Showing posts with label Luât. Show all posts
Showing posts with label Luât. Show all posts

Thursday, August 15, 2013

HỌC NGÀNH LUẬT CÓ KHÓ KHÔNG? TƯƠNG LAI CỦA NGHỀ LUẬT RA SAO?

Đó chính là 2 câu hỏi được nhiều bạn học sinh, sinh viên đặt ra khi lựa chọn học ngành Luật. Câu trả lời cho 2 câu hỏi trên được đưa ra dựa vào cuộc phỏng vấn những cựu sinh viên học chuyên ngành Luật kinh doanh quốc tế tại Đại học Ngoại Thương (FTU).
951ca3f532b0f1.img 1 300x210 HỌC NGÀNH LUẬT CÓ KHÓ KHÔNG? TƯƠNG LAI CỦA NGHỀ LUẬT RA SAO?
Học luật có khó không?
 Nhiều bạn có thể còn mang nặng thành kiến, cho rằng học luật khô khan lắm, phải thuộc lòng đủ thứ luật lệ. Nhưng thực tế việc học các môn luật ở FTU không hề tiêu cực như vậy, ít ra là không khô khan chút nào. Học luật ở FTU không phải là đọc-chép, và chắc chắn không phải là học vẹt, học tủ để đi thi. Ngược lại, trong các buổi giảng dạy, trao đổi, giảng viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, sinh viên sẽ tìm hiểu về các chủ đề của môn học và khẳng định thành quả nghiên cứu của mình. Chính những phát biểu, bài tiểu luận và thuyết trình của sinh viên sẽ giúp họ rút ra những bài học cốt yếu của môn học. Giảng viên cũng thường xuyên đưa ra các tình huống để sinh viên chủ động vận dụng pháp luật để giải quyết. Những bài tập như vậy không khác gì so với công việc tư vấn pháp lý mà các bạn sẽ phải thực hiện trong quá trình công tác sau này, vì thế, trở nên vô cùng lý thú và hữu ích. Sinh viên Luật FTU không thể thấy khô khan trong những giờ học như thế. Ngược lại, các bạn sẽ hiểu được rằng, học luật ở đây không có nghĩa là học thuộc lòng luật – mà là học cách vận dụng pháp luật.
 Tương đồng với việc giảng dạy đó, việc kiểm tra, đánh giá cũng tập trung vào việc áp dụng luật pháp chứ không phải là chép thuộc lòng các quy định. Hầu hết các môn đều cho phép sử dụng tài liệu khi làm bài thi. Tuy nhiên, sinh viên phải nhớ được các nguyên lý cốt lõi, từ đó mới có thể để tra cứu và vận dụng pháp luật chính xác và hiệu quả.
 Bởi vậy, các bạn sinh viên cần chủ động nghiên cứu, tìm tòi và ghi nhớ những kiến thức cốt lõi của từng môn học. Xin lưu ý rằng, những kiến thức cơ bản nhất chính là những kiến thức phải vận dụng nhiều nhất. Việc đầu tư công sức và tâm huyết cho các bài tập nhóm, tiểu luận, thuyết trình cũng rất quan trọng, nhưng không phải chỉ vì vấn đề điểm số. Nó sẽ mang lại những lợi ích lâu dài cho mỗi sinh viên, vừa đúc kết những kiến thức chuyên môn, vừa bồi đắp khả năng giao tiếp và tính kiên trì – những tố chất bắt buộc khi hoạt động trong lĩnh vực pháp lý. (Nguyễn Hoàng Anh- cựu sinh viên K46 Luật Kinh doanh quốc tế, FTU - Vị trí công tác hiện tại: Chuyên viên Phòng Pháp chế, Công ty Toyota Việt Nam)
 Người ta vốn bảo Luật khô khan lắm, toàn điều nọ khoản kia, dân Luật chỉ chuyên đi bắt bẻ cãi nhau với người khác rồi nghề Luật ở Việt Nam còn chưa phát triển, sao có thể so sánh với những ngành “hot” như tài chính ngân hàng hay quản trị kinh doanh… Đây cũng chính là lúc cho bạn rèn luyện khả năng chịu đựng của bản thân. Bạn có vượt qua được những định kiến đó để thành công không? 70% phụ thuộc vào chính bản thân bạn mà ở đây tôi không nói giúp bạn được. Tôi sẽ nói về 30% còn lại – từ phía các thầy cô vô cùng đặc biệt của Khoa Luật- Đại học Ngoại Thương … Người đầu tiên ai ai cũng biết chính là cô Mơ… Học cô Mơ thì dân tình vô cùng sợ hãi… Cô bắt học căng lắm, phải tư duy vận động hết các nơ ron thần kinh chứ không hời hợt ngồi ngáp ngắn ngáp dài được, nào là tình huống, nào là thuyết trình… nói chung các con giời không còn cách nào khác ngoài học học học và học… Nói dọa thế thôi nhưng nếu bạn biết cách học thì cô Mơ là cả một kho kiến thức vô tận mà bạn có thể học tập và “khai thác”… Cô chính là người đã truyền lửa, truyền đam mê với môn luật cho bao thế hệ học sinh Ngoại thương nói chung cũng như chuyên ngành Luật nói riêng… (Trần Bảo Ngọc, Cựu sinh viên K46, Luật kinh doanh quốc tế, FTU - Vị trí công tác hiện tại: Ban thư ký- Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC)
Tương lai của nghề Luật ra sao?
 Xét về định hướng và phát triển nghề nghiệp, sinh viên Luật có được rất nhiều thuận lợi. Họ có thể lựa chọn hai hướng phát triển nghề nghiệp: hành nghề Luật sư và phụ trách công tác pháp chế doanh nghiệp (hoặc các công việc khác như đào tạo về pháp luật hay quản lý Nhà nước,…). Vì thế, các bạn sinh viên nên sớm xác định rõ hướng đi của mình, từ đó, xác định được các môn học trọng tâm cần nghiên cứu và nắm vững.
 Hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều quy định bất cập vẫn tồn tại, thậm chí là tiếp tục được ban hành. Nhiều chính sách, quy định thay đổi liên tục, gây ra những tác động không nhỏ tới doanh nghiệp. Không những vậy, trong thời kỳ kinh tế khó khăn, tranh chấp giữa các doanh nghiệp càng dễ phát sinh, dẫn tới những khoản bồi thường, phạt vi phạm không nhỏ. Tất cả những yếu tố trên đã tạo tiền đề cho nghề luật tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ.
 Nghề luật ở đây không chỉ nói tới Luật sư, mà bao gồm cả những cán bộ pháp chế doanh nghiệp, những người thiên về vai trò phòng thủ, kiểm soát các nguy cơ và rủi ro pháp lý hơn là bào chữa và giải quyết tranh chấp. Với hệ thống luật phức tạp, nhiều bất cập và tiềm ẩn nhiều rủi ro như của nước ta, hầu hết các công ty đều có nhu cầu được tư vấn pháp lý. Một số công ty thuê các hãng luật đảm nhiệm công tác này. Tuy nhiên, nhiều công ty tuyển dụng và sử dụng các cán bộ pháp chế để tiết kiệm và linh hoạt hơn. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng cán bộ pháp chế doanh nghiệp cũng ngày một tăng lên, không kém so với Luật sư. Do đó, sinh viên Khoa Luật có thể yên tâm về đầu ra, vì họ vừa có thể, ngay khi tốt nghiệp, đảm nhận công tác pháp chế tại doanh nghiệp, vừa có thể phát triển theo hướng hành nghề Luật sư. (Nguyễn Hoàng Anh- cựu sinh viên K46 Luật Kinh doanh quốc tế, FTU - Vị trí công tác hiện tại: Chuyên viên Phòng Pháp chế, Công ty Toyota Việt Nam)
 Nếu bạn hỏi tôi nghề Luật có tương lai hay không? Xin trả lời chắc chắn 100% với bạn rằng có. Không phải tự nhiên mà ở các nước phát triển một trong nghề mang lại mức lương đáng mơ ước nhất không phải tài chính ngân hàng mà chính là Luật. Tuy nhiên nếu hỏi bạn có tương lai hay không thì xin nhắc lại một lần nữa rằng, điều đó tùy thuộc vào bạn. Tôi hay các thầy cô, bố mẹ không thể giúp bạn được. Chính bạn phải tự tìm ra con đường riêng cho mình. Như tôi, vẫn đang ngày ngày tìm kiếm và khẳng định đam mê của một cô nhóc 18 tuổi ngày đó… Tôi – một cử nhân chuyên ngành Luật Kinh doanh quốc tế của Đại học Ngoại thương – tự tin nói rằng tôi đã không chọn sai nơi để nuôi dưỡng và chắp cánh ước mơ… (Trần Bảo Ngọc, Cựu sinh viên K46, Luật kinh doanh quốc tế, FTU - Vị trí công tác hiện tại: Ban thư ký- Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC)
 Khi còn theo học chuyên ngành Luật Kinh doanh quốc tế tại trường, tôi nhận ra lợi thế của sinh viên Ngoại Thương so với sinh viên những ngành luật của các trường đại học khác và cho tới bây giờ, khi làm việc thực tế, lại càng được minh chứng rõ ràng hơn. Đó là sự kết hợp của việc học hai mảng kiến thức một cách rất lô-gic: pháp luật và kinh tế, do đó, điều mà tôi nhận được sau khi theo học không chỉ là những kiến thức nền tảng, thực tiễn về cả kinh tế và pháp luật mà còn là tư duy nhạy bén, linh hoạt, mang tính suy luận và phân tích tốt hơn bởi vì đây là hai phạm trù luôn gắn liền và không thể tách rời cho nên nếu chỉ quan tâm đến những vấn đề pháp luật mà không có nền tảng về kinh tế thì sẽ không thể tìm ra bản chất của sự việc được. Cùng với sự đam mê nghề luật của bản thân và được sự vun đắp, khuyến khích của các thầy cô, sau khi tốt nghiệp, rất nhiều những bạn bè cùng chuyên ngành của tôi đang làm việc trong lĩnh vực luật như chuyên viên pháp chế của ngân hàng, của doanh nghiệp, chuyên viên tư vấn pháp lý như tôi và cũng có người là giảng viên môn luật, là nghiên cứu sinh tại nước ngoài, là cộng tác viên nghiên cứu pháp luật cho các dự án được các tổ chức nước ngoài đầu tư hay những công chức làm việc trong những bộ phận liên quan đến pháp luật trong những cơ quan nhà nước, những đại sứ quán,… Có thể thấy cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực này không hề ít, điều quan trọng là bạn có hay không sự đam mê và lòng kiên trì với con đường mà mình đã chọn.(Lại Thanh Hòa- SV  K46 Luật KDQT -Vị trí công tác hiện tại: Chuyên viên tư vấn pháp lý tại Công ty Luật TNHH InvestConsult)
 Hiện nay doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam nhiều, họ có thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý, không chỉ khi có tranh chấp mà còn ngăn ngừa tranh chấp khi nhận được hợp đồng từ đối tác hay sử dụng/soạn thảo mẫu hợp đồng mới tại Việt Nam, hay khi áp dụng chính sách mới về lao động… Doanh nghiệp Việt Nam sau nhiều lần bị kiện tụng và để cạnh tranh cũng bắt đầu ý thức được việc này.
 Bên cạnh sử dụng dịch vụ của một Công ty luật, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI cũng có xu hướng cần luật sư làm việc riêng cho công ty, các bạn có thể lựa chọn là làm việc tại các công ty luật hoặc làm inhouse-lawyer.
 Cơ hội làm việc trong ngành luật nhìn chung khá rộng mở, đặc biệt là với các bạn được cầm trong tay tấm bằng cử nhân luật của ĐH Ngoại Thương, bởi vì ngoài việc được trang bị kiến thức pháp lý và kỹ năng thực hành pháp luật, các bạn còn có lợi thế rất lớn về tiếng Anh.(Nguyễn Nữ Thùy Linh- SV K47 Luật KDQT - Vị trí công tác hiện tại: Chuyên viên tư vấn pháp lý- Công ty Luật EP Legal)
Nguồn Internet

