. Xã hội dân sự là điều kiện thiết yếu để hình thành và phát triển Nhà nước pháp quyền. Cần phải xây dựng trong lòng xã hội dân sự ý thức tôn trọng pháp quyền, tính chất pháp quyền phải có mặt trong tất cả các quan hệ pháp luật. Chỉ có nhờ vào xã hội dân sự thì nhà nước mới không rơi vào tình trạng độc tài, mới thực sự vì lợi ích chính đáng của con người. Và ngược lại, Nhà nước pháp quyền đảm bảo an toàn cho xã hội dân sự vận hành. Tiếp cận THPL cho phép nhận diện một cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.
Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự và quyền con người cũng là một trong những vấn đề cơ bản của THPL. Bởi lẽ, không chỉ đơn thuần là việc quy định trong pháp luật các quyền con người hay việc thực thi chúng trong thực tiễn mà còn là vấn đề mang tính nguyên tắc chung hơn ví như vấn đề tự do đối với cả hai phía – cá nhân mỗi con người và nhà nước. Giới hạn của quyền lực nhà nước nhìn từ một phương diện đó chính là quyền con người. Nhưng đến lượt mình, bản thân quyền con người và sự giới hạn tất yếu của nó cũng là lợi ích xã hội, lợi ích chung mà pháp luật nhà nước là một trong những cách thức, một trong những công cụ thể chế hoá và thực hiện trong đời sống xã hội. Những vấn đề đại để như vậy cần phải được tiếp cận từ phương diện triết học, coi đó là cơ sở để xâm nhập một cách tự tin vào các quy định pháp luật, vào hệ thống các thiết chế và các biện pháp pháp lý.
2.6. Những vấn đề triết học cơ bản khác thuộc các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành
Ngoài những vấn đề chung có tính liên ngành nêu trên, triết học pháp luật còn cần được triển khai trên quy mô của các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành. Điều này trước hết xuất phát từ chính mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, không thể biệt lập các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành được kể cả trong văn bản pháp luật, kể cả trong thực tiễn nhận thức và áp dụng. Những nguyên lý hình thành, biến đổi của hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực cần được tiếp cận từ phương diện triết học pháp luật, triết học văn hoá – đạo đức. Ví như, tương quan giữa tội phạm và hình phạt, xu hướng vận động của các loại hình phạt qua các không gian và thời gian; vấn đề pháp lý và đạo đức của án tử hình v.v… đều thuộc phạm vi những vấn đề triết học của pháp luật – của THPL. Ngay cả những vấn đề thường nhật như trách nhiệm bồi thường thiệt hại tinh thần và vật chất, vấn đề lỗi cùng tính bắt buộc hay không bắt buộc của nó trong các quan hệ không chỉ lĩnh vực luật tư mà cả lĩnh vực luật công cũng cần được nhận thức và thực hành như thế nào cho hợp lý tối ưu nhất… đều thuộc vùng phủ sóng của THPL.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của THPL và phù hợp với hội nhập quốc tế về đào tạo và nghiên cứu pháp luật, việc triển khai nghiên cứu THPL ở nước ta hiện nay có thể tiến hành song song trên cả hai phương diện: tích hợp ngay trong nghiên cứu lý luận pháp luật truyền thống cùng với xã hội học pháp luật và, xây dựng triết học pháp luật như là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập trong hệ thống các khoa học pháp lý nước nhà.
Tài liệu tham khảo
[1] Đào Trí Úc, Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
[2] Montesquieu, Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.
[3] Hêgen, Triết học pháp quyền, NXB Bek, Maxcơva, 1990 (bản tiếng Nga).
[4] Nguyễn Trọng Chuẩn, Triết học pháp quyền của Hêghen, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
[5] V.X. Nhersexian, Triết học pháp quyền, NXB Bek, Maxcơva, 1998 (bản tiếng Nga).
Hoàng Thị Kim Quế
Theo: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế – Luật 23 (2007)

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT LÀ BẢO ĐẢM TÍNH TỐI CAO CỦA HIẾN PHÁP *



                                                               TS. Ngô Đức Mạnh

Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội

 

Nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu cấp thiết là pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh, áp dụng thống nhất trong cuộc sống. Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật, cần thiết phải xúc tiến công tác giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) là cơ quan được giao thẩm quyền này nhưng chỉ mới tiến hành giải thích một số quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật[1]. Điều này, như Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI có nhận xét là đã ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với một số dự án luật, pháp lệnh[2]... Nhằm góp thêm tiếng nói vào các cuộc thảo luận sôi nổi đang diễn ra về vấn đề giải thích pháp luật, bài viết trình bày một số vấn đề về quan niệm, cơ quan có thẩm quyền giải thích và quy trình, thủ tục giải thích pháp luật ở nước ta.  

