Showing posts with label Quan he tai san giữa CM va con. Show all posts
Showing posts with label Quan he tai san giữa CM va con. Show all posts

Sunday, October 13, 2013

SỔ TIẾT KIỆM: TÀI SẢN CHUNG HAY RIÊNG

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG – Phòng Pháp chế- Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Tóm tắt: Trên thực tế, có nhiều trường hợp người gửi tiết kiệm cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng. Một vấn đề được phát sinh: nếu người cầm cố đã lập gia đình đang trong tình trạng hôn nhân, thì sổ tiết kiệm được coi là tài sản chung hay tài sản riêng? Trình tự, thủ tục cầm sổ tiết kiệm như thế nào? Các ngân hàng vẫn chưa thống nhất về giải pháp cho vấn đề này, bởi lẽ chưa có văn bản pháp luật nào tương ứng, thích hợp.
Ngày nay, thu nhập của phần lớn các hộ gia đình không những đủ trang trải những chi phí liên quan đến cuộc sống hàng ngày (ăn uống, điện nước, nhà ở, đi lại…) mà còn dư thừa một phần để gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại. Đã có nhiều trường hợp người gửi tiết kiệm cầm cố sổ tiết kiệm của mình để vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế quá trình cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng còn có nhiều quan điểm khác nhau về những quy định của pháp luật.
Cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể trình tự, thủ tục cầm cố sổ tiết kiệm nói riêng mà chỉ quy định trình tự, thủ tục thế chấp, cầm cố tài sản nói chung. Căn cứ vào những quy định chung này, các ngân hàng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc cầm cố sổ tiết kiệm cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng mình. Do đó, trình tự, thủ tục cầm cố sổ tiết kiệm giữa các ngân hàng cũng không thống nhất nhau. Một số ngân hàng ban hành văn bản quy định rằng: khi cầm cố sổ tiết kiệm, người đứng tên trong sổ tiết kiệm không cần chứng minh tình trạng hôn nhân của mình, vì sổ tiết kiệm là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Cho nên, người đứng tên có quyền sở hữu và cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng khác lại yêu cầu: khi cầm cố sổ tiết kiệm, người cầm cố phải chứng minh tình trạng hôn nhân của mình, vì sổ tiết kiệm có thể là tài sản chung của vợ chồng. Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người đó thường trú, đang sinh sống hoặc cơ quan nơi công tác có quyền xác nhận tình trạng hôn nhân của người cầm cố sổ tiết kiệm. Nếu người cầm cố sổ tiết kiệm chưa lập gia đình hoặc đã lập gia đình nhưng vợ chồng đã ly dị hoặc một trong hai người đã chết, thì người cầm cố có toàn quyền cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng. Trường hợp người cầm cố đã lập gia đình, thì khi làm thủ tục cầm cố sổ tiết kiệm, cả vợ và chồng cùng ký kết hợp đồng cầm cố với ngân hàng hoặc người này uỷ quyền cho người kia đại diện làm tất cả thủ tục cầm cố, vay vốn ngân hàng.
Sở dĩ ngân hàng yêu cầu cả vợ và chồng cùng ký tên vào hợp đồng cầm cố sổ tiết kiệm hoặc có văn bản uỷ quyền là vì, theo quy định của pháp luật, tài sản thế chấp, cầm cố thuộc sở hữu của nhiều người (từ hai người trở lên) phải được cam kết bằng văn bản của những người đồng sở hữu đồng ý giao cho người đại diện vay vốn và ký hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản. Mặt khác, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rõ: việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Do đó, đối với những người đã lập gia đình, thì số tiền gửi tiết kiệm có thể là tài sản chung của vợ chồng, cho dù số tiền gửi tiết kiệm đó là thu nhập riêng của vợ hoặc chồng mang lại trong thời kỳ hôn nhân.
Hơn nữa, ngân hàng là đơn vị kinh doanh, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chính, nên ngân hàng
không có chức năng và thẩm quyền xác minh số tiền gửi tiết kiệm là tài sản chung hay tài sản riêng.
Cho nên, đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu như sổ tiết kiệm, thì người đi vay phải tự chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản cầm cố đó. Nếu người đi vay không có chứng cứ chứng minh được sổ tiết kiệm là tài sản riêng của mình, thì việc cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Trường hợp vợ hoặc chồng- người không đứng tên trong sổ tiết kiệm không có điều kiện trực tiếp đến ký hợp đồng cầm cố với ngân hàng, thì người đó có thể uỷ quyền cho đứng tên trong sổ tiết kiệm ký kết hợp đồng cầm cố với ngân hàng. Việc uỷ quyền phải lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi hợp đồng cầm cố đã được ký kết và bên đi vay đã nhận đủ vốn vay ngân hàng, thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới nợ cho ngân hàng. Trường hợp bên đi vay không trả được nợ đến hạn, thì ngân hàng có quyền nhận chính quyển sổ tiết kiệm cầm cố để vay thế chấp cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của hai vợ chồng.
Đáng tiếc thay, thời gian qua một số ngân hàng thương mại đã cho khách hàng vay vốn mà không có sự đồng ý bằng văn bản của cả hai vợ chồng về việc cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn ngân hàng. Do vậy, khi người đi vay không trả được nợ đến hạn, người vợ hoặc người chồng không ký kết hợp đồng cầm cố với ngân hàng trước đây mới yêu cầu ngân hàng chỉ được nhận 1/2 số tiền ghi trong sổ tiết kiệm để trừ nợ, 1/2 số tiền tiết kiệm còn lại đề nghị ngân hàng trả lại cho họ. Điều này cũng được Toà án có thẩm quyền tuyên buộc trong bản án, quyết định của mình khi các bên đưa vụ việc ra toà án xét xử.
Xuất phát từ những cơ sở pháp lý và thực tiễn nói trên, hiện nay các văn bản liên quan đến cầm cố sổ tiết kiệm của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và một số ngân hàng thương mại đã quy định khách hàng phải có xác nhận tình trạng hôn nhân (đã kết hôn hay chưa kết hôn) khi cầm cố sổ tiết kiệm. Bởi vì, các ngân hàng này cho rằng: quy định này vừa phù hợp với quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, vừa bảo đảm được tính chặt chẽ, an toàn trong hoạt động tín dụng. Hơn nữa, khi nhận cầm cố, thế chấp tài sản nói chung, ngân hàng không biết được tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ chồng mà chỉ có thể xác minh được tài sản chung của vợ chồng nếu những tài sản này đã đăng ký quyền sở hữu. Quy định nói trên của ngân hàng chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho một số người vay vốn ngân hàng trên cơ sở có tài sản bảo đảm bằng sổ tiết kiệm, đặc biệt là với những đôi vợ chồng sống xa nhau (như: vợ sống ở TP. Hồ Chí Minh nhưng chồng lại sống ở TP. Hà Nội hoặc nước ngoài). Do đó, trong thời gian gần đây, tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ, một số khách hàng đã than phiền quy định cầm cố sổ tiết kiệm của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Theo ý kiến của những khách hàng này thì vợ, chồng có quyền có tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, sổ tiết kiệm có thể được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng và khi cầm cố chỉ cần người đứng tên trong sổ tiết kiệm có thể ký kết hợp đồng với ngân hàng là đủ.
Trong khi hệ thống pháp luật về cầm cố sổ tiết kiệm còn chưa hoàn thiện và còn nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục cầm cố sổ tiết kiệm, thì trước thực trạng trên, một số chuyên gia pháp lý đã đưa ra hai giải pháp dưới đây để giúp các ngân hàng giải quyết được một phần nào những vướng mắc nói trên:
Thứ nhất: Nếu không có sự đồng ý của cả hai vợ chồng hoặc không có chứng cứ chứng minh được tài sản riêng của mình, thì ngân hàng chỉ cho khách hàng vay số tiền tối đa bằng 50% số tiền ghi trong sổ tiết kiệm tại thời điểm cho vay. Thứ hai: Nếu có văn bản đồng ý của cả hai vợ chồng hoặc có chứng cứ chứng minh được tài sản riêng của mình, thì ngân hàng cho khách hàng vay số tiền tương đối với số tiền ghi trong sổ tiết kiệm tại thời điểm cho vay (tất nhiên, số tiền cho vay luôn luôn nhỏ hơn số tiền ghi trong sổ tiết kiệm). Trong trường hợp này, cả hai vợ chồng có thể cùng tham gia ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay với ngân hàng hoặc một người uỷ quyền bằng văn bản cho người còn lại đến làm thủ tục và ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố tài sản với ngân hàng để vay vốn.
Trường hợp không chấp nhận một trong hai phương án nói trên, thì khách hàng vay có quyền rút tiết kiệm trước kỳ hạn để sử dụng vào các mục đích chính đáng của gia đình mình, như: đầu tư, kinh doanh hoặc xây dựng nhà ở… Nhưng, các giải pháp trên đây chỉ mang tính chất tình thế chứ không phải các quy định của pháp luật để làm cơ sở pháp lý cho các ngân hàng thống nhất thực hiện. Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm xem xét và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về việc cầm cố sổ tiết kiệm nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các ngân hàng thương mại thực hiện./.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 1 NĂM 2002

Thursday, October 10, 2013

QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG SỞ HỮU: PHẦN LỚN VỢ KHÔNG CÓ TÊN TRONG "SỔ ĐỎ"

HẠNH QUỲNH
Tổ chức Nghiên cứu phát triển Action Aid Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát “Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Kết quả cho thấy chỉ có khoảng 3-5% số hộ gia đình được cấp “sổ đỏ” có tên cả hai vợ chồng.
Cuộc khảo sát được tiến hành tại huyện Đà Bắc (Hòa Bình), Tam Đường (Lai Châu), Ninh Phước (Ninh Thuận), Mang Yang (Gia Lai), Cầu Ngang (Trà Vinh), Vũng Liêm (Vĩnh Long).
Mất nhà vì thiếu hiểu biết
Chị Nguyễn Thị Hằng, SN 1982, thường trú tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường (Lai Châu). Năm 2000, chị kết hôn và có một con gái 7 tuổi. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị được mẹ vợ cho một mảnh đất. Sau đó, nghe theo lời khuyên của chồng, chị Hằng bán mảnh đất trên lấy tiền mua mảnh đất của bố mẹ chồng để ở.
Điều 43 Nghị định 181 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định phải ghi tên cả vợ và chồng khi bất động sản là tài sản chung của hai vợ chồng, hoặc trường hợp nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất. Trừ trường hợp một trong hai người là người nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khi bất động sản là tài sản chung của cả con cái thì chủ hộ đại diện viết tên.

Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất mới này không ghi tên chị mà ghi tên bố chồng. Năm 2007, chồng chị Hằng nghiện hút nặng, chị đưa đơn ly hôn. Trước tòa, bố chồng tuyên bố mảnh đất mà chị đang ở là của ông, vì “sổ đỏ” mang tên ông.
Toà buộc chị Hằng phải giao trả lại mảnh đất, chị đành đi thuê nhà để ở. Nghề nghiệp không ổn định, phải nuôi con nhỏ nên cuộc sống rất khó khăn. Nghĩ lại chị mới thấy hối hận vì đã không biết để chuyển tên chủ sở hữu mảnh đất khi mua.
Cũng giống như trường hợp của chị Hằng, nhiều người dân tại các địa phương khảo sát ít biết đến Luật Đất đai năm 2003, không hiểu về ý nghĩa của việc đứng tên quyền sở hữu tài sản. Nhiều người được hỏi thậm chí còn tỏ ra ngạc nhiên khi được nghe đất ở và đất canh tác mang tên vợ và chồng.
Chị Đinh Thị Quyết, Trưởng trạm Khuyến nông – Khuyến lâm huyện Đà Bắc, Hòa Bình cho biết: “Tôi chưa bao giờ nghe nói đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên 2 người”. Chị Huynh, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, Gia Lai tham gia các hoạt động phụ nữ rất tích cực, nhưng khi hỏi về “sổ đỏ” có tên cả vợ và chồng thì cũng không biết gì.
Chỉ có chồng là chủ hộ?
Người dân ở 6 tỉnh khảo sát chưa hiểu hoặc hiểu rất ít về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên 2 người và cho rằng gia đình có chồng đại diện là đủ. Chị Đinh Thị Nga, 35 tuổi, thôn Quyết Chiến, xã Hào Lý, huyện Đà Bắc, Hòa Bình cho biết: “Chúng tôi cứ tưởng chỉ có chồng là chủ hộ mới được đứng tên trong “sổ đỏ” nên cũng không dám hỏi”.
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ “sổ đỏ” đứng tên cả hai vợ chồng là rất thấp. Ở 2 xã Tu Lý, Hào Lý, huyện Đà Bắc, Hòa Bình, tỉ lệ đất ở có “sổ đỏ” 2 tên chỉ chiếm 5,7%. Tỉ lệ này ở các xã Bình Lư, Bản Bo, huyện Tam Đường, Lai Châu là 3%. Còn ở Trà Vinh và Vĩnh Long là 3,1%.
Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền lợi hợp pháp của phụ nữ. Kết quả khảo sát của tổ chức ActionAid Việt Nam cho thấy do thiếu hiểu biết, người phụ nữ không dám hỏi chồng về quyền chủ hộ gia đình. Có trường hợp, phụ nữ nghĩ rằng việc đứng ngang tên với chồng trong “sổ đỏ” là điều bất bình thường.
Ông Saroj Dash, Quyền Giám đốc Quốc gia ActionAid Việt Nam cho rằng, ngoài hạn chế trong nhận thức của người phụ nữ thì trong một số gia đình, người chồng chưa tạo điều kiện để người vợ được có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đó là những ông chồng gia trưởng, muốn một mình nắm giữ tài sản để tạo quyền uy trong các quyết định. Nó cũng là minh chứng cho tình trạng bất bình đẳng giới vốn đã diễn ra âm thầm nhưng dai dẳng hiện nay.
Ông Saroj Dash khẳng định: “Phụ nữ là người sản xuất nông nghiệp chủ yếu, nuôi sống cả gia đình. Song quyền tiếp cận và sử dụng các công cụ, tư liệu sản xuất của họ vẫn chưa được đảm bảo, thậm chí có khi còn bị xâm phạm. Một trong những biện pháp để đảm bảo an ninh lương thực là đảm bảo quyền tiếp cận và sử dụng đất đai thực sự cho phụ nữ trên cơ sở pháp lý và trong thực tế”.
Kết quả khảo sát còn cho thấy, một nguyên nhân khác khiến phụ nữ chưa hiểu biết đến quyền lợi của mình trong việc sở hữu tài sản, đất đai là do chính quyền địa phương không tuyên truyền cho họ hiểu. Một số cán bộ cấp huyện khi được hỏi cho biết, họ chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh hướng dẫn triển khai cụ thể về vấn đề này để tuyên truyền cho người dân.
“Nếu vợ chồng mua nhà, đất trong thời kỳ hôn nhân, thì đó là tài sản chung của 2 vợ chồng, kể cả chỉ có 1 người đứng tên. Khi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cầm cố vẫn phải có đầy đủ chữ ký của cả 2 vợ chồng.
Tài sản chỉ thuộc về riêng một người khi tài sản đó có được trước lúc kết hôn, hoặc một người được thừa kế; tặng, cho riêng cá nhân, thì phải có hợp đồng tặng, cho, di chúc chỉ có tên một người và cam kết của người đó không nhập vào tài sản chung”.
Luật sư Lê Thu Hương
(Văn phòng Luật sư Thu Hương và cộng sự, phố Đội Nhân, Hà Nội)
SOURCE: BÁO GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

TỶ LỆ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT MANG TÊN CẢ VỢ VÀ CHỒNG CÒN RẤT THẤP

V.A
Báo cáo khảo sát của ActionAid Việt Nam” được công bố ngày 12/10 tại Hà Nội cho thấy, đa số người dân ở các vùng khảo sát chưa biết đến quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang hai tên vợ và chồng của Nhà nước.
Với mục tiêu tìm hiểu quyền tiếp cận và sử dụng đất của phụ nữ thông qua thực trạng cấp giấy chứng nhận sử dụng đất mang cả hai tên vợ và chồng, cuộc khảo sát Quyền tiếp cận đất của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất tại sáu vùng phát triển do ActionAid Việt Nam phối hợp cùng Mạng lưới Các tổ chức dân sự xã hội vì an ninh lương thực và giảm nghèo CIFPEN thực hiện tại các huyện hiện là địa bàn triển khai các chương trình phát triển dài hạn của ActionAid Việt Nam gồm huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), Tam Đường (Lai Châu), Ninh Phước (Ninh Thuận), Mang Yang (Gia Lai), Cầu Ngang (Trà Vinh) và Vũng Liêm (Vĩnh Long).
Theo thống kê, phụ nữ là lực lượng sản xuất nông nghiệp chính của thế giới, song vì những tập quán và nguyên nhân văn hóa xã hội khác nhau nên phụ nữ lại là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi tình trạng đói nghèo hơn nam giới. Trong những năm qua, Việt Nam luôn được coi là một tấm gương về phát triển và xóa đói giảm nghèo, đưa hàng triệu người thoát nghèo. Tuy nhiên, mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo trong những năm tới vẫn là một thách thức lớn do khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng và những bất cập trong phân phối và tiếp cận đất sản xuất và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đối với phụ nữ.
Ở Việt Nam, tuy luật pháp quy định phụ nữ và nam giới đều có quyền và có khả năng thực hiện, quản lý tài nguyên bền vững nhưng họ nhận thức về sử dụng quyền khác nhau tùy theo điều kiện tiếp cận nguồn đất đai. Trong gia đình, việc không thực sự được làm chủ nguồn đất đai, tư liệu, công cụ sản xuất, người phụ nữ luôn ở vào vị thế phụ thuộc, vai trò giới không được phát huy nên đói nghèo, chậm phát triển luôn là ẩn hoạ đối với người phụ nữ và con cái họ.
Phát biểu tại lễ công bố báo cáo, ông Saroj Dash, Quyền Giám đốc Quốc gia ActionAid Việt Nam khẳng định: “Không thể nào ngay lập tức chấm dứt tình trạng nghèo đói, nhưng chúng ta có thể thực hiện các giải pháp lâu dài, mà một trong số đó chính là thực hiện quyền của người phụ nữ. Một trong những biện pháp để đảm bảo an ninh lương thực mà các chính phủ có thể áp dụng chính là tăng cường việc đảm bảo quyền tiếp cận và sử dụng đất đai thực sự cho phụ nữ cả trên góc độ pháp lý và trong thực tế. Đây chính là một quyền hết sức căn bản và chính đáng của phụ nữ.”
Được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 8/08, cuộc khảo sát cho biết, các thông tin về Luật đất đai và những điều liên quan đến quyền tiếp cận đất của phụ nữ chỉ mới tới được cấp huyện, chưa được phổ biến đến người dân, do vậy tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng tại các địa bàn khảo sát còn rất thấp. Nguyên nhân của thực trạng này đến từ hai phía, do các cấp chính quyền địa phương còn chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải tiến hành cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ một tên sang hai tên, do công tác thông tin tuyên truyền về Luật đất đai 2003 chưa được quan tâm đúng mức, cũng như do bản thân người dân, đặc biệt là phụ nữ cũng chưa hiểu về quy định này và ý nghĩa của nó đối với việc sản xuất nông nghiệp hàng ngày, và thủ tục hành chính còn rườm rà, chi phí mà người dân phải trả còn cao.
Báo cáo cũng đã nêu lên một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang hai tên vợ và chồng cũng như nhận thức của người dân về vấn đề này, bao gồm các nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, công tác tuyên truyền – vận động, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ địa chính địa phương… cũng như những gợi ý để các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo như ActionAid có thể thực hiện nhằm tăng cường quyền tiếp cận đất của phụ nữ. 
Lễ công bố báo cáo là một hoạt động thuộc đợt vận động Chung tay Xóa đói nghèo (HungerFREE) 2008 do ActionAid phát động tại nhiều nước trong 5 năm từ 2006 đến 2010 nhằm kêu gọi các chính phủ thực hiện cam kết “giảm một nửa số người đói trên thế giới vào năm 2015” đã được nhất trí tại Hội nghị thượng đỉnh Lương thực thế giới năm 1996. Tại Việt Nam, các hoạt động của đợt vận động đã diễn ra từ tháng 5/2008 và kết thúc bằng sự kiện cao điểm “Chung tay Xóa đói nghèo” trong sinh viên Thủ đô được tổ chức vào ngày 12/10/2008 do ActionAid Việt Nam phối hợp cùng Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện.
SOURCE: BÁO CÔNG THƯƠNG

NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP
Vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng là lĩnh vực luôn xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, đặc biệt là khi vợ chồng phát sinh các mâu thuẫn. Một nguyên tắc góp phần giải quyết tốt các tranh chấp này được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nguyên tắc này chưa có trong các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986), đó là nguyên tắc suy đoán tài sản chung
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng, hay chính xác hơn là chế độ pháp lý về tài sản giữa vợ chồng là lĩnh vực thường xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, nên cần phải có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp để giải quyết tốt những tranh chấp.
Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) năm 2000 cũng như Luật HNGĐ năm 1986 của Việt Nam thừa nhận sự cùng tồn tại của ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ và tài sản riêng của chồng. Trong đó, khối tài sản chung của vợ chồng được người làm luật dành nhiều sự quan tâm, bảo vệ; một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung (người viết tạm đặt tên) lànguyên tắc suy đoán tài sản chung[1].
1. Luật HNGĐ năm 2000 quy định tại khoản 3 Điều 27: Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung.
Vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định tương đối cụ thể trong Luật HNGĐ, tuy nhiên, trong thực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì các tài sản sẽ có xu hướng không thể tránh khỏi là lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lập nhiều các giao dịch liên quan đến tài sản. Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tài sản cũng có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung (Điều 27) và tài sản riêng (Điều 32). Trong bối cảnh đó, quy định về việc suy đoán tài sản chung mà người làm luật đặt ra trong khoản 3 Điều 27 có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản. Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa như một trở ngại không những đối với vợ, chồng trong việc chứng minh tài sản là của riêng, mà còn là trở ngại đối với người thứ ba, cụ thể là các chủ nợ riêng của vợ, chồng (các chủ nợ chỉ được đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng) trong việc yêu cầu kê biên tài sản riêng. Các chủ nợ riêng này muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng mắc nợ, buộc phải chứng minh tài sản mà họ yêu cầu kê biên là tài sản riêng của người mắc nợ.
Nếu việc suy đoán tài sản chung chỉ được ghi nhận một cách đơn giản trong Luật HNGĐ Việt Nam thì trong luật Dân sự Pháp, vấn đề này lại được quy định chi tiết tại Điều 1402: “mọi tài sản, dù là động sản hay bất động sản, đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, nếu không chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng theo quy định của pháp luật”; “nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có bản kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản”[1].
2. Điểm chung đầu tiên có thể thấy trong quy định của luật Việt Nam và luật của Pháp, đó là sự suy đoán pháp lý về nguồn gốc của tài sản. Khoản 3 điều 27 Luật HNGĐ quy định việc suy đoán này sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp giữa vợ chồng về tài sản chung hay riêng, tức là một trong số vợ hoặc chồng cho rằng, một hoặc một số tài sản nào đó bất kỳ (cả động sản và bất động sản), tồn tại trong thời kỳ hôn nhân của họ, là tài sản riêng của người này. Luật Việt Nam không quy định đặc biệt gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp, tuy nhiên, với cách quy định trên của luật, trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận, cả bằng chứng viết, lời khai của nhân chứng, hóa đơn, chứng từ và hẳn nhiên là cả sự thừa nhận của bên còn lại trong tranh chấp (nếu có).
Trong khi đó, các loại bằng chứng chứng minh trong luật của Pháp được liệt kê tương đối cụ thể. Có thể thấy, loại bằng chứng nặng ký đầu tiên, được thẩm phán chấp nhận đó là các bằng chứng viết (preuve écrite). Có thể hiểu bằng chứng viết được đề cập trong quy định này là các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng với tài sản đang tranh chấp, biên bản kiểm kê tài sản (loại bằng chứng thứ hai này được ghi nhận một cách chính thức trong luật Pháp nhưng có vẻ chưa được thừa nhận chính thức trong luật Việt Nam).
Nguyên nhân của sự khác biệt trong quy định giữa luật Việt Nam và luật của PhápN, là từ thời điểm Luật HNGĐ năm 2000 ban hành, nhà làm luật Việt Nam đã quy định tại khoản 2 Điều 27: “nếu một tài sản chung của vợ chồng buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu sẽ phải ghi tên của cả hai vợ chồng”. Quy định này được hướng dẫn thêm bởi Nghị định 70/CP (2001) hướng dẫn thi hành Luật HNGĐ năm 2000 và Nghị quyết số 02/HĐTP -TANDTC ban hành ngày 23/12/2000. Cụ thể, theo hướng dẫn của nghị quyết nêu trên, thì trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta chưa thể đồng loạt áp dụng quy định này một cách triệt để, thì mặc dù giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chỉ ghi tên một người, vợ hoặc chồng, tài sản đó vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng (điểm 3b Nghị quyết). Hướng dẫn này đưa ra nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân trong bối cảnh hiện nay, khi mà chỉ có một số tài sản có giá trị lớn và theo quy định của luật buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu mới được ghi tên của cả hai vợ chồng.
Sau khi Tòa án nhân dân tối cao đưa ra hướng dẫn trên thì đến năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 70/CP hướng dẫn thi hành Luật HNGĐ năm 2000, quy định rằng: ôCác tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật HNGĐ năm 2000 bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật buộc phải đăng ký quyền sở hữu (khoản 1 Điều 5); và Việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải ghi tên của cả vợ và chồng được thực hiện từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
Như vậy, các quy định hiện nay thể hiện, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy đăng ký tài sản hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ là loại bằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất trong việc chứng minh tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của một trong hai bên. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, các quy định của Nghị định 70/CP vẫn chưa được áp dung một cách đồng bộ và hiệu quả, và do đó, hướng dẫn của Nghị quyết số 02/HĐTP -TANDTC vẫn tiếp tục được sử dụng với đầy đủ ý nghĩa ban đầu của nó, điều này nói lên rằng, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam không được xem là loại bằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất để chứng minh việc tài sản tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Do vậy, trong việc chứng minh nguồn gốc tài sản bằng việc áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung, các thẩm phán chấp nhận một cách rộng rãi tất cả các loại bằng chứng có thể có một cách hợp pháp.