Luật sư mệt mỏi khi xin gặp thân chủ trong trại giam

Ngoài chuyện bị làm khó khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa, các luật sư còn mệt mỏi trước việc cứ mỗi giai đoạn tố tụng lại phải làm thủ tục cấp giấy mới.
Luật sư Lê Quang Y (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai) kể ông nhận bào chữa cho một bị can bị tạm giam song nhiều lần gặp khó khi đề nghị cơ quan điều tra làm thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của luật sư kèm theo giấy tờ liên quan, cơ quan tố tụng phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa, nếu từ chối thì phải nêu rõ lý do. Nhìn qua quy định, tưởng chừng việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa rất đơn giản. Thế nhưng suốt nửa năm sau đó, luật sư Y đã phải “trầy vi tróc vảy” vì chuyện này.
Đầu tiên, cơ quan điều tra liên tục trì hoãn việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho ông với nhiều lý do. Chỉ khi ông gửi đơn qua đường bưu điện thì mới nhận được văn bản trả lời là bị can “từ chối yêu cầu luật sư”. Không đồng ý, ông trực tiếp đến cơ quan điều tra làm việc thì nơi này cho biết đã kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ cho VKS, “luật sư qua đó mà làm việc”.
Qua VKS, luật sư Y mới được biết thì ra bị can không hề từ chối yêu cầu luật sư như cơ quan điều tra viện dẫn. Sau đó, ông đã được VKS cấp giấy chứng nhận người bào chữa.
Vụ án bị VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Luật sư Y cầm giấy chứng nhận người bào chữa do VKS cấp đến cơ quan điều tra làm việc. Lúc này cơ quan điều tra bảo giấy chứng nhận người bào chữa của ông không còn giá trị, ông cần phải làm thủ tục xin cơ quan điều tra cấp lại giấy mới.
Mỗi giai đoạn một giấy chứng nhận
Câu chuyện của luật sư Y là một thực tế phổ biến hiện nay đối với giới luật sư khi tham gia tố tụng hình sự (trừ trường hợp bào chữa theo chỉ định). Ngoài chuyện bị làm khó khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa, các luật sư còn mệt mỏi trước việc cứ mỗi giai đoạn tố tụng lại phải làm thủ tục xin cấp giấy mới.
“Rất mệt mỏi và phiền hà”, luật sư Lê Dũng (Đoàn Luật sư TP HCM) nói. Ông kể mình nhận bào chữa cho một bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích ở huyện Đăk R’lấp (Đắk Nông). Ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa để tham gia phiên tòa sơ thẩm. Sau đó, vụ án được chuyển lên TAND tỉnh để xét xử phúc thẩm. Một lần nữa, ông lại phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận mới.
Tương tự, luật sư Phan Trung Hoài (Ủy viên Ban Thường vụ - Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ quyền lợi luật sư thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam) kể: Vừa qua, ông tham gia bảo vệ quyền lợi cho một bị cáo từ giai đoạn điều tra cho đến giai đoạn xét xử phúc thẩm. Cứ mỗi giai đoạn tố tụng, ông đều phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Sau đó, bản án sơ thẩm bị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP HCM hủy để điều tra lại. Để tiếp tục tham gia tố tụng, ông phải tiếp tục làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa.
Nghị định cao hơn luật?
Theo luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa), Điều 27 Luật Luật sư 2006 quy định: “Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật”. Tiếp đó, Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung 2012 cũng giữ nguyên quy định trên.
Như vậy, nếu thực hiện đúng Luật Luật sư thì giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị xuyên suốt các giai đoạn tố tụng nếu luật sư không bị thay đổi, không thuộc các trường hợp không được tham gia tố tụng. Tức là nếu luật sư đã được cơ quan điều tra cấp giấy chứng nhận người bào chữa thì VKS, TAND sau đó không cần phải cấp lại giấy chứng nhận nữa.
Thế nhưng cho đến nay, các cơ quan tố tụng các cấp vẫn yêu cầu luật sư làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho từng giai đoạn tố tụng. Sở dĩ có tình trạng này là do các cơ quan tố tụng không tuân thủ Luật Luật sư mà vận dụng hướng dẫn trong Nghị quyết số 03 ngày 2/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình 2003).
Theo nhiều luật sư, hướng dẫn trong Nghị quyết 03 chỉ nói tòa thay đổi người tiến hành tố tụng (thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án), cấp lại cấp giấy chứng nhận người bào chữa nếu có căn cứ cho thấy người bào chữa có quan hệ thân thích với người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, không hiểu sao nó lại trở thành “thông lệ” để các cơ quan tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa “ngắt khúc” cho từng giai đoạn tố tụng.
“Chuyện mỗi giai đoạn tố tụng một giấy này là máy móc, không cần thiết, làm lãng phí thời gian, gây tốn kém cho luật sư, là rào cản cho quyền bào chữa của bị can, bị cáo, không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp”, luật sư Nguyễn Thanh Lương (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre) khẳng định.
Theo luật sư Lương và luật sư Nguyễn Quang Mai (Đoàn Luật sư TP HCM), tới đây khi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự, cần phải bổ sung quy định như Luật Luật sư là giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đồng tình, luật sư Nguyễn Hồng Hà đề xuất thêm: Chính phủ, TAND Tối cao cần sớm ban hành nghị định, nghị quyết hướng dẫn Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung năm 2012, trong đó hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư. “Nếu các luật và các văn bản hướng dẫn đều quy định thống nhất thì cơ quan tố tụng sẽ bắt buộc phải tuân thủ”, luật sư Hà nói.
Bỏ luôn giấy chứng nhận?
Thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa đang trở thành điểm nóng trong vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của luật sư. Có lẽ chỉ ở nước ta mới còn tồn tại thủ tục này. Ngay cả ở Trung Quốc, vốn có mô hình tố tụng tương tự như Việt Nam cũng đã bãi bỏ việc này.
Quyền bào chữa và quyền nhờ người bào chữa là quyền hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp. Luật sư là chủ thể để thực hiện chức năng tố tụng cơ bản, đó là chức năng bào chữa, có vị thế phản biện, đối trọng với chức năng buộc tội và xét xử. Do vậy, thủ tục quy định giấy chứng nhận bào chữa là rào cản, không phản ảnh vị thế bình đẳng.
Mặt khác, mỗi giai đoạn tố tụng lại bắt làm thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa không những kéo dài thời gian giải quyết vụ án, hạn chế quyền tiếp cận vụ việc của luật sư mà còn thể hiện sự hành chính hóa thủ tục giấy tờ của cơ quan chức năng.
Theo tôi, đã đến lúc cần thiết phải bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa. Theo đó, người bào chữa chỉ cần trình thẻ luật sư và giấy yêu cầu của khách hàng thì được tạo điều kiện ngay để thực hiện chức năng tố tụng và được hành nghề theo đúng quy định của pháp luật.
Luật sư Phan Trung Hoài
Theo Pháp luật TP HCM

Ai bảo vệ những người “chiến đấu” với tử thần?

(PL&XH) - Thời gian gần đây, liên tục xảy ra những vụ bác sĩ bị đe dọa, hành hung do người nhà bệnh nhân cho rằng cái chết của người thân bắt nguồn từ việc bác sĩ thờ ơ, vô trách nhiệm. Đằng sau những sự việc trên ẩn chứa điều gì?

Những hành vi phạm tội...

Ngày 8 – 8 - 2013, ông Nguyễn Xuân Hồng, 75 tuổi, trú tại xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nhập viện vào khoa Chấn thương, Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Hà Tĩnh để điều trị vì bị viêm xương, đau nhức khắp cơ thể (theo chẩn đoán của bác sĩ). Đến khoảng 11g ngày 12 - 8, sau khi được các bác sĩ tiêm thuốc kháng sinh, bệnh nhân Hồng bị sốc phản vệ, ngừng tuần hoàn và có nguy cơ tử vong. Các bác sĩ đã chuyển ông Hồng lên khoa Hồi sức tích cực để tiếp tục điều trị. Lúc này bệnh nhân đã rơi vào tình trạng chết lâm sàng.

Khi biết được thông tin bệnh nhân tử vong, khoảng 10 người nhà của bệnh nhân Hồng bức xúc cho rằng đó là lỗi của các y, bác sĩ nên đã lao vào hành hung 4 y, bác sĩ tại khoa Hồi sức tích cực.

Hậu quả bác sĩ Mai Văn Lục (Trưởng khoa Hồi sức tích cực) bị rách vùng trên mắt, bác sĩ Trung bị đánh rách giác mạc, đập vỡ kính cận. Y tá Anh Quang và Thảo (khoa Chấn thương) bị đánh sang chấn vùng đầu. Người nhà bệnh nhân còn đập phá một chiếc máy sốc tim có giá trị mấy trăm triệu đồng (cả viện chỉ có 2 cái dùng để cấp cứu), đập vỡ toàn bộ kính phòng điều trị của khoa Hồi sức tích cực.

Chỉ đến khi có mặt của khoảng 40 chiến sỹ CA tại hiện trường, sự việc trên mới được ngăn chặn, khống chế.

Nguồn tin của PV cho biết, người nhà bệnh nhân yêu cầu cơ quan chức năng làm rõ nguyên nhân dẫn đến bệnh nhân tử vong. Đến khoảng 18g cùng ngày, thi thể bệnh nhân Hồng được đưa về để tổ chức mai táng. CA TP Hà Tĩnh đang điều tra vụ việc.

