Showing posts with label CAC VAN DE XA HOI. Show all posts
Showing posts with label CAC VAN DE XA HOI. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

PHẢI CHĂNG CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI ĐANG CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

PGS.TS. PHƯƠNG NGỌC THẠCH
Như chúng ta biết, đất đai là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị của con người. Chính sách đất đai nhà ở tác động đến tăng trưởng kinh tế, có tác dụng biến hiện vật đất đai nhà ở thành giá trị tạo ra ngân sách, nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế và kéo theo sự phát triển của các ngành có liên quan, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai ngày càng hiếm hoi và chất lượng nhà ở.
Vì vậy có ý kiến cho rằng sau chiến tranh VN chúng ta không có tài sản gì ngoài khai thác tài nguyên có sẵn trong đó có đất đai để phát triển Song kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy đất đai không phải nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Việc thiếu vắng những tài nguyên thiên nhiên, đã nhập khẩu gần như toàn bộ nguyên liệu, Nhật, Đức và những nền kinh tế châu Á khác trong vài thập niên gần đây đã phát triển nhanh chóng bằng cách dựa vào nguồn vốn con người (công bằng xã hội, giáo dục đào tạo tốt và ý thức dân tộc cao) chứng minh điều đó.
Kinh nghiệm các nước
Hơn nữa chính sách đất đai không đúng đắn mang lại bất lợi nặng nề đối với phát triển kinh tế-xã hội. Sự thất bại về chính sách đất đai ở một số nước cho chúng ta nhiều bài học cần xem xét rút kinh nghiệm.

Tại Hàn Quốc giá đất đã tăng nhanh, năm 1975 giá đất trung bình đã tăng 13,3 lần trong cả nước và 28,5 lần tại TP Seoul, trong khi chỉ số giá nhà ở đã tăng gấp 6,8 lần và chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,6 lần, tại Seoul chỉ số giá nhà ở tăng gấp 6 lần chỉ số giá tiêu dùng. Khủng hoảng bất động sản (BĐS) vào cuối những năm 1980 vô cùng nghiêm trọng, xung đột bạo động xảy ra dai dẳng. Mặc dù mức lương tăng nhanh, công nhân nhận thấy rằng thu nhập của họ không bắt kịp giá nhà và tiền thuê nhà gia tăng. Theo ước tính chỉ một mình lãi vốn có được từ việc gia tăng giá đất năm 1989 đã nhiều hơn 35% tổng thu nhập do toàn thể người lao động đô thị kiếm được trong năm đó, mặt khác giá đất tăng làm cho chi phí đền bù đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng tăng, đưa đến chi phí xây dựng đường xá tốn kém như 1970-1972 chi phí 90-100 triệu Won/km, năm 1993 chi phí 27.000 triệu Won/km, gấp 270 lần, tạo nên sự bất ổn đe dọa các lợi ích và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt vì lạm phát giá đất ở mức quá cao khiến nếu không kiểm soát giá, thì tăng trưởng kinh tế bị giảm và phúc lợi công dân bị ảnh hưởng.
Ở Thái Lan thị trường đất đai sôi động đã đẩy giá đất đạt mức chưa từng có và thu nhập từ những giao dịch này cũng rất cao, đầu tư vào các chứng khoán bất động sản đứng thứ 3 trong số các loại cổ phiếu và tài khoản, một phần đầu tư trong hai loại đầu tiên (thứ nhất và thứ hai) cũng dựa trên đất, đưa đến khủng hoảng kinh tế tài chính của Thái Lan trước đây.
Ở Trung Quốc theo báo cáo của Ủy ban cải cách và phát triển nhà nước, sự bùng phát thị trường nhà đất ở nước này có nguy cơ sụp đổ do việc có đến 61% vốn đầu tư vào địa ốc là vốn vay ngân hàng và khoảng 120 triệu m2 nhà ở không bán được, nếu không có các biện pháp hạ nhiệt thị trường này sự sụp đổ của nó sẽ ảnh hưởng đến toàn thể nền kinh tế. Để hạn chế tác động xấu của thị trường đất đai nhà ở đến phát triển kinh tế-xã hội, các nước đã phải đưa ra những biện pháp chính sách kìm hãm sự sôi động của thị trường đất đai nhà ở.
Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra các biện pháp nhằm giảm đáng kể những lợi nhuận tạo ra từ đầu cơ bất động sản, đã vạch ra chính sách mới chủ yếu tập trung phạt những hộ giữ đất quá nhiều hay không cần thiết. Các biện pháp cấm đầu cơ và ổn định giá đất năm 1978 được thực hiện bằng cách tăng thuế đối với lãi vốn từ việc bán đất và sở hữu đất nhàn rỗi, chính phủ đưa ra thuế sở hữu đất toàn diện, lũy tiến theo quy mô đất, gia tăng gánh nặng thuế lên vai người sở hữu đất quy mô lớn, sau đó ban hành thuế lượng gia giá trị đất được dùng đánh vào đất nhàn rỗi với mục đích đầu cơ. Đồng thời chính phủ quy định mức trần diện tích đối với đất thổ cư đô thị/hộ buộc chủ đất sang nhượng đất dư thừa, thuế dư thừa ở mức đến 11% giá trị thị trường của đất dư thừa. Ngoài ra đưa ra lệ phí đầu tư đánh vào đất phát sinh lợi nhuận nhờ đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ.
Tại Malaysia chính phủ ngăn chặn việc tích tụ đất của những người mua được đất rẻ, buộc đất phải được phát triển trong vòng hai năm kể từ khi chuyển quyền sở hữu. Chính quyền ban hành một loạt thuế, thuế thu nhập bất động sản được dùng để giảm thiểu sự đầu cơ đất và bất động sản. Chính phủ yêu cầu chủ đầu tư tư nhân phải dành một tỷ lệ 30% những căn hộ giá rẻ, giảm giá bán 5-15% cho nhóm người Malaysia có thu nhập thấp nghèo. Chính phủ đã đề ra các biện pháp nhằm giảm đáng kể những lợi nhuận mà tạo ra đầu cơ bất động sản. Chính phủ thu hồi đất tư khi muốn thực hiện những dự án quy mô lớn, có những luật thu hồi đất đai rất mạnh không những cho những dự án công cộng mà còn để bán lại cho tư nhân. Chính phủ can thiệp vào phát triển đất đai thông qua việc kiểm soát quy hoạch và đất đai. Không ai có thể tiến hành bất kỳhình thức phát triển đất đai nào nếu không được sự cho phép của chính quyền địa phương.
Để ngăn chặn những người mua được đất bán lại để thu lợi nhuận nhanh chóng, các lô nhà phải kèm theo điều kiện là chúng không thể được bán hoặc chuyển nhượng nếu không được chiùnh quyền cho phép.
Ở Trung Quốc chính phủ thông qua một lọat biện pháp ngừng cấp giấy phép cho các công ty phát triển nhà cửa muốn xây dựng các khu nhà ở quan trọng, các biệt thự cao cấp và nhà nghỉ ở ngoại ô. Thị trường nhà ở cao cấp được chính phủ quản lý chặt chẽ.
Chính sách đất đai ở VN
Ở VN phải chăng chính sách đất đai đang đi theo con đường mà các nước trong khu vực đã trải qua và thất bại mà không rút kinh nghiệm. Chính sách đất đai của nước ta hướng tới mục đích đất đai là nguồn thu lớn của ngân sách, chủ trương giá đất theo giá thị trường và khuyến khích đấu giá đất để đất có giá cao đã làm giá đất tăng lên nhanh chóng. Giá cả đất đai ở nước ta đã tăng lên giả tạo gấp hàng chục lần chỉ trong thời gian ngắn. Các nhà đầu tư dựa vào lợi nhuận thấy các thị trường khác không hấp dẫn bằng thị trường bất động sản, đã lao vào kinh doanh bất động sản. Cụ thể là các đại gia giàu lên vì mấy cơn sốt giá : 2 cơn sốt giá đất năm 1993 và năm 2001, hiện nay lại đang có cơn sốt giá đất lần thứ 3. Theo tính toán tỷ suất lợi nhuận kinh doanh trong lĩnh vực đất đai địa ốc ở VN luôn cao hơn Thái Lan trên 10%. Chính vì thế nhiều nhà đầu tư nước ngòai đã đến VN để tìm cơ hội đầu tư vào thị trường bất động sản (BĐS). Có khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan …phối hợp với các doanh nghiệp trong nước để đầu tư xây dựng các chung cư cao tầng, cao ốc.
Theo đánh giá chính sách đất đai đã tác động không thuận lợi đến phát triển kinh tế-xã hội nước ta, thể hiện như:
Thứ nhất: Làm cho nền kinh tế phát triển lệch lạc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đúng hướng, không hiệu quả.
Các nhà đầu tư chỉ dựa vào lợi nhuận đơn thuần mà tiến hành đầu tư, lĩnh vực và những ngành ít có lợi nhuận không phát triển được, chỉ phát triển các ngành thu lợi nhuận cao. Thực vậy, ở VN các thị trường khác không hấp dẫn các nhà đầu tư bằng thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản, nên các nhà đầu tư tập trung đầu tư vào 2 lĩnh vực đang tăng trưởng nóng tại VN là địa ốc và chứng khoán, ngoài ra đầu tư phát triển các ngành có vốn đầu tư ít nhưng có lợi nhuận tương đối cao như các ngành sử dụng nhiều lao động, gia công, hàm lượng chất xám ít, hàm lượng tri thức trong sản phẩm thấp, còn các ngành có lợi nhuận thấp, đầu tư lớn như các ngành công nghiệp nặng, các ngành công nghệ cao, các ngành dịch vụ cao cấp phát triển còn rất ít.
Thứ hai: Gây nên giá cả tăng và lạm phát phi mã, theo dự báo chỉ số CPI có thể lên đến 11% năm 2007.
Các ngân hàng thương mại nước ta đẩy mạnh cho vay tiền mua đất, bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán. Mới chỉ có 9 tháng 2007 lợi nhuận của nhiều ngân hàng cổ phần đã tăng gần gấp rưỡi tổng lợi nhuận của cả năm 2006. Nguồn cho vay dư thừa từ phía ngân hàng mua BĐS, cổ phiếu ồ ạt là nguyên nhân của sự bùng nổ lạm phát. Các ngân hàng lớn ở châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Thái Lan… cũng đã từng lâm vào tình trạng hết sức khó khăn khi cho vay vốn quá lớn đầu tư vào bất động sản.
Thứ ba: Chính sách sẵn sàng về đất cho đầu tư nước ngoài vẫn chưa làm được.
Theo ban quản lý các KCN, KCX, đầu tư vào các KCN giảm nguyên nhân chính là do các KCN không có sẵn đất để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư do thiếu quỹ đất, mặc dù khách hàng không thiếu, trong khi quỹ đất còn nhiều nhưng lại không khai thác được do giá đền bù giải toả tăng mạnh, giá san lấp mặt bằng lớn. Các nhà đầu tư nước ngoài cho thấy rào cản vẫn là thủ tục và đất đai. Tổng lãnh sự Mỹ tại TP.HCM cho rằng cần phải có chính sách rõ ràng về đất đai, công khai minh bạch, phải có sự ưu tiên nào đó nếu không đất sẽ rơi vào tay những kẻ đầu cơ và nhà đầu tư sẽ bỏ đi.
