Showing posts with label Hoc Kỳ II Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới. Show all posts
Showing posts with label Hoc Kỳ II Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới. Show all posts

Tuesday, September 17, 2013

Lịch sử tư tưởng các học thuyết chính trị

Bây giờ chúng ta quay lại Trung Hoa cội nguồn phát sinh ra học thuyết Nho giáo để nghiên cứu sự thăng trầm của Nho giáo trong thời cận, hiện đại. Sau khi cách mạng Tân Hợi thành công (1911), chế độ phong kiến tồn tại hàng mấy ngàn năm bi lật đổ, Trung Hoa Dân quốc được thành lập Thái Nguyên Bồi nhận chức Tổng trưởng Giáo dục. Do thấy trong tôn chỉ giáo dục đời Thanh có hai điều là: "Trung quân và tôn Khổng, mà trung quân thì không hợp với chính thể cộng hòa, tôn Khổng thì trái ngược với tự do tín ngưỡng nên xóa việc tôn thờ Đức Khổng Tử. Mùa thu năm Dân Quốc thứ năm (1916), Khang Hữu Vi đệ thư lên cho Lê Nguyên Hồng và Đoàn Kỳ Thụy yêu cầu lấy Khổng giáo làm quốc giáo, đưa vào hiến pháp. Bởi những việc đó gây cản trở cho phong trào dân chủ nên dẫn tới sự chống đối của Trần Độc Tú. Trần Độc Tú cho rằng Khổng giáo không dung hòa được với chế độ lập hiến, do vậy đạo Khổng đi ngược với cuộc sống hiện đại. Lý lẽ đó hợp với tâm lý ghét chế độ đế chế của thanh niên và trí thức đương thời dẫn đến sự công kích toàn diện truyền thống Nho giáo (3). Do vậy, họ bỏ học thuyết duy lý nhã nhặn, kín đáo của Khổng Tử, đi theo học thuyết duy lý máy móc của phương Tây. Vả lại đạo Khổng bảo thủ, dung hòa được sự hăng hái của tuổi trẻ và sự thận trọng của tuổi già. Cách mạng chỉ biết có tuổi trẻ, và mỉm cười trước lời khuyên này của Khổng Tử "Người nào cho những bờ đê cũ là vô ích và phá bỏ đi thì một ngày kia sẽ bị tai hại của nạn lụt lội” (4).

Khi phong trào chống Nho gia đạt đến cao trao thì Lương Thấu Minh là người mở đầu cuộc cách mạng tư tưởng, dựng ngọn cờ Nho giáo bắt đầu đề xướng Khổng học. Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), Lương Thấu Minh mở một cuộc "Hội thảo triết học Khổng Tử” ở sở Nghiên cứu triết học. Ông đã nói lên quan điểm lập trường của ông khi mở cuộc hội thảo triết học ấy"… ở Trung Quốc ngày nay có người đề xướng Tây học, có người đề xướng Phật học, chỉ về Khổng Tử là ngượng mồm không ai đám nói đến. Sự thật về Khổng Tử nếu tôi không đề xướng thì chẳng ai đề xướng? Đó là duyên cớ bức tôi tự mình đến sống ở nhà họ Khổng” (5).

Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, để đoàn kết nhân tâm cùng nhau chống Nhật, chủ nghĩa dân tộc được hình thành. Nhà nước cũng nêu cao tinh thần dân tộc, khôi phục đạo đức vốn có. Quốc Dân Đảng thúc đẩy phong trào đời sống mới, việc đó được xây dựng trên luân lý truyền thống. Chính trong không khí chân hưng luân lý truyền thống này, năm Dân Quốc thứ 23 (1934) khôi phục lại ngày lễ kỷ niệm Thánh Đản của Đức Khổng Tử đã bị Thái Nguyên Bồi bãi bỏ từ năm đầu Dân Quốc (1912). Trong lễ kỷ niệm nay người được mời nói về học thuyết của Khổng Tử chính là Lương Thấu Minh - người đầu tiên nêu ngọn cờ phục hưng truyền thống Nho giáo (6).

Trong các thập kỷ 50, 60, 70 ở Trung Quốc vẫn tiếp tục phê phán Nho giáo. Nhưng vì nghiên cứu theo định hướng trước nên thiếu phần khách quan trong phân tích và nhận định không có sức thuyết phục. Trong thời kỳ này người ta biết phê phán, học thuật thành phê phán chính trị, người ta gắn “phê phán” Khổng Tử với phê phán các nhà chính trị, quân sự đương đại của Trung Quốc. Họ phủ nhận sạch trơn Nho học, Nho giáo theo chủ nghĩa hư vô, thậm chí oán ghét quá khứ, đập phá quá khứ (7).

Ngày nay, ở Trung Quốc vai trò của Nho giáo đã được căn bản khẳng định. Giới học thuật Trung Quốc đã có Tạp chí nghiên cứu riêng về Khổng Tử. Hàng trăm đầu sách nghiên cứu về Nho học - Nho giáo ở Bắc Kinh, Thượng Hải và các tỉnh đã được xuất bản. Các học giả nổi tiếng như Lý Trạch Hậu, Trương Đại Niên, Thái Thượng Tư, Trương Lập Văn, Thang Nhất Giới, Phương Lập Thiên... đều lên tiếng "phản tư” (suy nghĩ lại). Họ khẳng định những giá trị xã hội của Khổng Tử, Mạnh Tử, đồng thời chỉ ra những nhân tố hợp lý và những nhân tố còn hạn chế của Nho giáo (8).

Nho học - Nho giáo là thành tố văn hóa truyền thống của nhiều nước Đông Á. Ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc cũng đã có nhiều cuộc thảo luận về Nho học Nho giáo. Các học giả nghiên cứu Nho học - Nho giáo ở Đ
ài Loan như Dư Thời Anh, Phó Bội Vinh, Thẩm Thanh Tùng, ở Nhật Bản như Morishima Michio, Hoàng Sơn Mẫn Thu, ở Hàn Quốc như Lý Hữu Thành, Di Ngư Thuần đều có những công trình nghiên cứu sâu sắc về Nho giáo, đều nêu lên những ưu điểm nổi trội của Nho giáo như về các vấn đề gia đình, đất nước về học thuyết Nhân và Lễ. Ở Pháp giáo sư Léon Vandermeerch cũng khẳng định tác dụng tích cực của Nho giáo ở các nước Đông Á. Rõ ràng gần đây có cái "nhiệt Nho giáo” trong nghiên cứu khoa học xã hội hiện đại ở nhiều nước (9).

Ở Nhật Bản và "bốn con rồng Châu Á" nhiều tác giả và các Nhà quản lý lại cho rằng, Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực giúp cho các nước này tăng trưởng và phát triển.

Singapore là một xã hội đa nguyên, đa dân tộc, đa tôn giáo, người Hoa chiếm đa số. Tháng 2/1982 các nhà đương cục về giáo dục Singapore tuyên bố đưa các môn luân lý học và nho giáo vào các khóa trình tôn giáo để các học sinh năm thứ 3 và thứ 4 trung học lựa chọn. Tháng 6/1982 phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục Ngô Khánh Thụy cầm đầu một phái đoàn sang Hoa Kỳ bàn với các học giả Nho giáo người Mỹ gốc Hoa về những nguyên tắc và kế hoạch thúc đẩy việc thực hiện luân lý Nho giáo. Tháng 7/1982 có 8 vị học giả từ Mỹ đến Singapore để tìm hiểu tình hình, giúp các học giả Singapore thực hiện việc đó. Các nhà lãnh đao Singapore là Lý Quang Điệu và Ngô Khánh Thụy đã phát biểu ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của luân lý Nho giáo và mối quan hệ sâu sắc giữa tư tưởng Nho giáo với xã hội người Hoa. Năm 1987 các học giả Singapore và Trung Quốc tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế lớn về Nho học ở Khúc Phụ quê hương Đức Khổng (l0).

Tại Hội nghị khoa học quốc tế về nghiên cứu Khổng Tử và Đại hội thành lập liên hiệp Nho học quốc tế nhân kỷ niệm 2.545 năm sinh Khổng Tử tháng 10/1994 ở Bắc Kinh, Lý Quang Diệu - nguyên Thủ tướng Singapore đã nói lên mối quan hệ xã hội Singapore và Nho giáo. Ông cho rằng, nội dung giáo dục con người hiện nay ở nước ông là phát huy các giá trị quan và quy phạm luân lý Nho gia: "76% nhân khẩu Singapore là người Hoa. Văn hóa dân tộc Hoa chú trọng ngũ luân, cũng tức cha - con có tình thân, vua - quan thì có nghĩa, chồng - vợ có khác biệt, trưởng - ấu có thứ tự, bạn - bè có điều tin. Họ xem lợỉ ích xã hội cao hơn lợi ích cá nhân, do đó không tiếp thu chủ nghĩa cá nhân vô hạn độ của Mỹ" (11).

Ông Lý Quang Diệu nêu rõ một số ý kiến về kết quả thực tế về giá trị quan Nho giáo đưa lại: "Từ kinh nghiệm quản lý nước Singapore, đặc biệt là trong những ngày gian khổ từ năm 1959-1969 khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không phải là đại bộ phận nhân dân Singapore, đặc biệt là trong đại bộ phận nhân dân Singapore được hun đúc giá trị quan của Nho học thì chúng tôi không có cách gì có thể khắc phục được những khó khăn và trở ngại đã vấp phải (12).

Cũng tại hội nghị trên ông Cốc Mục, Hội trưởng Hội nghiên cứu Khổng học Trung Quốc cũng đã nói triển vọng của Nho học - Nho giáo trong phạm vi quốc tế: "Nho học, văn hóa truyền thống cổ xưa của phương Đông này có khả năng thu hút được giá trị mới, gây được ảnh hương tích cực trong sự phát triển mới của xã hội loài người trên thế giới ở một khu vực rộng lớn (13).

Năm 1995, Hội nghị quốc tế về Nho giáo tồ chúc tại Bắc Kinh đã bầu ông Lý Quang Diệu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới. Còn ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu Nho giáo như thế nào? Gần đây ở Việt Nam việc nghiên cứu Nho giáo lại có chiều hướng mở rộng với các học giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Khắc Viện, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Quang Đạm, Lê Sĩ Thắng… riêng giáo sư Nguyễn Tài Thư thuộc Viện Triết học là thành viên tham dự Hội thảo quốc tế về Khổng Tử tại Bắc Kinh năm 1994.

Ý kiến của các nhà nghiên cứu Việt Nam nói trên có điểm không thống nhất ngay từng học giả riêng biệt cũng không nhất quán, hiện tại không giống trước kia: Nói chung các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích sâu sắc ảnh hưởng tích cực và những hạn chế của Nho giáo ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu của Nho học và Nho giáo trong gần thập kỷ 90 của thề kỷ trước chủ yếu là tìm hiểu hệ thống giá trị của Nho giáo, sự bất lực của nó đối với xã h
ội trong thời gian khoảng hơn thế kỷ vừa qua. Trên thực tế các nhà nghiên cửu Việt Nam chưa đề cập nhiều đến vấn đề lịch sử phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và đặc điểm Nho giáo Việt Nam giống và khác với Trung Quốc ở điểm nào (14).

Kế thừa tinh hoa Nho học - Nho giáo hoàn toàn không có nghĩa là quay trở lại với xã hội Nho học - Nho giáo ngày xưa. Xã hội phong kiến đã qua không bao giờ trở lại những tinh hoa của Nho giáo vẫn là công cụ hữu ích cho quá trình phát triển xã hợi ngày nay. Để kết thúc tôi xin mượn lời của Will Durant nhận xét về học thuyết tư tưởng Khổng Tử: Không nên trách Khổng Tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng Tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi.“(l5).


Nhà nước phong kiến Nhật Bản

I. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN NHẬT BẢN

1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ SUY VONG

a. Quá trình hình thành nhà nước phong kiến Nhật Bản

v Xã hội chiếm hữu nô lệ ở Nhật Bản

- Căn cứ vào nhiều tài liệu, người ta biết rằng vào những thế kỷ đầu công nguyên, ở Nhật Bản đã xuất hiện những hình thức phôi thai của nhà nước.
Theo Đông Di Truyện, Hán Thư Địa Chí và Hậu Hán Thư của Trung Quốc, thì vào thế kỷ 1, ở Nhật Bản đã hình thành hơn 100 nước nhỏ. Những nước này thực chất là liên minh của các bộ lạc, nhưng đã mang một vài yếu tố của nhà nước, người ta thường gọi các quốc gia này là những quốc gia bộ lạc. Các quốc gia này thường tổ chức chiến tranh thôn tính lẫn nhau. Đến cuối thế kỷ thứ 4, trên đảo Hôn Sư xuất hiện quốc gia Yamatô. Quốc gia này nhanh chóng lớn mạnh và thống nhất được Nhật Bản.
- Nhật Bản tuy là quốc gia hình thànhh muộn nhưng phát triển rất nhanh chóng nhờ biết tiếp thu, học hỏi văn minh của các nước khác như Triều Tiên, Trung Quốc.
Sau khi thống nhất Nhật Bản, năm 391, Yamatô đưa quân đi xâm chiếm Nam Triều Tiên, bắt cả vùng này quy phục Nhật Bản trong thời gian gần 2 thế kỷ. Trong giai đoạn này, Nhật Bản được tiếp xúc với văn hoá và kỹ thuật của Triều Tiên, đồng thời thông qua Triều Tiên, Nhật Bản cũng mở rộng giao lưu tiếp xúc với Trung Quốc. Triều đình Yamatô còn cho mời người Trung Quốc, Triều Tiên sang ở hẳn bên Nhật để truyền bá nhiều phương diện kỹ thuật và văn hoá. Từ thế kỷ 4, chữ Hán du nhập vào Nhật Bản và trở thành quốc tự của nước này. Đến thế kỷ thứ 5 thì Nho giáo, và sau đó, vào thế kỷ 6, Phật giáo cũng được truyền vào Nhật Bản.
- Với những nguyên nhân trên, xã hội Nhật Bản có rất nhiều biến chuyển, hình thành nên nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau:

· Giai cấp thống trị

Đứng đầu là Thiên Hoàng. Vào thế kỷ thứ 6, vì thấy vua ở Trung Quốc gọi là Thiên Tử, đồng thời thấy một vài dòng họ ở triều tiên tự xưng Vương nên vua Nhật Bản lấy hiệu cao quý là Thiên Hoàng.
Bên dưới, Thiên Hoàng tập hợp các hào tộc cũng là những người cùng họ với Thiên Hoàng để chia nhau quyền hành trong triều đình.

