Showing posts with label LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ. Show all posts
Showing posts with label LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

PHÁN QUYẾT LẠ THƯỜNG VỀ VẬN ĐƠN

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC
Thực tiễn thương mại và hàng hải quốc tế cũng như quy định của Bộ Luật Hàng hải VN đã có quy định rõ ràng về vận đơn (trong đó có 2 loại: vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh). Tuy nhiên, vừa qua có một vụ việc mà tòa án lại ra phán quyết trái ngược với luật pháp VN và thông lệ quốc tế.
Cuối năm 2006, Cty S ở phía Nam bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Cty E Sydney – Autralia theo giá FOB TP HCM: 87.035 USD, mã số DN của E ở Autralia là ABN 29112062554-NSW2020 (thực tế đây là một Cty ma tại Autralia). Hợp đồng mua bán chỉ có 1 trang và hết sức sơ sài, đặc biệt không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.
Sau khi ký hợp đồng mua bán, E uỷ thác Cty giao nhận vận tải T ở phía Bắc thuê tàu chở hàng từ TP HCM đi Sydney. T ký hợp đồng lưu cước với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, Hãng tàu MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho T, trên cơ sở đó T cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho S với tư cách là người giao hàng (vận đơn của T theo mẫu FIATA). Vận đơn ghi rõ E (cùng với địa chỉ của họ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.
Hàng đến Sydney 6/1/2007, Hãng tàu MOL giao hàng cho đại lý của T ngày 14/1/2007. Từ đó trở đi E không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 đôla Australia, hàng hoá có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn.
Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở VN) ngày 1/3/2007 đại lý của Cty T đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi ngày 14/4/2007, Cty S mới ra lệnh cho Cty T đưa hàng về VN nhưng T không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên Cty S không thể ra lệnh chở hàng về. Tuy vậy, ngày 14/5/2007, Cty E đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý của Cty T không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi, Cty S luôn khẳng định rằng tuy hàng bán theo giá FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, Cty S vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Vì vậy, do không đòi được tiền hàng từ E, Cty S đã khởi kiện Cty T tại một Toà án ở phía Bắc đòi bồi thường 1,7 tỷ VND bao gồm trị giá hàng FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000.000 VND các loại tiền phạt lưu kho bãi.

Trước tòa, Cty S (nguyên đơn) cho rằng vận đơn này về hình thức có vẻ đích danh nhưng thực chất là vận đơn theo lệnh. Ô chữ “người nhận hàng” ở mặt trước chỉ là ô chữ ghi lại tên và địa chỉ chứ không có nghĩa đấy là người nhận hàng đích danh. Cty S đang nắm giữ bản gốc nên vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Hơn thế nữa vận đơn Cty S đang có trong tay, tuy Cty T khẳng định là vận đơn đích danh nhưng vẫn chuyển nhượng được (nghĩa là S vẫn có quyền ra lệnh giao hàng) vì điều 3.1 mặt sau ghi rằng “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thể chuyển nhượng được trừ khi nó được ghi không thể chuyển nhượng được”. Nguyên đơn cũng cho rằng hợp đồng mua bán của họ là hợp đồng có giá  FOB TP HCM 87.035 USD chứ không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB Incoterms 2000. Vì vậy họ vẫn có quyền khởi kiện người vận chuyển để đòi bồi thường.
Cty T lại khẳng định Cty S đã ký hợp đồng mua bán quá sơ sài và lỏng lẻo thì phải tự gánh lấy hậu quả. Mặt khác, theo Điều 62 Luật Thương mại VN, do hợp đồng mua bán không quy định về việc khi nào quyền sở hữu về lô hàng chuyển từ người bán sang người mua nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày 20/12/2006, (tức ngày giao hàng ở TP HCM). Ngoài ra Cty T còn khẳng định rằng vận đơn do họ cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh” như Điều 86, khoản 1, Mục a BLHH VN quy định. Đã là vận đơn đích danh thì không chuyển nhượng được và người nhận hàng có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp và phù hợp với quy định trong Incoterms 2000, chỉ có họ mới có quyền khởi kiện người vận chuyển nếu thiệt hại thực tế xảy ra do lỗi của người vận chuyển.      
Phán quyết của tòa:
1. Căn cứ vào Điều 3.1 mặt trước (ở đây Toà đã nhầm lẫn, thực tế là mặt sau hoặc nói chính xác là mặt đối diện với mặt trước, nguyên văn tiếng Anh là: Overleaf of Reverse Side) vận đơn này không phải là vận đơn đích danh mà thực chất là vận đơn theo lệnh.
2. Toà cho rằng các chứng từ Hợp đồng mua bán, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu của lô hàng này không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB.
3. Công ty T phải bồi thường cho Công ty S 57.000 USD (sau khi đã trừ đi phần không ăn khớp giữa hợp đồng mua bán, hoá đơn thương mại, tờ khai thương mại, tờ khai hải quan hàng xuất khẩu và số lượng hàng trên vận đơn).
Rõ ràng phán quyết trên của toà án này đã đi ngược lại thông lệ hàng hải và thương mại quốc tế cũng như luật pháp VN và luật pháp Australia (nơi hàng đến).
Có lẽ trong lịch sử phát triển hơn 300 năm của ngành hàng hải thế giới lần đầu tiên có một toà án lại căn cứ vào mặt sau (toà nhầm lẫn gọi là mặt trước) để phán quyết một vận đơn là đích danh hay theo lệnh.
Bản thân Toà nói rằng Hợp đồng thương mại, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hàng xuất khẩu không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB, trong khi đó Hợp đồng mua bán ghi rõ: “Giá hàng FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD” và Hoá đơn thương mại cũng ghi rõ: “Giá FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD, đồng thời Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu lô hàng này đề ngày 18/12/2006 ở ô số 20 ghi rõ: “Điều kiện giao hàng: FOB”. Đây không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB thì nó là hợp đồng giao hàng theo điều kiện gì?”.
Từ vụ kiện nói trên vấn đề đặt ra là các DN VN khi xuất khẩu hàng hoá theo Incoterms 2000 ra nước ngoài, nhất là thị trường Anh, Mỹ, Australia, Ấn Độ… nên sử dụng vận đơn theo lệnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, hết sức tránh dùng vận đơn đích danh, nhất là khi xuất hàng sang các thị trường áp dụng luật án lệ như những nước nói trên.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ

Thursday, February 13, 2014

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN PHÁP LÝ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẢI

NGUYỄN THU PHƯƠNG (Sưu tầm)
Nguyên đơn: Công ty May Xuất khẩu Việt Nam ( Người mua )
Bị đơn: Công ty Hàn Quốc ( Người bán )
CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP:
- Mua hàng theo mẫu;
- Giá trị pháp lý của mẫu hàng;
- Nghĩa vụ cung cấp mẫu hàng;
- Giá trị pháp lý của chứng thư giám định.
TÓM TẮT VỤ VIỆC:
Nguyên đơn và Bị đơn ký hai Hợp đồng mua vải. Trong các điều khoản của Hợp đồng, đáng lưu ý có các điều khoản sau:
- Chất lượng của hàng hóa sẽ dựa theo mẫu LABDIP ( Điều 2 Hợp đồng );
- Giám định trước khi gửi hàng do nhà sản xuất thực hiện là cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên ( Điều 7 Hợp đồng ).
Sau khi nhận hàng của Bị đơn, Nguyên đơn đã chuyển số vải cho một đơn vị gia công hàng của Nguyên đơn để kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào gia công.Tuy nhiên, do lỗi vải quá nhiều nên đơn vị gia công đã từ chối nhận vải của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã mời đại diện của Bị đơn là ông A (Trưởng văn phòng đại diện của Bị đơn ) đến kiểm tra chất lượng vải. Sau khi kiểm tra vải đại diện Bị đơn đồng ý để Nguyên đơn mời Công ty X giám định chất lượng vải của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn nhận được kết quả giám định của Công ty X với nội dung “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt may công nhiệp hàng loạt”.
Do hai bên không giải quyết được tranh chấp về chất lượng nên Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn ra Trọng tài, yêu cầu Bị đơn hoàn trả lại cho Nguyên đơn 44.089,2USD gồm các khoản sau:
- Trị giá Hợp đồng : 31.669,2USD
- Chi phí nhận hàng : 300USD
- Lãi suất đến ngày khởi kiện : 675,61USD
- Tiền phạt mà Nguyên đơn bị khách hàng phạt do không có hàng để giao : 11.445USD.