Thứ tư: Giá đất tăng đẩy chi phí sản xuất kinh doanh lên cao.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế, giá hầu hết các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của VN đều cao hơn các đối thủ cạnh tranh, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mặt khác giá thuê đất cao nhất trong khu vực, đã tác động không nhuận lợi đến vốn cho sản xuất, đến xây dựng các dự án công nghiệp, dịch vụ, buộc các công ty kể cả các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đến các nước khác có giá đất rẻ hơn.
Giá cả đất đai của các thành phố của nước ta cao hơn so với các nước trong khu vực, giá thuê đất TP.HCM gấp 4-6 lần Trung Quốc, 6 lần Thái Lan. Phóng viên thường trú một tờ báo tại Paris tại VN có nhận xét nhà Sài Gòn đắt hơn bên Pháp. Ở Pháp biệt thự rộng gần 400 m2, tòa nhà khá đẹp mà giá có 1,5 triệu Franc tương đương 3 tỷ đồng. Giá nhà đất của VN không thể đắt hơn các nước phát triển, nơi cơ sở hạ tầng hoàn hảo hơn 100 lần.
Thứ năm: Đẩy chi phí đền bù đất đai lên.
Giá đất tăng làm cho cho xây dựng cơ sở hạ tầng tăng, đưa đến chi phí xây dựng đường xá tốn kém, không phát triển được giao thông, gây nên thảm họa ách tắc giao thông ngày nay.
Thứ sáu: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng do kinh doanh đất đai.
Các đại gia giàu lên vì kinh doanh đất, khoảng cách giàu nghèo của nước ta ngày càng doãng ra: Năm 1996 là 10,6 lần, năm 1999 là 12, l lần, 2001-2002 là 12,5 lần, năm 2005 là 13,5 lần và đang có chiều hướng mở rộng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2006 là 729 USD, nhưng số người nghèo là đại bộ phận chỉ 200 USD/người/năm. Theo ông Roland đang có sự bất bình đẳng, người giàu ở VN đang giàu lên, người nghèo lại nghèo đi.
Thứ bảy: Tình trạng người dân bị mất đất do xây dựng dự án.
Ở nhiều nơi chính sách tái định cư đang bị thương mại hóa khiến người dân sợ giải tỏa. Giải tỏa nhiều tái định cư ít. Việc nhà nước, các đại gia đền bù cho dân bằng khung giá thấp rồi bán nhà, bán nền tái định cư cho dân với khung giá cao là không ổn. Tình trạng một số người dân tập trung ở TPHCM, Hà Nội để khiếu nại, tố cáo về những vấn đề liên quan đến đất đai, chính sách đất đai, chính sách đền bù khi thu hồi đất của nhà nước còn bất cập, đã gây ảnh hưởng không tốt đến an ninh chính trị và trật tự an tòan xã hội.
Kiến nghị
1. Chính phủ cần can thiệp vào phát triển đất đai thông qua việc kiểm soát quy hoạch và đất đai. Không ai có thể tiến hành bất kỳ hình thức phát triển đất đai nào nếu không được sự cho phép của chính quyền. Xử lý kiên quyết tất cả những trường hợp sử dụng đất không hợp pháp.
2. Chính phủ quy định mức trần diện tích đối với đất thổ cư đô thị/hộ, buộc chủ đất sang nhượng đất dư thừa, không công nhận quyền sử dụng đất đai với số diện tích không hạn chế.
3. Ban hành thuế đánh mạnh vào đầu cơ đất đai, gia tăng gánh nặng thuế lên vai người sở hữu đất quy mô lớn, đánh thuế lũy tiến đối với người có nhiều nhà, đất vượt hạn mức quy định, hoặc có nhà đất nhưng không đưa vào sử dụng. Đưa ra lệ phí đầu tư đánh vào đất phát sinh lợi nhuận nhờ đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ.
Kết luận
Đối với VN thị trường đất đai nhà ở hoạt động đang có vấn đề, không lành mạnh. Nếu hoạt động của thị trường đất đai nhà ở diễn ra như hiện nay thì sẽ tác động xấu đến thu hút đầu tư nước ngoài, đến phát triển kinh tế-xã hội nước ta. Đến nay không một nước nào trên thế giới, kểcả các nước trong khu vực có chính sách đất đai như nước ta. Chúng ta đi sau các nước châu Á công nghiệp hóa, có thể học tập kinh nghiệm của các nước này trong vấn đề đất đai nhà ở.
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 206, THÁNG 12 NĂM 2007

Wednesday, February 12, 2014

NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐỀ KHÁNG CỦA NỀN KINH TẾ

VŨ HOÀN NGUYÊN
Thực hiện các cam kết khi ra nhập WTO là bước hoàn thiện trong việc đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Sau gần hai năm ra nhập WTO, những biến cố kinh tế thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam tác động vào chính mình trong bối cảnh hội nhập đã khách quan chỉ ra cho các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế một ứng xử: nâng cao khả năng đề kháng của nền kinh tế sẽ hạn chế được những bất ổn.
Bất ổn kinh tế toàn cầu và những tác động đến Việt Nam
Hai khu vực kinh tế lớn của thế giới là Mỹ và châu Âu đang có sự biến động bất thường theo xu hướng xấu. Từ sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và trước đó là các cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính tiền tệ Mỹ làm cho hàng loạt ngân hàng, công ty bảo hiểm của quốc gia này phá sản và đe dọa phá sản. Giới chức chính trị Mỹ đã sôi sục đưa ra các giải pháp giải cứu. Kinh tế thế giới nín thở theo dõi động thái tiếp theo sau khi lưỡng viện Mỹ thông qua kế hoạch sử dụng 700 tỉ USD giải cứu nền kinh tế. Các quốc gia có nền kinh tế mạnh của châu Âu cũng đang bất ổn và sự bất ổn cũng bắt đầu từ hệ thống tài chính, tiền tệ.

Tuy tình hình kinh tế thế giới diễn biến xấu như trên, nhưng một số nhà quản lý và chuyên gia kinh tế vẫn lạc quan vì nền kinh tế Việt Nam chỉ chịu tác động gián tiếp ở hai lĩnh vực là xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư. Những đánh giá đó là có cơ sở. Nhiều chuyên gia kinh tế của Việt Nam cập nhật thông tin, đánh giá, nghiên cứu và liệt kê ra những nguyên nhân (thứ tự sắp xếp theo mức độ từ quan trọng đến ít quan trọng) là: nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới chưa sâu đến mức nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới; Việt Nam vẫn thực hiện các thể chế kinh tế, phương pháp quản lý có nhiều khác biệt với các quốc gia khác, trong đó sự can thiệp có hiệu quả của Nhà nước vào nền kinh tế khi phát hiện sớm những biểu hiện xấu; các tổ chức tín dụng của nước ngoài chưa đến thời kỳ được hoạt động sâu rộng tại Việt Nam; kinh tế xuất khẩu Việt Nam vẫn nặng về gia công nên hàm lượng xuất khẩu thực thụ thấp, mặt khác, hàng xuất khẩu của Việt Nam thuộc loại nhu yếu phẩm.
Tuy những cơn bão lớn của kinh tế thế giới ít ảnh hưởng lớn đến Việt Nam nhưng những biến động nhỏ hơn, nhưng thường xuyên của thị trường thế giới lại có những tác động ngay lập tức đến nền kinh tế Việt Nam. Thí dụ như, trong khoảng thời gian từ cuối 2007 đến giữa 2008, giá vật tư, nguyên liệu và nhất là nhiên liệu trên thế giới biến động lớn, biến động từng ngày và có những giai đoạn giá vật tư biến động đột biến… thì nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng xấu do: một là, phải nhập hàng hóa vào thời điểm giá cao nhất; hai là, không tận dụng được thời điểm hàng hóa giá cao nhất để bán hàng hóa của Việt Nam. Một số chuyên gia cho rằng, nguyên nhân của nó là nền kinh tế Việt Nam chưa có tiềm năng dự phòng nên cả nền kinh tế và từng lĩnh vực rất dễ bị tổn thương. Theo các chuyên gia này, mức độ dễ tổn thương được xếp theo thứ tự: ngành nông nghiệp vừa không được bảo hiểm, vừa thường gặp rủi ro về thiên tai và dịch bệnh; ngành công nghiệp tiêu dùng phải cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia có nguồn lao động rẻ, có năng lực sản xuất cao, vật tư và phụ kiện cũng được sản xuất trong chính nước họ.
Ngoài các tác động của kinh tế thế giới thì những vấn đề tầm nhìn kinh tế, tính thiếu tập trung trong quản lý và hoạch định chính sách, việc bình quân các chủ trương và chỉ tiêu giữa các địa phương đã làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả hoặc bị suy giảm nguồn lực.
Một số chuyên gia dẫn ra một vài thí dụ: nhiều địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư bằng cách ban hành chính sách ưu đãi làm giảm nguồn lực quốc gia. Nhiều địa phương phát triển thị trường bất động sản và phát triển khu, cụm công nghiệp không đúng hướng làm cho quốc gia mất khoảng 500.000 ha đất trồng trọt. Thiếu quản lý đầu tư và quản lý sản xuất dẫn đến môi trường bị hủy hoại ở quy mô lớn. Vấn đề quản lý đầu tư kém dẫn đến vốn đã thiếu lại còn ứ đọng ở những công trình dở dang. Các tập đoàn sản xuất chưa mạnh nay lại đầu tư phân tán, giảm hiệu quả của các nguồn lực v.v…
Những việc làm kể trên đã làm nền kinh tế giảm sức để kháng.
Tăng cường khả năng đề kháng, bài học từ nhiều phía
Nhiều quốc gia trước khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới tỏ ra khá bình tĩnh để tự nâng cao năng lực, nâng cao sức đề kháng của mình, đồng thời kiên trì đàm phán quốc tế để ký kết các thỏa ước kinh tế có lợi nhất cho họ. Tùy theo hoàn cảnh từng nước mà các quốc gia này có những cách ứng xử khác nhau. Câu chuyện trước đây và hiện nay của nước Nhật vẫn cần xem là bài học kinh điển cho công cuộc hội nhập.
Các nhà kinh tế Nhật không tuyên bố, nhưng dường như mỗi tập đoàn kinh tế, mỗi doanh nghiệp của họ đều chia sản xuất ra làm 2 khối: sản xuất hàng hóa cho thị trường nội địa và sản xuất hàng hóa cho thị trường xuất khẩu. Hàng nội địa của họ thường có chất lượng cao hơn hàng xuất khẩu. Bài học khác của Nhật là, cả thế giới sử dụng hệ thống điện 220V-50Hz nhưng trên quy mô toàn quốc, nước Nhật sử dụng loại điện áp 100V-60Hz. Chuyện nhỏ như thế thôi, nhưng không một loại hàng hóa điện, điện tử hoặc các loại hàng hóa nào có sử dụng điện của nước ngoài có thể vào được nước Nhật. Mặc dù Nhật tham gia vào các cam kết đơn phương, đa phương nhưng không quốc gia nào có thể kiện được cách làm của họ là hàng rào thuế quan hay phi thuế quan cả.
