6. Điều Kiện Liên HOàN
Giữa các sự vật khách quan thường tồn tại mối liên hệ điều kiện phức tạp
liên hoàn (móc xích với nhau). Trong biện luận, lợi dụng mối liên hệ
điều kiện liên hoàn này, ta có thể từng bước đi sâu vạch rõ mối liên hệ
tất nhiên giữa các sự vật và xâu chuỗi cả quá trình biện luận từ đầu
đến cuối, nhằm làm cho lời biện luận của chúng ta có tính logic chặt
chẽ và sức thuyết phục mạnh mẽ.
Theo Hàn Phi Tử – Dụ lão thì có lần vua Trụ bắt người ta phải làm một
đôi đũa bằng ngà voi. Cơ Tử thấy vậy buồn bực và lo lắng. ông nói:
“Nếu có đũa ngà thì chẳng còn cần đến đồ gốm nữa, mà dùng chén ngọc. Đũa
ngà và chén ngọc không phải tà dùng để đựng hay gắp rau đậu, mà là để
dùng với thức ăn như thịt bò Tây Tạng, bào thai báo. Mà dùng những loại
thực phẩm này thì tất không thể mặc áo vải cộc và vào ăn trong lều
tranh được Phải là mặc áo gấm, ở nhà lầu sang trọng. Và như vậy, muốn
được những cái đó thì phải vắt kiệt sức dân may ra mới có. Hậu quả việc
này không thể không sợ ! “
Năm năm sau, với cung cách ăn chơi phè phỡn này cùng với hình phạt tàn bạo mà Trụ bị diệt.
Ta thấy, Cơ Tử do nắm chắc mối liên hệ điều kiện móc xích giữa các sự
vật mà đã nhìn xa trông rộng, từ đôi đũa ngà mà biết được cái họa của
thiên hạ. Người biết dùng thuật Điều kiện liên hoàn thường tỏ rõ tài trí
khác người.
Dùng thuật Điều kiện liên hoàn có thể từ việc khẳng định tiền kiện của
mệnh đề điều kiện thứ nhất trong mệnh đề liên hoàn mà có được kết luận
khẳng ‘định hậu kiện của mệnh đề điều kiện cuối cùng. Đây chính là cách
tách biệt móc xích. Chúng ta cũng có thể từ việc phủ định hậu kiện của
mệnh đề điều kiện cuối cùng mà có được kết luận phủ định tiền kiện của
mệnh đề điều kiện đầu tiên. Và đây chính là phép chối bỏ liên hoàn.
Chúng ta hãy quan sát đoạn biện luận sau:
Vào thời nhà Minh, Nam Xương Ninh Vương Chu Thần Hào tự thị là hoàng
tộc, suốt ngày chỉ biết ăn chơi. Nhà vua cho ông ta một con hạc trắng,
trên cổ treo tấm biển đồng mạ vàng có chữ “ngự tứ” (nghĩa là vua ban).
ông ta từ đó thường dắt con hạc này dạo phố. Có một hôm, con hạc tự mình
chạy ra phố và bị chó cắn chết. Chu Thần Hào vô cùng tức tối: “Con hạc
này vua ban cho ta, trên cổ có biến vàng “ngữ tứ”. Chó nhà ai dám khi
quân phạm thượng, gớm thật ! “. Rồi lệnh cho gia nô trói chủ nhân con
chó kia, giao cho tri phủ Nam Xương trị tội, bắt đền mạng.
Thời đó tri phủ Nam Xương là Chúc Hạn. Chúc từ lâu đã bất bình với thói
lộng hành của phủ Ninh Vương, lần này nghe thấy quân gia phủ Ninh Vương
đòi người dân phải đền mạng vì con hạc trắng, với tội danh là khi quân
phạm thượng, thì vừa bực vừa buồn cười mà rằng: “án này để giao cho ta
xử, vậy thì cứ theo phép công, xin hay viết đơn kiện đi”. Quản gia nén
giận viết đơn dâng lên.
Chúc Hạn nhận đơn liền sai nha dịch đi bắt hung phạm. Quản gia vội nói:
“Người thì đã bắt, hiện ở dưới kia !”. Chúc Hạn giả đò kinh ngạc:
“Trong đơn rõ ràng viết hung phạm là một con chó, bản phủ hôm nay xử
chó, ông bắt người đến làm gì? “. Quản gia tức tối nói: “Con chó kia
không nói tiếng người, sao lại có thế đưa ra tòa để xét hỏi ?”. Chúc
Hạn cười mà rằng: ông quản gia không nên giận, ta nghĩ chỉ cần đưa tờ
đơn kiện đến trước mặt con chó, nó xem xong cúi đầu nhận tội thì cũng
có thế định án được rồi”. Quản gia dậm chân: “ông là hôn quan, trên
trời này con chó nào lại biết đọc hả?”.Lúc này Chúc Hạn mới nghiêm
giọng bác: “Chó đã không biết chữ thì làm sao hiểu được hai chữ “ngự
tứ” trên biển vàng ? Mà đã không đọc được chữ trên cổ con hạc thì làm
sao định được tội khi quân phạm thượng đây ? Chó đã không khi quân phạm
thượng, thì sao có thể bảo chủ nhân của nó là khi quân phạm thượng
được. Chó là con thú không hiểu tình lí, cắn chết con hạc thì đó là
việc của loài cầm thú. Sao lại liên lụy đến người dân được ?”
Chúc Hạn khi phản bác người quản gia nọ đã dùng phép tách biệt liên
hoàn, tạo nên một nhóm mệnh đề liên hoàn điều kiện đi từ khẳng định tiền
kiện “chó không biết chữ” thuộc mệnh đề điều kiện thứ nhất tới được
kết luận khẳng định hậu kiện” người chủ của con chó không khi quân phạm
thượng” ở mệnh đề điều kiện sau cùng. ở đây ta thấy logic chặt chê,
không thể bắt bẻ, khiến cho quản gia không còn lí lẽ gì nữa, đành ngậm
miệng, tức tối phẩy tay quay gót trở ra.
7. Điều Kiện TấT YếU
Hàm nghĩa của Điều kiện tất yếu là: điều kiện không đầy đủ thì kết
quả không xuất hiện. Ngược lại, nếu có tình trạng điều kiện không đầy
đủ mà kết quả vẫn xuất hiện, thì mệnh đề điều kiện tất yếu này là giả
dối. Trong một số trường hợp biện luận, chúng ta chỉ có thể giành được
thắng lợi nếu nắm chắc mối liên hệ logic của mệnh đề điều kiện tất yếu.
Ví dụ:
Tại cuộc thi hùng biện quốc tế lần thứ nhất bằng Hoa ngữ có một luận đề
là: “ấm no là điều kiện tất yếu bàn tới đạo đức”. Trên thực tế, đây là
một mệnh đề điều kiện. Nó có hàm ý là:
“Con người chỉ khi đạt được mức sống ấm no mới có thể nói tới đạo đức được”.
Thế nhưng, đội đại biểu đại học Phúc Đáp đã phản bác mệnh đề này. Và họ
đã phải chỉ ra sự tồn tại trường hợp không no ấm cũng có thể nói tới
đạo đức Biện luận của họ như sau:
“Từ xưa đến nay, những xã hội chưa giải quyết được vấn đề khó khăn về ăn
mặc thực tế là có nhiều. Song như vậy, phải chăng ở đó đều không thể
nói tới đạo đức được sao ? Ngày nay, đất nước Xô-ma-li ăn đói mặc rách
thì khôngcó quyền bàn tới đạo đức sao ?… Từ góc độ cá nhân, những ví dụ
về hiện tượng nghèo đói nhưng vẫn giữ được phẩm chất đạo đức là nhiều
không kể xiết Nhan Hồi, một học trò xuất sắc của Không Tử, chẳng phải
ăn uống đói khát mà vẫn nói lời ngay làm việc thiện đó sao ? Khi túp lều
tranh của Đỗ Phủ bị gió thu phá nát, chẳng phải ông vẫn mơ tưởng có
được ngôi nhà rộng ngàn vạn gian để che cho các hàn sĩ trong thiên hạ đó
sao ? Nói tới chính phủ thì Singapo chẳng cũng khởi đầu gian nan đó
sao ? Nhưng ngài Lí Quang Diệu đã khuyến cáo nhân dân ông: Chúng ta
chẳng có gì hết, ngoài bản thân mình. Và ông đã nhấn mạnh đạo đức là
nhân tố trọng yếu để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh… “
Trên cơ sở nêu ra hàng loạt sự thật để tiến hành phản bác, đội Phúc Đáp
còn phân tích một cách sâu sắc hàm ý logic của chủ đề tranh luận. Cụ
thể như sau:
“Gọi là “điều kiện tất yếu”, thế mà nhìn từ phương diện logic ta lại
thấy nó có cũng được mà không cũng được. Quả vậy, với chủ đề tranh luận
hôm nay, chúng tôi mới chỉ cần chúng minh không no ấn cũng có thế nói
tới đạo đức. Mà điều đội bạn phải chứng minh là không no ấm thì đừng có
nói tới đạo đúc về điểm này số một đội bạn lại chưa chứng minh đầy đủ
được”.
Bên phía phản bác đã luận chứng một cách chặt chẽ, có logic, không thể
không thừa nhận. Và đã giành được tràng vỗ tay vang dội của quần chúng.
Đội phản bác của đại học Phúc Đáp sở dĩ đã chiến thắng trong cuộc tranh
luận này là do biết rõ mối liên hệ logic trong chủ đề tranh luận là một
nhân tố cực kì quan trọng.
8. LựA CHọN Giả THIếT
Mệnh đề chọn lựa là mệnh đề nêu ra những tình huống có thể để từ đó
lựa chọn. Cách thức hàng phục đối phương, khéo léo giành thắng lợi bằng
việc vận dụng mệnh đề chọn lựa trong biện luận chính là thuật Lụa chọn
giả thiết.
Trong cuốn Kí viên kí sở kí (đời Thanh) còn ghi lại một vụ án như sau:
Một cô gái chưa chồng và có chàng trai muốn lấy cô ta, nhưng đã bị ông
bố cô gái từ chối. Thế là chàng trai nọ đã vu cáo rằng anh ta đã lấy cô
gái này làm vợ và bố cô gái lại ép cô tái giá. Quan huyện Vương Lâm
Hanh đòi cô gái đến hỏi chuyện, rồi đột ngột hỏi chàng trai:
“Ngươi đã là chồng cô này, vậy hay nói trên tay cô ta có một cái sẹo, và sẹo ở tay mặt hay tay trái ?”
Chàng trai cứng họng, không trả lời được.
Viên quan kia đã nêu ra hai tình huống có thể cho chàng trai chọn lựa:
“Cô gái này tay trái có sẹo hay là tay phải có sẹo”. Nếu đây đúng là vợ
anh ta thì anh ta phải biết tình trạng vết sẹo Lúc này, chàng trai lúng
lúng không biết, đương nhiên lộ ra cô gái không phải là vợ anh chàng.
Quan huyện đã khéo dùng mệnh đề chọn lựa để vạch trằn ngay âm mưu chiếm
đoạt cô gái của chàng trai.
