Showing posts with label LTM - Phap luat ve canh tranh. Show all posts
Showing posts with label LTM - Phap luat ve canh tranh. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

NGUYỄN THANH PHONG
1. Đánh giá năng lực cạnh tranh?
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế VN từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phù hợp và thống nhất. Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủ VN tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài (NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng trong nước. Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVN trong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết. 
  “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định  năng lực cạnh tranh của NHTM.
2. Thực trạng năng lực cạnh tranh
Với những nỗ lực trong thời gian qua năng lực cạnh tranh của NHTMVN đã có bước cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đủ mạnh để cạnh tranh bình đẳng với các NHNNg, cụ thể:
- Quy mô vốn chủ sở hữu:
Quy mô vốn chủ sở hữu của NHTMVN hiện nay còn rất thấp. NHTMNN là nhóm ngân hàng có quy mô vốn tương đối cao trong toàn hệ thống nhưng vẫn còn ở mức khiêm tốn gần 80 triệu USD, thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bàng 1: Quy mô vốn điều lệ của các NHTMNN  năm 2008 (Đơn vị tính : tỷ VND, triệu USD); (tỷ giá quy đổi USD/VND = 17.600)
Ngân hàng   
Vốn điều lệ (VND)   
(USD)
NH Nông nghiệp và PTNT VN   
10.500 
596
NH Công thương VN 
13.550   
770
NH Đầu tư và Phát triển VN  
7.700  
437
NH Phát triển nhà ĐBSCL   
850   
48
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của NHTM
Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), đã có sự gia tăng đáng kể về quy mô vốn trong thời gian qua, nhưng đến nay chỉ có khoảng 8 NHTMCP có mức vốn trên 3.000 tỷ VND, số còn lại dưới 3.000 tỷ VND, có một số ngân hàng chỉ đạt được mức 1.000 tỷ VND.
Bảng 2: Quy mô vốn điều lệ của  một số NHTMCP  tháng 3/2009 (Đơn vị tính : tỷ VND, triệu USD); (tỷ giá quy đổi USD/VND = 17.600)
STT  
Ngân hàng   
Vốn điều lệ
VND
USD

Nhóm 1 (VĐL trên 3.000)  


1
NHTMCP Ngoại thương 
12.100   
688
2
NHTMCP Xuất nhập khẩu VN    
7.200
409
3
NHTMCP Á châu   
6.536  
371
4
NHTMCP  Sài Gòn Thương tín   
5.116   
291
5
NHTMCP Đông Nam Á  
4.068 
231
6
NHTMCP Quân đội    
3.400  
193
7
NHTMCP Sài Gòn   
3.299   
187
8
NHTMCP Kỹ thương 
3.642  
207

Nhóm 2 (VĐL trên 2.000)   


1
NHTMCP Đông Á   
2.880
164
2
NHTMCP An Bình
2.705 
154

Nhóm 3 (VĐL từ 1.000 trở lên) 


