Showing posts with label Thuật Ngữ. Show all posts
Showing posts with label Thuật Ngữ. Show all posts

Tuesday, January 21, 2014

Thanh khoản (tài chính)

Tính thanh khoản, một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu... có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu. Các cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu động.
Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn
Trong kế toán, tài sản lưu động được chia làm năm loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho.
Như vậy, tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ. Còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu...có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu. Ta có thể lấy một ví dụ, trong kế toán tài sản lưu động chia làm năm loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho. Như vậy rõ ràng tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ; còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy của ngân hàng. Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoát phải xem xét đến khả năng bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu. Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn. Và điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.
Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư. Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính lỏng chứng khoán, nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu, nhà đầu tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là những cổ phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường (được đánh giá cao hơn các cổ phiếu có cùng lợi tức). Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chia tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới.

Tiền cơ sở



Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tiền cơ sở là thuật ngữ kinh tế chỉ loại tiền có mức độ thanh khoản cao nhất trong các thành phần của cung tiền. Tiền cơ sở bao gồm tiền mặt trong lưu thông do các cá nhân (hộ gia đình và doanh nghiệp không phải ngân hàng nắm giữ) và dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương. Mọi sự thay đổi của lượng tiền cơ sở đều là tác nhân quan trọng gây ra thay đổi trong tổng lượng cung tiền. Chính vì vậy, tiền cơ sở còn được gọi là tiền có mãnh lực.

Tiền cơ sở và cung tiền

Lượng cung tiền (M) bằng lượng tiền cơ sở (MB) nhân với số nhân tiền tệ (m).
M = m × MB
Trong trường hợp số nhân tiền tệ không đổi, thay đổi của tổng lượng cung tiền phụ thuộc vào thay đổi trong lượng tiện cơ sở. Khi số nhân tiền tệ bằng 1, mức thay đổi lượng cung tiền đúng bằng mức thay đổi lượng tiền cơ sở.

Những nhân tố tác động tới lượng tiền cơ sở

Mô hình đơn giản để mô tả sự thay đổi của tiền cơ sở xuất phát từ khái niệm về tiền cơ sở với đẳng thức:
MB = C + R
trong đó C là lượng tiền mặt trong lưu thông và R là dự trữ bắt buộc. Những nhân tố làm thay đổi lượng tiền mặt trong lưu thông hoặc/và thay đổi dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương đều có thể làm thay đổi lượng tiền cơ sở. Vì mức dự trữ bắt buộc bằng lượng tiền gửi trong các ngân hàng thương mại nhân với tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nên ta có tiếp đẳng thức:
MB = C + D×r
trong đó D là lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại, còn r là tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương kiểm soát.
Giả dụ các nhân tố còn lại không đổi, mỗi thay đổi của một trong ba nhân tố trên đều làm lượng tiền cơ sở thay đổi cùng chiều. Vì vậy, để tăng lượng tiền cơ sở, ngân hàng trung ương có thể:
  • Tăng lượng tiền mặt trong lưu thông, chẳng hạn bằng nghiệp vụ thị trường mở mua vào (ngân hàng trung ương mua công trái vào để bơm tiền mặt ra lưu thông), hay đơn giản là in thêm tiền giấy, đúc thêm tiền kim loại và đưa vào lưu thông.aa
  • Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
  • Can thiệp để điều chỉnh lãi suất huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mại bằng cách như điều chỉnh lãi suất chiết khấu.
Lưu ý là hai biện pháp sau không chỉ làm thay đổi lượng tiền cơ sở mà còn đều làm thay đổi số nhân tiền tệ, vì vậy chúng là những biện pháp mạnh trong chính sách tiền tệ và hiện nay ít còn được sử dụng. Đối với biện pháp thứ nhất, việc in và đúc tiền cũng có thể gặp hạn chế bởi quy định của pháp luật ở một số quốc gia.

Dự trữ bắt buộc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.


Tác động của dự trữ bắt buộc

Thông qua hoạt động tạo tiền, từ tiền cơ sở (gồm tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng cộng với tiền mặt dữ trữ trong hệ thống ngân hàng), cácữa tiền mặt so với tiền gửi (C/D) của các ngân hàng; r là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Do đó khi r thay đổi thì số nhân tiền thay đổi theo tỷ lệ nghịch. Chính vì thế bằng cách thay đổi tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể thay đổi số nhân tiền để điều tiết cung tiền với một tiền cơ sở bất kỳ.