Lập luận của Bị đơn :
- Bị đơn đã hoàn thành các cam kết theo Hợp đồng; chất lượng hàng giao phù hợp với Hợp đồng và mầu sắc như mẫu chào bán, mẫu LABDIP theo như Điều 2 của Hợp đồng. Hàng đã được giám định bởi nhà sản xuất trước khi gửi hàng đúng theo như Điều 7 của Hợp đồng.
- Khiếu nại của Nguyên đơn về chất lượng và mầu sắc vải là thiếu căn cứ vì Bên mua đã đơn phương trưng cầu Công ty X giám định, một giám định ngoài Hợp đồng, không có giá trị pháp lý ràng buộc. Theo Điều 7 của Hợp đồng, giám định trước khi gửi hàng được thực hiện bởi nhà sản xuất và giám định này là cuối cùng, có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên.
- Biên bản làm việc với ông A là vô hiệu vì ông A không được ủy quyền để ký Biên bản làm việc và cũng không được ủy quyền để giải quyết vụ tranh chấp này. Vào thời điểm ký Biên bản, ông A không còn làm việc cho Bị đơn.
- Giám định của Công ty X không chính xác, cách thức kiểm tra không chuẩn, không có căn cứ vào mẫu LABDIP để giám định chất lượng và mầu sắc của lô hàng. Việc giám định mà không đối chiếu với mẫu LABDIP là không có giá trị pháp lý.
Từ những lập luận nêu trên, Bị đơn đề nghị Hội đồng Trong tài tuyên bố Bị đơn đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng và bác đơn kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên xét xử, Hội đồng Trọng tài đã yêu cầu Nguyên đơn và Bị đơn cung cấp mẫu LABDIP. Nguyên đơn đã cung cấp cho Hội đồng Trọng tài mẫu LABDIP, còn Bị đơn không cung cấp được mẫu LABDIP với lý do bị Nguyên đơn lấy mất mẫu LABDIP. Bị đơn đã phản bác mẫu LABDIP do Nguyên đơn xuất trình và trên mẫu LABDIP không có chữ ký và con dấu của đại diện có thẩm quyền của hai bên.
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
Nguyên đơn và Bị đơn ký Hợp đồng mua bán theo mẫu LABDIP. Tuy nhiên, cả hai bên đã không tuân thủ các quy định về việc lấy mẫu và bảo quản mẫu.
- Về mẫu LABDIP do Nguyên đơn xuất trình : Nguyên đơn đã không tuân thủ các quy định về việc lấy mẫu. Cụ thể, trên mẫu LABDIP không có chữ ký và con dấu của đại diện Nguyên đơn và Bị đơn, không được niêm phong. Do vậy, không có cơ sở để xác định đây là mẫu LABDIP.
- Về việc Bị đơn không xuất trình mẫu LABDIP : Hội đồng Trọng tài không chấp nhận trình bày của Bị đơn. Hai bên thỏa thuận mua bán theo mẫu, với tư cách là Bên bán, Bị đơn phải có nghĩa vụ cung cấp mẫu vải và đặc biệt phải giữ và bảo quản mẫu trong mọi trường hợp để làm căn cứ chứng minh khi có khiếu nại về chất lượng hàng hóa. Là Bên bán nên Bị đơn biết rõ giá trị pháp lý và tầm quan trọng của mẫu LABDIP. Lý do bị mất mẫu mà Bị đơn đưa ra không chính đáng. Bị đơn đã không có bất kỳ hành động gì để bảo vệ quyền lợi của mình ngay khi bị mất mẫu. Bị đơn không chứng minh được Nguyên đơn đã lấy mẫu LABDIP của Bị đơn. Do vậy, Bị đơn phải tự chịu trách nhiệm về việc này.
- Về kết quả giám định của Công ty X :
Việc Nguyên đơn khi phát hiện hàng hóa chất lượng không phù hợp với Hợp đồng nên mời giám định là quyền của Nguyên đơn. Tuy giám định của Công ty X không được quy định trong Hợp đồng nhưng, trong trường hợp không đồng ý với kết luận giám định của Công ty X thì Bị đơn có quyền chỉ định tổ chức giám định khác giám định lại chất lượng lô hàng để chứng minh mình đã giao hàng phù hợp với quy định của Hợp đồng. Tuy nhiên, Bị đơn đã không làm việc này và cũng không xuất trình được mẫu LABDIP. Vậy, Bị đơn dựa trên căn cứ nào để bảo vệ quyền lợi của mình khi có khiếu nại về chất lượng lô hàng đã giao?
Công ty X là một Công ty giám định độc lập. Hội đồng trọng tài không chấp nhận giải trình của Bị đơn cho rằng ông A không được ủy quyền để ký Biên bản nêu trên với lý do vào thời điểm ký Biên bản ông A không còn làm việc cho Bị đơn vì trong suốt quá trình thực hiện Hợp đồng, ông A là đại diện của Bị đơn, trực tiếp giao dịch với Nguyên đơn. Biên bản chọn giám định ghi: Đại diện Bị đơn là ông A. Lẽ ra, nếu có thay đổi Trưởng đại diện, nhất là vào thời điểm đang có tranh chấp, thì Bị đơn phải thông báo cho Nguyên đơn biết. tuy nhiên, Bị đơn đã không làm việc này.
Tuy không hoàn toàn dựa vào kết quả giám định của Công ty X trong việc giải quyết vụ kiện, nhưng Hội đồng Trọng tài công nhận kết luận giám định của Công ty X “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt, may công nghiệp hàng loạt”. Hội đồng Trọng tài cho rằng Bị đơn đã biết rất rõ Nguyên đơn mua vải của Bị đơn là để gia công may xuất khẩu. Quá trình xác định mẫu vải còn có đại diện khách hàng của Nguyên đơn cùng tham gia. Do vậy, Bị đơn phải chịu trách nhiệm về chất lượng lô hàng này. Mặt khác, Nguyên đơn cũng chưa xuất trình đầy đủ chứng cứ để yêu cầu Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn toàn bộ số tiền nêu trong đơn kiện là 44.089,81 USD.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng Trọng tài cho rằng cả Nguyên đơn và Bị đơn đều có lỗi trong vụ việc này và quyết định như sau:
- Buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn các khoản tiền sau:
+ 10.556,4 USD, tức 1/3 tổng trị giá lô hàng thuộc Hợp đồng là 31.669,2 USD.
+ 225,20 USD, tức 1/3 số tiền lãi tính đến ngày xét xử.
- Nguyên đơn được sở hữu toàn bộ lô hàng nhập khẩu nói trên.
- Bác các yêu cầu khác của Nguyên đơn.
- Nguyên đơn phải chịu 2/3 phí Trọng tài. Bị đơn phải chịu 1/3 phí Trọng tài.
BÌNH LUẬN VÀ LƯU Ý
Trong vụ kiện trên, hai bên mua bán theo mẫu nhưng cả hai bên đều không thực hiện đúng quy trình lấy mẫu và bảo quản mẫu. Thông thường, trong mua bán quốc tế, khi mua bán hàng theo mẫu thì phải có tối thiểu là 3 mẫu. Người bán giữ một mẫu, người mua giữu một mẫu và một mẫu gửi cho tổ chức độc lập, trung gian. Ngoài ra, khi lấy mẫu thì các bên phải ký xác nhận, niêm phong, đóng dấu. Sau đó, mẫu phải được bảo quản trong điều kiện an toàn để làm căn cứ đối chiếu với hàng thực giao.
Về giám định chất lượng hàng hóa, việc Bên mua thỏa thuận để kết quả giám định của nhà sản xuất có giá trị cuỗi cùng là một sơ suất lớn. Trong thực tế, khi sản xuất ra một sản phẩm,nhà sản xuất phải công bố các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm. Đây là nghĩa vụ đương nhiên của nhà sản xuất. Các kết luận của nhà sản xuất về quy cách, phẩm chất của hàng hóa chỉ là sự xác nhận đơn phương, không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba, nhất là với bên mua. Trong thực tế có thể có sự khác nhau về chỉ tiêu chất lượng giữa sản phẩm được sản xuất ra và các chỉ tiêu do nhà sản xuất công bố. Trong trường hợp đó phải có sự kết luận của tổ chức giám định trung gian, độc lập mới có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. Tuy nhiên, trong vụ kiện này, Nguyên đơn đã chấp nhận kết quả kiểm tra của nhà sản xuất có giá trị cuối cùng tức là đã loại trừ vai trò của tổ chức giám định.
SOURCE: VIETSHIP.VN

Wednesday, February 12, 2014

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP

PHẠM XUÂN QUỲNH – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Chuyên đề 2

KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA UCP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ


Bản Quy tắc và Thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniformes Customs and Pratice for Documentary Credits -UCP) là kết quả của việc tập hợp những tập quán được hình thành bởi các chủ thể hoạt động trong thương mại quốc tế. Nó không có giá trị ràng buộc đối với Tòa án vì đó không phải là luật quốc gia mà cũng không phải là điều ước quốc tế. Do vậy, việc áp dụng những nguyên tắc này không đương nhiên. Phân tích từ góc độ pháp lý thì UCP được áp dụng để điều chỉnh thư tín dụng khi có sự lựa chọn của các bên về việc áp dụng những quy định này hoặc do tính chất tập quán của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên.


I. Khả năng áp dụng của UCP khi có sự lựa chọn của các bên

Lựa chọn

Học lý của Pháp thống nhất rằng UCP có tính chất như một hợp đồng mẫu. Như vậy, đối với các quy định của hợp đồng mẫu thì các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ có thể lựa chọn các quy định để điều chỉnh mối quan hệ của họ. Một tác giả nêu quan điểm rằng, « trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng phát hành trên thế giới đều chứa đựng một điều khoản áp dụng UCP, quy định này đồng thời cũng được nêu rõ trong hợp đồng mua bán ».

Trong rất nhiều vụ việc, chúng ta có thể thấy rằng các bên quyết định áp dụng UCP để điều chỉnh quan hệ của họ. Ví dụ, trong một tranh chấp do Tòa phúc thẩm Tunis giải quyết ngày 9 tháng 4 năm 2001, có sự tồn tại của « một thỏa thuận giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành, giao dịch này do Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do Phòng Thương Mại Quốc Tế ấn hành ».

Trên thực tế, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh mối quan hệ của họ ngay từ thời điểm mở thư tín dụng hoặc sau thời điểm đó. Ví dụ, khi phát sinh tranh chấp, nếu một bên muốn áp dụng các quy định của UCP và bên kia không phản đối thì UCP sẽ được áp dụng. Trong trường hợp này, chúng ta hiểu rằng các bên đã « ngầm » lựa chọn UCP. Vấn đề cần làm sáng tỏ thêm, đó là liệu việc các bên lựa chọn UCP có được thừa nhận ở Pháp và Việt Nam không.

Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Pháp


Giá trị của việc lựa chọn

Khi các bên lựa chọn UCP thì các quy định của nó sẽ trở thành một bộ phận của hợp đồng. Vi phạm các quy định này tức là vi phạm hợp đồng. Theo luật của Pháp, cụ thể là điều 1134 Bộ luật dân sự, hợp đồng là « luật của các bên ». Nó có giá trị ràng buộc đối với các bên cũng như đối với thẩm phán giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đó. Trên thực tế, khi các bên lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ, Tòa án tối cao của Pháp cũng thừa nhận UCP có giá trị như hợp đồng và thẩm phán không được vi phạm những quy định này.


Ví dụ. Theo yêu cầu của công ty Rodier, ngân hàng Natexis Banques Populaires đã phát hành tám thư tín dụng cho người hưởng lợi là các nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài. Không bên nào phản đối việc áp dụng UCP. Tòa án tối cao Pháp đã hủy bản án của Tòa phúc thẩm Douai căn cứ vào các điều 9, 13, 14 và 42 của UCP 500 và Điều 1134 BLDS Pháp. Cụ thể, bản án này liên quan đến tranh chấp giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành do ngân hàng từ chối bộ chứng từ bất hợp lệ. Người yêu cầu mở thư tín dụng, công ty Rodier phản đối Natexis Banques Populaires từ chối bộ chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Rodier thông báo với ngân hàng rằng mình đồng ý thanh toán mặc dù có sai sót trong bộ chứng từ. Tòa phúc thẩm Douai nhận định rằng ngân hàng phát hành phải tuân theo quyết định của người yêu cầu mở thư tín dụng và do đó, tòa án đã buộc ngân hàng thanh toán khoản tiền trong thư tín dụng. Tuy nhiên quyết định này không nhận được sự đồng thuận của các thẩm phán Tòa án tối cao, họ cho rằng « ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi các giao dịch trước đó với khách hàng, hoàn toàn có quyền từ chối chấp nhận các điểm bất hợp lệ và từ chối thanh toán, mặc dù đã tham khảo ý kiến của người yêu cầu mở thư tín dụng và được sự đồng ý của họ chấp thuận bỏ qua các điểm bất hợp lệ. Do đó, Tòa án tối cao nhận định rằng ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi quyết định của khách hàng. Ví dụ trên cho thấy rằng khi các bên lựa chọn UCP thì thẩm phán phải tôn trọng các quy định của UCP như là luật điều chỉnh hợp đồng.


Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Việt Nam


Thừa nhận rõ ràng

Việc thừa nhận UCP là tập quán cũng được đề cập trong các tài liệu chuyên ngành ở Việt Nam. Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ « đây là những tập quán, thông lệ quốc tế được Phòng thương mại quốc tế (Paris) pháp điển hóa ». Sự thừa nhận UCP như những tập quán thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam cho phép các bên lựa chọn tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Căn cứ vào các văn bản này, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng các quy định của pháp luật Việt Nam thừa nhận sự lựa chọn của các bên liên quan đến việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Do UCP được thừa nhận như là tập quán quốc tế, các bên đều có quyền chọn lựa UCP để điều chỉnh quan hệ hợp đồng của họ.


Thừa nhận « ngầm »

Theo điều 769, khoản 1 Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theoo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ».

Căn cứ vào Bộ luật dân sự, luật áp dụng cho hợp đồng là luật của nước nơi thực hiện hợp đồng nếu các bên « không có thỏa thuận khác ». Khi các bên quyết định lựa chọn UCP tức là các bên đã có một thỏa thuận khác về luật áp dụng. Do đó, luật của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ không được áp dụng để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta phải tôn trọng lựa chọn của các bên. Điều đó cho thấy nếu Bộ luật dân sự không cho phép rõ ràng các bên lựa chọn tập quán quốc tế thì nó cũng « ngầm » thừa nhận sự lựa chọn này.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lựa chọn áp dụng UCP của các bên tham gia giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng.

Ngoại lệ.

Trong trường hợp có sự khác biệt giữa luật quốc gia và tập quán quốc tế thì luật quốc gia phải được tuân thủ. Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, việc lựa chọn áp dụng tập quán chỉ được chấp nhận khi thỏa mãn một số điều kiện. Ví dụ như việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Nguyên tắc này cũng nhận được sự đồng thuận của các nhà soạn thảo UCP, « sự áp dụng của UCP đối với tín dụng chứng từ không ngăn cản việc Tòa án áp dụng pháp luật quốc gia. UCP không quy định về những khác biệt giữa UCP và luật quốc gia. Những tranh chấp phát sinh sẽ do Tòa án giải quyết ».

Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng, chúng tôi không tìm thấy bất cứ văn bản nào liên quan đến việc phát hành thư tín dụng cũng như những hoạt động của ngân hàng Việt Nam tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ. Do không có văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thư tín dụng và do sự phổ biến của UCP trong thương mại quốc tế, chúng ta có thể suy luận rằng các quy định của UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo ông Nguyễn Trọng Thùy, « trên thực tế, không có khác biệt giữa tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng ».

Do đó, các bên tham gia vào hoạt động ngân hàng hoàn toàn có thể thỏa thuận áp dụng Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương Mại Quốc Tế. Theo quan điểm của nhiều tác giả, « tập quán do các bên lựa chọn là một bộ phận của hợp đồng. Vì thế, tuân thủ tập quán đó cũng là tuân thủ hợp đồng ». Ông Đỗ Tất Ngọc, chuyên gia về thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết : « UCP không được tự động áp dụng để điều chỉnh giao dịch thư tín dụng mà mang tính pháp lý tùy ý. Nghĩa là các bên tham gia có quyền lựa chọn áp dụng hay không áp dụng. Nhưng một khi đã đồng ý áp dụng thì các quy tắc sẽ ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên ».


Vướng mắc

Trên thực tế, trong nhiều thư tín dụng có một điều khoản nêu rằng « Trừ khi có quy định khác, thư tín dụng này căn cứ theo Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ, bản sửa đổi …, ấn bản ICC số… ». Liệu điều khoản này có được xem là một « lựa chọn rõ ràng » của các bên áp dụng UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng thư hay không ? Như chúng ta đã biết, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm sự cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng. Tuy nhiên, còn có sự tham gia của nhiều chủ thể khác trong giao dịch này. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, điều khoản trên trong thư tín dụng có được xem như lựa chọn áp dụng UCP điều chỉnh quan hệ giữa các bên hay không ? Câu trả lời thật không đơn giản và chúng tôi cũng không tìm thấy ví dụ trong thực tiễn xét xử của tòa án.


Nhận xét so sánh

Được xem như những quy định của hợp đồng mẫu, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Lựa chọn này có thể được thực hiện ngay khi phát hành thư tín dụng hoặc sau một thời gian. Luật của Pháp và luật Việt Nam đều thừa nhận rằng một khi các bên đã lựa chọn UCP thì các quy định của nó là một phần cấu thành của hợp đồng. Do đó, tuân thủ UCP cũng là tuân thủ hợp đồng. Án lệ của Pháp đã khẳng định cụ thể nguyên tắc này. Ở Việt Nam, nhiều văn bản pháp luật (luật, nghị định) thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế của các bên, bao gồm cả UCP. Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên cũng thể hiện rõ ràng sự lựa chọn áp dụng UCP. Trong trường hợp đó, UCP có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Chúng ta hãy tìm câu trả lời trong phân đoạn sau.


II – Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên

Giới thiệu.

Đối với một thư tín dụng không có điều khoản nào liên quan đến việc áp dụng UCP thì thư tín dụng đó có chịu sự điều chỉnh của bản quy tắc này không ? Chúng ta sẽ nghiên cứu vấn đề này trong pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật của Pháp

Học lý

Liên quan đến khả năng áp dụng của UCP trong trường hợp các bên không lựa chọn rõ ràng bản quy tắc, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo giáo sư Jean Stoufflet, khoa Luật và Khoa học chính trị của trường đại học Clermont-Ferrand, « UCP sẽ chắc chắn áp dụng đối với thư tín dụng có chứa đựng điều khoản về áp dụng UCP. Tuy nhiên trong trường hợp thư tín dụng không có dẫn chiếu đến UCP thì nó có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Câu trả lời là không bởi vì bản quy tắc này vốn là một hợp đồng mẫu và chỉ được áp dụng khi các bên thể hiện sự lựa chọn trong hợp đồng ». Tuy nhiên, giáo sư Mohamed Salah, khoa Luật của trường đại học Nice, lại nêu quan điểm trái ngược, theo đó « khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn UCP thì nó có áp dụng cho quan hệ thư tín dụng với tính chất là một tập quán được thừa nhận rộng rãi hay không, câu trả lời sẽ là .


Án lệ

Cả học lý và án lệ đều thừa nhận UCP là một tập quán thương mại quốc tế. Theo Marie Tilche, « bản quy tắc này có giá trị như tập quán »[15]. Tương tự, chúng ta có thể thấy rõ quan điểm này cũng được thể hiện trong các án lệ của Pháp. Ví dụ, Tòa phúc thẩm Versailles nhận định rằng « Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất và tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán »[16]. Với tính chất tập quán, UCP hoàn toàn có thể được áp dụng mặc dù không có sự lựa chọn của chủ thể tham gia quan hệ. Marie Tilche cho rằng, « trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên, những nguyên tắc này đương nhiên được áp dụng »[17].


Án lệ (tiếp).

Ví dụ, công ty V.T.N. đặt hàng công ty G.F. gia công và cung ứng hàng may mặc. Người bán dự định giao hàng trong hai đợt. Ngân hàng B.F.C.C. đã phát hành thư tín dụng không hủy ngang cho người hưởng lợi là công ty G.F., thư tín dụng có hiệu lực đến ngày 20 tháng 4 năm 1998. Ngân hàng B.N.P. đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo, vừa là ngân hàng xác nhận. Tuy nhiên, lô hàng thứ hai được giao sau khi thư tín dụng đã hết hiệu lực và do đó, ngân hàng B.F.C.C. từ chối thanh toán cho người bán. Công ty G.F. đã khởi kiện ngân hàng B.F.C.C. tại Tòa thương mại Nanterre đòi thanh toán số tiền theo giá trị của thư tín dụng cùng với các khoản bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên tòa đã bác yêu cầu của G.F. Công ty này kháng án với lý lẽ « vì bất kỳ nguyên nhân nào, ngân hàng B.F.C.C. đã có lỗi trong việc không cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy theo điều 12 UCP 500 ».

Tòa phúc thẩm Versailles đã thừa nhận rằng giao dịch tín dụng chứng từ giữa công ty G.F. và ngân hàng B.F.C.C. chịu sự điều chỉnh của UCP. Cụ thể, Tòa nêu quan điểm rằng « do không có văn bản điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nên Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán và được áp dụng khi không có thỏa thuận trái ngược của các bên tham gia về việc loại trừ một hoặc nhiều điểm cụ thể của Bản Quy Tắc, nhưng trong trường hợp này thì các bên không có thỏa thuận trái ngược nào ». Sau khi thừa nhận khả năng áp dụng của UCP, Tòa phúc thẩm đã vận dụng các quy định của UCP, bác yêu cầu của công ty G.F. theo điều 42, UCP 500, liên quan đến việc dự trù thời hạn hiệu lực của thư tín dụng[20] : « Việc gia hạn thời hạn hiệu lực của thư tín dụng phải được sự đồng ý của tất cả các bên liên quan như người mua, người bán, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận. Mặt khác, thỏa thuận này phải được thể hiện rõ ràng trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng ».

Ví dụ trên cho thấy khi các bên không lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn có thể được áp dụng với giá trị tập quán. Một nhà bình luận nêu quan điểm, « vì là một tập quán, UCP phải được áp dụng mặc dù các bên không thỏa thuận về việc áp dụng đó. Thực tiễn phong phú của thương mại quốc tế đã chứng minh vai trò không thể thiếu của tập quán ». Tòa thương mại Paris cũng đã thừa nhận hiệu lực bắt buộc của UCP với vai trò tập quán trong quá trình giải quyết một tranh chấp trong đó một bên tham gia cho rằng UCP chỉ là « những quy định mang tính chất gợi ý ». Tòa án đã bác bỏ lập luận này và nhận định rằng bản quy tắc « là tập hợp những tập quán hình thành từ thực tiễn thương mại quốc tế. Mặc dù không có sự lựa chọn của các bên, UCP vẫn là một nguồn luật điều chỉnh giao dịch nếu các bên không loại trừ việc áp dụng các quy định của nó ».


Nhận xét.

Chúng ta vừa nghiên cứu vai trò tập quán của UCP, theo đó, mặc dù không có sự thỏa thuận trước, các bên vẫn có thể áp dụng bản quy tắc này.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng UCP được áp dụng khi thỏa mãn một số điều kiện. Theo quan điểm của án lệ, người ta áp dụng UCP « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ » và « bản quy tắc được áp dụng nếu các bên tham gia giao dịch « không loại trừ việc áp dụng các quy định của UCP ».

Nhận xét cuối cùng, đó là sự thừa nhận giá trị tập quán thương mại quốc tế của UCP không được thể hiện trong các văn bản pháp luật mà được hình thành từ các phán quyết của tòa án tại Pháp.


Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật Việt Nam

Văn bản pháp luật.

Chúng ta có thể nhận thấy sự tương đồng giữa quan điểm của các thẩm phán Pháp và các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Theo đó, việc áp dụng tập quán quốc tế phải thỏa mãn một số điều kiện. Cụ thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật dân sự, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh, đồng thời việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Do đó, chúng ta kết luận rằng, với một số điều kiện nhất định, « tập quán quốc tế vẫn được áp dụng khi các bên không thỏa thuận ».

Ví dụ.

Hãy cùng nghiên cứu một ví dụ để làm sáng tỏ kết luận nêu trên. Đây là một tranh chấp do thẩm phán Việt Nam giải quyết căn cứ vào tập quán quốc tế mặc dù các bên không thỏa thuận việc áp dụng tập quán điều chỉnh trong hợp đồng.

Công ty Kolon International Corp. (Hàn Quốc) và công ty Vinafood (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán phân bón nhập từ Mỹ. Hợp đồng có điều khoản về mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty Kolon. Ngân hàng Vietcombank đã phát hành theo yêu cầu của công ty Vinafood. Sau khi nhận bộ chứng từ do ngân hàng Cho Hung (Hàn Quốc) chuyển đến, Vietcombank kiểm tra và phát hiện các điểm bất hợp lệ. Sau đó ngân hàng phát hành thông báo cho người yêu cầu mở thư tín dụng về sai sót trong bộ chứng từ. Công ty Vinafood không chấp nhận các sai sót này. Do đó, Vietcombank từ chối thanh toán cho người thụ hưởng với lý do miêu tả trong các chứng từ không phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng. Người thụ hưởng Hàn Quốc không đồng ý với quyết định trên và cho rằng các điểm mà ngân hàng phát hành xem là không phù hợp không được quy định trong thư tín dụng. Công ty Kolon kiện Vietcombank tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để đòi bồi thanh toán khoản tiền của thư tín dụng.

Tuy nhiên, căn cứ vào các điều 29(b.ii), 37(c), 13(a) của UCP 500, Tòa án bác yêu cầu của Kolon. Các thẩm phán đã áp dụng bản quy tắc này đối với giao dịch tín dụng chứng từ nói trên trong khi không có yếu tố nào của bản án cho thấy các bên đã chọn UCP điều chỉnh quan hệ của họ. Nói cách khác, thực tiễn xét xử của tòa án Việt Nam cũng thừa nhận việc áp dụng UCP trong trường hợp không có sự lựa chọn của các bên.

Nhận xét so sánh.

Tại Pháp và Việt Nam, khi các bên không thể hiện rõ ràng sự lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn được áp dụng với tính chất là tập quán thương mại quốc tế.

Điều kiện áp dụng UCP ở Pháp và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Ở Pháp, UCP được áp dụng « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch thư tín dụng » và « khi các bên không loại trừ việc áp dụng UCP ». Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự quy định rằng việc áp dụng tập quán quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Hạn chế này không được ghi nhận trong án lệ của Pháp. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam do bản quy tắc này được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế.

