ĐỐI THOẠI VỚI NGUYỄN VĂN BÔNG
Từ di sản trí thức đến tư tưởng kiến tạo quốc gia
PHẦN I
NGUYỄN VĂN BÔNG – CON NGƯỜI, THỜI ĐẠI VÀ CÁCH TƯ DUY
HỒ SƠ 02
NGUYỄN VĂN BÔNG VÀ BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ – PHÁP LÝ VIỆT NAM
Từ một đất nước bị chia cắt đến bài toán xây dựng Nhà nước
I. CÂU HỎI KHÔNG THỂ BỎ QUA
Không thể đọc Nguyễn Văn Bông như một học giả đứng bên ngoài lịch sử.
Ông trưởng thành về trí thức trong một thời kỳ mà những câu hỏi căn bản nhất của chính trị Việt Nam vẫn chưa có một lời giải ổn định: quốc gia là gì, chủ quyền thuộc về ai, Nhà nước được tổ chức như thế nào, quyền lực phải bị giới hạn ra sao, đối lập chính trị có vị trí nào, và một xã hội đang ở trong chiến tranh có thể xây dựng những thiết chế dân chủ đến mức nào.
Đó cũng là thời kỳ mà pháp luật và chính trị thường xuyên va chạm với nhau.
Một bản hiến pháp có thể quy định quyền lực thuộc về nhân dân, nhưng điều đó chưa tự động chứng minh rằng quyền lực trên thực tế được tổ chức theo nguyên tắc ấy. Một nghị viện có thể tồn tại về mặt pháp lý nhưng mức độ kiểm soát hành pháp lại phụ thuộc vào cấu trúc quyền lực thực tế. Một quyền tự do có thể được ghi nhận trong văn bản nhưng khả năng thực hiện quyền ấy lại phụ thuộc vào cơ chế bảo đảm.
Chính Nguyễn Văn Bông đã đặt vấn đề này rất sớm trong phương pháp nghiên cứu của mình. Ngay phần mở đầu Luật Hiến pháp và Chính trị học, ông cảnh báo rằng các quy phạm pháp lý đôi khi không phản ánh đầy đủ thực trạng chính trị; vì vậy nghiên cứu hiến pháp phải đi cùng nghiên cứu những dữ kiện của đời sống chính trị.
Đây là điểm xuất phát quan trọng nhất của Hồ sơ 02.
Không thể hiểu Nguyễn Văn Bông nếu tách ông khỏi lịch sử Việt Nam sau 1954. Nhưng cũng không thể dùng hoàn cảnh lịch sử để giải thích thay cho toàn bộ tư tưởng của ông.
Cần giữ ba tầng phân biệt:
Bông – ông thực sự viết gì, nói gì, nghiên cứu gì.
Diễn giải – từ những văn bản ấy, chúng ta có thể hiểu phương pháp và những vấn đề trung tâm của ông như thế nào.
Hưng Quốc – từ những vấn đề đó, chúng ta đặt lại câu hỏi cho Việt Nam của thế kỷ XXI.
Đó là phương pháp của toàn bộ cuốn sách.
II. VIỆT NAM SAU 1954: MỘT ĐẤT NƯỚC, HAI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Năm 1954 tạo ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Hiệp định đình chỉ chiến sự ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 quy định một giới tuyến quân sự tạm thời ở khu vực vĩ tuyến 17 nhằm phục vụ việc tập kết và chuyển quân. Văn bản này không xác lập vĩ tuyến 17 thành một biên giới chính trị hay lãnh thổ vĩnh viễn. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève cũng khẳng định rõ giới tuyến quân sự ấy có tính chất tạm thời và không được hiểu như biên giới chính trị hoặc lãnh thổ.
Tuyên bố cuối cùng đồng thời đặt vấn đề giải quyết tương lai chính trị của Việt Nam trên cơ sở độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, với tổng tuyển cử được dự kiến vào tháng 7 năm 1956.
Nhưng lịch sử sau đó không diễn ra theo thiết kế chính trị được dự kiến trong các văn kiện Genève.