Một số vấn đề liên quan đến dự trữ bắt buộc

Thông thường, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được các ngân hàng trung ương trên thế giới quy định là tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt so với tiền gửi vãng lai là một bộ phận cấu thành của M1 mà không quy định tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt với tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi tiết kiệm..., một bộ phận cấu thành của M2). Dữ trữ bắt buộc có thể được gửi ở ngân hàng trung ương hoặc giữ tại két dự trữ của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, thông thường các ngân hàng thương mại sẽ gửi ở ngân hàng trung ương để được hưởng lãi suất. Ở Việt nam, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được quy định cho hai loại tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn cộng với tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm và tiền gửi có thời hạn từ 1 năm đến 2 năm, trong đó tỷ lệ dữ trữ bắt buộc so với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến 2 năm thấp hơn. Ngoài ra tỷ lệ dữ trữ bắt buộc còn được quy định khác nhau đối với những loại ngân hàng khác nhau có thể theo quy mô, tính chất hoạt động... Ngân hàng trung ương của một số quốc gia như các nước thuộc Anh, Thuỵ Sỹ,... đã không còn áp dụng quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nữa.

Phân biệt Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, Giảm giá hàng bán và Chiết khấu thanh toán.



Dựa vào các văn bản:

- 04 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 1 ban hành theo QĐ 149/2001/QĐ-BTC.
- Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/11/2002 hướng dẫn kế toán 04 chuẩn mực



Chúng tôi khái quát lại định nghĩa để các bạn có thể phân biệt đựơc khái niệm Chiết khấu thương mại, Hàng bán bị trả lại, Giảm giá hàng bán và Chiết khấu thanh toán.



Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.


Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm tiền cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.



1. Chiết khấu thương mại

Tài khoản sử dụng: 521



Nội dung: phản ánh chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc thanh toán cho người mua hàng do họ đã mua hàng, dịch vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.

Cách hạch toán:

- Chỉ hạch toán vào tài khoản này khoản chiết khấu thương mại người mua được hưởng đã thực hiện trong kỳ theo đúng chính sách chiết khấu thương mại của doanh nghiệp đã quy định.

- Trường hợp người mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua được hưởng chiết khấu thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm vào giá bán trên “Hóa đơn (GTGT)” hoặc “Hoá đơn bán hàng” lần cuối cùng.


VD: Hóa đơn GTGT xuất tháng 4 ghi:
Sản phẩm A : 1.000 cái – 1.000.000 đ
Sản phẩm B: 500 cái – 750.000 đ
CKTM tháng 3: 10 sản phẩm A và 3 sản phẩm B tương đương: 10.000+4.500=14.500 đ

Thành tiền: 1.000.000+750.000-14.500=1.735.500
Thuế 10%: 173.550

Tổng cộng: 1.909.050


Bên bán:


- Phản ánh số chiết khấu thương mại thực tế phát sinh trong kỳ, ghi:
Nợ TK 521 – 14.500

Nợ TK 3331 – 1.450

Có TK 131 – 15.950


- Phản ảnh doanh thu
Nợ TK 131 – 1.925.000
Có TK 511 – 1.750.000
Có TK 3331 – 175.000


- Trường hợp khách hàng không tiếp tục mua hàng, hoặc khi số chiết khấu thương mại người mua được hưởng lớn hơn số tiền bán hàng được ghi trên hóa đơn lần cuối cùng thì phải chi tiền chiết khấu thương mại cho người mua. Khoản chiết khấu thương mại trong các trường hợp này được hạch toán vào Tài khoản 521.
Xuất hoá đơn chiết khấu thương mại cho khách hàng:
Nợ TK 521
Nợ TK 3331
Có TK 131

- Trường hợp người mua hàng với khối lượng lớn được hưởng chiết khấu thương mại, giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã giảm giá (đã trừ chiết khấu thương mại) thì khoản chiết khấu thương mại này không được hạch toán vào TK 521. Doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã khấu trừ chiết khấu thương mại
Xuất hoá đơn theo giá đã giảm và ghi doanh thu (không hạch toán qua 521):
Nợ TK 131
Có TK 511
Có TK 3331

Bên bán phải theo dõi chi tiết chiết khấu thương mại đã thực hiện cho từng khách hàng và từng loại hàng bán như: bán hàng (sản phẩm, hàng hoá), dịch vụ.

Theo các trường hợp trên, bên mua sẽ hạch toán:

a. Nếu bên mua phân bổ được vào giá trị hàng hóa mua vào:
Nợ TK 156-giá trị từng mặt hàng đã giảm theo tỷ lệ chiết khấu
Nợ TK 133
Có TK 331-Giá trị đã giảm theo chiết khấu.

b. Nếu không thể phân bổ giá trị chiết khấu thương mại do hàng hoá đã xuất kho hết….thì có thể ghi (số theo ví dụ trên)


- Phản ảnh hàng hoá nhập vào kho :
Nợ TK 156- 250
Nợ TK 133- 22,5
Có TK 331- 272,5


- Phản ảnh số chiết khấu
Nợ TK 331-25
Có TK 632-25



2. Hàng bán bị trả lại



Tài khoản sử dụng: 531

Nội dung: Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã xác định tiêu thu, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.