1. Quan niệm về giải thích

Đã có nhiều cuộc trao đổi rộng rãi và có chiều sâu về vấn đề giải thích Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam (giải thích pháp luật)[3]. Ít nhất là đã có hai quan niệm về vấn đề này. Ý kiến của John Gillespie lập luận rằng, ý nghĩa và vai trò của giải thích pháp luật là nhằm giải thích ngữ nghĩa của các quy phạm pháp luật trong những hoàn cảnh cụ thể bởi cách hiểu chủ quan của từng cá nhân; qua đó, từ những quy định chung, gọn mà thông qua việc giải thích, pháp luật đi vào cuộc sống, được áp dụng trong những tình huống cụ thể[4]. Trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với nhu cầu ngày càng tăng đòi hỏi phải có các điều luật rõ ràng, thống nhất và minh bạch... và chỉ có thể đạt được một hệ thống pháp luật như vậy thông qua một hệ thống giải thích pháp luật hiệu quả”[5]. Trong khi đó, Nguyễn Như Phát lại nhấn mạnh, giải thích pháp luật là công cụ đảm bảo tính minh bạch của pháp luật; tính minh bạch của hệ thống pháp luật bị đe dọa do thiếu một cơ chế giải thích pháp luật hữu hiệu[6].

Chúng tôi cho rằng, những quan niệm trên đều có tính hợp lý của nó xét từ yêu cầu chung của công tác thi hành pháp luật. Tuy vậy, xét trong tổng thể hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật, thì mục đích chung chi phối toàn bộ hoạt động giải thích pháp luật là nhằm bảo đảm tính thống nhất, nhất quán của hệ thống pháp luật; bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp và tính tối cao của Hiến pháp trong đời sống chính trị, xã hội của chúng ta. Lý thuyết lập pháp và kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới cho thấy, hiến pháp là đạo luật gốc, là nền tảng chính trị - pháp lý cho sự tồn tại của cả hệ thống chính trị và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Trong mọi trường hợp, không thể có giải thích pháp luật chung chung mà việc giải thích đó phải căn cứ vào Hiến pháp. Đến lượt mình, Hiến pháp cũng phải được giải thích để làm rõ ý định của nhà lập hiến và làm rõ các quy định của hiến pháp để thực thi và bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp trên thực tế. Điều này lại càng có ý nghĩa và cấp thiết hơn trong điều kiện Hiến pháp Việt Nam không có hiệu lực áp dụng trực tiếp[7]; tổ chức, cá nhân không viện dẫn các quy định của Hiến pháp để giải quyết một vụ việc cụ thể, để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp khi bị khởi kiện hoặc khiếu nại[8]. Từ đó, bản chất của việc giải thích pháp luật là nhằm góp phần làm rõ tinh thần và lời văn của Hiến pháp, làm cho Hiến pháp được áp dụng và tuân thủ nhất quán trong cuộc sống. Đây cũng chính là bản chất của chế độ pháp quyền mà chúng ta đang phấn đấu xây dựng là sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Cũng từ cách tiếp cận này mà cần phân biệt các cấp độ của việc giải thích Hiến pháp, luật và giải thích văn bản dưới luật. Trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp là đạo luật gốc, có giá trị pháp lý cao nhất chi phối toàn bộ hệ thống pháp luật. Giải thích Hiến pháp là giải thích quy phạm mang tính quyền lực nhà nước và có tính bắt buộc cao nhất đối với mọi chủ thể trong xã hội. Điều khoản giải thích Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng, là chuẩn mực cho việc hiểu và áp dụng đúng quy định của Hiến pháp trên thực tế. Tương tự như vậy, giải thích đạo luật do Quốc hội ban hành là nhằm bảo đảm tính nhất quán, cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng luật hoặc có sự xung đột giữa các quy phạm pháp luật trong cùng đạo luật với nhau hoặc giữa quy định của đạo luật đó với Hiến pháp. Khi được giải thích chính thức, điều khoản giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh chính là một phần cấu thành của văn bản được giải thích, tạo thành tổng thể các quy phạm pháp luật đòi hỏi sự nhất quán nội tại trong toàn bộ hệ thống văn bản và cả hệ thống pháp luật.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải thích