Nếu Nhật Bản là một giải pháp đặc biệt thì các quốc gia khác lại dùng các giải pháp phổ thông, rất có hiệu quả, đó là phối hợp giữa thu thập thông tin kinh tế phân tích để dự báo vĩ mô và tạo lập quỹ dự phòng quốc gia không chỉ là ngoại tệ mà cả các loại vật tư, nhiên liệu. Phương pháp này tạo ra nền sản xuất khá ổn định, giá hàng hóa rẻ và không thả nổi giá cả nội địa theo giá hàng ngày, hàng tháng của thị trường thế giới.
Quản lý kinh tế thương mại tập trung và có giải pháp linh hoạt hàng ngày, hàng tuần và cho từng loại hàng hóa đối với từng khu vực cửa khẩu là phương pháp quản lý biên mậu của Trung Quốc. Với tầm nhìn quốc gia, thống nhất hành động cho mọi doanh nghiệp khi cùng mua hoặc cùng bán một loại hàng hóa thường tránh được rủi ro cho mỗi doanh nghiệp và mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp của quốc gia mình.
Nhiều quốc gia, cụ thể là Trung Quốc có phương pháp quản lý ngoại hối rất chặt chẽ. Nhà nước và các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều thông qua ngân hàng thương mại trong việc giao dịch ngoại tệ.
Tăng trưởng bền vững, giải pháp tự vệ tốt nhất
Vấn đề tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao đã được nền kinh tế Việt Nam thực hiện liên tục từ 1986 đến nay. Gần đây, chúng ta đã chú ý đến các giải pháp tăng trưởng bền vững, tuy nhiên khi các giải pháp này đang được nghiên cứu và hoạch định một cách bài bản thì chúng ta lại phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao nhất trong nhiều năm nay.
Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước là, trong những tháng còn lại của năm 2008 và năm 2009, phát triển kinh tế – xã hội vẫn phải đồng thời vừa kiềm chế lạm phát, vừa bảo đảm mức tăng trưởng kinh tế 7%, trong đó, kiềm chế lạm phát là cần thiết và được ưu tiên. Do đó, những phương châm và giải pháp quan trọng tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Hội nghị Trung ương 8 từ ngày 2 đến ngày 4-10-2008 đã đánh giá: kinh tế nước ta vẫn còn không ít khó khăn. Lạm phát còn cao, nhập siêu còn lớn, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc; tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, chất lượng, hiệu quả còn thấp; sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân, nhất là những người lao động, cán bộ, công chức, người trong diện hưởng bảo hiểm và trợ cấp xã hội có thu nhập thấp, người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn; việc xử lý một số vấn đề xã hội bức xúc còn hạn chế; cải cách hành chính chậm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm chưa đạt kết quả như mong muốn; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên một số địa bàn vẫn phức tạp; công tác chỉ đạo điều hành tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong thời gian tới.
Trên cơ sở dự báo, phân tích tình hình thế giới và đất nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2006 – 2010), Ban Chấp hành Trung ương đã xác định mục tiêu tổng quát cho năm 2009 là: Tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần, phấn đấu đến năm 2010 đưa tốc độ lạm phát xuống một con số, ổn định dần kinh tế vĩ mô; bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội; duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững; nâng cao hiệu quả hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 do Đại hội X của Đảng đề ra.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, cần tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư hạ tầng kinh tế – xã hội và phát triển sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế; tạo mọi điều kiện để khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu và bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; thực hiện mạnh mẽ các biện pháp tạo việc làm, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục tăng đầu tư ngân sách nhà nước và đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học – công nghệ và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm; tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng công tác thông tin, tư tưởng…/.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (163) NĂM 2008

ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN DIỆN MỨC ĐỘ TỰ DO KINH TẾ Ở VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
Chỉ số xếp hạng tự do kinh tế đã đánh giá nền kinh tế VN là hầu như không có tự do kinh tế (điểm xếp hạng từ 3 đến 3,99 trên 5 điểm được xem là hầu như không có tự do kinh tế). Điều đáng ngại hơn nữa là nếu so sánh với các nước trong khu vực thì môi trường tự do kinh tế của VN hiện đang đứng ở vị thế thấp nhất và thua xa so với Campuchia, một quốc gia chỉ mới là thành viên của WTO trong vài năm gần đây và được xếp hạng có môi trường tự do hóa kinh tế ở mức cao.
Một chuyện có thật xảy ra ở Trung Quốc vào khoảng năm 1920, một ông khách Tây tới thăm phố Hàng Châu và khen ngợi những người phu kiệu cho ông mặc dù còn đang rất mỏi mệt vẫn cười đùa ầm ĩ. Ông cho rằng những người phu khiêng kiệu rất lạc quan và biết cách sống. Đã có rất nhiều những đánh giá khác nhau từ câu chuyện này. 
Người nước ngoài đi đến đâu cũng vậy, cứ ban phát vô tư những lời khen tặng bởi họ có mất mát gì đâu cho nên cười theo kiểu như thế là vô cảm và vô trách nhiệm, không thấy được nỗi nhục của sự tụt hậu. Người thì cho rằng cần phải lạc quan và yêu đời để vượt qua những thách thức của cuộc sống. Nhưng có trách nhiệm hơn cả, có lẽ là một thái độ nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm khắc hơn nữa về những gì mà chúng ta vẫn còn chưa làm được. 
Liên hệ với VN, dễ thấy rằng hễ có bất kỳ một khách ngoại quốc nào khen tặng những thành tựu kinh tế của chúng ta trong thời gian qua thì y như rằng hầu hết các phương tiện truyền thông đều đưa lên những hàng tít lớn. Khó có thể bình luận thực hư gì về những nhận xét kiểu như thế này bởi trong những lời khen tặng đó có những câu chuyện có thực, cũng có những điều mang tính ngoại giao.
Bài viết này không có ý định nhận xét về những nhận định của các cá nhân hoặc các tổ chức nước ngoài về thành tựu kinh tế của VN mà thay vào đó là những nhận định và phân tích của họ về những gì mà chúng ta còn chưa làm được trong hơn 10 năm qua. Và phạm vi cũng chỉ giới hạn xoay quanh câu hỏi có liên quan rất lớn đến môi trường đầu tư cũng như những cơ hội và thách thức của VN trong lộ trình hội nhập vào WTO vào năm 2005, đó là “Có tự do kinh tế ở VN hay không?”. 
Để trả lời cho câu hỏi “Có tự do kinh tế ở VN hay không?”, trước hết chúng tôi đã tiến hành các nghiên cứu của mình dựa trên đánh giá của chỉ số xếp hạng tự do kinh tế. Đây là báo cáo hàng năm của Heritage Foundation và Wall Street Journal (chuyên về xếp hạng tự do hóa của các nước thông qua chỉ số tự do kinh tế – Index of Economic Freedom) trong giai đoạn từ 1995 đến 2005 (điểm 1 là xếp hạng cao nhất và điểm 5 là thấp nhất). 
Những đánh giá trong chỉ số tự do kinh tế đã được các tác giả của Heritage Foundation và Wall Street Journal tập hợp rất công phu từ nhiều nguồn số liệu của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB v.v. cùng với các cuộc phỏng vấn chính thức hoặc thông qua Internet với các quan chức ở các quốc gia trên toàn thế giới. Chỉ số tự do kinh tế dựa trên căn bản của 50 biến số độc lập và được phân ra thành 10 nhóm nhân tố khác nhau và mỗi nhân tố đều có trọng lượng quyền số như nhau. Không có nhóm nhân tố nào có tỷ trọng cao hơn do mục đích của các đánh giá này là các quốc gia nếu muốn tăng chỉ số tự do trên bảng xếp hạng buộc phải có những cố gắng toàn diện chứ không phải chỉ tập trung vào một vài nhân tố cá biệt nào đó như là nhân tố ổn định chính trị chẳng hạn. 
Ngoài việc tham khảo dựa trên xếp hạng chỉ số tự do kinh tế, chúng tôi còn dựa trên báo cáo của Bộ thương mại Mỹ về tình trạng kinh tế thị trường/phi thị trường của VN và cùng với nhiều tài liệu khác như của IMF, UNDP, của các tổ chức xếp hạng khác cùng với những nghiên cứu của bản thân trong nhiều năm qua để đánh giá mức độ tự do hóa kinh tế của VN giai đoạn 1995-2005. 
1. Chính sách thương mại 
Chính sách thương mại và đầu tư tạo ra nhiều chi phí lớn cho nền kinh tế. Điều đầu tiên rất dễ nhận biết là các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước của chúng ta trong thời gian qua chủ yếu hướng đến lợi ích của khu vực kinh tế nhà nước. Khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn được hưởng những đặc lợi từ độc quyền do chính sách bảo hộ đem lại. Trong khi khu vực kinh tế này luôn luôn bị đánh giá là làm ăn kém hiệu quả thì sự bảo hộ như thế sẽ góp phần làm méo mó sự phân bổ nguồn lực của đất nước khi phát huy lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế. 
Rõ ràng trong tương lai những dạng chính sách này sẽ còn làm hạn chế rất nhiều đến khả năng tăng trưởng kinh tế của VN. Những đánh giá gần đây cho thấy, những ngành công nghiệp mà các DNNN đang hoạt động không những chỉ hạn chế trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên truyền thống mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực thực phẩm, bán buôn, xăng dầu, các sản phẩm công nghệ thông tin, một số sản phẩm cơ khí và điện tử, sản xuất kim loại thép và kim loại màu, các hóa chất cơ bản, phân bón, xi măng, xây dựng và dược phẩm. Chưa đủ mà còn thêm vào đó là những khuynh hướng của Chính phủ trong việc hình thành một số các tổng công ty lớn độc quyền trong các lĩnh vực vốn dĩ từ trước đến nay đã là siêu độc quyền như tài chính ngân hàng bưu chính viễn thông bất chấp việc các tập đoàn nhà nước này kinh doanh có hiệu quả thật sự hay không bởi chúng ta không có những số liệu kiểm toán đáng tin cậy để đánh giá một cách chính xác. 
Kết quả của những chính sách này ngày càng làm cho cạnh tranh giữa khu vực nhà nước và của các thành phần kinh tế khác trở nên mất cân xứng và làm biến dạng đáng kể các loại giá cả trong nền kinh tế, một tiền đề vô cùng quan trọng cho tiến trình hội nhập kinh tế thành công. Cần lưu ý là những xu hướng không lành mạnh như trên vẫn diễn ra bất chấp diễn tiến hiện nay ở các nước trong khu vực trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. 
Điểm về chính sách thương mại của VN thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp nhất trong năm 2005: 5 điểm. 