Bên mua cần xuất hoá đơn để trả lại hàng bên bán. (đơn giá xuất phải đúng theo đơn giá mua trên hóa đơn mua vào)

Trình tự hạch toán và xuất hóa đơn:

Bên mua:

Xuất hóa đơn trả hàng và kê vào bảng kê 03-GTGT (nếu xuất trả hàng trong cùng kỳ) hoặc kê vào bảng 02A (nếu xuất trả hàng khác kỳ)
Nợ TK331
Có TK 156
Có TK 1331

Bên bán:


Kê tờ hóa đơn của bên bán vào bảng kê 02-GTGT (nếu xuất trả hàng trong cùng kỳ) hoặc kê vào bảng 02A (nếu hàng trả hàng khác kỳ)
Nợ TK 531
Nợ TK 3331
Có TK 131

3. Gỉam giá hàng bán



Tài khoản sử dụng: 532

Bên bán sẽ xuất hóa đơn giảm giá cho số lương hàng kém chất lượng

Bên bán:
Nợ TK 532
Nợ TK 3331
Có TK 131
Nếu giảm giá trong cùng kỳ thì tờ hóa đơn này sẽ được kê vào bảng kê 02GTGT với số âm.
Nếu giảm giá khác kỳ thì tờ hóa đơn này sẽ ghi vào bảng kê 02A, lên tờ khai thuế ở mục điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu ra.

Bên mua:
Nợ TK 331
Có TK 156
Có TK 133
Nếu giảm giá trong cùng kỳ thì tờ hóa đơn này sẽ được kê vào bảng kê 03GTGT với số âm.
Nếu giảm giá khác kỳ thì tờ hóa đơn này sẽ ghi vào bảng kê 02A, lên tờ khai thuế ở mục điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào.


4. Chiết khấu thanh tóan

Tài khoản sử dụng: 515 hợăc 635



Không lập hóa đơn, chỉ căn cứ chính sách bán hàng, chứng từ thu (bên mua), chứng từ chi (bên bán) để hạch toán

Bên mua:
Số tiền chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn được người bán chấp thuận, ghi:
Nợ TK 331 – Phải trả cho người bán
Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

Bên bán:
Khoản chiết khấu thanh toán cho người mua hàng hoá, dịch vụ được hưởng, ghi:
Nợ TK 635 – Chi phí tài chính
Có các TK 131, 111, 112,...

Trích từ fbaclup

Lãi suất chiết khấu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng trung ương (ngân hàng Nhà nước) đánh vào các khoản tiền cho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này. Quy định lãi suất chiết khấu là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết lượng cung tiền. '''lãi suất chiết khấu''' khác lãi suất tái chiết khấu


Tác động của lãi suất chiết khấu

Các ngân hàng thương mại phải tính toán tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi (dự trữ của ngân hàng) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và họ có một tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi an toàn tối thiểu. Tỷ lệ này ngoài quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng thương mại và dự trữ của ngân hàng thường lớn hơn dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định. Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuống đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục cho vay hay không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phí liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường:
  • Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơnlãi suất thị trường thì ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng trung ương mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào.
  • Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thương mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối thiểu cho phép, thậm chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng.
Do vậy, với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ sung khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống (vì bội số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm giảm lượng cung tiền. Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.

Tuesday, January 14, 2014

nguyên tắc “acquiescemence”- sự phục tùng . đồng thuận

Trong pháp luật, Sự phục tùng xảy ra khi một người biết nguyên cớ mà không chịu phản đối hành vi của một kẻ khác xâm phạm các quyền của họ , trong khi người đó vô tình và không có ác ý nghi trứơc đưa ra tuyên bố về quyền của họ.  

Do đó, người có quyền lợi bị vi phạm mất khả năng để thực hiện một đơn kiện chống lại các hành vi xâm hại , hoặc kẻ khác đó thành công trong việc chiếm hữu hợp pháp do hành vi của người vi phạm .  