Lưu ý rằng pháp luật của Pháp và Việt Nam thừa nhận các điều kiện áp dụng của UCP theo hai cách khác nhau. Ở Pháp, các điều kiện này được hình thành từ các phán quyết tòa án trong khi đó, ở Việt Nam, chúng được quy định trong các văn bản của Quốc hội hoặc Chính phủ. Một điểm khác biệt nữa cần nhắc đến, đó là trong quá trình giải quyết tranh chấp, các thẩm phán của Pháp đều giải thích tại sao bản quy tắc này được áp dụng. Còn thẩm phán Việt Nam thường thiếu sự giải thích quan trọng trên. Trong bản án mà chúng tôi vừa phân tích cũng như trong một bản án sẽ tìm hiểu dưới đây, tòa án Việt Nam đã áp dụng các quy định của UCP mà không trình bày lý do tại sao UCP được áp dụng. Điều đó cho thấy rằng thẩm phán Việt Nam dường như không cẩn trọng trong công việc xét xử như thẩm phán của Pháp. Theo chúng tôi, đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trước tiên các thẩm phán nên giải thích cặn kẽ tại sao văn bản này được áp dụng đối với vụ việc đó rồi mới bắt đầu vận dụng các quy định để giải quyết, bởi vì như chúng ta đã đề cập, bản thân các nguyên tắc UCP không ràng buộc Tòa án Việt Nam, việc áp dụng chúng không đương nhiên.

Kết luận

Nghiên cứu về khả năng áp dụng của UCP đối với giao dịch tín dụng chứng từ cho chúng ta thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận việc áp dụng UCP khi các bên tham gia giao dịch lựa chọn bản quy tắc này. Trong trường hợp các bên không lựa chọn thì UCP vẫn được áp dụng với tính chất tập quán quốc tế. Tuy nhiên các nhà làm luật ở Pháp và Việt Nam quy định các điều kiện áp dụng UCP thông qua các cách thức khác nhau.
Phạm Xuân Quỳnh
Khoa Luật Quốc tế
Đại học Luật TPHCM