2. Tiền lương và giá cả 
Nhà nước vẫn còn kiểm soát giá cả nền kinh tế quá sâu và theo cách thức không dự báo trước được. Với mục đích kiểm soát lạm phát, giá cả của các hàng hóa và dịch vụ như điện nước, viễn thông, xăng dầu, giá dịch vụ vận chuyển v.v. hiện nay đang được Chính phủ kiểm soát rất chặt. Các nhà đầu tư nước ngoài – theo đánh giá trong chỉ số tự do kinh tế – hiện đang phải chi trả cho các dịch vụ độc quyền trên với mức giá “cao hơn” so với các doanh nghiệp trong nước, mặc dù họ có nhận xét rằng chúng ta đang trong quá trình xóa bỏ các rào cản dẫn tới các phân biệt đối xử này. Ngoài ra, hệ thống tiền lương hiện cũng chưa phản ánh đúng trình độ thực sự của người lao động nếu so với tiền lương trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, giá cả và tiền lương hiện vẫn chưa phản ánh đúng các diễn biến cung cầu trên thị trường và vẫn còn bị bóp méo đáng kể. 
Có một điểm tiến bộ trong lĩnh vực tự do hóa giá cả là Chính phủ đã hủy bỏ hầu hết những kiểm soát giá cả vào năm 1992, trừ những lĩnh vực liên quan đến độc quyền nhà nước và giá cả những mặt hàng thiết yếu đối với nền kinh tế bao gồm điện, dịch vụ bưu chính và điện thoại. Pháp lệnh về giá năm 2002 cũng hạn chế phạm vi định giá của Nhà nước vào những lĩnh vực đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản nhà nước, hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân, hoặc những hàng hóa dịch vụ thuộc độc quyền nhà nước. Pháp lệnh này được coi là biện pháp tạm thời ngăn chận lạm dụng giá độc quyền nhà nước cho đến khi luật cạnh tranh có hiệu lực. 
Mặc dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực tự do hóa giá cả, nhưng theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, hiện vẫn còn một số những tồn tại đáng kể có thể ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình hội nhập, ví dụ như biện pháp kiểm soát giá điện. Thậm chí mỗi khi Công ty điện lực VN thiếu vốn để đầu tư, họ lại đưa ra những đề xuất về tăng giá điện và thậm chí ngành này còn có hẳn một lộ trình tăng giá điện trong vòng nhiều năm. Chỉ đến khi gặp phải sự kháng cự từ công luận lộ trình tăng giá điện mới tạm thời được khép lại trong năm 2004 vừa qua. 
Ngoài ra, Ban vật giá chính phủ mà hiện nay là Bộ tài chính vẫn còn tham gia đáng kể vào tiến trình định giá không những chỉ đối với các sản phẩm và dịch vụ như điện, viễn thông, nước, vận tải hàng không và đường sắt mà còn lan sang cả những lĩnh vực khác như xi măng, sắt thép và các sản phẩm công nghiệp khác như dược phẩm chẳng hạn. 
Cần phải thấy rằng, các nhà đầu tư nước ngoài đã có những đánh giá tốt những nỗ lực của Chính phủ trong các biện pháp kiểm soát giá độc quyền để đảm bảo giá cả của những hàng hóa và dịch vụ cơ bản ở mức chấp nhận được với đại đa số dân chúng. Nhưng cái làm cho tiến trình kiểm soát của chúng ta có vấn đề và không nhận được sự đồng tình cao trong các nhà đầu tư là Chính phủ vẫn còn tham gia điều chỉnh đáng kể đối với một số mặt hàng công nghiệp như thép, xi-măng, điện và theo một cách thức không dự báo trước được. Nói cách khác diện kiểm soát của chúng ta quá dàn trải và quá sâu. 
Điểm về tiền lương và giá cả thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp trong năm 2005: 3,5 điểm. 
3. Dòng vốn và đầu tư nước ngoài 
Chừng nào vẫn còn giới hạn tỷ lệ sở hữu của nguời nước ngoài, môi trường đầu tư vẫn sẽ còn xấu đi nhiều. Đầu tư nước ngoài mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhưng các rào cản vẫn còn đáng kể. Hạn chế lớn nhất vấn là giới hạn 30% tỷ lệ sở hữu tối đa của người nước ngoài. Ngoài ra những tiếp cận của người nước ngoài với ngoại tệ trong các giao dịch vãng lai và trên tài khoản vốn vẫn còn phải được sự đồng ý của Chính phủ. Thêm vào đó là các phiền phức và rắc rối trong các thủ tục hành chính phức tạp ở VN có liên quan đến đầu tư nước ngoài. 
Có lẽ vấn đề chính sách trọng tâm nhất trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ngay trong năm 2005 – thời điểm quyết định chúng ta có được hội nhập vào WTO đúng như kỳ vọng hay không – là một khẳng định với cộng đồng quốc tế việc xóa bỏ hoàn toàn những hạn chế tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ phải công bố công khai ngay lập tức một số rất ít các lĩnh vực nằm trong danh mục cần phải hạn chế tỷ lệ nắm giữ sở hữu của người nước ngoài. Những lĩnh vực này chỉ có thể là hai nhóm: hoặc là dầu khí hoặc là có liên quan đến an ninh và quốc phòng mà thôi. Các ngành nghề khác phải được hội nhập ở mức cao nhất kể cả trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông v.v. Trong những lĩnh vực này nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ tỷ lệ sở hữu ở mức cao nhất là 100%. 
Đương nhiên câu hỏi mà nhiều người luôn đặt ra như là một kênh phản biện chính sách, đó là vấn đề an ninh quốc gia. Câu trả lời ở đây lại liên quan đến các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi rửa tiền, bảo vệ các cổ đông thiểu số, các hành vi đào thoát vốn cùng với các vấn đề khác có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Đây là một thách thức không nhỏ cho các nhà hoạch định chính sách trong thời gian tới. Tuy nhiên không thể chờ đến khi nào hệ thống pháp luật của chúng ta hoàn chỉnh việc hội nhập mới ở mức cao nhất. Quá trình hội nhập thậm chí có thể đi trước một bước như là một sức ép lên các nhà lập pháp. Càng chờ đợi, nguy cơ tụt hậu – vốn đã xa lắm rồi- giờ đây lại còn có khả năng bị bỏ rơi (xin xem xếp hạng chỉ số tự do hóa kinh tế ở phần cuối của bài viết này để thấy rằng Campuchia giờ đây cũng đã hơn xa VN về mức độ tự do hóa kinh tế).  
Điểm về dòng vốn và đầu tư nước ngoài thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp trong năm 2005: 4 điểm. 
4. Gánh nặng tài khóa 
Tham nhũng lãng phí và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản chứ không phải thuế đã làm tăng gánh nặng tài khóa lên công chúng. Theo quan điểm thuần túy thị trường, nếu mức thuế mà Chính phủ áp đặt càng cao lên các cá nhân và các doanh nghiệp thì những thành quả mà các cá nhân và doanh nghiệp nhận về sẽ càng ít đi và do đó, nếu xét theo nghĩa này, sẽ càng ít khuyến khích công chúng tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất của nền kinh tế. Mức độ tự do hóa kinh tế do vậy cũng giảm theo tương ứng. Trong khi đó, nếu như những khoản tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ cứ thay đổi hết từ năm này sang năm khác thì cuối cùng các khoản chi tiêu này cũng sẽ được tài trợ thông qua việc tăng thuế ngay bây giờ, hoặc là trong tương lai thông qua việc tăng cung tiền tệ, hoặc Chính phủ bắt buộc phải vay nợ. Cho dù như thế nào đi chăng nữa, nguồn tài trợ cho các chi tiêu của Chính phủ cuối cùng rồi cũng sẽ chuyển dịch sang công chúng gánh chịu. Đó là chưa kể, các chi tiêu tăng lên nhiều hơn sẽ đẩy giá cả nguyên vật liệu, lao động và những thứ khác tăng vọt dẫn đến lạm phát cao. Quá trình này tạo ra cái mà các nhà kinh tế gọi là gánh nặng tài khóa. Như vậy khi Chính phủ tăng (hoặc giảm) chi tiêu, Chính phủ sẽ làm giảm (hoặc tăng) mức độ tự do hóa nền kinh tế. 
Những quan niệm như thế dẫn đến lập luận cho rằng mức độ tự do kinh tế của một quốc gia thường thể hiện qua các chỉ số về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và phần trăm chi tiêu ngân sách chiếm trong GDP. 
Các đánh giá cho thấy các chỉ số này của VN đã có nhiều tiến bộ. Thuế suất thuế thu nhập cao nhất đã giảm từ 50% xuống còn 40%. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao nhất giảm từ 32% xuống còn 28%. Chi tiêu ngân sách chiếm khoảng 26% GDP và có xu hướng giảm đi trong những năm vừa qua. 
Thật nghịch lý khi thuế khóa đáng lý phải là một gánh nặng tài khóa đè lên công chúng thì chúng lại được đánh giá là có nhiều tiến bộ. Trong khi đó, điều đáng quan ngại nhất hiện nay là tình trạng tham nhũng lãng phí và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản hiện đang là thách thức lớn nhất đối với VN trong việc giảm bớt các gánh nặng tài khóa lên công chúng. Bởi suy cho cùng những chi tiêu lãng phí, tham nhũng và thất thoát lớn trong đầu tư xây dựng cơ bản hiện nay cuối cùng rồi cũng sẽ tạo nên sức ép lên tăng thu thông qua thuế khóa. Chính vì thế điểm về gánh nặng tài khóa của chúng ta vẫn còn ở mức rất thấp và dưới trung bình.  
Điểm về gánh nặng tài khóa thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp trong năm 2005: 3,8 điểm. 
5. Quy tắc 
Điểm về các quy tắc của VN trong các báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế thường nhấn mạnh đến tính không minh bạch trong những quy định pháp lý và công bố thông tin và tình trạng tham nhũng lan tràn ở mọi cấp mọi ngành. Chỉ đơn cử luật cạnh tranh mà Quốc hội mới thông qua năm 2004 cũng đã thấy có quá nhiều điều để dẫn đến những bất quy tắc trong hệ thống pháp luật hiện hành. 
Vận động hậu trường đã trở thành phổ biến trong mọi khía cạnh của nền kinh tế. 
Những rắc rối trong quan niệm về cạnh tranh ở VN liên quan đến việc đánh giá để phân biệt được hai khái niệm rất khác nhau: cạnh tranh lành mạnh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng như thế nào là cạnh tranh không lành mạnh lại không được xác định rõ ràng, điều này rõ ràng đã làm cho luật cạnh tranh của chúng ta khá khập khiễng. Một nỗi lo khác là các doanh nghiệp còn e ngại rằng liệu rồi đây ai sẽ là cơ quan đứng ra kiểm tra, thụ lý và xử lý các hành vi vi phạm cạnh tranh. 
Khả năng quản lý độc quyền của Chính phủ là câu hỏi mà các doanh nghiệp rất quan tâm. Có lẽ, cách tốt nhất là về lâu về dài Chính phủ nên hạn chế tối đa sự can thiệp vào thị trường, không quản lý độc quyền, thay vào đó nên giải tỏa độc quyền và để cho thị trường tự do tự giải quyết. Truyền thống ở VN thường có thông lệ là cơ quan quản lý nhà nước thường cũng là cơ quan thụ lý và xử lý các lĩnh vực do mình phụ trách, trong trường hợp này là Bộ thương mại cũng là cơ quan quản lý cạnh tranh. Việc trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh là Bộ thương mại có quá nhiều quyền lực trong bối cảnh cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế vẫn còn nhiều bất cập như hiện nay càng có nguy cơ dẫn đến những méo mó trong các quy tắc mà Quốc hội đã cố công ban hành. 