Trong khi đó, trong luật của Pháp, việc ghi nhận một cách đồng bộ quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đã đem lại cho loại bằng chứng này giá trị chứng cứ, có thể nói là khá chắc chắn, được chấp nhận trong thủ tục chứng minh tài sản riêng của vợ, chồng. Như vậy, việc chấp nhận một cách rộng rãi các loại chứng cứ chứng minh trong luật Việt Nam đã tạo ra cho các bên vợ, chồng nhiều thuận lợi trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, đặc biệt trong bối cảnh các loại tài sản có xu hướng lẫn lộn vào nhau.
3. Về lâu dài, để có thể bảo vệ một cách tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản riêng, các quy định của luật về việc ghi tên chủ sở hữu và các quy định hướng dẫn của Nghị định 70/CP, nên được tạo cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện. Cụ thể là triệt để áp dụng việc ghi tên chung cho các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung, và từng bước tiến hành việc đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung. Thực hiện tốt điều này sẽ làm giảm gánh nặng cho thẩm phán trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ, đồng thời cũng làm đơn giản hoá công việc của vợ, chồng trong việc truy tìm các chứng cứ chứng minh.
Có thể khẳng định là giải pháp về ghi tên cả hai chủ sở hữu trong trường hợp tài sản là tài sản chung của vợ chồng sẽ không làm vô hiệu hoá nguyên tắc suy đoán tài sản chung được ghi nhận trong Luật HNGĐ năm 2000. Khẳng định này trước tiên được rút ra từ thực tiễn áp dụng của luật dân sự Pháp. Bên cạnh đó, có thể thấy, trong các gia đình Việt Nam, các tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu chưa nhiều mà chủ yếu vẫn là các tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Do đó, việc ghi tên chủ sở hữu là cả vợ, chồng sẽ không thể thực hiện được một cách đồng bộ, vì vậy, nguyên tắc suy đoán tài sản chung sẽ vẫn còn nguyên giá trị áp dụng trong thực tiễn. Hay có thể nói, giá trị thực tiễn của nguyên tắc này dẫn đến một hệ quả là việc cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản ghi tên chung của vợ chồng là chưa thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Tóm lại, để góp phần giải quyết tốt các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, nguyên tắc suy đoán tài sản chung được đặt ra như một công cụ pháp lý hữu hiệu trong luật Việt Nam cũng như trong luật của Pháp. Để có thể phát huy hết vai trò của mình trong thực tiễn, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay, nguyên tắc này cần có một cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện phù hợp hơn trong thực tiễn.
——–
[1] Bản dịch của Nhà pháp luật Việt Pháp, Nhà xuất bản Tư pháp 2005
[1]Thuật ngữ ” nguyên tắc suy đoán tài sản chung” còn được sử dụng trong Bình luận khoa hoc về Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của tập thể tác giả, Đinh Thị Mai Phương chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 2004, tr.185; ôGiáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ. tập 2, tr.46.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng (còn gọi là chế độ tài sản giữa vợ chồng) là một phạm trù thuộc quyền sở hữu công dân được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 58 – Hiến pháp 1992)
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử xã hội, mỗi chế độ xã hội đều quy định một chế độ tài sản giữa vợ chồng cho phù hợp với phong tục tập quán và hoàn cảnh kinh tế xã hội. Chẳng hạn, thời kì trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) và Bộ dân luật Trung Kỳ (1936) đã quy định cho vợ chồng được tự do lập hôn ước, chế độ tài sản pháp định chỉ đặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước. Theo chế độ này, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ, không kể tài sản đó được tạo ra trước hay trong thời kì hôn nhân.
Tập Dân luật giản yếu 1883 (một hệ thống án lệ) không thừa nhận người vợ có tài sản riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng mà toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu duy nhất của người chồng…
Như vậy, trong chế độ cũ, chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ chồng trong gia đình.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, trong đó đặc biệt chú ý tới chế độ tài sản giữa vợ và chồng:
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực 13/1/1960) đã quy định chế độ tài sản giữa vợ và chồng tại Điều 15: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Rõ ràng Luật hôn nhân gia đình 1959 chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng, đó là tài sản chung hợp nhất. Điều đó nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình. Khi hôn nhân được xác lập, không kể tài sản có được từ nguồn gốc nào đều được coi là tài sản chung của vợ chồng và từ đó mỗi bên vợ hoặc chồng không còn tài sản thuộc sở hữu riêng.
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật hôn nhân và gia đình 1959, đất nước ta bắt đầu bước vào thời kì đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt của công dân, Luật hôn nhân và gia đình mới đã được ban hành năm 1986 (có hiệu lực ngày 3/1/1987). Luật này quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng. Điều đó phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội.
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng mà Luật hôn nhân gia đình 1986 quy định đã tạo ra môi trường pháp lí đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng; đảm bảo sự tự do của vợ và chồng khi tham gia các giao dịch ngoài xã hội cũng như xác định rõ trách nhiệm, khả năng thanh toán của vợ hoặc chồng và bảo vệ quyền lợi của những người khác khi tham gia giao dịch. Mặt khác, đó còn là căn cứ pháp lí để các cấp tòa án giải quyết thấu đáo, công bằng những vụ việc tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung”.
Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định:
Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”.
Như vậy, theo các điều luật trên, để xác định một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng phải căn cứ vào hai dấu hiệu: Thời kì hôn nhân và nguồn gốc tài sản. Thời kì hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ được ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt do một bên chết hoặc do vợ chồng li hôn bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án. Xác định nguồn gốc tài sản là xác định tài sản đó do đâu mà có: Từ hợp đồng tặng cho, mua bán hay được thừa kế…
Tuy nhiên, cũng chính từ điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề sau đây:
* Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sẽ trở thành tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hay trở thành tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi người.
Đối với vấn đề này, chúng ta có thể chia ra hai trường hợp:
+ Thứ nhất, chúng ta sẽ coi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 1986 có thể coi là căn cứ pháp lí để xác định điều đó. Bởi vì những hoa lợi, lợi tức này là loại “thu nhập hợp pháp khác có trong thời kì hôn nhân”. Mặt khác, trong thực tế của đời sống hôn nhân và gia đình, nếu hoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc coi nó là tài sản chung sẽ đảm bảo đời sống chung của gia đình, tránh tình trạng vô trách nhiệm của bên có tài sản riêng.
Nhưng nếu chúng ta coi hoa lợi, lợi tức là tài sản chung thì cũng có một số điểm không hợp lí sau đây:
- ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của sở hữu chủ; hạn chế việc tham gia vào các giao dịch ngoài xã hội, thậm chí không đảm bảo lợi ích của người thứ ba tham gia giao dịch:
Ví dụ: ông A kết hôn với bà B năm 1988. Tại thời điểm này, ông A có một khối lượng tài sản riêng là 500 triệu đồng. Sau khi kết hôn, ông A đã sử dụng số tiền trên vào đầu tư kinh doanh. Trong khoảng hai năm đầu số lợi tức lên tới 300 triệu đồng. Nếu ông A muốn đầu tư 300 triệu đồng này vào kinh doanh lại phải được sự đồng ý của bà B (bởi như trên chúng ta đang xem xét, lợi tức này là tài sản chung của vợ chồng). Trong trường hợp bà B không thỏa thuận thì sao? Hoặc sự thỏa thuận đó diễn ra trong một khoảng thời gian quá lâu mà cơ hội kinh doanh chỉ có một?… Hoặc đặt giả thiết, vào những năm tiếp theo do làm ăn thua lỗ, phải bồi thường thiệt hại thì về mặt nguyên tắc chỉ bản thân ông A là người chịu trách nhiệm thanh toán, bởi ông A đã sử dụng tài sản riêng vào mục đích kinh doanh. Trong trường hợp tài sản riêng không đủ để thanh toán, nếu muốn lấy khoản lợi tức trên để bồi thường thì phải có sự đồng ý của bà B. Nếu bà B không đồng ý thì ông A chỉ có quyền yêu cầu tòa án trích chia 1/2 số tài sản đó để bồi thường…
- ảnh hưởng đến sự bình đẳng, công bằng trong hôn nhân.
Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lí do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này”.
Như vậy khi hôn nhân tồn tại, nếu như hai vợ chồng có lí do chính đáng, như: Vợ chồng tính tình không hợp (Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) hoặc hai vợ chồng không thỏa thuận được về việc định đoạt tài sản chung thì họ sẽ được chia tài sản chung của vợ chồng.
Sau khi đã chia tài sản chung theo Điều 18, chúng ta vẫn có căn cứ để khẳng định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng (có thể là từ tài sản chung vừa được chia hoặc từ một căn cứ hợp pháp khác mà có) là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Chính điều đó đã gây nên những bất hợp lý.
Ví dụ: Tài sản chung của ông A và bà B là 400 triệu đồng. Trong khi hôn nhân còn tồn tại, hai người đã yêu cầu tòa án chia tài sản chung đó. Sau khi tòa án chia, mỗi người được 200 triệu đồng. Ông A đã sử dụng 200 triệu đồng này và một số tài sản do thu nhập mà có vào việc buôn bán, kinh doanh. Sau hai năm số tài sản đó lên tới 400 triệu đồng. Còn bà B do làm ăn thua lỗ, tiêu tán dần số tài sản đó. Sau một thời gian bà B yêu cầu tòa án chia số tài sản chung phát sinh sau đó thì về nguyên tắc bà B vẫn được hưởng một phần tài sản trích từ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của ông A. Vậy điều này có là phù hợp với thực tế hay không?
Về vấn đề này, Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (12b) cũng chưa quy định rõ, cụ thể, một vài điều luật được nhắc đến chung chung. Ví dụ: Điều 36 Dự thảo luật hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi chia tài sản chung, tài sản do vợ – chồng tạo lập vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ – chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác…”
Điều 38 Dự thảo luật hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp vợ chồng li thân và tài sản chung đã được chia thì quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với tài sản đó chấm dứt; tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời gian sống li thân thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi người…”
Theo tinh thần hai điều luật này, cần phân biệt hai trường hợp:
- Nếu chia tài sản chung mà vợ chồng không sống li thân thì vẫn có thể tồn tại tài sản thuộc sở hữu không hợp nhất của vợ chồng;
- Nếu vợ chồng sống li thân và có yêu cầu chia tài sản thì quan hệ sở hữu chung tài sản của vợ chồng sẽ chấm dứt.
Các điều luật trên cũng chưa đề cập hoa lợi, lợi tức xuất phát từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại.
Tóm lại:
- Thứ nhất, có thể khẳng định từ khi hai bên nam nữ được trao giấy chứng nhận kết hôn thì cũng là lúc họ không còn khả năng làm tăng giá trị khối tài sản riêng mà mình vốn có (trừ trường hợp họ được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng).
- Thứ hai, có thể coi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng mỗi người là tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Luật hôn nhân gia đình có quy định rõ như vậy mới đảm bảo quyền năng của sở hữu chủ.
Người có tài sản riêng có toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng cũng như hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản đó.
Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1986 quy định: “Người có tài sản riêng có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”. Mặt khác, nếu hoàn cảnh gia đình túng thiếu, một bên ốm đau… nếu tài sản chung không đủ để trang trải, phục vụ gia đình thì người có tài sản riêng vẫn phải có trách nhiệm lấy tài sản của mình cấp dưỡng và bảo đảm nhu cầu chung của gia đình và không có quyền đòi lại. Đó là một đặc trưng chỉ xuất hiện trong quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ tài sản này không mang tính chất đền bù và ngang giá.
Điều 41 Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng được dùng để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản trong trường hợp tài sản chung không đủ để thanh toán
Trong trường hợp tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng chung cho gia đình hoặc hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản đó là do vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết”.
Tuy nhiên, nếu coi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản riêng thì cũng có những bất hợp lí sau:
- Chính điều đó phần nào dẫn đến sự bất bình đẳng trong gia đình; có thể người có tài sản riêng ỷ lại, coi thường và có những hành vi không tốt đối với vợ hoặc chồng mình và có thể gây ra những hậu quả xấu.
+ ảnh hưởng quyền lợi của phía bên kia (bên không có tài sản). Bởi lẽ, mặc dù họ không có tài sản nhưng trong thực tế họ đã thực hiện nghĩa vụ duy trì, bảo quản, giữ gìn tài sản riêng và hoa lợi, lợi tức cho chồng hoặc vợ mình; hay họ có công sức đóng góp vào việc phát sinh ra những hoa lợi, lợi tức đó nhưng sau khi có yêu cầu xin chia tài sản chung hoặc li hôn mà họ lại không được hưởng thụ tài sản đó hoặc chỉ là một phần rất ít.