(Tháng 2/2007)
SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – Vụ trưởng Vụ tài chính – tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã diễn ra ngày một sâu rộng trong các tháng qua và đã lan rộng ra khắp thế giới, đã có nhiều tác động không thuận đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mức độ phạm vi ảnh hưởng chưa thể đánh giá và dự báo chính xác do tình hình khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đang tiếp tục diễn biến khó lường. Do vậy, trong bài báo này, bước đầu chúng tôi xin phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp ngăn chặn tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đến nền kinh tế nước ta trong thời gian tới.
I.  ĐIỂM LƯỢC TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi Công ty Thế chấp nhà Mỹ (American Home Morgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia, Washington Mutual Inc, Bear Sterns, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Tâp đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIG), Goldman Sachs, Morgan Stanley…).
Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống Hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.
Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưng đến đầu tháng 11 này, các cơ quan của Mỹ đã phải đóng của thêm một ngân hàng nữa là Freedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17 ngân hàng. Đến thời điểm hiện nay thì nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng 10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905 lượt người), tức là mỗi ngày có 4.936 đơn xin phá sản, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2007. Tại một số bang của Mỹ, tình hình người dân lâm vào phá sản rất cao, như tại bang Nevada, số đơn xin phá sản trong tháng 10/2008 tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, bang California và Florida là 80% và 62%. Tóm lại nền kinh tế Mỹ hiện nay là khá trầm trọng và đã lây lan khủng hoảng này sang hầu khắp các nước trên thế giới.
Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnh trước diễn biến thị trường tài chính Mỹ. Đặc biệt, ngày 17/9, bất chấp nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001.
Do mức độ trầm trọng và lan rộng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế trên thế giới đã và đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực và đã có nền kinh tế lâm vào khủng hoảng mặc dù các nước này đã phối hợp sử dụng một nguồn lực tài chính lớn chưa từng có (tới hàng nghìn tỷ USD) và gần như tất cả các biện pháp có thể để hỗ trợ thanh khoản và cứu hệ thống tài chính khỏi sụp đổ.
Đối với châu Á, khủng hoảng kinh tế đã tràn vào và Inđônêxia là nước hứng chịu đầu tiên. Tiếp theo là các nền kinh tế ở châu Á khác cũng đang từng bước bị ảnh hưởng ở mặt này, mặt khác với mức độ nặng nhẹ khác nhau, thể hiện ở hàng loạt thị trường chứng khoán ở châu Á bị rơi tự do, nhiều công ty tài chính, ngân hàng khó khăn, thua lỗ và có nguy cơ phá sản. Nền kinh tế Nhật Bản đang lâm vào khủng hoảng trong những ngày gần đây: giá chứng khoán giảm mạnh, nhiều ngân hàng, công ty đã và đang trên bờ vực thẳm. Như vậy, cuộc khủng hoảng này đã được coi là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Đánh giá ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế Mỹ đến thời điểm hiện nay trên toàn thế giới là rất khó, nhưng có thể thấy đây là một con số khổng lồ. Mới đó mà nhiều quốc gia đã phải bơm ra hàng trăm tỷ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế. Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn và thất nghiệp đang chờ phía trước. Cho tới thời điểm hiện tại, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu.
Nguyên nhân của khủng hoảng lần này ở Mỹ là do một số nguyên nhân chính như: (i) Đầu tư bất động sản và tiêu dùng quá lớn; (ii) Do chính sách tài chính, tiền tệ quá lỏng, nên đã khuyến khích tiêu dùng và trực tiếp là cho vay dưới chuẩn để đầu tư bất động sản; (iii) Chứng khoán hoá tràn lan thiếu kiểm soát: các ngân hàng đầu tư ở Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường; (iv) Sự quản lý, giám sát và điều hành của Chính phủ lỏng lẻo trong suốt thời gian dài, đặc biệt là do chủ thuyết tự do hoá tài chính và thị trường tự do tự điều tiết; (v) Chủ thuyết tân tự do kinh tế Mỹ dựa vào tiêu dùng tư nhân (gần 70% GDP) và chi tiêu Chính phủ (13% GPD).
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đã đặt chính phủ các nước phải đưa ra các biện pháp chống đỡ như: Thứ nhất là sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ rút tiền hàng loạt của dân chúng trong thời gian ngắn (tăng mức bảo hiểm tiền gửi, hoặc cam kết bảo đảm an toàn tiền gửi và chi trả đầy đủ tiền gửi tiết kiệm cho dân chúng, cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính vay tiền; Thứ hai là nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách bơm một lượng tiền lớn cho nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng; giảm lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng khả năng thanh khoản; Thứ ba là quốc hữu hoá, nhà nước mua lại các khoản nợ xấu, mua lại cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành; khuyến khích các ngân hàng, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp mua lại các tổ chức đổ vỡ và phá sản. Tiếp theo là cơ cấu lại các ngân hàng và hệ thống tài chính trong nước; Thứ tư là cơ cấu lại quản trị các ngân hàng, tăng cường hệ thống giám sát bảo đảm an toàn, cơ cấu lại các khoản vay, cắt giảm nhân viên, tiết kiệm chi phí, chấn chỉnh lại các quy định nội bộ…; Thứ năm là vay tiền của IMF để xử lý khó khăn trong nước…; Thứ sáu là thực hiện một số giải pháp hỗ trợ và kích thích sản xuất hoặc đưa tiền ra để đầu tư vào những dự án hạ tầng lớn…
Như vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới lần này đặt chúng ta nhìn nhận lại sự kết hợp hài hoà giữa thị trường tự do và quản lý của nhà nước. Phải chăng việc tập trung hoá quá cao đã không thành công thì việc tự do hoá nền kinh tế thái quá cũng không thành công. Vấn đề không phải là đối lập nhau giữa thị trường tự do với điều tiết của nhà nước mà cần kết hợp hài hoà. Câu hỏi hiện nay là chính sách và liều lượng tự do hoá đến đâu thì thành công và bền vững, vai trò điều tiết của nhà nước cần thiết ở chừng mực nào.
Tình hình kinh tế Mỹ và thế giới từ nay đến cuối năm 2008 và năm 2009 sẽ có nhiều khó khăn, Theo IMF, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008 ở mức 2,8% và 2,2% năm 2009; theo HSBC, tăng trưởng kinh tế Mỹ quý IV năm 2008 là -3,0% và 2009 tăng trưởng Quý I là -0,8%, Quý II là 1,5%, Quý III là 2,6%, Quý IV là 2,8%, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ sẽ tăng lên, cuối năm 2008 ở mức 8% và 2009 là 7,8%. Tốc độ tăng tăng xuất khẩu và nhập khẩu Mỹ sẽ giảm mạnh: cuối năm 2008, xuất khẩu giảm -1,5%, nhập khẩu giảm -3,8%, đầu năm 2009 xuất khẩu giảm -1,7% và nhập khẩu giảm – 7,1%.
II. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NƯỚC TA
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta trên cả góc độ trực tiếp và gián tiếp, tuy nhiên mức độ không giống như các nước khác và chưa thể xác định cụ thể, cũng không quá lo, không hoảng hốt, nhưng không chủ quan mà bình tĩnh để xem xét, xử lý. Mặc dù, đã có nhiều ý kiến và chắc chắn sẽ còn nhiều ý kiến nữa đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế giới đến nước ta, nhưng nhìn chung có thể nói, nền kinh tế nước ta đang có chiều hướng chuyển động tốt, trở lại dần với xu thế ổn định, lạm phát được kiềm chế, tăng trưởng ở mức hợp lý, các cơ chế chính sách đang từng bước được rà soát phù hợp hơn. Nhìn vào các ngành, lĩnh vực cụ thể, chúng tôi xin nêu một số ý ban đầu như sau:
- Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: Mặc dù bị thiệt hại nặng vì lũ lụt, thiên tai ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung gây ra hư hỏng nặng về hoa màu, nhưng khả năng vụ mùa vẫn được bảo đảm. Năm 2009, khả năng sản xuất lương thực thực phẩm cũng ở mức ổn định, không bị ảnh hưởng lớn của khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới.
- Đối với sản xuất công nghiệp cũng có khó khăn, nhưng những khó khăn hiện nay là do lạm phát cao đem lại, đặc biệt là khó khăn trong lĩnh vực xây dựng. Năm 2009, khi giá cả thế giới ở mức thấp và giá trong nước ổn định, đặc biệt đi theo đó là lãi suất tín dụng ngân hàng sẽ giảm xuống tương ứng thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội khôi phục và phát triển sản xuất, ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế thế giới cũng sẽ không nhiều vì sức mua trong dân vẫn cao, mức tiêu thụ hàng hoá trong các tháng vẫn ở trong phạm vi khả quan.
- Đối với dịch vụ, về cơ bản có ảnh hưởng nhưng không lớn vì khi giá cả giảm xuống thì nhu cầu dịch vụ sẽ tăng lên và người tiêu dùng sẽ được hưởng thụ nhiều hơn các loại hình dịch vụ. Đối với dịch vụ tài chính, ngân hàng sẽ tốt hơn khi lãi suất tín dụng ngân hàng giảm xuống, chi phí dịch vụ ngân hàng ở mức thấp thì nhiều doanh nghiệp và cá nhân sẽ có điều kiện vay vốn và sử dụng các dịch vụ này nhiều hơn.
- Đối với xuất – nhập khẩu thì có ảnh hưởng trên các mặt như: do nhập khẩu các nước giảm nên xuất khẩu của ta giảm, hơn nữa giá cả các mặt hàng giảm nên mặc dù tổng sản lượng hàng xuất khẩu vẫn tăng nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm. Đó là chưa kể các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu gặp khó khăn trong huy động vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tháng 8/2008, ta xuất khẩu 6,1 tỷ USD, tháng 9/2008 giảm xuống còn 5,3 tỷ USD. Năm 2009 khả năng xuất khẩu sẽ không tăng cao do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trên các mặt nêu trên. Đối với nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2008 tăng 42,6% và nhập siêu bằng 30,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2009, nhập khẩu sẽ giảm nhưng không nhiều, khả năng nhập siêu sẽ cao.
- Hệ thống ngân hàng: Có 3 chi nhánh ngân hàng Mỹ hiện đang hoạt động tại Việt Nam là JP Morgan Chase, Citibank và FENB. Tuy nhiên chưa có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngân hàng của các chi nhánh này tại Việt Nam. Về hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có một số tác động gián tiếp, tuy nhiên cũng không đáng kể. Một số tác động có thể là: diễn biến của tỷ giá và lãi suất USD. Đô la Mỹ đã có diễn biến phức tạp do tâm lý lo lắng của nhà đầu tư. Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm người dân dự đoán USD sẽ xuống giá nghiêm trọng, và họ có thể rút USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD để mua VND gửi vào. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có một số giải pháp chỉ đạo, điều hành để ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại…
- Về tài chính, ngân sách và bảo hiểm có một số tác động nhẹ như giảm nguồn thu NSNN, hay người dân sẽ giảm các hoạt động bảo hiểm nhưng những vấn đề này về cơ bản là ổn định.
- Đầu tư nước ngoài vào nước ta: có thể được xem xét ở trên các góc độ và các mặt như: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta (FDI); đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán (FII), Viện trợ phát triển chính thức (ODA), Vay nợ nước ngoài và các nguồn khác.