Theo quy định của pháp luật hiện hành, UBTVQH là cơ quan do Quốc hội bầu, có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh[9]. Lý giải về vấn đề này, có ý kiến cho rằng quy định này xuất phát từ tính chất hoạt động của Quốc hội là hoạt động không thường xuyên, vừa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật[10]. Ý kiến khác phân tích việc trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho UBTVQH từ quan niệm áp dụng nguyên tắc thống nhất quyền lực khi cho rằng, trong Hiến pháp 1992 đã không chấp nhận học thuyết phân chia quyền lực vì điều này mâu thuẫn với quan điểm của Lê-nin về tập trung dân chủ[11]. UBTVQH là cơ quan lập pháp, tương tự như Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, nắm rõ hơn về ý nghĩa chính xác của các quy định pháp luật so với tòa án, nên là cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, những lập luận trên chỉ có tính hợp lý trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, mà chưa tính đến những thay đổi cơ bản gần đây của chúng ta trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, trong tổ chức, hoạt động của Quốc hội. Dường như có sự đồng nhất giữa vai trò giải thích pháp luật với tính chất hoạt động thường xuyên (thường trực) của UBTVQH mà cho rằng cơ quan này hoạt động thường xuyên nên giao thẩm quyền giải thích pháp luật cho UBTVQH. Còn nhận xét cho rằng giải thích pháp luật chỉ có thể thực hiện trong điều kiện phân chia quyền lực là chưa tính đến yêu cầu mang tính phổ biến là pháp luật phải được giải thích kịp thời, cụ thể đối với những quy định ngắn gọn mang tính nguyên tắc cần thiết để pháp luật được tôn trọng và thi hành ở bất kỳ xã hội tiến bộ nào. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng, nguyên tắc tập trung quyền lực vẫn là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ quan niệm và thực tế từ ngày lập nên nước Việt Nam mới rằng, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quan niệm về tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, được thể hiện trong điều khoản sửa đổi của Hiến pháp năm 2001. Đó là quy định quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Từ đó, và theo quy định của pháp luật hiện hành, phạm vi thẩm quyền của UBTVQH cũng được điều chỉnh hợp lý hơn để đóng vai trò chủ yếu là cơ quan thường trực của Quốc hội trong việc chuẩn bị và tổ chức, điều hòa các hoạt động của Quốc hội. Ở khía cạnh thẩm quyền giải thích pháp luật của UBTVQH, có thực tế là UBTVQH ít khi giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Điều này, như đã nêu ở trên, ảnh hưởng đến việc bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh ở nước ta[12]. Từ đó, đã có nhiều cuộc trao đổi về những vấn đề tồn tại liên quan đến thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật của UBTVQH  và về sự cần thiết phải vận hành có hiệu quả cơ chế bảo hiến ở Việt Nam[13]. Góp thêm ý kiến về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, lý do chủ yếu là chúng ta chưa có sự nhận thức đầy đủ về giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh như là một yêu cầu có tính quyết định để đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, chúng ta quá chú trọng vào hoạt động xây dựng pháp luật; nhấn mạnh đến khía cạnh giải thích chính thức, tức là UBTVQH thực hiện việc giải thích các quy định của pháp luật bằng cách ban hành văn bản giải thích (Nghị quyết) theo trình tự và thủ tục tương tự như xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới. Theo cách này, cần phải có sáng kiến, đề xuất về vấn đề cần giải thích, chuẩn bị dự thảo văn bản giải thích, rồi tiến hành thẩm tra và xem xét, cho ý kiến và trên cơ sở đó, UBTVQH mới ban hành văn bản giải thích. Cách làm này cũng như việc chưa có cơ chế để tạo điều kiện cho các tòa án có quyền giải thích pháp luật, là cách làm phổ biến ở nhiều nước khác, cũng là một nguyên nhân làm cho pháp luật của chúng ta chậm đi vào cuộc sống. Từ đó, cần phải tìm kiếm các giải pháp thích hợp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật do Quốc hội ban hành bằng việc thiết lập cơ chế bảo hiến có hiệu quả hơn[14].