Qua việc phân tích trên, chúng ta đã tìm ra được một số điểm hợp lí và bất hợp lí của vấn đề xung quanh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng mà Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình mới cần thiết phải quy định cụ thể, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan của xã hội, góp phần nhằm làm ổn định đời sống hôn nhân gia đình./.
SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC

KHÁI QUÁT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật dân sự,  Đại học Luật Hà Nội
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân… Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).
1. Tài sn ca v chng được xác định da trên cơ s hôn ước – Chế độ tài sn ước định
Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân (1). Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba.


Xác định tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở hôn ước được xuất phát từ quan niệm của nhà làm luật ở các nước phương Tây. Theo họ, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trng” trong thiết lập (việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước hoặc nhà thờ có thẩm quyền theo một nghi thức đặc biệt được qui định trong pháp luật) và trong việc chấm dứt (hôn nhân chỉ chấm dứt khi có sự kiện chết, có tuyên bố của Toà án một bên vợ, chồng đã chết hoặc khi có bản án hoặc quyết của Toà án về ly hôn có hiệu pháp luật, tất cả các trường hợp chấm dứt này phải tiến hành theo những thủ tục hành chính hoặc thủ tục tố tụng tại Toà án được pháp luật qui định). Bên cạnh đó, nhà làm luật ở các nước phương tây cũng đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng. Với quan niệm trên, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở hầu hết các nước phương Tây.
Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để qui định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và qui định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước. Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965)… đều qui định: Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các qui định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước.
Như vậy, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật qui định mà do chính bản thân vợ chồng tự thoả thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng. Vợ chồng có thể thoả thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được qui định trong pháp luật hoặc họ có thể chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo qui định của pháp luật.
Các thoả thuận của vợ chồng trong hôn ước mang tính ổn định cao. Về nguyên tắc, sau khi kết hôn việc thực hiện hôn ước là “bt di bt dch”, Điều 1395 Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 qui định: Hôn ước không thể thay đổi sau khi đã kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc hôn ước không thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân có một hạn chế cơ bản là nó có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp, thu nhập; hoặc, chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn có thể chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, còn sau đó các qui định trong chế độ tài sản đã lựa chọn lại cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ họ, cũng như lợi ích của gia đình. Để khắc phục hạn chế trên, hiện nay, pháp luật một số nước đã thừa nhận, các thoả thuận trong hôn ước có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ, Điều 1397 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965, Luật số 89 – 18 ngày 13/1/1989) qui định:
Sau hai năm áp dng chế độ tài sn trong hôn nhân theo tho thun hoc theo Lut định, hai v chng có th, vì li ích ca gia đình, xin sa đổi hoc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sn trong hôn nhân bng mt chng thư có chng thc ca công chng viên và được Toà án nơi cư trú phê chun [2].
Bộ Luật Dân sự Nhật Bản không qui định cụ thể về vấn đề này, nhưng theo Điều 758, 759: Tài sản thuộc sở hữu chung có thể được thay đổi hoặc phân chia trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận hoặc trong trường hợp vợ, chồng quản lý tài sản của nhau, nhưng người đó thực hiện quản lý tài sản không tốt và người kia đã yêu cầu Toà án HN&GĐ tước bỏ việc quản lý nói trên. Việc thay đổi hoặc phân chia tài sản chung không được sử dụng để chống lại người thừa kế hợp pháp của chồng hoặc vợ, trừ khi việc này đã được đăng ký. Như vậy, theo pháp luật Nhật Bản, những căn cứ xác định tài sản của vợ chồng được qui định trong hôn ước cũng có thể được thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản giữa vợ và chồng.
Với việc thừa nhận các thoả thuận trong hôn ước có thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật đã tạo cho vợ chồng quyền chủ động hơn trong việc qui định chế độ tài sản của mình. Tuy nhiên, điều đó vẫn không thể khắc phục được một hạn chế cơ bản của chế độ tài sản ước định là quá chú trọng đến lợi ích cá nhân của vợ, chồng, lợi ích của gia đình bị xem nhẹ, hoặc lợi ích của gia đình được xem xét theo ý thức chủ quan “thun tuý” của vợ chồng, dẫn đến mâu thuẫn bản chất của hôn nhân là tính chất cộng đồng và bản chất của gia đình là “bn phn và trách nhim”. Do vậy, chế độ tài sản này thường không được pháp luật HN&GĐ các nước XHCN (trong đó có Việt Nam) ghi nhận.
2. Tài sn ca v chng được xác định theo các căn c Lut định – Chế độ tài sn pháp định
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản trong đó pháp luật qui định cụ thể về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chồng với người thứ ba.
Chế độ tài sản pháp định là một giải pháp được nhà làm luật ở tất cả các nước ghi nhận trong pháp luật HN&GĐ. Có nước qui định chế độ tài sản pháp định mang tính chất thay thế trong trường hợp vợ chồng không có thoả thuận bằng hôn ước, hoặc với mục đích để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản áp dụng cho họ (phổ biến trong pháp luật về HN&GĐ ở các nước phương Tây như Pháp, Nhật Bản, Canađa, Australia, Thái Lan…), Điều 1400 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp qui định: “Chế độ cng đồng tài sn được thiết lp khi không có hôn ước hoc khi v chng tuyên b kết hôn theo chế độ cng đồng tài sn” [3]; có nước qui định chế độ tài sản pháp định như là căn cứ duy nhất để xác định tài sản của vợ chồng (phổ biến trong pháp luật HN&GĐ các nước XHCN như Việt Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ, Cu Ba…), Điều 29 Luật gia đình Cộng hoà Cuba qui định:
Chế độ tài sn ca v chng là chế độ tài sn chung theo qui định ca B lut này. Chế độ tài sản này áp dng k t ngày vic kết hôn được chính quyn công nhn hoc t ngày có cuc sng chung…; chế độ tài sn này chm dt khi quan h hôn nhân chm dt không k vì lý do gì.
Chế độ tài sản pháp định được qui định ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại thường dưới hai hình thức: Chế độ tài sản theo tiêu chuẩn cộng đồng (chế độ tài sản cộng đồng) và chế độ tài sản theo tiêu chuẩn phân sản (chế độ phân sản)
2.1. Chế độ tài sn cng đồng
Việc thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng là xuất phát từ quan điểm lợi ích của vợ chồng phải chịu sự chi phối bởi tính chất cộng đồng của hôn nhân và lợi ích chung của gia đình. Do đó, chế độ tài sản cộng đồng có đặc điểm cơ bản là trong quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng luôn tồn tại khối tài sản chung và các nghĩa vụ tài sản được bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, chế độ tài sản này không tồn tại dưới một hình thức duy nhất mà được qui định dưới nhiều hình khác nhau, trong đó chủ yếu ở ba hình thức sau:
* Chế độ cng đồng to sn
Chế độ cộng đồng tạo sản có đặc điểm, tài sản chung của vợ chồng chỉ được xác định đối với những tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản khác không phân biệt động sản hay bất động sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, hay được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng.
Đây là giải pháp được qui định phổ biến trong pháp luật về HN&GĐ của nhiều nước: Luật gia đình Cộng hoà Cu Ba (Điều 30 và 32), Luật gia đình Bun ga ri (Điều 13), Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Từ Điều 1401 đến Điều 1408), Bộ Luật Dân sự Nhật Bản (Điều 762), Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan (Điều 1471 và Điều 1474)… đều ghi nhận chế độ tài sản cộng đồng này. Điều 13 Luật hôn nhân năm 1980 của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa qui định: “Tài sn ca v chng làm ra trong sut thi k hôn nhân là tài sn chung ca v chng, ngoài ra, mi bên có th có tài sn riêng ngoài qui định trên” [4]. Điều 1401 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp cũng qui định: Tài sản cộng đồng gồm những thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ [4].
Việc chế độ cộng đồng tạo sản được thừa nhận rộng rãi ở các nước là do chế độ tài sản cộng đồng này rất phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước. Một mặt, nó không làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng – nền tảng cơ bản của quan hệ HN&GĐ, mặt khác chế độ tài sản này còn tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, ngăn chặn các trường hợp kết hôn với mục đích không lành mạnh, việc kết hôn chỉ nhằm vào khối tài sản đã sẵn có của bên kia.
* Chế độ cng đồng động sn và to sn
Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản cũng thừa nhận trong hôn nhân bao gồm có tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng như trong chế độ cộng đồng tạo sản. Tuy nhiên, chế độ cộng đồng động sản và tạo sản lại xác định tài sản của vợ chồng dựa trên việc phân định tài sản của vợ, chồng là động sản hay bất động sản. Theo đó, khối tài sản chung chỉ bao gồm các động sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân, các hoa lợi và các bất động sản mà vợ, chồng mua lại bằng tài sản chung. Vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với bất động sản có trước khi kết hôn và bất động sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Việc qui định chế độ cộng đồng động sản và tạo sản là xuất phát từ quan điểm của nhà làm luật một số nước cho rằng: Vợ, chồng phải để dành cho mình làm của riêng những tài sản chính của mình và theo các nhà làm luật đó là bất động sản (Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804, Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 của Chế độ Sài Gòn cũ…). Vậy nên, chế độ tài sản cộng đồng này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội lấy bất động sản là tiêu chí xác định thành phần chính yếu và chắc chắn của tài sản trong gia đình [5]. Trong điều kiện phát triển kinh tế ở mức công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao hiện nay, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng dựa trên sự phân tách động sản và bất dộng sản đã mất đi sự công bằng trong gia đình và đã không đảm bảo được mục đích đề ra ban đầu của nhà làm luật, vì lúc này tài sản chính yếu không phải là bất động sản mà thường là những tài sản thuộc về động sản, quyền tài sản hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền (cổ phiếu, chứng khoán…). Do đó, nhiều nước trước đây thừa nhận chế độ cộng đồng động sản và tạo sản nay đã tìm một chế độ tài sản cộng đồng khác thay thế để phù hợp với thực tiễn hơn. Ví dụ: Luật số 65-570 ngày 13/7/1965 của Cộng hoà Pháp đã qui định chế độ cộng đồng tạo sản thay cho chế độ cộng đồng động sản và tạo sản được qui định trong Bộ Luật Dân sự năm 1804.
* Chế độ cng đồng toàn sn
Khác với hai chế độ tài sản cộng đồng trên, chế độ cộng đồng toàn sản không thừa nhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung, theo đó toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung. Qui định đó xuất phát từ quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, nên tất cả tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân phải thuộc khối tài sản chung, quyền có tài sản riêng không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình. Với đặc điểm trên, chế độ cộng đồng toàn sản chỉ phù hợp với quan hệ HN&GĐ trong xã hội truyền thống. Trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, khi quyền tự do cá nhân luôn được đề cao, chế độ cộng đồng toàn sản đã bộc lộ những hạn chế cơ bản, vì không đảm bảo quyền tự định đoạt của người có tài sản, đặc biệt khi tài sản đó do vợ, chồng làm ra trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng; nó cũng không đảm bảo được sự độc lập của vợ, chồng do họ không có tài sản riêng để tham gia các quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ gia đình; mặt khác, việc chế độ cộng đồng toàn sản được áp dụng trong giai đoạn hiện nay có thể khuyến khích cho các quan hệ hôn nhân thực dụng. Vì vậy, các nước thường không lựa chọn chế độ tài sản cộng đồng này
2.2. Chế độ phân sn
Chế độ phân sản là một hình thức của chế độ tài sản pháp định, trong đó giữa vợ chồng không tồn tại chế độ tài sản chung, mà mỗi bên vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản do mình làm ra trước và trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật chỉ qui định nghĩa vụ của vợ, chồng về đóng góp vào chi tiêu chung của gia đình.
Ngoài ra, chế độ phân sản còn có một biến thái là chế độ hồi môn. Chế độ tài sản naỳ có nguồn gốc từ pháp luật La Mã cổ đại, theo đó, những tài sản thuộc của hồi môn của người vợ sẽ giao cho người chồng để người này quản lý và sử dụng. Như vậy, hoa lợi từ tài sản riêng của người chồng và từ của hồi môn của người vợ thuộc về người chồng. Đặc điểm của chế độ hồi môn là tài sản hồi môn không thể được chuyển nhượng. Không những người chồng không có quyền bán tài sản hồi môn vì người chồng không phải là chủ sở hữu, người vợ cũng không có quyền chấp thuận để người chồng bán. Cho dù có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng, tài sản hồi môn cũng không thể bán được. [6]
Trong quá khứ, chế độ tài sản này được áp dụng trong Luật hôn nhân cổ truyền ở Italia và ở Anh từ năm 1857. Hiện nay, hầu như các nước không thừa nhận chế độ tài sản này, vì nó có quan niệm “thái quá” trong việc đảm bảo lợi ích cá nhân của vợ, chồng, lợi ích của gia đình vì thế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
———————————-
1. Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân (1968), Danh từ và Tài liệu Dân luật và Hiến luật, Tủ sách Đại học Sài Gòn;
2.3. Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ Luật Dân sự của Cộng hoà Pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
4. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1996), Thông tin chuyên đề về Luật HN&GĐ, Hà Nội;
5.6. Bùi Tường Chiểu (1975), Dân luật, quyển II, Khoa Luật Đại học Sài Gòn.
SOURCE: DÀNH CHO CHUYÊN TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC SẢN XUẤT, KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HOÀ PHÁP

THS. BÙI MINH HỒNG – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật HN (NCS tại CH Pháp)
Trong đời sống giao lưu dân sự, kinh tế, có rất nhiều chủ thể mang tư cách vợ (hoặc chồng). Việc thực hiện những quan hệ này còn phải tuân theo những quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp và nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này dường như còn khá mới mẻ. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy Pháp luật của Cộng hoà Pháp có nhiều quy định quan trọng mà chúng ta có thể tham khảo. Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung giới thiệu về “Sự hợp tác của vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh”, mà tác giả cho rằng chúng có thể có giá trị cho sự hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với đà phát triển của xã hội.