Trên thực tế, Việt Nam bước vào một thời kỳ tồn tại đồng thời của hai vùng quản trị, hai chính quyền và hai hệ thống chính trị đối nghịch, mỗi bên ngày càng xây dựng những thiết chế nhà nước riêng và dựa vào những nguồn lực quốc tế khác nhau.
Vì vậy, khi nói về Việt Nam sau 1954, cần tránh một cách diễn đạt đơn giản rằng Genève đã “chia Việt Nam thành hai quốc gia” theo nghĩa một biên giới quốc tế vĩnh viễn được thiết lập.
Điều chính xác hơn là:
Một sự phân chia quân sự tạm thời đã trở thành một sự phân chia chính trị kéo dài, tạo ra hai cấu trúc nhà nước và hai đời sống chính trị cạnh tranh trên cùng một không gian quốc gia được cả hai phía đều tuyên bố là Việt Nam.
Đây chính là hoàn cảnh đặc biệt trong đó tư duy chính trị – pháp lý của Nguyễn Văn Bông được hình thành.
Ông không nghiên cứu hiến pháp trong một xã hội đã ổn định.
Ông nghiên cứu hiến pháp trong một đất nước mà chính câu hỏi về Nhà nước, chủ quyền, chế độ chính trị và tương lai quốc gia vẫn đang nằm giữa chiến tranh.
III. TỪ ĐỘC LẬP DÂN TỘC ĐẾN BÀI TOÁN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
Độc lập không đồng nghĩa với việc Nhà nước đã được kiến tạo hoàn chỉnh.
Sau khi một quốc gia thoát khỏi chế độ thuộc địa, câu hỏi tiếp theo không còn đơn giản là:
Ai cai trị?
Mà phải chuyển thành:
Quyền lực được tổ chức như thế nào?
Ai có quyền quyết định?
Ai kiểm soát người có quyền quyết định?
Cá nhân được bảo vệ ra sao trước quyền lực công?
Làm thế nào để Nhà nước đủ mạnh để hành động nhưng không đủ mạnh để trở thành quyền lực tùy tiện?
Đây chính là tầng vấn đề mà Bông quan tâm.
Trong Luật Hiến pháp và Chính trị học, ông không xem hiến pháp đơn thuần là một văn bản pháp lý. Ông coi hiến pháp là những quy tắc căn bản liên quan đến tổ chức và điều hành các cơ quan công quyền, đồng thời nhấn mạnh rằng nghiên cứu hiến pháp phải được đặt trong quan hệ với các hiện tượng chính trị thực tế.
Điều này rất đáng chú ý.
Bông không bắt đầu từ một mô hình Nhà nước trừu tượng rồi áp đặt nó lên Việt Nam. Ông đi từ một câu hỏi pháp lý nhưng luôn kéo câu hỏi ấy trở lại đời sống chính trị.
Hiến pháp tổ chức quyền lực. Chính trị cho thấy quyền lực thực sự vận hành như thế nào.
Hai lĩnh vực ấy không thể tách rời.
Đó là một trong những đóng góp phương pháp luận quan trọng nhất của Bông.
IV. HIẾN PHÁP 1956: KHI VĂN BẢN VÀ QUYỀN LỰC PHẢI ĐƯỢC ĐỌC CÙNG NHAU
Ngày 26 tháng 10 năm 1956, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa được ban hành sau quá trình Quốc hội Lập hiến thảo luận và thông qua. Chính Bông sau này dành một phần đáng kể trong Luật Hiến pháp và Chính trị học để phân tích chế độ Ngô Đình Diệm và Hiến pháp năm 1956.
Hiến pháp 1956 không phải một văn bản không có những tuyên bố về quyền con người và địa vị của cá nhân. Lời mở đầu của văn bản nhấn mạnh giá trị của con người và sự phát triển tự do của cá nhân trong đời sống quốc gia.
Nhưng chính tại đây xuất hiện một vấn đề mà Bông đặc biệt quan tâm:
Một hiến pháp phải được đọc như thế nào?
Chỉ đọc văn bản?
Hay phải đọc cả cơ chế quyền lực đã tạo ra và vận hành văn bản ấy?
Bông chọn cách thứ hai.