Liệu rồi đây có còn dẫn tới những bất hợp lý hay không trong phân biệt đối xử hành vi vi phạm luật cạnh tranh giữa các DNNN thuộc Bộ thương mại với các DNNN thuộc các Bộ khác và giữa các DNNN với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh? Đây là câu hỏi được rất nhiều các nhà đầu tư quan tâm nhưng vẫn chưa có những lý giải thỏa đáng từ phía Chính phủ. 
UNDP cũng tỏ ra quan ngại về tình trạng cạnh tranh khốc liệt kiểu cá lớn nuốt các bé ở VN ngay sau khi có luật cạnh tranh. Theo họ để bảo vệ người dân, cần thiết cho phép hình thành nhiều hiệp hội và các tổ chức phi Chính phủ thực hiện vai trò giám sát đối với khu vực doanh nghiệp vì lợi ích của công chúng để đảm bảo tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh. 
Chính những điểm không rõ ràng như trên làm cho các nhà đầu tư dễ dẫn đến những suy diễn cho rằng có lẽ sẽ có lợi hơn nếu vận động hậu trường để được bảo hộ và nhân nhượng hơn là lập kế hoạch hoạt động dựa trên những kỳ vọng hợp lý hoặc theo những quy tắc pháp lý. Sự kiện “không minh bạch” ở tầm vĩ mô trong việc cung cấp quota của Bộ thương mại vào năm 2004 là một đòn khá đau đánh vào những nỗ lực cải cách trên con đường tiến tới minh bạch hóa và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các bất quy tắc đang len lỏi vào mọi ngõ ngách của nền kinh tế. 
Điểm về các quy tắc thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp nhất trong năm 2005: 5 điểm. 
6. Chính sách tiền tệ 
Nỗi lo về khả năng kiểm soát lạm phát của Chính phủ. Chính sách tiền tệ chỉ là một mặt của chính sách tài khóa tiền tệ. Chính sách tiền tệ khó lòng tự chủ khi mà các tác động của Chính phủ cho tăng trưởng kinh tế thông qua các khoản chi cho đầu tư phát triển vẫn còn quá eo hẹp. 
Trong khi đó, chính sách tỷ giá hiện vẫn mới dừng lại ở mức độ “bám sát thị trường” chứ chưa thực sự “theo kịp tín hiệu thị trường”. Về mặt nguyên lý, tỷ giá theo dấu các tín hiệu của thị trường hàm ý đến các dự báo của nền kinh tế đều được thị trường kỳ vọng và đặt hết vào trong tỷ giá giao ngay hiện tại. Tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi mặc dù các diễn biến thị trường lúc đó không biến động. Chúng khác hoàn toàn với cơ chế tỷ giá “bám theo thị trường” như chúng ta dường như đã thực hiện trong thời gian qua. 
Tỷ giá hầu như bị nêm chặt vào mục tiêu kiểm soát lạm phát và do đó chúng liên tục được các quan chức NHNN can thiệp trấn an và dự báo thay cho các tổ chức tư vấn rằng: tỷ giá sẽ không vượt quá một tỷ lệ % nào đó cho mỗi niên độ. Ai cũng biết tỷ giá và lãi suất là cặp phạm trù tương thích nhau, cho nên một khi tỷ giá chưa theo kịp những tín hiệu của thị trường thì lãi suất cũng không thể tự do hóa hoàn toàn được, như tuyên bố của các quan chức NHNN. Do vậy, loay hoay mãi chúng ta cũng chỉ mới đổi mới về mặt hình thức trong các phương thức điều hành lãi suất. Trên thực tế, các mức lãi suất trên thị trường vẫn chưa phản ảnh đúng các quan hệ cung cầu về vốn và lãi suất ngoại tệ vẫn chưa được tự do hóa hoàn toàn. 
Trong môi trường hội nhập, tự do hóa kinh tế phải dựa vào các chính sách tiền tệ toàn diện và một hệ thống tỷ giá hướng về thị trường, chứ không phải một chính sách thương mại có lựa chọn và một hệ thống tỷ giá bị kìm hãm với nhiều hạn chế để điều chỉnh sự mất cân đối trong cung cầu ngoại tệ. Một chính sách tỷ giá theo hướng khẳng định như thế, trên thực tế, không khác gì một chính sách tỷ giá có sự can thiệp quá sâu của Nhà nước. Can thiệp luôn luôn là cần thiết, nhưng cụ thể đến mức công bố đến chính xác từng tỷ lệ % nhỏ như các khẳng định thường kỳ của Thống đốc NHNN thì dễ mâu thuẫn với những gì mà chính các vị này đã nhiều lần phát biểu rằng “sẽ điều hành chính sách tỷ giá theo những tín hiệu của thị trường”. IMF ắt hẳn đã rất không hài lòng về các phát biểu tréo ngoe này trong điều hành tỷ giá ở VN. 
Chúng ta không phê phán chính sách tỷ giá quá mức cố định và cứng nhắc theo kiểu công bố chính thức một biên độ nào đó trong một năm – Chính phủ của nhiều nước cũng đã và đang thực hiện một cơ chế điều hành tỷ giá như trên và cũng đã từng thành công không ít – nhưng vấn đề ở chỗ là kèm theo đó: Chính sách điều hành tỷ giá của VN hiện đang được các quan chức NHNN công khai khẳng định theo hướng một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý. Có thể hiểu phát biểu này rằng, có khả năng trong tương lai hay bất cứ vào lúc nào, Chính phủ sẽ mặc nhiên để cho tỷ giá biến động và rơi tự do theo các diễn biến của thị trường. Như vậy một mặt chúng ta luôn khẳng định tỷ giá sẽ không thể nào vượt quá một biên độ hẹp nào đó, mặt khác chúng ta lại tuyên bố về một khả năng để ngỏ trong tương lai có khả năng tỷ giá sẽ thả nổi (tuy rằng có sự can thiệp của Chính phủ). Những phát biểu không nhất quán như trên sẽ làm cho thị trường không có khả năng lường trước hết các kịch bản xảy ra trong tương lai trên các diễn biến của tỷ giá. 
Tóm lại, khả năng không thể dự báo được về các biến động trong tỷ giá mới chính là điều mà thị trường lo lắng nhất trong chính sách tiền tệ nói chung và trong điều hành tỷ giá hiện nay nói riêng ở VN. 
Mặc dù vậy, nếu chỉ xét riêng các kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ thông qua kiểm soát lạm phát, VN đã được các tổ chức quốc tế như IMF đánh giá khá cao với số liệu công bố của IMF về tỷ lệ lạm phát trung bình hàng năm giai đoạn 1994 đến 2003 là khá thấp, chỉ ở mức 2,96%. 
Tuy nhiên điểm về các chính sách chống lạm phát vẫn còn chưa tính đến tình trạng lạm phát tăng lên ở mức đáng ngại, gần 10% trong năm 2004 và những diễn biến mới nhất về sự hình thành một xu hướng tăng giá tiêu dùng dồn dập dường như là tuân theo một lộ trình đã được sắp đặt sẵn trong những tháng tháng đầu năm 2005. Đây thực sự là một nguy cơ làm hạn chế tăng trưởng của chúng ta trong tương lai. 
Điểm về chính sách tiền tệ thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng cao năm 2005: 1 điểm. 
7. Tài chính ngân hàng 
Độc quyền tuyệt đối trong ngành ngân hàng và vẫn chưa xác định rõ hiện ai đang là chủ sở hữu các NHTMQD. Ngành ngân hàng của VN bị chi phối bởi 4 NHTMQD lớn. Bốn ngân hàng này chiếm khoảng 70% thị phần cho vay trong nước. Nhóm cho vay lớn thứ hai là các ngân hàng nước ngoài với thị phần 15%, tiếp theo là ngân hàng cổ phần với 12%, và các ngân hàng liên doanh đóng góp 3%. 
Tín dụng ngân hàng chủ yếu vẫn tập trung cho các DNNN, hiện nay hơn 50% danh mục cho vay của các NHTMQD là dành cho các DNNN. Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài chủ yếu cung cấp các dịch vụ tài chính cho hoạt động của các công ty đa quốc gia ở VN hơn là tham gia vào cạnh tranh giành các dịch vụ đối với các công ty nội địa. Các ngân hàng cổ phần vẫn là nguồn chủ yếu phục vụ cho khu vực tư nhân trong nước, chiếm khoảng 12% thị phần tín dụng ngân hàng. Thực trạng trên cho thấy có thể hiện nay chúng ta vẫn chưa có một sân chơi bình đẳng cho các loại hình ngân hàng khác nhau. 
“Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2005” của WB đã đặc biệt lưu ý đến tốc độ cải cách chậm trễ trong khu vực ngân hàng khi cho rằng “Đến giờ vẫn chưa rõ ràng ai là chủ sở hữu các NHTMQD. Rất nhiều chi nhánh NHTMQD thường xuyên bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa phương trong việc đưa ra các quyết định cho vay. Họ không được tự quyết các khoản vay dựa trên cơ sở thẩm định độ rủi ro của dự án”. 
Bằng những khảo nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới “Báo cáo phát triển thế giới 2005” của WB còn có những khuyến cáo rằng “Việc có một tỷ lệ lớn sở hữu nhà nước trong khu vực ngân hàng đã làm giảm tiếp cận việc cấp vốn nói chung, giảm cạnh tranh, làm tồi tệ thêm việc phân bổ tín dụng và làm tăng khả năng khủng hoảng tài chính”. 
Điểm về tài chính ngân hàng thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp năm 2005: 4 điểm. 
8. Quyền sở hữu 
Nhà đầu tư mất niềm tin nơi hệ thống tòa án trong các tranh chấp về quyền sở hữu. Điểm về quyền sở hữu của VN được hầu hết các tổ chức xếp hạng quốc tế như Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và tổ chức xếp hạng tự do hóa kinh tế và nhiều tổ chức xếp hạng khác đánh giá rất thấp. Các tổ chức này cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn thiếu niềm tin nơi hệ thống tòa án VN trong việc xét xử các tranh chấp thương mại và quyền sở hữu. Họ rất mất niềm tin nơi hệ thống tòa án của chúng ta và thường yêu cầu các tranh chấp xảy ra phải được đưa ra xét xử tại tòa án kinh tế Singapore. 
Điểm về quyền sở hữu thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp nhất trong năm 2005: 5 điểm. 
9. Can thiệp của Chính phủ 
Can thiệp của Chính phủ hầu như hiện diện trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. 
Toàn bộ các phân tích ở các nhóm nhân tố trên đều cho thấy sự can thiệp của Chính phủ hầu như hiện diện trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ các kiểm soát giá cả, tỷ giá đến những bất quy tắc trong luật lệ dẫn đến cái lệ cho các cuộc vận động hậu trường. Can thiệp của Chính phủ còn thể hiện thông qua tình trạng độc quyền trong những ngành dịch vụ quan trọng của Nhà nước như viễn thông, tài chính ngân hàng v.v. 