I. Những quy định của luật chung liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của vợ chồng
1.1. Quyền tự chủ của vợ, chồng về nghề nghiệp
Trong phần quy định về các nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng, Bộ luật dân sự (BLDS) đã ghi nhận một quyền rất quan trọng cho mỗi bên vợ chồng: quyền tự chủ về nghề nghiệp. Điều 233 quy định: “Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do thực hiện nghề nghiệp, thu những món lợi và tiền lương và định đoạt nó sau khi đã đóng góp trách nhiệm đối với đời sống chung”. Sự tự chủ về nghề nghiệp có ý nghĩa đảm bảo cho vợ, chồng thực hiện được trách nhiệm của mình đối với đời sống gia đình nhưng không phá vỡ trật tự của hoạt động về nghề nghiệp đã được tiến hành từ trước khi kết hôn hoặc được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, quy định này còn mang một giá trị là nhằm giải phóng và phát triển năng lực của cá nhân.


Trên cơ sở quyền tự chủ này, khi điều chỉnh về quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng, BLDS đã quy định về một hình thức quản lý riêng biệt, theo đó chỉ có một bên vợ hoặc chồng mới có quyền quản lý định đoạt : Vợ chồng thực hiện nghề nghiệp riêng có quyền một mình thực hiện những hành vi quản lý và định đoạt cần thiết cho nghề nghiệp đó (Điều 1421, khoản 2).
Các hoạt động về nghề nghiệp của vợ và chồng có thể diễn ra một cách đa dạng dưới nhiều hình thức: làm công hưởng lương hoặc tổ chức, quản lý một doanh nghiệp.
Phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, nhà làm luật của Pháp đã ban hành nhiều văn bản quy định về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của vợ chồng, như: Luật ngày 4 tháng 7 năm 1980 và Luật ngày 9 tháng 7 năm 1999 về sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp; Luật ngày 10 tháng 7 năm 1982 về sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thủ công nghiệp và thương mại… Những quy định này hiện nay đã được đưa vào trong các Bộ luật tương ứng: Bộ luật về nông thôn (Code rural), Bộ luật thương mại (Code du Commerce)
Trong bối cảnh có nhiều chế độ tài sản có thể điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, quy định về quyền tự chủ về nghề nghiệp (trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh) là một trong những quy định của chế độ chung áp dụng cho mọi trường hợp. Vợ chồng có thể thoả thuận về việc quản lý doanh nghiệp, thanh toán lợi nhuận nhưng họ không thể thoả thuận để phá bỏ nội dung của Điều 233 BLDS.
1.2. Các chế độ tài sản của vợ chồng chi phối các hoạt động nghề nghiệp của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp những quy định về các quan hệ tài sản của vợ và chồng đối với nhau và đối với người thứ ba (1).
Chế độ tài sản của vợ chồng ở Pháp được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do cam kết thoả thuận của các bên vợ chồng. Vì vậy, pháp luật đã tạo ra một sự đa dạng về các chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm chế độ tài sản của vợ chồng do luật định (Chế độ tài sản pháp định) và các chế độ tài sản được lập ra theo những thoả thuận của các bên vợ chồng (Các chế độ tài sản ước định). Theo đó, vợ chồng có quyền lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp với điều kiện gia đình, điều kiện kinh tế của mình. Nguyên tắc tự do thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng còn được thể hiện ngay cả khi chế độ tài sản của vợ chồng đã được xác định (pháp định hoặc ước định), họ vẫn có quyền thay đổi chế độ đó bằng một chế độ khác. Tất nhiên, sự thay đổi này phải tuân theo những điều kiện đã được dự liệu trong Bộ luật dân sự.
Do có nhiều chế độ tài sản trong hôn nhân như vậy, để xác định nội dung của quyền sở hữu của vợ chồng, chúng ta cần phải căn cứ vào chế độ tài sản đã được lựa chọn áp dụng.
1.2.1. Chế độ tài sản pháp định
Luật của Cộng hoà Pháp thực hiện chế độ tài sản pháp định với bản chất là chế độ cộng đồng tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân.
Với quan điểm coi tài sản của vợ chồng là một gia tài (patrimoine), luật của Pháp đã chia tài sản của họ thành hai khối: tài sản có và tài sản nợ.
1.2.1.1. Khối tài sản cộng đồng
Tài sản chung của vợ và chồng được xác định theo một tư tưởng chủ đạo là: “tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân”. Quy định về sự suy đoán tài sản được thực hiện theo tinh thần này. Theo đó, những tài sản xuất hiện trong thời kỳ hôn nhân được suy đoán là tài sản chung nếu các bên vợ, chồng liên quan không chứng minh được đó là tài sản riêng của mình theo các quy định của pháp luật.
Phần có của cộng đồng tài sản được quy định tại điều 1401 Bộ luật dân sự (BLDS), gồm những loại tài sản sau:
a- Những tài sản mà vợ chồng (một bên hoặc cả hai bên) làm ra trong thời kỳ hôn nhân;
b- Những tài sản mà vợ, chồng có được từ công việc làm ăn của mỗi bên, như tiền lương, các khoản lợi và những tài sản có được từ tiền lương và những khoản lợi ấy;
c- Những khoản tiết kiệm trên những hoa lợi và lợi tức từ tài sản riêng của họ;
d- Những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho, hoặc di tặng chung (Điều 1405)
e- Tài sản chung do kết quả của một sự thay thế vật có nguồn gốc từ tài sản chung. Những tài sản mới thay thế cho những tài sản chung nào đó, luôn mang tính chất là tài sản chung;
f- Tài sản chung do kết quả của việc sáp nhập: một tài sản riêng sáp nhập vào tài sản chung với tính chất là phần phụ của tài sản chung, tài sản sáp nhập này chuyển thanh tài sản chung. Tuy nhiên, khi thanh toán cộng đồng tài sản, chủ sở hữu của tài sản riêng đã sáp nhập vào tài sản chung có quyền đòi lại một khoản bồi hoàn.
1.2.1.2. Tài sản riêng của vợ, chồng
a- Tài sản riêng theo bản chất
BLDS Pháp, tại Điều 1404 đã liệt kê những loại tài sản riêng do bản chất của nó, bao gồm:
- Những quần áo, đồ dùng cá nhân của mỗi bên vợ chồng.
- Những công cụ lao động cần thiết cho nghề nghiệp của mỗi bên vợ chồng, trừ trường hợp đó là phần phụ của một cơ sở thương mại hoặc một cơ sở sản xuất là bộ phận của cộng đồng tài sản;
Xuất phát từ những quy định về quyền tự chủ của vợ, chồng trong các hoạt động nghề nghiệp, luật đã thừa nhận rằng trong những trường hợp vợ hoặc chồng thực hiện nghề nghiệp riêng, thì họ là chủ sở hữu riêng đối với những công cụ lao động cần thiết cho những hoạt động đó. Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng cho vợ và chồng, Luật Pháp luôn nghĩ tới một sự đền bù cần thiết. Nếu những công cụ lao động này có được từ cộng đồng tài sản (mua bán, trao đổi) thì khi thanh toán tài sản, người vợ hoặc chồng là chủ sở hữu của công cụ lao động phải bồi hoàn lại cho cộng đồng tài sản theo giá trị ở thời điểm thanh toán.
- Những tài sản phát sinh từ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần của vợ hoặc chồng;
- Những quyền đòi nợ và những khoản trợ cấp không thể chuyển nhượng;
- Những tài sản khác, theo nghĩa chung nhất, có tính cách cá nhân và những quyền gắn liền với con người, bao gồm:
b- Tài sản riêng theo nguồn gốc
Đó là những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn, hoặc có được trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho, được thừa kế, được di tặng riêng.
c- Tài sản riêng do tính chất của sự thay thế
Luật Pháp tồn tại một lý thuyết về sự thay thế vật. Theo lý thuyết này, mặc dù tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng do nguồn gốc, nó vẫn là tài sản riêng. Xuất phát từ một thực tế dịch chuyển các tài sản của vợ chồng do các giao dịch bán, trao đổi tài sản, trong khi tài sản có xu hướng bị thu hút về khối tài sản chung do sự suy đoán tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân, nhà làm luật đã quy định về những hình thức: “thay thế vật tự động” và “thay thế không tự động”.
Thay thế đương nhiên là trường hợp thay thế vật một cách trực tiếp, chẳng hạn trường hợp được quy định tại Điều 1407 BLDS: tài sản mới có được do đổi một tài sản riêng, tài sản mới này vẫn là tài sản riêng; nếu khi đổi tài sản, vợ chồng đã lấy tài sản chung để bù vào thì khi thanh toán tài sản, họ phải bồi hoàn lại cho tài sản chung.
Thay thế không đương nhiên là trường hợp thay thế vật gián tiếp qua một tài sản khác và được thực hiện theo một thể thức tuyên bố. Một tài sản mới có được do vợ hoặc chồng bán tài sản riêng của mình và dung nó để mua một tài sản khác. Theo quy định của Điều 1434, khi thực hiện giao dịch đối với tài sản mới này, vợ, chồng phải tuyên bố là mua cho chính họ. Nếu không thực hiện thể thức này trong lúc giao dịch, thì việc thay thế chỉ có giá trị nếu cả hai vợ chồng đồng ý và điều đó chỉ có giá trị trong quan hệ giữa vợ và chồng mà không có giá trị đối với người thứ ba.
1.2.1.3. Quyền quản lý, định đoạt tài sản
a- Quyền quản lý, định đoạt tài sản chung
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện rất rõ trong những quy định về quản lý tài sản. Quyền quản lý tài sản (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm quyền chiếm hữu, hưởng dụng và định đoạt tài sản) có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chủ sở hữu bởi thông qua đó, chủ sở hữu tiến hành khai thác những giá trị của tài sản. Xuất phát từ thực tế của đời sống gia đình và xã hội, Luật của Pháp đã phân chia quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng theo ba hình thức:
* Quyền quản lý tài sản của mỗi bên vợ và chồng (gestion concurrente)
Dưới hình thức quản lý này, mỗi bên vợ hoặc chồng có quyền một mình quản lý, và định đoạt tài sản chung với điều kiện phải chịu trách nhiệm về lỗi của mình trong việc quản lý. Giao dịch do một bên thực hiện mà không có sự gian lận, sẽ ràng buộc trách nhiệm đối với vợ (chồng) của họ (Điều 1421, khoản 1 BLDS).
* Quyền quản lý chung của vợ chồng (gestion conjointe)
Đối với những loại tài sản quan trọng hoặc trong một số giao dịch, vợ (chồng) không thể thực hiện một mình thực hiện giao dịch khi không có sự đồng ý của người kia.
Về tài sản, vợ (chồng) không thể chuyển nhượng, xác lập vật quyền đối với:
- Bất động sản;
- Các cơ sở thương mại và mọi cơ sở khai thác;
- Các cổ phần không thể chuyển nhượng;
- Các động sản hữu hình mà việc chuyển nhượng phải tuân theo thể thức công bố.
Vợ (chồng) cũng không thể thu những khoản vốn từ những hoạt động đó, nếu không có sự đồng ý của người kia (Điều 1424 BLDS).
Đối với các loại giao dịch không có tính chất đền bù:
- Vợ (chồng) không thể tặng cho người khác tài sản mà không có sự đồng ý của người kia;
- Vợ (chồng) chỉ có thể di tặng phần tài sản của mình trong khối tài sản cộng đồng.
* Quyền quản lý riêng biệt (gestion exclusive)
Đó là quyền quản lý tài sản gắn liền với nghề nghiệp của mỗi bên vợ, chồng. Chỉ người vợ (chồng) thực hiện nghề nghiệp riêng mới có quyền quản lý, định đoạt cần thiết đối với nghề nghiệp đó ( khoản 2, Điều 1421 BLDS).
b- Quyền quản lý, định đoạt tài sản riêng
Nguyên tắc tự do quản lý, định đoạt tài sản riêng được thể hiện tại Điều 1428 BLDS: “Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản riêng của mình”. Theo đó, vợ chồng có quyền tự mình quyết định đem tài sản riêng để góp vốn vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh, định đoạt nó theo yêu cầu của việc khai thác, quản lý doanh nghiệp. Vợ chồng có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc uỷ quyền cho người khác quản lý.
