Showing posts with label LDS- Luat dan su nuoc ngoai. Show all posts
Showing posts with label LDS- Luat dan su nuoc ngoai. Show all posts

Friday, March 28, 2014

Tội bẻ cong luật pháp


Tháng 3 6, 2014

Phạm Thị Hoài
Ngày 18/11/1976, học giả Robert Havemann, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất ở CHDC Đức, người được coi là cha đẻ tinh thần của cuộc cách mạng hòa bình năm 1989, viết một bức thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Erich Honecker về việc bạn ông, cũng một nhà bất đồng chính kiến lừng danh, nghệ sĩ Wolf Biermann, bị cấm về nước sau chuyến lưu diễn tại Tây Đức. Havemann từng là bạn tù của Honecker thời Quốc xã, từng viết thư thỉnh cầu Honecker thả một người bất đồng chính kiến khác và được chấp thuận, từng được Honecker che chắn ở một số vụ, và dù đã bị khai trừ khỏi Đảng, cấm giảng dạy, sa thải khỏi trường đại học và Viện Hàn lâm Khoa học, tước mọi chức vụ trong đó có chức đại biểu Quốc hội, ông vẫn coi mình là một người cộng sản.
Bốn ngày sau, 22/11/1976/, tuần tin Spiegel (Tây Đức) đăng bức thư đó. Trong thư, Havemann kêu gọi Honecker cho phép Wolf Biermann được về nước, “trước hết để tránh nhục nhã và thiệt hại cho tất cả chúng ta và uy tín của đất nước ta“, bởi lẽ – nguyên văn: “tất cả những cáo buộc và nghi ngờ rằng Wolf Biermann thù địch với CHDC Đức đều hoàn toàn vô lối. Wolf Biermann đã phê phán, phê phán mạnh mẽ và sắc nhọn. Nhưng những đồng chí ưu tú nhất của chúng ta cũng đã sử dụng vũ khí phê phán mạnh mẽ không khoan nhượng, nhất là khi cần vạch ra những khuyết điểm và nhầm lẫn của chính chúng ta, chẳng phải luôn luôn là như vậy hay sao? Wolf Biermann đã phê phán theo cách đó, phê phán trong tinh thần của người cộng sản. Ai không chịu nổi những lời phê phán ấy là thừa nhận rằng mình không có gì để đáp lại ngoài bạo lực.” Ông phân tích tiếp, với chiến dịch khai trừ Wolf Biermann “các đồng chí đã biến anh ấy thành hình ảnh lí tưởng trong mắt hàng triệu thanh niên Đông Đức. Giờ đây anh ấy là hiện thân của một thứ hi vọng lớn cuối cùng về một chủ nghĩa xã hội mà những thanh niên ấy đã thôi không còn mơ ước.”
Bốn ngày sau, 26/11/1976, Tòa án huyện Fürstenwalde ra lệnh quản thúc Havemann tại gia, vì tội “hoạt động đe dọa đến an ninh và trật tự công cộng“. Nơi ở và toàn bộ gia đình ông bị 200 nhân viên An ninh Quốc gia (Stasi) thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Ông bị cấm liên lạc với phóng viên, nhân viên ngoại giao nước ngoài và 70 công dân Đông Đức “có vấn đề” khác. Năm 1979, tòa ra tiếp lệnh khám nhà, tịch thu nhiều tài liệu và đồ đạc, phạt ông một khoản tiền lớn, 10.000 Mark Đông Đức, với tội danh vi phạm Luật Ngoại tệ, vì ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm ở nước ngoài. Đơn kháng án của ông bị bác. Luật sư của ông bị tước quyền hành nghề. Ba năm sau, 1982, Havemann qua đời.
So với ước chừng tổng cộng 250.000 tù nhân chính trị trong vòng 40 năm ở CHDC Đức, những người thậm chí bị tống giam chỉ vì buông một lời nói kháy chính quyền hay Anh Cả Liên Xô, ông Havemann, “kẻ thù số 1 của nhà nước”, với ba năm quản thúc và một khoản tiền phạt có thể coi là còn được luật pháp của đất nước chuyên chính vô sản này nương nhẹ. Song gần hai mươi năm sau khi ông qua đời, 7 thẩm phán và công tố viên của nhà nước Đông Đức đã tham gia vào hai vụ án kết tội ông, đến lượt họ, lại phải ra tòa vì tội Rechtsbeugung: lợi dụng luật pháp, cưỡng đoạt luật pháp, lũng đoạn luật pháp, tha hóa luật pháp, nắn bóp và co giãn luật pháp… để cản trở công lí, nói nôm na là bẻ cong luật pháp.
Một trong những điểm then chốt trong hiệp thương thống nhất giữa hai nhà nước Đức sau Chiến tranh Lạnh là nguyên tắc hòa giải. Không được dùng luật pháp của Tây Đức để phán xử thực tiễn xã hội Đông Đức. Chỉ có thể dùng chính luật pháp của Đông Đức để khôi phục công lí cho những gì đã diễn ra tại đó. Thực tế áp dụng nguyên tắc hòa giải này, sau một phần tư thế kỉ, là một quá trình vô cùng gian nan, đầy tranh cãi, với những câu hỏi còn lại không thể trả lời, những nguyện vọng không thể đáp ứng, những vấn đề khó lòng giải quyết thỏa đáng. Song nó tránh cho nước Đức thống nhất, sau gần nửa thế kỉ chia cắt dân tộc, cảnh hận thù và chia rẽ của “bên thắng cuộc” và kẻ bại trận.
Vụ án xử 7 cán bộ của ngành tư pháp Đông Đức nói trên cho thấy sự phức tạp ấy và là một bài học đáng nghiền ngẫm về tư pháp chính trị. Nó kéo dài gần ba năm, từ 1997 đến 2000. Đầu tiên, Tòa án Tiểu bang Frankfurt/Oder xử cho cả 7 bị cáo trắng án, Viện Công tố kháng nghị. Tiếp theo, Tòa án Tối cao Liên bang ra quyết định hủy bản án, chuyển vụ án về một tòa án tiểu bang khác để xét xử lại. Cuối cùng, Tòa án Tiểu bang Neuruppin, sau 26 phiên tòa, đã kết án 2 trong số 7 người nói trên về tội bẻ cong luật pháp, kết hợp với tội tước đoạt tự do của người khác, liên quan tới lệnh quản thúc Havemann.
Theo kết luận của tòa, hai cán bộ tư pháp của nhà nước Đông Đức này đã biết rõ rằng việc truy tố nhà bất đồng chính kiến Havemann không phải là để thực thi một công lí trên cơ sở xác định sự thật bằng những công cụ của luật pháp, mà trước hết và chủ yếu là để vô hiệu hóa hay triệt tiêu một đối thủ chính trị. Họ đã tham dự với đầy đủ ý thức vào một kịch bản soạn sẵn, được thỏa thuận trước với những cơ quan và cá nhân đứng ngoài ngoài hệ thống tư pháp, với bản án đã định trước ngay từ đầu. Với những bản án bỏ túi và phiên tòa trình diễn đó, họ đã vi phạm chính luật pháp của Đông Đức, nơi nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng được long trọng ghi trên mặt giấy.
*
Khi nhận lệnh quản thúc, ông Havemann tuyên bố: “Tôi đâu có ý định rời khỏi CHDC Đức, vì mỗi bước đi ở đây là một bước ta có thể chứng kiến chế độ đã và đang đánh mất toàn bộ uy tín, chỉ cần vài sự kiện và cú huých từ bên ngoài là đủ để vứt Bộ Chính trị vào sọt rác.” Mười ba năm sau, Bộ Chính trị Đảng SED quả nhiên biến mất. Cựu Tổng Bí thư Honecker cùng vợ tháo chạy khỏi đất nước, trốn vào Đại sứ quán Chile tại Moskva xin tị nạn chính trị.
Nước Đức mất gần 2 thập niên để giải quyết di sản của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Đông Đức. 374 vụ bẻ cong luật pháp với 618 bị cáo được đưa ra xét xử, trong đó 5 người bị phạt tiền, 176 người bị kết án tù, trong đó có 63 thẩm phán, 56 công tố viên, 5 thẩm phán và công tố viên thuộc tòa án quân sự và 41 nhân viên tư pháp khác. 8 trong số này chịu án tù từ 5 đến 10 năm.
Thật khó hình dung, mười, hai mươi năm, ba mươi năm hay năm mươi năm nữa chúng ta sẽ làm gì với di sản của nền tư pháp Việt Nam hiện tại. Những thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát và các nhân viên tư pháp tham gia các vụ xét xử những người bất đồng chính kiến, mới hôm kia là blogger Trương Duy Nhất, bằng những bản án bỏ túi rồi sẽ phải chịu trách nhiệm gì? Chúng ta hay tự an ủi rằng họ sẽ phải đứng trước tòa án của lương tâm và tòa án của lịch sử. Song lương tâm thường phán quyết có lợi cho chủ của nó. Còn đợi lịch sử xếp xong lịch xét xử thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết từ lâu.
© 2014 pro&contra