Trên đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về thực trạng hành hung bác sĩ. Dường như xung đột giữa người nhà bệnh nhân với bác sĩ ngày càng nghiêm trọng, không chỉ dừng lại ở việc tố cáo hay khiếu kiện thầy thuốc. Hàng loạt bác sĩ bị người nhà bệnh nhân bao vây hành hung ngay tại nơi làm việc. Có thể kể đến các trường hợp như nhân viên cấp cứu ở BV Bạch Mai bị chửi mắng, đạp vào bụng. Nghiêm trọng hơn là trường hợp xảy ra ở BVĐK huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đối tượng Nguyễn Xuân Dũng, SN 1993 cùng một số người thân trong gia đình đưa anh trai Nguyễn Văn Hùng, SN 1991, trú tại thôn Nẽ Châu, xã Hòa Bình, huyện Vũ Thư, vào cấp cứu tại BVĐK huyện Vũ Thư. Do tình trạng nhập viện của anh Nguyễn Văn Hùng quá nặng, mặc dù được các y bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng nạn nhân không qua khỏi.

Cho rằng ê kíp cấp cứu, trong đó có bác sĩ Phạm Đức Giầu chậm trễ trong việc cấp cứu cho anh trai mình, Dũng đã luôn miệng chửi bới, đe dọa ê kíp cấp cứu.

Sau đó, Dũng đi ra ngoài rồi vào phòng bệnh nhân lấy con dao của người nhà bệnh nhân, quay trở lại phòng cấp cứu, đâm bác sĩ Nguyễn Ngô Hoàn và bác sĩ Phạm Đức Giầu khiến bác sĩ Hoàn mất 18% sức khỏe, bác sĩ Giầu tử vong. Với hành vi phạm tội này, Nguyễn Xuân Dũng bị kết án chung thân cho tội giết người, 4 năm cho tội cố ý gây thương tích. Tổng hình phạt chung cho cả 2 tội là chung thân.

Luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng: “Mỗi khi sự việc không mong muốn xảy ra – dù không có cơ sở, nhiều người nhà bệnh nhân vội vàng “trở mặt” đổ tất cả nguyên nhân là do bác sĩ, thậm chí hành hung họ dã man”. Ảnh: Sỹ Hào

“Sự thật” phía sau…

Cần phải khẳng định, hành vi hành hung bác sĩ là trái pháp luật, trái đạo lý. Thế nhưng, sau những phút bốc đồng, lý giải cho hành động trái pháp luật của mình, những người tổ chức hành hung bác sĩ đều biện minh rằng, do “bức xúc” trước thái độ thờ ơ của bác sĩ - họ cho rằng đây là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người thân mình.

Thực tế, cũng có ý kiến “lý giải” cho việc nở rộ những hành động trái pháp luật, trái đạo lý như trên là do “tức nước vỡ bờ”, bởi rất nhiều nguyên nhân. Trong đó, có thể vì sự giao tiếp không tốt, thái độ vô trách nhiệm của những người làm nghề thầy thuốc cứu người. Những vụ kiện tụng liên quan đến y đức và chuyên môn của người thầy thuốc, dường như ngày càng phổ biến. Mặt khác trong rất nhiều vụ việc, kết luận cuối cùng của cơ chức năng cũng cho thấy phần lỗi không nhỏ thuộc về phía BV, bao gồm cả sự tắc trách, thái độ lơ là, lẫn trình độ chuyên môn và nhiều biểu hiện tiêu cực khác... của người thầy thuốc.

Hiện trạng tại khoa Hồi sức tích cực, BVĐK Hà Tĩnh sau khi bị người nhà bệnh nhân “bức xúc” đập phá máy móc, hành hung bác sĩ vào ngày 12 – 8.

Nhiều “sơ sảy” của thầy thuốc đã để lại những hậu quả nghiêm trọng khiến thai phụ và thai nhi tử vong; người bệnh phải cưa chân; bệnh nhân mổ thận trái bị cắt nhầm thận phải; hay bỏ quên dụng cụ trong người bệnh nhân… cũng từng xảy ra.

Mặt khác, ở một góc nhìn xã hội học, nhiều ý kiến lại cho rằng đời sống hiện đại đang tạo cho con người rất nhiều áp lực và những rủi ro. Sự “tức nước vỡ bờ” còn có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ khác: những áp lực cuộc sống không được giải tỏa; sự khó chịu dồn nén trong tâm tư của mỗi người… khiến nhiều người mất thăng bằng. Tất cả “cộng dồn” lại, và BV trở thành một trong những nơi… bùng nổ, khi hiện tại bác sĩ đã mất dần vị thế “thần tượng” để mọi người tôn kính, ngưỡng mộ.

Trên thực tế, không ai có thể lường trước được những rủi ro sẽ đến với mình. Và rủi ro thường đến vào những lúc khó ngờ nhất – đồng nghĩa với nguy hiểm nhất. Rất nhiều trường hợp không có bất kỳ biểu hiện nào cho thấy sự bệnh tật, thế nhưng chỉ sau một đêm, nhiều người đã ngủ một giấc vĩnh viễn, mà những người thân không bao giờ hiểu được nguyên nhân.

Bác sĩ Mai Văn Lục– một trong những nạn nhân trong vụ hành hung tại BVĐK Hà Tĩnh. Ảnh: Sỹ Hào

Trong phần lớn trường hợp, rủi ro đến với con người được xem là sự… thường tình. Thế nhưng, bác sĩ lại không được dư luận nhìn nhận ở góc độ “bình thường” như vậy. Bác sĩ mặc nhiên được xem là người có “quyền năng” đặc biệt, nhiều người đã hi vọng (hão huyền) bác sĩ có thể cứu chữa được tất cả bệnh nhân, dẫu cho tình trạng bệnh tật của họ nghiêm trọng đến thế nào đi nữa. Và niềm hi vọng càng lớn dẫn đến sự thất vọng càng nhiều, khi sự việc không như mong muốn, nhiều người đã không kiềm chế được bản thân mình và gây ra tội ác.

Trao đổi với PV báo PL&XH xung quanh vấn đề trên, một bác sĩ công tác tại BV trên địa bàn Hà Nội tâm sự: “Mỗi khi có chuyện “không hay” xảy ra, trước tiên bác sĩ liên quan sẽ bị kỷ luật, để trấn an dư luận, mà không cần biết bác sĩ đó đúng hay sai? Cách “xử lý” này, lúc học cách quản lý BV, người ta cũng dạy những người thầy thuốc như vậy. Tức là chưa cần biết đúng sai, khi người nhà bệnh nhân “bày tỏ bức xúc” cho rằng lỗi thuộc về bác sĩ nào, thì ngay lập tức bác sĩ đó phải ngừng công tác và bị yêu cầu viết bản kiểm điểm, mọi chuyện đúng sai rồi sẽ tính sau. Có thể, điều này sẽ mang lại hiệu quả trong việc trấn an nỗi “bức xúc” của người dân, thế nhưng rất có thể cũng tạo ra những suy nghĩ sai lầm – khẳng định bác sỹ “sai” nên mới chịu hình thức kỷ luật, dù sự thật có khi không như vậy. Với người trí thức, trọng danh dự, có trách nhiệm trong công việc, cách “xử lý” này là một sự xúc phạm ghê gớm. Nhưng rơi vào trường hợp này, các bác sĩ không có cách nào khác ngoài sự ngậm ngùi chấp nhận…”.

Nói như vậy không có nghĩa là người thầy thuốc không có lỗi. Trên thực tế, có nhiều chuyện rất đau lòng xuất phát từ bác sĩ: Thờ ơ, vô trách nhiệm, hù dọa bệnh nhân để lấy phong bì. Nhưng những con người như vậy chỉ chiếm số lượng vô cùng ít so với phần lớn các bác sĩ hết lòng hết dạ với nghiệp cứu người. Chính vì vậy, đừng vì thiểu số, đừng vì những “bức xúc” không đáng có rồi viện cớ hành hung bác sĩ, việc này là không thể chấp nhận.

Nhìn nhận sự việc ở góc độ pháp luật, Luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng, khẳng định: “Thực trạng hành hung bác sĩ đang diễn ra ngày một đáng ngại và khó kiểm soát. Đây là một hành vi vi phạm pháp luật đồng thời vi phạm đạo đức nghiêm trọng. Nếu bác sĩ vi phạm y đức, đã có các cơ quan chức năng tiến hành điều tra kết luận và xử lý. Người dân chỉ có quyền khiếu nại tố cáo, chứ không có quyền hành hung bác sĩ, bởi lẽ tính mạng và sức khỏe của con người là bất khả xâm phạm. Những trường hợp lấy lý do “bức xúc” rồi hành hung bác sĩ, đập phá tài sản BV, vừa phạm pháp, vừa gây rối trật tự công cộng, vừa vi phạm đạo đức, cần phải bị trừng trị nghiêm khắc để răn đe kẻ khác.”

“Không có bác sĩ nào lại không mong bệnh nhân của mình mau bình phục. Họ đã quên ăn, quên ngủ điều trị cho bệnh nhân. Lẽ ra phải tôn trọng và bày tỏ lòng biết ơn, thế nhưng mỗi khi sự việc không mong muốn xảy ra – dù không có cơ sở, nhiều người lại vội vàng “trở mặt” đổ tất cả nguyên nhân là do bác sĩ, thậm chí hành hung họ dã man. Việc này là không thể chấp nhận” – Luật sư Hoàng Văn Hướng phân tích thêm.

Cũng theo luật sư Hoàng Văn Hướng, “thực trạng” hành hung bác sĩ diễn ra phức tạp như hiện nay, còn bắt nguồn từ một nguyên nhân sâu xa, đó là quan điểm chưa đúng của một số người tạo nên “dư luận”.

“Cụ thể, khi nói đến sai sót giữa bác sĩ với bệnh nhân thì dư luận thường đứng về phía bệnh nhân, không cần biết đúng sai. Những hành vi “không chuẩn” của bệnh nhân cùng người nhà thì ít được dư luận đề cập, bởi theo họ, bệnh nhân bao giờ cũng đúng, nhu cầu của bệnh nhân là đúng. Khi tiếp cận sự việc, dẫu biết rằng gia đình bệnh nhân rất cần sự chia sẻ, thế nhưng sự việc xảy ra cũng rất cần sự khách quan, công tâm để định hướng dư luận, tháo gỡ vấn đề. Tránh việc “thổi phồng” hay đưa thông tin một chiều, thiếu những cơ sở khoa học khiến sự việc thêm phần phức tạp” – luật sư Hoàng Văn Hướng phân tích.