Tuy nhiên, do có những nghĩa vụ đối với đời sống gia đình, trong một số trường hợp, pháp luật có những quy định hạn chế quyền tự do quản lý, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng. Chẳng hạn, để bảo vệ chỗ ở của gia đình, khoản 3 Điều 215 BLDS có quy định: vợ, chồng không thể định đoạt những quyền đảm bảo về chỗ ở của gia đình cũng như những đồ đạc trong nhà nếu không có sự đồng ý của bên kia. Quy định này áp dụng chung cho các trường hợp, không phân biệt nhà ở đó là tài sản chung hay tài sản riêng.
1.2.1.4. Phần nợ của tài sản vợ chồng
a- Xác định các khoản nợ của vợ chồng
* Phần nợ của cộng đồng tài sản (Điều 1409 BLDS):
- Những khoản tiền cấp dưỡng có tính chất cố định mà vợ chồng phải thực hiện; những khoản nợ mà họ đã vay để duy trì đời sống gia đình và giáo dục con;
- Những khoản nợ khác nảy sinh trong thời kỳ của chế độ tài sản: đó là những khoản nợ phát sinh từ những giao dịch hợp pháp của vợ và chồng hoặc của mỗi bên vợ, chồng, trong đó có những khoản nợ chung phát sinh từ những hoạt động sản xuất, kinh doanh.
* Phần nợ riêng của mỗi bên vợ, chồng
Điều 1410 BLDS có quy định về những khoản nợ có tính chất cá nhân gồm: những khoản nợ mà vợ, chồng có trước khi kết hôn hoặc gắn liền với những tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng.
Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất của các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ, trong nhiều trường hợp, mà cần xác định một khoản nợ thuộc cộng đồng tài sản hay thuộc nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Chẳng hạn, những khoản nợ phát sinh từ những giao dịch nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân vợ, chồng: mua, bán tài sản riêng; những nghĩa vụ phát sinh từ hành vi trái pháp luật…
b- Thực hiện nghĩa vụ và đóng góp thực hiện nghĩa vụ
Thực hiện nghĩa vụ thể hiện ở mối quan hệ giữa vợ, chồng với chủ nợ: chủ nợ có quyền kiện ai trên những tài sản nào, thậm chí có quyền yêu cầu kê biên những tài sản đó để đảm bảo việc thanh toán nợ.
Đóng góp thực hiện nghĩa vụ thể hiện mối quan hệ nội bộ giữa vợ và chồng: khoản nợ đó sẽ được thanh toán bằng nguồn tài sản nào, vợ chồng có trách nhiệm đóng góp để trả khoản nợ đó, nếu đó là khoản nợ của cộng đồng tài sản.
Luật của Pháp có những quy định khá cụ thể về những trường hợp thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, việc thực hiện nghĩa vụ chỉ đặt ra đối với người có nghĩa vụ; chủ nợ chỉ có quyền đối với bản thân người mắc nợ. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong những trường hợp này còn “vướng” tới chế độ tài sản của vợ chồng. Do vậy, trong chế độ tài sản của vợ chồng, Luật của Pháp có những quy định riêng điều chỉnh vấn đề này. (Xem các Điều từ 1411 đến 1418 BLDS).
Chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này trong phần nghiên cứu việc thanh toán nghĩa vụ trả nợ của vợ, chồng trong các doanh nghiệp.
1.2.2. Các chế độ tài sản theo hôn ước
Khi vợ chồng lựa chọn một chế độ tài sản không phải là chế độ tài sản pháp định, họ có quyền thoả thuận những nội dung của chế độ đó theo quy định của Điều 1497 BLDS và các quy định khác trong phần các chế độ tài sản theo thoả thuận. Nếu trong những chế độ này mà vợ chồng không có những điều khoản riêng thì những nội dung của chế độ tài sản được giải quyết theo các quy định tương ứng trong chế độ tài sản pháp định.
1.2.2.1. Các chế độ cộng đồng tài sản
a- Chế độ cộng đồng toàn sản
Chế độ này xác định rằng tất cả những tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hay trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản cộng đồng. Chỉ có những tài sản có tính chất là tài sản riêng theo quy định tại điều 1404 vẫn tồn tại là tài sản riêng, trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.
Cộng đồng tài sản phải gánh chịu tất cả những khoản nợ của vợ chồng đã có trước khi kết hôn cũng như sẽ nảy sinh trong thời kỳ hôn nhân.
b- Chế độ cộng đồng về động sản và những tài sản tạo ra trong
thời kỳ hôn nhân
Tài sản chung của vợ và chồng gồm những tài sản chung theo chế độ pháp định; những động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trước khi kết hôn và các động sản mà mỗi bên được tặng cho, được thừa kế trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp người tặng cho, người để lại di sản thừa kế có quy định khác) . Những tài sản riêng theo bản chất được quy định tại Điều 1404 vẫn thuộc tài sản riêng của mỗi người.
Phần nợ của cộng đồng tài sản bao gồm những khoản nợ theo quy định của chế độ tài sản pháp định, những khoản nợ mà mỗi người có trước khi kết hôn và những khoản nợ gắn liền với việc được thừa kế, được tặng cho tài sản.
Trong chế độ này, vợ chồng có thể thoả thuận về vấn đề cùng quản lý đối với tất cả những tài sản chung; về trích khấu tài sản, về quyền lợi của mỗi bên…theo quy định trong BLDS.
1.2.2.2. Các chế độ phân tách tài sản
Trong thực tế, đây là những chế độ tài sản được nhiều khi cặp vợ chồng quan tâm họ có những hoạt động sản xuất, kinh doanh, bởi vì đó là một cơ chế rõ ràng về tài sản và về trách nhiệm đối với vợ và chồng.
a- Chế độ tách riêng tài sản
Trong chế độ này, vợ chồng không có tài sản cộng đồng. Mỗi bên giữ quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt đối với khối tài sản thuộc về mình.
Mỗi bên vợ, chồng chịu trách nhiệm về những khoản nợ riêng và có nghĩa vụ đóng góp vào nhu cầu chung của gia đình. Việc thực hiện theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
b- Chế độ đóng góp những tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân
Đây được coi là một chế độ tài sản hỗn hợp: tách riêng tài sản trong thời kỳ hôn nhân và cộng đồng tài sản khi chấm dứt hôn nhân.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng thực hiện chế độ tách riêng tài sản, mỗi bên giữ một phần tài sản riêng và quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt. Vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ riêng bằng tài sản riêng của mình. Tuy nhiên, khi chấm dứt hôn nhân, mỗi bên được hưởng một nửa những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà hiện còn.
II. Sự hợp tác của vợ và chồng trong các doanh nghiệp gia đình (Entreprises familiales) (2)
Trong Luật của Pháp có một số văn bản quy định về hoạt động của những doanh nghiệp do vợ và chồng thành lập và tổ chức quản lý. Những quy định này nhằm bổ khuyết cho hệ thống các quy định của Luật thương mại, Luật công ty về một hình thức theo mô hình gia đình. Thực tế, đây là sự cần thiết của công tác lập pháp, bởi vì khác với những chủ thể kinh doanh khác, quan hệ giữa vợ và chồng phản ánh những tính chất riêng và các quan hệ về tài sản của họ đang bị điều chỉnh bởi các chế độ tài sản theo quy định của Luật về gia đình.
2.1. Hợp tác giữa vợ và chồng trong việc quản lý doanh nghiệp
2.1.1. Quyền quản lý của vợ chồng trong các doanh nghiệp tư nhân
Trong một doanh nghiệp tư nhân của vợ chồng, một bên vợ hoặc chồng thực hiện các hoạt động nghề nghiệp với tư cách là chủ doanh nghiệp còn bên kia tham dự một cách ngang bằng hoặc thứ yếu. Hai vợ chồng có tư cách là người cùng khai thác nếu họ đã thực hiện những hoạt động liên quan với tính chất là những hoạt động chính của viêc khai thác. Trong trường hợp sự cùng hợp tác khai thác là không ngang nhau, người vợ, chồng ở vị trí thứ yếu sẽ đóng vai trò làm đại lý hoặc người hưởng lương của người kia (chủ doanh nghiệp).
2.1.1.1. Quy chế của vợ (chồng) của người chủ doanh nghiệp
Vợ (chồng) của chủ doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, tuỳ theo mức độ của sự tham gia đó, với những quy chế khác nhau. Luật ngày 4/7/1980 về hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có quy định về sự khai thác chung của vợ và chồng. Theo quy định của Luật ngày 10/7/1982, vợ (chồng) của chủ doanh nghiệp về thủ công hoặc thương mại có thể tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp với tư cách là người hợp tác, cổ đông hoặc người làm công. Về tư cách cổ đông của vợ (chồng), chúng tôi sẽ đề cập trong phần sau (hoạt động của vợ và chồng trong các công ty).
a- Quy chế của người vợ (chồng) “hợp tác và cùng khai thác”
* Điều kiện để hưởng quy chế “hợp tác và cùng khai thác”
Thứ nhất, cần phải khẳng định chỉ những vợ chồng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, thủ công và thương mại mới mang quy chế này. Đối với những người vợ chồng hợp tác trong các nghề tự do, họ không có quy chế dân sự. Điều 46 Luật ngày 17/01/2002 về hiện đại hoá doanh nghiệp có dự liệu rằng: vợ (chồng) hợp tác trong một nghề tự do có thể nhận từ chủ doanh nghiệp những uỷ quyền rõ ràng và trong giới hạn xác định để thực hiện những hành vi về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc xác định điều kiện để hưởng quy chế này tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực. Trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ những vợ và chồng thực tế “cùng khai thác và cho chính họ ở cùng một cơ sở nông nghiệp” (Điều L.321-1, khoản 1 Bộ luật về nông thôn) mới có thể được hưởng quy chế cùng khai thác. Đối với những hoạt động trong lĩnh vực thủ công và thương mại, đó phải là những hoạt động được đăng ký trong khuôn khổ của một doanh nghiệp gia đình theo quy định của Luật ngày 10/7/1982. Ngay tại Điều 1 của Luật này khi quy định về các tư cách của vợ (chồng) tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp có quy định rằng: người vợ (chồng) hợp tác được nêu tên trong sổ đăng ký thương mại và công ty, trong danh sách những nghề nghiệp hoặc trong sổ đăng ký các doanh nghiệp được lưu giữ bởi Trung tâm quản lý nghề nghiệp Alsace và Moselle.
* Đối tượng của quy chế về “hợp tác và cùng khai thác” của vợ (chồng) của chủ doanh nghiệp
Quy chế về hợp tác và cùng khai thác trao cho người vợ (chồng) quyền đại diện liên quan đến những hành vi quản lý theo yêu cầu của việc khai thác hoặc của doanh nghiệp. Ngoài những trường hợp thực hiện quyền đại diện do uỷ quyền theo quy định chung (thoả thuận rõ ràng về sự uỷ quyền cho vợ hoặc chồng), người vợ (chồng) có tư cách hợp tác và cùng khai thác trong doanh nghiệp được hưởng một sự suy đoán về uỷ quyền theo các quy định của pháp luật.
Luật pháp không có một sự giải thích cụ thể thế nào là “những hành vi quản lý theo yêu cầu của việc khai thác hoặc của doanh nghiệp”. Trong bối cảnh đó, sự giải thích trong các học thuyết đã được nhiều người chấp nhận, đó là “những hành vi (giao dịch) mà người hợp tác hoặc cùng khai thác thực hiện một cách khách quan là cần thiết, ít nhất là có ích cho việc tiến hành các hoạt động của doanh nghiệp, mà không kéo theo những cam kết vượt quá khả năng của doanh nghiệp”(3).
b- Quy chế của người vợ (chồng) làm công
Như trình bày ở phần đầu, trong trường hợp vợ và chồng cùng tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng ở những vị trí khác nhau, một bên là chủ doanh nghiệp, bên kia là người làm công hưởng lương.
Tuy nhiên, trong một thời gian rất dài, luật pháp cũng như các học thuyết và án lệ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không xác định được tính chất của mối quan hệ này. Một câu hỏi lớn đặt ra là: liệu giữa vợ và chồng có thể tồn tại một hợp đồng lao động không? Nguồn gốc của sự khó khăn là do tính chất khác nhau của hai mối quan hệ. Quan hệ giữa vợ và chồng đòi hỏi một nghĩa vụ trợ giúp của các bên – nghĩa vụ không phải thanh toán, trong khi đó quan hệ lao động phản ánh yếu tố phụ thuộc – giữa người chủ và người làm thuê. Đó chính là khó khăn khi muốn dung hoà giữa quy chế hôn nhân và quy chế nghề nghiệp.
Cuối cùng, luật về xã hội và về thuế và đặc biệt là vai trò của Luật ngày 10 tháng 7 năm 1982 điều chỉnh đối với những vợ chồng hoạt động trong các lĩnh vực thủ công và thương mại cũng đã xác định được quy chế của người vợ, (chồng) làm việc cho chồng (vợ) của mình – với tư cách là người khai thác, quản lý doanh nghiệp. Đó là quy chế của người làm công (conjoint salarié). Điều L.243 của Luật năm 1982 này (trở thành Điều L.311-6 của Bộ luật về an sinh xã hội quy định về người vợ (chồng) làm công (conjoint salarié) như sau : tham gia thực sự vào doanh nghiệp hoặc vào hoạt động của chồng (vợ) mình với tính cách nghề nghiệp và thường xuyên và nhận lương phù hợp với lương thông thường của loại công việc đó.