Muốn có được hiệu quả biện luận theo dự định bằng thuật Lựa chọn giả
thiết thì phải biết phát hiện mâu thuẫn của đối phương, rồi nhằm vào mâu
thuẫn đó mà đặt ra mệnh đề chọn lựa thích hợp. Như vậy, sẽ có thể đẩy
đối phương vào chỗ lúng túng. Chẳng hạn Mi-ken-lăng một họa sĩ tài danh
người ý thời Phục Hưng, ông đã nhận lời tòa thánh La Mã vẽ một bức sơn
dầu: A-đam và ê-va, và ông đã có ý nêu câu hỏi:
“A-đam có rốn không ? “
Câu hỏi này đã bao hàm một mệnh đề chọn lựa: “A-đam có rốn hay A-đam
không có rốn”, buộc đối phương phải chọn lựa từ đó. Theo Thánh kinh thì
Chúa Trời nặn ra A-đam theo hình dáng của mình và lại rút của A-đam một
cái xương sườn để tạo ra ê-va. Rồi từ đôi nam nữ đầu tiên này đã sinh
ra chúng sinh đông đúc ngày nay. A-đam là con người có sớm nhất và hoàn
mĩ nhất. Chúng ta ai cũng có rốn, bởi vậy A-đam cũng phải cố. Thế
nhưng, A-đam lại là hình dáng của Chúa Trời, A-đam có rốn, bởi vậy Chúa
Trời cũng phải có rốn. Chúa trời là đấng sáng tạo tối cao, lẽ nào ông
ta còn bị cái gì đó sáng tạo và thai nghén ? Nếu Chúa Trời không có rốn
mà A-đam có thì rõ ràng Chúa đã không nặn ra giống như mình. Và điều
này đi ngược với Thánh kinh. Nếu cái rốn của A-đam là một sai lầm của
Chúa trong sáng tạo, thì điểm này đi ngược với giáo nghĩa. Giáo nghĩa
cho rằng Chúa Trời không bao giờ có sai lầm. Nếu A-đam không có rốn,
thì là chúng ta ai cũng có mà A-đam lại không. Vậy là sáng tạo của Chúa
cũng chẳng phải là hoàn thiện, và A-đam không phải là con người hoàn
mĩ. Tóm lại, dù rằng A-đam có rốn hay không đều khiến cho giáo hội phải
rơi vào hoàn cảnh mâu thuẫn khó bề thoát ra.
Như vậy, Mi-ken-lăng đã khéo dùng mệnh đề chọn lựa bắn trúng ngay vào chỗ hiểm yếu nhất của người khác.
9. Mượn lời để đáp lời
Trong một số trường hợp tranh luận, người biện luận không tranh biện với
đối phương bằng trực tiếp lời của mình mà mượn lời người khác để trả
lời. Đó là thuật Mượn lời đề đáp lời.
Thuật Mượn lời để đáp lời thường biểu hiện bằng việc lấy chính ngay lời
của đối phương để phản kích. Điều này, tương tự như cướp súng giặc để
giết giặc. Chẳng hạn, một kĩ sư bị chèn ép ngay ở đơn vị mình công tác
và đã đề nghị chuyển đổi. Người phụ trách đơn vị không những không tìm
nguyên nhân từ phía mình mà lại còn nói một cách dõng dặc:
“Đi thì cứ đi, vắng anh thì chợ vẫn. đông mà !”
Lúc này, người kĩ, sư hỏi vặn lại:
“Đúng vậy, vắng tôi thì chợ vẫn đông. Nhưng xin hỏi: Vắng anh thì chợ có đông không ?”
Câu hỏi này rất khéo, vắng tôi chợ vẫn đông thì vắng anh chợ vẫn đông.
Vắng bất kì một người nào đó thì chợ vẫn đông. Và như vậy, cái vũ khí
công kích của đối phương: vắng anh chợ vẫn đông đã tỏ ra không có ý
nghĩa, khác gì một câu vô giá trị. ở đây, anh kĩ sư đã khéo dùng chính
ngay câu của đối phương để đánh ngay vào điểm yếu của họ.
Muốn đùng thuật Mượn lời để đáp lời cho hay thì phải biết nắm bất lấy lời mà đối phương dẫn dụng để dùng lại. Lại ví dụ:
Tại một thành phố của Tiệp có ba anh em trẻ tuổi làm nghề buôn. Có lần
họ sắp sửa đi buôn một chuyến thật xa, liền giao tiền cho một người nông
dân thật thà giữ, và còn nói rõ: chỉ khi nào cả ba anh em cùng đến lấy
tiền thì mới được trao.
Sau đó họ đã đi xa làm ăn buôn bán rồi lại lần lượt quay về nhà. Thế
nhưng cậu ba đến nhà người nông dân trước, cậu ta giở đủ mọi cách để rút
tiền rồi biến mất. Cậu cả, cậu hai biết được thì rất tức, và kiện ra
tòa. Tòa án xử người nông dân phải bồi thường, nếu không sẽ tịch biên
toàn bộ gia sản để thế nợ. Người nông dân rất buồn bực. Rồi đó, cố một
người láng giềng biết sự việc bèn nói: “Anh không nên sợ hãi, tôi sẽ đến
tòa cãi cho”.
Và thế là người nông dân và anh em nhà lái buôn đều dẫn người biện hộ
của mình ra tòa. Luật sư của cánh lái buôn cứ bíu lấy giao ước ban đầu,
kiên trì bắt nông dân phải bồi thường. Lúc này, người cãi cho nông dân
mới đứng dậy nói:
“Thưa quý toà, tiền của anh em lái buôn nằm trong túi người nông dân,
anh ta có thể lập tức trả cho họ; có điều giữa họ với nhau đã có giao
ước: chỉ khi ba anh em lái buôn cùng đến thì mới giao tiền. Thế này nhé,
để cho ba anh em họ cùng đến, và họ có thế cùng rút tiền về”.
Lúc này quan tòa yêu cầu cậu cả, cậu hai đi tìm cậu ba. Thế nhưng cậu ba đã mất hút, và hai anh em nhà nọ đành thất vọng.
ở đây ta thấy người láng giềng của người nông dân đã mượn chính lời của
đối phương: Chỉ khi có ba người cũng đến mới được giao tiền Thế nhưng
giờ chỉ có hai, thì đương nhiên không thể giao tiền cho họ. Như vậy, rốt
cuộc người nông dân đã thắng kiện. Trong trường hợp này, khéo mượn
luận đề của đối phương để phản bác là một phương pháp chiến thắng đẹp
mắt.
10. PHủ ĐịNH Cố TìNH
Trong tranh luận, để phản kích lại sự khiêu chiến ào ạt của đối
phương, ta có thể bằng những lời lẽ mạnh mẽ để phủ định cái vẻ ngoài.
Như vậy, vừa có thể làm cho lời biện của chúng ta không kém vẻ hấp dẫn
mà lại có thể chứng tỏ chúng ta không phải loại thô lỗ hung hăng như
họ. Và như vậy, có thể có hiệu quả tranh luận cao. Chẳng hạn:
Năm 1984, trong cuộc tranh luận công khai trên truyền hình của các ứng
cử viên tổng thống Mĩ, Mông-te tự thị trẻ trung uyên bác đã ra sức công
kích Ri-gân già lão không thích hợp với gánh nặng của công việc tổng
thống. Ri-gân là người lớn tuổi, nếu cứ đối đáp từng lời rồi chửi bới
thì sẽ mất đi vẻ người lớn tuổi trầm tĩnh, tính toán sâu xa. Nhưng nếu
cứ để mặc, giả câm giả điếc thì trước Mông-te hừng hực khí thế tuổi trẻ
sẽ tỏ ra già yếu bất lực. Và thế là Ri-gân dựa vào sở trường của mình
và khai thác điểm yếu của đối phương mà dùng hình thức Phủ định cố
tình. ông ta mỉm cười trả lời:
“Mông-te bảo tôi già lão yếu đuối, tôi thì tôi sẽ không khai thác mặt
yếu của đối thủ trong cuộc tranh cử này ở chỗ trẻ tuổi thiếu kinh
nghiệm”.
Lời đáp của Ri-gân đã được mọi người vỗ tay tán thưởng và cuối cùng đã thu được hầu hết phiếu bầu của cử tri.
Chúng ta giả tưởng, nếu lời đáp của Ri-gân là: anh nói tôi tuổi cao, sức
lực suy giảm. Vậy thì anh trẻ tuổi, không chín chắn. Như vậy, sẽ đưa
đến việc hai bên cai cọ, gây ấn tượng rất xấu cho mọi người. Thế nhưng
Ri-gân đã không nói như vậy, mà dùng thuật Phủ định cố tình, điềm tĩnh
lấy cái sở trường của mình làm bộc lộ cái yếu của đối phương. Như vậy,
vừa biểu lộ mình là người lớn tuổi túc trí đa mưu và đại lượng, lại vừa
đánh trả và phơi bày sự nông nổi và hẹp hòi của đối phương, và đã tạo
nên một hình tượng nhân cách sáng chói của mình trước công chúng.
Thuật Phủ định cố tình và trường hợp: ở đây có 300 lạng bạc có những
điểm giống nhau, đều là phủ định một sự thực dễ thấy. Thế nhưng, hiệu
quả của chúng lại khác nhau. ở đây có 300 lạng bạc trong sự che đậy cố
tình mà tỏ ra hoang đường và ngu xuân. Còn thuật Phủ định cố tình thì từ
phủ định bề ngoài đã biểu lộ trí tuệ và tài năng một con người. Lại ví
dụ:
Trong một cuộc đàm phán ngoại thương vào cuối những năm 70, đại diện
ngoại thương phía Trung Quốc đã cự tuyệt yêu cầu vô lí của một thương
gia tóc đỏ phương Tây. Vị này từ xấu hổ mà phát khừng, mở miệng xúc phạm
người khác:
“ông đại diện, tôi thấy da ông đã vàng rồi đấy, có lẽ ăn uống không tốt mà suy nghĩ của ông không sáng suốt chăng ?”
Đại diện phía Trung Quốc lập tức trả miếng:
“Ngài giám đốc, tôi đã không vì lí do ông da trắng mà nói ông mất máu
nghiêm trọng, khiến nếp nghĩ rối loạn. Cũng không vì lí do ông tóc đỏ mà
nói ông hút cạn máu người khác, khiến đầu óc ông hôn mê”.
Đại diện phương Tây trong trường hợp bị cự tuyệt vì yêu cầu vô lí mà
chuyển sang công kích nhân thân (con người) đại diện Trung Quốc, rõ ràng
là ngang ngược vô lễ. Thế nhưng phía Trung Quốc lại dùng thuật Phủ
định cố tình, thêm vào phía trước tù phủ định: không, vừa phản kích lại
sự khiêu khích của đối phương một cách biểu hiện, lại cung chẳng có cớ
để người ta chê cười, và đã bảo vệ được sự tôn nghiêm của bên Trung
Quốc.
11. TRáNH TRả Lời CÂU Hỏi
Trong tranh luận, trước một số câu hỏi mà đối phương nêu ra, chúng ta
thấy khó trả lời hoặc không muốn trả lời hoặc cũng có thể không tiện trả
lời, thì chúng ta phải bằng những cách khôn khéo để né tránh. Đây là
thuật Tránh trả lời câu hỏi.
Thuật Tránh trả lời câu hỏi thường dùng trong những trường hợp sau: Với
những vấn đề chưa chuẩn bị đầy đủ hoặc khó trả lời, thì phải dùng thuật
Tránh trả lời câu hỏi. Chẳng hạn, với luận đề “AIDS là vấn đề y học,
không phải vấn đề xã hội ” trong cuộc thi hùng biện quốc tế bằng Hoa
ngữ, có một hiệp như sau:
Số 4 bên bảo vệ: Chúng tôi đã nói, AIDS về mặt y học là chứng bệnh nan y
Thế nhưng hiện nay, rất nhiều chứng bệnh nan y không phải là giải
quyết bằng giác độ y học đó sao ?
Số 4 bên phản bác: Một bà cụ bị xe húc ngã, xin hỏi đây là vấn đề cứu người hay vấn đề đâm người ?
Số 2 bên bảo vệ: Đó không phải là bệnh ! (tiếng cười)
Số 2 bên phản bác: Thế nhưng bà cụ chẳng phải là đi bệnh viện đó sao ?