· Giai cấp bị trị

Dân tự do phải lao động cực nhọc và bị áp bức, bóc lột nặng nề.
Bên cạnh đó, trong xã hội Nhật Bản cũng đã xuất hiện nô lệ. Nô lệ chiếm số lượng ít, sức lao động của nô lệ dùng để phục dịch trong các gia đình quý tộc, khai khẩn đất hoang, làm thủy lợi và nhiều công trình khác.
Tầng lớp bộ dân: đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của Nhật Bản.
Họ vốn là thành viên của những bộ tộc bị chinh phục. Sau khi chinh phục, người chiến thắng bắt kẻ bị chinh phục phải lệ thuộc vào mình và gọi đó là bộ, thành viên của nó gọi là bộ dân. Bộ dân bị phá sản và phụ thuộc vào quý tộc. Họ là những người nửa tự do, có một chút tài sản riêng, chủ không có quyền bán và giết họ, nhưng họ bị trói chặt vào ruộng đất của Thiên Hoàng và quý tộc.

- Tình hình xã hội Nhật Bản thời kỳ nhà nước Yamatô chứng tỏ rằng, tuy quan hệ nô lệ đã từng tồn tại trong lịch sử nhưng, nó không trải qua sự phát triển đầy đủ của xã hội chiếm hữu nô lệ. Mà nguyên nhân của nó là do:
· Nền kinh tế chủ yếu của Nhật Bản là nông nghiệp chủ yếu do nông dân công xã cày cấy. Nô lệ chưa bao giờ là nguồn lao động sản xuất chủ yếu.
· Nguồn nô lệ ngày một suy giảm. Trước nay, nô lệ mà Nhật Bản có được chủ yếu do tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên, nhưng vào thời kỳ này, Triều Tiên lớn mạnh, có khả năng đẩy lùi các cuộc đấu tranh của Nhật Bản.
· Thời kỳ hình thành nhà nước Nhật Bản cũng là thời kỳ chế độ nô lệ, xét trên phạm vi toàn thế giới đã lâm vào tình trạng suy sụp.

v Quá trình tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ

- Từ thế kỷ 6, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia thống nhất. Sản xuất phát triển nhờ áp dụng nhiều cải tiến kỹ thuật.
- Tuy nhiên, sự phát triển của sản xuất chỉ làm giàu thêm cho tầng lớp quý tộc, còn tầng lớp nhân dân vẫn cực khổ vì bị áp bức bóc lột. Những cuộc phản kháng của quần chúng nhân dân thường xuyên diễn ra, thông thường là bỏ trốn. Chế độ bộ dân có nhiều dấu hiệu bị tan rã. Để cứu vãn tình hình, Nhà nước cử quan lại đến quản lý một số bộ dân, tiến hành đăng ký các gia đình của bộ dân vào sổ hộ tịch.
- Từ đó, các bộ dân, từ thân phận phụ thuộc các quý tộc sang địa vị thần dân nhà nước. Điều này chứng tỏ rằng vào cuối thế kỷ 6, xã hội chiếm hữu nô lệ nhật bản bắt đầu chuyển mình sang xã hội phong kiến.
Người đặt nền mống cho những thay đổi đó là thái tử Sôtôcư với đạo luật 17 điều và chính sách tiến bộ của ông. Tuy nhiên, ông đã không thực hiện được những cải cách của mình, do hoàn cảnh lịch sử.

v Quá trình thiết lập nhà nước phong kiến Nhật Bản

- Năm 645, Thiên Hoàng Côtôcư lên ngôi, đặt niên hiệu là Taica. Ngay sau đó 1 năm, ông ban chiếu cải cách và ban hành những luật lệnh cụ thể. Lịch sử Nhật Bản gọi đó là cuộc cải cách Taica (646 – 649).
- Nội dung của cuộc cải cách:
· Xoá bỏ quyền sỡ hữu tư nhân về đất đai; quy định chỉ có nhà nước được quyền sở hữu đất đai.
· Xoá bỏ chế độ bộ dân, toàn bộ cư dân trở thành thần dân cả nước, được lĩnh canh ruộng đất của quốc gia và có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước.
· Nhà nước thực hiện chế độ ban điền và chế độ thu tô “tô, dung, điệu” (tương tự như ở Trung Quốc.)
Người ở địa phương nào được chia ruộng ở địa phương ấy. Nam từ 6 tuổi trở lên, mỗi người được cấp 1 đoạn, nữ bằng 2/3 suất của nam, nô tì hoặc tôi tớ trong nhà được cấp 1/3 suất của dân tự do. Những người nhận phải ruộng xấu thì được gấp đôi.
Nông dân nhận ruộng phải nộp thuế cho nhà nước bằng thóc (3% sản lượng/ những người có dưới 1 mẫu; 25% sản lượng/ những người có trên 1 mẫu); đồng thời họ còn phải nộp thuế bằng sản phẩm thủ công nghiệp như tơ lụa, bông vải… ngoài ra còn làm lao dịch 10 ngày trong năm trong các công trình công cộng.
Mỗi gia đình được quyền sở hữu đối với đất nhà, đất vườn của họ. Rừng núi, ao ngòi, sông hồ là của chung, ai cũng có quyền sử dụng.
Người nông dân lĩnh canh ruộng đất, về hình thức, không bị mất quyền tự do cá nhân, nhưng họ cũng không có quyền rời bỏ mãnh đất được chia và trở thành đối tượng bóc lột chủ yếu của nhà nước và giai cấp thống trị.
· Tầng lớp quý tộc thống trị cũng có ruộng đất dưới hình thức phong nhận được của nhà nước.
Căn cứ theo tước vị, chức vụ, công lao của quý tộc mà nhà nước ban cấp ruộng đất cho họ những loại ruộng khác nhau, có 3 loại ruộng đất phong: ruộng tước vị, ruộng đẳng cấp và ruộng thưởng công lao với nhà nước. Ruộng tước vị và ruộng đẳng cấp được ban tặng trong thời kỳ đảm nhiệm chức vụ nhất định hay được phong vào 1 cấp nhất định. Nhìn chung, những loại đất này được ban cấp trong một thời gian, ngắn hay dài, tuỳ trường hợp.
Ngoài đất phong, họ còn được nhận kèm theo những hộ nông dân làm bổng lộc. Nếu có công với nhà nước, họ cũng được ban cấp một số hộ nông dân. Những gia đình này phải nộp một nữa tô thóc cho nhà nước, một nữa còn lại nộp cho quý tộc phong kiến trực tiếp sử dụng họ.
· Xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền (theo mô hình bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc đời Đường.)

- Cuộc cải cách này là kết quả của cuộc đấu tranh của nông dân, mà trước hết là của bộ dân và nô lệ với giai cấp thống trị, nó buộc giai cấp thống trị phải thay đổi phương thức bóc lột. Như vậy, có thể nói cuộc cải cách Taica là kết quả của yêu cầu khách quan. Nhưng khi thiết lập trật tự và thể chế mới, Taica đã rập khuôn chế độ phong kiến của Trung Quốc, thời nhà Đường trong việc thực hiện quyền sở hữu ruộng đất, chế độ quân điền, tổ chức bộ máy nhà nước nhằm củng cố chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền.

Sau cải cách, nền tảng căn bản của chế độ phong kiến ở Nhật Bản đã được xây dựng. Với ý nghĩa đó, cải cách Taica được xem là một sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu sự thiết lập chế độ phong kiến ở Nhật Bản.

b. Quá trình phát triển và suy vong của nhà nước phong kiến Nhật Bản

v Thời kỳ Nara

- Năm 710, Nhật Bản chọn Nara làm thủ đô. Từ đó đến năm 794, Nara trở thành trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của Nhật Bản. Lịch sử Nhật Bản gọi thời kỳ này là thời kỳ Nara.
- Sau cuộc cải cách Taica, do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ngày càng sâu sắc, quyền lực của Thiên Hoàng càng được củng cố. Nhà nước phong kiến Nhật Bản tiếp tục ban hành một số luật lệnh, chiếu dụ để hoàn thiện các cuộc cải cách trước đó, đồng thời thi hành nhiều biện pháp để thống nhất đất nước. Kết quả, đến cuối thế kỷ thứ 8, Nhật Bản đã kiểm soát được hầu hết quần đảo Nhật Bản, trừ đảo Hôcaiđô.
- Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tầng lớp quý tộc cũ muốn khôi phục lại địa vị và quyền lợi trước kia nên đã đấu tranh với tầng lớp quý tộc quan lại mới. Đến cuối thời Nara, dòng họ Phudioara- một dòng họ của quý tộc quan lại - đã trở nên rất mạnh, đánh bại hoàn toàn tầng lớp quý tộc cũ. Sau đó, dòng họ này muốn làm suy yếu thế lực của thiên hoàng. Họ buộc thiên hoàng phải dời kinh đô sang Yômashirô, thủ đô mới của quốc gia là Hâyan Kiô. Thời kỳ Hâyan bắt đầu từ đó.

v Thời kỳ Hâyan (794 – 1192)

- Trong thời kỳ này, họ Phudioara tìm mọi cách lấn át quyền lực thực tế của Thiên Hoàng.
Trong khoảng hơn 2 thế kỷ, họ Phudioara thay nhau chiếm đoạt hết quyền lực của Thiên Hoàng và lần lượt đảm nhiệm chức Nhiếp chính. Về sau tiến lên chức Nhiếp chính Quan bạch.
- Từ nữa sau thế kỷ thứ 11, Thiên Hoàng tìm cách thoát khỏi sự khống chế và ràng buộc của dòng họ Phudioara.
Thiên Hoàng thiết lập các cơ quan giúp việc cho mình, do mình trực tiếp quản lý, không phụ thuộc vào Nhiếp chính Quan bạch, như: Ký Lục Sở, Tàng Nhân Sở, Viện Chính. Viện chính dựa vào thế lực của hai họ là Taira và Minamôtô để chống lại họ Phudioara. Về hình thức đây là các cơ quan theo dõi việc chính trị của triều đình và giúp đỡ thiên hoàng nhưng thực chất là cơ sở của hoàng gia để chống lại họ Phudioara.
Bên cạnh đó, Thiên Hoàng còn lập ra chế độ Thượng Hoàng và Pháp Hoàng. Thượng Hoàng và Pháp Hoàng gíup đỡ cho Thiên Hoàng điều hành đất nước, kiểm soát phủ Nhiếp chính và triều đình.
- Kết quả là từ đầu thế kỷ 12, quyền lực của họ Phudioara bị thu hẹp dần. Nhưng quyền hành lại chuyển sang họ Minamôrô.
Trong khi đó, họ Taira lại nhanh chóng phát triển thế lực của mình và nắm lấy mọi quyền hành, gây nên mâu thuẫn với Viện chính và họ Minamôtô. Vì thế, cuộc nội chiến giữa họ Taira và họ Minamôtô đã nổ ra. Năm 1185, nội chiến kết thúc với sự thất bại của họ Taira. Từ đó, quyền hành dần chuyển sang tay họ Minamôtô

v Nhà nước trong thời kỳ thống tị của chính quyền mạc phủ ( thế kỷ 12 đến thế kỷ 19)

Họ Minamôtô khởi nghiệp trên vùng đất Camacưra ở sứ Sagami thuộc miền Cantô. Sau khi đánh bại họ Taira, Camacưra trở thành trung tâm để họ Minamôtô điều hành và khống tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quân sự của toàn quốc.

- Năm 1192, Yôrimôtô, người đứng đầu họ Minamôtô lập ra chính quyền riêng và hộ phủ riêng gọi là Mạc phủ, chính thức khai nguyên nên chế độ Tướng quân.
Lúc này, tướng quân là từ có nghĩa chính thức là nhà cầm quyền quân sự phong kiến ở nhật bản, cón từ mạc phủ chỉ tổng hành dinh của tướng quân.
- Chính quyền của mạc phủ tồn tại song song với chính quyền của thiên hoàng, tạo nên hệ thống chính quyền kép, trong đó, Mạc Phủ dần dần trở thành chính quyền công khai, thâu tóm toàn bộ quyền lực , còn triều đình chỉ là chính quyền danh nghĩa, núp bóng.