2.1.1.2. Sự đại diện của vợ, chồng trong việc quản lý doanh nghiệp
a- Thực hiện quyền đại diện của vợ, chồng
Quyền đại diện của vợ chồng đã được quy định trong phần các nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng, trong các quy định về quản lý tài sản (chung và riêng) của BLDS. Việc đại diện của vợ hoặc chồng trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp cũng như thực hiện những giao dịch mà pháp luật quy định phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng dựa trên cơ sở thoả thuận của vợ và chồng (một cách rõ ràng) hay một sự cho phép ngầm định (biết người kia quản lý nhưng không phản đối).
Trong những trường hợp vợ chồng cùng khai thác, quản lý, Luật còn thừa nhận một sự suy đoán về uỷ quyền của vợ chồng cho nhau. Sự suy đoán này tạo thành một hình thức đại diện khác: đại diện theo pháp luật. Đó là kết quả của việc lập pháp về các doanh nghiệp gia đình trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công, thương mại. Điều L.321-1, khoản 2 Bộ luật về nông thôn (Code rural) có quy định: khi các bên vợ chồng cùng khai thác một cơ sở nông nghiệp, họ được suy đoán là đã trao cho nhau sự uỷ quyền để tiến hành những hành vi quản lý liên quan đến yêu cầu của việc khai thác. Trong lĩnh vực thủ công và thương mại, theo quy định của Bộ luật thương mại, người vợ (chồng) hợp tác được coi như đã nhận được từ chủ doanh nghiệp một sự uỷ quyền nhân danh mình để tiến hành những công việc quản lý liên quan đến nhu cầu của doanh nghiệp (Điều L.121-6 khoản 1).
Khoản 2 Điều 1421 BLDS có quy định: Người vợ (chồng) thực hiện nghề nghiệp riêng có quyền một mình tiến hành những hành vi quản lý, định đoạt cần thiết cho nghề nghiệp của mình. Đây là quyền riêng biệt của người vợ hoặc chồng khai thác trong lĩnh vực nghề nghiệp. Tuy nhiên, vợ (chồng) nhận được sự uỷ quyền của người kia dưới các hình thức khác nhau sẽ thực hiện các hành vi quản lý, định đoạt cần thiết theo nhu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách của nguời đại diện. Trong những trường hợp này, chúng ta thấy rằng, những hành vi quản lý của vợ và chồng về tài sản hay hoạt động của doanh nghiệp chuyển từ hình thức quản lý riêng biệt (gestion exclusive) sang hình thức quản lý của mỗi bên vợ, chồng (gestion concurrente).
b- Rút quyền đại diện của vợ chồng
Trong trường hợp quyền đại diện phát sinh do sự thoả thuận của vợ chồng, việc rút quyền đại diện được thực hiện theo quy định của Điều 218 BLDS. Theo quy định này, người vợ, chồng đã uỷ quyền có thể tự do huỷ bỏ uỷ quyền trong mọi trường hợp.
Nếu quyền đại diện phát sinh do sự uỷ quyền ngầm định, thì việc huỷ bỏ uỷ quyền đó phải thực hiện thông qua sự phản đối của người vợ, chồng là chủ sở hữu (Theo quy định của các Điều 1432 và 1540 BLDS).
Đối với trường hợp quyền đại diện phát sinh do sự suy đoán về uỷ quyền theo các quy định pháp luật. Theo quy định tại Bộ luật về nông thôn (Điều L.321-1) và Bộ luật thương mại (Điều L.121-6), để chấm dứt quyền đại diện, chủ doanh nghiệp phải tuyên bố huỷ bỏ sự uỷ quyền trước công chứng viên và người vợ (chồng) của mình.
2.1.2. Hợp tác của vợ chồng trong việc quản lý các công ty
Luật pháp hiện hành không có những quy định riêng về loại hình công ty của vợ chồng. Trên cơ sở các loại hình công ty luật định, vợ chồng có thể lựa chọn một mô hình phù hợp. Điều 1832-1 BLDS đã dự liệu về một trường hợp trong đó vợ và chồng sử dụng tài sản cộng đồng để tạo ra một công ty và họ trở thành thành viên của công ty đó : Nếu chỉ dùng tài sản cộng đồng để góp vốn vào công ty hoặc mua cổ phần thì chỉ hai vợ chồng hoặc với những nguời khác có thể là thành viên trong cùng một công ty và cùng tham gia hoặc không vào việc quản lý công ty. Trong những trường hợp đó, pháp luật quy định về tư cách thành viên công ty của vợ và chồng cũng như những thể thức thực hiện các hoạt động trong công ty. Bên cạnh đó, do còn « đóng vai » chủ thể của quan hệ hôn nhân nên vợ chồng còn phải tuân theo những quy định của chế độ tài sản áp dụng đối với mình.
2.1.2.1. Góp vốn vào công ty hoặc mua cổ phần của công ty
a- Thể thức dùng tài sản chung để góp vốn hoặc mua phần quyền sở hữu của công ty
Theo các quy định chung về cùng quản lý tài sản chung của vợ chồng trong các chế độ cộng đồng tài sản, nếu một bên định đoạt tài sản phải có sự đồng ý của bên kia. Tuy nhiên, để dễ dàng cho vợ (chồng) thực hiện nguyên tắc tự chủ về nghề nghiệp, trong một số trường hợp cụ thể, luật công ty đã sử dụng một giải pháp linh hoạt hơn là đòi hỏi một sự ưng thuận của chồng (vợ) của họ.
Khoản 1 Điều 1832-2 BLDS quy định : Vợ hoặc chồng không thể sử dụng tài sản chung để góp vốn vào công ty hoặc mua những cổ phần không thể chuyển nhượng của công ty mà không thông báo cho chồng hoặc vợ mình biết và không thể hiện rõ điều đó trong giao dịch, nếu không thực hiện quy định này, họ sẽ phải chịu chế tài theo quy định của Điều 1427.
Như vậy, trong trường hợp một bên vợ (chồng) dùng tài sản chung để góp vốn vào công ty hoặc mua lại những cổ phần không thể chuyển nhượng của công ty, họ chỉ có trách nhiệm thông báo cho chồng (vợ) mình biết và minh thị rõ trong văn bản giao dịch về nguồn gốc của phần vốn góp và cổ phần mua lại trong công ty. Nghĩa vụ thông báo được quy định ở khoản 1 Điều 1832-2 này, thực chất, có mục đích đặt người vợ (chồng) được thông báo vào một giải pháp thực hiện quyền đòi hỏi về tư cách thành viên công ty cho mình (nếu họ muốn), theo quy định của khoản 3 Điều này. Theo tinh thần của điều luật này, nếu vợ (chồng) không đồng ý với hành vi của người kia thì điều đó chỉ có ý nghĩa đối với việc họ không mang tư cách thành viên của công ty mà không có ý nghĩa trong việc yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu.
b- Tư cách thành viên công ty của vợ chồng
Theo quy định của khoản 2 Điều 1832-2 BLDS, tư cách thành viên được thừa nhận đối với người vợ (chồng) góp vốn hoặc mua phần quyền sở hữu của công ty. Nếu hai bên vợ và chồng có thể thoả thuận rằng chỉ một trong hai người là thành viên của công ty thì họ cũng có thể mong muốn cả hai trở thành thành viên công ty bằng cách mỗi người lấy một phần của cộng đồng tài sản để đóng góp vào công ty. Thực tế, các phần vốn góp của mỗi bên có thể khác nhau. Về nguyên tắc, mỗi bên có phần quyền của thành viên công ty tương ứng với phần vốn góp của họ.
Tư cách thành viên công ty của cả hai vợ chồng cũng được thừa nhận đối với trường hợp một bên dùng tài sản chung góp vốn vào công ty hoặc mua những phần quyền sở hữu không thể chuyển nhượng được mà đã thực hiện theo những thể thức được quy định tại khoản 1 Điều 1832-2 BLDS và bên kia đã thông báo cho công ty về mong muốn là thành viên, theo quy định của khoản 3 Điều này. Trong trường hợp này, mỗi bên có tư cách thành viên đối với một nửa số vốn đóng góp hoặc phần sở hữu đã mua. Tuy nhiên, nếu vợ (chồng) của người đă đóng góp hoặc đã mua phần quyền sở hữu đó không muốn trở thành thành viên công ty thì chỉ người đã đóng góp, đã mua phần quyền sở hữu là thành viên của công ty.
2.1.2.2. Ảnh hưởng của quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng đối với việc định đoạt các quyền trong công ty
Quy định về quản lý tài sản chung của vợ chồng tại Điều 1424 BLDS đòi hỏi sự đồng ý của hai vợ chồng khi định đoạt một số loại tài sản chung, trong đó có xác định : các bên vợ chồng không thể chuyển nhượng, xác lập vật quyền đối với những quyền của công ty không thể chuyển nhượng được. Điều đó cho phép chúng ta hình dung ngay về một yêu cầu huỷ bỏ giao dịch liên quan đến những quyền của công ty không thể chuyển nhượng được do một bên vợ (chồng) thực hiện mà không có sự đồng ý của bên kia.
Theo Điều 1427 BLDS, nếu vợ hoặc chồng đã vượt quá quyền hạn của mình đối với tài sản chung thì người kia có thể yêu cầu huỷ những giao dịch đó, trừ khi họ đã xác nhận văn bản ký kết. Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 2 năm kể từ ngày biết có văn bản và không quá 2 năm kể từ khi giải thể cộng đồng tài sản.
Trong thực tế, án lệ đã đưa ra những giải thích thú vị về việc áp dụng Điều 1427.
Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện yêu cầu huỷ giao dịch có thể vượt quá 2 năm kể từ ngày biết văn bản. Trong Quyết định ngày 15 tháng 7 năm 1993 (4), Toà phá án đã chấp nhận cách thức giải quyết của các Thẩm phán, trong một vụ việc, khi họ cho rằng thời điểm để tính thời hiệu khởi kiện bắt đầu từ ngày giao dịch được hoàn tất. Đó là trường hợp người chồng một mình chuyển nhượng phần quyền sở hữu của công ty (sở hữu chung) trong một điều kiện là bên mua được hoãn trả tiền. Các Thẩm phán đă cho rằng thời hạn để người vợ khởi kiện huỷ giao dịch bắt đầu từ ngày việc bán phần quyền sở hữu đó được hoàn thành, do việc thực hiện điều kiện hoãn trả tiền. Như vậy, việc kiện yêu cầu huỷ bỏ giao dịch có thể vượt quá 2 năm, kể từ ngày biết giao dịch đã được ký kết.
Thứ hai, trái lại, trong Quyết định ngày 12 tháng 7 năm 1994 (5), Toà phá án đã tán thành với các Thẩm phán khi họ tuyên bố không áp dụng chế tài được quy định tại Điều 1427. Vụ việc liên quan đến một người chồng là bác sĩ đã tự mình bán phần quyền sở hữu không thể chuyển nhượng được của công ty (thuộc cộng đồng tài sản). Trong quá trình giải quyết, người này đã xuất trình một hối phiếu nhân danh hai vợ chồng và có chữ ký của người vợ về việc thu tiền. Các Thẩm phán đã cho rằng sự hiện diện của hối phiếu này chứng tỏ người vợ đã biết trước việc chuyển nhượng, biết được việc thu tiền đó có ý nghĩa chấm dứt quyền sở hữu của họ đối với những phần quyền trong công ty. Đó là một sự chấp nhận mặc nhiên của người vợ, và vì vậy, yêu cầu huỷ giao dịch chuyển nhượng do người chồng thực hiện đã bị các Thẩm phán bác bỏ.
2.2. Hưởng lợi nhuận và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp
2.2.1. Hưởng lợi nhuận của việc khai thác
Khác với vấn đề tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp của vợ chồng, vấn đề lợi nhuận của các doanh nghiệp này không nhận được sự quan tâm riêng của nhà làm luật. Thực tế, để giải quyết vấn đề này, cần phải dựa vào những quy định của luật gia đình về các chế độ tài sản của vợ chồng.