3. Xác lập quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp, pháp luật

Từ những điều đã trình bày trên cho thấy, có rất nhiều vấn đề đặt ra phải được làm rõ đối với việc giải thích chính thức của UBTVQH, như quy trình giải thích: từ việc trình kiến nghị giải thích, thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội cho đến việc thảo luận và ban hành văn bản giải thích và nhất là, xác định rõ mối quan hệ giữa điều khoản giải thích do UBTVQH đưa ra và nội dung được giải thích trong luật, pháp lệnh, về hiệu lực thi hành của chúng, nhất là khi nội dung giải thích lại là các quy định của Hiến pháp.

Để vận hành có hiệu quả công tác giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, chúng tôi cho rằng, cần tách biệt quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp với quy trình giải thích luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật. Rõ ràng là từ địa vị pháp lý của Hiến pháp mà cần phải có quy trình, thủ tục riêng về giải thích Hiến pháp để tinh thần và lời văn của Hiến pháp được tuân thủ nghiêm chỉnh, nhất quán trên thực tế. Với suy nghĩ như vậy, đã có ý kiến đề xuất về mô hình cơ quan bảo hiến chuyên trách (có thể thành lập Tòa án Hiến pháp) ở Việt Nam có tính độc lập và chuyên nghiệp cao[15]. Tòa án Hiến pháp có thể được giao 4 loại nhiệm vụ như phán quyết về mức độ vi hiến của các văn bản quy phạm pháp luật; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan hiến định; giải quyết các khiếu kiện của công dân, pháp nhân Việt Nam đối với các quyết định bị cho là vi hiến và giải thích Hiến pháp[16].

Chúng tôi cho rằng, không nhất thiết phải thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách, mà nên trao cho Tòa án nhân dân tối cao cả chức năng giải thích Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật hoặc hành vi được coi là vi hiến trong các vụ việc cụ thể mà Tòa án nhân dân tối cao là cấp xét xử cuối cùng. Các tòa án khác cũng có thể giải thích Hiến pháp và pháp luật trong việc xét xử các vụ án cụ thể; mở rộng cách hiểu về giải thích pháp luật không chỉ là xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để làm rõ, cụ thể và đầy đủ hơn quy định được giải thích[17]. Đó là sự bổ sung cần thiết cho việc giải thích chính thức, giải thích mang tính quy phạm mà thực tế lâu nay chúng ta đã tiến hành. Như vậy, UBTVQH vẫn có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh theo trình tự, thủ tục nhất định bằng việc ban hành văn bản giải thích. Trong trường hợp giải thích đó liên quan đến điều khoản của Hiến pháp thì cần được trình để Quốc hội xem xét, ban hành thành văn bản giải thích chính thức cụ thể.

Tiếp đến là xây dựng phương pháp giải thích Hiến pháp, luật và văn bản dưới luật một cách khoa học trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp khác nhau vì những nội dung cần giải thích rất phức tạp, có nhiều nội hàm. Cụ thể là cần áp dụng phương pháp giải thích căn cứ vào ý định của nhà lập pháp; vào việc xem xét ngữ nghĩa của các khái niệm, học thuyết lập pháp thông qua việc hiểu từ ngữ của luật theo cách thông thường và tự nhiên trong những ngữ cảnh nhất định. Điều này đặt ra yêu cầu phải triển khai công tác nghiên cứu lập pháp một cách có bài bản, nhất là hệ thống hóa toàn bộ lịch sử lập pháp của một đạo luật từ lúc khởi thảo cho đến khi được xem xét, thông qua và sắp xếp chúng theo phương thức sao cho có thể thuận tiện cho việc tra cứu, đối chiếu, truy cập và phổ biến rộng rãi trong giới luật học, các thẩm phán và những người làm công tác thực tiễn. 

Liên quan đến việc giải thích pháp luật của toà án, chúng tôi cho rằng, cần có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn của các thẩm phán trong việc hiểu và vận dụng pháp luật để xét xử các vụ án cụ thể. Yêu cầu quan trọng hàng đầu là xuất phát từ kinh nghiệm, niềm tin nội tại của mình về công lý mà các thẩm phán có trách nhiệm vận dụng lời văn và tinh thần trong các quy định của Hiến pháp, pháp luật để xem xét và đưa ra phán quyết về những trường hợp cụ thể. Chúng ta không thể để tình trạng cho rằng pháp luật chưa quy định hoặc quy định không rõ mà không thể xử lý vụ việc, dẫn đến việc xét xử bị chậm trễ, bế tắc hoặc “xét xử thế nào cũng được”. Ở đây, ngoài yếu tố về trình độ, bản lĩnh của mỗi vị quan toà, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp trong sáng là chìa khoá để giúp các thẩm phán giải mã những quy định còn chưa rõ ràng của pháp luật trong các vụ kiện mà họ thụ lý. Thêm nữa, cần tiếp tục đẩy mạnh việc công khai, minh bạch hóa hoạt động xét xử của Tòa án, thúc đẩy việc hình thành các án lệ qua việc tập hợp và công khai các phán quyết mà Tòa án nhân dân tối cao đã và đang thực hiện. Và cuối cùng là kịp thời tổng kết kinh nghiệm xét xử của Toà án để nâng những vấn đề pháp lý trong các trường hợp áp dụng pháp luật cụ thể qua các bản án đã có hiệu lực thi hành thành ý kiến giải thích chính thức do UBTVQH ban hành./.