Thuật ngữ nói chung là nhất một loại " giấy phép " do sự im lặng hoặc bị động của người bị xâm hại . 
tổng quanHọc thuyết của Thông Luật (Common Law) của sự ngăn cản của phục tùng được áp dụng khi một bên cung cấp cho thông báo pháp lý cho một bên thứ hai về một thực tế hoặc yêu cầu bồi thường và bên thứ hai không phản đối hoặc bác bỏ yêu cầu bồi thường trong một thời gian hợp lý. Bên thứ hai được cho là đã ưng thuận để yêu cầu bồi thường , và được không phủ nhận (estopped ) từ sau đối phó với nó , hoặc làm cho một phản tố . Học thuyết là tương tự, và thường được áp dụng với , không phủ nhận bởi sự trể nải .Điều này xảy ra trong Georgia 2nd v South Carolina [1] trường hợp trước khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào năm 1990, khi nó được phán quyết rằng Georgia không còn có thể làm cho bất kỳ khiếu nại đến một hòn đảo trên sông Savannah, mặc dù Hiệp ước 1787 giao Beaufort để Ngược lại . Tòa án nói rằng nhà nước đã cố ý cho phép South Carolina để tham gia hòn đảo này là một bán đảo với bờ biển riêng của mình bằng cách bán phá giá cát từ nạo vét , và sau đó đánh thuế tài sản trên nó trong nhiều thập kỷ . Georgia từ đó bị mất đảo -chuyển- bán đảo mặc nhận của riêng mình, mặc dù các hiệp ước đã được tất cả các hòn đảo trên sông (xem sở hữu bất lợi) .Học thuyết phục tùng mặc dù thường không tìm thấy trong pháp luật, được tìm thấy rất nhiều trong tiền lệ. Như đã thấy bằng cách tìm kiếm này phán quyết của Tòa án tối cao Mỹ , học thuyết phục tùng đã được đề cập hơn một ngàn lần.Im lặng là phục tùng ( phục tùng aka. im lặng và phục tùng sự im lặng ) là một học thuyết liên quan có thể có nghĩa là, và có hiệu lực pháp luật , mà khi đối mặt với một sai hoặc một hành động có thể được coi là một hành động có hại, một trong những nơi của sự im lặng có nghĩa là một người chấp nhận hoặc giấy phép hành vi như vậy mà không phản đối hoặc yêu cầu bồi thường do đó mất quyền yêu cầu bồi thường của bất kỳ tổn thất hoặc thiệt hại. [2]

 Điều cần nói rõ, Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc về lãnh hải quốc gia, là Tuyên bố đơn phương có hình thức “décision – quyết định” (hơn là hình thức “notification”).


Theo tập quán quốc tế hiện nay, khi quốc gia ra tuyên bố về bề rộng lãnh hải của nước mình, thường thông báo đến các quốc gia khác “lập trường” của nước mình qua hình thức “notification – thông báo”. Các nước khác, nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức “reconnaissance vii– công nhận”. Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm “phản đối – protestation viii“.


Bất kể tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc mang hình thức “Désision v – quyết định” (mang tính ép buộc cho phía nhận quyết định) hay “Notification vi – thông báo”, công hàm của ông Phạm Văn Đồng là một Tuyên bố đơn phương, công khai, mang hình thức “công nhận” tuyên bố của Trung Quốc. (Ở đây là công nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ cũng như việc mở rộng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc).


Vấn đề là, Việt Nam hôm nay có thể nói ngược lại, là chỉ công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc ở mọi vùng lãnh thổ của Trung Quốc, mà không tôn trọng ở Hoàng Sa và Trường Sa, với lý do Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam hay không?


Như bà Monique Chemillier-Gendreau có ghi nhận, VNDCCH đã tôn trọng quyết định của Trung Quốc qua nhiều hình thức khác nhau, trong một thời gian dài, trong đó có việc nhìn nhận vùng biển và vùng trời của Trung Quốc tại Hoàng Sa, qua bài báo trên nhật báo Nhân Dân. Mặt khác, nhà cầm quyền miền Bắc cũng nhiều lần cho in bản đồ trong đó ghi chú Nam Sa và Tây Sa thuộc Trung Quốc (chứ không phải Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam).


Các động thái trên là hình thức “comportement actif ix – thái độ chủ động”, dấu hiệu của “acquiescement”.


Ngoài ra, nhà cầm quyền miền Bắc đã giữ thái độ im lặng khi Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. Đây là hình thức “comportement passif – thái độ thụ động”, một dấu hiệu khác của “acquiescement”.


Khoản 1 của Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ x thông qua có nội dung:

“Des déclarations formulées publiquement et manifestant la volonté de s’engager peuvent avoir pour effet de créer des obligations juridiques. Lorsque les conditions pour qu’il en soit ainsi sont réunies, le caractère obligatoire de telles déclarations repose sur la bonne foi; les États intéressés peuvent donc en tenir compte et tabler sur elles; ils sont fondés à exiger que de telles obligations soient respectées.”

Tạm dịch: “Những tuyên bố phát biểu một cách công khai và bày tỏ ý muốn tôn trọng (những gì đã tuyên bố) có thể có tác dụng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi các điều kiện được hội đủ, tính cách ràng buộc của các tuyên bố này được dựa vào sự thành tín. Quốc gia liên hệ có thể xem xét và dựa vào tuyên bố này làm căn cứ, để đòi hỏi các nghĩa vụ đó phải được tôn trọng”.


Công hàm 1958 hội đủ hai yếu tố “công khai” và “ý chí tôn trọng”. Vì vậy nó có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý.


Nhà nước CHXHCNVN hiện nay – nhà nước kế thừa VNDCCH – khó có thể cho rằng “công hàm 1958 công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc ở mọi nơi, ngoại trừ Hoàng Sa và Trường Sa”.