Trong khung cảnh của các doanh nghiệp gia đình (doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty), việc xem xét giải quyết lợi nhuận đối với vợ chồng phụ thuộc nhiều ở việc xác định đó là tài sản riêng hay là bộ phận của tài sản cộng đồng. Nếu vợ chồng sống trong những chế độ tài sản thoả thuận, việc xác định tính chất của lợi nhuận, phân chia lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào những thoả thuận của họ. Trong trường hợp chế độ tài sản pháp định được áp dụng, lợi nhuận có được từ hoạt động của doanh nghiệp bao gồm lợi tức, các khoản lợi có được…và tiền lương (của người vợ (chồng) hưởng lương) đều thuộc về tài sản cộng đồng. Kể cả trường hợp thực hiện nguyên tắc quyền tự chủ về nghề nghiệp theo quy định của Điều 223 BLDS (được tự do thu và định đoạt các món lợi và tiền lương sau khi đã thanh toán trách nhiệm đối với gia đình), lương và những khoản lợi còn lại vẫn là bộ phận của tài sản cộng đồng. Điều này dễ dàng được chấp nhận bởi nó được tạo ra từ tài sản chung của vợ chồng hoặc từ lao động của vợ hoặc chồng trong thời kỳ của chế độ tài sản. Những lợi ích này nếu tiếp tục được dùng để đầu tư vào hoạt động của doanh nghiệp, nó vẫn không mất đi tính chất của tài sản chung. Tương tự, nếu như vốn của doanh nghiệp là tài sản riêng của vợ, chồng thì những lợi nhuận sinh ra, tất cả đều thuộc tài sản cộng đồng, với tính cách là lợi tức sinh ra từ tài sản riêng theo quy định của Điều 1401 BLDS.
2.2.2. Thực hiện những nghĩa vụ của doanh nghiệp
2.2.2.1. Trong trường hợp vợ và chồng có vai trò hợp tác ngang nhau
Trong những doanh nghiệp mà vợ và chồng đều có quyền quản lý và tiến hành những hành vi cần thiết theo yêu cầu của việc khai thác, (như chúng ta đã nói đến tư cách của người hợp tác, cùng khai thác của họ) thì vợ và chồng phải cùng nhau chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp.
a- Trong các doanh nghiệp tư nhân
* Quyền của chủ nợ phụ thuộc vào sự thừa nhận tư cách “cùng khai thác, hợp tác” của vợ chồng
Để xác định trách nhiệm của vợ, chồng, luật pháp đòi hỏi một sự xác định về tư cách của vợ, chồng tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Việc xác định tư cách “hợp tác” của vợ (chồng) trong các doanh nghiệp hoạt động về thủ công hoặc thương mại phải dựa vào sổ đăng ký thương mại và công ty, trong danh sách những nghề nghiệp hoặc trong sổ đăng ký các doanh nghiệp được lưu giữ bởi Trung tâm quản lý nghề nghiệp Alsace và Moselle. Việc xác định tư cách “cùng khai thác” của người vợ (chồng) trong doanh nghiệp về nông nghiệp thì phải căn cứ vào thực tế hoạt động của họ: “cùng khai thác và cho chính họ ở cùng một cơ sở nông nghiệp” (Điều L.321-1, khoản 1 Bộ luật về nông thôn).
* Quyền của chủ nợ đối với người vợ, chồng hợp tác, cùng khai thác
- Trong trường hợp hoạt động khai thác không hiệu quả
Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng không thể thanh toán được những khoản nợ bằng phần tài sản có, thì một thủ tục thanh toán pháp lý sẽ được tiến hành đối với nó. Thủ tục này sẽ chống lại hai vợ chồng với tư cách là những người cùng quản lý doanh nghiệp, mỗi người chịu sự điều chỉnh bởi một thủ tục theo quy định của luật chung áp dụng đối với các con nợ trong tình trạng ngừng việc trả nợ. Qua việc đánh giá khả năng tài chính của từng bên vợ, chồng, Thẩm phán quyết định một bên – người có thể thanh toán được nghĩa vụ bằng tài sản hiện có của mình, phải trả nợ chung.
Khi thanh toán cộng đồng tài sản, người vợ (chồng) đã dùng tài sản riêng của mình để trả nợ chung có quyền yêu cầu tài sản cộng đồng bồi hoàn lại cho mình theo những quy định của chế độ tài sản.
- Trong trường hợp việc khai thác có lãi
Đối với trường hợp hoạt động về thương mại, việc cùng khai thác của hai vợ chồng là cơ sở xác định nghĩa vụ liên đới về việc trả nợ. Trong một vụ việc thực tế, hai vợ chồng kết hôn dưới chế độ tách riêng tài sản cùng hợp tác vào hoạt động khai thác cơ sở thương mại, Toà thương mại của Toà phá án, tại quyết định đưa ra ngày 19/5/1982 đã cho rằng người vợ phải liên đới cùng với chồng trả khoản nợ trong tài khoản được người chồng mở tại một cơ sở tín dụng. Toà đã chỉ ra rằng người vợ đã cùng khai thác sản nghiệp một cách “thường xuyên và không phụ thuộc vào người chồng”, trong khi khoản nợ đang tranh chấp đã được ký kết vì nhu cầu của hoạt động thương mại. Sự tham gia quản lý doanh nghiệp một cách ngang bằng, tương ứng với sự ngang bằng về trách nhiệm đối với những khoản nợ của doanh nghiệp. Hơn nữa, do đây là một hoạt động thương mại nên sự suy đoán về nghĩa vụ liên đới gắn liền với tư cách thương gia của cả hai bên vợ và chồng. Thực tế, chủ nợ của cơ sở khai thác có quyền khởi kiện một trong hai bên vợ chồng về toàn bộ số nợ. Vợ và chồng phải đảm bảo việc thanh toán nợ bằng tất cả tài sản của họ, bất kể họ kết hôn dưới chế độ tài sản nào.
b- Trong các công ty
* Quyền của chủ nợ đối với các công ty có tư cách pháp nhân
- Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn
Trách nhiệm của vợ chồng là thành viên của công ty chỉ giới hạn trong phần vốn góp. Vợ chồng là người điều hành quản lý công ty (có thể chí gồm hai vợ chồng). Do đó, vợ và chồng phải cùng chịu trách nhiệm về phần nợ của công ty. Chủ nợ có quyền kiện vợ hoặc chồng và quyền đó bị giới hạn trên những tài sản đã đưa vào hoạt động trong công ty.
- Đối với các công ty trách nhiệm vô hạn
Ở Pháp tồn tại một số loại hình công ty mà các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn. Trong các công ty này, vợ chồng phải chịu trách nhiệm vô hạn về phần nợ của công ty. Trách nhiệm đó có thể là liên đới hoặc không. Trong trường hợp vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới (công ty hợp danh), chủ nợ có quyền yêu cầu vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ trên tất cả tài sản của họ. Nếu không có trách nhiệm liên đới (công ty dân sự), mỗi bên vợ chồng phải chịu trách nhiệm về phần nợ của công ty theo tỷ lệ phần quyền sở hữu của họ trong công ty, và cam kết thực hiện bằng những tài sản khác của họ.
* Quyền của chủ nợ đối với các công ty không có tư cách pháp nhân
Luật của Pháp có quy định về một hình thức công ty mà khi thành lập, các thành viên có thể thoả thuận là không cần đăng ký, được gọi là “Công ty dự phần”. Công ty dự phần không có tư cách pháp nhân. Vợ chồng có thể là thành viên của công ty này.
Về nguyên tắc, mỗi thành viên giao kết nhân danh cá nhân mình và chịu trách nhiệm cá nhân đối với người thứ ba. Chủ nợ có quyền kiện cá nhân mỗi bên vợ hoặc chồng về những nghiã vụ phát sinh từ giao dịch đã thực hiện đối với mình. Vợ, chồng phải cam kết cho những nghĩa vụ của mình bằng phần vốn góp vào công ty và những tài sản khác của họ.
Tuy nhiên, “nếu những người tham gia hành động với tư cách là thành viên công ty mà người thứ ba biết rõ về điều này thì mỗi người trong số họ phải chịu trách nhiệm đối với người thứ ba về những nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch do những người khác thực hiện với tư cách này, nếu trong công ty thương mại thì nghĩa vụ đó là nghĩa vụ liên đới, trong những trường hợp khác nghĩa vụ đó không liên đới” (Khoản 2 Điều 1872-1 BLDS). Như vậy, trách nhiệm vô hạn của các bên vợ chồng có thể là liên đới hay không phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của công ty.
2.2.2.2. Trong trường hợp sự hợp tác của vợ và chồng không ngang nhau
Sự hợp tác không ngang nhau của vợ và chồng thể hiện ở tư cách, vai trò của họ trong việc quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp: một bên là người khai thác; bên kia là người làm công hưởng lương, là đại lý hoặc là thành viên công ty nhưng không quản lý. Tuy nhiên, sự khác nhau về vai trò quản lý đó không thể phá bỏ được mối liên hệ về hôn nhân của họ mà trong đó các bên đều được hưởng lợi nhuận từ doanh nghiệp, và vì thế, không thể, một mặt, loại trừ trách nhiệm của người vợ (chồng) tham gia vào doanh nghiệp chỉ có tính chất bổ trợ, mặt khác, bắt người quản lý doanh nghiệp phải gánh chịu tất cả nghĩa vụ của doanh nghiệp. Song, vấn đề là cũng cần phải có một cơ chế giải quyết phần nợ của doanh nghiệp một cách hợp lý, trên cơ sở mối quan hệ giữa quyền quản lý doanh nghiệp và trách nhiệm trực tiếp của người quản lý.
Nếu vợ chồng kết hôn dưới các chế độ tài sản riêng rẽ thì chỉ người vợ (chồng) khai thác phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của doanh nghiệp bằng tài sản riêng của họ, trách nhiệm đó không ràng buộc đối với người chồng (vợ) là đại lý hoặc hưởng lương (Điều 1536 khoản 2 và Điều 1569 khoản 1 BLDS).
Nếu vợ chồng có chế độ cộng đồng tài sản (pháp định hay ước định), người vợ (chồng) khai thác phải cam kết trách nhiệm đối với chủ nợ bằng tài sản cộng đồng và tài sản riêng của mình, theo quy định của khoản 1 Điều 1418 BLDS. Do xác định đây là phần nợ chung của cộng đồng tài sản, nên vợ chồng sẽ dùng tài sản chung để thanh toán nghĩa vụ.
Trong trường hợp người vợ (chồng) của người khai thác chỉ hành động nhân danh chồng (vợ) mình trong khuôn khổ một sự đại diện theo pháp luật, theo thoả thuận hoặc theo quyết định tư pháp thì chỉ người chồng khai thác – chủ nhân của quyền quản lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước chủ nợ về những hậu quả mà người đại diện đã gây ra. Việc thực hiện nghĩa vụ và đóng góp thực hiện nghĩa vụ được giải quyết giống như những trường hợp nêu trên, tức là tuỳ thuộc vào chế độ tài sản của vợ chồng.
b- Trong các công ty có tư cách pháp nhân
Trong khuôn khổ của một công ty chỉ có hai vợ chồng, một người mặc dù có tư cách thành viên nhưng không thể vì thế mà tham gia vào việc lãnh đạo công ty bên cạnh chồng (vợ) của mình. Bên cạnh đó còn có những công ty đối vốn đơn giản mà vợ (chồng) là người hùn vốn và quản lý duy nhất.
Người vợ (chồng) là thành viên chỉ phải đóng góp vào những tổn thất của công ty trong phạm vi vốn góp của mình mà không thể bị khởi kiện do những nghĩa vụ của công ty. Người vợ (chồng) quản lý công ty công ty trách nhiệm hữu hạn của vợ chồng không những phải chịu trách nhiệm đối với phần nợ của công ty bằng phần vốn góp của mình, mà còn phải chịu trách nhiệm về những vi phạm trong quá trình thực hiện chức năng quản lý công ty. Người vợ (chồng) hùn vốn và quản lý công ty đối vốn phải đáp ứng một cách vô hạn về phần nợ của công ty, với một sự bảo lưu duy nhất là đòi hỏi chủ nợ của công ty cần ưu tiên quyền đòi nợ trước hết đối với phần có của công ty (Điều L.624-1 Bộ luật thương mại).
Tài liệu tham khảo:
1. (1): xem Giáo trình Luật dân sự-Những chế độ tài sản của vợ chồng của François Térré – Giáo sư trường Đại học tổng hợp Panthéon-Assas (Paris II) và Philippe Simler – Giáo sư trường Đại học tổng hợp Robert-Schuman (Strasbourg III), xuất bản lần thứ tư, 2005, Dalloz.
2. (2): Xem Doanh nghiệp gia đình (Tuyển chọn luận án tiến sĩ) của Anne KARM (Giáo sư về luật tư của khoa Luật, trường Đại học tổng hợp Rennes 1), Nhà xuất bản Defrénois, 2004
3. (3): Doanh nghiệp gia đình (đã dẫn), trang 48-49
4. (4): Tạp chí luật dân sự, I, số 255, án lệ, 1994, Philippe SIMLER
5. (5): Tạp chí luật dân sự, I, số 246, D.1995, François LUCET
6. Xem Giáo trình Luật dân sự-Gia đình của Gérard Cornu – Giáo sư trường Đại học tổng hợp Panthéon-Assas (Paris II), trang 65, in lần thứ chín, 2006, Montchrestien.
7. Bộ luật dân sự, Bộ luật thương mại, Bộ luật về giao thông, Bộ luật lao động, Bộ luật về an sinh xã hội
8. Luật ngày 4/7/1980 về hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, Luật ngày 10/7/1982 về các doanh nghiệp gia đình trong lĩnh vực thủ công và thương mại…
SOURCE: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. NĂM 2007 – 2008. CHỦ BIÊN: TS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN (TÊN ĐỀ TÀI CHƯA XÁC ĐỊNH)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code