Chổ dựa chủ yếu của chính quyền Mạc Phủ là tầng lớp võ sĩ đạo. Tầng lớp này ngày càng phát triển, họ được Tướng quân ban cho nhiều ruộng đất và chiếm ưu thế về mọi mặt. Trong khi đó, quý tộc quan lại của triều đình Thiên Hoàng ngày càng suy yếu.
- Bên cạnh đó, các lãnh chúa lớn ở địa phương dần dần củng cố, tăng cường thế lực của mình bằng cách chiếm đoạt đất đai, dần dần trở thành những địa chủ lớn, gọi là “Đại danh”. Các Đại danh giống như 1 ông vua trong vương quốc nhỏ của mình, họ có chính quyền, lực lượng quân đội riêng…
Khi chính quyền Mạc Phủ suy yếu, các đại danh tranh hùng, tranh bá với nhau và nhà nước phong kiến nhật bản trải qua 2 thời kỳ Mạc Phủ nổi tiếng nữa, đó là Mạc Phủ Murômachi của dòng họ Asicaga và Mạc Phủ Tôcưgaoa của dòng họ Tôcưgaoa.
- Trước sự áp bức bóc lột nặng nề của chính quyền mạc phủ nên từ thế kỷ 18 đến nữa đầu thế kỷ 19, phong trào khởi nghĩa của nông dân phát triển mạnh mẽ.
Trong hoàn cảnh đó, giai cấp phong kiến bị phân làm 2 phái: phái ủng hộ mạc phủ và phái chủ trương mạc phủ phải trả lại chính quyền cho thiên hoàng. Đến nữa sau thế kỷ 19, cuộc đấu tranh giữa hai phe phái đó phát triển thành cuộc nội chiến.
- Năm 1968, Tướng quân Mạc Phủ phải trao trả chính quyền lại cho Thiên Hoàng lúc bấy giờ là Mâygi (Minh Trị). Sau đó, Minh Trị tiến hành cuộc cải cách (Minh Trị Duy Tân) đưa Nhật Bản tiến lên một xã hội mới cao hơn, xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Sự kiện trên đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Mạc Phủ, kết thúc chế độ phong kiến nhật bản.

1. CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT

- Sau cải cách Taica, nhà nước đã xác lập quyền sở hữu tối cao của mình đối với ruộng đất trong toàn quốc và thực hiện quyền sở hữu tối cao đó dưới hình thức ban điền (giống hình thức quân điền của Trung Quốc).
- Tuy nhiên, hình thức sở hữu nhà nước đối với ruộng đất không tồn tại được lâu. Từ thế kỷ 9, chế độ ban điền của Taica dần dần tan rã, đồng thời, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất dần dần hình thành mà nguyên nhân của sự thay đổi này là:
· Ruộng đất mà nhà nước ban cấp cho quý tộc theo chức vụ, đẳng cấp và thưởng công trước đây luôn kèm theo điều kiện. Nhưng khi họ Phudioara lớn mạnh và lũng đoạn chính quyền Thiên Hoàng thì những điều kiện đó dần dần bị mất đi và ruộng đất được ban trở thành sở hữu riêng của các địa chủ.
· Nông dân cày cấy trên ruộng của nhà nước cấp cho phải chịu nhiều thuế má và tạp dịch nặng nề nên phần nhiều bị phá sản.Họ phải rời bỏ ruộng đất của mình đi lưu lạc hoặc vào làm trong ruộng đất của các chúa phong kiến, hoặc đem ruộng hiến cho nhà chùa… do đó, chế độ ban cấp ruộng đất của nhà nước bị phá hoại nghiêm trọng.
· Do dân số ngày càng tăng nên nhà nước phải khuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang để đủ ruộng đất ban cấp cho nông dân. năm 743, nhà nước đã thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất khai khẩn, và dĩ nhiên, số ruộng đất này cũng rơi vào tay bọn quý tộc địa chủ. Giữa thế kỷ 10, hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất của các lãnh chúa phong kiến đã được xác lập hoàn toàn.
- Trong quá trình tan rã của chế độ ban điền, chế độ trang viên phong kiến đã ra đời.
· Từ thế kỷ 10, toàn bộ đất đai của lãnh chúa phong kiến đều được miễn thuế và có quyền bất khả xâm phạm về mặt hành chính.
· Người làm việc cho các tranh viên phong kiến gọi là trang dân. Họ là những nông dân, thợ thủ công… hầu hết các trang viên đều có thể sản xuất tại chổ những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Do đó, trang viên vừa là đơn vị hành chính mà nhà nước không thể kiểm soát được, vừa là đơn vị kinh tế tự cung tự cấp.
Từ hoàn cảnh thực tế như vậy, nên nông dân làm việc trong các trang viên phong kiến bị bóc lột nhẹ nhàng hơn so với làm việc trên ruộng đất do nhà nước ban cấp. Do đó, nông dân từ bỏ ruộng do nhà nước ban cấp để vào làm trong các trang viên ngày càng nhiều.
· Bên cạnh đó, các trang viên còn chú ý việc xây dựng lực lượng vũ trang riêng với tên gọi là võ sĩ (Samurai). Điều kiện cao nhất của người võ sĩ là phải trọn vẹn trung thành với chủ, ngược lại họ được chủ chuyển ruộng đất của mình cho các thân binh sử dụng với tính chất là thưởng công. Như vậy, trong những vùng đất rộng lớn đã bắt đầu hình thành quan hệ thái ấp.
2. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

a. Thời kỳ Nara (năm 710 – 794)

Sau cải cách của Taica, bộ máy nhà nước của Nhật Bản được tổ chức rập khuông theo bộ máy nhà nước của nhà nước phong kiến Trung Quốc đời nhà Đường.

- Người đứng đầu nhà nước và có quyền lực cao nhất là Thiên Hoàng. Thiên Hoàng được thần thánh hoá, được coi là vị thánh sống.
- Ở trung ương
· Dưới quyền và giúp việc cho Thiên Hoàng là vị quan cao nhất là Tể tướng. Tể tướng có 2 chức phó giúp việc cho mình là Tả Thừa Tướng và Hữu Thừa Tướng.
· Để quản lý các công việc khác nhau có 8 bộ: Bộ Trung Ương, Bộ Lễ, Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Ngân Khố Và Bộ Cung Vua. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư.
- Tổ chức quản lý địa phương được chia thành các cấp
· Quốc hay còn được gọi là tỉnh, đứng đầu là Quốc ti;
· Dưới quốc là quận. Đứng đầu quận là Quận Ti;
· Dưới quận là Lí, đứng đầu là Lí Trưởng
Chức quốc ti trở lên do nhà nước trực tiếp bổ nhiệm, được cấp ruộng đất làm bổng lộc, nhưng không được thế tập.

Thể chế nhà nước này ban đầu được ghi nhận trong cải cách Taica, sau đó được pháp lý hoá trong bộ luật Taihô Risư Riô (Đại Bảo luật lệnh) được ban hành vào năm 701.

b. Thời kỳ Hâyan (năm 794 – 1192)

Về cơ bản, bộ máy nhà nước trong thời kỳ này vẫn không có gì thay đổi. Tuy nhiên, thoát khỏi sự thao túng của nhiếp chính quan bạch, thiên hoàng đã bổ sung một số cơ quan mới.
- Từ lúc họ Phudioara vững mạnh và thao túng chính quyền Thiên Hoàng, trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước có thêm chức Nhiếp chính và sau này là Nhiếp chính Quan bạch.
Nhiếp chính Quan bạch có quyền xếp đặt ngôi thế tập Thiên Hoàng và lập Chính cung, có quyền quyết định cả việc văn võ trong triều, phê chuẩn các tấu sớ trước rồi mới tâu lại Thiên Hoàng.
- Từ nữa sau thế kỷ thứ 11, Thiên Hoàng lập hàng loạt các cơ quan nhà nước mới nhằm thoát khỏi sự khống chế và ràng buộc của dòng họ Phudioara.
· Thiên Hoàng lập ra cơ quan mới là Kí Lục Sở, do nhà vua trực tiếp quản lý chứ không chịu sự chi phối của Nhiếp chính Quan bạch. Ký lục sở giải quyết tất cả công việc chính trị và hành chính trên toàn quốc, do đó quyền lực của Nhiếp chính bị giảm xuống.
· Sau đó, Thiên Hoàng còn lập ra cơ quan Tàng Nhân Sở để tự Thiên Hoàng nghiên cứu và ban bố sắc lệnh, chiếu chỉ cho bá quan và toàn quốc thi hành.
· Bên cạnh đó, để kiềm chế họ Phudioara một các khéo léo và lâu dài, thiên hoàng còn lập ra chế độ Thượng Hoàng và Pháp Hoàng.
Theo đó, khi Thiên Hoàng nhường ngôi cho con thì trở thành Thượng Hoàng. Trong trường hợp Thượng Hoàng còn sống thì Thượng Hoàng sẽ lên ngôi Pháp Hoàng. Thượng Hoàng và Pháp Hoàng gíup đỡ cho Thiên Hoàng điều hành đất nước, kiểm soát phủ Nhiếp chính và triều đình.
· Không dừng lại ở đó, chính quyền còn lập ra cơ quan mới là Viện Chính. Về hình thức thì Viện Chính là cơ quan theo dõi việc chính trị của triều đình và giúp đỡ Thiên Hoàng nhưng thực chất là cơ sở của hoàng gia để chống lại họ Phudioara.

c. Thời kỳ Mạc Phủ (thế kỷ 12 – 19)

Trong thời kỳ Mạc Phủ, quản lý nhà nước là một hệ thống chính quyền kép. Tức là, bên cạnh chính quyền của Thiên Hoàng còn có chính quyền Mạc Phủ. Trong đó, chính quyền Mạc Phủ dần dần trở thành thâu tóm toàn bộ quyền lực, còn chính quyền Thiên Hoàng chỉ là chính quyền danh nghĩa, núp bóng.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước trong chính quyền Thiên Hoàng thì không có gì thay đổi.
- Tổ chức bộ máy chính quyền Mạc Phủ:
· Đứng đầu Mạc Phủ là Tướng quân, theo chế độ thế tập. Tướng quân là địa chủ lớn hất trong cả nước, đồng thời nắm mọi quyền hành. Thực chất, Tướng quân là Thiên Hoàng của Nhật Bản.
· Giúp việc cho Tướng quân có nhiều quan chức, là những võ sĩ thân tín nhất của Tướng quân. Thời Mạc Phủ Murômachi lập ra chức Quản Lĩnh, gồm có 3 người, giúp Tướng quân giải quyết mọi công việc ở các địa phương.
· Ở các địa phương, có Thủ Hộ và Địa Đầu do các võ sĩ thân tín của Tướng quân đảm nhiệm. Thủ hộ và Địa đầu là chính quyền của Mạc Phủ ở địa phương, chỉ đạo, giám sát hệ thống quan lại địa phương của Thiên Hoàng
Thủ hộ có nhiệm vụ giúp quốc ti quản lý công việc quân sự ở tỉnh.
Địa đầu làm nhiệm vụ quản lý ruộng đất, thu tô thuế, lùng bắt giặc cướp ở quận, làng.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, chính quyền mạc phủ đã lũng đoạn chính quyền của thiên hoàng từ cấp trung ương xuống địa phương và thật sự trở thành chính quyền chi phối thực tế ở Nhật Bản.

MỘT SỐ XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI


THS. NGUYỄN LINH GIANG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Ngày nay, quyền con người (QCN) đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, để có được vị trí như hiện nay, QCN phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử. Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên, khái niệm về QCN đã phát triển và không ngừng được mở rộng. Từ những văn bản ghi nhận các quyền cá nhân chỉ được giới hạn trong phạm vi các quốc gia[1], QCN đã được ghi nhận trong các văn kiện mang tính quốc tế. Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học và quá trình toàn cầu hóa, mỗi con người đều đã trở thành “công dân toàn cầu”, thì QCN đã và đang xuất hiện các xu hướng phát triển mới, gắn liền với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người.
1. Quyền con người và phát triển bền vững
Con người là trung tâm của mọi sự phát triển. Nếu như trước đây, người ta chỉ đặt ra vấn đề về quyền được phát triển hay phát triển dựa trên quyền, thì hiện nay vấn đề QCN và phát triển bền vững lại được nhắc đến nhiều trong các diễn đàn về QCN. Sự phát triển bền vững trên các lĩnh vực của đời sống là tiền đề cho sự phát triển về QCN, đồng thời, bảo đảm QCN cũng là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững mọi mặt.
- QCN và phát triển bền vững về môi trường. Nếu như giai đoạn trước, người ta thường chỉ nhắc đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, thì ngày nay, đứng trước các vấn đề về biến đổi khí hậu, việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, quyền được tham gia vào các quyết định về môi trường… đã trở thành vấn đề thường trực hàng ngày của mỗi đất nước, mỗi cộng đồng xã hội. Đồng thời, phát triển bền vững về môi trường còn để đảm bảo quyền “công bằng giữa các thế hệ” – một quyền được nhắc đến thường xuyên trong thời gian gần đây. Đó không chỉ là quyền của những người đang sống, mà đó là quyền cho thế hệ mai sau, những người còn chưa xuất hiện trên trái đất này nhưng họ cũng có quyền được hưởng những nguồn tài nguyên không phải là vô tận của trái đất. Quyền công bằng giữa các thế hệ đặt ra vấn đề của những người đang sống hiện nay phải “cư xử” và khai thác thiên nhiên như thế nào để đảm bảo quyền công bằng với thế hệ tương lai.