Trong phần nghiên cứu về chế độ Ngô Đình Diệm, ông mô tả quá trình tập trung quyền lực, việc tổ chức các lực lượng chính trị và sự hình thành Hiến pháp 1956 trước khi tiến hành phân tích văn bản hiến pháp.
Điểm quan trọng ở đây không phải là dùng Bông để đưa ra một phán quyết tổng quát về toàn bộ Đệ nhất Cộng hòa.
Điểm quan trọng hơn là phương pháp:
Muốn biết một hiến pháp có ý nghĩa thực tế đến đâu, phải nghiên cứu không chỉ những gì nó tuyên bố mà cả cách quyền lực được tổ chức và vận hành trong đời sống chính trị.
Đây chính là sự khác biệt giữa hiến pháp như văn bản và hiến định như một trật tự sống.
Hiến pháp có thể quy định giới hạn quyền lực.
Nhưng giới hạn ấy chỉ có ý nghĩa khi tồn tại những cơ chế và điều kiện chính trị đủ khả năng làm cho giới hạn đó có hiệu lực.
V. 1963: KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ VÀ CÂU HỎI VỀ ĐỐI LẬP
Năm 1963 là một bước ngoặt lớn của đời sống chính trị miền Nam Việt Nam.
Nhưng đối với việc đọc Nguyễn Văn Bông, điều đáng chú ý không chỉ là biến cố chính trị của năm ấy.
Đó còn là thời điểm tư tưởng của ông về đối lập chính trị trở nên đặc biệt rõ ràng.
Ngày 1 tháng 8 năm 1963, tại Học viện Quốc gia Hành chính, Nguyễn Văn Bông đọc diễn văn khai khóa với chủ đề “Vấn đề Đối lập trong Chánh thể Dân chủ.” Các tư liệu còn lưu lại cho thấy ông xem đối lập là một thành tố quan trọng của đời sống dân chủ và gắn sự tồn tại của đối lập với tự do chính trị và khả năng kiểm soát chính quyền.
Đây không phải là một chi tiết bên lề.
Nó giúp giải thích vì sao Bông về sau không nghiên cứu dân chủ chỉ như một cơ chế bầu cử.
Trong tư duy của ông, dân chủ còn liên quan đến khả năng bất đồng một cách hợp pháp.
Đối lập, theo cách Bông trình bày, phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; chính vì thế đối lập chính trị khác với phiến loạn hay hoạt động vũ lực. Đồng thời, ông nhấn mạnh chức năng hạn chế và kiểm soát chính quyền của đối lập.
Đây là một điểm sẽ trở lại trong nhiều hồ sơ sau:
Quyền lực chính trị không chỉ cần người trao quyền; nó cần những cơ chế cho phép người dân và các lực lượng chính trị khác kiểm soát người đang nắm quyền.
Nhưng cũng cần một giới hạn phương pháp.
Không nên vì Bông nói về đối lập mà biến ông thành một lý thuyết gia hoàn chỉnh về dân chủ hiện đại theo nghĩa thế kỷ XXI.
Ông phải được đọc trong bối cảnh của chính ông.
Phần phát triển rộng hơn về quyền lực, đối lập, chính đảng và kiểm soát quyền lực sẽ được dành cho các Hồ sơ 06, 07, 09 và 16.
VI. 1966–1967: TỪ KHỦNG HOẢNG ĐẾN NỖ LỰC TÁI THIẾT LẬP THỂ CHẾ
Sau biến động chính trị năm 1963, miền Nam Việt Nam bước vào một giai đoạn tái tổ chức thể chế.
Quá trình này dẫn tới Quốc hội Lập hiến và Hiến pháp năm 1967.
Đối với Bông, đây không chỉ là một biến cố chính trị mà còn là thời điểm ông nhìn thấy một cơ hội để xây dựng một trật tự hiến định mới.
Trong lời nói đầu cho lần in thứ hai của Luật Hiến pháp và Chính trị học, Bông ghi nhận rằng bản in đầu tiên được xuất bản trong lúc Quốc hội Lập hiến đang thảo luận khuôn khổ pháp lý tương lai; đến năm 1967, Hiến pháp mới đã được ban hành và các định chế chính trị dựa trên đạo luật căn bản ấy bắt đầu được thiết lập.