Wednesday, March 19, 2014

TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN
Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? – CIVILLAWINFOR
Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.
Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?
Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!
Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?
Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!
Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

1. Người dùng danh xưng thường muốn nuôi nấng niềm kiêu hãnh của mình. Danh xưng thường có xu hướng bơm phồng “cái tôi” của một cá nhân, và do đó làm cho cá nhân đó tự đánh giá cao chính mình hơn là thực tế. Bà Jill Biden, vợ phó tổng thống Mĩ Joe Biden, từng phàn nàn rằng bà rất “bệnh” khi nhận email và thư gửi đến gia đình với dòng chữ “Sen. and Mrs Biden” (Thượng nghị sĩ và Bà Biden). Bà muốn được danh xưng là “Sen. and Dr. Biden”, và thế là bà đi học đế lấy bằng tiến sĩ Anh văn. Sau 4 năm nghiên cứu, bà được trao bằng tiến sĩ ở tuổi 55. Câu chuyện bà Biden sính danh là đề tài đàm tiếu của giới báo chí Mĩ hồi đầu năm nay.
2. Người dùng danh xưng như là một hình thức tự quảng cáo. Thật ra, một số người sử dụng danh xưng "Tiến sĩ" hay "Giáo sư" nhắm mục đích tăng giá trị, trọng lượng của ý kiến của họ. Trong thực tế, công chúng cũng có khuynh hướng xem ý kiến của một “Giáo sư tiến sĩ” có giá trị cao hơn ý kiến của một … nông dân. Bởi vì đánh giá cao ý kiến của những vị sư sĩ này, nên ít ai dám chất vấn hay phản bác lại ý kiến của họ. Nhưng không có bất cứ một lí do nào để xem ý kiến của một vị giáo sư hay tiến sĩ có giá trị hơn ý kiến của một nông dân; vấn đề là logic và bằng chứng, vì hai khía cạnh này mới chính là thước đo giá trị của ý kiến.
3. Người dùng danh xưng muốn được người khác kính trọng mình. Đây là biện minh (hay lí lẽ) của những người chức sắc tôn giáo, vì họ cho rằng họ cần những “Thượng tọa”, “Hòa thượng”, “Linh mục”, “Mục sư”, v.v… để tín đồ tỏ lòng kính trọng họ. Thế nhưng tôi lại nghĩ các Phật tử hay tín đồ Công giáo vẫn có thể gọi “thầy” và “cha” mà đâu có tỏ ra thiếu kính trọng gì đâu!
4. Những danh xưng thường gây chú ý một cách không cần thiết. Người sử dụng danh xưng ngầm nói cho người khác rằng họ là người quan trọng và đáng được kính trọng. Mặc dù họ không bao giờ thú nhận ý đồ ngầm này, nhưng nghiên cứu tâm lí cho chúng ta biết động cơ sử dụng danh xưng là để gây chú ý như ca sĩ thích làm trò khác lạ để thu hút khán giả.
5. Người dùng danh xưng có khuyh hướng khao khát quyền lực và trần tục. Một nghiên cứu ở Mexico cho thấy rất nhiều chính trị gia không có văn bằng tiến sĩ nhưng họ vẫn tìm cách mua danh xưng “Dr” bằng cách tranh thủ hay vận động để được một đại học nào đó cấp cho bằng “tiến sĩ danh dự” (honour doctor). Với danh xưng này, họ rất dễ thu hút cảm tình của cử tri và có cơ may đắc cử hơn những người không có danh xưng.
6. Người dùng danh xưng hay có xu hướng quảng bá thái độ “elite”, thái độ kẻ cả, hoặc thái độ toàn trị. Những người này thường tự tô son điểm phấn cho mình bằng cách “tiêm” vào mình những danh xưng thật kêu và thật ấn tượng và bắt đầu nhiễm thói kiêu ngạo xem thiên hạ như dưới tay mình.
Ba tôi lúc sinh tiền mỗi lần nghe ai được giới thiệu như trên tivi với những danh xưng dài lê thê như “Nghệ sĩ nhân dân, tiến sĩ Vũ Đình …” thì ông thở dài nói một mình: lại một ông thiếu tự tin, lòe thiên hạ. Ba tôi tin rằng những người cần đến danh xưng phía trước tên mình là một tín hiệu cho thấy người đó hoặc là bất tài, hoặc là thiếu tự tin, nên phải lấy những danh tước đó ra để tự nâng cao giá trị cho mình. Ngẫm đi nghĩ lại tôi thấy Ba tôi cũng có lí, bởi vì ở Việt Nam những người thích dùng danh xưng là các quan chức trong chính quyền. Là quan chức, làm việc hành chính hay chính trị, họ không phải làm chuyên môn; do đó, có lẽ họ có nhu cầu phải quảng bá mình như là một nhân vật "văn võ song toàn", và để cho … oai.
Nhưng các quan chức Việt Nam có danh xưng “Dr.” coi chừng! Năm ngoái, theo tờ Washington Post, có ít nhất 7 người Mĩ với bằng tiến sĩ từ các trường danh tiếng như Cornell và Caltech bị điều tra về tội “mạo danh” (“title fraud”) vì họ đề danh xưng “Dr.” trên danh thiếp của họ và websites. Ở EU, chỉ có những người có bằng tiến sĩ từ các trường của EU mới có quyền dùng danh xưng “Dr.” Chẳng biết hư thực ra sao, nhưng nghe qua thì có vẻ … vô lí quá!
Ở Việt Nam, vấn đề danh xưng là vấn đề “merit” (xứng đáng). Trước tình trạng tiến sĩ giấy, tiến sĩ dỏm tràn lan ở Việt Nam như hiện nay, bất cứ ai được giới thiệu là “tiến sĩ”, người dân ngao ngán nghĩ thầm “lại một tiến sĩ giấy”. Trong bối cảnh đa số (70% hay 95%) giáo sư Việt Nam không xứng đáng với chức danh đó trên trường quốc tế, và với hệ thống phong tước danh như hiện nay thì làm sao danh xưng này củng cố lòng tin của người dân. Nhưng ở Việt Nam vẫn có những tiến sĩ, những giáo sư thật (tức là họ có học và có nghiên cứu xứng đáng với danh xưng đó), nhưng khổ nỗi vì đại đa số những tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm kia làm cho công chúng chẳng biết ai là giả và ai là thật. Do đó, cách đánh bóng danh xưng như ở Việt Nam gây ra tình trạng vàng thau lẫn lộn.
Cách dùng danh xưng hiện nay lẫn lộn giữa bằng cấp, phẩm hàm danh dự, và chức vụ. Ai cũng biết cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là những học vị; phó giáo sư và giáo sư là chức danh khoa bảng trong trường đại học; những “nghệ sĩ nhân dân”, “nghệ sĩ ưu tú”, “nhà giáo nhân dân”, “nhà giáo ưu tú” (toàn bắt chước Trung Quốc!) là những tước hiệu danh dự; còn những “giám đốc”, “đại tá”, “bộ trưởng”, v.v… là chức vụ. Ở Việt Nam, tôi thấy trong các hội nghị, những tước hiệu, chức vụ và học vị đều được liệt kê trước tên người diễn giả, chẳng khác gì một bản lí lịch bằng cấp và chức danh! Ở nước ngoài, trong các hội nghị khoa học, người ta chỉ giới thiệu diễn giả bằng một danh xưng duy nhất như “Dr” hay “Professor”, chứ rất rất hiếm ai giới thiệu thêm chức vụ, và chắc chắn chẳng có ai giới thiệu diễn giả dài lê thê như ở Việt Nam (nếu có ai giới thiệu như thế chắc chắn hội trường sẽ cười ầm lên)!
Cách dùng danh xưng như hiện nay chẳng những lẫn lộn thật giả, giữa chức vụ và học vị, mà còn làm trò cười cho đồng nghiệp quốc tế. Trường hợp mà tôi thuật lại ở trên về “Specialist II” (chắc là bác sĩ chuyên khoa II) là một ví dụ điển hình. Bởi vì chỉ có Việt Nam mới có hệ thống bác sĩ chuyên khoa I, chuyên khoa II lạ lùng như thế, nên đồng nghiệp quốc tế chẳng thể nào hiểu được. Thật ra, họ cũng chẳng cần hiểu Specialist I hay Specialist II hay “chuyên khoa II” là cái gì; họ chẳng thèm tốn thì giờ đọc danh thiếp với những chi chít “Dr”, “Professor” làm gì; họ quan tâm đến CV, đến thực tài hơn. Có liệt kê chín mười danh xưng đi nữa mà CV chẳng có gì, thì chỉ làm cho đồng nghiệp ngoại quốc cười khẩy mà thôi. Khi thực tài không tương đồng hay còn quá thấp so với học hàm và học vị, thì những danh xưng đó chỉ là trò hề cho thiên hạ mà thôi. Nên giảm các danh xưng đi, hay tốt nhất là bỏ đi tất cả danh xưng trong các dịp hội họp chẳng liên quan gì đến khoa học và chuyên môn! Đây là lời khuyên chân tình!
SOURCE: TRANG CÁ NHÂN CỦA TÁC GIẢ – NGUYENVANTUAN.NET