Sỹ Hào

Khắc phục tình trạng “xử sao cũng được"

Trong bài “Suy nghĩ từ câu nói “xử kiểu gì cũng được” (Thời báo Kinh tế Sài gòn số 32 ngày 1 tháng 8 năm 2002), một số suy luận đã được nêu ra về những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các toà án ở ta nhiều lúc “xử kiểu gì cũng được”. Những nguyên nhân này nằm trong hệ thống pháp luật như: kỹ thuật soạn thảo văn bản pháp luật hạn chế; nhiều quy định của pháp luật xung đột với nhau; những khoảng trống trong hệ thống pháp luật.
Làm thế nào để khắc phục tình trạng nói trên? Có lẽ, trước tiên cần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đó là câu trả lời hợp lôgíc, nhưng chưa chắc đã hợp lòng người. Lý do là sự nghiệp hoàn thiện hệ thống pháp luật chắc còn kéo dài dài (Đặc biệt là khi chúng ta không hình dung được một cách mạch lạc là nên bắt đầu từ cái gì và phải kết thúc ra làm sao). Trong bài này, chúng tôi xin được trao đổi về khả năng chấm dứt tình trạng này sớm hơn thông qua việc bảo đảm sự độc lập tương đối của thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật. Trước khi trình bày các lập luận tiếp theo, chúng tôi xin khẳng định rằng đây chỉ là những suy nghĩ của cá nhân dựa trên sự học và sự nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới. Những suy nghĩ nêu ra ở đây chủ yếu là để cung cấp thông tin phục vụ bạn đọc.
1. Nguồn của pháp luật- gốc của vấn đề
Dưới đây là câu hỏi có vẻ ngây thơ, nhưng hết sức hệ trọng: Pháp luật lấy từ đâu ra? Trước hết, pháp luật được lấy ra từ các nguồn khác nhau. Hơn thế nữa, ở các nước khác nhau các nguồn này lại không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên, ở nước ta nguồn duy nhất của pháp luật là các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành. Chúng ta không thừa nhận bất kỳ một nguồn nào khác. Cách tiếp cận này là một trong những điều mà chúng ta đã học được của nước ngoài, tuyệt nhiên không phải là di sản do cha ông để lại. Nó có ưu điểm là bảo đảm được cái sự “nói có sách, mách có chứng”. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến tình trạng thẩm phán không biết xử kiểu gì hoặc “xử kiểu gì cũng được” khi pháp luật thực định mắc phải những khiếm khuyết như tác giả bài báo đã nêu.
Chủ nghĩa thực chứng (positivism) trong pháp luật, có nghĩa là tuyệt đối hoá vai trò của các văn bản quy phạm pháp luật thành văn, đánh đồng “văn bản pháp luật” với “pháp luật” tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Nó dẫn đến cái nhìn hẹp hòi, cứng nhắc khi thực thi và áp dụng pháp luật. Hơn thế, xu thế chung của chủ nghĩa thực chứng là chỉ nhìn thấy ở pháp luật những gì có lợi cho Nhà nước, ít nhìn thấy cái lợi của công dân, do đó dễ dẫn đến sự độc tài.
Pháp luật, theo cách hiểu của tuyệt đại đa số các nước trên thế giới, không chỉ giới hạn trong văn bản mà bao gồm cả “những nguyên tắc chung mà nhà lập pháp không cụ thể hoá trong quy phạm thực định”, là thứ pháp luật đứng trên cả chủ nghĩa thực chứng, thậm chí ràng buộc quyền lực lập hiến và lập pháp. ở nhiều nước, thẩm phán trong những trường hợp cần thiết không do dự áp dụng những nguyên tắc về trật tự đạo lý không ghi trong luật. Luật ở các nước châu Âu lục địa còn trang bị cho các luật gia khái niệm công lý, chỉ dẫn họ đến các tập quán và thậm chí đến luật tự nhiên (Pháp điển dân sự áo, Điều 7), hoặc đặt sự áp dụng luật phụ thuộc vào các tiêu chuẩn về nếp sống tốt lành và trật tự công cộng. Thực tế, không một hệ thống pháp luật nào có thể thiếu những quy định như vậy, sự thiếu vắng của chúng có thể dẫn đến xung đột giữa pháp luật và công lý.
Bên cạnh đó, “lý trí”, một khái niệm phổ biến trong pháp luật Anh quốc, cũng là một nguồn mà các toà án nhờ cậy đến để lấp các chỗ trống trong hệ thống luật pháp. Vậy thế nào là lý trí? Đó là quyết định hợp lý về một tranh chấp, khi không có án lệ, không có quy phạm của pháp luật, không có cả tập quán bắt buộc. Đó trước hết là sự tìm kiếm một quyết định phù hợp nhất với luật pháp hiện hành, và bởi vậy bảo đảm xác đáng nhất cho trật tự và công lý, là cấu thành nền tảng của luật pháp. Các luật gia Anh khẳng định rằng: “lý trí – đó là sự sống của pháp luật, còn thông luật không là cái gì khác ngoài lý trí”.
“Mọi lý thuyết đều là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, bội phần phức tạp đòi hỏi pháp luật phải luôn được đổi mới. Tuy nhiên, do các điều kiện khách quan luôn luôn thay đổi, nhiều lúc pháp luật thành văn hiện hành khó có thể giải đáp hết được mọi câu hỏi mà cuộc sống đặt ra. Bởi vậy, một cách tiếp cận rộng mở hơn, linh hoạt hơn là rất cần thiết. Không nên xem xét luật pháp một cách bó hẹp và theo từng câu chữ, tách biệt với những phương pháp giải thích rộng mở thể hiện vai trò sáng tạo của thực tiễn toà án và học thuyết. Các đạo luật chỉ là điểm xuất phát chứ không phải là điểm cuối cùng.
Như vậy, pháp luật được tạo ra không phải chỉ bằng phương pháp tiên nghiệm và không chỉ nằm trong những quy phạm pháp luật thành văn. Sự khám phá pháp luật – đó là nhiệm vụ cần được giải quyết bởi mọi luật gia, mỗi người trong lĩnh vực của mình. Trong đó, họ cần theo một lý tưởng chung – nỗ lực đạt được trong mỗi vấn đề một giải pháp đáp ứng được công lý chung và được dựa trên sự dung hoà những quyền lợi công và tư khác nhau trong xã hội.
Do đó, chúng tôi chia sẻ cách hiểu “pháp luật” theo nghĩa rộng, nghĩa là không chỉ gói gọn trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan lập pháp và hành pháp ban hành. “Pháp luật” đầy đủ bao gồm cả những nguồn khác như: tập quán, thực tiễn toà án, học thuyết, lý trí, các nguyên tắc chung – tất cả đều hướng tới một đích là đạt được công lý.
Cách nhìn này giúp các thẩm phán thoát khỏi những quy định lỗi thời, định hướng cho họ khi có những quy định “đá nhau” và cung cấp những căn cứ cần thiết cho việc xét xử khi có khoảng trống trong hệ thống pháp luật hiện hành.
2. Sự độc lập của thẩm phán- yếu tố quan trọng của pháp quyền.
Vậy thì thẩm phán thể hiện sự độc lập đó như thế nào? ở phần lớn các nước, thẩm phán có quyền giải thích luật trong khi xét xử. ( ở nước ta, thẩm phán không có quyền này).
Trong các ấn phẩm pháp lý nước ngoài chúng tôi đọc được, không một tác giả nào giải thích tại sao thẩm phán lại có quyền giải thích luật. Biển học là mênh mông, những gì chúng tôi đã được đọc chỉ là muối bỏ bể, bởi vậy có thể ở đâu đó người ta có lý giải chuyện này. Tuy nhiên, theo tinh thần của chính những ấn phẩm đã đọc, có thể hiểu rằng, ở những nước đó người ta coi việc thẩm phán được giải thích luật là chuyện đương nhiên, không cần lý giải, lập luận. Tuy nhiên, nếu họ không lý giải, chúng tôi xin thử làm công việc đó và xin áp dụng vào hoàn cảnh của nước ta:
Hiến pháp 1992 nước ta quy định UBTV QH là cơ quan duy nhất có quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Quy định UBTV QH giải thích luật, pháp lệnh là đúng, vì cơ quan làm ra luật dĩ nhiên có quyền giải thích luật. ở các nước cũng vậy thôi, cơ quan lập pháp có quyền giải thích luật do chính mình ban hành.
Thế nhưng kinh nghiệm thực tế cũng là điều cần được cân nhắc. Pháp luật quy định UBTV QH là cơ quan duy nhất có quyền giải thích luật, pháp lệnh. Nhưng từ trước đến nay, chỉ duy nhất một lần UBTV QH thực hiện quyền hạn và cũng là nghĩa vụ này. Có thể nhu cầu của cuộc sống chỉ ở mức đó; cũng có thể luật pháp vẫn được giải thích theo một cách nào đó khi được áp dụng. Điều có thể tin được là không giải thích pháp luật, không thể áp dụng pháp luật để giải quyết một vụ việc cụ thể. Đây có thể là điều đáng mừng. Vì UBTV QH sẽ không có đủ điều kiện cả về con người lẫn thời gian, thủ tục để giải thích pháp luật cho mọi trường hợp.
Ngoài ra, cơ quan lập pháp giải thích một đạo luật để làm rõ ý chí của mình vào thời điểm nó được ban hành. Thế nhưng, điều quan trọng không kém là làm rõ ý chí đó vào điểm áp dụng pháp luật. Thực tế cho thấy, các nhà lập pháp không phải bao giờ cũng dự báo trước được mọi tình huống xảy ra trong tương lai. Điều này dễ dẫn đến tình trạng pháp luật không theo kịp cuộc sống, ù lỳ với những đòi hỏi mới của thời cuộc. Việc trao quyền giải thích pháp luật cho toà án thiết nghĩ sẽ khắc phục được những hạn chế nói trên. Và sự giải thích pháp luật của toà án- cơ quan áp dụng pháp luật hàng ngày cộng với sự giải thích pháp luật của chính cơ quan lập pháp- cơ quan làm ra luật sẽ mang lại cho pháp luật cả tính bền vững và tính linh hoạt.
3. Giải thích pháp luật- góp phần sáng tạo pháp luật
Đến đây, câu hỏi nảy sinh là: thẩm phán giải thích pháp luật như thế nào, dựa vào đâu, trong khuôn khổ nào để không lấn sang “đất” của nhà lập pháp? Dưới đây, xin được giới thiệu một số kinh nghiệm ở các nước, cụ thể là ở các nước châu Âu lục địa vì theo chúng tôi, pháp luật nước ta gần với pháp luật những nước này hơn so với hệ thống pháp luật Anh- Mỹ. Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng, nhiều khía cạnh hợp lý của án lệ ở những nước theo hệ thống Anh- Mỹ cũng cần được nghiên cứu, khai thác trong điều kiện của nước ta.
Trong những trường hợp pháp luật hiện hành không lường trước những tình huống mới, theo nguyên tắc tại Điều 4 Bộ luật dân sự Pháp, thẩm phán có nghĩa vụ đưa ra quyết định. Điều 1 Bộ luật dân sự Thuỵ Sĩ chỉ dẫn: khi thiếu vắng luật hoặc tập quán, thẩm phán cần giải quyết vụ việc trên cơ sở nguyên tắc mà ông ta có thể lập ra – đặt mình vào tư thế của nhà lập pháp – dựa theo truyền thống và thực tiễn toà án. Để tránh lời kết tội độc đoán, thẩm phán ở các nước châu Âu lục địa thường ưu tiên cho cách giải thích luật theo cú pháp của luật và coi trọng ý chí của nhà lập pháp. Nhưng nếu công lý đòi hỏi, thẩm phán nào cũng tìm ra phương thức bác bỏ văn bản pháp luật đã cản trở ông ta bằng những cách thức khác nhau. Các cách thức đó là:

Đánh giá các sự kiện

Theo cách này, vẫn giữ sự tôn trọng đối với tinh thần của văn bản luật, các thẩm phán có khả năng sử dụng nó khá tự do theo ý muốn chủ quan dựa vào việc các nhà lập pháp thường sử dụng – cố ý hoặc vô tình – những thuật ngữ và câu cú không chính xác. Khi luật dùng những khái niệm như lỗi, lợi ích gia đình, bồi thường thiệt hại, bất khả thi…, thẩm phán cần phải làm chính xác lại trong mỗi vụ việc cụ thể, các tình huống của vụ việc cho phép áp dụng luật chứa những khái niệm đó hay không. Đánh giá chặt chẽ hoặc ngược lại lỏng lẻo những tình huống cụ thể, thẩm phán có thể thay đổi đáng kể các điều kiện áp dụng luật. Có thể nói rằng, khi đưa ra các khái niệm mà không làm chính xác nội dung của chúng, nhà lập pháp đã công nhận thẩm quyền của thẩm phán “tìm kiếm tự do trong khuôn khổ luật (inter legem)”. Việc tìm kiếm tự do đó đòi hỏi các thẩm phán phải có những suy luận độc lập được rút ra không phải từ pháp luật thực định.
Tuy vậy, những khả năng như thế của thẩm phán trong nhiều trường hợp không đủ để đưa ra quyết định công minh, lúc đó các thẩm phán, thể hiện lòng dũng cảm, thường gạt bỏ những quy định pháp lý không phù hợp với bối cảnh xã hội mới. Và hai phương thức dưới đây sẽ được sử dụng.
Mang lại cho luật ý nghĩa mới
ý nghĩa của phương thức này ở chỗ tách luật ra khỏi ngữ cảnh lịch sử. Những từ ngữ được sử dụng trong luật được diễn giải ngoài ý nghĩa lịch sử, không tính đến ý đồ của tác giả. Chúng được bổ sung ý nghĩa mới – theo ý của toà án- nhằm đáp ứng được những yêu cầu của công lý hôm nay mà không bị ràng buộc bởi những tình huống áp dụng luật trong quá khứ. Ngoài ra, ý đồ của nhà lập pháp – đó là lĩnh vực của dự đoán, đặc biệt khó nhận biết được nó trong điều kiện dân chủ hiện đại, khi pháp luật thể hiện ý chí tập thể với một quá trình hình thành phức tạp.
Chánh án Toà phá án Pháp Ballo – Bopre, trong một bài phát biểu của mình năm 1904 nhân kỷ niệm 100 năm Bộ luật Napoleon ra đời, đã kêu gọi từ bỏ phương pháp lịch sử khi giải thích luật từng ngự trị trước đó trong học thuyết: “Nếu quy phạm mệnh lệnh rõ ràng và chính xác, không gây nên nghi ngờ nào, thẩm phán có bổn phận phải phục tùng nó… Nhưng nếu trong văn bản luật có những điều không rõ ràng thì sẽ xuất hiện những thắc mắc đối với ngữ nghĩa và phạm vi thực thi của quy phạm, còn nếu đặt với quy phạm khác, nó sẽ mâu thuẫn với quy phạm kia. Tôi cho rằng, trong những trường hợp như thế thẩm phán có thẩm quyền giải thích rộng lớn nhất. Ông ta không nên cứng nhắc làm rõ các tác giả của bộ luật đã chịu ảnh hưởng của những yếu tố gì 100 năm trước, khi thảo ra điều khoản nào đó. Tốt hơn hết hãy tự hỏi mình: điều khoản sẽ ra sao nếu tác giả tạo ra nó hôm nay, hãy suy ngẫm xem, với những thay đổi qua 100 năm trong tư tưởng, đạo đức, thể chế, trong thực trạng kinh tế, xã hội nước Pháp, cần thích ứng một cách nhân bản và tự do nhất các văn bản luật với những yêu cầu của công lý, lý trí cuộc sống hiện đại”.
Sử dụng những công thức chung
Đây là phương thức thứ hai để thích ứng luật với những tình huống không được nhà lập pháp tính đến mà không thay đổi ý đồ của ông ta. Khi cần thiết, thẩm phán vô hiệu hoá hiệu lực của những quy phạm cụ thể bằng cách viện đến những nguyên tắc chung cũng do các tác giả của luật tạo ra. Hoặc ông ta áp dụng những nguyên tắc không có trong luật. Ví dụ như một số nguyên tắc mang lại cho các thẩm phán những thẩm quyền rộng lớn trong quá trình áp dụng luật: “Luật có hại không phải là luật”; “Tạo nên con người trung thực – đó là luật cao nhất”; “Một thẩm phán giỏi luôn luôn biết giải quyết phù hợp với hoàn cảnh”; “Từ góc độ của luật sẽ được xem xét tất cả những gì phù hợp với quyền lợi con người, thậm chí nếu chữ nghĩa luật nói đến điều khác”… Tuy nhiên, các công thức chung chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết, nếu không sẽ dẫn đến một thực tiễn toà án dựa trên một vài công thức chung chung.
Nói tóm lại, ở những nước châu Âu lục địa, người ta cho rằng, “giải thích luật – đó còn hơn là hoạt động khoa học, đó là biểu hiện của sự sáng suốt. Nhiệm vụ của chúng ta là hướng pháp luật gần với sự sáng suốt hơn cả khoa học”. Điểm xuất phát của bất kỳ suy luận pháp lý nào cũng là những văn bản của “pháp luật thành văn”. Nhưng chúng thường được xem như một dạng hướng dẫn để tìm kiếm một giải pháp công bằng hơn là những mệnh lệnh khắt khe phải giải thích và giải quyết theo một cách nhất định. ở những nước nói trên, người ta ưu tiên tuyệt đối cho phương pháp giải thích logic và giải thích cú pháp, nhấn mạnh đến sự phục tùng ý chí của nhà lập pháp, nhưng chỉ trong trường hợp thẩm phán cho rằng điều đó dẫn đến kết quả công bằng. Cái đích cuối cùng và cái chuẩn cao nhất ở đây là công lý.
Kết lại, như chúng ta thấy, để thẩm phán được độc lập tương đối khi giải thích luật, trước hết đòi hỏi người thẩm phán phải có bản lĩnh, cái tâm cộng với năng lực và kinh nghiệm. Bên cạnh đó, còn khá nhiều việc khác phải làm như: sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi quy trình lập pháp… Và thiết nghĩ, quan trọng nhất là thay đổi nhận thức và văn hoá pháp luật của chúng ta. Tất cả sẽ góp phần xây dựng thành công một nền công lý cao đẹp. Trong đó, “xử kiểu gì cũng được” sẽ là điều không thể xẩy ra. Nhưng đây lại là những chuyện còn to tát hơn những gì được trình bày trong bài viết này của chúng tôi.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài

Monday, August 12, 2013

BỨC TRANH ĐA SẮC CỦA TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM 2011


Hữu Long
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 20/12/2011, đường link gốc tại đây
Chúng ta sắp đi qua một năm 2011 sôi động với những sự kiện nổi bật, biến chuyển sâu sắc của đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục..., và đã được phản ánh sinh động qua bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam .

Lạm phát và đòi hỏi tái cấu trúc nền kinh tế

Câu chuyện về vấn đề lạm phát của Việt Nam vốn đã nóng bỏng từ năm 2007, nhưng sau đó chìm dưới bóng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sang năm 2011, song song với tình hình khủng hoảng nợ công châu Âu, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu lộ rõ những vấn đề bất ổn riêng, với mức lạm phát chạm mức 20%, rất cao so với mặt bằng chung của khu vực và quốc tế; trong khi đó, mức nợ công tuy chưa vượt ngưỡng an toàn (nếu theo quy chuẩn của EU là 60%) nhưng vẫn đang lặng lẽ nhích lên.
Báo chí trong nước đã có nhiều bài phân tích đánh giá, chỉ ra nguyên nhân của bất ổn kinh tế Việt Nam là do cơ cấu đầu tư bất hợp lý, chi tiêu công quá cao và thiếu hiệu quả, mức tăng cung tiền quá nhanh thể hiện qua mức tăng tín dụng cao hơn nhiều so với mức tăng GDP, năng suất lao động không tăng tương xứng với mức tăng nhu cầu tiêu thụ (đặc biệt là nhập khẩu) .v.v. Những khó khăn trong đời sống người dân và doanh nghiệp dưới sức ép của lạm phát cùng mức lãi suất cao vọt đã được phản ánh trung thực kịp thời, góp phần thúc đẩy Chính phủ phải hành động. 
Nhìn chung, trong giám sát việc thực thi các giải pháp và chính sách kinh tế của Chính phủ thì báo chí và dư luận đã theo dõi khá sát những vấn đề mang tính bề nổi, những giải pháp ngắn hạn tạm thời, ví dụ như chính sách bình ổn giá xăng, giá điện. Câu chuyện kiểm soát giá  trở thành tiêu điểm chú ý của công chúng khi có lúc quan điểm giữa hai Bộ Tài chính và Bộ Công thương tương phản gay gắt, trong đó quan điểm của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ trong việc giám sát chặt chẽ tình hình lỗ lãi của các doanh nghiệp xăng dầu được sự đồng tình rộng rãi của dư luận.
Tuy nhiên, chưa có nhiều những đánh giá sắc nét đối với những vấn đề mang tính dài hơi hơn, như đánh giá hiệu quả chính sách của Chính phủ trong tái cơ cấu đầu tư công, hoặc đánh giá triển vọng an toàn nợ công trong bối cảnh Chính phủ sẽ phải gia tăng vay nợ để đầu tư cho hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, trong đó nổi rõ nhất là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận mà riêng thỏa thuận sơ bộ về tài chính giữa Nga và Việt Nam ký trong năm nay đã lên tới 8 tỷ USD.
Bảo vệ chủ quyền: báo chí cũng là chiến sĩ