Là vấn đề y học phải không ? Không, đó là sự cố giao thông ! (tiếng
cười)
Số 4 bên bảo vệ: Thế nhưng lại có hàng trăm hàng ngàn nhân viên y tế
đang chăm sóc bà cụ phải không ? Sự nghiên cứu về AIDS cũng cần đến hàng
trăm hàng ngàn nhân viên công tác, nhân viên y tế.
Số 3 bên phản biện: Một người mắc bệnh không phải là vấn đề xã hội, hàng
trăm hàng ngàn người mắc AIDS lẽ nào không phải là vấn đề xã hội ?
Số 4 bên bảo vệ: Hàng trăm hàng ngàn người từng bị cảm cúm, hàng trăm
hàng ngàn người cũng từng bị đau tim thì phải chăng đau tim lại là vấn
đề xã hội?
Số 1 bên phản biện: Một người hắt xì hơi không phải là vấn đề xã hội,
nhưng tất cả chúng ta đây cũng hắt xì hơi thì không phải vấn đề xã hội
sao ? (vỗ tay)
Trong hiệp tranh luận này, bên bảo vệ liên tục nêu ra hai câu hỏi có
tính uy hiếp. Thứ nhất, những chứng bệnh nan y có thể coi là vấn đề’ xã
hội không ?
Thứ hai, bệnh tim chiếm tỉ lệ mắc và chết cao nhất trong xã hội văn minh
hiện đại có coi là vấn đề xã hội không ? Hai câu hỏi này, phía phản
bác trước khi tranh biện chưa hề chuẩn bị chu đáo, và vì vậy tức thời
khó mà trả lời xác đáng được. Thế là, bên phản bác đã áp dụng thuật
Tránh trả lời câu hỏi, dùng giả định: bà cụ bị xe đâm và tất cả ở đây
đều hắt xì hơi mà khéo léo né tránh câu hỏi của đối phương.
Với những vấn đề không muốn trả lời, cũng có thể dùng thuật này để né
tránh. Sách Lã thị Xuân Thu có ghi cuộc trò chuyện giữa Trang Bá và ông
bố: Lúc đó chưa có đồng hồ như ngày nay, liền lợi dụng phương vị mặt
trời để xác định thời gian. Trang Bá là đại thần nước Sở lúc đó muốn
biết giờ giấc, liền hỏi bố:
“Cha hãy ra xem mặt trời”.
“Mặt trời trên bầu trời”. Người bố nói.
“Cha xem mặt trời ra sao ?”
“Mặt trời đang tròn !”
“Cha xem vào giờ nào rồi?”
“Chính là giờ này đây “.
Dù Trang Bá là trụ quốc nước Sở, là chức quan cao nhất trong hàng võ,
địa vị hiển hách. Thế nhưng bố vẫn là bố. Con sai bảo vặn vẹo bố thì bố
làm sao mà vui được. Bởi vậy, ông đã không muốn đáp ứng yêu cầu của
con, và dùng thuật Tránh trả lời câu hỏi để né tránh.
Lại có một bà vợ thương gia ăn mặc đúng mốt đến thăm một nhà văn nổi tiếng, bà ta nói:
“Phương pháp tốt nhất bắt đầu viết văn là gì ?”
“Tử trái qua phải. ” Nhà văn trả lời.
Với những bà giàu sang phè phỡn mà không phải nhắc tay động chân thì nhà
văn không muốn trả lời. Và đo Vậy đã đùng thuật Tránh trả lời câu hỏi
để châm biếm đối phương.
Tác dụng của thuật Tránh trả lời câu hỏi chủ yếu là để phòng vệ mà không
tấn công. Nhưng nó cũng thường biểu lộ tài ứng biến linh hoạt của
người biện luận và tài trí thông minh trong việc vòng vo của họ. Một
nhà hùng biện không chỉ biết tiến công mà còn biết giữ mình, bởi vậy
cũng rất cần nắm vững thuật này để phòng thân.
12. THAY THế Để TRáNH Né
Thay thế là biện pháp tu từ không gọi thẳng tên sự vật mà dùng sự vật
khác có liên quan mật thiết để thay thế. Trong biện luận, khi gặp những
câu hỏi khó trả lời mà không thể không trả lời thì chúng ta có thể dùng
cách thay thế, mượn vật khác thay cho vấn đề ta cần thảo luận. Như vậy
là có thể né tránh mục đích trả lời vào thực chất câu hỏi của đối
phương. Chẳng hạn: Nghe nói có người hỏi thẳng Giê-su thế này:
“Chúng ta có phải nộp thuế cho Cây-da đại đế không ? “
Giê-su nghe vậy đã biết ngay sự xỏ xiên của người hỏi. Vì nếu nói:
“Không cần nộp thuế ” thì người này có thể sẽ tố giác Giê-su với tội
phản quốc, hậu quả sẽ không lường được. Nếu nói: “Phải nộp” thì sẽ làm
cho các tông đồ thất vọng, vì chứng tỏ ông ta chịu khuất phục trước
quyền lực nhà vua. Mà lúc đó dân chúng thì đều rên xiết trước sự áp bức
bóc lột nặng nề.
Lúc đó Giê-su bèn mượn một đồng tiền vàng La Mã của người kề bên rồi hỏi người đặt câu hỏi:
“Hình phù điêu trên đồng xu là ai ? “
“Là Cây-da đại đế. “
“Vậy thì cái gì thuộc về Cây-da thì đều nên đưa cho Cây-da, cái thuộc về thần thì đưa cho thần !”
Trước câu hỏi xảo quyệt của đối phương, Giê-su đã dùng thuật Thay thế để
tránh né. ông ta dùng đồng xu vàng La Mã để thay câu trả lời, và không
hề đưa ra ý kiến phủ định hay khẳng định trực tiếp với thực chất câu
hỏi. Điều này khiến đã đạt được mục đích tránh né một cách khôn khéo.
Muốn dùng thuật Thay thế để tránh né, điều mấu chốt là phải chú ý nhân
thời, nhân địa, nhân sự mà chọn lựa đúng sự vật dùng thay thế. Chẳng
hạn, có một lần một hãng truyền hình nước Anh phỏng vấn nhà văn Trung
Quốc Lương Hiểu Thanh. Phóng viên là một người Anh giàu kinh nghiệm. Sau
mấy câu xã giao, phóng viên liền bất ngờ đặt câu hỏi:
“Không có cuộc đại cách mạng văn hóa, chắc là không sản sinh ra được
những nhà văn trẻ như các ông. Vậy thì đại cách mạng văn hóa trong mắt
ông là tốt hay xấu ? “
Lương Hiểu Thanh hơi giật mình, không ngờ đối phương lại nêu câu hỏi khó
trả lời đến vậy. Nhưng cái khó ló cái khôn, nhà văn lập tức phản bác:
“Không có Đại chiến thế giới thứ hai thì không có những nhà văn nổi
tiếng phản ánh cuộc đại chiến này. Vậy thì ông cho rằng đại chiến là tốt
hay là xấu ?”
Trước câu hỏi khó của đối phương, Lương Hiểu Thanh đã mượn Đại chiến thế
giới lần thứ hai để trả lời, và đã chuyển câu hỏi khó sang cho đối
phương. Chẳng hạn khi nhà văn. Lục Văn Phu phát biểu tại hội nghị thường
niên các nhà văn quốc tế lần thứ 48 tại Niu Oóc thì có người Tây
Phương hỏi:
“ông Lục, ông coi văn chương khiêu dâm là thế nào ? “
Lục Văn Phu nhấp giọng trả lời:
“Các bạn Phương Tây khi nhận một hộp quà tặng, thường mở ra trước mặt
người khác. Còn người Trung Quốc thì ngược lại, thường là đợi khách về
mới mở”.
Lục Văn Phu trước câu hỏi của đối phương đã khéo léo mượn hộp quà để trả
lời, mà tránh trả lời trực tiếp câu hỏi đầy tính mẫn cảm này, lại tỏ
ra rất hóm hỉnh. Những lời khôi hài và thông minh của ông đã được mọi
người bày tỏ thái độ bằng tiếng cười hiểu ý.
13. Đẩy TRả Câu Hỏi Để TRáNH Né
Thuật Đẩy trả câu hỏi để tránh né thực hiện bằng cách đẩy câu hỏi khó
trở về cho đối phương để họ tự trả lời, và bản thân mình thì đạt được
mục đích tránh né câu hỏi này. Ví dụ:
Một lần, phóng viên tờ báo A-si-a là Vạn Sĩ Đồng đến phỏng vấn Sái Ngạc.
Vạn: Bản báo là miệng lưỡi của dân, xin được hỏi về chính kiến của tướng quân.
Sái: Miệng của tôi đang đau, ông có miệng lưỡi thì hay lắm.
Vạn: Tôn Trung Sơn ở hải ngoại tuyên truyền đánh Viên (Thể Khai), tướng
quân là bậc khởi đầu của cách mạng Tân Hợi, chắc cùng ý tưởng.
Sái: Bọn Tôn Trung Sơn chẳng phải là cũng chuẩn bị đế chế cho họ Viên đấy sao ?
Vạn: Đúng, đúng. Thế nhưng ông Lương Khai Siêu phản đối việc rùm beng về đế chế. Ngài chắc cũng đồng tình chứ ?
Sái: ông Lương là thầy của tôi. Viên tổng thống làm nguyên thủ quốc gia. Vậy tôi phải phục tùng ai đây?.
Vạn: Đúng vậy, phải phục tùng ai đây ?
Sái Ngọc đã lần lượt khôn khéo đẩy trả cậu hỏi về cho đối phương, tránh
né câu hỏi của đối phương. Đó chính là thuật Đẩy trả câu hỏi để tránh
né.
Dùng thuật này, không những có thể đạt được mục đích tránh né câu hỏi
của đối phương mà có khi còn có thể đạt hiệu quả chuyển bại thành thắng.
Trong tranh luận, câu hỏi đối phương dùng để gây khó dễ cho ta, chúng
ta phải biết khôn khéo tiếp nhận để rồi đẩy trả lại cho họ, khiến câu
hỏi khó lại trở lại lơ lửng trên đầu đối phương. Như vậy, chiến cuộc sẽ
chuyển hướng. Chẳng hạn có một đoạn biện luận như sau:
Đơn vị nọ tổ chức hội thảo chuyên đề hôn nhân – gia đình và quan hệ vợ
chồng. Đại diện bên A cho rằng vấn đề này phức tạp trên nhiều phương
diện, không thể nói gọn được và nói nhiều chắc gì đã có lợi. Chi bằng
chỉ nói những điều chọn lọc. Và thế là họ đem ra câu hỏi hắc búa cho đối
phương, yêu cầu phải trả lời.
“Tôi muốn nêu câu hỏi cho bên B, hãy trả lời ngay. Anh đối xử với vợ anh
thế nào ? Nghĩa là coi là tài sản tư hữu hay coi là tài sản công hữu ?
Hay lại là công tư hợp doanh ?”
Đại diện bên B là một sinh viên đại học, đứng trước câu hỏi khó này đã
không trả lời thẳng mà dùng thuật Đẩy trả câu hỏi để tránh né, và đáp
lại:
“Với vợ tôi tôi đối xử đúng mực như mọi người đều rõ. Đại diện bên A,
thế còn anh? Anh coi vợ là tài sản riêng hay công cộng ? Hay là công tư
hợp doanh?”
Như vậy là đại diện bên A đã gậy ông đập lưng ông. Chỉ biết im lặng.