Điều đó cho thấy một đặc điểm đáng chú ý trong tư duy của ông:
Bông không chỉ quan sát thể chế từ bên ngoài.
Ông quan tâm đến việc thiết kế thể chế.
Hiến pháp 1967 xác lập một hệ thống trong đó chủ quyền được tuyên bố thuộc về toàn dân và các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định.
Nhưng một lần nữa, cần tránh nhầm lẫn.
Việc một hiến pháp quy định phân quyền không đồng nghĩa với việc mọi quan hệ quyền lực trong đời sống thực tế đã vận hành hoàn toàn theo mô hình ấy.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu Hiến pháp 1967 phải có hai lớp:
Lớp thứ nhất: văn bản quy định điều gì.
Lớp thứ hai: những quy định ấy được thực hiện trong hoàn cảnh chiến tranh, bất ổn và cạnh tranh chính trị như thế nào.
Đây là cách đọc mà Bông đã chuẩn bị từ phương pháp nghiên cứu của mình.
VII. CHIẾN TRANH LẠNH: KHI CÁC CÂU HỎI CHÍNH TRỊ BỊ ĐẨY VÀO THẾ ĐỐI ĐẦU
Không thể đọc Bông mà bỏ qua Chiến tranh Lạnh.
Những khái niệm như dân chủ, tự do, chủ nghĩa cộng sản, chống cộng, quốc gia, cách mạng, chủ quyền hay độc lập trong thời kỳ ấy không tồn tại trong một không gian lý luận trung tính.
Chúng nằm trong một cuộc cạnh tranh ý thức hệ và địa chính trị toàn cầu.
Điều này tạo ra một khó khăn lớn cho mọi trí thức Việt Nam thời kỳ đó.
Một quan niệm về dân chủ có thể đồng thời là một lý thuyết chính trị và một phần của cuộc cạnh tranh ý thức hệ.
Một quan niệm về chủ quyền có thể đồng thời là vấn đề pháp lý và vấn đề chiến tranh.
Một người bảo vệ một thiết chế chính trị có thể bị nhìn như người bảo vệ một phe.
Một người phản đối một chính quyền có thể bị nhìn như người chống lại quốc gia.
Trong hoàn cảnh như vậy, ranh giới giữa phê phán Nhà nước và phủ nhận quốc gia, giữa đối lập chính trị và thù địch chính trị, rất dễ bị xóa nhòa.
Đây là lý do tại sao vấn đề đối lập mà Bông đặt ra năm 1963 có ý nghĩa rộng hơn một kỹ thuật nghị viện.
Nó đặt ra một nguyên tắc:
Một quốc gia có thể chứa đựng bất đồng mà không đồng nhất bất đồng với sự phủ nhận quốc gia.
Nhưng đây là diễn giải của chúng ta từ tư tưởng Bông, không phải một công thức nguyên văn của ông.
VIII. NHƯNG BÔNG KHÔNG ĐƯỢC ĐỌC NHƯ MỘT “ĐẠI DIỆN CỦA PHƯƠNG TÂY”
Một sai lầm khác cũng cần tránh.
Đó là đọc Bông đơn giản như một trí thức “du nhập mô hình phương Tây” vào Việt Nam.
Cách đọc này quá đơn giản.
Bông được đào tạo trong môi trường học thuật Pháp và sử dụng nhiều khái niệm của truyền thống luật công và chính trị học phương Tây. Điều đó là một sự kiện trí thức có thể kiểm chứng.
Nhưng ông không chỉ sao chép khái niệm.
Ngay trong phương pháp nghiên cứu, Bông luôn đặt vấn đề hiến pháp vào hoàn cảnh lịch sử và đời sống chính trị cụ thể. Ông viết rằng hiến pháp không thể được tách khỏi lịch sử tổng quát và rằng việc nghiên cứu các vấn đề chính trị phải dẫn đến những nhận định khách quan và thực tiễn về các vấn đề của quốc gia.
Điều này cho phép chúng ta đọc Bông theo một cách khác:
Ông tiếp nhận một vốn khái niệm quốc tế để giải quyết những vấn đề của Việt Nam.
Đó là quá trình tiếp nhận, lựa chọn và bản địa hóa tri thức.