Năm 2011 chứng kiến sự vào cuộc mạnh mẽ của báo chí trên mặt trận bảo vệ chủ quyền quốc gia, khởi đầu từ vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam gây ra bởi tàu hải giám Trung Quốc ngày 26/5 và vụ việc tương tự xảy ra ngày 9/6 với tàu Viking II.
Ngay khi báo PetroTimes của Tập đoàn Dầu khí, thông tin về các hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam đã ngay lập tức lan truyền đến gần như tất cả các mặt báo. Sự cứng rắn và quyết liệt của báo chí đã khẳng định những quan điểm bảo vệ chủ quyền và xử lý tranh chấp  trên biển của Việt Nam, đồng thời cổ vũ một cách mạnh mẽ lòng yêu nước và tự cường dân tộc. Làn sóng yêu nước của nhân dân đã hậu thuẫn một cách hữu hiệu cho thế và lực của ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếng nói của nhân dân giúp khẳng định tính chính danh trong quan điểm của Việt Nam về biển Đông, qua đó thu hút sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.
Không chỉ các Chính phủ trên thế giới mà ngay cả báo chí quốc tế cũng bày tỏ sự quan tâm một cách công bình, khách quan về diễn biến trên biển Đông. Điểm nhấn quan trọng là qua những nỗ lực không mệt mỏi của giới khoa học Việt Nam, hai tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới là Nature và Science đã nhận thức rõ và lên tiếng cảnh báo về tình trạng lợi dụng khoa học cho mục đích tuyên truyền của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Đông.
Có thể thấy rằng, sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân và việc cung cấp thông tin, phản ánh các quan điểm, ý kiến người dân của báo chí đã góp phần quan trọng, đem đến những chuyển biến tích cực cho Việt Nam trong quá trình giải quyết vấn đề biển Đông. 
Giáo dục và mảng tối của những giá trị giả
Giáo dục Việt Năm năm qua tiếp tục là một mảng màu tối trong bức tranh chung. Đầu tiên là nạn đạo văn, mà cứ lâu lâu lại thấy báo chí phản ánh, và điều đáng nói là hiện tượng đạo văn xảy ra trong đội ngũ những người… học cao: giáo sư, tiến sĩ, giảng viên ĐH… Cho tới những ngày cuối cùng của năm 2011 này, báo chí còn tiếp tục “tố” việc một giảng viên ĐH Đồng Nai mượn hàng chục trang tài liệu của đồng nghiệp để làm luận án tiến sĩ.
Song song với đạo văn là vấn nạn bằng giả. Một trong các vụ đình đám là, vào giữa năm, Huyện ủy An Phú (An Giang) bê bối vì có tới 52 cán bộ Đảng viên ở đây bị phát hiện dùng bằng giả. Một số người trong đó thừa nhận đã chi tiền (dăm bảy triệu đồng) để mua bằng; một chủ tịch xã bị tố cáo nhờ người thi hộ THPT bổ túc (!).
Liên tiếp những vụ việc sử dụng bằng giả bị “phơi áo” trên báo chí từ Phó phòng CSGT đến lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, y tế bị phản ánh không trung thực khi khai báo bằng cấp và sử dụng bằng rởm.
Cứ mỗi khi một vụ đạo văn hay xài bằng giả bị tung lên báo, dư luận lại ồn ào, rồi mọi nguyên nhân sâu xa đều lại được quy cho giáo dục: Chỉ có một nền giáo dục kém chất lượng, rất có vấn đề về tiêu chuẩn đánh giá, mới không phân biệt nổi thực tài và bất tài, mới chấp nhận những dối trá, lừa lọc, “nén bạc đâm toạc tờ giấy” như thế. Nhưng, xét cho cùng thì ngay cả giáo dục kém có lẽ cũng chưa phải nguyên nhân sâu xa của hiện tượng, mà sâu nhất là cơ chế tuyển dụng, dùng người trong xã hội ta có những biểu hiện bất ổn. Rõ ràng là chỉ ở một cơ chế trọng bằng cấp, gắn bằng cấp (thay vì năng lực thực tiễn) với chức vụ và bổng lộc, trọng hư danh, cán bộ mới bị “kích thích” phải chạy bằng cấp, phải trộm văn của người làm của mình một cách sôi nổi như thế.
Luật biểu tình và “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước”
Sau những tổng kết thực tiễn quan trọng, Chính phủ và Quốc hội đã đồng thời thúc đẩy sự ra đời của Luật biểu tình trong kỳ họp Quốc hội tháng 11/2011. Mọi chuyện sẽ có thể êm đềm trôi qua và dự án Luật biểu tình sẽ được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội trong nhiệm kỳ 2011-2016 một cách suôn sẻ, nếu như không có một bất ngờ đến từ tân đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước (TP.HCM).
Viện dẫn lý do dân trí chưa đủ cao và những thông tin thiếu chính xác và không khách quan, ông Phước đã bác bỏ nỗ lực luật hóa quyền biểu tình vốn đã được Hiến pháp 1992 thừa nhận. Ngay lập tức, trên cả báo chí lẫn các mạng xã hội, “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước” đã tạo ra một cuộc tranh luận chính trị nảy lửa và rộng lớn với rất nhiều trải nghiệm thú vị.
Chính nhờ từ bài phát biểu “lạ”đã là một trong những nguyên nhân khiến những giá trị lý luận và thực tiễn của quyền biểu tình giành được sự quan tâm rất lớn của dư luận, và càng cho thấy rằng việc xây dựng luật này hiện nay là cần thiết, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân, và phù hợp với sự phát triển của xã hội hướng tới văn minh tiến bộ.
Lê Văn Luyện và sự mắc lỡm của báo chí
Một trong những lý do khiến cho làng báo trở nên bận rộn bất thường trong năm 2011 là vụ án tiệm vàng Ngọc Bích (Bắc Giang) ngày 24/8. Lê Văn Luyện, người mà cho đến nay vẫn chưa bị kết tội, trở thành tấm bia hứng chịu mọi sự phẫn nộ của xã hội, trong đó dường như lực lượng phóng viên là những người tích cực nhất.
Độc giả được cập nhật từng phút, từng giờ các thông tin của vụ án, từ việc lực lượng chức năng đã phá án ra sao, mô tả hiện trường như thế nào, Lê Văn Luyện gây án một mình hay có đồng bọn, anh ta đã nhận tội ra sao, ăn gì trước khi gây án, béo lên hay gầy đi sau mấy tháng ở trại,… Cũng có những hình ảnh về cánh tay bị chém đứt lìa của cháu bé nạn nhân được một số tờ báo đăng tải.
Sau tất cả những sự phẫn nộ bùng nổ trên mặt báo, dường như không có nhiều phóng viên nhận ra rằng, họ đã đứng sai vị trí của mình khi thay mặt cho tòa án để kết tội Lê Văn Luyện. Nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án, đã không được hầu hết phóng viên và phần lớn độc giả quan tâm. Bài viết với tiêu đề “Nếu phạm tội, Lê Văn Luyện có bị tử hình?” đăng trên báo Người Lao Động ngày 31/8 trở thành một ngoại lệ hiếm hoi trong cả dàn đồng ca “đòi nợ máu” của cả báo chí lẫn dư luận.
Bộ trưởng Đinh La Thăng: làn gió mới trên chính trường
Ông Đinh La Thăng là một gương mặt mới trên chính trường trên cương vị Bộ trưởng Giao thông – Vận tải.
Sự quyết liệt trong cả lời nói lẫn hành động của ông đã thổi vào chính trường một luồng gió mới mẻ, dường như đánh thức rất nhiều quan chức đang ngủ say và khơi dậy tinh thần cống hiến chính trị - cái mà từ lâu chỉ thường được tìm thấy trên các văn bản báo cáo thành tích. Quá phấn khích với điều này, báo chí đã lập tức biến ông Đinh La Thăng thành một “hiện tượng”.
Thế rồi không lâu sau đó, cũng chính báo chí đã tô đậm hình ảnh một Bộ trưởng của những quyết định vi hiến và phong cách điều hành có phần gia trưởng, bất chấp họ tán dương hay phê phán những quyết định cấm cán bộ chơi golf và yêu cầu thuộc cấp đi làm bằng xe buýt do chính ông ban hành. Và bản thân ông Thăng, sau một thời gian làm tốn nhiều giấy mực của báo chí, dường như cũng đã tự hạ nhiệt cơn sốt mang tên mình bằng những hình ảnh vui nhộn của ông trên sân bóng. Dư luận hi vọng tiền đạo Đinh La Thăng sẽ giữ được thói quen ghi bàn trong những trận đấu then chốt với nạn tắc đường, tai nạn giao thông và đầu tư xây dựng cơ bản. 
Maraton truyền thông: Rùa thắng tê giác
Năm 2011 chứng kiến sự thiên lệch rất rõ rệt của báo chí dành cho hai sự kiện có tính chất và mức độ nghiêm trọng khá tương đồng, đó là chiến dịch giải cứu “cụ Rùa” và sự tuyệt chủng của loài tê giác Java ở Việt Nam.
Ấn tượng để lại cho dư luận trong chiến dịch giải cứu “cụ Rùa”, tiếc thay, tập trung nhiều vào hàng loạt bản tin về sự rề rà của những cuộc họp, hội thảo đánh giá tình hình, tìm kiếm giải pháp; sự rình rang trong việc triển khai giải pháp khi huy động hàng chục dân quân, cứu hộ viên tiến hành thử nghiệm đủ các giải pháp, đến khi làm thật thì người ta dùng một chiếc lưới “hàng chợ” kém chất lượng và để “cụ” trốn mất. Có lẽ do cảm thấy bế tắc trước một việc tưởng chừng rất đơn giản này, có vị doanh nhân nọ còn cao hứng đề xuất dùng trực thăng để trục vớt “cụ”. Báo chí theo sát từng bước trong suốt hành trình giải cứu kéo dài hàng tháng trời và đây có thể là tư liệu quý cho các tác giả kịch bản hài kịch ở Việt Nam, vốn là những người luôn than bí đề tài.
Rình rang và dồn dập đưa tin về “cụ” Rùa bao nhiêu, báo chí lại lạnh nhạt bấy nhiêu với cái chết của cá thể tê giác Java cuối cùng ở Việt Nam. Một viên đạn được tìm thấy ở chân cá thể này và chiếc sừng của nó đã bị cắt mất. Những thông tin đau xót từ các Quỹ bảo vệ động vật thế giới dễ dàng chìm trong quên lãng, trong khi những vết lở loét ở thân “cụ Rùa” trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của các phóng viên trong nhiều tháng trời, ngay cả khi dư luận đã khá yên tâm rằng chúng không mấy nguy hiểm. Điều này phản ánh một thực tế là lâu nay báo chí đã chưa làm được nhiều trong việc gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về thảm họa mất đa dạng sinh học, vấn đề nghiêm trọng có tính chất toàn cầu.
Thủng lưới… VFF
Nếu như đội tuyển U23 Việt Nam bế tắc trong việc tìm đường đến khung thành đối phương ở SEA Games 26 thì các ông chủ ở các CLB lại ghi được những bàn thắng ngoạn mục vào lưới… VFF (Liên đoàn Bóng đá Việt Nam). Phát biểu gay gắt của bầu Kiên (Hà Nội ACB) tại Hội nghị tổng kết V-League mùa giải 2011 đã vỗ mặt VFF với đủ các nghi vấn từ đạo đức trọng tài cho đến năng lực điều hành của bộ máy Liên đoàn.
Hiệu ứng từ bài phát biểu để đời này của bầu Kiên sẽ không thể xảy ra, nếu trước đó ông không khôn khéo kéo báo chí vào trụ sở VFF, vốn có truyền thống “đổ bê tông” ngăn chặn mọi pha “lên bóng” của cánh phóng viên. Ở một tổ chức xã hội hóa cao như VFF, nơi quyền lực thực sự không hoàn toàn nằm trong tay lãnh đạo liên đoàn và bộ mặt của nó được phơi bày trên sân bóng với camera chụp chiếu đủ bốn góc, người ta không thể không đếm xỉa đến phản ứng của báo chí và dư luận.
Sự vào cuộc tích cực của các phóng viên đã kích hoạt một làn sóng phản đối VFF và cuối cùng đưa đến một cuộc cách mạng với sự ra đời của một mô hình quản lý hoàn toàn mới: Công ty Cổ phần Bóng đá Việt Nam – VPF. Thế mới biết, khi sức mạnh giám sát của báo chí được coi trọng thì mành lưới nào cũng có khả năng bị xuyên thủng.