Sai lầm là vì, năm 1958, thay vì đưa ra tuyên bố “phản đối – protestation”, theo đúng như thủ tục của luật quốc tế, nhằm bảo lưu chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, VNDCCH lại viết công hàm “công nhận – reconnaissance” nội dung tuyên bố của Trung Quốc.


Theo tập quán quốc tế, các quan Tòa thường rất thận trọng khi kết án một quốc gia trên nguyên tắc “acquiescement”, nếu chỉ đơn thuần dựa trên một vài “dấu hiệu” nào đó. Trường hợp Việt Nam, nếu so sánh với các bản án mẫu, với thái độ thụ động của CSVN trước việc xâm lăng của Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974, cách hành sử của nhà nước CSVN qua việc nhìn nhận và tôn trọng vùng biển, vùng trời của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa, các việc in ấn các bản đồ, cùng với các các tuyên bố của các viên chức nhà nước… tất cả tạo nên thành tố “acquiescement – nhìn nhận” chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.


TS Nguyễn Hồng Thao dẫn vụ án xử Tân Tây Lan và Úc cùng kiện Pháp năm 1974 lên CIJ về việc Pháp “Thử bom nguyên tử trong khí quyển”:

“If States make statements by which their freedom of action is to be limited, a restrictive interpretation is called for”.

Tạm dịch: Nếu một quốc gia có tuyên bố mà (nội dung của tuyên bố) có thể hạn chế hành động của quốc gia này trong tương lai, việc giải thích cần hạn chế.

Hàm ý cho rằng việc diễn giải công hàm 1958 cũng cần sự hạn chế.


Trường hợp vụ án, các viên chức có thẩm quyền của Pháp đã ra các tuyên bố, theo đó nước Pháp sẽ không thử bom nguyên tử trong khí quyển nữa. Tân Tây Lan và Úc vịn vào các tuyên bố này kiện lên CIJ, yêu cầu Pháp không được thử (khi thấy Pháp lăm le muốn thử nữa).

Ta thấy rõ ràng tuyên bố của các viên chức Pháp có hệ quả hạn chế tự do của nước Pháp trong tương lai. Nhưng kết quả phân xử cho thấy, phía Tân Tây Lan và Úc thắng kiện. Pháp không được quyền thử bom nguyên tử trong bầu khí quyển (nhưng sau đó thì thử dưới lòng đất!).


Tuyên bố của ông Đồng hạn chế hành động nào của Việt Nam trong tương lai? Không có điều nào cả!

Vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa giữa Việt Nam và TQ bắt đầu từ năm 1909. Còn tranh chấp Trường Sa thì sau Thế chiến II. Nhà cầm quyền VNDCCH không thể vịn lý do “không biết” để mà tuyên bố “công nhận” đòi hỏi của Trung Quốc.


TS Nguyễn Hồng Thao ghi lại nội dung của điều 7 xi của bản Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ. Người viết đã từng tham khảo và tạm dịch (từ tiếng Pháp) như sau:

Một tuyên bố đơn phương chỉ có khả năng ràng buộc quốc gia (đã phát biểu) khi nội dung (của bản tuyên bố) có một mục đích rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp có nghi ngờ về mức độ cam kết của tuyên bố, thì văn bản phải được giải thích một cách hạn chế.


Trở lại vụ án “Thử bom nguyên tử” 1974 giữa Tân Tây Lan và Pháp trước CIJ, Tòa cũng nhấn mạnh:

Một tuyên bố đơn phương chỉ có thể tạo nghĩa vụ pháp lý đối với quốc gia tuyên bố khi mà nó có mục tiêu rõ rệt và cụ thể. xii

Các tuyên bố của các lãnh đạo Pháp đã có mục tiêu rõ rệt và cụ thể. Vì vậy nó tạo nghĩa vụ pháp lý, buộc nước Pháp phải giữ lời.


Tương tự, tuyên bố của Phạm Văn Đồng cũng rất rõ rệt và cụ thể: nhìn nhận và tán thành tuyên bố về lãnh thổ cũng như việc mở rộng 12 hải lý lãnh hải của Trung Quốc. Vì vậy nó sẽ tạo nghĩa vụ pháp lý, buộc Việt Nam phải giữ lời. Có nghĩa là Việt Nam phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc ở mọi nơi có liệt kê trong bản tuyên bố của Trung Quốc. Tức kể cả ở Hoàng Sa và Trường Sa.


TS Nguyễn Hồng Thao cũng dẫn vụ án giữa Mã Lai và Singapour về chủ quyền các đảo Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge, CIJ xiii, ngày 23-5-2008 nhằm biện hộ cho công hàm 1958:

The declaration by PM Pham Van Dong did not have a constitutive character for giving up territory. In the case concerning sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks, and South Ledge (Malaysia/Singapore) regarding the Singapore argument that the Johor Authority recognized Singapore sovereignty over those islands, the Court took a position not to consider the Johor reply as having a constitutive character in the sense that it had a conclusive legal effect on Johor. The text of PM Pham Van Dong does not have any constitutive character regarding South Vietnamese territory. Consequently, it had no conclusive legal effect on the fate of the Paracels and Spratlys.