Sử dụng thuật Đẩy trả câu hỏi để tránh né như là bắt lấy lựu đạn định
ném tới để ném trả lại, và kết quả là nổ trên đầu địch. Cần lưu ý, sử
dụng thuật này cần tùy cơ ứng biến, không thể chần chừ. Nếu do dự, có
thể bị thất
14. Né TRáNH BằNG PHÂN Loại Lớp Sự VậT
Có khái niệm thì lấy cá thể sự vật để phản ánh đối tượng. Ví dụ: “Lớp ta
có 40 học sinh”. Học sinh ở đây là đối tượng phản ánh của cá thể học
sinh. Nhưng cũng có khái niệm lại lấy lớp sự vật để phản ánh. Ví dụ:
“Học sinh lớp ta có hai loại: học sinh nam và học sinh nữ”. Học sinh ở
đây lại phản ánh lớp sự vật học sinh. Khái niệm phản ánh cá thể sự vật
và khái niệm phản ánh lớp sự vật không giống nhau, ta không được lẫn
lộn. Thế nhưng trong một số trường hợp tranh luận nào đó, để né tránh
câu hỏi của đối phương, có thể làm lẫn lộn sự phân biệt này để nhằm thực
hiện mục đích. Đó là thuật Né tránh bằng phân loại lớp sự vật.
Thủ tướng Chu ân Lai trong một bữa tiệc chiêu đãi các phóng viên trong
và ngoài nước tổ chức tại Bắc Kinh, sau khi giới thiệu các thành tựu xây
dựng kinh tế và phương châm đối ngoại, đã nhã nhặn mời các kí giả đặt
câu hỏi. Lúc này, một phóng viên Tây Phương vội vã đứng lên, hỏi một
cách không thiện ý:
“Xin hỏi, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc có bao nhiêu vốn ?”
Câu này thực chất là giễu cợt Trung Quốc nghèo, đồng thời cũng muốn moi
bí mật quốc gia. Trước việc đó, thủ tướng đã mưa mẹo trả lời:
“Tiền vốn của Ngân hàng Trung Quốc à,… có 18 đồng 8 hào 8 xu”.
Vừa dứt lời thì cả đám kí giả vô cùng ngạc nhiên ! Không khí lặng yên để nghe thủ tướng giải thích. Và ông đã tiếp lời:
“Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã phát hành các giấy bạc mệnh giá là 10
đồng, 5 đồng, 2 đồng, 1 đồng, 5 hào, 2 hào, 1 hào, 5 xu, 2 xu và 1 xu.
Cộng lại là 18 đồng 8 hào 8 xu. Ngân hàng Trung Quốc là cơ quan kim
dung do nhân dân Trung Quốc làm chủ, có sự hậu thuẫn của nhân dân cả
nước, rất tin cậy và có thực lực hùng mạnh. Tiền giấy nó phát hành rất
có tín nhiệm trên trường quốc tế”
Một đoạn lời hay ý đẹp đã làm nức lòng mọi người ; tiếng vỗ tay vang dậy.
Với câu hỏi của người phóng viên nước ngoài nọ, thủ tướng đã không trốn
tránh trả lời và đã làm cho không thể nào bắt bẻ được. Thủ tướng lại
cũng không chỉ trích động cơ xấu của phóng viên nọ, mà chỉ dùng thuật Né
tránh bằng phân loại lớp sự vật. Đổi khái niệm phản ánh đối tượng cá
thể thành khái niệm phản ánh đối tượng lớp sự vật, và lấy tổng số mệnh
giá ghi trên các loài giấy bạc làm câu trả lời. Như vậy, đã từ chối việc
trả lời tổng số vốn của ngân hàng lại không phá vỡ không khí vui vẻ
của bữa tiệc, và đã tỏ rõ tài năng ứng đối phi phàm của thủ tướng.
Cuộc biện luận giữa Lưu Đường và Càn Long cũng vậy.
Một hôm, vua Càn Long rỗi rãi, ông định gây khó dễ cho đại thần là Lưu Đường, hỏi rằng:
“Chín cửa kinh thành mỗi ngày đi ra bao nhiêu người ? Đi vào bao nhiêu người ?”
Lưu Đường giơ 2 ngón tay nói: “Hai người “.
“Sao chỉ có hai người ? “
Lưu Đường trả lời: “Thưa đấng vạn tuế thần không nói hai người mà là hai
loại người: một là nam, một là nữ. Chẳng phải là hai người đó sao ? “
Càn Long lại hỏi: “Hãy nói một năm đẻ ra và chết đi, mỗi loại bao nhiêu người !”
Lưu Đường đáp: “Bẩm vạn tuế, cả nước Đại Thanh mỗi năm đẻ một người, chết mười hai người !”
“Cứ như vậy, chẳng phải là hết người hay sao ?”
Lưu Đường đáp: “Thần nói trên cơ sở sinh tử. Chẳng hạn nói năm nay là
năm ngựa, bất luận là đẻ 1 ngàn, 1 vạn, 10 vạn hay trăm vạn đều thuộc
tuổi ngọ. Cho nên nói một năm chỉ đẻ 1. Còn 1 năm thì cũng lại có người
chết đi, dù là giờ nào và dù chết bao nhiêu cũng không thoát khỏi 12
con giáp. Cho nên thần nói một năm chết 12″.
Lưu Đường ở đây đã khéo dùng thuật Né tránh bằng phân loại lớp sự vật mà đã đạt mục đích né tránh câu hỏi khó của đối phương.
15. NGắT Câu
Ngắt ngừng là sự gián đoạn trong phát âm khi ta nói các từ, các câu.
Ngắt ngừng là nhu cầu sinh lí để lấy hơi, vì trong khi nói, người ta
không thể nói một mạch những điều cần nói. Giữa lời cần phải có nghỉ.
Mặt khác, điều quan trọng là còn vì nhu cầu biểu đạt nội dung tư tưởng.
Trong một câu có cần ngắt ngừng không, ở những chỗ khác nhau, sử dụng
ngắt ngừng để biểu đạt ý nghĩa thường là cũng khác nhau. Chẳng hạn hai
câu sau:
“Tôi không tin anh ta là người tốt !”
“Tôi không tin ! Anh ta là người tốt !”
Do ngắt ngừng khác nhau mà ý nghĩa biểu đạt khác hẳn nhau.
Thuật Ngắt cầu là phương pháp giành chiến thắng trong tranh luận bằng cách vận dụng sự ngắt ngừng câu hợp lí.
16. TRỌNG ÂM
Trọng âm trong câu là đọc nhấn mạnh từ nào đó trong câu để bộc lộ một ý
nghĩa nào đó, một tình cảm đặc biệt nào đó. Vị trí của trọng âm được
xác định tùy theo nội tâm của người nói. Trọng âm có vị trí khác nhau
sẽ làm cho người nghe cảm thụ khác nhau. Chẳng hạn:
“Tôi đâu có nói anh. “
ở câu này, trọng âm rơi vào tôi, cho một cảm thụ là: Người khác nói, đừng có đổ lên đầu tôi, tôi đâu có nói.
“Tôi đâu có nói anh”.
ở câu này, trọng âm rơi vào anh, cho một cảm thụ là: người tôi nói không
phải là anh, anh không nên hiểu nhầm. Do trọng âm trong câu khác nhau
mà hiệu quả biểu đạt cũng khác nhau.
Như ta đã biết, trọng âm ở vị trí khác nhau thì cảm thụ cũng khác nhau.
Có khi chúng ta còn thậm chí có thể lợi dụng hiệu quả này của trọng âm
để đạt mục đích chiến thắng trong tranh luận. Đó là thuật Trọng âm.
Có người căn vặn Mai-a-cốp-xki:
“Mai-a-cốp-xki này, tại sao tay anh lại đeo nhẫn? Thật chẳng hợp chút nào!”
“Theo anh nói, thì nhẫn của tôi không nên đeo ở tay mà mà đeo ở mũi à ?”
Nhà thơ trả lời.
Vốn là trọng âm của đối phương rơi vào cái nhẫn, còn nhà thơ cố tình
hiểu là trọng âm ở tay, và đã phản kích mạnh mẽ, khiến đối phương khó
nói. Lại ví dụ:
Một hôm, có một quan khách ngoại giao bắt gặp tổng thống Lin-côn đang cúi đầu đánh đôi giày của mình, liền hỏi:
“Ô ngài tổng thống, ngài vẫn thường đánh giày cho mình sao ?”
“Đúng vậy,” Lin-côn trả lời “Anh thì đánh giày cho ai ?”
Vốn là vị quan khách ngoại giao này nói có trọng âm ở vẫn thưởng, ý muốn
nói: ông là tổng thống sao phải đánh giày ? Tổng thống thừa hiểu ác ý
của câu hỏi bèn cố tình hiểu trọng âm lên mình, rồi nhân đó phản kích:
Anh thì đánh giày cho ai ? Điều này hàm ý ông ta rất khinh miệt vị quan
khách ngoại giao nọ
17. NGữ Điệu
Ngữ điệu là sự thay đổi lên xuống cao thấp trong câu. Cùng một câu mà
ngữ điệu khác nhau thì ý nghĩa biểu đạt có thể khác nhau, thậm chí có
thể trái ngược nhau. Ví dụ:
Hồng Thừa Trù là trọng thần cuối đời nhà Minh được vua Sùng Chinh mến
mộ, ông ta có ý viết một đôi câu đối vào giữa phòng khách:
Quân ân thâm tự hải ;
Thần tiết trọng như san.
(Nghĩa là: ơn vua sâu như biển ; Tiết tháo của bề tôi nặng như núi.)
Về sau, đánh nhau với quân Thanh tại Tùng Sơn rồi bị bắt làm tù binh,
ông ta đã quỳ gối đầu hàng. Người đương thời liền sửa lại câu đối của
ông ta:
Quân ân thâm tự hải hĩ!
Thần tiết trọng như san hồ ?
(Nghĩa là: ơn vua sâu như biển vậy ! Tiết tháo của bề tôi nặng như núi vậy sao?)
Ngữ điệu thay đổi, và ý nghĩa cũng quay ngược lại, hàm ý đả kích và
khinh bỉ loài phản bội dân tộc. Bởi vậy, trong tranh luận ta không thể
không lựa chọn ngữ điệu thích hợp, có khi thậm chí có thể qua ngữ điệu
thích hợp mà đạt được mục đích chiến thắng. Đó chính là thuật Ngữ điệu.
Một đoạn tranh luận nổ ra giữa Triệu Thụ Lí và bọn làm phản như sau:
Trong suốt 10 năm rối loạn, nhà văn Triệu Thụ Lí nổi tiếng thường bị lôi
ra đấu tố. Có lần Triệu Thụ Lí đã phản bác bằng lí lẽ khiến bọn làm
phản cứng họng, bọn cuối cùng đành phải gán tội bằng cách bức kí bản
nhận tội. Bọn chúng gán không biết bao nhiêu là tội của bọn Giang Thanh
cho Triệu Thụ Lí, qua tờ giấy cung viết sẵn và ép ông kí tên nhận tội.
Nhà văn cầm bút viết rằng:
“Anh bảo tôi là thì tôi là ?”
Bọn đánh hôi thấy dòng chữ như bắt được vàng, quơ vội lấy tờ cung, nói:
“Triệu Thụ Lí, giấy trắng mực đen nhé, rõ ràng chữ chính anh viết ra,
ngày tận số rồi đấy. Ngày mai ra trước đại hội, luận tội trước quần
chúng, cấm có phản cung. “
Triệu Thụ Lí nói: “Chắc chắn là đến số rồi, đâu có phản cung !”
Hôm sau đại hội, người dự khá đông.
Cuộc đấu bắt đầu, tên cầm đầu phái làm phản cầm tờ giấy nọ gào to: “Qua
đấu tranh, tên nhà văn ngoan cố Triệu Thụ Lí cuối cùng đã nhận tội
chống phá cách mạng… Bây giờ giai nó ra để nó nhận tội trước bà con ! “
Triệu Thụ Lí bị giải tới, và ông đã nói trước micrô: “Tôi không thừa nhận !”