Wednesday, January 1, 2014

QUAN ĐIỂM CỦA NHẬT BẢN VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  
LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay
Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn
được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc
Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.
1. Về tính chất của luật dân sự
Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.
Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.
2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật
Tầm quan trọng của vấn đề
Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ
ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.
Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật
Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.
Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản
Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền
trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.
Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.
Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành
Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.
Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc
Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:
1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn
2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.
3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.
Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.
(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

Saturday, October 26, 2013

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ LÝ LỊCH TƯ PHÁP Ở THỤY ĐIỂN

ĐỖ THÚY LAN – Vụ Hành chứng tư pháp
Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước (tiếng Anh là “criminal record”, tiếng Pháp là “casier judiciaire”) nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền tuyên xử đối với một cá nhân. Bài viết sau đây giới thiệu kinh nghiệm quản lý lý lịch tư pháp của Thuỵ Điển, một quốc gia Bắc Âu có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển. Hy vọng bài viết sẽ cung cấp một số thông tin tham khảo cho các nhà làm luật trong quá trình soạn thảo Luật Lý lịch tư pháp.
1. Giới thiệu chung về hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp       
Ở Thuỵ Điển có hai hệ thống dữ liệu có liên quan nhưng hoàn toàn tách biệt, đó là hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp. Hai hệ thống dữ liệu này do Tổng cục cảnh sát thuộc Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý. Ban đầu, chỉ tồn tại một hệ thống cơ sở dữ liệu chung. Tuy nhiên, đến năm 1990, hệ thống dữ liệu này được chia tách thành hai hệ thống, đó là hệ thống dữ liệu về tình nghi tội phạm (Suspicion of Crime Record) và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (Criminal Record).  Hai hệ thống dữ liệu này hoàn toàn khác nhau về nội dung thông tin, cách thức thu thập thông tin và mục đích sử dụng.
- Hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm là hệ thống thu thập những thông tin liên quan đến cá nhân khi có đơn kiện hoặc đơn khai báo của người dân và đã được cơ quan cảnh sát, hải quan tiến hành điều tra sơ bộ nhằm mục đích phát hiện, ngăn chặn tội phạm. Những thông tin này sau khi được điều tra sơ bộ sẽ được cơ quan cảnh sát chuyển sang Viện kiểm sát để Viện kiểm sát quyết định có khởi tố hay không khởi tố. Việc tiến hành điều tra và đưa vào hệ thống dữ liệu tình nghi chủ yếu bao gồm các thông tin như sau: có tội phạm diễn ra hay không; nạn nhân; loại hình tội phạm. Không phải mọi cá nhân đều được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm mà hệ thống này chỉ lưu trữ thông tin của những người từ 15 tuổi trở lên bị tình nghi trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, khi đối tượng tình nghi được xác định có tội hay không có tội, thông tin về cá nhân đó sẽ được loại bỏ trong hệ thống dữ liệu tình nghi.
- Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (hay còn gọi là hệ thống dữ liệu án tích) là hệ thống chỉ lưu trữ những bản án đã được tuyên về một người có từ trước đến nay và chưa được xoá án tích. Thông tin về án tích của cá nhân bao gồm: ngày kết án, Toà án đã ra bản án, số vụ án, hình phạt, thời gian đã chấp hành xong bản án, ngày dữ liệu được xử lý. Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp không chỉ lưu trữ những thông tin liên quan đến việc phạm tội đã thành án của công dân Thuỵ Điển mà còn lưu trữ những thông tin về án tích của người nước ngoài phạm tội tại Thuỵ Điển.