Tạm dịch: Tuyên bố của Phạm Văn Đồng không có giá trị thiết định cho việc từ bỏ lãnh thổ. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks et South Ledge (Malaisie/Singapour), liên quan đến lý lẽ của phía Singapour, (nước này) cho rằng lãnh đạo của Johor đã nhìn nhận chủ quyền của Singapour tại các đảo. Lập trường của Tòa thì không xem lá thư của Johor có giá trị thiết định trong chiều hướng (lá thư này) có hiệu quả pháp lý đối với Johor. Văn thư của ông Đồng không có giá trị thiết định đối với những vấn đề lãnh thổ của miền Nam. Do đó, không có một hiệu quả pháp lý nào trên vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.

TS Nguyễn Hồng Thao, cũng như nhóm Quĩ Nghiên cứu biển Đông, dẫn thí dụ về quan điểm của Tòa đối với lá thư của Bộ trưởng Ngoại giao Johor trong vụ án dẫn trên nhưng việc trích dẫn này không phù hợp, nếu không nói là thiếu thành thật.

Trong vụ án CIJ xử vụ tranh chấp giữa Mã Lai và Singapour về chủ quyền các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge, việc giải thích hiệu lực công hàm 1953 của Johor chiếm một thời lượng lớn, từ đoạn 192 đến đoạn 230 trong biên bản ghi chép phiên xử.


Đoạn trích dẫn của TS Nguyễn Hồng Thao về hiệu quả lá thư của Johor là đoạn 227, nguyên văn như sau:

227. Pour ce qui est du premier argument, la Cour ne considère pas la réponse du Johor comme revêtant un caractère constitutif au sens où elle aurait eu pour celui-ci un effet juridique décisif. Il s’agit plutôt d’une réponse à une demande de renseignements. Ainsi qu’il apparaîtra plus loin, cet argument est, compte tenu des circonstances, étroitement lié au troisième.

Tạm dịch: về lý lẽ thứ nhất, Tòa không cho rằng lá thư trả lời của Johor bao gồm một giá trị thiết định trong chiều hướng nó đem lại cho lý lẽ này một hiệu quả pháp lý quyết định. Đúng ra đây là câu trả lời cho một câu hỏi tham khảo. Cũng như nó sẽ trở lại ở phần sau, lý lẽ này, với hoàn cảnh như vậy, có liên hệ chặt chẽ với (lý lẽ) thứ ba.


TS Nguyễn Hồng Thao đã trích dẫn không đầy đủ, sau đó diễn giải ý nghĩa xa rời bối cảnh.

Ở đây Tòa không hề cho rằng lá thư của nhà nước Johor không có hiệu lực pháp lý, mà chỉ cho rằng nó không có một hiệu quả pháp lý quyết định cho lý lẽ thứ nhất. Vấn đề là lý lẽ thứ nhất đó là gì?

Tòa cũng cho rằng lý lẽ này quan hệ chặt chẽ với (cái) thứ ba. (Cái) thứ ba đó là cái gì?


Muốn biết lý lẽ thứ nhất và “cái” thứ ba là gì, ta phải xem đoạn 226:

226. Pour conclure son examen de la correspondance de 1953, la Cour relèvera trois aspects connexes de l’argumentation développée par les conseils de Singapour à partir de celle-ci. Premièrement, Singapour a présenté la réponse du Johor comme une “déclaration de non-revendication expresse” ou “officielle” du titre sur Pedra Branca/Pulau Batu Puteh; deuxièmement, elle a invoqué la notion d’estoppel; troisièmement, elle a fait valoir que la réponse du Johor équivalait à un engagement unilatéral obligatoire.

Tạm dịch: Để kết luận việc khảo sát của Tòa về lá thư 1953, Tòa đưa ra ba phương diện liên hệ đến lý lẽ được khai triển bởi các Ủy viên Singapour ở lá thư này. Thứ nhất, Singapour đã trình bày thư trả lời của Johor như là một “tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền”, hay “chính thức”, về danh nghĩa ở đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh; thứ hai, viện dẫn khái niệm Estoppel; thứ ba, lập luận rằng thư trả lời của Johor tương đương với một cam kết đơn phương bắt buộc.


Như vậy, đoạn trích dẫn của TS Nguyễn Hồng Thao chỉ liên quan đến khía cạnh thứ nhất: Singapour đã trình bày thư trả lời của Johor như là một “tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền”, hay “chính thức”, về danh nghĩa ở đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Tức là, theo Tòa, lá thư không có giá trị thiết định để việc “tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền” có hiệu quả pháp lý quyết định.

Điều này không có nghĩa, lá thư không có giá trị pháp lý nào khác. Tòa còn có ý kiến riêng của tòa, có điều các học giả Việt Nam “quên” không nhắc mà thôi.