Bọn làm phản sau phút ngơ ngác thì đập bàn quát: “Láo ! Đây chả phải là tử cung mày viết sao ? “
“Cái tôi viết là: “Anh bảo tôi là thì tôi là ?”"
“Như vậy không đúng là thừa nhận thì là gì ? “
Triệu Thụ Lí nói: “Các anh không xem xem dấu hỏi cuối câu à ? “
Bỗng nhiên quần chúng cười ồ cả lên. Bọn làm phản tiu nghỉu, đành chuồn thẳng.
Triệu Thụ Lí ở đây đã dựa vào tình hình thực tế của sự vật, chọn lựa ngữ
điệu nghi vấn hợp lí và đã chế nhạo bọn làm phản một cách chua cay,
bảo vệ được mình và giành được chiến thắng trong tranh luận.
18. THAY ĐỔI TRẬT TỰ TỪ
Trật tự từ là một cách thức cơ bản tạo lời, đặc biệt là với loại hình
ngôn ngữ đơn lập phân tích tính như tiếng Hán. Trong một câu, nếu trật
tự khác nhau thì ý nghĩa biểu đạt thường là khác nhau. Thuật Thay đối
trật tự từ là phương pháp giành chiến thắng trong tranh luận bằng cách
thông qua việc biến đổi trật tự sắp xếp các từ ngữ trong câu.
Trong tranh luận, thuật Thay đối trật tự từ có những tác dụng như sau:
1. Trật tự từ ngữ khác nhau, cảm thụ chủ quan mang lại cũng khác nhau.
Chẳng hạn, hai sinh viên trường luật đang tranh luận một vấn đề: Khi học
về luật, có thể hút thuốc không. Và ai cũng giữ ý kiến của mình, không
chịu nhường ai. Cuối cùng đành nhờ Rab-bi (thầy giáo) xử:
“Rab-bi”, Học sinh A hỏi, “Khi học luật, hút thuốc có được không ?”
“Không được !” Rab-bi tức giận nói.
“Anh hỏi sai rồi ! ” Học sinh B trách học sinh A. Rồi đó, anh ta đến bên Rab-bi, hỏi:
“Rabbi, mọi người khi đang hút thuốc mà học luật thì có được không ?”
“Đương nhiên là được !” Rab-bi vui vẻ khẳng định.
Cũng là vừa hút thuốc vừa học luật, thế nhưng trật tự từ ngữ khác nhau
đã cho một ngữ cảm khác nhau, và kết quả tranh luận cũng khác hẳn nhau.
2. Trật tự từ ngữ khác nhau, ý nghĩa biểu đạt chủ thứ nặng nhẹ khác nhau. Chẳng hạn, với khách đến từ thủ đô, chủ hàng sẽ nói:
“Đây tuy chỉ là tơ sợi nhà quê, nhưng lại dệt ra vải lụa kinh thành. “
Thế nhưng, với khách đích thực nhà quê, thì ông ta lại nói:
“Vải lụa thì dệt ra ở kinh thành, nhưng tơ sợi thì lại ở nhà quê. “
Với những loại câu ghép chính phụ kiểu nhượng bộ – tăng tiến thì trật tự
từ ngữ khác nhau thì đối tượng cần nhấn mạnh cũng khác nhau.
3. Trật tự từ ngữ khác nhau thì mục đích của hành vi cân biểu đạt cũng
khác nhau. Chẳng hạn, có người hỏi nhà triết học Hi Lạp cổ đại là
A-ri-stốt rằng:
“Ông và người bình thường có gì khác nhau ? “
A-ri-stốt trả lời:
“Họ sống là để ăn còn tôi ăn để sống. “
A-ri-stốt đã khéo léo thay đổi trật tự từ ngữ để biểu đạt mục đích sống
khác nhau của hai loại người: người bình thường thì sống là để ăn, ăn
no rồi không làm gì. Còn nhà triết học mục đích sống là để sáng tạo ra
cuộc sống phong phú đa dạng.
4. Trật tự từ ngữ khác nhau, quan hệ nhân quả biểu đạt cung khác nhau.
Tháng 2 năm 1933 nhà văn Anh Béc-na So đến thăm Trung Quốc, Lỗ Tấn và
Sái Nguyên Bồi đã tiếp ông tại nhà bà Tống Khánh Linh ở Trùng Khánh. Sau
bữa cơm, mọi người dạo chơi vườn hoa, lúc này thời tiết tạnh ráo sau
nhiều ngày mưa sụt sùi, ánh mặt trời hiền hòa rọi trên mái tóc bạc của
So. Sái Nguyên Bồi vui vẻ nói:
“ông So này, ông thật là hên, ông đã nhìn thấy mặt trời ở Thượng Hài rồi đó.”
So nghe vậy, mỉm cười nói:
“Không, đó lô mặt trời gặp may, đã nhìn thấy tôi ớ Thương Hại đấy !” Lời So thật là ngộ, nhưng chan chứa ý vị.
Trật tự từ ngữ trong tranh luận có tác dụng không thể coi thường. Một
nhà hàng biện muốn chiến thắng, không thể không chú ý chọn lựa trật tự
từ ngữ thích hợp để biểu đạt quan điểm của mình.
19. THẾ ĐỒNG NGHĨA
Tư duy và ngôn ngữ không phải là cặp một đối một. Có khi cùng một từ ngữ
một câu có thể biểu đạt nội dung tư duy khác nhau. Có khi cùng một nội
dung tư duy như nhau mà có thể biểu đạt bằng những hình thức khác
nhau. Tuy rằng các hình thức ngôn ngữ khác nhau có thể dụng để biểu đạt
một nội dung tư duy, song hiệu quả biểu đạt lại không hoàn toàn như
nhau. Thuật Thế đồng nghĩa là phương pháp giành chiến thắng trong tranh
luận bằng việc dựa vào các hình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau được
chọn lựa để biểu đạt một nội dung tư duy.
Ta hãy quan sát câu chuyện A-van-ti đoán mộng cho vua:
Có một ông vua nằm mê có người nhổ hết răng của ông ta đi. Khi tỉnh dậy, ông ta đòi tể tướng đến giải mộng. Tể tướng nói:
“Cả nhà bệ hạ sĩ chết trước bệ hạ. “
Nhà vua giận dữ, giết chết thừa tướng. Sau đó vua lại gọi A-van-ti đến giải mộng. A-van-ti nói:
“Bê hạ sĩ trường thọ hơn hết thảy mọi gia quyến. “
Hoàng đế vui vẻ hẳn lên, thưởng cho A-van-ti một áo gấm.
Ta thấy đấy, thừa tướng và A-van-ti cùng biểu đạt một nội dung tư tưởng
như nhau, tức là vua chết sau, gia thuộc chết trước. Thế nhưng hình
thức ngôn ngữ sử dụng khác nhau mà hiệu quả biểu đạt khác nhau. “Cả nhà
bê hạ sẽ chết trước bệ hạ. ” quốc vương nghe ra như nguyền rủa gia
quyến ông ta chết sớm, và kết quả là thừa tướng bị xử tử. Còn A-yan-ti
nói: “Bệ hạ sĩ trường thọ hơn hết thảy mọi gia quyến. ” Như vậy ta có
cảm giác là ca ngợi quốc vương trường thọ. Hiệu quả biểu đạt đá khác xa
với cách trên.
Sử dụng thuật Thế đồng nghĩa trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể
tránh được điều cấm kị. Truyền thuyết kể rằng vua Càn Long đi du lãm
chùa Kim Sơn ở Trấn Giang. Vị sư chủ trì sai một tiểu hòa thượng mau mồm
mau miệng đi hướng dẫn. Khi tiểu hỏa thượng hướng dẫn nhà vua lên núi
có nói một câu:
“Vạn tuế gia bộ bộ cao thăng. “
(Nghĩa là: Đấng vạn tuế từng bước lên cao.)
Càn Long có ý định thử tài đối đáp của nhà sư nọ, lúc xuống núi bèn nói:
“Nhà chùa khi lên núi có nói ta từng bước tên cao. Bây giờ thì sao ? ” Nhà sư lập tức đáp ngay:
“Vạn tuế gia hậu bộ tỉ tiền bộ cánh cao. “
(Nghĩa là: Đấng vạn tuế bước sau cao hơn bước trước.)
Nhà sư nọ, để tránh: bộ bộ hạ giáng là một câu rất kị mà đổi ra giác độ
quan sát sự vật, so sánh bước sau với bước trước để phân tích: Bước sau
vừa có thể chỉ bước chân sau, khi xuống núi, lại vừa chỉ tương lai của
nhà vua. Bằng câu nói có hai tầng ý như vậy để thay cho bộ bộ hạ
giáng, nhà sư đã thoát ra khỏi cửa ải.
Biết sử dụng hợp lí thuật Thế đồng nghĩa, có khi còn mang lại màu sắc
châm biếm hài hước đậm nét cho lời tranh luận của chúng ta. Chẳng hạn,
trường đại học Oxford có người tên là E-vơ-lây vì biết làm thơ chút ít
mà cũng có tiếng tăm trong trường. Một hôm anh ta đọc thơ mình sáng tác
trước các bạn. Và có người là Tra-sư nói:
“E-vơ-lây, thơ anh tôi rất thích, nó được đánh cắp từ một quyển sách. “
Câu này đến tai E-vơ-lây, anh ta rất tức giận, yêu cầu Tra-sư phải xin lỗi công khai. Tra-sư lại nói:
“Từ xưa tôi đã ít khi lấy tại lời của mình. Lần này, tôi nhận sai. Tôi
vốn cho rằng thơ của E-vơ-lây là đánh cắp từ quyển sách tôi đọc. Thế
nhưng, tôi về nhà giở sách ra xem thì phát hiện ra rằng bài thơ nọ vẫn ở
đó. “
“Bài thơ nọ là đánh cắp từ một quyển sách” hình thức ngôn ngữ tuy khác
với “Bài thơ nọ vẫn ở đó”, nhưng ý nghĩa biểu đạt như nhau. Tra-sư đã
khéo dùng thuật Thể đồng nghĩa để mỉa mai E-vơ-lây.
Thuật Thể đồng nghĩa là một kĩ xảo ngôn ngữ thú vị, nó có thể làm cho
lời ta nói phong phú đa dạng, có sức hấp dẫn và có thể dùng vào khi
tranh luận.
20. KHÉO GIẢI NGHĨA TỪ NGỮ
Ngôn ngữ tự nhiên vốn là mơ hồ, cung vậy, từ trong ngôn ngữ tự nhiên
cũng là mơ hồ. Tính mơ hồ đó chủ yếu biểu hiện ở tính đa nghĩa của từ.
Cùng một từ, có thể biểu thị những hàm nghĩa khác nhau. Tính đa nghĩa
này của từ đó cho ta một điều kiện có lợi để khi tranh luận dựa vào
những trường hợp khác nhau, đối tượng khác nhau, yêu cầu khác nhau mà
lựa chọn cho thích hợp. Thuật Khéo giải nghĩa từ là phương pháp khuất
phục kẻ địch, giành chiến thắng bằng cách cho một từ hoặc những từ nào
đó những ý nghĩa xác định.
Một trường nọ mở cuộc thi làm văn, một học sinh được giải nhất đã đọc
bài văn của mình tại buổi lẽ phát thưởng. Đang khi em này đọc say sưa tự
mãn, bóng có tiếng thì thào: “Hùm ! Bài văn này là chép đây! “
Bỗng nhiên, các bạn chụm đầu thì thâm với nhau. Lúc này, một học sinh nói to: “Đúng vậy, là chép mà !”