YẾU TỐ TÂM LÝ PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Thay đổi trạng thái tâm lý -
Ảnh: www.usao.edu
PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan
Nguồn: Khoa học pháp lý, Số 4/2004, 
truy cập đường link gốc tại đây

I. Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, là tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ lợi ích cho bản thân mình, cho nhà nước và cho xã hội, xử sự đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ xã hội.

Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức pháp lý) và tâm lý pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các họat động tư duy lý luận, thì tâm lý pháp luật chỉ là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật, tinh thần và hành vi thực hiện pháp luật một cách tự phát nhiều hơn. Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức lý luận của cá nhân. Và ngược lại, tâm lý pháp luật là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp.

Tâm lý pháp luật chứa đựng trong nó những rung động về tâm hồn của con người đối với những hành vi được điều chỉnh bằng những tiêu chuẩn pháp lý như: niềm tin, sự trân trọng, định kiến, thù ghét, ác cảm.... Tâm lý pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể và góp phần nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, từ đó hình thành trách nhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình, lớn hơn nữa là với quê hương, nhân loại.

II. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng yếu tố tâm lý pháp luật ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Việc củng cố nâng cao ý thức pháp luật thời gian qua chúng ta mới chỉ chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ tư tưởng pháp luật nhiều hơn mà ít chú ý tới việc củng cố, định hướng để hình thành những thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp trong cán bộ và nhân dân. Do vậy, có thể nói hiện nay ý thức pháp luật ở nước ta đã được nâng cao một bước, nhưng tâm lý pháp luật trong cán bộ và nhân dân thì diễn biến còn khá phức tạp.

Tâm lý pháp luật là một hiện tượng tương đối bền vững, nó hình thành và biến đổi chậm chạp cùng với những truyền thống, thói quen của con người. Tính chất của nền kinh tế đất nước ta hiện nay cho thấy, phần đông dân cư ở nước ta đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán, với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người dân còn thấp, một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường tìm cách trốn tránh, bất tuân pháp luật. Nếu nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ bất tuân pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong xã hội thực dân phong kiến. Khi đó pháp luật chủ yếu thể hiện ý chí và mang lại lợi ích cho thực dân, phong kiến, khi mà giữa nhà nước và nhân dân lao động luôn có sự đối lập nhau, thì người dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật. Khi đó những tập tục của cộng đồng làng, bản..., nơi những người dân phải co cụm lại vì lợi ích cục bộ của cộng đồng và bản thân đôi khi còn quan trọng, được tôn trọng và thực hiện nghiêm hơn cả pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến (phép vua, thua lệ làng).

Trong xã hội ta nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân...”1 nên cả nhà nước và nhân dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh. Tuy nhiên, do tính chất bền vững của tâm lý pháp luật mà thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu, bám rễ trong ý thức của nhiều người; do vậy, trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi. Chẳng hạn, khi nhà nước đưa ra quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng, thì chỉ sau một thời gian ngắn đã có rất nhiều cá nhân, tổ chức gian dối lợi dụng để chiếm đoạt bất hợp pháp tiền bạc của nhà nước; thời kỳ nhà nước nghiêm cấm mua bán đất thì người ta nghĩ ngay đến việc che giấu mua bán đất dưới hình thức như mua bán nhà ở, cây lâu năm...; khi các trạm kiểm soát của cảnh sát giao thông hoạt động mạnh thì các lái xe đã liên kết với nhau, tìm cách thông báo cho về các trạm kiểm soát của cảnh sát đặt ở đoạn đường nào để đến đó thì họ nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông còn trước đó và sau đó thì họ tìm mọi cách vi phạm như chạy quá tốc độ, chở quá quy định... Cũng cần phải thừa nhận một thực tế là có những trường hợp chủ thể bất tuân pháp luật không nhằm mục đích vụ lợi mà chỉ nhằm để thoả mãn trạng thái tâm lý là “không ai làm gì được mình”, thậm chí chỉ là để “thể hiện mình” trước những người xung quanh.

Cũng do việc định hướng tình cảm pháp luật chưa tốt nên trong xã hội ta tâm lý ác cảm với cảnh sát, với người đại diện chính quyền vẫn còn tồn tại. Thậm chí có trường hợp khi cảnh sát xử lý hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân nào đó thì một số cá nhân khác lại ủng hộ, bênh vực, giúp đỡ kẻ vi phạm, tạo điều kiện cho kẻ vi phạm trốn tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Những kẻ ủng hộ này thường là đồng bọn của kẻ vi phạm hoặc là những kẻ xưa nay vẫn vi phạm pháp luật nhưng không bị phát hiện hoặc không bị xử lý. Một số người dân tuy không ủng hộ việc làm sai trái đó nhưng lại thờ ơ, không ủng hộ việc làm đúng của cảnh sát, không ủng hộ cái đúng và như vậy, vô hình trung họ đã tạo điều kiện để cái sai, cái xấu vẫn tồn tại và hoành hành trong xã hội. Nhưng khi cái xấu có liên quan đến họ thì họ lại ra sức trách móc, trông chờ sự giúp đỡ người khác đặc biệt là của cảnh sát hoặc chính quyền. Việc tác động để hình thành những tình cảm, xúc động đúng đắn đối với pháp luật, đối với hành vi của những người thừa hành pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong phòng ngừa những hành vi không phù hợp, trái với chuẩn mực xã hội, chuẩn mực pháp luật trong xã hội.

Trong nhiều hoạt động nhà nước ở nước ta vẫn còn biểu hiện của tâm lý cửa quyền, muốn được cầu cạnh, ban phát theo kiểu “con không khóc thì mẹ không cho bú” và đứa con nào khóc to, biết cách khóc, khóc hay thì sẽ được bú nhiều. Chính thói quen tâm lý này đã góp phần tạo ra trong xã hội ta cơ chế “xin - cho”, mọi thứ đều phải “xin” thì mới được những người đại diện nhà nước “cho”. Cơ chế “xin - cho” đã làm mất đi tính chủ động phục vụ nhân dân của những người có chức vụ, quyền hạn. Rất nhiều kẻ gian tham đã lợi dụng cơ chế “xin - cho” để vụ lợi, chúng coi tài sản nhà nước như “một thứ tự nhiên mà có” xin được càng nhiều càng tốt, tìm mọi mánh khóe để cậy cục xin, ỷ lại, trông chờ vào việc xin. Kẻ được cho thì coi tài sản nhà nước như là của mình, mình ban ơn, mình cho ai thì người đó được hưởng. Và không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tài sản, cơ chế “xin - cho” còn lan sang cả các lĩnh vực khác như công tác thi đua khen thưởng, công tác tổ chức cán bộ... gây ra dư luận không tốt trong nhân dân. Chính cơ chế “xin - cho” đã làm cho người có thẩm quyền áp dụng pháp luật tùy tiện mà người bị áp dụng pháp luật cũng tự do, tuỳ tiện, theo kiểu bất tuân các quy định của pháp luật. Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật thì cho rằng đó là “quyền của mình”, mình muốn làm gì thì làm, mình cho, mình làm ơn thì người dân được hưởng, được nhờ còn mình không cho, không làm thì người dân phải cậy cục nhờ vả, van xin... hoặc là nếu là người thân quen thì xử lý khác, còn người không thân quen thì xử lý khác.... Nhiều chủ thể bị áp dụng pháp luật đã coi thường, không chấp hành quyết định áp dụng pháp luật, với tâm lý “làm gì nhau” và nếu gặp trường hợp thiếu kiên quyết, “đánh trống bỏ dùi”, thiếu triệt để của các cơ quan nhà nước thì chẳng sao cả, càng làm cho tâm lý thách thức, coi thường người đại diện chính quyền tăng lên trong xã hội.

Tâm lý tuỳ tiện tiểu nông còn thể hiện ở việc chấp hành thời gian lao động, sinh hoạt, hội họp. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà hầu hết các cuộc họp, hội thảo, hội nghị, ngày làm việc đã không được thực hiện đúng giờ. Để đảm bảo thời gian chính xác trong lao động nhiều cơ quan, đơn vị nhất là các đơn vị sản xuất, kinh doanh đã phải áp dụng các biện pháp thưởng phạt về vật chất rất nghiêm khắc mới có thể khắc phục được hiện tượng đi muộn, về sớm của một số người. Tuy nhiên, hiện tượng tuỳ tiện về thời gian trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp thì hầu như chưa được khắc phục, vì tâm lý “chẳng chết ai” và “không ảnh hưởng gì ghê gớm lắm”. Hiện tượng đi muộn trong nhiều cơ quan, đơn vị lại chính là những người có chức vụ, quyền hạn, người chủ trì, chủ toạ các cuộc hội họp hoặc là những đại biểu cấp trên được mời tham dự. Hình như những người này tự coi là mình được quyền đến muộn hoặc có đến sớm thì cũng vào phòng chậm, muộn hơn những người khác. Điều đó như là để thoả mãn tâm lý là họ “quan trọng hơn người khác”, chưa có họ là chưa bắt đầu được. Đối với một số người đến muộn thậm chí còn để thể hiện sự “oai phong của mình”, nhiều trường hợp người đến muộn còn được “vỗ tay chào đón”, do vậy một số người cố ý đến muộn hoặc cố ý vào muộn chứ không phải vì những lý do nào khác.