Đến thời điểm hiện nay, Mỹ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ cóá hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 4,1 tỷ USD, các dự án phần lớn còn ở giai đoạn đầu và phần nhiều đầu tư vào hạ tầng dài hạn (khách sạn du lịch, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải bưu điện). 65% đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam là vào lĩnh vực dịch vụ, trong đó khách sạn du lịch chiếm 52%. Đây là khu vực có thể chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng cụ thể còn phụ thuộc vào tốc độ giải ngân của các dự án tại nước ngoài và tiềm lực, chiến lược đầu tư của từng công ty. Luồng vốn FDI thực hiện trong 10 tháng đầu năm đạt 9,1 tỷ USD, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2007. Nhìn chung, các nhà đầu tư đến từ châu Âu và Mỹ chỉ chiếm khoảng 5% trong số 59,3 tỷ USD đăng ký, trong khi các nhà đầu tư châu Á chiếm khoảng 80% (13% từ Nhật Bản và 67% từ các nước châu Á khác). Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới không chỉ gây ra khó khăn cho các nhà đầu tư Mỹ mà còn cho các nhà đầu tư từ các nước khác do sự liên thông và lệ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và các nhà đầu tư.
Đối với nguồn vốn FDI đã bắt đầu bị ảnh hưởng nhẹ. Một số dự án đăng ký mới có xu hướng chững lại, trong tháng 10/2008, chỉ số 68 dự án đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký là 2,02 tỷ USD, thấp hơn so với các tháng đầu năm (bình quân 1 tháng đầu năm số dự án đăng ký mới là trên 98 dự án với tổng số vốn trên 6,25 tỷ USD; 9 tháng đầu năm 2008 có 885 dự án đăng ký với tổng số vốn 56,27 tỷ USD). Tháng 10 năm 2008, tổng số vốn thực hiện chỉ đạt 15% so với số vốn đăng ký mới và tăng thêm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta sẽ sút giảm nhẹ vì các nước đều khó khăn, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ khó khăn hơn vì chi phí vốn sẽ đắt đỏ hơn. Hơn nữa, nhiều công ty mẹ yêu cầu các công ty con đầu tư tại nước ta phải giảm đầu tư rút vốn về để tháo gỡ khó khăn cho công ty mẹ.
Về nguồn vốn ODA, trong tháng 10, giải ngân đạt thấp, năm 2008 giải ngân không đạt như dự báo 2,3 tỷ USD vì các nguồn vốn cũng gặp các khó khăn và hạn hẹp khi các nước đang tập trung chống khủng hoảng tại nước mình. Như vậy, có thể thấy số vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam trong những năm tới sẽ có xu hướng giảm do nguồn lực tài chính của các tổ chức tài chính quốc tế và các nước được dành để cân đối bình ổn thị trường trong từng nước và quốc tế nên sẽ khó khăn hơn trong tài trợ ODA.
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII), chúng ta có thể thấy: trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đang lan rộng ra toàn cầu, các định chế tài chính sẽ phải xem xét lại chiến lược đầu tư và danh mục đầu tư của mình. Điều đó có thể sẽ diễn ra sự điều chỉnh nhất định của dòng đầu tư vào thị trường vốn Việt Nam, giảm bớt đầu tư vào Việt Nam và có xu hướng đầu tư vào các kênh an toàn.
Tính đến thời điểm này, có khoảng 70 quỹ đầu tư quốc tế lớn nhỏ đang thực hiện giải ngân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ khiến các quỹ đầu tư nước ngoài khó huy động vốn hơn hoặc sẽ có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư khi những thị trường lớn của họ đang có vấn đề. Luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng và có khả năng sẽ chảy ngược ra nếu tình hình thế giới tiếp tục xấu đi.
- Thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ thị trường chứng khoán thế giới. Mặc dù tình hình vĩ mô của Việt Nam 10 tháng đầu năm khả quan, nhưng chịu ảnh hưởng từ sự sụt giảm chứng khoán toàn cầu gây tâm lý cho các nhà đầu tư nên VN-Index cũng giảm liên tục. Hiện nay, VN-Index đã xuống dưới mức thấp và niềm tin của các nhà đầu tư cũng bị ảnh hưởng nhiều. Nhà đầu tư nước ngoài không bán chứng khoán ồ ạt nhưng cũng không mua vào nhiều chứng khoán.
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và toàn cầu cũng gây khó khăn cho việc phát hành trái phiếu và chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế vì chi phí tăng cao và ít nhà đầu tư hơn do dòng vốn khan hiếm. Nếu chúng ta phát hành để huy động với lãi suất quá cao thì đưa về đầu tư trong nước sẽ không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sẽ dẫn đến khó có khả năng trả nợ khi đến hạn.
Một nguồn lực tài chính mà chúng ta có thể hy vọng tương đối ổn định là nguồn kiều hối. Trong một vài năm trở lại đây nguồn kiều hối đã vào nước ta ở mức 9 – 10 tỷ USD, ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư kinh doanh, thì trong hai năm qua, nguồn vốn này đưa về nước còn thêm mục đích đầu tư bất động sản và đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, tình hình khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới hiện nay có thể làm cho nguồn này giảm vì tỷ lệ thất nghiệp ở các nước gia tăng, thu nhập của nhiều người sẽ giảm mạnh. Hơn nữa, thị trường chứng khoán và bất động sản ở ta cũng không còn hấp dẫn như trước đây nên khoản đầu tư vào các lĩnh vực này qua con đường kiều hối sẽ giảm mạnh.
Cùng với khó khăn của các nguồn vốn trên, thì nguồn vốn vay nước ngoài cũng sẽ bị hạn chế vì khan hiếm về vốn, chi phí vốn cao và người cho vay cũng sẽ bớt đi. Hơn nữa nếu vay để đầu tư trong giai đoạn này thì hiệu quả rất thấp nên cũng sẽ ít nhà đầu tư cố đi vay nước ngoài về để đầu tư nên khả năng đầu tư từ nguồn vốn này sẽ giảm.
Bên cạnh sự khó khăn và giảm đầu tư nước ngoài tại nước ta trong thời gian tới do khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới như đã nêu ở trên, thì chúng ta cũng thấy những cơ hội để các nguồn vốn này giảm không nhiều, đó là:
- Việt Nam đang được coi là nền kinh tế, đất nước có môi trường đầu tư ổn định nên nhiều nhà đầu tư vẫn muốn đầu tư vào nước ta. Nhiều nhà đầu tư vẫn tin vào tương lai và triển vọng phát triển của nền kinh tế nước ta và cho rằng tác động của khủng tài chính Mỹ và thế giới vào nước ta chỉ ở mức độ nhất định và sẽ khắc phục trong thời gian tới.
- Các nhà đầu tư Nhật Bản, Châu Âu đã nhắm vào khu vực Đông Nam Á và lên chiến lược trong 10 năm tới, trong đó nhấn mạnh nhất vào Việt Nam.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA
Trước tình hình khủng hoảng tài chính, tíán dụng thế giới và nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực, lạm phát tháng 10 đã ở mức -0,19%, tháng 11 là -0,76% so với tháng 10, nhưng vẫn đang ở trong tình trạng lạm phát cao. Do vậy, mục tiêu tổng quát về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009 đã được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 6/11/2008 là: “Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010”. Bên cạnh những khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới vào nước ta, phải kể đến những khó khăn nội tại nền kinh tế như: do thủ tục phiền hà, vướng mắc không được tháo gỡ nên nhiều công trình, dự án, doanh nghiệp gặp khó khăn
Chúng ta cần chuẩn bị các biện pháp tổng thể:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp chống lạm phát, nhất là tiếp tục chíánh sách tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt, thận trọng theo cơ chế thị trường (không đưa các giải pháp sốc). Sử dụng hiệu quả các công cụ tiền tệ với việc điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến của thị trường như: tỷ giá, lãi suất, hạn mức tín dụng… Trước mắt hạ lãi suất xuống một cách phù hợp theo tín hiệu thị trường. Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bảo đảm các khoản nợ này ở mức an toàn. Rà soát và kiểm soát chặt chẽ các khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán. Bên cạnh đổi mới và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, cần đổi mới quản trị nội bộ ngân hàng nhằm lành mạnh hoá hệ thống này tránh tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Thứ hai, tăng cường sự giám sát của Chính phủ đối với hệ thống tài chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán. Rà soát lại và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng. Rà soát lại các ngân hàng cho vay nhiều vào khu vực bất động sản và các dự án có tính rủi ro cao. Kiểm tra chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là tín dụng dành cho các lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm với các tiêu chí cụ thể để có phương án, giải pháp dự phòng đối với biến động xấu từ hệ thống ngân hàng, tài chính.
Thứ ba, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, có chính sách hỗ trợ nông nghiệp khắc phục hậu quả bão lụt, hỗ trợ người dân sản xuất lương thực, thực phẩm và người dân nghèo vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện thuận lợi đến các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Có chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm tiến độ thu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu trong trường hợp lạm phát cao và suy thoái kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tháng cuối năm.
Thứ tư, tiếp tục các chính sách về chặt chẽ chi tiêu Chính phủ và đầu tư khu vực công nhằm tránh xảy ra nguy cơ thâm hụt ngân sách. Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu tư công sang cho khu vực tư nhân sẽ góp phần vào việc giảm thuế cho khu vực doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Các doanh nghiệp sẽ có thêm được nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thị trường. Đẩy mạnh đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật lớn, quan trọng mà trong các thời điểm trước đây chưa có điều kiện đầu tư thì nay đầu tư để kích thích kinh tế phát triển.
Thứ năm, cải cách và tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng, phê duyệt dự án và về giải ngân để tạo điều kiện các dự án, chương trình được triển khai nhanh, đặc biệt là đối với các công ty xây dựng. Đối kinh doanh bất động sản thì bên cạnh đẩy mạnh và khuyến khích đầu tư và xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho sinh viên, học sinh, cần hạn chế và đánh thuế cao vào các trường hợp đầu cơ bất động sản.
Thứ sáu, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu, để tránh bớt tác động từ việc giảm nhập khẩu của Mỹ và một số nước chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính, tín dụng thế giới và tăng cường các thị trường mới, chuyển hướng tới mở rộng thị trường trong nước. Áp dụng các biện pháp chính sách để khuyến khích phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và giảm bớt nhập siêu. Thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt hỗ trợ xuất khẩu và tăng mức tín dụng ưu đãi cho sản xuất hàng xuất khẩu.
Tăng cường và đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước, nhất là trong các khâu thu mua nguyên liệu nông sản bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, phát triển hệ thống phân phối các vật tư quan trọng và hệ thống bán lẻ, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ bảy, theo dõi chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài, trong đó theo dõi việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Mỹ và các nước Châu Âu để có thể hỗ trợ khi cần thiết.
Thứ tám, tổ chức, điều hành và giám sát tốt việc bảo đảm sự thông suốt của cơ sở bán lẻ trong nước, không gây đầu cơ, ách tắc, khan hiếm hàng hoá. Đồng thời khuyến khích tiêu dùng hợp lý và nâng lương tối thiểu sớm cho cán bộ, công chức nhà nước và công nhân ở các doanh nghiệp.
Thứ chín, tăng cường công tác thông tin, quan hệ công chúng. Bám sát thường xuyên, cập nhật thông tin trong và ngoài nước để có đánh giá đúng diễn biến tình hình; qua đó có được phản ứng chính sách thích hợp và kịp thời nhất.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN  ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