- QCN và phát triển bền vững về văn hóa. Trong một thế giới phẳng, với nỗ lực “hòa nhập nhưng không hòa tan” đã đặt mỗi con người, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, mỗi khu vực trong quá trình phát triển nhưng vẫn giữ vững những nét đặc trưng về văn hóa, bảo vệ bền vững các giá trị văn hóa, gìn giữ ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc thiểu số…
- QCN và phát triển bền vững về kinh tế. Phát triển kinh tế cũng là để đảm bảo phát triển QCN. Hơn nữa, phát triển kinh tế cũng là tạo tiền đề để thực hiện QCN trong các lĩnh vực khác nhau, không chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế. Vì thế, QCN luôn gắn với sự phát triển bền vững về kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như: xóa đói giảm nghèo, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thực hiện an sinh xã hội, xây dựng nhà nước phúc lợi…
Việc gắn QCN với phát triển bền vững mọi mặt của đời sống xã hội đã trở thành một xu thế tất yếu hiện nay. Chính vì thế, tại nhiều nước trên thế giới các chiến lược phát triển con người, QCN luôn được gắn với các chiến lược phát triển bền vững kinh tế, xã hội.
2. Quyền con người gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
2.1. Quyền con người gắn với sự phát triển của Internet
Có thể nói, chưa bao giờ Internet lại có thể tác động mạnh mẽ đến đời sống của con người như hiện nay. Cuộc cách mạng về công nghệ đã khiến cho QCN có những hình thức mới. Các phương tiện truyền thông và công nghệ mới đã góp phần bảo vệ QCN, đến với những người chưa được bảo vệ, nhưng đồng thời các phương tiện này cũng trở thành nguy cơ đe doạ đếnQCN nếu nó không được quản lý tốt. Dựa vào công nghệ truyền thông, nhiều hoạt động của các chính phủ, khu vực tư nhân hoặc của các tổ chức khác có khả năng được thực hiện và mở rộng tầm ảnh hưởng. Tuy nhiên, những hoạt động đó có thể được thực hiện trong sự thiếu hiểu biết về các tiêu chuẩn QCN.
Internet đã có những đóng góp rất tích cực cho các phong trào nhân quyền trên thế giới, tăng cường giáo dục về QCN cho người dân ở khắp nơi trên thế giới, đồng thời nhờ có Internet mà quyền tiếp cận thông tin của người dân được mở rộng hơn, đỡ mất thời gian, công sức và tiền bạc hơn. Tuy nhiên, Internet cũng đặt ra cho các nhà quản lý những vấn đề nhạy cảm và rất khó giải quyết. Chẳng hạn, chỉ sau 5 năm thành lập, facebook đã trở thành mạng xã hội thành công nhất thế giới với trên 500 triệu tài khoản được mở (con số thống kế năm 2010)[2]. Vì thế, cũng không lạ khi thời gian vừa qua nhiều cuộc biểu tình, tuần hành lớn tại nhiều nơi trên thế giới đã gắn với cộng đồng của mạng xã hội này.
Với sự mở rộng của Internet, các vấn đề nhạy cảm đã không còn là của riêng ai mà nó đã được mang lên mạng, "mổ xẻ”, bình luận và thậm chí gây áp lực cho các đối tượng có liên quan. Chưa bao giờ đời sống riêng tư của con người, đặc biệt là của những người nổi tiếng lại dễ bị xâm phạm đến như bây giờ. Thậm chí trên nhiều trang web, người ta còn lập ra cả các forum chuyên chỉ để bình luận về hình thức cũng như đời sống riêng tư của người khác với lời lẽ đôi khi là xúc phạm và bôi nhọ danh dự. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có những vụ án hình sự cũng như dân sự liên quan đến lĩnh vực này. Việc thời gian vừa qua, đã xảy ra hàng loạt các vụ tử tự của các ngôi sao trong giới giải trí ở Hàn Quốc do liên quan đến các tin đồn trên mạng, đã đặt ra không chỉ cho Chính phủ nước này mà còn cả các nước khác, trong đó có Việt Nam về nhu cầu nghiên cứu việc quản lý các nguy cơ và đối phó với các tin đồn trên mạng Internet.
Do vậy, việc phát triển của Internet đã đặt ra cho chúng ta rất nhiều vấn đề liên quan đếnQCN như tự do thông tin, quyền tự do hội họp (cả khi trên mạng), quyền bảo vệ đời sống riêng tư, cũng như đặt ra cho các nhà quản lý một bài toán về việc quản lý các blog, mạng xã hội, quản lý các vấn đề phát sinh trên mạng như thế nào để vừa đảm bảo mục tiêu quản lý nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng cao nhất các chuẩn mực về QCN.
2.2. Quyền con người gắn với sự phát triển của y học
(i) Quyền nhờ/ thuê người mang thai
Cùng với sự phát triển của y học, đặc biệt là trong lĩnh vực thụ tinh nhân tạo, ngày nay, rất nhiều người đã có thể thực hiện ước mơ được làm cha mẹ khi điều kiện sức khỏe của họ không cho phép. Tuy nhiên, thành tựu y học này cũng đã kéo theo một vấn đề có liên quan đến quyền con người, đó là quyền được nhờ hoặc thuê người mang thai hộ.
Đã từ lâu, tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, “nghề” đẻ thuê đã ra đời và tồn tại. Đặc biệt, tại một số nước như Ấn Độ thì việc đẻ thuê đã trở thành một nghề hợp pháp và thu được nhiều ngoại tệ. Nhưng đồng thời, tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam thì vấn đề này vẫn là một câu hỏi khó có đáp án. Việc 14 cô gái Việt Nam được giải thoát khỏi đường dây đẻ thuê tại Thái Lan[3] đã cho thấy vấn đề này đã mang tính quốc tế, chứ không phải là chuyện riêng của mỗi nước.
Thực tiễn pháp luật tại nhiều nước trên thế giới cho thấy, nhiều nước đã coi đẻ thuê là một nghề hợp pháp, trong khi một số nước khác nghiêm cấm gắt gao và xử phạt nặng hành vi này. Vào những năm 1980, hình thức đẻ thuê thương mại được liệt vào một dạng tội phạm ở Australia. Song đến nay, hầu hết các tiểu bang tại Australia lại cho phép phụ nữ sinh con thuê và được nhận “những chi phí hợp lý”, theo đó mỗi lần sinh con thuê, người mẹ được thuê có thể nhận khoảng 50.000 USD. Dịch vụ mang thai thuê bắt đầu phát triển ở Ấn Độ vào đầu thập kỷ 1990. Đến năm 2002, Ấn Độ hợp pháp hóa chuyện mang thai hộ mang tính thương mại để thúc đẩy du lịch y tế. Nga, Ukraina cũng nằm trong số những nước cho phép phụ nữ được mang thai hộ có trả tiền. Trong khi đó Đài Loan, Hungary, Italia, Nhật Bản, Ả rập Xê út, Anh… không cho phép đẻ thuê[4].
Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/2003/NĐ- CP ngày 12/2/2003 đề cập đến quyền sinh con theo phương pháp khoa học và nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Tuy nhiên, việc thuê người mang thai hộ vẫn đang ngày càng phát triển, và dường như “thị trường” này lúc nào cũng “nóng”.
Vấn đề này đã đặt ra một số điểm khó giải quyết liên quan đến QCN. Một mặt, đó là quyền của những người mong muốn có con nhưng vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai và sinh con bình thường. Mặt khác đó cũng là quyền của những người được nhờ hoặc thuê mang thai hộ. Đồng thời, cũng phải chống lại các trường hợp có sức khỏe bình thường để mang thai nhưng vì lý do nào đó mà họ dùng tiền để thuê người mang thai hộ cho mình.
Nhiều ý kiến cho rằng không thể coi dịch vụ đẻ thuê là một dịch vụ bình thường. Dù lý do kinh tế đã được mang ra để biện minh cho hành vi này thì việc làm này cũng làm tổn thương đến đạo đức xã hội[5].
(ii) Quyền được chuyển đổi giới tính
Một lần nữa, sự phát triển của y học lại đặt ra một vấn đề liên quan đến QCN, đó là quyền xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính. Hiện nay, vẫn chưa có những nghiên cứu và điều tra xã hội học về nhu cầu xác định lại giới tính hoặc phẫu thuật chuyển đổi giới tính của một số người ở Việt Nam rói riêng và trên thế giới nói chung. Nhưng cho dù con số này có không lớn lắm thì cũng không thể chối cãi được rằng đây là một vấn đề cần được quan tâm và đã làm “nóng” nghị trường của nhiều nước và cả ở Việt Nam trong thời gian gần đây.
Thực tế ở Việt Nam gần đây, nhu cầu được xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính đã trở thành vấn đề mà xã hội quan tâm và bình luận. Đứng ở khía cạnh QCN, việc xác định lại giới tính là việc nên làm và cần phải làm để bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình. Tuy nhiên, rất nhiều người sau khi chuyển đổi giới tính đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, không kể đến những tổn thương tâm lý mà họ gặp phải do sự kỳ thị của mọi người[6], thì các giao dịch hàng ngày mà cần đến giấy tờ tùy thân cũng đã khiến họ gặp không ít rắc rối.
Hiện nay, pháp luật nhiều nước đã có các quy định về việc xác định lại giới tính. Ở Việt Nam Nghị định 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 về xác định lại giới tính đã có quy định việc xác định giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác và Nghị định cấm thực hiện chuyển đổi giới tính đối với các trường hợp đã hoàn thiện về giới tính.
Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là việc có cho phép việc chuyển đổi giới tính và xác định lại giới tính hay không, mà các quốc gia, trong đó có Việt Nam cần phải hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến vấn đề này để đảm bảo quyền cho những người chuyển đổi giới tính, nhưng cũng ngăn chặn được hiện tượng “lầm tưởng” về tâm lý hoặc chỉ chuyển đổi giới tính theo sở thích, lối sống hoặc vì mục đích nào đó[7].
3. Quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương
Trước đây, nếu như nói đến quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương, người ta thường nghĩ tới vấn đề quyền của phụ nữ và trẻ em. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có thể yên tâm phần nào khi nói tới các vấn đề về quyền của phụ nữ và trẻ em vì các đối tượng này đã và đang tiếp tục nhận được sự quan tâm của cộng đồng thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực bình đẳng giới, mở rộng quyền tham gia của phụ nữ vào chính trị và quyền được chăm sóc và giáo dục của trẻ em. Còn với xu hướng hiện nay, khi nhắc đến quyền của các đối tượng dễ bị tổn thương thì đã xuất hiện một số đối tượng mới, đó là người đồng tính, người cao tuổi và người tàn tật.
3.1. Quyền của người đồng tính
Mặc dù chưa có thống kê chính xác về số người đồng tính hiện nay trên thế giới, nhưng theo một nghiên cứu gần đây của Gallagher và Baker tiến hành tại bang Massachusetts, Mỹ thì ước tính có khoảng 2,3% đàn ông và 1,3% phụ nữ là người đồng tính[8]. Như vậy, đây là một con số không nhỏ và không ai có thể phủ nhận được là có một bộ phận những người này trong từng cộng đồng. Khoa học cũng đã chứng minh rằng đây là hiện tượng có thể xảy ra trong thế giới tự nhiên và cả trong xã hội loài người.
Mặc dù quan điểm của xã hội đối với hiện tượng người đồng tính vẫn còn rất khác nhau và chủ yếu là chống lại hiện tượng này, cho rằng đó là bệnh hoạn, bệnh tâm lý hay là trái tự nhiên. Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận rằng đã đến lúc cần phải quan tâm đến những QCN cơ bản của người đồng tính. Đó là các quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được chuyển đổi giới tính, quyền được kết hôn như những người bình thường và quyền được làm việc, được tham gia vào các hoạt động xã hội[9].
Thực tế, để có được quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được tham gia vào các hoạt động xã hội cho người đồng tính sẽ là một chặng đường dài vì cần phải thay đổi quan niệm đạo đức xã hội và cần có được sự cảm thông thật sự của xã hội. Nhưng bằng các công cụ pháp lý, các nhà nước hoàn toàn có thể đảm bảo được quyền chuyển đổi giới tính, quyền làm việc và quyền được kết hôn của người đồng tính.
Liên quan đến quyền được làm việc, cần phải có chế tài đối với người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với người đồng tính. Ở đây, xin được tập trung vào phân tích quyền được kết hôn của người đồng tính.
Ở Việt Nam hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam đã có các đám cưới đồng tính diễn ra. Đám cưới đồng tính được xem là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào tháng 4/1997 tại thành phố Hồ Chí Minh giữa hai nam giới. Tháng 3/1998, một đám cưới đồng tính nữ đã được tổ chức ở Vĩnh Long, hai người này đã xin làm giấy đăng ký kết hôn nhưng không được chấp nhận. Và gần đây nhất, đám cưới của hai cô gái 19 tuổi ở Hà Nội và đám cưới của hai cô gái ở độ tuổi 20 ở Cà Mau đã gây ra rất nhiều tranh luận với các luồng ý kiến trái chiều về vấn đề này. Có thể thấy, mặc dù pháp luật chưa cho phép nhưng cũng không thể phủ nhận nhu cầu tình cảm và kết hôn của người đồng tính. Và vấn đề quyền kết hôn của người đồng tính vẫn còn đang được tranh luận tại nhiều nơi trên thế giới.
Nếu như trước đây, đồng tính luyến ái bị xem là phạm pháp, thì từ vài chục năm gần đây ở châu Âu và châu Mỹ, nhiều quy định cấm đoán quan hệ đồng tính đã bị bãi bỏ. Quan trọng nhất, năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đã đưa đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các rối loạn tâm thần, và từ đó nhiều quốc gia khác đã đưa ra các quy định cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tuy nhiên, vấn đề kết hôn của người đồng tính vẫn là một “câu hỏi khó” với các nhà lập pháp ở khắp nơi trên thế giới.
Vào năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận hôn nhân đồng giới. Tiếp sau đó, 9 quốc gia khác như Bỉ, Tây Ban Nha, Ca-na-đa, Nam Phi, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Ai-xơ-len, và Ác-hen-ti-na lần lượt thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính. Ngoài ra, thủ đô Mexico city (Mexico) và một số tiểu bang tại Mỹ như Massachusetts, Iowa, Connecticut, Vermont, New Hampshire cũng cho phép hôn nhân đồng giới. Ở một vài quốc gia khác, người đồng tính có thể sống với nhau theo tình trạng kết hợp dân sự và họ được hưởng quyền lợi ngang bằng như các đôi vợ chồng khác giới. Đan Mạch là nơi đầu tiên có đạo luật này năm 1989, tiếp đến là Pháp, Đức, Anh[10].
Như vậy, đã có sự phát triển về việc pháp điển hóa quyền được kết hôn đồng giới trên thế giới. Tuy nhiên, có vẻ các xã hội Á châu không ủng hộ quan điểm này và chưa có nước nào ở châu Á có quy định ủng hộ vấn đề này. Điều này, dường như trái quá nhiều với quan điểm đạo đức của các nước này. Tuy nhiên, nên nhìn nhận vấn đề này với góc độ khoa học và cũng phải thấy rằng việc cho phép người đồng tính kết hôn cũng không ảnh hưởng gì đến môi trường chính trị, kinh tế và nếu con người sinh ra vốn được và cần được tôn trọng tự do cá nhân thì quyền tự do kết hôn (cho dù là giữa những người đồng giới) cũng cần được tôn trọng. Hơn nữa, việc cho phép những người đồng tính kết hôn cũng có thể giúp Nhà nước bảo vệ tốt hơn quyền của những đối tượng này bằng công cụ pháp luật, vì nếu không cho phép họ vẫn cố tình chung sống với nhau, và khi có mâu thuẫn xảy ra thì quyền của các bên lại không được bảo đảm bằng pháp luật, như vậy còn nguy hiểm hơn. Nhưng đồng thời cũng cần tính đến các yếu tố tâm lý xã hội khác để tránh gây “sốc” khi các văn bản luật có liên quan được thông qua.
3.2. Quyền của người cao tuổi
Ngày nay, dân số thế giới đang già đi, tỉ lệ người lớn tuổi trong cơ cấu dân số của toàn thế giới đang tăng, điều này đặt ra một thực tế là cần phải quan tâm ngày một nhiều hơn đến các quyền của đối tượng này. Hiện nay, theo ước tính, có gần 20% người cao tuổi trên toàn thế giới được hưởng tiền trợ cấp. Điều này có nghĩa là có khoảng 607 triệu người tuổi từ 60 trở lên thiếu sự đảm bảo về thu nhập[11]. Nhiều người cao tuổi vẫn phải làm các công việc nặng nhọc để kiếm sống, nhiều người bị bỏ rơi trong các nhà dưỡng lão thiếu các tiện nghi chăm sóc cá nhân. Thậm chí, tại nhiều nơi cũng không có nhà dưỡng lão để đảm bảo chăm sóc đối tượng người cao tuổi và nhiều người cao tuổi vẫn phải sống trong tình trạng không nhà cửa, lang thang kiếm sống.
Trước tình hình ở nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, vai trò của người cao tuổi đã không được nhìn nhận đúng đắn và được quan tâm. Đồng thời người cao tuổi cũng là những đối tượng dễ bị tổn thương do vấn đề về sức khỏe và thu nhập. Nhiều nước cũng đã có những đề xuất sửa đổi pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người cao tuổi, xác định rõ hơn rằng những người trẻ tuổi phải có bổn phận thăm nom và chăm sóc cho cha mẹ mình.
Theo Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon, đã đến lúc các nước trên thế giới cần đưa ra các biện pháp tài chính, xã hội và luật pháp nhằm giúp hàng triệu người cao tuổi thoát khỏi cảnh nghèo đói, đảm bảo quyền có cuộc sống khỏe mạnh và được tôn trọng. Những người này đều có quyền được tiếp cận các dịch vụ xã hội; các nước cần đưa ra các chương trình lương hưu cho người cao tuổi, xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử về tuổi tác và giới tính tại nơi làm việc.
Cao ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc Navi Pillay cũng cho rằng, với việc 2/3 số người cao tuổi trên thế giới sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chính phủ các nước cần đưa ra các chương trình lương hưu cho người già cũng như các biện pháp phù hợp trong các lĩnh vực nhà ở, y tế, giao thông, nước sạch để đảm bảo rằng họ không bị bỏ rơi và phân biệt đối xử. Dự kiến, đến năm 2050, số người cao tuổi trên toàn thế giới sẽ tăng lên 2 tỷ người[12].
Như vậy, rõ ràng, đã đến lúc chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến các quyền của người cao tuổi, đặc biệt là quyền được đảm bảo mức sống tối thiểu cũng như quyền được chăm sóc về sức khỏe của họ.
3.3. Quyền của người khuyết tật
Hiện nay, số người khuyết tật chiếm khoảng 5% dân số thế giới, vì thế việc quan tâm và đảm bảo quyền của đối tượng này là việc đương nhiên phải tính đến. Nếu như trước đây, quyền của người khuyết tật chỉ được quan tâm ở mức độ đảm bảo cho họ có được mức sống tối thiểu và được chăm sóc về y tế, thì hiện nay, trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn, việc chăm lo đến quyền của người khuyết tật chính là việc phải tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật được thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội.
Việc chăm sóc đến quyền lợi của người khuyết tật ngày nay đồng thời cũng gắn với việc phải tính đến quyền được tham gia giao thông của người khuyết tật và phải tính đến khả năng tiếp cận với các công trình công cộng của người khuyết tật thông qua việc xây dựng các phương tiện, công trình hỗ trợ cho họ, đặc biệt là tại trụ sở của các cơ quan nhà nước, các địa điểm vui chơi công cộng, nhà ga, sân bay, trạm chờ xe bus hay các điểm vệ sinh công cộng.
Việc ra đời của Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật là một cơ sở pháp lý vững chắc để các nước tiến hành các chương trình, dự án liên quan đến việc tăng cường và củng cố quyền của người khuyết tật trên phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, dù ở đâu trên thế giới này, đời sống của người khuyết tật vẫn luôn luôn gặp khó khăn và người khuyết tật cũng đồng thời là đối tượng nghèo trong xã hội. Vì thế, cần phải nhận thức rõ hơn về quyền của đối tượng này. Tăng cường đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật, cũng như xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử với người khuyết tật trong việc làm và tham gia vào các công việc của nhà nước và xã hội.
Có thể nhận xét rằng, các xu hướng phát triển mới của quyền con người hiện nay đều gắn chặt với sự phát triển của xã hội, khoa học và quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình phát triển tiếp theo, chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề mới liên quan đến QCN xuất hiện, nhưng trước mắt, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới cần quan tâm và giải quyết các vấn đề mới về QCN đã nói ở trên./.