Các thông tin trong hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp được sàng lọc (xoá bỏ) khi người đó đã chết hoặc sau một thời gian nhất định (được xoá án tích) (VD: hình phạt tiền là sau 5 năm, các hình phạt khác là sau 10 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt). Nếu cá nhân bị kết án nhiều lần, thông tin về cá nhân đó sẽ được lưu trữ cho đến khi cá nhân đó chấp hành xong bản án cuối cùng. Khi những thông tin của cá nhân được loại bỏ trong hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp, người đó được coi là không có án tích. 
Trường hợp cá nhân bị tình nghi vi phạm pháp luật, các thông tin về cá nhân đó sẽ được lưu trữ trong hệ thống tình nghi tội phạm. Khi cá nhân đó bị kết án và xử phạt (có bản án), các thông tin về cá nhân này sẽ được chuyển từ hệ thống dữ liệu tình nghi sang hệ thống dữ liệu về án tích và thông tin về cá nhân đó sẽ được xoá bỏ trong hệ thống dữ liệu tình nghi chậm nhất là sau 3 tuần kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp là hai hệ thống hoàn toàn riêng biệt. Việc cung cấp các thông tin đầu vào cho hai hệ thống dữ liệu này cũng khác nhau. Ba cơ quan chịu trách nhiệm cung cấp thông tin đầu vào cho hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm là cơ quan cảnh sát, hải quan, Viện kiểm sát; còn cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin đầu vào cho hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp là cơ quan cảnh sát (phạt tiền), Viện kiểm sát, Toà án, hệ thống trại giam (thông tin thi hành án, khi chấp hành xong bản án).
2. Cơ sở pháp lý
Cách thức thu thập thông tin, cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu, nội dung thông tin được lưu trữ và mục đích sử dụng, cung cấp thông tin của hai hệ thống dữ liệu nói trên được quy định trên cơ sở Luật về Dữ liệu cá nhân (Personal Data Act (1998:204) có hiệu lực ngày 29/4/1998. Ngoài ra, Luật này còn có quy định các vấn đề về bảo vệ hệ thống dữ liệu, bí mật đời tư (chủng tộc, quan điểm chính trị, tín ngưỡng, sức khoẻ, giới tính…).
3. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu
Tổng cục cảnh sát thuộc Bộ Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đồng thời là cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin cho các cơ quan và cá nhân có yêu cầu. Tuy nhiên, một cơ quan rất quan trọng có liên quan trong việc cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu là cơ quan Thanh tra dữ liệu. Khi tiến hành cập nhật thông tin của cá nhân vào cơ sở dữ liệu, Tổng cục cảnh sát phải thông báo cho Thanh tra dữ liệu, là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra việc cập nhật thông tin của Tổng cục cảnh sát. Nếu Thanh tra dữ liệu phát hiện thông tin được cập nhật có sai sót, không chính xác thì có quyền yêu cầu Tổng cục cảnh sát sửa đổi các thông tin sai lệch đó. Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra dữ liệu là phải thường xuyên kiểm tra, giám sát cơ quan thu thập, lưu trữ thông tin, qua đó phát hiện những sai sót để kịp thời chỉnh sửa.
Bên cạnh hoạt động giám sát, kiểm tra của Thanh tra dữ liệu, tháng 1 năm 2008 ở Thuỵ Điển thành lập thêm một tổ chức mới, có nhiệm vụ chủ yếu là giám sát hoạt động công tác của Vụ an ninh quốc gia nằm trong Tổng cục cảnh sát. Tổ chức này có tên gọi là Ban an ninh nhất thể cá nhân. 
4. Quyền được tiếp cận thông tin trong hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp
Cá nhân có quyền yêu cầu Tổng cục cảnh sát cung cấp những thông tin về án tích của bản thân mình đang được Cơ quan này lưu trữ mỗi năm một lần (những thông tin nào đang được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu, nguồn thông tin lấy từ đâu, tại sao thông tin lại được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu, mục đích lưu trữ, những tổ chức nào đã được quyền tiếp cận về thông tin liên quan đến cá nhân đó). Ngoài ra, cá nhân cũng có quyền yêu cầu cơ quan quản lý dữ liệu cung cấp Giấy chứng nhận (hay Phiếu lý lịch tư pháp) khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích khi có yêu cầu cấp Phiếu. Hiện nay, ở Thuỵ Điển có 20 loại giấy chứng nhận khác nhau được cấp cho cá nhân tuỳ theo mục đích sử dụng (VD: xin làm các ngành nghề có liên quan đến trẻ em sẽ có mẫu giấy chứng nhận riêng). Người xin cấp giấy chứng nhận phải trả một khoản lệ phí khi yêu cầu cấp giấy chứng nhận đó.
Trường hợp cá nhân phát hiện được những thông tin do Tổng cục cảnh sát lưu trữ có sai sót, thì cá nhân đó có quyền khiếu nại với Tổng cục cảnh sát hoặc kiện ra Toà yêu cầu Tổng cục cảnh sát phải sửa đổi, chỉnh sửa những thông tin này. Người thu thập thông tin sai ngoài việc bị áp dụng hình phạt (Luật về Dữ liệu cá nhân có điều khoản quy định về xử phạt trong trường hợp đưa thông tin về cá nhân sai và điều khoản áp dụng cho người phụ trách trong việc thu thập thông tin liên quan đến cá nhân) còn phải bồi thường thiệt hại cho người khiếu nại.
Pháp luật Thuỵ Điển không chỉ quy định cụ thể về những cơ quan, tổ chức nào được quyền tiếp cận hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp mà còn quy định rõ về phạm vi, mức độ tiếp cận. Các cơ quan có quyền yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin bao gồm: Toà án (xem xét quyết định hình phạt); Viện kiểm sát (quyết định khởi tố hay không khởi tố); Tổng cục thuế (quản lý hộ tịch); Hải quan, Tổng cục về di dân, cơ quan cấp giấy phép (sử dụng vũ khí),…. Các cơ quan này sẽ được cung cấp mã số và phân cấp quyền truy cập thông tin. Cơ quan Toà án, cụ thể là thẩm phán chỉ có quyền truy cập thông tin trong hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp mà không có quyền tiếp cận hệ thống dữ liệu tình nghi. Quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan của thẩm phán trong giải quyết vụ án, cân nhắc khi quyết định hình phạt.
5. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp
Việc lưu trữ các thông tin trong hệ thống cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được căn cứ vào số căn cước của cá nhân (ID number). Mỗi công dân Thuỵ Điển chỉ có một số căn cước duy nhất. Số căn cước được cấp bao gồm ngày, tháng, năm sinh (6 con số) và 4 con số duy nhất (mã số riêng của mỗi cá nhân). Đối với người nước ngoài tạm trú tại Thuỵ Điển, để thuận tiện cho việc quản lý, cảnh sát Thuỵ Điển cũng cấp cho những người này một số căn cước tạm thời. Số căn cước tạm thời cũng căn cứ vào ngày, tháng, năm sinh của người đó và mỗi người cũng chỉ có một mã số duy nhất. Ngoài số căn cước, các thông số khác để quản lý dữ liệu còn bao gồm các thông tin về cá nhân (họ tên, giới tính, địa chỉ…), số hồ sơ. Mỗi cá nhân khi được đưa vào cơ sở dữ liệu sẽ có một số đăng ký (số hồ sơ). Số hồ sơ này có 12 chữ số và được mã hoá.
Việc truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có thể thực hiện qua hệ thống phần mềm (thông qua yêu cầu truy cập thông tin (theo mẫu). Hệ thống phần mềm được cài đặt bao gồm những thông số để truy cập. Vấn đề cập nhật thông tin được thực hiện định kỳ qua các files.
Việc sử dụng phần mềm phải bảo đảm có sự kết nối giữa cơ quan cung cấp thông tin đầu vào và cơ quan yêu cầu cung cấp thông tin. Việc cập nhật thông tin diễn ra hàng ngày (1 hoặc 2 lần trong ngày qua số liệu tự động). Nếu thông tin được cung cấp cho cơ quan quản lý dữ liệu nhầm hoặc có sai sót thì sẽ được trả lại cho cơ quan cung cấp.
Việc tiếp cận dữ liệu thông qua mật mã và ký hiệu sử dụng. Người sử dụng được quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật (phạm vi tiếp cận của từng người). Thẩm quyền tiếp cận thông tin có thể thay đổi tuỳ theo lĩnh vực công việc của họ. Thông tin mà người có quyền tiếp cận, truy cập muốn biết thường được hiển thị trong vòng 1 giây.
Việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, sử dụng hệ thống dữ liệu này phải đảm bảo yêu cầu an ninh mạng nhằm chống lại sự xâm phạm từ bên ngoài (người không có thẩm quyền tiếp cận thông tin nhưng có hành vi phá hoại thông tin…). Để bảo đảm yêu cầu an ninh mạng, các cơ quan và cá nhân muốn tiếp cận thông tin đang được lưu trữ tại Tổng cục cảnh sát phải có thẻ. Thẻ này do Tổng cục cảnh sát cấp, có giá trị xác nhận, chứng thực từng cá nhân có thẩm quyền, quyền hạn trong việc tiếp cận thông tin; quy định thẩm quyền, nguyên tắc, trách nhiệm từng nhân viên; thông tin theo dõi những người đã từng truy cập thông tin. Thông tin theo dõi người đã từng truy cập thông tin là bằng chứng truy tố người đó trong trường hợp người đó truy cập trái phép, truy cập quá phạm vi thông tin cho phép.
Hệ thống phần mềm đang được áp dụng tại Thuỵ Điển hiện nay hoạt động rất tốt, có độ an toàn cao (hệ thống dữ liệu hoàn toàn đóng kín, chống phá virut, hacker…). Ngoài ra, trong lĩnh vực an ninh mạng, để phòng các nguy cơ đe doạ từ bên ngoài, thông qua việc phân tích thường xuyên tình hình thi hành pháp luật để có quy định nhiệm vụ công việc của từng nhân viên trong cơ quan, chỉ dẫn cho nhân viên trong việc sử dụng thông tin nội bộ ngày càng tốt hơn. Hệ thống phần mềm ghi lại những người đã từng truy cập thông tin (ghi nhận tự động). Mục đích của việc ghi lại nhằm phục vụ công tác lưu trữ, điều tra sau này.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Trích dẫn từ:

Friday, October 25, 2013

PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG
Xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề rất mới ở Việt Nam và tương đối phức tạp. Do vậy, tham khảo pháp luật về LLTP của nước ngoài là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.
1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức
Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.
Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:
- Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;
- Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;
- Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.
Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.
1.1. Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên.
Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương trước hết là một công cụ quản lý tư pháp hình sự, được sử dụng trong xét xử để chứng minh sự phạm tội và để hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp, tương trợ tư pháp. Mục đích của nó là làm cơ sở cho các quyết định của các cơ quan công tố hình sự, đồng thời phục vụ cho việc chuẩn bị các quy định hành chính cũng như thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Trách nhiệm thông báo cho CQĐKTW các quyết định liên quan phục vụ mục đích đã nêu thuộc về Toà án và các cơ quan công quyền. Nội dung của các thông báo này được đưa vào cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký. Nội dung chính được đăng ký là các bản án hình sự, các quyết định nhất định của cơ quan hành chính và Toà án, như cấm hành nghề hoặc hoạt động thương mại hoặc rút giấy phép tương ứng và các thông báo liên quan đến việc không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương không phải là thông tin được cung cấp vô hạn và cung cấp cho bất kỳ ai. Tuỳ từng người, cơ quan cụ thể mà thông tin được cung cấp dưới dạng một giấy chứng nhận hành vi hoặc dưới dạng thông tin vô hạn.
Giấy chứng nhận hành vi (hay còn gọi là Phiếu LLTP) được phân ra thành giấy chứng nhận hành vi cá nhân và giấy chứng nhận hành vi chính thức. Giấy chứng nhận hành vi cá nhân sẽ được cấp cho mỗi người từ đủ 14 tuổi trở lên (nếu họ có yêu cầu được cấp loại giấy này) với nội dung là những gì đã được đăng ký liên quan đến người đó. Người này có thể sử dụng giấy chứng nhận hành vi cá nhân vào bất cứ mục đích riêng nào mà họ muốn. Loại giấy này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong lĩnh vực tuyển dụng lao động, bởi vì người sử dụng lao động bao giờ cũng muốn nhận những người lao động có lý lịch trong sạch và giấy chứng nhận hành vi cá nhân chính là công cụ pháp lý chứng minh điều đó.
Giấy chứng nhận hành vi chính thức được cấp cho cơ quan công quyền trong trường hợp cơ quan công quyền đó đang điều tra về một người cụ thể và cần biết một số thông tin về người đó để hoàn thành việc điều tra thuộc thẩm quyền của họ. Trong trường hợp này, phiếu LLTP cấp cho cơ quan công quyền được gọi là giấy chứng nhận hành vi chính thức.
Chỉ những cơ quan nhất định được quy định cụ thể trong luật mới được quyền tiếp cận các thông tin vô hạn (tức là tất cả các nội dung đăng ký được lưu lại tại cơ quan đăng ký).   Những cơ quan này là Toà án, cơ quan công tố nhằm mục đích thực hiện công lý và cảnh sát hình sự nhằm mục đích ngăn ngừa và truy tố tội phạm.
Các thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương có thể dẫn tới việc tăng hình phạt trong các bản án, có thể dẫn tới việc không được tuyển dụng hoặc bị sa thải. Tuy nhiên, các thông tin được đăng ký không phải được lưu trữ mãi mãi, mà sau một khoảng thời gian nhất định và sau một khoảng thời gian khác nữa (thường là dài hơn) các thông tin về người đó sẽ được xoá khỏi cơ sở dữ liệu đăng ký. Độ dài của khoảng thời gian đó thường phụ thuộc vào mức độ hình phạt áp dụng. Thời hạn để xoá án tích trên chứng nhận hành vi thường là từ 3 đến 10 năm và để xoá hoàn toàn là từ 5 đến 20 năm.
Hiện tại, có khoảng 15, 3 triệu quyết định được lưu trữ tại Cơ quan đăng ký trung ương liên quan đến 6, 3 triệu người, trong đó 1, 5 triệu là người nước ngoài. Hàng năm, có khoảng 9, 6 triệu thông tin được cung cấp, nghĩa là trung bình một ngày cung cấp khoảng 40.000 thông tin.
Ngoài Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, còn có Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên. Các quyết định dựa trên Đạo luật về Toà án thanh niên liên quan đến các tội phạm thanh niên được lưu trữ ở cơ quan đăng ký này; việc cung cấp thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên là rất hạn chế. Nơi nhận các thông tin đó là các toà án hình sự, văn phòng công tố, toà án giám hộ, toà án gia đình và cơ quan phúc lợi thanh niên. Các thông tin đăng ký trong Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên sẽ được loại khỏi cơ quan đăng ký khi người liên quan đó đến 24 tuổi.
1.2. Cơ quan đăng ký trung ương về vi phạm trong công nghiệp và thương mại
Từ năm 1976, ở Đức có một cơ quan đăng ký đặc biệt thuộc Cơ quan đăng ký liên bang trung ương để lưu trữ các thông tin về người đang kinh doanh trên cơ sở các quyết định của Toà án, các cơ quan hành chính và các quyết định phạt liên quan đến người đang kinh doanh. Cơ quan này được gọi là Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại. Thông qua những thông tin về vi phạm trong công nghiệp và thương mại, cơ quan này giúp có thể loại bỏ những người không đáng tin cậy hoặc không phù hợp khỏi việc thực hiện những nhiệm vụ và chức năng nhất định trong lĩnh vực kinh tế.
Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm công nghiệp và thương mại được tổ chức với một phần là cơ quan đăng ký đối với thể nhân và một phần là cơ quan đăng ký đối với pháp nhân và tổ chức. Hiện nay trong cơ quan này có khoảng 440.000 thông tin đăng ký liên quan đến 275.000 thể nhân, 24.000 pháp nhân và tổ chức.
Cơ quan này có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đăng ký trung ương các quyết định vi phạm trong công nghiệp và thương mại thuộc Toà án và các cơ quan công quyền.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại được cung cấp cho: những người liên quan; các cơ quan hành chính, toà án, văn phòng công tố và cơ quan cảnh sát và được các cơ quan này sử dụng làm cơ sở cho các quyết định của họ như gia nhập, cho phép, ủy quyền và giấy phép. Thông tin này cũng có thể được cung cấp phục vụ cho mục đích thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại bị loại bỏ khi quyết định mà thông tin đăng ký dựa vào bị hủy bỏ. Các thông tin đăng ký này cũng bị xoá bỏ sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với thể nhân thời hạn này từ 3-5 năm; đối với pháp nhân và tổ chức, thời hạn này là 20 năm.
1.3. Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra
Từ năm 1999, Cơ quan đăng ký liên bang thành lập thêm một cơ quan đăng ký quan trọng khác là Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra.
Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra lưu trữ các thông tin liên quan đến tất cả vụ việc hình sự đang điều tra của tất cả các cơ quan công tố hình sự tại Cộng hoà liên bang Đức.
Cơ quan đăng ký cho phép cơ quan công tố khi quyết định khởi tố vụ án biết được vụ án có đang bị truy tố bởi một cơ quan công tố khác về cùng một tội chống lại cùng người đó hay không. Các cơ quan công tố hình sự thông báo cho cơ quan đăng ký ngay khi bắt đầu thủ tục tố tụng với những dữ liệu tối thiểu về việc truy tố đang thực hiện. Các thay đổi và bổ sung đối với thông báo trước về quá trình tố tụng cũng được thông báo. Thông báo của cơ quan công tố được lưu bằng các thiết bị điện tử tại cơ quan đăng ký và sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan có quyền được nhận các thông tin đó. Các cơ quan có quyền đối với thông tin đó, ngoài các cơ quan công tố ra còn bao gồm dịch vụ phản gián, cơ quan cảnh sát, cơ quan điều tra thuế và hải quan. Những cơ quan này có thể yêu cầu cơ quan đăng ký và nhận thông tin. Phạm vi và thời gian cung cấp thông tin dựa trên tính trọn vẹn của thông tin trong yêu cầu, tính cấp thiết của thông tin, bản chất và phạm vi của quyền đối với thông tin của cơ quan yêu cầu. Cơ quan đăng ký được tự động hoá trên phạm vi rộng và được duy trì với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại.
Việc loại bỏ thủ tục tố tụng cũng được thực hiện một cách tự động sau khi hết hạn theo quy định của pháp luật hoặc sau khi có thông báo về bản án cuối cùng thuộc thẩm quyền của Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương.
Hiện nay, Cơ quan đăng ký này lưu trữ khoảng 12 triệu thông tin đăng ký về quá trình tố tụng điều tra. Mỗi ngày làm việc, cơ quan này nhận được khoảng 1.000 yêu cầu và 70.000 thông báo (kể cả vừa thông báo, vừa yêu cầu). Mỗi thông báo được xử lý để đưa vào đăng ký trong khoảng 3 giờ; trong trường hợp khẩn cấp hoặc có đầy đủ thông tin cá nhân thì việc giải quyết một yêu cầu cung cấp thông tin chỉ mất 20 giây.
2. Pháp luật LLTP ở Bỉ
Giống như ở Đức, ở Bỉ chỉ có một cơ sở dữ liệu LLTP duy nhất đặt tại Brussels có tên gọi là Viện LLTP. Viện LLTP trực thuộc Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp liên bang.
Viện LLTP ra đời từ lâu. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện lại chỉ mới được thiết lập bởi một đạo luật ban hành ngày 03/9/1997, có hiệu lực vào tháng 9/2001.
Viện LLTP trung ương có trách nhiệm đăng ký, duy trì và sửa đổi tất cả các dữ liệu có liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự. Về cơ bản, hệ thống LLTP trung ương là một công cụ tư pháp nhưng đồng thời còn được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, thống kê. Công việc này do Vụ tội phạm học của Bộ Tư pháp liên bang thực hiện
Theo quy định thì thông tin được đăng ký tại Viện LLTP là tất cả các bản án hình sự chung thẩm và một số các quyết định mang tính hành chính thứ cấp (như là quyết định cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh hoặc rút giấy phép) do Toà án ban hành.