Nhưng cũng không nên đi quá xa.
Chúng ta không có quyền biến mọi khái niệm hiện đại của Hưng Quốc Học thành những tư tưởng đã hoàn chỉnh trong Bông.
Bông là Bông.
Hưng Quốc Học là Hưng Quốc Học.
Khoảng cách giữa hai bên chính là không gian của cuộc đối thoại.
IX. PHẢN CHỨNG: KHÔNG PHẢI CỨ CÓ HIẾN PHÁP LÀ CÓ HIẾN ĐỊNH
Đây có lẽ là bài học quan trọng nhất mà Hồ sơ 02 có thể rút ra.
Một quốc gia có thể có hiến pháp mà vẫn chưa có một nền hiến định vững chắc.
Bởi vì:
Hiến pháp trước hết là văn bản và các quy tắc căn bản.
Hiến định rộng hơn: đó là một trật tự trong đó quyền lực thực sự bị ràng buộc bởi những quy tắc căn bản ấy.
Bông đã phân biệt khá rõ hai tầng hình thức và thực chất khi trình bày về hiến pháp. Ông cũng nhấn mạnh rằng các quy tắc pháp lý đôi khi không phản ánh đầy đủ thực trạng chính trị.
Từ đây có thể đặt ra một phản chứng:
Một hiến pháp có thể ghi nhận quyền.
Nhưng nếu người có quyền lực không bị ràng buộc bởi luật, quyền ấy yếu.
Một hiến pháp có thể quy định nghị viện.
Nhưng nếu nghị viện không thể giám sát hành pháp, chức năng hiến định của nghị viện bị suy giảm.
Một hiến pháp có thể quy định tư pháp.
Nhưng nếu tư pháp không có đủ độc lập, sự phân quyền chỉ còn một phần trên giấy.
Một hiến pháp có thể nói về tự do.
Nhưng nếu người dân không có khả năng thực tế để sử dụng tự do ấy, khoảng cách giữa quyền pháp lý và quyền thực tế sẽ xuất hiện.
Vì vậy:
Hiến pháp là điều kiện cần của một trật tự hiến định, nhưng tự nó chưa đủ để tạo ra trật tự hiến định.
Đây không phải là phủ nhận giá trị của hiến pháp.
Ngược lại, đó là lý do phải bảo vệ hiến pháp bằng những thiết chế có khả năng làm cho nó có hiệu lực.
X. DIỄN GIẢI: THỜI ĐẠI CỦA BÔNG ĐẶT RA HAI BÀI TOÁN
Nếu đặt toàn bộ tư tưởng Bông trong bối cảnh của ông, có thể thấy hai bài toán lớn.
Bài toán thứ nhất: xây dựng Nhà nước
Một quốc gia trải qua chiến tranh, thuộc địa, phân chia và biến động chính trị cần một bộ máy có khả năng tổ chức xã hội, bảo đảm an ninh, cung cấp dịch vụ công và duy trì trật tự.
Không có năng lực Nhà nước, hiến pháp dễ trở thành văn bản không đủ sức thực thi.
Bài toán thứ hai: giới hạn Nhà nước
Nhưng Nhà nước càng có khả năng hành động thì câu hỏi về giới hạn quyền lực càng trở nên quan trọng.
Nếu Nhà nước có quyền lực mà không có giới hạn, năng lực hành động có thể chuyển thành quyền lực tùy tiện.
Nếu chỉ giới hạn quyền lực mà không xây dựng năng lực hành động, Nhà nước có thể trở nên bất lực trước những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.
Từ đây xuất hiện một bài toán mà Bông chưa gọi bằng ngôn ngữ của Hưng Quốc Học nhưng rất phù hợp để chúng ta phát triển:
Làm thế nào để Nhà nước vừa có năng lực, vừa bị giới hạn?
Đây chính là nơi Diễn giải chuyển sang Hưng Quốc.
Không nên nói Bông đã xây dựng hoàn chỉnh lý thuyết này.
Ông cung cấp những nền tảng pháp lý – chính trị để chúng ta đặt câu hỏi.
Còn câu trả lời thuộc về thế hệ hôm nay.