[1] Magna Carta (1215), Luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) và Hiến pháp Mỹ năm 1791 là những văn bản đã tạo cảm hứng cho phần lớn các văn kiện về quyền con người ngày nay.
[2] Theo Dominique Boullier, “Avec internet, un monde commun… mais pluriel” trong “Questions internationales” số 47, tháng 1-2/2011, Documentation française, Paris 2011.
[3] Giải cứu 14 cô gái trong đường dây đẻ thuê tại Thái Lan, http://vtc.vn/10-278429/quoc-te/tin-tuc/giai-cuu-14-co-gai-trong-duong-day-de-thue-o-thai-lan.htm, tham khảo ngày 14/4/2012.
[4] Xem H.Long (tổng hợp), Thế giới cũng mâu thuẫn, Lao động cuối tuần, số 12, ngày 1-3/4/2011, tr.7.
[5] Vũ Quỳnh Hương, Quản để chống, Lao động cuối tuần, số 12, ngày 1-3/4/2011, tr.7.
[6] Có trường hợp một người ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị buộc thôi việc sau khi làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính.
[7] Như để biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao…
[8]Xem “Echec des marriages homosexuels”, http://qe.catholique.org/11193-echec-des-mariages-homosexuels(tham khảo ngày 22/4/2011).
[9] Phần lớn những người đồng tính đều phải giấu diếm “thân phận” của mình vì sợ bị phân biệt đối xử và khó tìm việc làm. Rất nhiều quán bar, các câu lạc bộ của người đồng tính trên thế giới bị cảnh sát tấn công và yêu cầu đóng cửa với lý do đó là tệ nạn xã hội.
[10] Xem Diễm Thư (tổng hợp) trong Thanh niên tuần san số 24/1/2011, tr.50.
[11] Xem Kiều Giang (Theo Xinhua), Liên hợp quốc đề cao vai trò của người cao tuổi trong cuộc chiến chống đói nghèo, http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30480&cn_id=439273, tham khảo ngày 17/12/2010.
[12] Thông tấn xã Việt Nam, Liên hợp quốc kêu gọi các nước tăng cường hỗ trợ người già, ngày 3/10/2010.
SOUCRCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Pháp luật tư sản - Thời kỳ cạnh tranh tự do -




ThS Lê Thị Thanh Nhàn

Bài 9
NHÀ NƯỚC TƯ SẢN
- Lịch sử nhà nước tư bản trải qua 2 thời kỳ:

+ Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.

+ Thời kỳ chủ nghĩa tư bản lũng đoạn và chủ nghĩa tư bản hiện đại.

- Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 17, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành và lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến Tây Au. Trong lịch sử phát triển, chủ nghĩa tư bản đã trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn mang nét đặc thù riêng trên nền tảng biến đổi ít nhiều về kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, ở tất cả các giai đoạn, bản chất của chủ nghĩa tư bản không biến đổi, đó là áp bức, bóc lột, cạnh tranh bằng mọi thủ đoạn kể cả bằng chiến tranh bạo lực để thu lợi nhuận tới mức cao nhất:

+ Từ năm 1640 đến 1870 là giai đoạn giai cấp tư sản lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng tư sản để nắm chính quyền và xác lập chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới. Thời kỳ này được gọi là thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nghĩa là chưa có tổ chức hoặc cá nhân tư bản độc quyền, các nhà tư sản tự do buôn bán.

+ Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển sang một bước phát triển mới, đó là thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Trong đó, từ năm 1870 đến năm 1945, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, cạnh tranh tự do chấm dứt. Từ năm 1945 đến nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, tức là chủ nghĩa tư bản hiện đại.

I. THỜI KỲ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH

1. Quá trình hình thành nhà nước

a. Những tiền đề của chủ nghĩa tư bản và nhà nước tư bản

- Thế kỷ 15, 16 nền quân chủ chuyên chế ở các nước phong kiến Tây Au lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội… mà biểu hiện rõ nét nhất là trong lĩnh vực quan hệ sản xuất.

- Những tiến bộ của kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất đã làm thay đổi tốc độ và quy mô sản xuất. Đồng thời làm cho quá trình phân công giữa các ngành nghề diễn ra một cách mạnh mẽ, đặc biệt sự phân công lao động trong nông nghiệp và công nghiệp là điều kiện để nền kinh tế hàng hoá phát triển.

- Quá trình tích lũy tư bản được các nhà tư bản tiến hành bằng mọi thủ đoạn dã man và hèn hạ. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình diễn ra sự tập trung vốn vào một số ít người, là quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của người lao động, biến họ thành những lao động làm thuê.

b. Sự ra đời của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Công trường thủ công

Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn đầu được biểu hiện dưới hình thức công trường thủ công trong lĩnh vực công nghiệp. Công trường thủ công có 2 loại: công trường thủ công phân tán và công trường thủ công tập trung.