Bộ phận chịu trách nhiệm chuyển các bản án đến Viện LLTP là bộ phận hành chính của Toà án. Thời hạn chuyển bản án là 3 ngày kể từ khi bản án là chung thẩm và có hiệu lực thi hành. Khi đó, một bản dữ liệu sẽ được thiết lập đối với một người bị kết án. Các dữ liệu cá nhân của người này sẽ được nhập vào cơ sở dữ liệu với các thông tin về tình trạng dân sự của người bị kết án và bản chất của tội phạm đã phạm phải (phân loại tội phạm, ngày và địa điểm phạm tội, cơ quan tư pháp đã tuyên án, cấp xét xử và bản án đã tuyên).
Một vấn đề cần lưu ý là mặc dù pháp luật Bỉ có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng Bỉ không thành lập một Viện LLTP dành riêng cho pháp nhân. Do vậy, chỉ các cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh và bị Toà án kết án mới phải đăng ký với Viện LLTP.
Các loại tổ chức và cá nhân được quyền tiếp cận các thông tin do Viện LLTP quản lý là: các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự; các cơ quan hành chính công; các cơ quan tư pháp nước ngoài; cá nhân (yêu cầu cấp bản sao LLTP cho bản thân).
Các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự: có quyền tiếp cận rộng rãi đến cơ sở dữ liệu đăng ký tại Viện LLTP. Thẩm phán và công tố viên có quyền tiếp cận trực tiếp đến cơ sở dữ liệu LLTP thông qua định dạng cá nhân. Những người này cũng có thể yêu cầu Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp cung cấp danh sách những cá nhân bị kết án về một hoặc một số tội phạm cụ thể. Loại yêu cầu này chỉ có thể do thẩm phán thực hiện trong trường hợp xác định được một người đã thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án tối đa 3 năm tù.
Các cơ quan hành chính công: có thể tiếp cận với mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP (với lý do cụ thể và rõ ràng). Các cơ quan này có thể yêu cầu cấp một Chứng nhận tư cách tốt (chưa có vi phạm gì) hoặc một bản trích lục từ cơ sở dữ liệu có liên quan đến một cá nhân cụ thể, nhưng chỉ trong mức độ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ trong thẩm quyền của họ. Danh sách đầy đủ của các cơ quan hành chính công được tiếp cận ở mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP do văn bản dưới luật quy định, cụ thể là: Văn phòng Tuyển dụng liên bang (tuyển dụng công chức); Bộ phụ trách cho việc nhập quốc tịch Bỉ; Văn phòng Người nước ngoài liên bang (Bộ Nhập cư và Tỵ nạn); Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế.
Các cơ quan tư pháp nước ngoài: Các cơ quan tư pháp nước ngoài có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp một bản trích lục LLTP và các thông tin bổ sung cần thiết khác trong lĩnh vực hình sự liên quan đến một cá nhân đang bị truy nã với cùng các điều kiện áp dụng cho các cơ quan tư pháp của Bỉ trong một vụ việc tương tự (điều kiện để cơ quan tư pháp nước ngoài yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp thông tin là giữa nước có cơ quan yêu cầu đó và Bỉ phải có hiệp định song phương hoặc cùng là thành viên của một hiệp định đa phương). Bản trích lục này chỉ được trao đổi giữa các cơ quan tư pháp với nhau. Cảnh sát không có quyền trao đổi thông tin về lĩnh vực này. Các đảng phái chính trị, ngân hàng, tổ chức nghề nghiệp không có quyền tiếp cận thông tin trực tiếp từ hệ thống dữ liệu LLTP. Việc cung cấp thông tin về LLTP hoàn toàn khác với việc trao đổi thông tin liên quan đến bản án. Trao đổi thông tin về LLTP của một người bao gồm những thông tin liên quan đến người đó từ quá khứ đến hiện tại và chủ yếu liên quan đến lĩnh vực hình sự, còn trao đổi thông tin về bản án thường ngắn gọn và không bao gồm tất cả các thông tin.
Yêu cầu của cá nhân: Bất kỳ người dân nào cũng có quyền yêu cầu cấp Giấy chứng nhận LLTP. Thông tin LLTP được cung cấp cho người dân dưới dạng Giấy chứng nhận tư cách hoặc với những thông tin không hạn chế. Giấy chứng nhận tư cách được công dân Bỉ sử dụng trong trường hợp họ muốn được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc vì mục đích khác như xin cấp giấy phép sử dụng súng. Giấy chứng nhận tư cách có 2 loại: loại I và loại II. Giấy chứng nhận tư cách loại I có thể được chính quyền khu tự trị (cấp thành phố) cấp ngay lập tức. Giấy chứng nhận loại II cấp cho những người thường xuyên phải tiếp xúc với trẻ vị thành niên (như giáo viên) nên phải qua cơ quan công an kiểm tra và thường được chính quyền khu tự trị cấp trong vòng 2 tuần.
Để xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong thời gian cư trú ở Bỉ thì công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) phải nộp đơn cho cơ quan có thẩm quyền thành phố ở Bỉ, nơi họ cư trú. Trong trường hợp công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) muốn xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong đó bao hàm thời gian cư trú ở nước ngoài thì:
- Đương sự phải nộp đơn trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó (nếu cư trú ở một quốc gia EU).
- Đương sự phải nộp đơn cho Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao liên bang ở Brussels (nếu cư trú ở một quốc gia ngoài EU). Vụ này sẽ yêu cầu đại sứ quán hoặc lãnh sứ quán có liên quan của Bỉ kiểm tra với cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để đảm bảo rằng cá nhân đó không có vi phạm hoặc bị kết án trong thời gian họ ở nước ngoài. Trên cơ sở các thông tin nhận được, Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế sẽ quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận tư cách. Mặc dù Giấy chứng nhận này được cấp miễn phí ở Bỉ, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi được đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Bỉ yêu cầu vẫn có thể thu phí cho việc cấp các giấy tờ nhất định. Trong trường hợp này, công dân Bỉ sẽ phải chi trả các chi phí liên quan đến việc đó. Cả hai loại giấy chứng nhận tư cách chỉ có giá trị trong vòng 3 tháng. Tất cả các vi phạm (nếu có) được lưu trữ trong hệ thống LLTP trung ương phải được ghi trong giấy chứng nhận tư cách. Sau một khoảng thời gian do pháp luật quy định, các vi phạm này sẽ không được ghi trong chứng nhận tư cách nữa.
Cơ sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận tư cách là văn bản năm 1962 do Bộ Nội vụ liên bang ban hành, nhưng văn bản này hiện đã bị hủy bỏ bởi một quyết định của Toà án hành chính cao nhất của Bỉ. Như vậy về nguyên tắc, chính quyền các khu tự trị không có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tư cách và giấy chứng nhận này hiện nay được thay thế bởi trích lục LLTP trung ương mà cơ sở pháp lý của nó chính là Luật LLTP năm 1997. Theo quy định của Luật LLTP thì cá nhân khi có yêu cầu xin cấp phiếu LLTP cho bản thân phải gửi đơn bằng văn bản thông qua fax hoặc bưu điện đến Vụ LLTP trung ương thuộc Bộ Tư pháp liên bang Bỉ. Đơn phải được đương sự ký, bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ và lý do xin cấp LLTP. Đương sự có thể gửi kèm một bản sao chứng minh thư và hộ chiếu (nếu có). Vụ LLTP sẽ cấp bản sao LLTP miễn phí. Nhưng trên thực tế, các khu tự trị vẫn cấp Giấy chứng nhận tư cách cho công dân. Đây là một khó khăn, bất cập trong việc cấp bản trích LLTP và hiện nay, các nhà làm luật Bỉ đang nghiên cứu, xem xét để tìm hướng giải quyết.
3. Pháp luật LLTP ở Canada
Khác với Bỉ, Canada không có một văn bản pháp lý riêng quy định về việc tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý và cấp phiếu LLTP. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP ở Canada chỉ lưu giữ toàn bộ hồ sơ án đã tuyên (án đã tuyên về hình sự) và hệ thống dữ liệu này do cơ quan cảnh sát quản lý. Do vậy, khi một người muốn có giấy chứng nhận về nhân thân tư pháp của mình (để xin việc làm, xuất cảnh…) hoặc khi cơ quan tuyển dụng lao động muốn biết về nhân thân tư pháp của người mà mình định tuyển dụng, thì họ sẽ đến cơ quan cảnh sát để yêu cầu cung cấp thông tin nếu được sự đồng ý của người đó. Thông tin do cơ quan cảnh sát cung cấp được thể hiện dưới hình thức giấy chứng nhận, trong đó xác nhận người đó có tiền án hay không có tiền án.
Như vậy, ở Canada hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP chỉ thu thập thông tin về hình sự, không thu thập thông tin về dân sự, về hành chính. Cơ quan có trách nhiệm chuyển những bản án hình sự đã tuyên cho cơ quan cảnh sát là toà án.
4. Pháp luật LLTP ở Thụy Điển
ở Thụy Điển, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP là Tổng cục cảnh sát, trực thuộc Bộ Tư pháp. Tổng cục cảnh sát là cơ quan quản lý dữ liệu đồng thời là cơ quan cung cấp thông tin về án tích.
Dữ liệu án tích được lưu trữ ở Tổng cục cảnh sát không chỉ bao gồm những bản án, quyết định về hình sự mà còn bao gồm những quyết định về hành chính như phạt tiền, phạt vi phạm nội quy… Chính vì nội dung thông tin được lưu trữ trong dữ liệu án tích đa dạng như vậy nên cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về dữ liệu án tích không chỉ bao gồm toà án, mà còn bao gồm các cơ quan khác như: cơ quan cảnh sát, cơ quan công tố, hệ thống nhà tù, trại giam khi tội phạm đã chấp hành xong hình phạt.
Pháp luật Thụy Điển cũng quy định rõ thẩm quyền tiếp cận, mức độ tiếp cận những thông tin trong dữ liệu án tích của các cơ quan như Tổng cục thuế, Hải quan, Cảnh sát, Viện Kiểm sát, Tổng cục về di dân và một số các cơ quan chính quyền khác.
Có thể nói, mô hình tổ chức, quản lý và hoạt động LLTP của Đức, Bỉ, Canada và Thụy Điển rất hiện đại và hoạt động có hiệu quả rất cao. Phần lớn thông tin được cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP là các bản án, quyết định của Toà án. Toà án là cơ quan duy nhất hoặc chủ yếu (theo quy định của pháp luật mỗi nước) chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin lên cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP. Chính vì vậy, cùng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin hịên đại, việc cung cấp thông tin cho các cơ quan, cá nhân luôn đảm bảo kịp thời, nhanh chóng và chính xác. Đây là những mô hình có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Luật LLTP cũng như đề xuất xây dựng trung tâm LLTP phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt Nam. /.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 126 – THÁNG 7/2008