Cả trường ồ lên. Thầy cô giật mình: “Thi làm văn là một hoạt động nghiêm
túc nghiêm cấm mọi hành vi giả dối. Nếu bài văn của anh là chép, khi
chấm sẽ xóa tên dự giải… “
Cả trường lại ồn ào. Thế nhưng học sinh nọ vãn điềm nhiên nói:
“Xin hãy dế tôi nói hết đã, bài văn đúng là chép, không còn nghi ngờ gì
nữa. Tôi nói là chép, vì do mình nghiền ngẫm đề cương rồi viết thành
bản thảo đế sửa chữa. Sau đó, xác định thành nguyên bản. Bởi vậy, tôi
đã chép đúng tư tưởng riêng của tôi. Lẽ nào việc sao chép này là sai ?”
Không khí lắng xuống, cả trường vang dậy tiếng hoan hô. Và học sinh này đã nhận được phần thưởng của các thầy cô.
Từ “chép” này vừa biểu đạt ý nghĩa ăn cắp văn thơ của người khác, lại
vừa có nghĩa sao chép văn bản. Như ta đã thấy, học sinh nọ đã ghép cho
nó nghĩa thứ hai. Bởi vì, trong trường hợp này mọi sự thanh minh, tranh
cãi đều vô ích. Học sinh nọ biết vậy, đã khôn khéo dùng thuật Khéo giải
nghĩa từ để trấn an dư luận, giành lấy vòng nguyệt quế.
Thuật Khéo giải nghĩa từ đã tỏ rõ một tài năng ứng biến linh ‘hoạt của
nhà hùng biện. Khi tranh luận, đôi khi cũng có lời thất thố, thuật Khéo
giải nghĩa từ cũng có thể giúp ta thoát khỏi cảnh khó khăn này. Dù rằng
đứng trước kẻ thù hung bạo, thuật Khéo giải nghĩa từ cũng có thể là vũ
khí chiến thắng.
Một hôm Sa hoàng ra lệnh triệu kiến nhà thơ cách mạng U-crain là
Sép-tren-cô. Khi triều kiến, các văn võ bá quan trong cung đều phải khom
lưng phủ phục, riêng Sép-tren-cô vẫn đứng ưỡn người, nhìn chằm chằm
vào Sa hoàng.
Sa hoàng giận dữ hỏi: “Ngươi là ai vậy ?”
Nhà thơ trả lời: “Tôi là Sép-tren-cô.”
“Ta là vua, sao ngươi không phủ phục ? Cả nước, ai dám gặp ta mà không cúi đầu ?”
Sép-tren-cô bình tĩnh nói: “Tôi không phụ muốn gặp ngài mà là ngài muốn
gặp tôi. Nếu tôi cũng khom lưng phủ phục như những người xung quanh,
thử hỏi, ngài làm sao thấy được tôi ?”
Trong tiếng Nga, từ triều kiến vừa có nghĩa đến theo lời gọi, cũng có
thể biểu thi nghĩa xem mặt mũi. ở đây, nhà thơ đó vận dụng nghĩa thứ hai
để biểu thị khí phách ngang nhiên, không sợ cường quyên.
Muốn dùng thuật Khéo giải nghĩa từ để giành chiến thắng, thì xác định
trong giờ phút mấu chốt của tranh luận phải nhanh chóng phát hiện những
từ ngữ đặc biệt có khả năng biểu đạt nhiều hàm nghĩa, từ đó chọn lựa
những lớp nghĩa cố lợi cho mình để giải thích theo hướng bất ngờ với đối
thủ, từ đó giành quyền chủ động trong tranh luận.
21. GiẢITHÍCH CÂU THEO Ý KHÁC
Ngôn ngữ tự nhiên vốn mơ hồ. Tính mơ hồ đó biểu hiện ở chỗ cùng một câu
mà ý nghĩa biểu đạt khác nhau. Thuật Giải thích câu theo ý khác là
phương pháp giành chiến thắng trong tranh luận bằng cách dựa vào yêu cầu
tranh luận của mình mà đưa ra cách giải thích riêng biệt về một câu
nào đó.
Dùng thuật Giải thích câu theo ý khác, giải thích một câu nào đó theo
một ý bất ngờ thường làm cho lời tranh luận của ta mới mẻ, mạnh mẽ. Ta
hãy xem đoạn tranh luận giữa Lí Khắc và Ngụy Văn Hầu.
Theo ghi chép Thích Uy. Lã thị Xuân Thu, có lần Ngụy Văn Hầu hỏi đại
thần Lí Khắc: “Nguyên nhân nước Ngô diệt vong là gì ?” Lí Khắc lập tức
trả lời: “Là vì nhiều lần đánh nhiều lần thắng.” Ngụy Văn Hầu phân vân
không hiểu. Lí Khấc liền giải thích:
“Nhiều lần đánh, nhân dân sẽ mệt mỏi. Nhiều lần thắng, nhà vua sẽ sinh
kiêu. Lấy ông vua kiêu ngạo thống trị nhân dân mệt mỏi, đó chính là
nguyên nhân bại vong. “
“Nhiều lần đánh nhiều lần thắng” thường là dẫn đến nguyên nhân nhà nước
hưng thịnh. Còn Lí Khắc ở đây đã khéo léo giải thích mà rút ra kết luận
khiến nước Ngô diệt vong, thật là độc đáo, sinh động mà mạnh mẽ.
Dùng thuật Giải thích câu theo ý khác để đưa ra lời giải thích bất ngờ
cũng thường biểu đạt lối mỉa mai châm biếm với đối phương. Chẳng hạn:
Khi Uyn-sơn làm thống đốc bang Níu Jersey, ông ta nhận được điện thoại
từ Washington, D.C. nói rằng một nghị sĩ bang Niu Jersey – tức bạn của
ông – đã qua đời.
Uyn-sơn rất xúc động, lập tức hủy bỏ mọi cuộc hẹn trong ngày. Sau mấy
phút, ông lại nhận được cú điện thoại của một chính trị gia Niu Jersey.
“ông thẳng đốc”, người nọ lắp bắp nói “Tôi, tôi hi vọng có thế thay thế vị trí của ông nghị sĩ nọ.”
Được lắp Uyn-sơn rất bực với thái độ “nhanh nhẹn” của y. ông chậm rãi
trả lời “Nếu nhà quàn đồng ý, thì cá nhân tôi cũng nhất trí. “
Câu: “Thay thế vị trí của ông nghị sĩ nọ” có thể chỉ ý: thay ông nghị sĩ
kia để làm nghị sĩ; cũng có thể chỉ ý: thay thế vị trí trong nhà quản
của ông
22. CẬY SỐ ĐÔNG
Chân lí không phải bao giờ cũng nằm trong tay đa số. Thế nhưng, trong
khi biện luận, kẻ ngụy biện không phải là để tìm tới chân lí trong nhận
thức mà là lấy đa số làm lí do, cho rằng đa số là đúng đắn, đa số là
chân lí. Đó chính là ngụy biện kiểu Cậy số đông.
Ta hãy quan sát câu chuyện hài hước nước ngoài như sau:
Xưa kia có một phú thương vốn tính keo kiệt. Con trai ông ta bên ngoài
vay nợ rất nhiều, nhưng ông ta không chịu hoàn trả. Đứa con đành phải
hẹn với các chủ nợ là đợi khi bố chết sẽ tra hết. Có một hôm, đứa con
trai thực sự là không đợi được nữa, liền bàn với chủ nợ là đem chôn sống
ông bố. Hắn ta tấm gội và thay quân áo cho ông phú thương rồi ấn ông
ta vào quan tài. Quan tòa đi qua nghe tiếng kêu la của ông liền bước
vào hỏi. Phú thương trong quan tài nghe thấy có người hỏi, cho là có cơ
may được cứu sống, bèn hét toáng lên: “Cứu tôi với ! Đại nhân. Thằng
con tôi định chôn sống tôi!”.
Quan tòa trách mắng đứa con nọ: “Sao may lại định chôn sông bố mày ? “
“Đại nhân, ông ta lừa ông đây, ông ta chết thật rồi mà. Không tin, ông hay hỏi mọi người. ” Thằng con trả lời.
Quan tòa quay ra hỏi những người đứng quanh: “Các ông đều làm chứng chứ?”
“Chúng tôi làm chứng.” Bọn chủ nợ đáp.
Thế là quan tòa nói với phú thương trong quan tài rằng: Sao tôi có thể
tin một mình nguyên cáo là ông ? Lẽ nào bao nhiêu người thế này đều nói
dối đây ? Nói xong liền khoát tay tuyên án “Chôn đi !”
Rõ ràng phú thương là sống thế mà quan tòa lại chơi cái trò ngụy biện
kiểu Cậy số đông, chỉ dựa vào đa số, làm lẫn lộn phải trái, đưa ra phán
đoán sai lầm, thật là giả dối cực độ.
Ngụy biện kiểu Cậy số đông sở dĩ là giả dối, bởi vì đa số không tất yếu
là chân lí. Chân lí có lúc thuộc về thiểu số. Nếu chỉ lấy đa số làm căn
cứ để luận chứng thì khó mà tránh khỏi hiệu quả ngụy biện dãn tới đảo
lộn trắng đen. Lại ví dụ:
Theo Truyện Viên Xán. Tống Thư: Từ xa xưa, ở miền nam có một quốc gia
nhỏ bé ở nơi heo hút. Đất nước này không có sông ngòi, chỉ có một mạch
nước suối. tên là Cuồng Tuyền. Những ai uống nước suối này vào, thảy đều
phát điên. Ngoài quốc vương ra, người dân cả nước ai cũng uống nước
này. Thế là cả nước ai cũng cuồng điên, kẻ thi ngây dại, kẻ thì cười
sằng sặc, kẻ thì mình trần tóc xõa, kê thì nhe răng há miệng, thật là đủ
các kiểu, hết sức kì quặc. Chỉ riêng quốc vương đào một cái giếng ở
sân sau mà ăn uống nước này. Bởi vậy vẫn bình thường. Nhân dân thấy vua
nói năng phong thái khác với mọi người thì ngỏ là nhà vua bị điên,
liền họp bàn và quyết định giúp vua chữa khỏi điên. Mọi người ùa vào
cung, đè vua xuống giường, người thì lấy kim châm, kẻ thì đốt ngải.
Quốc vương bị hành hạ đến kêu la thảm thiết, không thể chịu nổi nữa. Và
cuối cùng cùng đành phái tới bên Cuồng Tuyền mà tợp mấy ngụm. Uống
xong, nhà vua cũng phát cuồng. Lúc này thì cả nước không trừ một ai,
điên tuốt.
Khi nhân dân cả nước.gần như bị điên rồi thì bọn người điên nọ Cập số
đông, lấy đa số làm căn cứ. Những ai đầu óc tỉnh táo lại bị coi là người
điên khùng, còn kẻ điên thực sự lại cho là đầu óc tỉnh táo. Như vậy.
đúng sai, đen trắng bị đảo lộn hết.
23. UY HIẾP BẰNG VŨ LỰC
Trong biện luận, người biện luận không thuyết phục hằng lí lẽ mà lấy vũ
lực để uy hiếp, đe dọa bắt buộc đối phương phải tiếp thu quan điểm của
mình. Đó chính là ngụy biện kiểu Uy hiếp bằng vũ lực.
Theo báo chí thì tại một vùng quê ô’ Tương Tây có cô gái tên là Ngô X
công anh chàng Trân Y hủy bỏ hôn ước. Nhà họ Ngô có món lẽ ăn hỏi hơn
600 đồng chưa kịp trả cho nhà họ Trần. trần Y tiền gõ 5 tên côn đồ từ
Thường Đức thì hứa là đối được tiền thì trả công mỗi thằng là 40 đồng.
Bọn chúng cơm no rượu Say tại nhà họ trần, xong liền đằng đằng sát khí
xông tới nhà họ Ngô đòi nợ:
“May ! Cầm ngay 600 đồng ra đây !”