XI. HƯNG QUỐC HỌC ĐI TIẾP Ở ĐÂU?
Hưng Quốc Học bắt đầu từ một nhận xét:
Nhà nước mạnh và Nhà nước toàn quyền không phải là một.
Một Nhà nước mạnh theo nghĩa tích cực là Nhà nước có năng lực:
xây dựng và thực thi pháp luật;
bảo vệ quyền;
cung cấp hàng hóa công;
duy trì trật tự;
ứng phó khủng hoảng;
tạo môi trường cho kinh tế và khoa học phát triển;
bảo vệ chủ quyền;
và sửa chữa những sai lầm của chính mình.
Nhưng những năng lực ấy phải hoạt động trong giới hạn của hiến pháp, pháp luật, quyền con người và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, Hưng Quốc Học đề xuất một nguyên tắc:
Nhà nước mạnh về năng lực, nhưng bị giới hạn về quyền lực.
Hai vế này không đối lập.
Chúng bổ sung cho nhau.
Giới hạn quyền lực tạo ra khả năng dự đoán và bảo vệ con người.
Năng lực Nhà nước tạo ra khả năng thực hiện những cam kết ấy.
Từ đó, có thể diễn đạt mệnh đề Hưng Quốc:
Nhà nước mạnh không phải là Nhà nước có khả năng can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống; Nhà nước mạnh là Nhà nước có đủ năng lực thực hiện những nhiệm vụ chính đáng của mình và đủ kỷ luật thể chế để không vượt quá giới hạn của mình.
Đây là mệnh đề của Hưng Quốc Học, không phải lời gán cho Nguyễn Văn Bông.
XII. ÁN LỆ LỊCH SỬ: MỘT QUỐC GIA CÓ THỂ VỪA MẠNH VỪA BỊ GIỚI HẠN HAY KHÔNG?
Lịch sử so sánh cho thấy đây không phải một câu hỏi chỉ có một đáp án.
Các quốc gia khác nhau đã tìm những cách khác nhau để kết hợp năng lực hành động của Nhà nước với các cơ chế giới hạn quyền lực.
Đức xây dựng một trật tự hiến định hậu chiến với Tòa án Hiến pháp Liên bang, liên bang hóa quyền lực và những giới hạn hiến định đối với quyền lực nhà nước.
Nhật Bản xây dựng một trật tự hiến định hậu chiến trong đó quyền lực Nhà nước được đặt dưới Hiến pháp và quyền cơ bản của con người.
Hàn Quốc trải qua nhiều giai đoạn chính trị khác nhau trước khi hình thành nền dân chủ hiến định hiện nay.
Singapore cho thấy một trường hợp khác, trong đó năng lực hành chính và năng lực phát triển Nhà nước được xây dựng mạnh, đồng thời hệ thống chính trị có những đặc điểm riêng về tổ chức quyền lực và cạnh tranh chính trị.
Không nên dùng những trường hợp này để chứng minh rằng có một mô hình duy nhất phù hợp cho mọi quốc gia.
Giá trị của so sánh nằm ở chỗ nó cho thấy một điều:
Năng lực Nhà nước và giới hạn quyền lực là hai biến số có thể được thiết kế theo nhiều cách khác nhau.
Vấn đề của Việt Nam không phải là sao chép một mô hình nước ngoài.
Vấn đề là tìm ra một cấu trúc trong đó:
Nhà nước đủ mạnh để hành động;
pháp luật đủ mạnh để giới hạn Nhà nước;
xã hội đủ mạnh để giám sát Nhà nước;
và người dân đủ năng lực để tham gia vào đời sống công.
Đó mới là câu hỏi Hưng Quốc.
XIII. BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Đọc Bông trong bối cảnh lịch sử của ông, chúng ta có thể thấy một sợi chỉ xuyên suốt:
Không thể xây dựng quốc gia chỉ bằng văn bản pháp luật.
Nhưng cũng không thể xây dựng một Nhà nước hiện đại mà thiếu một trật tự pháp lý căn bản.
Pháp luật cần Nhà nước để được thực thi.
Nhà nước cần pháp luật để quyền lực không trở thành tùy tiện.
Xã hội cần quyền để có thể tham gia và giám sát.