Wednesday, October 16, 2013

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: BI KỊCH TRONG MỘT VỤ "ĐẺ MƯỚN" Ở ẤN ĐỘ

PHAN ANH
DÂN TRÍ - Tương lai của một bé gái 12 ngày tuổi được một phụ nữ Ấn Độ sinh ra đang trở nên mù mịt khi cặp vợ chồng người Nhật, những người đi thuê “đẻ mướn”, đã ly hôn.
Manji Yamada chào đời vào ngày 25/7 vừa qua sau khi các bác sỹ dùng tinh trùng của người đàn ông Nhật Bản, Ikufumi Yamada, 45 tuổi, thụ tinh cho trứng được một phụ nữ Ấn Độ “hiến tặng”, rồi cấy ghép vào tử cung của một phụ nữ “đẻ mướn” Ấn Độ khác.
Nhưng ông Ikufumi Yamada lại ly dị vợ sau đó và người vợ cũ của ông không còn muốn có em bé đó nữa.
Theo như ban đầu, em bé sau khi được sinh ra, có quốc tịch Ấn Độ, sẽ được cha đẻ người Nhật nhận nuôi. Tuy nhiên, luật pháp Ấn Độ lại không cho phép một người cha độc thân nhận nuôi con gái.
“Phức tạp ở chỗ, người cha này mới ly dị vợ, và luật cho nhận con nuôi của Ấn Độ không cho phép đàn ông độc thân nhận nuôi bé gái”, Sanjay Arya, vị bác sỹ hiện đang chăm sóc bé Manji cho biết.

Manji không thể rời Ấn Độ mà không có hộ chiếu. Hiện cô bé đang được bà nội và một người bạn Ấn Độ của bố, nuôi dưỡng ở Jaipur.
“Yamada đã tới phòng cấp hộ chiếu địa phương. Nhưng ông được chỉ đến sứ quán Nhật. Tuy nhiên, tại đây, ông lại bị yêu cầu phải có giấy của tòa án Ấn Độ cho phép ông được nuôi đứa trẻ”, Arya cho biết. “Ông ấy cảm thấy quá mệt mỏi”.
Ông Yamada đã trở về Nhật, được biết sẽ trở lại Ấn Độ khi tình hình được cải thiện. Theo bác sỹ Arya, luật sư của ông Yamada sẽ đệ đơn khẩn cầu tới tòa án để ông có thể nhận bé Manji làm con nuôi và mẹ ông có thể tạm thời trông nom bé.
Báo chí Ấn Độ cho biết, cha của em bé là một bác sỹ phẫu thuật ở Tokyo. Ông đã đưa cô bé tới thành phố Jaipur ở bang Rajasthan sau khi tại Gujarat xảy ra hàng loạt vụ đánh bom khiến khoảng 50 người thiệt mạng.
“Em bé vẫn ổn, nhưng bà nội của em rất lo lắng”, và muốn đưa cháu trở về Nhật càng sớm càng tốt, Araya cho biết.
Và tương lai của em bé 12 ngày tuổi được quan tâm trên trang nhất của nhiều tờ nhật báo Ấn Độ. “Thuyết phục ở Nhật Bản, nhưng bị cản trở ở Jaipur”, tờ nhật báo tiếng Anh bán chạy nhất Ấn Độ The Times of India, chạy dòng tít lớn. Tờ báo này nhận định bé Manji có thể trở thành “trẻ đẻ thuê đầu tiên bị mồ côi” ở Ấn Độ nếu vụ xin nuôi con không được giải quyết.
“Do Ấn Độ nổi lên là “thiên đường” đẻ mướn, nên phải có luật quy định chặt chẽ về việc này”, một luật sư hàng đầu của Ấn cho biết trên tờ Indian Express.
Mặc dù nhiều người phê phán việc “đẻ mướn” nhưng đây vẫn là “ngành nghề” đang nở rộ ở Ấn Độ. Thị trấn Anand tại Gujarat, nơi bé Manji chào đời, được coi là trung tâm “đẻ mướn” của Ấn Độ sau khi xảy ra vụ “bà đẻ ra cháu” hồi năm 2004. Khi đó một phụ nữ đã vô tình đẻ mướn cho chính người con gái đang sống ở Anh của mình.
Được biết các bà mẹ ở Anand được trả khoảng 2.500 USD cho mỗi lần mang nặng đẻ đau. Họ được rất nhiều các cặp vợ chồng người nước ngoài hoặc người Ấn Độ ở nước ngoài thuê vì cái giá 2.500 USD chỉ là một phần nhỏ so với cái giá phải trả ở các nước phương Tây. Những người đi đẻ thuê này thường là những phụ nữ nghèo, muốn có tiền để trang trải chi phí học hành, sinh hoạt cho gia đình mình.
SOURCE: BÁO DÂN TRÍ