Ngoài ra can thiệp của Chính phủ thể hiện rõ nét trong quan hệ của Chính phủ với khu vực DNNN. Cải cách DNNN luôn là vấn đề trung tâm, và là một trong những bước đi đầu tiên trên con đường hội nhập. Cải cách DNNN được giới quan sát trong và ngoài nước đánh giá là hầu như dẫm chân tại chỗ, vẫn còn có quá nhiều thông tư, nghị định về cải cách DNNN nhưng chưa cho thấy có những tín hiệu tốt hơn. Nói cách khác can thiệp của Chính phủ trong khu vực kinh tế quốc doanh vẫn chưa theo kịp với những yêu cầu và các cam kết của quá trình hội nhập cho dù đã đạt được những tiến bộ nhất định. 
Điểm về sự can thiệp của Chính phủ thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp trong năm 2005: 3,5 điểm. 
10. Hoạt động của thị trường không chính thức 
Hoạt động của thị trường không chính thức hiện diện trên mọi loại thị trường hàng hóa dịch vụ và thị trường tiền tệ. Sự tồn tại của thị trường không chính thức suy cho cùng chính là do kết quả từ các hoạt động can thiệp quá sâu của Chính phủ vào nền kinh tế, giống như những gì mà chúng ta đã phân tích trong các phần trên. Những cấm đoán hoặc hạn chế của Chính phủ ở một khu vực này có khả năng sẽ tạo ra một thị trường không chính thức ở khu vực khác. Các quy tắc không minh bạch mà chúng ta đã phân tích trước đây trong phân phối quota sẽ tạo ra một thị trường mua bán ngầm và chuyển nhượng bất hợp pháp quota trên thị trường không chính thức; các rào cản tiếp cận ngoại tệ trên các giao dịch ngoại hối đã làm xuất hiện tình trạng thị trường ngoại tệ chợ đen – một dạng của thị trường không chính thức – đã dẫn tới hiện tượng đôla hóa nền kinh tế ở mức cao v.v.. 
Điểm về hoạt động của thị trường không chính thức thông qua chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng thấp trong năm 2005: 4 điểm. 
11. Có tự do kinh tế ở VN hay không? 
Hầu như không có tự do kinh tế. Những đánh giá thông qua 10 nhóm nhân tố ở phần trên cho thấy tất cả, ngoại trừ chính sách tiền tệ, đều ở thang điểm dưới mức trung bình. Riêng chính sách tiền tệ, mặc dù vẫn ở thang điểm đánh giá cao do những nỗ lực trong kiểm soát lạm phát nhưng theo nhiều nghiên cứu những thành quả này có được là do những nguyên nhân khách quan nhiều hơn do hiện tượng giảm phát chung của nền kinh tế toàn cầu trong khoảng 10 năm gần đây, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997. 
Do bị đánh giá thấp một cách toàn diện như trên, chỉ số xếp hạng tự do kinh tế đã đánh giá nền kinh tế VN là hầu như không có tự do kinh tế (điểm xếp hạng từ 3 đến 3,99 được xem là hầu như không có tự do kinh tế). Điều đáng ngại hơn nữa là nếu so sánh với các nước trong khu vực thì môi trường tự do kinh tế của VN hiện đang đứng ở vị thế thấp nhất và thua xa so với Campuchia, một quốc gia chỉ mới là thành viên của WTO trong vài năm gần đây và được xếp hạng có môi trường tự do hóa kinh tế ở mức cao. 
Điểm trung bình chỉ số tự do kinh tế được xếp hạng năm 2005: 3,83 điểm. Và cho cả giai đoạn 1995-2005 là 4,6 – 3,83 điểm. 
Xếp hạng chung: 137/161 quốc gia
Kết luận 
Không nên chỉ tìm cách biện hộ rằng những báo cáo và các đánh giá trên là chưa phản ánh hết những thành tựu trong thời gian qua. Hoặc như các cơ quan chức năng thường viện dẫn cho rằng số lượng mẫu mà các tổ chức quốc tế khảo sát là chưa đúng và chưa đủ – những phản ứng thường thấy từ phía các quan chức mỗi khi các tổ chức xếp hạng quốc tế có những đánh giá xấu về môi trường đầu tư của VN. Cách tốt nhất có lẽ là chúng ta nên tự nhìn lại chính mình một cách nghiêm túc. 
Một điều nghịch lý ở VN hiện nay là nếu chỉ xét riêng từng khu vực hoặc từng lĩnh vực thì nền kinh tế hiện đang có những bước tự do hóa quá trớn: như các phát triển tự phát của các bộ ngành và địa phương trong việc xây dựng các nhà máy đường, nhà máy xi măng, cảng biển. Trong lĩnh vực ngân hàng, dường như ai cũng có thể làm ngân hàng được với hệ thống các NHTM phát triển bất chấp vốn điều lệ đăng ký vẫn còn quá thấp so với chuẩn mực quốc tế. 
Vẫn còn có thể liệt kê biết bao nhiêu nữa những ví dụ minh họa về tình trạng tự do hóa quá trớn như thế trong nền kinh tế. Nhưng trong quá trình phát triển của mình, tự bản thân các xu thế trong từng lĩnh vực như thế, khi tập hợp tất cả chung lại với nhau, lại bị triệt tiêu lẫn nhau do những mâu thuẫn hoặc các tiến triển không đồng bộ với nhau về mặt không gian, thời gian, hoặc về các quy định pháp lý, hoặc so với các chuẩn mực và các cam kết quốc tế về hội nhập. 
Tự do hóa quá trớn và vô chính phủ để rồi không có tự do, bởi tất cả đã phủ định lẫn nhau. Phải chăng đây còn là một cách nhìn nhận khác nữa về vị thế hầu như không có tự do kinh tế ở nước ta ngoài phương pháp đánh giá của tổ chức quốc tế về xếp hạng tự do kinh tế ở VN? ª 
Tài liệu tham khảo
- Trần Ngọc Thơ, Kinh tế VN trên đường hội nhập – Quản lý quá trình tự do hóa tài chính, NXB Thống kê 2005. 
- http://www.heritage.org/about/ advanced- search.cfm. 
- Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ về tình trạng kinh tế thị trường/phi thị trường của VN. 
- Báo cáo phát triển thế giới 2005 của WB. 
- Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 của WB. 
- Việt Nam hướng tới 2010 của UNDP. 
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 176, THÁNG 6/2005

SÁU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TUẤN VŨ
Mọi biến động về tiền tệ và ngân hàng luôn được người dân quan tâm. Sự kiện một loạt các định chế tài chính Mỹ sụp đổ như: Lehman Brothers phá sản; Merill Lynch sát nhập với Bank of America; AIG được bơm 85 tỷ USD để khỏi chung số phận với Lehman Brothers; hai công ty thế chấp hàng đầu Fannie Mae và Freddie Mac lâm nạn; Goldman Sachs, Morgan Stanley phải chuyển thành NH thương mại để tiếp cận các khoản vay của FED
Nguyên nhân sụp đổ của hệ thống tài chính xuất phát từ bong bóng của thị trường bất động sản xì hơi. Tiền được cho vay với lãi suất chỉ 2-3%/năm, trong khi giá bất động sản từ năm 2000 đến 2005 đã tăng đến 150%.
Vì vậy, dân chúng đổ xô đi vay tiền và đầu cơ nhà đất để kiếm lời và đến 2005 thì hoạt động liên quan đến bất động sản chiếm đến ½ GDP của Mỹ.
Nhà cửa mua bằng tiền vay được thế chấp tiếp tục để mua tiếp bất động sản khác và cứ như vậy, vòng xoay tín dụng có trường hợp đã đạt đến 30 lần, tạo ra một số tiền ảo cực lớn, gây lạm phát.
Chính phủ Mỹ phải đề xuất kế hoạch cả gói 700 tỷ USD để cứu thị trường tài chính nhưng theo một số chuyên gia thì phải có 1.500 tỷ USD mới có thể qua được cơn bão này.
Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, động thái cứu vãn bằng cách bơm tiền vẫn là động thái mờ mịt. Bởi, tung tiền ra thì sẽ gây lạm phát với các rủi ro rất lớn, nhưng nếu không tung tiền ra để cứu thị trường tài chính thì thị trường sẽ sụp đổ, người dân đổ xô đi rút tiền, doanh nghiệp tê liệt và rối loạn xã hội. Khó có thể nói rủi ro nào là cao hơn.

Một số ý kiến cho rằng, Việt Nam không chịu ảnh hưởng nhiều từ cơn bão tài chính tại Mỹ vì dù cho người Mỹ khủng hoảng đến đâu thì họ vẫn phải ăn cá basa nuôi của Việt Nam, phải mặc quần áo do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất. Mặt khác, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa lớn mạnh và có tác động đến nền kinh tế không nhiều.
Tuy nhiên, ảnh hưởng là chắc chắn có vì tất cả các thị trường có quan hệ chặt chẽ với nhau, nguy cơ lan rộng sang châu Âu, Nhật… là rất lớn. Đặc biệt là mức độ ảnh hưởng do tâm lý, tính tức thì.
Thứ nhất, vốn tín dụng thương mại sẽ khó khăn hơn vì rất nhiều ngân hàng trong nước vay tiền của ngân hàng nước ngoài, khi ngân hàng nước ngoài khó khăn thì tín dụng trong nước sẽ bị thu hẹp.
Như vậy, nền kinh tế của Việt Nam sẽ gặp khó khăn ở những vấn đề sau: Thứ nhất, việc giải ngân ODA sẽ chậm lại vì các nhà cung cấp vốn ODA lớn như Nhật, châu Âu, Mỹ đang gặp khó khăn thì đương nhiên sẽ hạn chế việc cấp vốn ODA. Tính đến nay, vốn ODA cam kết cho Việt Nam năm 2008 trên 40 tỷ USD, nhưng mới chỉ giải ngân được khoảng 7-8 tỷ USD.
Thứ hai, nguồn vốn FDI cũng sẽ gặp khó khăn vì dù cho số lượng dự án đăng ký tăng cao, nhưng chắc chắn lượng vốn thực hiện sẽ không được dồi dào như trước vì các nhà đầu tư nước ngoài cũng thiếu tiền và gặp khó khăn trong việc vay các ngân hàng ở nước ngoài.
Thứ ba, kiều hối sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vì đa số kiều hối về Việt Nam xuất phát từ Mỹ. Mỗi năm Việt Nam nhận khoảng 3 tỉ USD kiều hối, số tiền này chắc chắn sẽ giảm khi nền kinh tế Mỹ gặp khó khăn.
Thứ tư, cán cân thanh toán sẽ gặp khó khăn khi các ngân hàng bị thiếu hụt tín dụng.
Thứ năm, xuất khẩu sẽ bị tác động nặng nề nhất vì Mỹ, EU, Nhật đang là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam.
Thứ sáu, nhập siêu với Trung Quốc sẽ tăng nhanh vì hàng giá rẻ của Trung Quốc không vào được thị trường Nhật, Mỹ, EU thì sẽ đổ dồn sang Việt Nam.