Trong đời sống sinh hoạt và lao động nhiều khi người dân do không hiểu biết đầy đủ pháp luật dẫn đến tâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động, làm cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Điều này, một mặt làm giảm khả năng của người dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, không đúng thủ tục... dẫn tới bất ổn định xã hội. Tình trạng kém hiểu biết về pháp luật cũng dễ tạo nên tâm lý thờ ơ, lãnh đạm, thậm chí coi thường pháp luật, dẫn đến người dân có những hành vi xử sự không đúng với quy định của pháp luật.

Ở nước ta có thời kỳ do công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị được chú trọng hơn so với tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã dẫn đến hiện tượng người dân Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ cán bộ đến người dân bình thường luôn có sự quan tâm đến chính trị, đến tình hình thế giới nhiều hơn là quan tâm đến pháp luật của chính đất nước mình, những quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của chính mình.

Thời gian qua công việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua xét xử đã bước đầu được chú trọng, góp phần tạo nên niềm tin của nhân dân vào các quyết định của toà án, nhưng nếu nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc thì công viêc này chưa được chú trọng ở tất cả các cấp tòa án và trong một toà án thì chưa được tất cả các thẩm phán, hội thẩm nhân dân quan tâm đúng mức. Khi xét xử, hội đồng xét xử mới chỉ chú ý đến việc giải quyết việc cụ thể, do ít chú ý đến mục đích giáo dục, nên nhiều trường hợp không phổ biến các quy định của pháp luật, không giải thích cặn kẽ các quy định của pháp luật, do vậy tính thuyết phục, sự giáo dục của các quyết định áp dụng pháp luật chưa cao. Ngôn ngữ sử dụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với những người dân có liên quan đôi khi còn chưa phù hợp, thậm chí mang tính miệt thị, đay nghiến hay nạt nộ, không thể hiện được thái độ tôn trọng, không đảm bảo tính công bằng, dân chủ của pháp luật, và thường là ngôn ngữ mang tính xã hội, tính gia đình (với sự phân tầng đẳng cấp, trên dưới) ít mang tính công sở, tính pháp lý… chưa đúng với văn hoá pháp lý hiện đại. Kể cả tâm lý thiếu tôn trọng của cán bộ cấp trên đối với cấp dưới, của cán bộ đối với nhân dân. Do vậy, những người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan nhà nước trước hết hãy tôn trọng cấp dưới, tôn trọng nhân dân tức cũng có nghĩa là tôn trọng chính mình, khi đó cũng sẽ được những người khác tôn trọng thực lòng, chứ không “bị buộc phải tôn trọng”.

Mặc dù không nói ra, nhưng thông qua những cách nghĩ, cách làm của nhiều cán bộ, công chức cho chúng ta thấy tâm lý “trừ mình ra”, “mình phải hơn người khác” hơn ở đây là về mặt lợi ích được hưởng nhiều hơn, còn về nghĩa vụ, trách nhiệm, thì chỉ phải thực hiện ít hơn hoặc không phải thực hiện, “mình được quyền như thế” đã ăn sâu bám rễ vào nhiều thế hệ cán bộ, công chức của chúng ta do ảnh hưởng của chế độ quan lại thời kỳ phong kiến trước kia và của một số vị “quan cách mạng sau này”. Vì thế, ngành nào, lĩnh vực nào cũng tự đặt ra cho mình những đặc quyền, đặc lợi mà họ cho rằng mình xứng đáng hoặc đương nhiên phải được hưởng. Điều này đã làm mất đi yếu tố tự đánh giá cá nhân là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng của tâm lý pháp luật, thể hiện thái độ của mỗi người đối với hành vi của mình. Do thiếu đi sự tự đánh giá cá nhân cần thiết nên trong nhiều cán bộ, công chức những cảm xúc như tự hào, buồn lo, xấu hổ... gần như cũng không có. Họ không hề thấy xấu hổ đối với những hành vi cửa quyền, nhận hối lộ, tham nhũng của mình. Đây là một hiện tượng vô cùng nguy hại cho các hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Trong cuộc sống hiện nay người ta nói nhiều đến đạo đức của mọi ngành, mọi nghề. Song cần chú ý đến đạo đức người quản lý, lãnh đạo mà khi đương thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường căn dặn cán bộ, công chức khi đó là “ Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta...”2. Thực tiễn ở nước ta vừa qua, việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của người dân, những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp là việc làm có lợi cho dân, cho nước thì lại thường bị các cơ quan, những người có trách nhiệm “hết sức tránh” bằng cách đùn đẩy trách nhiệm cho nhau thông qua việc “kính chuyển”, “kính gửi” vòng vo. Như vậy, sự xúc động, lương tâm con người của họ gần như không còn, họ im lặng, vô cảm trước những yêu cầu bức xúc của người dân hoặc của các doanh nghiệp. Có thể nói sự quan liêu, vô cảm của các cơ quan, các cán bộ, công chức nhà nước đối với đời sống nhân dân và sự phát triển của đất nước là hiện tượng còn nguy hại hơn nhiều so với những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Như vậy, từ những trạng thái tâm lý tưởng như rất nhỏ, vặt vãnh, ít ai để ý đến nhưng chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc của bộ máy nhà nước, đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của một xã hội công nghiệp, văn minh và hiện đại. Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập đời sống xã hội nói chung, đời sống pháp luật nói riêng ngày càng trở nên phức tạp hơn, trong xã hội đã xuất hiện rất nhiều tư tưởng, quan điểm pháp luật mới đòi hỏi những tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật cũng phải có những thay đổi cho phù hợp.

Việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp và tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm vô cùng khó khăn hiện nay, bởi tính chất bền vững, bám rễ của yếu tố tâm lý trong ý thức của mỗi người trong chúng ta. Nó đòi hỏi sự kiên trì, quan tâm đúng mức của đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội và mỗi người dân trong xã hội ta vì một xã hội văn minh, hạnh phúc.

III. Để có những đổi mới tích cực trong tâm lý pháp luật ở nước ta hiện nay theo chúng tôi trước hết cần tạo ra những cơ chế, chính sách đúng đắn, kiên quyết sửa đổi hoặc loại bỏ một số cơ chế, chính sách không còn phù hợp, những chính sách dễ bị lợi dụng, dễ phát sinh ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Triệt để hơn nữa trong việc xoá bỏ cơ chế “xin- cho” trong các hoạt động nhà nước, từng bước chuyển bộ máy nhà nước sang cơ chế phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước phải “đều là công bộc của dân,..gánh việc chung cho dân...”3

Kiên quyết loại bỏ những cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Cương quyết và triệt để hơn nữa trong đấu tranh, xử lý các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật cho dù người vi phạm là bất cứ ai. Tình trạng nhân nhượng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhà nước trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật nhất là cách giải quyết “phạt, cho tồn tại” chính là những yếu tố góp phần tạo ra tâm lý chây, ỳ, thách thức chính quyền, khinh nhờn dư luận của một số ít kẻ bất tuân pháp luật. Không có sự phát triển nào lại không phải trả giá, để có được sự tự giác chấp hành pháp luật nghiêm minh nhiều trường hợp xuất phát từ những bài học đắt giá mà chủ thể hoặc xã hội đã phải trải qua. Theo chúng tôi Đảng, Nhà nước và xã hội đã đến lúc phải chấp nhận những sự hy sinh cần thiết nhất định, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những kẻ thoái hóa biến chất, bất kể người đó là ai để tạo ra một trật tự, kỷ cương đảm bảo cho xã hội phát triển nhanh và bền vững. Không thể chấp nhận được hiện tượng dân chủ quá trớn, lời nói và việc làm không đi đôi với nhau, cản trở tiến trình phát triển đất nước của một số cá nhân.

Xây dựng một nền hành chính trong sạch và hiệu qủa, nền hành chính phục vụ nhân dân. Người dân đóng thuế để nuôi bộ máy nhà nước, do vậy, bộ máy nhà nước phải có nghĩa vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Củng cố tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật, với quá trình thực hiện và bảo vệ pháp luật. Tất cả cán bộ, công chức và mỗi người dân không những phải hiểu biết pháp luật mà còn phải có thói quen “sống, làm việc theo pháp luật”. Muốn tạo ra thói quen sống, làm việc theo pháp luật trước hết phải bắt buộc, nói cách khác khi đầu là bắt buộc dần dần mới thành thói quen, để có được thói quen, sự tự giác, lúc đầu cần phải nghiêm khắc, thậm chí là rất nghiêm khắc. Lênin đã từng nhấn mạnh: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta sẽ tức khắc có thể làm việc cho xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp luật nào cả, hơn nữa, việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản không thể đem lại ngay được những tiền đề kinh tế cho một sự thay đổi như vậy”4. Đành rằng giáo dục, thuyết phục là quan trọng, nhưng sau khi đã giáo dục, thuyết phục, đã giải quyết có tình, có lý mà vẫn không thực hiện thì cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cứng rắn một cách cương quyết, triệt để. Kinh nghiệm của một số trường hợp giải phóng mặt bằng và lập lại trật tự trong lĩnh vực giao thông thời gian qua đã cho thấy cần phải cương quyết cứng rắn hơn nữa. Cha ông ta đã có câu “mềm nắn, rắn buông”, việc Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nền dân chủ rộng rãi trong các hoạt động nhà nước và xã hội không có nghĩa là thiếu đi những biện pháp cương quyết, cứng rắn khi cần thiết vì lợi ích của cả cộng đồng. Tất nhiên để cương quyết được thì trước hết các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách phải giải quyết, quyết định các vấn đề một cách thấu tình, đạt lý, vô tư, không thiên vị, vì lợi ích chung theo tinh thần “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.

Tóm lại, nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền là vô cùng quan trọng. Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao được. Việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay không nên chỉ chú ý tới việc xây dựng, hoàn thiện những tư tưởng quan điểm pháp lý mà còn cần phải chú trọng cả tới việc hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc pháp lý phù hợp, đúng đắn; có như vậy thì việc điều chỉnh pháp luật mới thực sự có hiệu quả cao.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi chúng ta không chỉ có chủ trương, chính sách đúng mà còn cần phải chuẩn bị những con người có trí tuệ, thông minh, có trình độ chuyên môn cao, có thói quen và ý thức sống, làm việc, lao động theo pháp luật, đồng thời phải có tâm lý pháp luật đúng đắn, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hạnh phúc.
-------


1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội 1987, tr. 120.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 trang 56-57.

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 tr. 56.

4. V. I. Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ Matxcova 1976, tr. 116.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code