Nhà nước cần xã hội để có thông tin, năng lực và tính chính danh.
Vì vậy, một trật tự quốc gia bền vững phải tạo ra sự tương hỗ giữa bốn yếu tố:
Nhà nước có năng lực.
Pháp luật có hiệu lực.
Xã hội có năng lực tham gia.
Cá nhân có quyền được bảo vệ.
Đây cũng là điểm mà Hưng Quốc Học mở rộng câu hỏi của Bông.
Bông tập trung nhiều vào tổ chức quyền lực, hiến pháp, dân chủ và đời sống chính trị.
Hưng Quốc Học đặt thêm câu hỏi:
Một Nhà nước bị giới hạn nhưng có đủ năng lực để phát triển đất nước hay chưa?
Bởi vì kiểm soát quyền lực chỉ giải quyết một nửa bài toán.
Nửa còn lại là:
Nhà nước có làm được những điều mà quốc gia cần hay không?
XIV. QUY LUẬT CỦA HỒ SƠ 02
Từ bối cảnh lịch sử và phương pháp của Nguyễn Văn Bông, có thể rút ra một quy luật có giá trị cho toàn bộ công trình:
Không được đồng nhất văn bản với thực tại; không được tách thể chế khỏi lịch sử; và không được tách năng lực Nhà nước khỏi giới hạn quyền lực.
Một hiến pháp phải được đọc trong lịch sử tạo ra nó.
Một Nhà nước phải được đánh giá không chỉ bằng quyền hạn được trao mà bằng cách quyền lực được sử dụng.
Một quyền phải được đánh giá không chỉ bằng việc nó được ghi nhận mà còn bằng khả năng thực hiện và bảo vệ nó.
Một thiết chế phải được đánh giá không chỉ bằng tên gọi mà bằng chức năng thực tế.
Và một quốc gia không thể chỉ hỏi:
“Ai có quyền?”
mà phải hỏi thêm:
“Quyền ấy bị giới hạn bởi ai, bằng cơ chế nào, và phục vụ năng lực phát triển nào của quốc gia?”
Đó là bước chuyển từ nghiên cứu Nhà nước sang tư duy kiến tạo quốc gia.
XV. KẾT LUẬN
Nguyễn Văn Bông thuộc về một thời đại đặc biệt.
Ông sống trong một Việt Nam mà câu hỏi về quốc gia chưa tách khỏi câu hỏi về chiến tranh; câu hỏi về dân chủ chưa tách khỏi câu hỏi về ý thức hệ; câu hỏi về hiến pháp chưa tách khỏi câu hỏi về quyền lực thực tế.
Nhưng chính vì thế, tư tưởng của ông vẫn còn một giá trị phương pháp quan trọng.
Ông buộc người đọc phải nhìn hai mặt của đời sống chính trị:
văn bản và thực tế;
luật pháp và quyền lực;
thiết chế và con người;
quyền lực và giới hạn quyền lực.
Không nên biến Bông thành một nhà tư tưởng của thế kỷ XXI.
Nhưng cũng không nên đóng khung ông trong năm tháng ông đã sống.
Điều đáng giữ lại nhất không phải là mọi câu trả lời của ông.
Đó là những câu hỏi ông đã đặt ra.
Và trong số đó có một câu hỏi vẫn còn nguyên giá trị:
Làm thế nào để tổ chức quyền lực đủ mạnh để xây dựng quốc gia, nhưng đủ bị giới hạn để không trở thành mối đe dọa đối với chính những con người mà Nhà nước tồn tại để phục vụ?
Hưng Quốc Học đi tiếp từ câu hỏi ấy.
Không phải bằng cách phủ nhận Nhà nước.
Cũng không phải bằng cách tuyệt đối hóa Nhà nước.
Mà bằng cách tìm kiếm một cấu trúc trong đó năng lực quốc gia và giới hạn quyền lực củng cố lẫn nhau.
Bởi một Nhà nước không có năng lực thì không thể bảo vệ được những quyền mà hiến pháp tuyên bố.
Nhưng một Nhà nước không bị giới hạn thì chính năng lực của nó có thể trở thành nguồn nguy cơ đối với những quyền ấy.