- Các hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp

Sự phát triển nhanh chóng của công trường thủ công đòi hỏi phải có nguồn nguyên liệu dồi dào. Để đáp ứng yêu cầu này, nền kinh tế tự cung tự cấp trong từng lãnh địa phong kiến bị phá bỏ, và thay vào đó là nền nông nghiệp phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đang dần dần hình thành, đó là:

+ Sự xuất hiện những trang trại của phú nông (một bộ phận nông dân giàu có lên, họ mở rộng quy mô sản xuất và thuê những người nông dân mất hết ruộng đất vào làm trong trang trại của mình để bóc lột sức lao động làm thuê);

+ Phương thức canh tác và bóc lột trong các nông trang địa chủ cũng có sự thay đổi (sử dụng sức lao động làm thuê thay cho những người nông dân lĩnh canh)

+ Những trại ấp, đồn điền của những nhà tư bản xuất hiện (họ là những nông dân hoặc cư dân thành thị giàu có, thuê ruộng đất của các lãnh chúa phong kiến để lập trại ấp, đồn điền và thuê mướn công nhân nông nghiệp làm việc để bóc lột giá trị thặng dư. Hình thức bóc lột này là hình thức bóc lột tô tư bản.

c. Tiến trình cách mạng tư sản và sự thiết lập nhà nước tư sản

- Phong trào phục hưng, cải cách tôn giáo và sự hoàn thiện hệ tư tưởng dân chủ tư sản (thế kỷ 15, 16)

+ Phong trào phục hưng nêu cao khẩu hiệu đòi phục hồi những tư tưởng dân chủ thời kỳ cổ đại Hy Lạp, La Mã vào việc xây dựng một hệ tư tưởng mới mang tính chất dân chủ tư sản. Nội dung cơ bản của hệ tư tưởng phục hưng: đả kích giáo hội và phê phán chế độ phong kiến; xây dựng nhân sinh quan tư sản (không thừa nhận thượng đế là nơi phát nguyên vạn vật, đề cao giá trị con người và khởi xướng tự do cá nhân). Trong thời kỳ này, có các nhà khoa học xuất sắc như; Côpecnich, Brunô, Galilê…

+ Sang thế kỷ 16, phong trào phục hưng chống phong kiến và thiên chúa giáo được thể hiện rầm rộ ở khắp mọi nơi dưới hình thức cải cách tôn giáo. Các nhà cải cách đòi hỏi xóa bỏ trật tự đẳng cấp phức tạp, lễ nghi tốn kém, lối sống xa hoa và chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến của nhà thờ. Họ không thừa nhận quyền lực nhà thờ đứng trên quyền lực nhà nước, tuy nhiên, lại kêu gọi ủng hộ giáo hội vì nó là công cụ tinh thần đểru ngủ nhân dân. Nghĩa là cải cách tôn giáo để nó thích ứng với nhu cầu của giai cấp tư sản.

+ Bên cạnh đó, giai cấp tư sản dần dần xây dựng cho mình một hệ tư tưởng mới, tiến bộ, đó là hệ tư tưởng dân chủ tư sản nhằm xây dựng chính quyền dân chủ, công bằng, bình đẳng, bảo đảm quyền thuộc về nhân dân. (Giôn Lôccơ: Học thuyết về phân chia quyền lực; Vônte: Những bức thư triết học; Môngtetxkiơ: Tinh thần pháp luật; Rut-xô: Khế ước xã hội…).

- Cách mạng tư sản thắng lợi và sự ra đời của nhà nước tư sản

Khi những tiền đề về kinh tế tư sản và tư tưởng dân chủ tư sản nêu trên chín muồi thì giai cấp tư sản sẽ phát động quần chúng nhân dân làm cuộc cách mạng chính trị giành lấy chính quyền từ tay giai cấp phong kiến. Tuy nhiên, khi cách mạng vừa thắng lợi thì giai cấp tư sản hoặc liên kết với giai cấp phong kiến hoặc tự đi ngược lại tiến trình cách mạng vì lo sợ cách mạng thành công sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chúng.

2. Đặc điểm của nhà nước tư bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh

- Nhà nước tư sản không can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đổi tư bản. Nó gần như đứng ngoài đời sống kinh tế, xã hội và chỉ can thiệp khi có sự lung lay của chế độ tư hữu. Do đó, nền kinh tế trong giai đoạn này đang tự điều chỉnh bởi quy luật cạnh tranh tự do và quy luật giá trị, cho nên các cá nhân tư bản hầu như có đầy đủ quyền trong việc kinh doanh và bóc lột người lao động.

- Bộ máy nhà nước không lớn, nhiều bộ phận của nó kế thừa từ trong bộ máy nhà nước phong kiến như quân đội, cảnh sát, nhà tù. Vì mục tiêu của nhà nước không phải là thủ tiêu sự bóc lột, mang lại quyền bình đẳng cho tất cả công dân mà là đưa một nhóm bóc lột này thay thế cho một nhóm bóc lột khác nên nó không cần triệt tiêu nhà nước cũ.

- Trong thời kỳ này, hình thức nhà nước phổ biến là Quân chủ Nghị viện do trong quá trình chống phong kiến, giai cấp tư sản nhiều nước còn nhiều mối quan hệ quyền lợi với giai cấp phong kiến. Chúng tìm cách thỏa hiệp với phong kiến để đi đến thiết lập nhà nước quân chủ nghị viện. Chỉ một vài quốc gia khi thực hiện cách mạng triệt để thì xây dựng nhà nước cộng hoà nghị viện (Pháp, Hoa Kỳ, Thụy Sỹ).

- Về hình thức nhà nước thì có thể khác nhau, nhưng về bản chất của tất cả các nhà nước tư sản là giống nhau. Đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản. Còn nhân dân lao động - những người đã từng đứng dưới ngọn cờ cách mạng tư sản, là động lực của cách mạng tư sản – lại trở thành nạn nhân, là đối tượng đàn áp, bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nhà nước tư sản, về bản chất vẫn là một kiểu nhà nước bóc lột.

v CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ NHÀ NƯỚC TƯ SẢN ANH

- Nước Anh phong kiến cát cứ được thống nhất vào thế kỷ 15 do dòng họ Stuart nắm chính quyền. Trong chính sách cai trị, nhà vua không tôn trọng Nghị viện, tăng thuế và đặt ra nhiều thứ thuế mới. Năm 1625, Saclơ I kế vị và thực hiện chính sách bóc lột nhân dân như: phát hành công trái bắt buộc, phạt vạ, bắt nộp thuế một cách nghiêm ngặt, ngoài ra, nông dân còn phải nộp thuế 1/10 cho nhà thờ Anh giáo và chịu chế độ áp bức bóc lột của lãnh chúa một cách hà khắc. Ông ta còn đàn áp một cách tàn bạo những ai chống lại giáo hội và nhà nước. Toàn thể nhân dân Anh đều mâu thuẫn và căm thù nhà nước phong kiến thối nát, tham lam và tàn bạo.

- Vào thế kỷ 16, chủ nghĩa tư bản Anh đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong lòng chế độ phong kiến, nhất là ở miền nam nước Anh:

+ Nghề kéo sợi, dệt len, dạ phát triển. Công xưởng thủ công mọc lên rất nhiều.

+ Chủ nghĩa tư bản Anh phát triển ngay cả trong nông nghiệp, Quý tộc Anh ở miền nam và đông nam kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, cướp đoạt ruộng đất của nông dân để trồng cỏ nuôi cừu. Họ trở thành tầng lớp quý tộc mới (quý tộc tư sản hóa) gia nhập vào hàng ngũ quý tộc Anh. Tầng lớp này đặc biệt lớn mạnh vào thế kỷ 16. Việc sử dụng đồng cỏ chăn cừu làm cho 40 vạn nông dân bị phá sản, không có ruộng đất, phải gia nhập vào đội quân vô sản đông đảo.

Thành phố Luân Đôn lúc này đã có 70 vạn dân, là thành phố lớn nhất thế giới và là trung tâm tài chính, mậu dịch của cả Châu Au. Trước khi cách mạng tư sản bùng nổ, ngoại thương Anh tăng gấp 5 lần so với trước.

Giai cấp tư sản Anh cũng đã chuẩn bị tư tưởng cho mình dưới lá cờ tôn giáo họ nêu cao “Thanh giáo” (đạo Tin lành) chống lại Anh giáo (Thiên chúa giáo). Cuộc đấu tranh tôn giáo này thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp.

Tóm lại vào những năm đầu thế kỷ 17, mâu thuẫn giữa một bên là tư sản, nông dân, thị dân, thợ thủ công với một bên là giai cấp phong kiến chuyên chế, phản động do Saclơ I cầm đầu đã rất gay gắt.

Năm 1640, cách mạng tư sản Anh bùng nổ và phát triển qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: từ 1640 đến 1642, là giai đoạn chuẩn bị và bùng nổ cách mạng. Năm 1639, người Scốtlen vũ trang khởi nghĩa, tràn vào miền bắc nước Anh. Để có tiền đàn áp khởi nghĩa, năm 1640, Saclơ I triệu tập Nghị viện họp đòi tăng thuế. Thành viên chủ yếu của Nghị viện là quý tộc mới và tư sản đã chống lại đề nghị của nhà vua. Saclơ I dùng vũ lực để chống lại Nghị viện. Nhân dân Luân Đôn xuống đường bảo vệ Nghị viện. Thấy thủ đô không tuân theo lệnh mình, Sắclơ I chạy lên miền bắc tập trung lực lượng tuyên chiến với Nghị viện. Cách mạng Anh đã bùng nổ dưới hình thức một cuộc nội chiến giữa quân đội của nhà vua và quân đội của Nghị viện.

+ Giai đoạn 2:

· Nội chiến lần thứ 1 (1642 – 1646)

Tháng 8/1642, nhà vua tuyên chiến với Nghị viện. Quân Nghị viện dưới sự chỉ huy của Ôlivơ Crômoen, một lãnh tụ thuộc tầng lớp quý tộc mới , với 22.000 ngàn quân lính được mệnh danh là quân sườn sắt đã đánh bại quân của nhà vua ở Nêdơbi ngày 14/6/1645, bắt sống 5.000 tù binh của Sáclơ I. Năm 1646, Saclơ I bị bắt trên đường chạy trốn. Quân đội Crômoen tiến vào Luân Đôn nắm chính quyền.

· Nội chiến lần thứ 2: (1648)

Cuối năm 1647, Saclơ I trốn thoát và chiêu mô quân đội, gây nội chiến lần 2. tháng 8 năm 1648 Saclơ I bị thất bại và bị bắt giữ lần 2. Ngày 30/01/1649, trước áp lực của nhân dân, Nghị viện Anh đưa Saclơ I lên máy chém về tội danh phản quốc và gây chiến tranh chống lại nhân dân.

Ngày 04/01/1649, Nghị viện thông qua nghị quyết, khẳng định quyền tối cao của Hạ nghị viện trong bộ máy nhà nước (nhân dân do nhân dân bầu ra, có quyền lực tối caotrong quốc gia; những gì Hạ viện tuyên bố là pháp luật thì nó có hiệu lực, dù cho các Thượng nghị sĩ, nhà vua có phản bác)

Ngày 19/5/1649, trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, nền cộng hoà được tuyên bố chính thức thành lập. Hạ nghị viện nắm quyền lập pháp, thượng nghị viện bị giải tán. Quyền hành pháp được giao cho nội các do nghị viện bầu ra. Như vậy, ban đầu nhà nước tư sản Anh mang hình thức chính thể Cộng hòa Nghị viện, hình thức này chỉ tồn tại được trong một khoản thời gian ngắn và đây là thành công cao nhất của cuộc cách mạng tư sản Anh.

+ Giai đoạn 3: (1649 – 1688)

Sau khi cuộc nội chiến kết thúc, quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh đòi chính quyền tư sản phải thực hiện lời hứa với quần chúng cách mạng. Lo sợ trước phong trào của quần chúng, giai cấp tư sản một mặt đàn áp phong trào quần chúng, một mặt sẳn sàng thủ tiêu nền cộng hoà để xây dựng một chính quyền mới.

Trong Chính quyền mới, CrômOen mang danh nhà bảo hộ và trở thành kẻ độc tài; công dân phải có thu nhập từ 200 bảng mới có đủ tư cách cử tri bầu hạ viện; chế độ hai viện được khôi phục.

Cuối cùng, năm 1688, giai cấp tư sản Anh đã lựa chọn hình thức Quân chủ Nghị viện với việc lên ngôi của Guyôm Orănggiơ, thống đốc Hà Lan, con rể vua Anh. Lấy niên hiệu là Vinhem III.

Việc lựa chọn hình thức Quân chủ Nghị viện chứng minh cuộc cách mạng Anh là cuộc cách mạng không triệt để. Hình thức nhà nước này chỉ là sự bắt tay, liên minh với phong kiến của tư bản. Cách mạng chỉ đưa giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, còn nó vẫn duy trì phong kiến cả ở cơ cấu chính trị, xã hội và kinh tế. Giai cấp tư sản Anh dựa vào nhân dân để bước lên vũ đài chính trị, khi đã đạt được mục đích, chúng quay lại phản bội nhân dân.(phân tích và làm rõ hơn)

- Cách mạng tư sản Anh đã đưa giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, sau cuộc cách mạnh chính trị này, cuối thế kỷ 18, Anh đi tiên phong trên con đường công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa với sự áp dụng khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế, kỹ thuật, quân sự. Anh trở thành cường quốc tư bản số 1 và được mệnh danh là công xưởng thế giới, thay vị trí của Hà Lan. Anh vươn lên làm bá chủ mặt biển, từ đó có điều kiện đi xâm lược khắp thế giới, do đó, Anh còn là cường quốc số 1 về thuộc địa. Cách mạng tư sản Anh không chỉ kết thúc chế độ phong kiến, mở ra một thời đại mới cho nước Anh mà cón kết thúc thời kỳ trung đại, mở đầu lịch sử cận đại trên toàn thế giới.

v CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ NHÀ NƯỚC TƯ SẢN MỸ

- Cristốp Côlômbô tìm ra Châu Mỹ năm 1492. Từ đó, bọn thực dân Châu Au đặt chân tới cướp bóc vàng bạc, tàn sát người da đỏ, sau đó là xâm lược và thiết lập nền thống trị ở châu lục này.