Tòa cho rằng lá thư này là một câu trả lời của Johor cho câu hỏi của Singapour. Câu hỏi của Singapour đại khái là: Đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh có thuộc chủ quyền của Johor không?

Bộ trưởng Ngoại giao lâm thời Johor trả lời: Đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh không thuộc sở hữu của Johor.


Đoạn 275, ý kiến của Tòa về lá thư:

“Il s’agit de la déclaration, faite dans des termes clairs en 1953 par le secrétaire d’Etat par intérim de l’Etat du Johor, selon laquelle le Johor ne revendiquait pas la propriété de Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Cette déclaration revêt une importance capitale”.

Tạm dịch: Về tuyên bố 1953 của Ngoại trưởng lâm thời Johor, thể hiện bằng những lời lẽ cụ thể, theo đó Johor không tranh dành chủ quyền đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Tuyên bố này mang một tầm quan trọng quyết định.


Cuối cùng Tòa phán đảo Pedra Branca/Pulau Batu thuộc về Singapour, mặc dầu hồ sơ phía Mã Lai đã lập rất công phu, bao gồm nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, chứng minh được rằng Mã Lai có chủ quyền lịch sử tại đảo tranh chấp.

Mã Lai bị mất chủ quyền lịch sử ở đảo này vì nhiều lý do, ngoài lý do “effectivité”, Singapour đã hành sử các quyền chủ quyền một cách hòa bình và liên tục tại đảo này, còn có lá thư của Johor là một yếu tố quyết định “importance capitale”.


Trở lại tuyên bố 1958 của ông Đồng, thật vậy, nội dung lá thư không hề nói đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng lá thư này có thể diễn giải tương tự như trường hợp lá thư của Johor, đó là “ý kiến” của VNDCCH về một quyết định của Trung Quốc.

Ngoài ra Công hàm 1958 có tính cách pháp lý ràng buộc của một tuyên bố “công nhận xiv“, trong khi lá thư Johor chỉ là một “câu trả lời cho một câu hỏi tham khảo – une réponse à une demande de renseignements”.

nguyên tắc luật học “Estoppel”.- Không phủ nhận

Không phủ nhận trong nghĩa rộng nhất của nó là một thuật ngữ pháp lý đề cập đến một loạt các [1] học thuyết pháp lý và công bằng mà ngăn cản "một người từ chối hoặc khẳng định mọi điều trái ngược đó mà có, trong chiêm niệm của pháp luật, được thành lập như là sự thật, hoặc do hành vi của cán bộ tư pháp hoặc lập pháp, hoặc bằng hành động của mình, hành vi, hoặc cơ quan đại diện, thể hiện rõ ràng hay ngụ ý ". [2]

Thuật ngữ này xuất hiện đến từ estoupail tiếng Pháp (hoặc biến thể), có nghĩa là "nút cắm", đề cập đến việc đặt một dừng lại trên sự mất cân bằng của tình hình. Thuật ngữ này là liên quan đến động từ "không nhận" xuất phát từ tiếng Pháp cổ estopper hạn, có nghĩa là "dừng lại lên, cản trở."


 Tiếng La tinh dài hơn, dùng cả một câu dài, venire contra factum proprium non valet.

‘Chứng cứ lịch sử’ được dùng để xử ngôi đền này thuộc Cambodia
Estoppel là một thuyết khá quen thuộc với giòng luật gốc Anh, và cũng có áp dụng trong công pháp quốc tế.
Estoppel đại khái là thế này. Nếu bên A có những hành động hay lời nói gì đó khiến cho bên B (có thể tưởng nhầm) mà làm một việc gì đó thì A chịu trách nhiệm chuyện đó.
Estoppel có hai yếu tố: Một, là  một hành động, lời nói, hay sự không hành động, không nói, của A. Hai, là “reasonable reliance” của B.
Thí dụ, nếu tớ ậm ừ sao đó làm bạn tưởng tớ muốn nhờ bạn đi chợ mua họ một bó rau. Bạn mang rau về, tớ bảo, có hợp đồng mua rau đâu mà đòi tớ trả tiền lấy rau. Thì mặc dù cái ậm ừ đó chưa đủ yếu tố cấu thành một hợp đồng, nhưng nếu nó đủ để làm cho bạn tưởng lầm, thì tớ chịu trách nhiệm và phải mua lại bó rau đó, như thể là có một hợp đồng vậy.
Cái đó là estoppel (danh từ). Động từ là to estop. Người ta sẽ nói tớ bị “estopped” để không thể chối là không có hợp đồng.
Estoppel đã từng được dùng trong công pháp quốc tế, cụ thể là trong vụ phân xử đền Preah Vihear giữa Thái Lan và Cambodia. Trong án lệnh đó, tòa án dùng hai thuyết khác nhau để xử là Thái Lan đã mất quyền đòi đền Preah Vihear. Một thuyết là sự đồng tình (acquiescence), rằng Thái Lan đã không phản đối khi Pháp (cai trị Cambodia) khẳng định chủ quyền trên đền này. Và thuyết thứ nhì, là dầu cho Thái Lan không có đồng tình đi nữa, sự ậm ừ nửa vời của Thái Lan đã khiến cho Pháp và Cambodia dựa vào đó, tin tưởng vào đó, nên Thái Lan bị mất quyền (bị estopped) không được đòi nữa.