Tuesday, September 24, 2013

QUAN ĐIỂM CỦA NHẬT BẢN VỀ LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN CƯƠNG  
LTS: Những quan niệm của Nhật Bản về luật dân sự được nêu ra trong bài viết này gợi mở một số những ý tởng cho thực tiễn và lý luận về luật dân sự ở nước ta hiện nay
Nhật Bản là quốc gia Châu Á sớm biết áp dụng mô hình kinh tế thị trường làm mẫu hình cho việc tổ chức và vận hành của nền kinh tế nước mình. Khi áp dụng mô hình kinh tế dựa trên thị trường, tất yếu pháp luật cũng phải được xây dựng và hoàn thiện để cho nền kinh tế nh vậy vận hành an toàn. Như một quy luật chung đối với các nước áp dụng mô hình kinh tế thị trường, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, pháp luật đảm bảo sự trao đổi, phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua các thị trường (tức là thông qua quan hệ mua bán, trao đổi) trong đó điển hình là pháp luật dân sự (sở hữu, hợp đồng) luôn
được coi là bộ phận chiếm vị trí quan trọng vào bậc nhất. Sớm nhận thức được vấn đề này, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự của riêng mình. Kể từ thời điểm đầu tiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản phát sinh hiệu lực (năm 1889), đã trải qua hơn 110 năm, luật dân sự của Nhật Bản đã được tôi luyện trong một nền kinh tế Nhật với bao thăng trầm, nhất là hàng loạt thay đổi có tính thần kỳ khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại. Đi kèm với quá trình đó là việc
Nhật Bản xây dựng được một nền tảng lý luận về pháp luật dân sự tơng đối hoàn thiện.Trong lý luận về luật dân sự, đáng chú ý phải kể đến hai nội dung có tính mấu chốt là (1) quan niệm về tính chất của luật dân sự và (2) về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật.
1. Về tính chất của luật dân sự
Do ảnh hởng của hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn tơng đối mạnh là Pháp và Đức, nguồn luật dân sự chủ yếu của Nhật Bản chính là các đạo luật thành văn, trong đó Bộ luật Dân sự là nền tảng. Trong giới lý luận và thực tiễn của Nhật Bản có quan điểm khá nhất quán coi luật dân sự là luật tư, tức là luật điều chỉnh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không bên nào được áp đặt bên nào, không bên nào được đối xử bất bình đẳng với bên nào. Với cách quan niệm nh thế, khi nói tới vai trò, chức năng của luật dân sự, giới lý luận và thực tiễn hầu nh không coi nó là công cụ thể hiện quyền lực nhà nước do Nhà nước ban hành để quản lý giao dịch, đảm bảo trật tự xã hội mà thay vào đó, luật dân sự trở thành phơng sách, là công cụ, là phơng tiện do Nhà nước cung cấp cho các bên khi các bên không có thoả thuận khác hoặc mặc dù các bên có thoả thuận cha đầy đủ, chưa chi tiết do thiếu thời gian, nguồn lực phục vụ cho việc thoả thuận. Nh vậy, luật dân sự là công cụ mà Nhà nước dùng để phục vụ người dân, giới doanh nghiệp, phục vụ sự vận hành của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì lý do này, yếu tố tiện lợi, đảm bảo cho các bên có chỗ dựa để tin cậy, hiểu biết, tôn trọng nhau nhằm đi đến giao dịch quan hệ với nhau trở thành phơng châm chủ đạo khi xây dựng các quy phạm của luật dân sự. Cũng do nhất quán với quan điểm này, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Nhật Bản, các luật gia và các nhà lập pháp cố gắng loại bỏ hầu nh toàn bộ các quy phạm mang tính chất hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước, thủ tục hành chính, thủ túc kiểm soát của Nhà nước đối với giao dịch dân sự.
Trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu nh không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam.
2. Về vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật
Tầm quan trọng của vấn đề
Theo giới lý luận của Nhật Bản, việc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật không đơn thuần là câu chuyện của các nhà lý luận, không đơn thuần là vấn đề hàn lâm. Bởi lẽ mấu chốt của vấn đề ở đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành (nhất là Đạo luật thương mại). Việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ này sẽ cung cấp một cơ sở khoa học cho việc thiết kế trật tự các quy phạm trong hệ thống pháp luật, tránh được sự trùng lặp trong việc điều chỉnh, đặc biệt là sự mâu thuẫn trong bản thân hệ thống pháp luật. Cũng cần lu ý là, khi tồn tại tình trạng một quan hệ pháp luật lại bị nhiều quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau điều chỉnh, nhất là khi chúng lại tồn tại trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau của cùng hệ thống pháp luật sẽ khiến cho người dân, doanh nhân hoặc các chủ thể khi tham gia quan hệ không biết phải chọn lựa và tuân theo quy định nào. Điều này sẽ khiến cho người dân, giới doanh nhân và các chủ thể khác không an tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự và nh thế sẽ
ảnh hởng tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế. Khi đó, luật dân sự sẽ không tạo ra được sự tiện lợi cho các bên khi tham gia giao dịch nh là mục đích cơ bản của nó cần hớng tới nữa mà luật dân sự đã tự phủ định ý nghĩa, vai trò của mình. Nh đã trình bày, đây là điều mà không một người dân và giới lý luận nào của Nhật Bản mong muốn.
Nguyên tắc xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật
Bằng kinh nghiệm lập pháp của mình trong lĩnh vực dân sự hơn 100 năm, Nhật Bản đã xây dựng và chấp nhận 3 nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự, hay cụ thể hơn là vị trí của các đạo luật về dân sự (nhất là Bộ luật Dân sự) trong hệ thống pháp luật.
Nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản
Điều này có nghĩa là, khi xảy ra tình trạng cùng một quan hệ dân sự, nhng lại có quy phạm của hai văn bản pháp luật trở lên điều chỉnh với nội dung khác nhau, thì quy phạm của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được u tiên áp dụng. Có thể nói, việc áp dụng nguyên tắc này là điều dễ hiểu bởi lẽ nếu không, hệ thống pháp luật sẽ bị phá vỡ tính thống nhất của mình và thêm vào đó, sẽ phá vỡ tính thống nhất trong quyền lực nhà nước, phá vỡ sự tập trung quyền lực vào chính quyền
trung ơng, khuyến khích sự cát cứ, phân đoạn thị trường, lãnh thổ.
Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm theo thời điểm ban hành
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý ngang nhau thì ưu tiên áp dụng quy phạm được ban hành sau. Một nội dung quan trọng của nguyên tắc này chính là việc cấm áp dụng hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những trường hợp rất hãn hữu, pháp luật Nhật Bản mới thừa nhận việc áp dụng hiệu lực hồi tố bởi lẽ việc áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ khiến cho con người phải gánh chịu cả những hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây nên khi mà người này không thể biết được, không thể lờng được khi cân nhắc, chọn lựa cách xử sự cho mình.
Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành
Nguyên tắc này rất quan trọng và được áp dụng khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy phạm của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành. Các quy phạm pháp luật dân sự được coi là các quy phạm của luật chung, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn các quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật t) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù nh thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy phạm của luật chuyên ngành. Để làm được điều này, vấn đề xác định đâu là luật chuyên ngành, đâu là luật chung trở nên rất có ý nghĩa. Pháp luật Nhật Bản coi đối tợng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một đạo luật là đạo luật chuyên ngành hay là đạo luật chung. Song về mặt kỹ thuật lập pháp, trong một đạo luật được coi là đạo luật chuyên ngành phải có một điều khoản quy định rõ ràng rằng đạo luật chuyên ngành sẽ được u tiên áp dụng so với đạo luật chung. Do Bộ luật Dân sự có đối tợng điều chỉnh là hầu hết các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý nên Bộ luật Dân sự được coi là một đạo luật chung. Các quy phạm trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy phạm pháp luật chung. Còn Đạo luật thương mại hoặc các đạo luật khác về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… chỉ điều chỉnh một bộ phận với nhiều điểm đặc thù trong hệ thống các quan hệ xã hội giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý nên các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Quy phạm pháp luật trong các đạo luật này được coi là các đạo luật chuyên ngành. Trong trường hợp có sự khác nhau trong việc điều chỉnh cùng một quan hệ quy phạm của các đạo luật chuyên ngành kể trên sẽ được u tiên áp dụng so với quy phạm tồn tại trong Bộ luật Dân sự.
Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc
Khi công nhận cả ba nguyên tắc có nội dung rất khác nhau kể trên, tất yếu nảy sinh vấn đề khi có sự mâu thuẫn giữa ba nguyên tắc thì thứ tự u tiên áp dụng giữa các nguyên tắc được giải quyết như thế nào. Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cũng giống nh pháp luật của hầu hết các quốc gia khác, pháp luật Nhật Bản coi nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm pháp luật căn cứ vào tầm hiệu lực của văn bản chứa đựng quy phạm là nguyên tắc tối cao. Đây là điều hoàn toàn có thể hiểu được và không gây nhiều bàn cãi trong giới lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, đối với hai nguyên tắc còn lại, khi có sự mâu thuẫn giữa chúng thì nguyên tắc nào sẽ được u tiên áp dụng. Chẳng hạn, khi xảy ra tình trạng, quy phạm trong đạo luật chung ban hành về sau lại quy định khác đi so với quy phạm pháp luật chuyên ngành ban hành trước đó thì sự việc sẽ giải quyết nh thế nào. Với lập luận rằng, khi ban hành một đạo luật chuyên ngành, tính toán kỹ lưỡng để sản sinh ra những quy phạm phù hợp, trong khi đó, khi xây dựng các quy phạm của các đạo luật chung, công việc này sẽ ít được coi trọng hơn, vì vậy, pháp luật Nhật Bản đã chọn phơng án: mặc dù đạo luật chung được ban hành về sau có quy định khác với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó, thì đạo luật chung được ban hành về sau cũng không được u tiên áp dụng so với đạo luật chuyên ngành được ban hành trước đó. Như vậy là nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm của đạo luật chung được xếp trên nguyên tắc u tiên áp dụng quy phạm tính theo thời điểm ban hành của nó. Như vậy, để giải quyết việc xác định vị trí của quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (khi so sánh với quy phạm pháp luật của các đạo luật chuyên ngành pháp luật khác nh thương mại, chứng khoán, bảo hiểm…), pháp luật Nhật Bản đã áp dụng được nguyên tắc theo thứ tự u tiên như sau:
1. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong văn bản pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao hơn
2. Ưu tiên áp dụng quy phạm tồn tại trong các đạo luật chuyên ngành so với các quy phạm tồn tại trong các đạo luật chung.
3. Ưu tiên áp dụng quy phạm ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó.
Trên đây là một số quan điểm về mặt lý luận và thực tiễn về luật dân sự của Nhật Bản. Có thể nói, những quan điểm kể trên gợi mở rất nhiều ý tởng cho các nhà lập pháp về dân sự của nước ta trước nhiệm vụ không ít khó khăn trước mắt đó là thực hiện việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, nâng công tác pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam lên một tầm cao mới.
(Bài viết này có sử dụng một số tư liệu do Giáo s Morishima và Giáo s Nimi trình bày trong cuộc toạ đàm của nhóm Nghiên cứu chung Việt Nam- Nhật Bản chuẩn bị việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam ngày 4/5/2001 tại Bộ Tư pháp)./
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 06/2001

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code