Để hạn chế bị ảnh hưởng, các doanh nghiệp cần theo dõi sát sao diễn biến thị trường; đặc biệt chú trọng và tăng cường công tác dự báo. Cần xây dựng nhiều “kịch bản” và cách ứng phù hợp, để khi xảy ra trường hợp nào thì ứng phó được ngay. Về tiền tệ, cần tăng cường quản lý các hoạt động tài chính.
Trong đó, các doanh nghiệp phải tự cứu mình bằng cách phát triển thị trường nội địa và tiếp tục phát triển xuất khẩu cho các thị trường mới ngoài Mỹ, EU và Nhật.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG THƯƠNG

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ
Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.
Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).
Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp shock để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism) hoặc sự tiếp cận hai đường song song (two-track approach). Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách (reforms without losers), như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có. Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đầu tư từ nước ngoài (FDI).
Chiến lược cải cách tiệm tiến nói chung được đánh giá cao không phải chỉ vì tính khả thi như vừa nói mà còn có hiệu quả về mặt cơ chế. Các cơ chế cần thiết cho kinh tế thị trường phải được xây dựng từng bước, cần thời gian. Trong khi các tiền đề này chưa hoàn chỉnh, không thể thực hiện cải cách toàn bộ trong thời gian ngắn.
Nhưng vấn đề ở đây là chiến lược cải cách tiệm tiến này nên kéo dài bao lâu. Ở giai đoạn nào thì phải chuyển sang một chiến lược cải cách với nội dung khác về chất với giai đoạn tiệm tiến? Vấn đề này phải được đặt ra vì hai lý do:
Thứ nhất, chiến lược cải cách tiệm tiến kéo dài quá lâu (tùy theo tốc độ phát triển, tùy theo ý chí đẩy mạnh cải cách để đưa kinh tế phát triển nhanh, tùy theo bối cảnh chính trị xã hội, có lẽ có thể nói trên 15 năm thì được gọi là quá lâu) sẽ nảy sinh các tệ hại làm kinh tế phát triển kém hiệu suất và gây bất công trong xã hội. Chẳng hạn sự tồn tại của doanh nghiệp Nhà nước trong nhiều ngành kinh tế làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và những người quản lý, kinh doanh doanh nghiệp Nhà nước lợi dụng những ưu đãi về đất đai, về tín dụng để trục lợi trên thị trường tự do. Những người này còn cấu kết với quan chức để được nhiều ưu đãi đó, mặt khác doanh nghiệp tư nhân cũng khắc phục thế yếu bằng tăng cường quan hệ với quan chức tạo ra tình trạng tham nhũng.
Thứ hai, sau một giai đoạn phát triển và đã đạt một số thành quả (tương ứng với giai đoạn tăng trưởng ban đầu đã đề cập), cần có cải cách toàn diện để làm tiền đề cho giai đoạn phát triển bền vững. Cải cách toàn diện cũng có nghĩa là xây dựng một hệ thống cơ chế hoàn chỉnh hơn, quy mô rộng hơn và phức tạp nhưng vững chắc so với giai đoạn tăng trưởng ban đầu. Đặc biệt khi kinh tế hội nhập mạnh vào thị trường thế giới, nhiều vấn đề phức tạp phát sinh đòi hỏi có cơ chế hữu hiệu để tận dụng cơ hội mới và để ngăn ngừa bất ổn định. Tổng hợp các nội dung này, Rodrik (2007) gọi đây là hệ thống cơ chế chất lượng cao (high quality institutions). Cụm từ này gọn, nói lên bản chất của vấn đề nên ta mượn dùng làm một trong những thuật ngữ chính của bài viết này.
Đặc tính về cơ chế của giai đoạn mới
Có thể tóm tắt như sau:
1. Khác với giai đoạn trước trong đó tăng trưởng chủ yếu do động viên, sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư bản, đất đai, giai đoạn mới này đòi hỏi phải tăng năng suất tổng hợp đa yếu tố dựa trên việc áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến quản lý, giảm phí tổn giao dịch (transaction cost), v.v.
Dù trước thời đại toàn cầu hóa, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải liên tục tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thị trường mở rộng, tham gia phân công quốc tế sâu hơn và do đó sức cạnh tranh phải mạnh hơn là điều kiện phát triển sâu và bền vững. Ở thời đại toàn cầu hóa, các đặc tính này càng quan trọng hơn.
2. Sang giai đoạn mới, kinh tế thị trường phải phát triển sâu rộng hơn, hệ thống tài chính tiền tệ phức tạp hơn, dòng vốn lưu thông đa dạng hơn, nên vấn đề ổn định phải được quan tâm. Mặt khác, do sự tham gia phân công quốc tế và hội nhập với thế giới ngày càng mạnh, kinh tế dễ biến động theo những thay đổi trên thị trường thế giới.
Như vậy, để phát triển bền vững, phải xây dựng một cơ chế, một hệ thống các chính sách, chiến lược khác về chất và ở trình độ cao so với giai đoạn trước. Những cơ chế, chính sách này bao gồm các điểm chính như sau: (1) Tăng cường sự minh bạch (transparency), tăng khả năng dự đoán (predictability) và tăng năng lực quản lý Nhà nước (governance) để vừa giảm sự bất xác định, giảm sự rủi ro đối với nhà đầu tư, để họ mạnh dạn tiến vào những lãnh vực mới (do đó cơ cấu kinh tế mới chuyển dịch nhanh), vừa tránh đầu cơ, tránh tham nhũng và giảm các chi phí giao dịch (transaction costs). (2) Doanh nghiệp quốc doanh phải được cải cách triệt để, tạo sân chơi bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, tránh các tệ hại của chiến lược cải cách tiệm tiến quá lâu đã được đề cập. (3) Có chính sách công nghiệp tích cực để xây dựng các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh động , như vậy vừa chuyển dịch cơ cấu lên cao vừa cạnh tranh được trên thị trường thế giới. (4) Trong các loại thị trường, thị trường lao động thường hoạt động ít hiệu quả vì manh mún, có sự không ăn khớp trong cung cầu giữa các loại lao động hoặc giữa các vùng. Do đó cần có chính sách về đào tạo, về hạ tầng xã hội để xóa hoặc giảm sự bất ăn khớp đó. (5) Chấn hưng giáo dục, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng công nghệ cần có chính sách, cơ chế thích đáng của Nhà nước.
Cơ chế chất lượng cao còn đòi hỏi các điều kiện như năng lực của quan chức, sự độc lập của tòa án, tính độc lập của ngân hàng trung ương, chính sách thu chi ngân sách minh bạch, có cơ chế giám sát tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước và các hoạt động kinh tế công.
Để Việt Nam phát triển bền vững
Đối với Việt Nam trước đổi mới là thời kỳ kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm hơn 70% lao động) nhưng năng suất rất thấp, lương thực không đủ, phải nhập khẩu. Tỉ lệ tiết kiệm (trong GDP) hầu như zero và tỉ lệ đầu tư rất thấp, vốn đầu tư chủ yếu nhờ viện trợ của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu. Hơn nữa, ít nhất 60% dân số là nghèo (sống dưới tuyến nghèo –poverty line). Do đó, vào cuối thập niên 1980, Việt Nam vừa là nước kém phát triển, đứng trước nguy cơ của cái bẫy nghèo, vừa là nước có nền kinh tế theo thể chế xã hội chủ nghĩa. Nhìn một cách khái quát, giai đoạn từ cuối thập niên 1980 đến nay là giai đoạn vừa phải giải quyết các vấn đề phát triển (development) vừa nỗ lực chuyển sang kinh tế thịiệt Nam đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị trường đã đạt được một số thành quả. Và có thể nói, Việt Nam đã hoặc sắp kết thúc giai đoạn tăng trưởng ban đầu. trường (transition). Hơn 20 năm đổi mới, trên cơ bản Việt Nam đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị trường đã đạt được một số thành quả. Và có thể nói, Việt Nam đã hoặc sắp kết thúc giai đoạn tăng trưởng ban đầu.
Trong giai đoạn qua, cơ chế, chính sách của Việt Nam có những đặc tính gì?
Về mặt cơ chế, chính sách, giai đoạn vừa qua có tính chất là cởi trói những ràng buộc để các tác nhân, các chủ thể kinh tế có điều kiện phát huy năng lực sản xuất. Khoán 10 trong nông nghiệp (Nghị quyết số 10 của Bộ Chính Trị năm 1988), Luật đầu tư nước ngoài (tu chỉnh nhiều lần) và Luật doanh nghiệp (tu chỉnh nhiều lần) đều nhằm cởi trói dần các ràng buộc đối với hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các cơ chế được xây dựng không khó khăn, phần lớn chỉ là quyết tâm chính trị của lãnh đạo. Nhưng nếu các chính sách, cơ chế này được xây dựng và thực thi nhanh hơn, dứt khoát hơn thì tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều. Mặt khác, nếu chiến lược cải cách tiệm tiến được thực hiện trong thời gian ngắn hơn và chuẩn bị một cơ chế chất lượng cao hơn thì có lẽ kinh tế Việt Nam đã tránh được các khó khăn như hiện nay và đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn phát triển bền vững.
Xét đến giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện nay, ta thấy ngay là muốn phát triển bền vững trong giai đoạn tới, cần xây dựng ngay một hệ thống cơ chế chất lượng cao mới. Trước hết phải hiểu và thực hiện cho được những tiền đề của cơ chế chất lượng cao, sau đó tùy theo nhu cầu phát triển của từng giai đoạn mà có những cơ chế cụ thể, những chính sách, chiến lược cần thiết.
Từ những phân tích ở các phần trước, tôi thấy có 3 tiền đề để có cơ chế chất lượng cao.
1. Bảo đảm tính dân chủ trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách. Lãnh đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định nhưng phải trên cơ sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội. Tham gia là một thuật ngữ được các nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu thực chứng cho thấy chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển nếu có sự tham gia của các thành phần xã hội liên hệ đều mang lại hiệu quả cao. Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế, thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước, của đông đảo dân chúng.
2. Ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị không bị chính trị chi phối. Chính trị gia không đưa ra kết luận trước để giới chuyên gia phải tìm cách chứng minh kết luận đó mà quy trình phải ngược lại, chuyên gia, giới kỹ trị phải được tự do nghiên cứu, phân tích và đề xuất chính sách, chiến lược; lãnh đạo chính trị sẽ cân nhắc, chọn lựa chính sách, chiến lược và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó.
3. Phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ quan chức vừa có năng lực vừa cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình và tránh được tệ nạn tham nhũng. Gần 15 năm trước đây tôi đã đưa kiến nghị là Nhà nước nên chọn một ngày trong năm làm ngày thi tuyển nhân tài ra làm việc nước. Những môn thi cơ bản liên quan đến văn hóa, triết học, lịch sử, luật pháp và hành chánh vì những quan chức sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong tương lai phải am hiểu về các lãnh vực đó. Một khi đã có một trình độ nhất định về các mặt cơ bản đó, họ có thể học thêm về các chuyên ngành cần thiết khi được phân bổ vào công việc cụ thể. Ở những nước như Nhật và Hàn Quốc, những người tốt nghiệp loại xuất sắc tại các đại học danh tiếng, phải học thêm về các môn nói trên, mới có thể thi đỗ được vào các kỳ thi tuyển quan chức Nhà nước.