TÌM HIỂU CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÀI HÒA HÓA VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

LÊ DUY
Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.
Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.
Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của CHDC ND Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.
Để cụ thể hoá các quy định về các biện pháp khắc phục thương mại, năm 1997 Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành các quy định và thủ tục kiện chống bán phá giá và đối kháng, gọi là các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của CH DCND Trung Hoa (thường được gọi là Quy định cũ). Khi các quy định này được soạn thảo, trong các quy định liên quan đến chống bán phá giá chỉ duy nhất Trung Quốc là vẫn bảo hộ các doanh nghiệp của mình trong các cuộc điều tra chống bán phá giá do các thành viên của WTO tiến hành. Cho đến tận cuối năm 1997 Trung Quốc mới khởi xướng cuộc điều tra chống bán phá giá đầu tiên đối với giấy in báo. Do vậy, dù các quy định được soạn thảo bằng cách tham khảo Hiệp định các biện pháp đối kháng, chống trợ cấp và chống bán phá giá của WTO thì rất nhiều điều khoản trong đó khá chung chung, hầu như không hướng dẫn về việc áp dụng các quy định vào thực tế như thế nào. Hơn nữa, một số điều khoản trong đó khác với trong các hiệp định của WTO. Trong suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, một số thành viên WTO lo ngại rằng hệ quả của việc áp dụng các điều khoản này là các cuộc điều tra về các biện pháp khắc phục thương mại mà chính quyền Trung Quốc tiến hành sẽ không phù hợp với các quy định của WTO nếu như Trung Quốc trở thành thành viên của WTO.
Việc Trung Quốc cam kết thay đổi luật và các quy định thương mại theo hướng phù hợp với các Hiệp định của WTO là một phần trong tiến trình gia nhập. Theo đó, Trung Quốc phải bãi bỏ các quy định cũ và ban hành hai quy định mới là “Các quy định về chống bán phá giá” và “Các quy định về chống trợ cấp” bằng cách tách các vấn đề về chống bán phá giá ra khỏi các vấn đề về trợ cấp đối kháng. Các quy định này có hiệu lực từ 01/01/2002 ngay sau khi lộ trình gia nhập vào WTO được Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn. Quy định mới về chống bán phá giá được đưa ra một cách toàn diện và cụ thể với 59 điều khoản trong 6 chương. Các quy định này được chi tiết hoá bởi rất nhiều các quy định tạm thời do MOFTEC và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế (SETC) ban hành.
Theo Điều 71 Hiến pháp Trung Quốc, đối với các vấn đề thuộc quyền hạn của chính quyền, các bộ, các uỷ ban và các cơ quan ban ngành khác của Nhà nước có thể ban hành các quy định phù hợp với luật quốc gia, các quyết định và chỉ thị mang tính hành chính của Hội đồng nhà nước. Trong thực tế các quy định này tồn tại dưới hình thức các quy định tạm thời do chưa có một luật hay quy định hành chính hiện hành nào phù hợp hoặc do Quốc hội hay Uỷ ban Nhà nước chưa sẵn sàng soạn thảo luật cho một vấn đề cụ thể nhưng các quy định lại trở nên rất cần thiết. Người ta dự định rằng các quy định tạm thời sẽ dần được thay thế bởi các luật cụ thể hay các quy định hành chính.
Theo Nghị quyết của Quốc hội về Cải cách thể chế của Uỷ ban nhà nước và thông báo của Uỷ ban Nhà nước về cơ cấu tổ chức thì Chính phủ Trung Quốc phải xem xét kỹ lưỡng việc cơ cấu lại then chốt vào tháng 03/2003. Do vậy Bộ Thương mại (MOFCOM) được thành lập để đảm nhận trách nhiệm của MOFTEC và SETC, trong đó có vai trò điều chỉnh bán phá giá và trợ cấp. Về thay đổi cơ cấu tổ chức, Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được sửa đổi vào tháng 3/2004 và có hiệu lực từ 01/06/2004. Quy định về chống bán phá giá năm 2004 bao gồm nhiều vấn đề từ xác định việc bán phá giá, tính toán biên độ, xác định thiệt hại, quy trình điều tra, thuế chống bán phá giá, cam kết về giá, rà soát cuối kỳ và thông báo. Vào tháng 10/2003, MOFCOM đã ban hành “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống bán phá giá” và “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống trợ cấp”.
Bài viết này sẽ phân tích hệ thống luật chống bán phá giá của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề mang tính quy trình. Để làm được việc này thì Luật Ngoại Thương, Quy định chống bán phá giá, các quy định tạm thời và các quy định của MOFCOM sẽ được đưa ra xem xét. Những quy định mang tính quy trình thuộc các luật và quy định này sẽ được so sánh với Hiệp định chống bán phá giá của WTO để xem xét xem liệu luật và quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc có phù hợp với các quy định của WTO hay không.
a. Đơn xin điều tra và vai trò của các ngành sản xuất nội địa
Luật Ngoại thương của Trung Quốc trao quyền được tiến hành các cuộc điều tra chống bán phá giá cho một cơ quan ngang bộ thuộc Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm về ngoại thương. Theo Nghị quyết của Quốc hội về cải cách thể chế nhà nước và Thông báo của Hội đồng nhà nước về cơ cấu tổ chức thì công việc này đang được MOFCOM đảm nhiệm, cơ quan này có thể tự tiến hành điều tra hoặc điều tra khi nhận được đơn kiện của ngành sản xuất nội địa. Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc công nhận quyền khởi kiện của một ngành sản xuất nội địa, một cá nhân, một pháp nhân hay một tổ chức có liên quan đại diện cho ngành sản xuất nội địa đệ đơn lên MOFCOM xin tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá.
Quyền đệ đơn được đề cập trong các quy định tạm thời về Tiến hành điều tra chống bán phá giá. Theo các quy định này thì một đơn kiện phải do một ngành sản xuất nội địa hoặc tổ chức đại diện đưa ra và khi đó cơ quan chức năng sẽ tiến hành điều tra chống bán phá giá nếu các nhà sản xuất trong nước ủng hộ đơn kiện này có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm hơn 50% tổng sản lượng được sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất trong nước đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện và sản lượng sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất này chiếm ít nhất là 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước. Nếu ngành sản xuất nội địa sụp đổ và kéo theo một số lượng lớn các nhà sản xuất khác thì MOFCOM sẽ xem xét lại vai trò của nguyên đơn bằng các phương pháp thống kê lấy mẫu đang được sử dụng.
Theo các nguyên tắc và quy định tạm thời của Trung Quốc, thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sn phẩm tương tự ở Trung Quốc hoặc một số nhà sản xuất trong đó có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng sản phẩm đó trên cả nước và “tỷ lệ lớn” này là hơn 50%. Một số nhà sản xuất trong nước sẽ không nằm trong danh sách các nhà sản xuất nội địa nếu các nhà sản xuất này có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm này hoặc chính họ là các nhà nhập khẩu hàng hóa hoặc các sản phẩm tương tự được bán phá giá.
Thêm vào đó, các quy định tạm thời bao gồm cả khái niệm “khu vực sản xuất nội địa vùng”. Theo đó, những nhà sản xuất ở một khu vực nhất định trong nước có thể được coi như một ngành sản xuất riêng biệt (ngành sản xuất nội địa vùng) miễn là họ bán tất cả hoặc hầu hết các sản phẩm tương tự ở khu vực thị trường đó, và các nhà sản xuất ở những khu vực khác của Trung Quốc không đáp ứng đủ nhu cầu về sản phẩm tương tự của thị trường này. Khi xác định một “ngành sản xuất nội địa vùng” như vậy thì phải tính đến cả tình hình bán hàng và nhu cầu với sản phẩm ở trong khu vực đó.
Một vài khía cạnh trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có thể được đưa ra xem xét bằng cách so sánh với luật lệ của WTO. Điểm phân tích đầu tiên là khái niệm ngành sản xuất nội địa. Làm thế nào để định nghĩa khái niệm “ngành sản xuất nội địa” là một vấn đề thiết yếu liên quan đến các vấn đề như vị trí, xác định thiệt hại, phạm vi các loại sản phẩm chịu thuế chống bán phá giá. Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, thuật ngữ “ ngành sản xuất nội địa” dùng để chỉ các nhà sản xuất sản xuất tất cả các sản phẩm tương tự hoặc các nhà sản xuất có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. Do thuật ngữ “tỷ trọng lớn” không được định nghĩa trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO nên vẫn có nhiều tranh luận khi thuật ngữ này được dịch ra.
Ví dụ như trong Vụ kiện chống bán phá gía sản phẩm gia cầm của Argentina, Brazil đã kiện rằng do thuật ngữ “a major proportion” cũng giống như “the majority” (có nghĩa là hơn 50%) nên Argentina đã vi phạm quy định của WTO khi cho rằng ngành sản xuất nội địa là những nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm hơn 46% tổng sản phẩm nội địa và thu thập được những số liệu về thiệt hại liên quan đến các nhà sản xuất này.
Chống lại đơn kiện này, Argentina (bên bị đơn), Mỹ và EC (các bên thứ 3) lập luận rằng việc sử dụng thuật ngữ “a major proportion” khác với “the major proportion”, “the major proportion” không nhất thiết phải là một tỷ trọng lớn. Theo họ, “a major proportion” có nghĩa là một tỷ trọng có ý nghĩa quan trọng mà không nhất thiết phải là tỷ trọng lớn. Các lý do mà Hoa Kỳ và EC đưa ra cho việc dịch các thuật ngữ này là:
(i) Thực tế là các nhà soạn thảo ra điều khoản về ngành sản xuất nội địa đã nêu không rõ ràng về thuật ngữ “tỷ lệ 50%” trái với điều 5.4 (tỷ lệ yêu cầu là 50%). Điều 5.4 chỉ ra rằng họ dự định đưa ra một tiêu chuẩn khác.
(ii) Theo điều 5.4, một đơn kiện có thể được coi là đại diện cho ngành sản xuất nội địa thậm chí nếu các nhà sản xuất ủng hộ đơn này có sản lượng sản xuất ra chiếm dưới 50% tổng sản phẩm nội địa. Vì thế cho nên ở điều 4.1, tỷ trọng chủ yếu có thể dưới 50%.
(iii) Điều 4.1 chỉ đề cập đến khái niệm “ngành sản xuất nội địa” và không đặt ra bất kỳ trách nhiệm nào cho các thành viên.
Trong khi khước từ khiếu nại của Mỹ rằng điều 4.1 chỉ đơn thuần là một điều khoản nêu định nghĩa, thì Ban hội thẩm cũng tán thành quan điểm của Mỹ và EC rằng chúng ta được phép định nghĩa “ngành sản xuất nội địa” theo hướng là các nhà sản xuất trong nước mà chiếm giữ tỷ lệ quan trọng, có ý nghĩa trong tổng sản phẩm nội địa.
Vấn đề này cũng đang được đưa ra tranh luận trong các vòng đàm phán Doha. Thí dụ như Nhóm các nước chống bán phá giá đã đưa ra quy định về ngưỡng 50%. Theo nhóm này thì nếu được chấp thuận tỉ lệ này có thể tăng cường tính nhất quán trong việc xác định thiệt hại trong quy trình điều tra chống bán phá giá. Cho dù quy định nào được áp dụng thì Các quy định của Trung Quốc dường như vẫn phù hợp với các quy định của WTO vì tỷ lệ hơn 50% chắc chắn là một tỷ lệ lớn. Quy định này là một minh chứng cho sự rõ ràng về nghĩa trong các điều khoản của WTO.
Điểm phân tích thứ hai là trong khái niệm ngành sản xuất nội địa không đề cập đến phạm vi của các nhà sản xuất. Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép loại trừ các thành viên của mình ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa mà được gọi là “các nhà sản xuất có liên quan”, họ là các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu các sản phẩm được cho là bán phá giá. Hiệp định này đưa ra định nghĩa cho từ “có liên quan” mà sử dụng mối quan hệ với từ “kiểm soát” là tiêu chuẩn chính như sau:
Các nhà sản xuất được cho là có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu chỉ khi (a) một bên trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia; hoặc (b) cả hai bên đều bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một bên thứ 3; hoặc (c) cả hai trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát một bên thứ 3 miễn là có cơ sở để tin tưởng hay nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ như vậy khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan.
Theo các quy định của Trung Quốc, các cơ quan điều tra có thể loại trừ các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu sản phẩm được cho là bán phá giá. Tuy nhiên nếu loại trừ quá mức thì sẽ tạo ra sự thiếu nhất quán. Hiệp định của WTO cho phép loại trừ một số nhà sản xuất có liên quan nhất định được đề cập trong Hiệp định chống bán phá giá. Hiệp định này đặt ra 2 điều kiện để được xem là các nhà sản xuất có liên quan: (i) sự tồn tại mối liên hệ kiểm soát; và (ii) bất kỳ lý do nào để nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ đó sẽ khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan. Trong trường hợp mà việc loại trừ các nhà sản xuất có liên quan là một yêu cầu quan trọng thì trách nhiệm chứng minh liệu các điều kiện này có phù hợp trong một trường hợp cụ thể hay không thuộc về bên cố gắng loại trừ một số các nhà sản xuất nhất định ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa với lý do là có sự tồn tại của mối liên hệ kiểm soát. Có nghĩa là nếu một cơ quan điều tra đang cố gắng giới hạn ngành sản xuất nội địa bằng cách loại trừ một số các nhà sán xuất trong nước nhất định thì cơ quan này không những phải chỉ ra mối liên hệ kiểm soát tồn tại giữa các nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu mà còn phải đưa ra cơ sở cho sự nghi ngờ rằng mối liên hệ này sẽ dẫn tới các cách cư xử khác nhau của họ. Do vậy khi đưa ra quyết định về nhà sản xuất có liên quan nếu cơ quan điều tra bỏ qua việc xem xét điều kiện hoặc đẩy trách nhiệm chứng minh cho các nhà xuất khẩu hoặc cho bên đệ đơn thì họ đã vi phạm các quy định có liên quan của WTO.
MOFCOM có thể định nghĩa thuật ngữ “các nhà sản xuất có liên quan” theo nghĩa rộng hơn trong hiệp định của WTO. Điều này có thể xảy ra khi điều kiện thứ hai không được xem xét tới hoặc khi chuyển giao trách nhiệm chứng minh. Nếu được hiểu theo nghĩa rộng hơn thì bất kỳ nhà sản xuất nào mà không có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng có thể được xem như các nhà sản xuất có liên quan và loại trừ ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa. Trong trường hợp không có điều khoản định nghĩa cho thuật ngữ “ có liên quan” trong luật và các quy định của Trung Quốc (mà trái ngược với hiệp định của WTO) thì sẽ luôn luôn tiềm ẩn khả năng loại trừ quá mức và sự thiếu nhất quán với quy định của WTO.
Điểm thứ ba là điều khoản về ngành sản xuất nội địa vùng trong các quy định của Trung Quốc phù hợp với Hiệp định chống bán phá giá của WTO ở chỗ là cả hai đều điều chỉnh các yếu tố như nhau (ví dụ như tình hình kinh doanh và nhu cầu) được xem như các tiêu chí để nhận biết một ngành sản xuất nội địa độc lập. Trong thực tế mặc dù hiếm khi được MOFCOM sử dụng nhưng điều khoản này rất phù hợp khi được áp dụng ở một lãnh thổ rộng lớn như Trung Quốc. Theo các quy định của WTO, khi nhận biết một ngành sản xuất nội địa vùng thì thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng chủ yếu với các sản phẩm trong diện nghi vấn được bán để phục vụ cho việc tiêu dùng cuối cùng ở khu vực cụ thể. Các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc vẫn rất chú ý đến điều này khi đưa ra các quyết định.