+ Từ Mêhicô trở xuống cực nam Châu Mỹ là thuộc địa của Tây Ban Nha.

+ Braxin, nước lớn nhất Nam Mỹ trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha.

+ Từ Mêhicô trở lên phía bắc là thuộc địa của người Anh.

- Theo chân của bọn thực dân, hàng chục triệu người dân Châu Au vì nghèo đói, vì lý do tôn giáo, chính trị lần lượt di cư tới miền đất hứa thành nhiều đợt qua nhiều thế thế kỷ. Người da đỏ, chủ nhân châu lục bị giết hại và bị dồn vào vùng rừng sâu núi thẳm.

- Công cuộc khai thác vàng bạc ở các hầm mỏ, lao động khổ sai nặng nhọc ở các đồn điền đòi hỏi những lao động khoẻ mạnh. Do đó, từ thế kỷ 16 đến 19, bọn thực dân Châu Au đưa 60 triệu người da đen ở miền nam Châu Phi đến đây làm nô lệ.

- Năm 1752, người Anh đã thiết lập 13 bang thuộc địa với chế độ phong kiến chuyên quyền kết hợp với bóc lột kiểu nô lệ để khai thác.

- Về tổ chức chính trị, thực dân Anh chia thuộc địa thành 2 loại, một số bang tự trị và một số bang chính quyền Anh đưa thống đốc tới cai trị. Cả 13 bang đều phải áp dụng pháp luật của Anh.

- Về kinh tế, xã hội công thương nghiệp tư bản thuộc địa phát triển nhưng bị chính phủ Anh tìm cách cản trở. Chính phủ Anh không cho phép kinh tế tư bản ở bắc mỹ phát triển, mà muốn biến các thuộc địa thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính quốc, cung cấp nguyên vật liệu, thực phẩm cho chính quốc. Cho dù nhà nước Anh cố tình kìm hãm, chế độ kinh tế tư bản thuộc địa vẫn ra đời và phát triển ngày càng lớn mạnh. Phát triển nhất là nghề đóng tàu, khai thác mỏ, luyện gang, nghề dệt vải, len, dạ…. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, giai cấp tư sản Mỹ ra đời và lớn mạnh, bao gồm tư sản công thương nghiệp ở miền bắc và tầng lớp chủ đồn điền ở miền nam. Giai cấp này ngày càng lớn mạnh về kinh tế, tư tưởng, chính trị.

- Trong nông nghiệp, tuy kinh tế tư bản phát triển nhưng trong các đồn điền còn phổ biến kiểu bóc lột nông nô và nô lệ.

- Như vậy, trong xã hội bắc mỹ xuất hiện hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn giữa thuộc địa với chính quốc. Nhân dân các thuộc địa, dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sảnđã nổidậy tiến hành cuộc chiến tranh để dành độc lập. Đó cũng là cuộc cách mạng tư sản, vì nó không những dành độc lập mà còn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, dọn đường cho tư bản bắc mỹ phát triển mạnh mẽ.

Vào những năm của thập niên 70 thế kỷ 18, toàn Bắc Mỹ sôi sục bởi tem thuế phi lý của chính quyền. Tháng 12 năm 1773, nhân dân thành phố cảng Boston đã ném 343 thùng chè của Anh xuống biển. Chính phủ Anh lập tức ra lệnh phong tỏa Boston.

Giai cấp tư sản Bắc Mỹ ở các bang cử đại diện đến họp “Đại hội lục địa” ở Philadenphia. Chính phủ Anh tuyên bố tình trạng thuộc địa nổi loạn và cử 25.000 quân tới Bắc Mỹ. Năm 1775, chiến tranh giữa Anh và thuộc địa bắt đầu.

Ngày 04/7/1776, Đại hội lục địa lần thứ 2 công bố bản tuyên ngôn độc lập do Tômát Zepphecxơn và một Ủy ban 4 người khởi thảo. Tuyên ngôn khẳng định những quyền tự do tự do dân chủ tư sản, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Tuyên ngôn tuyên bố nước Mỹ độc lập khỏi nước Anh.

Trong khi đại hội đang họp thì chiến tranh đã lan rộng và rất ác liệt. Ban đầu do lực lượng chênh lệch, ưu thế thuộc về phía Anh, quân cách mạng gặp nhiều khó khăn. Tổng chỉ huy quân đội cách mạng Mỹ là Gioócgiơ Oasinhtơn đã áp dụng phương pháp tác chiến du kích để tiêu hao lực lượng địch, tạo chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho quân cách mạng. Ngày 17/10/1777, quân đội Oasinhtơn đã đánh thắng quân đội Anh một trận lớn ở Saratôga. Sau trận Saratôra, các nước Châu Au thù địch với Anh như Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan đều bắt tay với Oasinhtơn để gởi quân đội, tàu chiến sang tham gia chiến đấu bên cạnh nhân dân Mỹ.

Trong một cuộc tấn công tổng lực của cả hải quân, pháo binh của quân đội Oasinhtơn ở Yooctao, 8.000 quân Anh bị hạm đội Pháp chặn đường. Bị quân đội Oasinhtơn và quân Pháp bao vây, quân Anh buộc phải đầu hàng vào ngày 19/10/1781. Thủ tướng Anh, Rôckinhham phải đàm phán với quân Mỹ ở Vecxây. Ngày 03/9/1783, Chính phủ Anh phải ký Hiệp ước thừa nhận nền độc lập của Mỹ.

Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nhận thành lập Nhà nước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hoà Tổng thống và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Về cơ cấu lãnh thổ, Hoa kỳ là nhà nước liên bang.

- Cuộc cách mạng tư sản Mỹ mang tính chất là một cuộc cách mạng dân chủ tư sản và cách mạng giải phóng dân tộc.

+ Lực lượng có vai trò quyết định mang đến thành công là quần chúng lao động. Còn giai cấp tư sản Mỹ đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cuộc cách mạng sản Mỹ đã lật đổ chế độ phong kiến thuộc địa Anh, đưa giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền, thiết lập được nhà nước tư sản.

+ Cách mạng thắng lợi đã giải phóng dân tộc Mỹ khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân Anh. Bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ với việc khẳng định những quyền cơ bản, tất yếu của con người là những tư tưởng mới và cấp tiến nhất của thời đại. Những tư tưởng của tuyên ngôn độc lập và bản thân cuộc cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc ở Mỹ đã ảnh hưởng sâu rộng đến trào lưu cách mạng ở Châu Au và Nam Mỹ, thúc đẩy, cổ vũ các dân tộc đứng dậy lật đổ chế độ phong kiến, chế độ thuộc địa, giành độc lập, tự do, dân chủ.

v CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP

Cuối thế kỷ 18, chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến pháp đã khủng hoảng trầm trọng. Quàn chúng nhân dân nổi dậy khắp nơi. Năm 1789, nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản đã đứng lên tiến hành chiến tranh lật đổ chế độ phong kiến, lập nên chính quyền tư sản. Quá trình đó có thể được chia thành 3 giai đoạn.

- cách mạng bùng nổ và nền quân chủ lập hiến đại tư sản (14/7/1789 – 10/8/1792)

ngày 5/5/1789, hội nghị đại diện đẳng cấp khai mạc, dưới sự chủ toạ của nhà vua. Do mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là là đẳng cấp thứ 3 (tư sản, thị dân, nông dân) với một bên là nhà vua và 2 đẳng cấp còn lại (quý tộc, tăng lữ), ngày 17/6, các đại biểu của đẳng cấp thứ 3 tự tuyên bố thành lập hội đồng dân tộc. Ngày 9/7, hội đồng dân tộc tự tuyên bố là quốc hội lập hiến.

Ngày 14/7, cuộc khởi nghĩa vũ trang của quần chúng cách mạng nổ ra ở Pari, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. (ngày này trở thành ngày quốc khánh của pháp). Chính quyền mới được thiết lập, đại diện cho tầng lớp đại tư sản và quý tộc tư sản hoá.

Ngày 26/8/1789, quốc hội lập hiến thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền gồm 17 điều, khẳng định những nguyên lý cơ bản của xã hội tư bản. Tuyên ngôn xóa bỏ quyền lực của vua chúa cùng chế độ đẳng cấp phong kiến, nêu ra quyền bình đẳng của con người và chủ quyền của nhân dân

Năm 1791, quốc hội lập hiến ban hành hiến pháp, xác định:

chính thể quân chủ lập hiến tư sản. Trong đó, vua giữ quyền hành pháp, quyền lập pháp thuộc về quốc hội.

Chế độ bầu cử: hiến pháp chia công dân thành 2 loại, tuỳ theo tài sản của họ. Công dân tích cực (nam giới, từ 25 tuổi trở lên, không làm thuê cho ai, có tên trong danh sách vệ quốc quân, đóng thuế trực thu ít nhất bằng 3 ngày lương) có quyền bầu cử quốc hội.

Công dân tiêu cực không có quyền bầu cử.

Quy định này đã vi phạm những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái được ghi trong tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền. (có 4,28 triệu công dân tích cực/26 triệu dân)như vậy, chính quyền tư sản đầu tiên được thiết lập ở pháp là chính quyền của tầng lớp đại tư sản với chính thể quân chủ lập hiến

- sự thiết lập chính thể cộng hoà của tầng lớp tư sản địa phương (10/8/1792 – 02/6/1793)

tầng lớp đại tư sản ngày càng tỏ ra rằng họ không muốn giải quyết các yêu cầu của quần chúng và dần dần trở thành lực lương phản động. Ngày 10/8/1792, quần chúng cách mạng lại khởi nghĩa vũ trang, lật đổ nền thống trị của đại tư sản, đưa phái girôngđanh đại diện của tư sản địa phương lên nắm chính quyền và lãnh đạo cách mạng.

Trong giai đoạn này, một sắc lệnh của lực lượng cách mạng được ban hành quy định chế độ phổ thông đầu phiếu cho tất cả nam giời từ 21 tuổi trở lên; thành lập hiệp hội dân tộc thay thế quốc hội cũ.

Ngày 20/9/1792, sau khi đánh bại liên quân Ao – phổ, hiệp hội dân tộc khai mạc, tuyên bố bãi bỏ chính thể quân chủ lập hiến, xác lập chế độ cộng hoà nghị viện.

Sau khi nắm được chính quyền, phái girôngđanh không muốn cách mạng tiến xa hơn nữa vì sợ rằng lực lượng quần chúng sẽ xâm hại đến quyền lợi và địa vị của mình. Họ trở thành tầng lớp bảo thủ và phản động.

- chính thể cộng hoà của tầng lớp tư sản lớp dưới (02/6/1793 – 27/7/1794)

đây là giai đoạn phát triển cao nhất và cũng là giai đoạn kết thúc của cách mạng tư sản pháp.

Trước chính sách phản động của phái girôngđanh, quần chúng cách mạng lại đứng lên hkởi nghĩa vũ trang. Ngày 02/6/1793, những người thuộc phái girôngđanh trong hiệp hội dân tộc bị bắt. Chính quyền nhà nước chuyển sang tay phái giacôbanh.

Phái giacôbanh ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ ruộng đất phong kiên và quan hệ bóc lột phong kiến, chia ruộng đất cho nông dân. Việc làm này đã phá hủy tận gốc chế độ phong kiến, xác lập kinh tế tiểu nông, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Để tạo cơ sở pháp lý nhằm củng cố nền cộng hoà tư sản, ngày 24/6/1793, hiệp hội dân tộc đã thông qua bản hiến pháp mới, quy định:

Hình thức chính thể: cộng hòa nghị viện

Quốc hội một viện là cơ quan lập pháp

Hội đồng hành pháp (chính phủ) do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội

Về sau, nội bộ của phái giacôbanh mâu thuẫn và chia rẽ trầm trọng. Nhiều chính sách của họ đi ngược lại yêu cầu của quần chúng cách mạng. Chính quyền giacôbanh ngày càng suy yếu. Ngày 277/1794, tầng lớp tư sản phản động cướp được chính quyền nhà nước.

Cuộc chính biến ngày 27/7/1794đã chuyển chính quyền từ phái tư sản cách mạng giacôbanh sang phái tư sản phản cách mạng. Sau khi lên nắm quyền, họ ban hành bản hiến pháp 1795.

Nội dung hiến pháp 1795:

hạn chế các quyền tự do, dân chủ,

quy định chế độ bầu cử với điều kiện tài sản rất cao;

toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào Ủy ban đốc chính (gồm 5 người), vì vậy, thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ đốc chín;

quốc hội gồm 2 viện: hạ nghị viện: (hội đống 500 người) có quyền đưa ra và thảo luận dự án luật nhưng không có quyền biểu quyết thông qua; thượng nghị viện (hội đồng trưởng lão) nắm quyền biểu quyết thông qua ho8ạc bác bỏ dự luật nhưng không có quyền dự thảo điều luật.