“Trong 3 tiếng không nộp ra thì dỡ nhà gán nợ ! “
Nhà họ Ngô thấy bọn này nói là làm thì sợ, đành phải vay nợ xóm làng cho
đủ số 600 đồng. Lúc này mới tránh khỏi cái họa bị dỡ nhà.
Trần X đòi nợ không theo cách dùng lí lẽ thiệt hơn mà dùng sức mạnh của
xã hội đen, dọa dỡ nhà, lấy vũ lực làm hậu thuẫn. Đó chính là một điển
hình của ngụy biện kiểu Uy hiếp bằng vũ lực.
Uy hiếp bằng vũ lực thường là xảy ra khi kẻ ngụy biện đã thất bại bằng
bàn luận lí tính, tức là khi đuối lí cùng lời mà không chịu bị thua,
không còn cách gì, thế là ngang ngược chà đạp công lí, dùng vũ lực đề uy
hiếp. Cũng có kẻ không bao giờ dùng lời lẽ, hễ thấy không vừa lòng là
xắn tay áo lên đòi đối phương ra ngoài đánh nhau, muốn ra gì thì ra.
Loại người này ỷ vào sức khoẻ thường dùng vũ lực để áp đảo đối phương.
Người đời nói: già đòn non nhẽ mà, đó là cách giải quyết của họ.
Loại ngụy biện này không chỉ tồn tại trong đám mọi người, trên vũ đài
quốc tế cái gọi là ngoại giao sức mạnh thực chất cũng là ngụy biện kiểu
Uy hiếp bằng vũ lực. Ví dụ:
Ngày 12 tháng 2 năm 1938, Hít-le và Xusnigơ – thủ tướng áo hội đàm tại Pốt-sđam. Trong hội đàm, Hít-le đe dọa:
“ông Xusnigơ, đây là bạn dự thảo văn kiện. Trong đó không có gì phải
thảo luận ca. Tôi sẽ không thay đối một chút nào trong đó đâu. ông cần
phải giữ nguyên mà kí thôi, trong ba ngày phải làm theo yêu cầu của tôi.
Nếu không, tôi sự ra lệnh tiến quân vào áo. “
Hít le sở dĩ ngạo mạn như vậy, cương bức đối phương phải khuất phục,
chính là hắn ta có một thực lực quân sự hùng mạnh làm hậu thuẫn. Lại ví
dụ:
Ngày 14 tháng 3 năm 1938, Hít le hội đàm với Ha sa là tổng thống Tiệp và
bộ trướng ngoại giao nước này là Sê vát Cơphuski đã uy hiếp là quân
đội Đức ngay hôm đó đã tiến quân. Gặp phải kháng cự ở đâu đó và đã tiêu
diệt sạch. Binh lực Đức trong trận này là một sư đoàn, còn Tiệp là một
tiểu đoàn. Y yêu cầu phải kí ngay vào văn kiện đâu hàng. Thế là, từng
bước từng bước ném cho tổng thống và bộ trượng ngoại giao Tiệp văn kiện
đầu hàng, lại còn nhắc lại:
“Nếu cự tuyệt thì trong hai tiếng Praha một nửa sẽ biến thành đống gạch vụn.”
Tổng thống Tiệp hoảng hốt mà ngất đi, tiêm thuốc hồi tỉnh xong buộc phải kí vào bản án tử hình cho đất nước.
Đó chính là ngoại giao sức mạnh, là điển hình của việc cậy vào sức mạnh.
24. CẬY VÀO QUỶ THẦN ( HAY LÀ SỬ DỤNG YẾU TỐ MÊ TÍN, TÂM LINH , HUYỀN HỌC, PHONG THUỶ )
Khi người ta dưới ách áp bức của tự nhiên và xã hội mà không chống nổi
thì đã tin tưởng một cách mù quáng rằng trong coi u minh có thần linh
chi phối vận mệnh đời sống con người. Tư tưởng mê tín vào thần linh rất
phổ biến trong xã hội phong kiến. Và ngay cả khi khoa học phát triển
cao như ngày nay, số người tin vào quỷ thần cũng không ít. Kẻ ngụy biện
cũng thường hay dựa vào tư tưởng mê tín đối với quỷ thần của mọi người
mà bào chữa cho cái giả dối của họ, khiến âm mưu được thực hiện. Đó là
ngụy biện kiểu Cậy vào quỷ thần. Ví dụ:
Năm 1052, Nùng Trí Cao châu Quảng Nguyên ở miền nam dấy binh đánh Tống.
Tống Nhân Tông cử đại tướng là Địch Thanh mang đại quân đi dẹp. Đại
quân ra khôi Quế Lâm, đường đi hiểm trở, lòng quân dao động, không ít
binh sĩ bỏ trốn. Để ổn định tinh thân quân đội, Địch Thanh nghĩ ra một
cách. Một hôm, Địch Thanh nói với các tướng sĩ:
“Lần này đến miền nam thảo phạt phiến quân là lành hay dữ để cho thần
linh quyết định. Nếu lành, thì ta tung ra đất 100 đồng tiền, đồng nào
cũng ngửa, chỉ cần một đồng sấp là do Lúc đó ta sẽ ban sớ hồi triều.”
Có người khuyên: “Dù có may mắn thế nào thì 100 đồng tiền tung ra cũng
không thể có 100 đồng đều ngửa. Nếu có đồng sấp thì lòng quân sinh biến,
không chiến mà hồi triều, chẳng phải là chống lại thánh chỉ sao ? Xin
đại tướng quân xét kĩ! “
Địch Thanh không nghe, bảo tâm phúc đưa ra một túi tiên đồng. Quân sĩ kẻ
nào cũng chăm chú theo dõi. Chỉ thấy ông ta lầm nhầm khấn: “Thần minh
bảo hộ, thần minh bảo hộ… ” Bỗng ông ta vốc một nắm tiền mắt nhắm lại
rồi tung lên. Khi tiền rơi xuống, quân sĩ quây đến xem, cả 100 đồng đều
ngửa. Quả thật là thần linh bảo hộ! Toàn quân đều biết, tiếng hò reo
hoan hô vang dậy.
Lúc này Địch Thanh lệnh cho tâm phúc mang một trăm cái đinh, đóng các
đồng xu lên mặt đất, rồi dùng lụa xanh phủ lên, tự tay đậy kín. Rồi đó
thành tâm nói: “Chờ đạo quân thắng trận trở về, đến đây sẽ lễ tạ thần
minh.” Lúc này toàn quân tinh thần lên cao, thế như chẻ tre, và đã nhanh
chóng bình định được cuộc phiến loạn do Núng Trí Cao gây ra.
Kì thực, những đồng tiền này chỉ toàn có mặt chính. Địch Thanh lợi dụng
tâm lí tin vào quỷ thần của các tướng sĩ và những đồng tiền chỉ có mặt
chính nọ, kết quả là đạt được mục đích dự định.
Với ngụy biện kiểu Cậy vào quỷ thần, chỉ cần tin chắc là trên thế giới
hoàn toàn không có thần linh thì ngụy biện kiểu này sẽ phá sản.
Trong Duyệt Vi Thảo đường bút kí của Thanh Kỉ Vân có vụ án như sau:
Có một tổng đốc tên là Đường Chấp Ngọc thụ lí một vụ án giết người. án
đã xem xét xong. Một hôm về đêm, ông một mình ngồi trước nến, bỗng nghe
thấy tiếng khóc tỉ ti, mỗi lúc một gần bên cửa sổ. Mở rèm ra, ông thấy
một con ma người đây máu quỳ dưới bậc thềm. ông nghiêm giọng quát, con
ma bèn dập đầu nói: “Đứa giết chết tôi vốn là A, nhưng quan huyện xử
nhầm cho B. Không trừng phạt đúng thủ phạm, để nó lọt lưới, lôi chết
cũng không nhắm mắt!” Đường Chấp Ngọc nói: “Ta biết rồi “. Ma lúc đó mới
chịu đi.
Ngày hôm sau, Chấp Ngọc đích thân thẩm vấn các phạm nhân, thảy đều nói
áo quần người chết mặc đúng như đêm qua ông thấy. ông càng tin là thật,
dựa vào lời ma mà xét lại A có tội. Viên quan sơ thẩm nhiều lần đề đạt
giải thích nhưng ông không nghe. Sau đó sư da (người giúp việc) đến cầu
kiến, biết đầu đuôi câu chuyện, liền phản bác: “Đã là ma thì chỉ có
bóng, không có thực thể, nó rời đi phải là nhanh chóng mà biến mất.
Không thế là trèo qua tường. Đó chắc chắn là phạm nhân mướn bọn đạo tặc
biết trèo tường vượt rao làm chuyện này”. Đường Chấp Ngọc nghe vậy bỗng
hiểu ra, thế là vẫn giữ lại phán quyết của viên quan sơ thẩm.
Tên tội phạm để rửa sạch tội lỗi và vu vạ cho người khác mà nói ra
chuyện quỷ thần. Đường đường một tổng đốc công mắc lừa. May mà sư da từ
cái vô lí mà biết tỏng âm mưu của bọn sát nhân, khiến chúng thất bại.
Trên thực tế, hầu hết các nhà đầu tư là người làm kinh tế liên
quan đến may rủi nhiều, nên rất thích nghe đến nhũng chuyện về tâm linh
hay huyền bí như phong thuỷ, dịa lý, hướng nhà hướng gió ….rồi các
quan hệ kiêng kỵ do tập tục văn hoá đem lại, nếu chúng ta khéo léo vận
dụng rất có lợi thế trong thuyết trình dự án. Tuy nhiên cần nghiên cứu
sâu, kỹ lĩnh vực mình thể hiện,nếu không sẽ lộ tẩy cái đuôi dốt nát gây
phản cảm hơn nhiều do nói nhăng nhít lung tung.
25. DỰA VÀO CẢM TÌNH
Tình cảm là sự thể nghiệm chủ quan và phản ánh do sự vật nhất định
dẫn tới Khi một người có thái độ theo chiều hướng hoan nghênh với sự
vật nào đó anh ta tiếp xúc với sự vật này sẽ sinh ra tình cảm khẳng
định như vui mừng, thích thú. Khi một người có thái độ phản đối hoặc cự
tuyệt với một sự vật nào đó, anh ta tiếp xúc với sự vật này sẽ nãy
sinh tình cảm như ghét bỏ, giận buồn. Khi Kẻ ngụy biện trình bày quan
điểm của mình hoặc phản bác chủ trương của người khác thì không nêu sự
thực nói lí lẽ, mà chỉ là lấy tình cảm yêu ghét của mình làm căn cứ
luận chứng. Nếu là người mình yêu thích thì lời nới là chân lí, nếu là
người mình chán ghét lời nói ra thảy đều giả dối. Đó chính là ngụy biện
kiểu Dựa vào cảm tính.
Ngu Nột thời Nam Triều có thể coi là một điển hình như vậy. Một lần có
chàng trai là Trương Suất đưa bài văn của mình cho ông ta nhận xét. Ngu
Nột đâu có coi anh chàng vô danh tiểu tốt Trương Suất ra gì ? ông ta lơ
đễnh giở qua mấy trang sau đó nói một cách ngạo mạn:
“Những cái này thật chẳng ra sao, thế mà đưa cho tôi xem ư? “
Thực tế thì bài văn của Trương Suất viết rất khá nên nghe Ngu Nột nói
vậy thì anh ta không bằng lòng. Một thời gian sau, anh ta lại đưa sáng
tác của mình cho Ngu Nột xem, lần này thì anh ta nghĩ ra một kế, nói dối
đây là tác phẩm của nhà văn Thẩm Uớc. Ngu Nột nghe bảo là tác phẩm của
nhân sĩ quyền uy thì vội xem với một thái độ khác, vừa đọc vừa khen:
“Ngòi bút của nhà văn nối tiếng quả thật khác thường !”