b. Tiến hành điều tra

Theo các quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, trong vòng 60 ngày kể từ khi có đơn kiện, MOFCOM phải xem xét nội dung của đơn, chứng cứ và đơn có do ngành sản xuất nội địa hay đại diện của họ đưa ra hay không, đồng thời quyết định có tiến hành điều tra hay không. Trước khi đưa ra quyết định tiến hành điều tra MOFCOM phải thông báo quyết định này cho chính phủ của nước xuất khẩu. Trách nhiệm thông báo trước này phù hợp với quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO.
Trong trường hợp ngoại lệ, MOFCOM có thể tiếp tục tự mình tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá. Để làm được điều này, MOFCOM phải đưa ra các chứng cứ đầy đủ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó. Cơ chế tự điều tra và các điều kiện phải phù hợp với quy định chống bán phá giá của WTO.
Theo các quy định của Trung Quốc, MOFCOM phải kết thúc điều tra khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
(i) bên kiện rút đơn
(ii) không có đầy đủ chứng cứ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó.
(iii) biên độ phá giá dưới 2%
(iv) số lượng thực tế và ước tính của hàng nhập khẩu bị bán phá giá hoặc thiệt hại là không đáng kể
(v) các trường hợp khác mà MOFCOM cho là không thích hợp để tiếp tục điều tra chống bán phá giá.
Các căn cứ để kết thúc điều tra có vẻ phù hợp với các quy định chống bán phá giá của WTO trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định mức chuẩn biên độ phá giá tối thiểu là 2%. Tuy nhiên vẫn nảy sinh các tranh luận xung quanh tiêu chuẩn “số lượng nhập khẩu không đáng kể”. Theo quy định của WTO thì nếu lượng hàng hoá bán phá giá nhập khẩu từ một nước nhất định chiếm dưới 3% lượng nhập khẩu hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu thì lượng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá được coi là không đáng kể, và cơ quan điều tra phải chấm dứt quá trình điều tra. Trong Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc thì mức tiêu chuẩn lượng nhập khẩu 3% này được nêu ra trong Điều 9 về “đánh giá tích lũy về bán phá giá” , trong khi đó một mức tiêu chuẩn như vậy lại không được nêu ra trong Điều 27, điều khoản chung quy định về bất cứ trường hợp nào mà hàng hoá nhập khẩu không đáng kể. Về lý thuyết, người ta có thể nghi ngờ việc MOFCOM sử dụng mức tiêu chuẩn 3% khi đánh giá lượng hàng nhập khẩu bán phá giá là không đáng kể chứ không cộng dồn lượng hàng hoá bán phá giá được nhập khẩu từ nhiều nước. Do vậy nếu MOFCOM tiến hành bất cứ cuộc điều tra nào hoặc không chấm dứt điều tra thì sẽ là vi phạm các quy định của WTO cho dù lượng nhập khẩu hàng bán phá giá từ một nước cụ thể chiếm dưới 3% lượng hàng nhập khẩu tương tự ở Trung Quốc. Tuy nhiên trong thực tế MOFCOM đã chấp nhận mức chuẩn 3% như một mức ngưỡng để xác định lượng hàng nhập khẩu không đáng kể trong mọi trường hợp.
C. Xác định biên độ phá giá
Biên độ phá giá là mức độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường của hàng nhập khẩu. Do vậy làm thế nào để so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường là một vấn đề quan trọng trong việc xác định biên độ phá giá.
Theo Các quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc, MOFCOM có thể lựa chọn hai phương pháp so sánh sau: cách thứ nhất là so sánh giá thông thường bình quân trọng số với giá trung bình trong tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được (gọi là so sánh “A-to-A”); cách thứ hai là so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu dựa trên cơ sở các giao dịch (gọi là so sánh “T-to-T”). Do các mức giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua khác nhau, các khu vực và khoảng thời gian khác nhau nên rất khó để so sánh bằng những phương pháp này, khi đó có thể so sánh giữa giá thông thường bình quân và giá trong những giao dịch xuất khẩu đơn lẻ (gọi là so sánh “A-to-T). Các điều khoản này có được là do nỗ lực chi tiết hoá và cải thiện các điều khoản trong quy định cũ mà trong đó chỉ đơn giản là so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường một cách hợp lý và công bằng.
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong các trường hợp ngoại lệ các cơ quan điều tra có thể áp dụng phương pháp so sánh A-to-T. Nếu sử dụng phương pháp này thì cơ quan điều tra phải giải thích nguyên nhân tại sao không áp dụng các phương pháp thông thường như A-to-A hoặc T-to-T. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra có trách nhiệm phải chỉ ra một trường hợp ngoại lệ.
Theo Quy định của Trung Quốc thì các cơ quan điều tra có thể chấp nhận phương pháp A-to-T trong các trường hợp ngoại lệ nhưng không có trách nhiệm trong việc đưa ra nguyên nhân. Do vậy trong rất nhiều cuộc điều tra cơ quan điều tra đã đẩy trách nhiệm chỉ ra các trường hợp ngoại lệ sang các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất liên quan tới cuộc điều tra. Hơn nữa theo các quy định về chống bán phá giá của WTO thì Ban hội thẩm của WTO chỉ có thể xác định rằng thông tin mà cơ quan điều tra đưa ra có chính xác và các đánh giá của họ về sự việc đó có công bằng và khách quan hay không. Do vậy nếu WTO tranh luận về việc áp dụng phương pháp A-to-T của MOFCOM thì bên khiếu nại sẽ không những phải chỉ ra rằng không có trường hợp đặc biệt nào mà còn phải chỉ rằng đánh giá về sự việc của MOFCOM (tức là phán quyết của MOFCOM là không tồn tại trường hợp đặc biệt nào) là không công bằng và thiếu khách quan. Đây là trách nhiệm nặng nề cho các nhà xuất khẩu hoặc sản xuất liên quan đến cuộc điều tra chống bán phá giá. Nếu như MOFCOM áp dụng phương pháp A-to-T mà không giải thích tại sao các phương pháp so sánh thông thường không được áp dụng để làm làm rõ việc giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua, những khu vực và khoảng thời gian khác nhau, thì điều này là vi phạm các quy định của WTO.
Một vấn đề khác trong hệ thống luật của Trung Quốc là cho dù đã sửa đổi những Quy định cũ nhưng hệ thống luật này vẫn không chỉ rõ chúng ta phải xem xét những nhân tố điều chỉnh nào khi so sánh một cách công bằng giá thông thường và giá xuất khẩu. Xem xét vấn đề này, Hiệp định chống bán phá giá của WTO đã nêu rõ các nhân tố khác nhau về thời gian và cấp độ giao dịch khi so sánh. Hiệp định còn giải quyết vấn đề chuyển đổi tiền tệ và sự biến động của tỷ giá hối đoái. So sánh cũng cho thấy rằng Quy định cũ của Trung Quốc có một nguyên tắc khá đơn giản rằng “giá xuất khẩu và giá thông thường của một sản phẩm xuất khẩu sẽ được so sánh công bằng và hợp lý với điều kiện là các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng so sánh về giá. Các nhân tố này là gì và làm thế nào để xem xét chúng là những câu hỏi mà các cơ quan điều tra của Trung Quốc đang băn khoăn. Sự cân nhắc này có thể không phù hợp với các quy định của WTO.
D. Các cam kết về giá
Trong suốt quá trình điều tra chống bán phá giá, một nhà xuất khẩu bán phá giá hàng hóa có đề xuất với MOFCOM một cam kết nhằm thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hoá bán phá giá. Cam kết này được gọi là “cam kết về giá”. Điều khoản Cam kết về giá của Trung Quốc định nghĩa như sau:
Thuật ngữ “Cam kết về giá” được đề cập đến trong các quy định này là cam kết một cách tự nguyện của các nhà xuất khẩu và các nhà sản xuất với MOFCOM, họ hưởng ứng cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hóa đang được điều tra chống bán phá giá để được MOFCOM chấp thuận đình chỉ hoặc chấm dứt điều tra.
MOFCOM có thể đưa ra đề xuất cam kết về giá nhưng không được ép buộc các nhà xuất khẩu chấp thuận đề xuất đó. Thực tế là việc các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất không đưa ra một cam kết về giá hoặc không chấp thuận một cam kết về giá được đề xuất có thể làm ảnh hưởng đến sự chính xác của cuộc điều tra, việc xác định bán phá giá và biên độ phá giá. Nếu MOFCOM cho rằng đề xuất cam kết về giá do các nhà xuất khẩu đưa ra có thể chấp nhận được thì MOFCOM có thể quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra chống bán phá giá mà không cần áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay áp thuế chống bán phá giá. Quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra phải được công bố. Nếu MOFCOM không chấp thuận đề xuất cam kết về giá thì MOFCOM phải đưa ra được lý do không chấp thuận cho các nhà xuất khẩu có liên quan. Nếu cơ quan điều tra không có kết luận sơ bộ khẳng định có hiện tượng bán phá giá và việc bán phá giá này gây thiệt hại thì sẽ không có các cam kết về giá.
Cho dù cuộc điều tra bị đình chỉ hay kết thúc thì MOFCOM vẫn có thể tiếp tục điều tra chống bán phá giá và xác định thiệt hại theo yêu cầu của nhà xuất khẩu hoặc nếu chính cơ quan này thấy cần thiết phải như vậy. Căn cứ vào kết quả của cuộc điều tra, cam kết về giá sẽ tự động chấm dứt nếu kết luận cuối cùng là không có việc bán phá giá hoặc không có thiệt hại, nếu kết luận là ngược lại thì cam kết vẫn có hiệu lực. MOFCOM có thể yêu cầu một trong số các nhà xuất khẩu chấp thuận cam kết về giá định kỳ cung cấp thông tin và tài liệu liên quan tới việc thực hiện cam kết về giá và xác minh những thông tin và tài liệu này. Những yêu cầu của MOFCOM là cần thiết để giám sát tình hình thực hiện các cam kết này.
Bên cạnh những điều khoản này thì trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có rất nhiều các điều khoản chi tiết về quy trình cam kết về giá. Hầu hết các quy định này không mâu thuẫn với Hiệp định của WTO vì chúng điều chỉnh những vấn đề về quy trình mà Hiệp định không đề cập tới.
Tuy nhiên có hai khía cạnh mà Quy định của Trung Quốc không phù hợp với quy định của WTO. Thứ nhất là trong các quy định tạm thời về cam kết giá thì MOFCOM có thể chỉ chấp thuận các đề xuất đưa ra bởi các nhà xuất khẩu hợp tác hiệu quả trong suốt quá trình điều tra. Theo Hiệp định của WTO, cam kết về giá đưa ra không nhất thiết phải được chấp thuận nếu cơ quan điều tra cho rằng sự chấp thuận này là không hợp lý hoặc vì lí do “chính sách chung” và khi từ chối thì cơ quan điều tra phải đưa ra lý do cho các nhà xuất khẩu và cho họ cơ hội đóng góp ý kiến.
Thiếu đi một chuẩn mực cho việc xác định rằng thế nào là “hợp tác hiệu quả” và không có sự áp dụng phù hợp cho các trường hợp thực tế nên sẽ rất khó khăn để nhận biết rằng lý do để từ chối một đề xuất cam kết về giá là thiếu “sự hợp tác hiệu quả” có phù hợp với quy định của WTO hay không. Thêm vào đó nếu cơ quan điều tra của Trung Quốc không đưa ra cho các nhà xuất khẩu lý do từ chối hoặc không cho họ cơ hội để đưa ra ý kiến, thì sẽ càng vi phạm các quy định của WTO. Trong văn bản trả lời các câu hỏi của Mexico tại cuộc họp của Uỷ ban về thực tiễn chống bán phá giá, Trung Quốc đã giải thích rằng nếu một công ty không hợp tác trong quá trình điều tra thì sẽ rất khó khăn để xác định rằng liệu cam kết về giá của công ty đó có được giám sát hiệu quả hay không. Vì vậy Trung Quốc thấy rằng sẽ là không phù hợp nếu chấp thuận những đề xuất như vậy. Tuy nhiên lý do này đưa ra là không thuyết phục do không có sự tương quan cần thiết giữa cách cư xử của các công ty trong suốt quá trình điều tra và quá trình thực hiện cam kết. Hơn nữa điều 8.6 của Hiệp định chống bán phá giá cũng đã đưa cho cơ quan điều tra chống bán phá giá các công cụ giám sát hữu hiệu đối với các nhà xuất khẩu không hợp tác, chẳng hạn như quyền thu thập thông tin từ các nhà xuất khẩu và áp dụng các biện pháp tạm thời, sử dụng thông tin tốt nhất sẵn có trong trường hợp có sự vi phạm cam kết.
Thứ hai là theo Quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, nếu các nhà xuất khẩu vi phạm các thỏa thuận về cam kết giá thì cơ quan điều tra của Trung Quốc có thể tiếp tục cuộc điều tra dựa trên các thông tin sẵn có tốt nhất và quýêt định áp dụng các biện pháp tạm thời và áp thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố lên các sản phẩm nhập khẩu trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời, miễn là trước khi vi phạm cam kết các sản phẩm nhập khẩu không bị áp thuế có hiệu lực hồi tố. Quy định “áp dụng hiệu lực hồi tố 90 ngày” này về cơ bản là phù hợp với các quy định của WTO.
Các Quy định tạm thời về cam kết giá quy định thêm rằng nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức thấp hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ, thì khoản chênh lệch phải được hoàn lại. Điều khoản này phù hợp với nguyên tắc bồi hoàn theo Hiệp định chống bán phá giá.
Tuy nhiên vấn đề nghiêm trọng về sự thiếu nhất quán với các quy định của WTO là ở đoạn sau của quy định này cho biết “nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ thì khoản chênh lệch này vẫn bị đánh thuế.”
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong trường hợp vi phạm cam kết về giá thì cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời với nguồn thông tin sẵn có tốt nhất. Trong những trường hợp này, mức thuế chính thức áp dụng cho các sản phẩm tiêu dùng không quá 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp tạm thời phải phù hợp với Hiệp định. Một điều khoản khác của WTO quy định rằng “nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn thuế tạm thời đã thu thì mức chênh lệch sẽ không phải nộp bổ sung”. Điều khoản này không có ngoại lệ khi vi phạm cam kết về giá.
Từ các quy định này của WTO, có thể kết luận rằng trong trường hợp vi phạm cam kết về giá, bất kỳ khoản thu bổ sung nào đối với các khoản chênh lệch (nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức thuế tạm thời đã thu) sẽ không được coi là khoản thuế chính thức phù hợp với Hiệp định của WTO. Việc thu bổ sung như vậy sẽ dẫn tới sự vi phạm Hiệp định của WTO.
Quả thực là rất khó tìm ra một chính sách nào phù hợp để thu những khoản chênh lệch như vậy từ nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất vi phạm cam kết. Thật không đúng khi các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất vi phạm cam kết bị ngăn cản làm việc này do việc truy thu thuế có hiệu lực hồi tố. Các nhà xuất khẩu và sản xuất biết rằng trong trường hợp vi phạm họ phải phụ thuộc vào sự bất lợi của những thông tin sẵn có và vì vậy không có sự truy thu thuế có hiệu lực hồi tố nào có thể làm họ nản lòng thêm. Nói cách khác việc ngay lập tức áp mức thuế tạm thời trên cơ sở các thông tin sẵn có tốt nhất là đủ để chống lại việc vi phạm các cam kết. Chúng ta chỉ nên áp dụng thêm biện pháp truy thu thuế có hiệu lực hồi tố đối với các nhà xuất khẩu và sản xuất vi phạm cam kết mà hầu như không thể bào chữa được.
Kết luận
Hệ thống luật pháp hiện đại của Trung Quốc từ sau khi bắt đầu cải cách năm 1978 đã được hơn 25 năm. Các quy định khắc phục thương mại của Trung Quốc chỉ bắt đầu hình thành sau khi WTO được thành lập. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của mình thông qua những sự thay đổi về luật pháp và cơ cấu tổ chức. Trong khi sự cải thiện tổng thể hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng thì vẫn thiếu các định nghĩa về một số thuật ngữ luật chủ yếu và một số vấn đề về luật vẫn cần được giải quyết và làm rõ. Tất nhiên sự im lặng trong luật và quy định của Trung Quốc về bản chất là không vi phạm các nghĩa vụ của WTO. Ở nhiều phần trong các luật và quy định của Trung Quốc như Điều 142 phần Các nguyên tắc chung của Luật dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Điều 9 trong Quy định về các vụ kiện hành chính trong thương mại quốc tế, nêu ra rằng các luật trong nước của Trung Quốc phải được hiểu theo cách phù hợp nhất với các giao ước quốc tế. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc thường xuyên thể hiện rằng họ rất sẵn lòng tuân theo các quy định của WTO khi không có điều khoản tương ứng nào ở các luật trong nước. Theo tuyên bố về nguyên tắc hiểu các luật trong nước và cách diễn đạt ý chí chính trị, Trung Quốc sẽ tiếp tục làm sáng tỏ và cải thiện các quy định thương mại.
Dường như với sự thành lập của MOFCOM, Trung Quốc đã hoàn thành các cải cách về tổ chức trong hệ thống các giải pháp khắc phục thương mại. Như một tổ chức mới chịu trách nhiệm về các giải pháp khắc phục thương mại, Bộ sẽ chấp thuận áp dụng các quy định mang tính thủ tục thay thế các quy định tạm thời do MOFCOM và SETC ban hành. Trong quá trình này, các vấn đề được đưa ra trong bài viết này sẽ phải được giải quyết thích đáng để hệ thống luật minh bạch hơn và phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế.
Trên cơ sở quy mô của nền kinh tế Trung Quốc và tầm ảnh hưởng của các chính sách khắc phục thương mại của Trung Quốc, vấn đề này là thiết yếu và không chỉ tác động tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng nội địa Trung Quốc mà còn tới hầu hết cộng đồng kinh doanh trên thế giới.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code