Về cơ chế, chính sách cụ thể trước mắt có lẽ hai vấn đề sau đây cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược:
1. Cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Như mọi người đã thấy khu vực này ngày càng phình ra, đầu tư lung tung vào mọi ngành, nhất là trong đó không ít những dự án có tính cách đầu cơ. Hành động của khu vực này trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát và bất ổn vi mô hiện nay. Cần minh bạch hóa tài chính, có cơ chế kiểm soát tài chính, thẩm tra các dự án đầu tư của khu vực này. Thiết lập cơ chế thống quản doanh nghiệp (corporate governance) trong đó xác lập mục tiêu hoạt đông của công ty, có cơ chế kiểm soát, đánh giá thành quả của công ty và ban giám đốc phải chịu sự thưởng hoặc phạt (kể cả bị cách chức) về thành quả này. Ngoài ra, trừ những ngành cung cấp dịch vụ công cộng, doanh nghiệp Nhà nước phải từng bước tư nhân hóa, cổ phần hóa; trong lúc chưa cổ phần hóa cũng phải hoạt động theo cơ chế thị trường chịu sự hạn chế khắt khe của ngân sách (hard budget constraint), nghĩa là không được ưu đãi đặc biệt về đất đai và vốn, và không được bù lỗ khi làm ăn thua lỗ.
2. Như trên đã nói, cơ chế trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, giai đoạn cải cách tiệm tiến rất đơn giản vì chủ yếu chỉ cởi trói các ràng buộc, hành lang pháp lý cũng không phức tạp, nhưng để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh động (xem lại chú thích số 9) để ngày càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn. Ở đây chính sách công nghiệp phải được chú trọng và nghệ thuật tạo một quan hệ hiệu quả giữa Nhà nước và doanh nghiệp là tiền đề của sự thành công. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về điểm này rất đáng tham khảo.
Ba tiền đề và hai chính sách cụ thể trên đây là nội dung của cơ chế chất lượng cao cần thiết để VN bước vào giai đoạn phát triển ổn định, bền vững, đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển nhanh.
“Đi tắt đón đầu” bằng cơ chế chất lượng cao
Trên thế giới hiện nay có 50 nước có dân số trên 20 triệu. Trong đó, có 11 nước thuộc nhóm các nước có thu nhập cao (thu nhập đầu người trên 10.000 USD), 13 nước còn ở trong vòng luẩn quẩn nghèo khó, chưa thóat ra được cái bẫy nghèo và 26 nước trên cơ bản đã thóat nghèo nhưng chưa thực sự cất cánh. Việt Nam trên cơ bản đã thoát ra khỏi cái bẫy nghèo, thoát khỏi vị trí của nhóm thứ hai và chen vào nhóm thứ ba. Trên ý nghĩa đó, thành quả đổi mới trong 20 năm qua đáng ghi nhận. Nhưng nhìn chung ta chỉ mới kết thúc hoặc sắp kết thúc giai đoạn phát triển ban đầu, còn ở vị trí gần áp chót trong nhóm 26 nước kể trên. Hơn nữa, chất lượng phát triển của ta chưa tốt. Môi trường bị ô nhiễm, chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, bụi và bất an về tai nạn giao thông, chênh lệch ngày càng tăng trong phân phối thu nhập và tài sản, v.v…
Như vậy Việt Nam hiện nay vừa phải cải thiện chất lượng tăng trưởng vừa phải nỗ lực đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển bền vững. Nhưng ViệtNam có tiềm năng (quy mô và cơ cấu dân số, vị trí địa lý, sự thống nhất về văn hóa, ngôn ngữ, v.v..) nên nếu có cơ chế chất lượng cao các nguồn lực sẽ được động viên và phát huy có hiệu quả. (Khuôn khổ của bài viết không cho phép đi xa hơn nhưng nói đến tiềm năng phải nhấn mạnh một điểm là việc chấn hưng giáo dục và nghiên cứu khoa học, công nghệ là tiền đề để tăng tiềm năng).
Từ đầu thập niên 1990, Việt Nam hay nhắc đến cụm từ “đi tắt đón đầu” trong văn cảnh phải nỗ lực để thóat khỏi nguy cơ tụt hậu. Nhưng các nhà lãnh đạo, các quan chức thường xem việc phát triển những ngành mũi nhọn, tiên tiến là con đường đi tắt đón đầu. Suy nghĩ này không hẳn đúng vì khó thống nhất ý kiến về ngành mũi nhọn cụ thể, chưa nói đến chuyện yếu tố chính trị thường chi phối sự chọn lựa đó và việc thực thi cũng dễ rơi vào tình trạng kém hiệu suất. Chí ít là phải có cơ chế chất lượng cao mới đưa ra được quyết định đúng đắn về ngành mũi nhọn, về việc thực thi chiến lược phát triển các ngành đó. Kết cuộc theo tôi, cải cách cơ chế là bí quyết đi tắt đón đầu hiệu quả nhất. Trở lại kinh nghiệm Hàn Quốc ta thấy rất rõ điều này.
Nhiều trí thức Việt Nam sang thăm Nhật Bản, Hàn Quốc,…về nước thường bức xúc đặt câu hỏi: Tại sao họ phát triển như vậy, họ khác ta những gì? Có thể trả lời như sau: Tại vì họ đã xây dựng được cơ chế chất lượng cao bảo đảm cho các nguồn lực tích cực tham gia vào qúa trình phát triển.
Trường hợp Hàn Quốc:
Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn. Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước này bắt đầu từ khi Park Chung-hee nắm chính quyền (năm 1961), thiết lập thể chế độc tài nhưng với quyết tâm phát triển đất nước. Chế độ độc tài kéo dài đến hết thời Chun Doo-hwan, trải qua mấy biến cố chính trị sôi động, đến năm 1987 họ đã thành công trong việc chuyển sang thể chế dân chủ bằng cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên. Năm 1988 Hàn Quốc tổ chức thành công Thế vận hội Seoul và năm 1996 được kết nạp vào khối OECD. Từ lúc bắt đầu kế hoạch phát triển đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến, Hàn Quốc chỉ mất có 35 năm! Nếu kể từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt thì cũng chỉ có 43 năm. HQ cũng bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Á châu nhưng đã khắc phục được ngay (GDP đầu người chỉ giảm năm 1998) nhờ nền tảng cơ bản của nền kinh tế vững chắc và các nhóm tài phiệt mà hoạt động cho vay và đầu tư không hiệu quả của họ đã gây ra khủng hoảng là những tổ hợp tư nhân, ảnh hưởng ít đến cả nền kinh tế.
Tại sao Hàn Quốc thành công trong quá trình phát triển liên tục, chuyển từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững? Rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh nghiệm nước này. Từ góc độ tham khảo cho VN, và đặt tiêu điểm vào mặt cơ chế, tôi đặc biệt chú ý đến các yếu tố sau:
Thứ nhất, ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ mình). Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính sách của lãnh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng. Như nhận xét của Evans (1995, p. 51), ở Hàn Quốc, Nhà nước có truyền thống chọn được nguời tài ra làm việc nước từ những người giỏi nhất ở các đại học danh tiếng nhất. Đặc biệt, Park Chung-hee lập Hội đồng hoạch định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia học ở Mỹ về, được giao toàn quyền hoạch định chiến lược.
Trong bối cảnh chung đó, tinh thần doanh nghiệp, nỗ lực học tập kinh nghiệm nước ngoài của giới kinh doanh rất lớn. Giữa thập niên 1980 tôi có đến Hàn Quốc điều tra thực tế về chiến lược đuổi bắt công nghệ của doanh nghiệp nước này, ấn tượng nhất là thấy họ đưa ra khẩu hiệu phải theo kịp khả năng công nghệ của công ty hàng đầu của Nhật trong ngành. Những người có kinh nghiệm du học cùng với sinh viên Hàn Quốc cũng dễ dàng thấy nỗ lực học tập của họ. Quốc sách theo kịp nước tiên tiến không phải là khẩu hiệu chung chung mà từng thành phần trong xã hội đều nỗ lực thực hiện.
Thứ hai, Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu suất, hiệu quả về quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tích cực đầu tư, tích lũy tư bản (nhưng tỉ lệ tiết kiệm ban đầu quá thấp phải vay nợ trong thời gian dài), đồng thời bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ. Như vậy vai trò của Nhà nước rất lớn. Trong tình hình đó, ở nhiều nước khác, doanh nghiệp cấu kết với quan chức để được tiếp cận với vốn vay ưu đãi, với ngoại tệ khan hiếm và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu. Nạn tham nhũng dễ phát sinh từ đó. Nhưng Hàn Quốc đã tránh được tệ nạn đó nhờ có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh có tính cách kỷ luật (discipline). Cụ thể là doanh nghiệp được nhận ưu đãi phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh, chẳng hạn phải xuất khẩu nhiều hơn trước. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ sẽ không được hưởng ưu đãi trong giai đoạn sau. Nói chung, các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau, đưa ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được ưu đãi của Nhà nước.
Khi đặt xuất khẩu là mục tiêu của quốc gia thì người lãnh đạo cao nhất phải thường xuyên quan tâm. Tôi rất ấn tượng là chính Tổng thống Park Chung –hee trực tiếp chủ trì các hội nghị kiểm tra diễn tiến xuất khẩu. Mục tiêu xuất khẩu đặt ra rất lớn nhưng hầu như năm nào cũng đạt được là nhờ cơ chế như vậy.
Thứ ba, nhận xét của Amsden (1989) rất chính xác khi cho rằng Hàn Quốc đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập (industrialization on the basis of learning). Quả đúng như vậy nếu ta xem nỗ lực của Chính phủ trong giáo dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, và nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình học hỏi nước ngoài. Tỉ trọng dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 chỉ có dưới 10% ngân sách Nhà nước, nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên 1980. Tỉ lệ học sinh cấp ba trong độ tuổi thanh thiếu niên tăng từ 34% năm 1965 lên 56% năm 1975 và 91% năm 1984. Tỉ lệ sinh viên đại học trong thời gian đó là 6%, 10% và 26%. Hàn Quốc là một trong những nước có tỉ lệ rất cao trong hai chỉ tiêu: tỉ lệ của sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỉ lệ nguời du học trở về trên tổng số sinh viên đi du học. Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến việc thi tuyển và đãi ngộ người tài.
Ba điểm nói trên nhất quán trong suốt quá trình đuổi theo các nước tiên tiến nhưng nội dung của các cơ chế thay đổi theo nhu cầu phát triển của mỗi thời kỳ. Từ đầu thập niên 1980, vai trò của Nhà nước trong việc phân bổ nguồn lực nhỏ dần và thay vào đó tập trung vào giáo dục, nghiên cứu khoa học để tạo tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên thứ nguyên cao hơn.
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy cơ chế động viên mọi nguồn lực của xã hội vào mục tiêu được xã hội đồng thuận, nhất là xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực, tạo quan hệ lành mạnh giữa Nhà nước với doanh nghiệp là điều kiện để phát triển bền vững.
SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG
Trích dẫn từ:

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code