* Nghiên cứu Lập pháp, số 11(27), tháng 7/2008.
[1] Xem Nghị quyết số 746 của UBTVQH ban hành năm 2005 giải thích Điều 241 của Luật Thương mại. Điều luật này quy định thời gian để khách hàng khiếu nại về chất lượng hàng hóa. Bộ Thương mại đã đề nghị UBTVQH phải làm rõ thời gian 3 tháng đối với khách hàng nêu trong một phần của điều luật có áp dụng cho các phần khác của điều luật không. Tương tự như vậy, Nghị quyết số 1033 của UBTVQH ban hành năm 2006 giải thích Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước nhằm làm rõ khi nào thì văn bản dưới luật do Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành có hiệu lực pháp luật.
[2] Báo cáo  số 18/BC-QH11 ngày 27/4/2007 của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007) trong Kỷ yếu Tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, Hà Nội, tháng 6/2007, tr. 14.
[3] Gần đây nhất là Hội thảo về giải thích pháp luật do Văn phòng Quốc hội tổ chức vào ngày 21-22/2/2008 tại Hà Nội với sự tham dự đông đảo của các chuyên gia pháp luật trong nước và của nước ngoài đến từ Hồng Kông, Hàn Quốc, Ôtx trây lia.
[4] Xem John Gillespie, Báo cáo chuyên đề tại Hội thảo về giải thích pháp luật, tr. 1.
[5] Xem John Gillespie, Báo cáo chuyên đề,  tr. 4.
[6] Xem Nguyễn Như Phát, Giải thích pháp luật tại Việt Nam - công cụ đảm bảo tính minh bạch của pháp luật, bài viết tham gia Hội thảo, tr. 2-3.
[7] Xem: Nguyễn Duy Quý, Triển vọng về một thiết chế bảo hiến ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hội thảo khoa học về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam tại thành phố Vinh, Nghệ An, từ ngày 22 -24/3/2005.
[8] Đặng Văn Chiến (Chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 193.
[9] Hiến pháp 1992; Luật Tổ chức Quốc hội 2002, Điều 7.
[10] Xem Đặng Văn Chiến, tr. 185.
[11] Trích theo John Gillespie, trong  Báo cáo đề dẫn Hội thảo về giải thích pháp luật, Hà Nội  21-22/2-2008. J. Gillespie dẫn theo Đài tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam, in Vietnamese), Vo Chi Cong Report to the National Assembly 25 March 1992, in FBIS-EAS-92-060, 27 March 1992.
[12] Xem Lương Minh Tuân, Hoạt động của Quốc hội với vấn đề bảo hiến ở Việt Nam, trong sách: Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Ngô Đức Mạnh (chủ biên), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 481.
[13] Trong số này, đáng chú ý nhất là Hội thảo khoa học về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam tại thành phố Vinh, Nghệ An, từ ngày 23 -24/3/2005. Hội thảo có sự tham dự đông đảo các đại biểu Quốc hội, luật gia, nhà nghiên cứu có tên tuổi và những người làm công tác thực tiễn ở Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao.
[14] Ngô Đức Mạnh, Hoạt động lập pháp của Quốc hội vì một nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong sách: Quốc hội Việt Nam - 60 năm hình thành và phát triển. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 182.
[15] Xem Đặng Văn Chiến, sđd, tr. 194-208.
[16] Xem Lương Minh Tuân, Hoạt động của Quốc hội với vấn đề bảo hiến ở Việt Nam, sđd,  tr. 482-483.
[17] Xem các Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 24/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/10/1991; Nghị quyết 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 về quy định giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 1/7/1991.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code