Trương Suất thấy thái độ của Ngu Nột như vậy thì không kìm nổi mà nói:
“Thưa tiên sinh, thực ra đây là bài văn của cái người ông nói là không
đáng một xu viết ra đây ạ!”
Ngu Nột nghe vậy thì vô cùng bối rối khó xử.
Vốn là đánh giá một bài văn hay hoặc dở thì phải lấy cái tốt xấu của nội
dung tư tưởng bài văn và cái cao thấp của phương pháp viết văn làm
tiêu chuẩn, bất kể đó là tác phẩm của người nổi tiếng hay vô danh tiểu
bối. Thế mà Ngu Nột lại không thế, ông ta nói tác phẩm của vô danh tiểu
bối là “cái thứ không ra gì”, còn khi nghe bảo là của người nổi tiếng
thì ca ngợi là “quả thật khác thường”. Phương pháp luận chứng này của
ông ta rõ ràng là ngụy biện kiểu Dựa vào cảm tình.
Nhưng trường hợp lấy cảm tình mà chi phối sự phán đoán của mình thật không hiếm. Chẳng hạn những trường hợp sau:
- Hít le, tên trùm Nadi chống lại thuyết tương đối không phải là căn cứ
vào bản thân thuyết này có phải là khoa học hay không, mà là do
Einstein – nhà khoa học phát minh thuyết này là người Do Thái – đối
tượng bọn Nadi căm ghét,
- Người yêu Hàn Dũ vì Hàn Dũ là đại văn hào đứng đầu bát đại gia Đường –
Tống và nếu có ai bảo Hàn Dữ mắc bệnh hoa liễu thì chắc chấn sẽ bị họ
mắng là nói láo;
- Người sùng bái Đường Thái Tông vì Đường Thái Tông là hoàng đế anh minh
– Trinh Quán chi trị, và nếu có ai bảo anh ta rằng Đường Thái Tông đã
giết anh mình mà lên ngôi vua thì sẽ bị họ coi là hoàn toàn sai lầm;
- Có người nhân vì Bacon làm quan không thanh liêm, từng bị bãi chức vì
nhận hối lộ mà đã cự tuyệt thừa nhận giá trị các trước tác học thuật
của Bacon;
- Do La Quán Trung trong Tan Quốc diễn nghĩa đã bôi nhọ Tào Tháo mà
nhiều người xem xong tiểu thuyết, do bị cảm nhiễm mà đã phủ nhận những
thành tựu của ông ta trong văn học sử;
Những ví dụ liệt kê chính là chỉ lấy cảm tình tốt xấu của mình đối với
người khác để thay cho sự phán đoán đối với sự vật khách quan. Đó chính
là ngụy biện kiểu Dựa vào cảm tình.
Rất nhiều sự thực mách bảo chúng ta rằng lời người được yêu thích không
phải đều là quý và giá trị, có thật cũng có cả giả đấy; ngược lại, lời
người mà ta căm ghét cũng chưa chắc đều là giả dối, thường là có giả,
cũng có thật. Nếu cảm tình của một người mà thao túng lí trí, ngay cả sự
thực cơ bản, quy tắc logic cơ bản cũng không đếm xỉa thì không tránh
khỏi sa vào ngụy biện.
26. ĐOÁN ĐỊNH CHỦ QUAN
ý thức chủ quan của con người do ảnh hưởng bởi biết bao nhân tố, có
lúc không phù hợp với khách quan thế nhưng, có kẻ ngụy hiện trong quá
trình biện luận không xuất phát từ thực tế khách quan mà chỉ dựa vào
suy nghĩ chủ quan để đưa ra đoán định về sự vật khách quan, lấy mong
muốn chủ quan hoặc thành kiến cá nhân để luận chứng tính chân thực của
luận đề. Đó chính là ngụy biện kiểu Đoán định chủ quan.
Hàn Phục Cừ trong truyện Hàn Phục Cừ xử trộm cắp chính là vậy:
Tlên quân phiệt Sân Đông là Hàn phục Cừ, y là một tên thô lỗ vô học.
Nhưng để tỏ ra mình công chính liêm minh, xét án như thần, thì thường
hay tự thụ lí các vụ án. Hắn ta định án hoàn toàn không theo pháp luật,
mà là cứ phán bừa, xử theo ý thích.
Một lần, Hàn phục Cừ mặc bộ thường phục, dạo phố để thị sát dân tình.
Vừa vặn gặp hai tên trộm cắp bị bắt. Hắn bèn lệnh cho sĩ quan trực ban:
“Đưa tên ăn trộm qua đây” bọn ăn trộm bị giải đến. Họ Hàn chỉ một tên
trong đó:
“Mày trộm gì ? “
“Dạ tiểu nhân trộm một con bò “.
“ờ ! Còn khá. Bò lặng thinh, mày ăn trộm nó, nó không la lên, nói lên là cái gan ăn trộm của mày không ghê gớm gì. Thả nó ra! “
Hàn Phục Cừ lại hỏi tên kia:
“Mày trộm cái gì ?”
“Tiểu nhân trộm một con gà “.
“Hay cho thằng trộm gà ! Mày biết tội chưa ?”
Tiểu nhân biết tội ạ “
“Hừ! Tội mày to lắm. Con gà mày bắt nó sẽ kêu quang quác. Mày dám trộm gà thì cái gì mà không dám trộm hả? Lôi ra ! Xử bắn !”
Mọi người đều biết con bò có giá hơn con gà, bởi vậy tội của tên trộm bò
nặng hơn nhiều so với tên trộm gà. Thế mà, tên quân phiệt nọ không căn
cứ vào tình tiết nặng nhẹ để xử, mà là căn cứ vào “bò không kêu” và
“gà biết kêu” để xác định mức tội nặng nhẹ tên trộm bò vô tội, tên trộm
gà bị bắn. Cái cung cách xử án dựa vào Đoán định chủ quan này không
chỉ là vô lí đến buồn cười, mà còn là ngụy biện làm đảo lộn trắng đen.
Đó chính là ngụy biện kiểu Đoán định chủ quan.
Ngụy biện kiểu Đoán định chủ quan sở dĩ vô lí, nguyên nhân là luận cứ
của kẻ ngụy biện chỉ là sự đoán định chủ quan cho là đường nhiên. Loại
luận cứ này thật không đáng tin cậy, dùng luận cứ như vậy là để đạt mục
đích luận chứng cho quan điểm của họ một cách ngang trái.
27. MƯỢN CỚ KHÔNG BIẾT
Có những người ngụy biện khi vi phạm pháp quy thì thường mượn cớ nói:
“Tôi không biết, người không biết không có tội mà ! ” để rồi giải
thích cho mình. Loại ngụy biện này là ngụy biện kiểu Mượn cớ không
biết. Ví dụ:
A và B là những thanh niên hiếu thắng cùng thách nhau đấu vật, nhưng
trước hết, họ lập một giao ước “trong thi đấu, nếu có bề gì, thậm chí
chết người thì đều không được truy cứu trách nhiệm “. Kết cục là do. A
không thận trọng mà dẫn đến cái chết của B. Sau đó, A bị tòa án xét xử.
Trên tòa, A hùng hồn nới:
“Tôi không biết là đã lập giao ước rồi mà nhỡ đánh chết người vần bị tòa án quy tội. Bới vậy, tôi không phải chịu tội ! “
Đó chính là ngụy biện kiểu Mượn cớ không biết.
Ngụy biện kiểu Mượn cớ không biết là vô lí, bởi vì không biết một sự vật
nào đó tồn tại không có nghĩa là sự vật đó không tồn tại. Không biết
điều luật nào đó không có nghĩa là người này không bị ràng buộc bởi quy
định của điều luật này.
Dù là loại ngụy biện này xem ra thì vô lí đến buồn cười, nhưng kẻ ngụy biện thắng bằng cách đó đâu có hiếm gì.
ở Nhật Bản từng xảy ra một chuyện thế này. Một người đi săn mang bộ da
cáo ra hiệu da lông thú để bán. Nhưng căn cứ vào “Quy định thi hành luật
săn bắn” thì cáo là động vật hoang dã cấm săn. Cảnh sát phát hiện
người thợ săn nọ không hiểu luật pháp liền đưa tới sở cảnh sát, xử phạt
tiền. Người thợ săn không phục, phản bác lại:
“Việc không được bắt cáo thì tôi cũng biết, thế nhưng, đây tôi bắt con
cầy, pháp luật đâu có quy định không được bắt cầy nào ? “
“ô!” Cảnh sát lúc này mới ngớ ra. Nhưng rồi họ phản kích lại: “Cáo và
cầy là cùng loại, cho nên cầy cũng trong hạng mục cấm săn bắt ! “
Thế nhưng, người thợ săn vẫn ngoan cố, nói rằng không biết đây là cáo và
kiên quyết không nộp phạt. Vụ án này đành phải chuyển qua tòa án.
Trong lần xử sơ thầm rồi phúc thẩm, người thợ săn đều bị coi là có tội.
Bởi vì nhà động vật học giám định cáo và cây là cùng loại. Nhưng với
tiền đề cáo cầy cùng một loại thì vụ án này chuyển tới tòa án tối cao
lại xử người thợ săn là vô tội. Nguyên nhân xử bị cáo vô tội là:
“Cáo và cầy tuy là cùng một loại động vật, nhưng cũng có địa phương gọi
tên khác nhau. Bị cáo cho rằng cáo và cầy khác nhau, với những động vật
cấm săn bắt mà phân biệt không rõ là không phải cố tình phạm pháp “
Kì thực bắt cáo là bắt cáo, biết cũng thế mà không biết cung thế, đều là
vi phạm quy định thi thành luật săn bắt. Thế nhưng, người thợ săn nọ
đã chơi cái trò ngụy biện Mượn cớ không biết mà ngang nhiên vô lí.
Với ngụy biện kiểu Mượn cớ không biết, cần phải lấy căn cứ thực mà phản
kích đích đáng. Ví dụ, Giôn-đơ nguyên là phân tử Nadi(1), năm 1958 cư
trú tại Ca-na-đa. Nhiều năm qua y tung tin đồn nhảm rằng trong Đại chiến
thế giới lần thứ hai Nadi đâu có giết hại người Do Thái, chuyện giết
hại đó là dựng lên, mục đích là bắt nước Đức phải bồi thường. Thế là,
người phụ trách “Hiệp hội kỉ niệm vụ tàn sát Ca-na-đa” năm 1982 tố cáo
Giôn-đơ, vạch ra cái tội phao tin phỉ báng. Tòa án đưa ra các tập sách
Giôn-đơ đã in, mọi người thấy vậy đều phẫn nộ. Thế nhưng, Giôn-đơ lại
bào chữa rằng:
“Căn cứ vào quy định tại điều 177 của bộ luật hình sự Ca-na-đa, chỉ khi
biết rõ là tình hình không xác thực mà cố tình phao tin đồn nhảm mới
cấu thành tội phạm. Thế nhưng, tôi luôn luôn tin rằng chưa hề xảy ra
chuyện thảm sát bởi vậy không phải là đồn nhảm, và vì thế không thể xét
tội”.
Bên thưa kiện lập tức phản bác, tội ác “tàn sát” của Na-di ngày nay đã
là điều thường thức của cả phụ nữ và trẻ em, bất cứ một người phát triển
bình thường nào đều không thể không biết. Giôn-đơ cứng họng. Qua tranh
luận liên tiếp ngày 28 tháng 2 năm 1985, tòa án hình sự địa phương
Tô-rông-tô tuyên cáo là Giôn-đơ có tội phao tin đồn nhảm.
Đứng trước sự thực đanh thép, trò ngụy biện kiểu Mượn cớ không biết của Giôn-đơ đã hoàn toàn thất bại.