Do đó, mệnh đề khóa của Hồ sơ 02 là:
Một quốc gia không chỉ cần một Nhà nước có quyền lực; quốc gia cần một Nhà nước mà quyền lực được tổ chức, giới hạn và kiểm soát trong một trật tự hiến định. Nhưng để Hưng Quốc, chỉ kiểm soát quyền lực vẫn chưa đủ: Nhà nước còn phải có năng lực hành động để bảo vệ con người, phát triển đất nước và bảo vệ tương lai của quốc gia.
Đó là nơi cuộc đối thoại với Nguyễn Văn Bông bắt đầu đi từ lịch sử sang tư tưởng.
Và cũng là nơi Hồ sơ 03 có thể tiếp tục một câu hỏi sâu hơn:
Bông đã tư duy về chính trị bằng phương pháp nào?
Hoàng phong nhã
HỒ SƠ NGHIÊN CỨU – NGUỒN CỦA HỒ SƠ 02
B1 – Nguyên tác Nguyễn Văn Bông
Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học, Sài Gòn, 1969, in lần thứ hai.
Đây là nguồn trung tâm. Bản điện tử hiện có cho phép đối chiếu nhiều phần của nguyên tác, trong đó Bông nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu đồng thời luật hiến pháp và đời sống chính trị.
Đặc biệt cần sử dụng các phần:
phần mở đầu về quan hệ giữa luật hiến pháp và chính trị học;
phần về hiến pháp;
phần về dân chủ, hợp pháp và chính đáng;
phần về tham gia chính trị;
phần về Việt Nam;
phần nhận xét về Hiến pháp 1956;
các phụ bản về Hiến pháp 1956 và 1967.
B2 – Tư liệu về Nguyễn Văn Bông
“Vấn đề Đối lập trong Chánh thể Dân chủ”, 1963.
Đây là tư liệu trực tiếp quan trọng để nghiên cứu quan niệm của Bông về đối lập chính trị, tự do chính trị và chức năng kiểm soát chính quyền. Các tư liệu lưu lại bài diễn văn cho thấy Bông đặt đối lập trong quan hệ với bản chất của chính thể dân chủ.
S1 – Văn bản pháp lý và lịch sử nguyên cấp
Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Genève, 20-7-1954.
Văn bản xác lập giới tuyến quân sự tạm thời, không phải biên giới chính trị hay lãnh thổ.
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève, 21-7-1954.
Văn bản khẳng định tính tạm thời của giới tuyến và đề cập việc giải quyết vấn đề chính trị Việt Nam trên cơ sở độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và tổng tuyển cử.
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956.
Cần đọc trực tiếp, đồng thời đối chiếu với phần phân tích của Bông thay vì chỉ sử dụng một nguồn thứ cấp. Bản điện tử trong Luật Hiến pháp và Chính trị học có phụ bản về Hiến pháp ngày 26-10-1956.
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967.
Cần phân biệt hoàn toàn giữa văn bản Hiến pháp và nhận xét của Bông về văn bản ấy. Bản được đưa vào phụ bản trong Luật Hiến pháp và Chính trị học ghi ngày 18-3-1967.
S2 – Nghiên cứu thứ cấp
Các nghiên cứu lịch sử và chính trị về Việt Nam 1954–1975 được dùng để kiểm chứng bối cảnh, không dùng để thay thế nguyên tác của Bông.
Nguyên tắc của hồ sơ là:
Một nhận định về Bông phải được kiểm tra bằng B1/B2; một nhận định về thể chế phải được kiểm tra bằng S1; một diễn giải lịch sử rộng phải được đối chiếu thêm S2.
HQ – Hưng Quốc Học
Các khái niệm sau là phát triển của Hưng Quốc Học, không được gán cho Nguyễn Văn Bông:
Nhà nước mạnh về năng lực nhưng bị giới hạn về quyền lực;
năng lực Nhà nước;
năng lực quốc gia;
năng lực tự hiệu chỉnh;
chủ quyền năng lực;
Dân Chí, Quốc Trí, Quốc Đức, Quốc Tài, Quốc Khí như hệ thống khái niệm của Hưng Quốc Học.


11:57 PM
Hoàng Phong Nhã