Với Trường Sa Hoàng Sa, rất có thể một tòa án quốc tế sẽ áp dụng nguyên tắc good faith/estoppel với công hàm Thủ tướng Đồng.
Hôm trước, khi Trung bảo, xe đấy của tao, lẽ ra Đồng đã phải nói, “Ủa, tao tưởng của Nam mà.”
Khi không nói năng gì, thì hôm sau Đồng không được quyền chạy tới nhà Trung, đòi trả xe vì “tao thừa hưởng xe của Nam.”
Trung Quốc nói: Đảo này, đảo này, đảo này, của tôi nhá.
Đảo đó có thể không phải của VNDCCH thật, nhưng VNDCCH lại cũng không nói gì là “đảo đó không phải của tôi nhá, tôi không có ý kiến,” hay một câu đại khái thế – một thứ “disclaimer” mà một người cẩn trọng bao giờ cũng viết thêm.
VNDCCH không nói gì, Trung Quốc xông vào lấy.
Đó là estoppel. Điều này khiến cho khi CHXHCNVN (là hậu thân của VNDCCH) thừa hưởng tài sản của VNCH/CHMNVN, thì trong số tài sản đó sẽ không thể có những đảo đó. Chuyện Đồng muốn thừa hưởng chiếc xe mà Đồng đã công nhận là của Trung, không thể thực hiện được, bị estop rồi.

  1. ^ http://www.lawlink.nsw.gov.au/lawlink/Supreme_Court/ll_sc.nsf/pages/SCO_brereton160307
  2. Jump up ^ 28 Am Jur 2d Estoppel and Waiver § 1

Sunday, January 12, 2014

Luật tố tụng hình sự

Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm bảo đảm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hình sự, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Nghĩa vụ

Nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác.

Nghĩa vụ riêng rẽ

Nghĩa vụ riêng rẽ: là nghĩa vụ của nhiều chủ thể trong đó phần nghĩa vụ của các chủ thể là độc lập nhau, mỗi chủ thể chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình sau khi thực hiện xong quan hệ nghĩa vụ chấm dứt. Các chủ thể chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng chưa đủ phải tiếp tục thực hiện.

Kỷ phần

Kỷ phần là từ theo tiếng Hán-Việt, dịch ra có nghĩa là phần riêng của mình
Thuật ngữ này không được dùng trong Bộ luật dân sự 2005, nhưng thường dùng trong các bài giảng, tạp chí và tài liệu khoa học.
Nguồn: hanhchinh3b

Hành vi pháp lý đơn phương (dân sự)

Hành vi pháp lý đơn phương: là sự thể hiện ý chí một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Thực hiện công việc không có uỷ quyền

Điều 594 Bộ luật dân sự 2005. Thực hiện công việc không có uỷ quyền

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

Trách nhiệm pháp lý

Dựa vào tính chất của trách nhiệm pháp lý có thể chia chúng thành các loại sau:
  1. Trách nhiệm hình sự
  2. Trách nhiệm hành chính
  3. Trách nhiệm dân sự
  4. Trách nhiệm kỷ luật
  5. Trách nhiệm vật chất

Trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính: là trách nhiệm của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã thực hiện một vi phạm hành chính, phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế hành chính tuỳ theo mức độ vi phạm của họ. Biện pháp cưỡng chế này do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của một chủ thể phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định khi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác hoặc khi vi phạm nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền. Biện pháp cưỡng chế phổ biến đi kèm trách nhiệm này là bồi thường thiệt hại.

Trách nhiệm kỷ luật

Trách nhiệm kỷ luật là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân hoặc tập thể) đã vi phạm kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức và phải chịu một hình thức kỷ kuật nhất định theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm vật chất

Trách nhiệm vật chất là trách nhiệm mà người lao động phải gánh chịu khi gây ra thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp (như làm hư hỏng hoặc làm mất dụng cụ, thiết bị, các tài sản khác do doanh nghiệp, giao cho hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép) hoặc công chức phải gánh chịu vì trong khi thi hành công vụ gây ra thiệt hại cho tài sản của nhà nước hoặc của chủ thể khác. Người lao động hoặc công chức phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại theo thời giá thị trường và có thể được bồi thường bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng.

Nguồn nguy hiểm cao độ

Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Điều 623 Bộ luật dân sự 2005

Ký quỹ

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
BLDS 2005

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code