Uy ban đốc chính do quốc hội bầu ra. Uy ban này nắm quyền cử hoặc cách chức bộ trưởng mà không cần đến quốc hội.

Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản ủng hộ viên tướng trẻ napôlêông bônapac thực hiện cuộc chính biến, xoá bỏ chính quyền đốc chính và thiết lập chính quyền mạnh mẽ kiểu độc tài. Năm 1799 Napôlêông tự xưng là hoàng đế và ban hành bản hiến pháp mới. Napôlêông tuyên bố là đại tổng tài suốt đời, lập nên nền đế chế thứ nhất với hình thức chính thể quân chủ lập hiến.

Bài 10: Pháp luật tư sản

I. PHÁP LUẬT TƯ SẢN THỜI KỲ CẠNH TRANH TỰ DO

1. Phân loại hệ thống pháp luật tư sản

- Pháp luật tư sản đã xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến. Nhưng từ khi giai cấp tư sản thiết lập được nhà nước thì pháp luật tư sản mới mang tính hệ thống và trở thành một kiểu pháp luật mới.

- Do ảnh hưởng của hai cuộc cách mạng tư sản và sự xâm lược của Anh, Pháp nên pháp luật của hai nước đó có ảnh hưởng tới pháp luật của nhiều nước tư sản khác. Vì vậy, về cơ bản có thể phân chia pháp luật tư sản thành hai hệ thống chủ yếu:

+ Hệ thống pháp luật lục địa: bao gồm pháp luật của Pháp, các nước lục địa Châu Au, một phần lục địa Châu Mỹ La Tinh.

+ Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ: bao gồm pháp luật Anh, Mỹ và các nước thuộc địa hoặc phụ thuộc Úc, Canađa.

- Sự khác biệt của hai hệ thống pháp luật này:

Hệ thống pháp luật lục địa

Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ

Nguồn

Các bộ luật mới được xây dựng

Tiền lệ pháp và bộ luật, nhưng các bộ luật này không được xây dựng mới mà tư sản hoá những bộ luật phong kiến

Trong lĩnh vực điều chỉnh các quan hệ tài sản

Dựa trên những nguyên tắc của pháp luật La Mã

Không theo các nguyên tắc của pháp luật La Mã

Hệ thống pháp luật

Chia pháp luật thành công pháp và tư pháp.

Không phân chia pháp luật thành công pháp và tư pháp

2. Những ngành luật cơ bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do

a. Luật Hiến pháp tư sản

- Cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 khi giai cấp tư sản lớn mạnh và có thế lực lớn trong kinh tế nên muốn vươn lên giành quyền thống trị vô hạn của nhà vua – người đại diện của giai cấp phong kiến. Giai cấp tư sản đề xướng một văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn hẳn các quýêt định của nhà vua và văn bản khác, văn bản ấy được gọi là Hiến pháp. Như vậy, kể từ cách mạng tư sản, khái niệm Hiến pháp với nghĩa là luật cơ bản của nhà nước mới xuất hiện. Nó là một ngành luật mới, được xác lập từ chế độ tư bản chủ nghĩa.

- Hiến pháp tư bản có 3 nhóm chế định cơ bản quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

+ Về chế định bầu cử, Hiến pháp xác định một loạt các biện pháp để hạn chế quyền bầu cử của nhân dân lao động, chẳng hạn:

· Điều kiện về tài sản: cử tri phải là người có số tài sản nhất định (Tây Ba Nha, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Braxin căn cứ vào thu nhập cá nhân, một số nước khác căn cứ vào mức độ đóng thuế cho nhà nước). Về phía người ứng cử, họ phải là người có thế lực kinh tế mạnh vì pháp luật tư sản quy định người ứng cử ký quỹ và gánh chịu mọi chi phí vận động bầu cử .

· Điều kiện về trình độ văn hoá: cử tri phải là người có trình độ văn hoá nhất định.

· Điều kiện về tuổi: cử tri phải từ 21 tuổi trở lên.

· Điều kiện về giới tính: phụ nữ không có quyền bầu cử.

· Về chủng tộc: người da đen, người da đỏ không có quyền bầu cử.

· Điều kiện cư trú: công dân muốn được bầu cử hay ứng cử phải sống cố định tại một nơi trong một khoảng thời gian nhất định.

· Đặc biệt, một số nước tư sản còn quy định có những tầng lớp được quyền bỏ nhiều lá phiếu hơn những cử tri bình thường.

· Về chế định tổ chức bộ máy nhà nước, tuỳ theo từng nước mà có hình thức chính thể khác nhau: quân chủ nghị viện, cộng hòa nghị viện, cộng hoà tổng thống. Dủ ở chính thể nào thì hiến pháp cũng quy định tổ chức của 4 loại cơ quan chủ yếu: nghị viện, chính phủ, toà án và người đứng đầu nhà nước (vua, tổng thống).

+ Về chế định quyền và nghĩa vụ của công dân, hầu hết các Hiến pháp tư sản đều ghi nhận quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Trong thời gian đầu quyền công dân bị hạn chế rất nhiều, nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, dần dần nhà nước tư sản phải ghi nhận thêm một số quyền công dân vào Hiến pháp. Tuy vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân vẫn còn phiến diện, nghĩa vụ thường không đi đôi với quyền lợi.

+ Về chế định tổ chức bộ máy nhà nước, chế định này nhằm củng cố và tăng cường quyền lực của giai cấp tư sản, đàn áp và bóc lột nhân dân lao động. Mục đích của việc ban hành Hiến pháp của giai cấp tư sản là nhằm hạn chế quyền lực tuyệt đối của nhà vua, tách quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thành các quyền độc lập và đối trọng lẫn nhau. Hiến pháp tư sản thường tập trung quy định về nguyên tắc tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của bốn cơ quan nhà nước trung ương: Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ và Toà án.

b. Những chế định của dân luật tư sản

- Nguyên tắc cơ bản của dân luật tư sản là quyền bình đẳng giữa các công dân trong quan hệ pháp luật dân sự.

- Nội dung chủ yếu của dân luật tư sản là bảo vệ quyền tư hữu tư sản, điều chỉnh các văn bản hợp đồng hợp đồng hôn nhân, thừa kế,…

+ Chế định quyền tư hữu tư sản

· Quyền tư hưũ được coi là quyền tự nhiên của con người, nó gồm có 3 quyền: quyền định đoạt, quyền chiếm hữu và quyền sử dụng.

· Luật dân sự chia vật sở hữu gồm 2 loại: động sản và bất động sản

+ Chế định hợp đồng và trái vụ tư sản

· Dân luật tư sản xác định quyền bình đẳng và tự biểu lộ ý chí của các bên.

· Các bộ dân luật tư sản điều ghi rõ những điều kiện bảo đảm hợp đồng:

o Hợp đồng phải được nghiêm chỉnh trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

o Pháp luật chỉ cho phép huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp có sự đồng ý của các bên tham gia.

· Các biện pháp để thực hiện hợp đồng cũng đựơc qui định như: cầm cố, đặt cọc, phạt tiền, bảo lãnh…

· Trái vụ là một quan hệ pháp luật, trong đó một nguời hoặc một số người phải thực hiện một hành vi nào đó đối với chủ thể khác

+ Chế định pháp nhân và công ty cổ phần tư sản.

· Chế định này nhằm củng cố địa vị kinh doanh của nhà tư sản, đồng thời không ngừng tập trung vốn, mở rộng kinh doanh để dẫn tới độc quyền.

· Ban đầu việc thành lập công ty cổ phần phải được Chính phủ cho phép, về sau nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh thì việc thành lập công ty chỉ cần đăng ký với Chính phủ.

· Cơ quan quản lý cao nhất của công ty là hội nghị các cổ đông. Trong hội nghị số đầu phiếu không tính theo đầu người mà tính theo cổ phiếu. Do đó, quyền quản lý công ty thực chất thuộc về các nhà tư bản lớn.

+ Chế định về hôn nhân gia đình.

· Hôn nhân được xem là 1 loai hợp đồng. Việc kết hôn phải có đủ 2 điều kiện sau:

o Người kết hôn phải có năng lực pháp lý

o Hai bên tự nguyện kết hôn với nhau.

· Về hình thức kết hôn, có nước quy định hình thức kết hôn dân sự (do chính quyền chứng nhận), có nước theo hình thức tôn giáo, có nước coi 2 hình thức trên điều có giá trị pháp lý.

· Chế định này củng cố quan hệ không bình đẳng trong gia đình. Người vợ bị hạn chế năng lực pháp lý, đồng thời xác định người chồng là người đứng đầu trong gia đình, bảo hộ người vợ, do đó người vợ phải phục tùng

+ Chế định thừa kế.

· Theo luật dân sự tư sản thừa kế có 2 hình thức:

o Thừa kế theo di chúc: xác định nguyên tắc tự do di chúc. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho những người trong gia đình, một số nước hạn chế sự độc đoán của người lập di chúc.

o Thừa kế theo pháp luật xảy ra khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc được xem là vô hiệu hoặc không giải quyết hết tất cả tài sản.

· Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật thuộc địa, tài sản thừa kế được chuyển thẳng cho những người thừa kế. Còn ở hệ thống pháp luật Anh -Mỹ, tài sản được chuyển cho người trung gian (được chỉ định trong di chúc hoặc do toà án chỉ định). Sau khi người trung gian thực hiện những thủ tục luật định thì tài sản được chuyển hết cho người thừa kế.

c. Những chế định của luật hình tư sản

- So với pháp luật phong kiến, luật hình tư sản có những tiến bộ lớn: chống lại sự độc đoán xét xử của vua chúa; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; không quy định về tội chống tôn giáo….

- Nhưng về bản chất, luật hình tư sản là cơ sở pháp lý để đàn áp nhân dân lao động và các thế lực chống đối khác. Án tử hình được áp dụng với nhiều tội danh không đáng để áp dụng với các biện pháp dã man (cho xe cán, chặt tứ chi và đầu, mổ bụng, moi lục phủ ngũ tạng…). Ngoài ra, nó còn bảo lưu nhiều hình phạt nhục hình như đóng dấu, chặt tay… Về sau, các hình phạt man rợ này bị bãi bỏ và giảm nhẹ hình phạt cho những tội không nghiêm trọng.

- Về hình phạt tù, các nước thường có 3 hình thức: biệt giam, khổ sai và đưa đi đày ở các thuộc địa.

- Từ thế kỷ 19, hình thức án treo bắt đầu được áp dụng ở một số nước.

d. Tổ chức tư pháp và tố tụng tư sản

- So với pháp luật phong kiến, tiến bộ lớn của pháp luật tư pháp là quyền tư pháp được tách ra khỏi quyền hành pháp. Cơ quan hành pháp không được quyền xét xử, quyền này được trao cho một cơ quan chuyên trách là toà án.

- Tố tụng được tách thành tố tụng hình sự và tố tụng dân sự.

- Trong luật tố tụng tư sản, những nguyên tắc cơ bản dần dần được hình thành:

· Nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà: người buộc tội là Viện công tố, người gỡ tội là bị cáo và luật sư bào chữa.

· Nguyên tắc suy đoán vô tội: khi chưa có đủ chứng cứ buộc tội, thì bị can vẫn được xem là người vô tội. Từ nguyên tắc suy đoán vô tội, bị can có quyền được bào chữa, còn trách nhiệm buộc tội thuộc về Ủy viên công tố.

· Bản án được quyết định bởi đa số Hội đồng xét xử

· Không ai có quyền kháng cáo đối với việc trắng án.

· Nguyên tắc không thay đổi thẩm phán.

3. Nhận xét

- Pháp luật tư sản ra đời là một tiến bộ lớn lao trong lịch sử nhà nước và pháp luật:

+ Lần đầu tiên Hiến pháp và một loạt nguyên tắc mới của pháp luật xuất hiện.

+ Kỹ thuật lập pháp với việc phân chia pháp luật thành các ngành luật, các chế định, với việc nêu ra các chế định pháp lý, với việc pháp điển hoá,… đã có sự tiến bộ nhảy vọt. Có thể nói, về phương diện hình thức pháp lý và kỹ thuật lập pháp, sự ra đời của pháp luật tư sản là một cuộc cách mạng trong luật pháp.

+ Trong những thế kỷ 17 đến 19, pháp luật tư sản đã đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.

- Những thế kỷ 17 - 19 cũng là thời kỳ từng bước hình thành và phát triển nền dân chủ tư sản và nó được thể chế hoá bằng pháp luật. Pháp luật thành một phương tiện quan trọng nhất của nhà nước tư sản để quản lý xã hội.

- Hệ thống pháp luật tư sản tuy đã ra đời nhưng chưa đầy đủ và hoàn thiện. Thời kỳ này, khối lượng các văn bản pháp luật chưa nhiều. Và cũng khác với thời kỳ tư bản chủ nghĩa độc quyền, pháp luật tư sản ở thời kỳ này bảo vệ tự do cạnh tranh trong sản xuất và trao đổi tư bản của các nhà tư sản.

- Tuy nhiên, trong giai đoạn nào thì nhà nước và pháp luật tư sản đều thể hiện đầy đủ bản chất giai cấp của nó.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code