1
NHTMCP Việt Á   
1.359  
77
2
NHTMCP Nam Việt 
1.000
57
(Nguồn tổng hợp báo cáo  NHTM)
    Qua số số liệu trên cho thấy vốn của NHTMVN hiện nay vẫn còn cách biệt rất lớn so với mức vốn của một ngân hàng, một tập đoàn tài chính ở mức trung bình của nước ngoài.
Bảng 3: Quy mô vốn của một số NHNNg  năm 2006 (Đơn vị tính:  triệu USD)
Ngân hàng
Vốn chủ sở hữu
Citigroup   
112.537
JP Morgan Chase
107.211
HSBC   
98.226
Mitsubishi UFJ Financial Group
83.281
BNP Paribas
56.610
Mizuho Finacial Group
52.243
- Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR):
Hệ số an toàn vốn của NHTMVN trong thời gian qua được cải thiện đáng kể, nhưng hiện nay vẫn còn một số ngân hàng có CAR dưới 8%. Trước tháng 6 năm 2004, CAR của hệ thống NHTMVN rất thấp, CAR trung bình của NHTMNN  là 3,05%. Từ năm 2005 trở đi, quy mô vốn của các NHTMVN tăng lên, CAR của ngân hàng cũng tăng theo.
Bảng 4: CAR của một số ngân hàng giai đoạn (2005- 2008) (Đơn vị tính : %)
Ngân hàng   
2005 
2006   
2007
2008 = Giá trị  ước tính
NH NNo và PTNT VN
0,41   
4,97
7,2
< 8
NH Đầu tư và Phát triển VN
3,36
5,50
6,67
> 8
NH Ngoại thương VN
9,57
12,28
12,25
> 12
NH Công thương VN
6,07 
5,18
-
> 10.9
NH Á châu
12,1
10,89
16,19
-
NH Sài Gòn Thương tín
15,4
11,82
11,07
-
NH Đông Á
8,94
13,57 
14,36
-
        (Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các NHTM, BVSC)
Theo báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tỷ lệ an toàn vốn bình quân của hệ thống ngân hàng VN  đến cuối năm 2008 ở mức  9,7% so với 2007 là 8,9% . Nhưng so với hệ thống ngân hàng của một số quốc gia trong khu vực châu Á, CAR của NHTMVN vẫn còn thấp. CAR năm 2007, khu vực châu Á Thái Bình Dương là 13,1%, khu vực Đông Á là 12,3%.
Trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, các NHTMVN, đặc biệt là đối với các NHTMNN phải tiếp tục nâng cao CAR  để đạt được mức tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế là 8%
- Chất lượng tài sản có:
Chất lượng tài sản có của NHTMVN hiện nay là đang thay đổi theo chiều hướng tốt, tỷ lệ nợ xấu (nợ thuộc nhóm 3,4,5) có khuynh hướng giảm đi.
Chỉ tiêu 
2003
2004
2005 
2006
2007
Tỷ lệ (Nợ xấu / tổng dư nợ)
4,74 % 
2,85 %
2,98 %
2,48 %
1,38 %
  (Nguồn : Tổng hợp báo cáo thường niên của NHNN và BHTGVN)
Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết ngành của NHNN, đến cuối năm 2008, khi áp dụng phân loại nợ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, tỷ  lệ nợ xấu của toàn hệ thống có khuynh hướng tăng lên  đến  3,5%  nhưng vẫn còn thấp hơn mức cho phép theo tiêu chuẩn quốc tế 5%, trong khi đó tỷ lệ nợ xấu của Trung Quốc năm 2007 đang ở mức 6,17%. Đây là một dấu hiệu rất khả quan, tuy nhiên vấn đề quan tâm hiện nay là vẫn còn một số ngân hàng áp dụng  493/2005/QĐ-NHNN chưa triệt để, nên chưa phản ánh đầy đủ tình hình nợ xấu thực tế của toàn hệ thống.
- Năng lực công nghệ:
    Hiện nay, các NHTM rất quan tâm đến việc đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nhưng vẫn còn nhiều bất cập: Quy mô vốn của NHTM nhỏ; chi phí đầu tư hiện đại hóa công nghệ cao; khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của nhân viên ngân hàng còn hạn chế nên dẫn đến lãng phí,  khai thác không hết tính năng của công nghệ mới.
    Điển hình là hệ thống giao dịch tự động – ATM, sau một thời gian triển khai thực hiện vẫn chưa hết những bất cập, chưa có sự kết nối trong toàn hệ thống ngân hàng để có thể giảm chi phí đầu tư và đảm bảo  hiệu quả giao dịch cho khách hàng. Việc NHNN công bố chính thức kết nối hai liên minh thẻ lớn ở VN là Smartlink và Banknetvn, mở đường cho việc hình thành một mạng thanh toán điện tử thống nhất trên toàn quốc nhưng cũng chỉ mới dừng ở kết nối công nghệ nên việc cung ứng dịch vụ ngân hàng vẫn chưa đạt  hiệu quả cao hơn. 
    Việc triển khai hệ thống Core banking tại các NHTMVN được xem là điểm nhấn cho đầu tư công nghệ, nhưng khi triển khai thực hiện thì vẫn chưa có sự đồng bộ trong toàn hệ thống. Hiện nay đã có 44 NHTM trong nước triển khai  Core banking, nhưng có quá nhiều phần mềm được sử dụng như : Siba; Bank 2000; SmartBank; Symbol System; Teminos; Iflex; Huyndai; Sylverlake; TCBS (the complex banking solution – giải pháp ngân hàng phức hợp),  quy mô đầu tư lại khác nhau giữa các ngân hàng nên sự liên kết với nhau còn hạn chế. 
- Nguồn nhân lực:
    Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chưa đồng đều. Trong thời gian qua có những thời điểm nhu cầu nguồn nhân lực ngân hàng gia tăng đột biến, hình thành sự chuyển dịch lao động bất hợp lý, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng. Theo báo cáo của NHNN, đội ngũ nhân viên ngân hàng được đào tạo ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ chiếm chưa đầy 10%, trình độ đại học chiếm khoảng 61%, kỹ năng nghề nghiệp vẫn còn hạn chế, khả năng tiếp cận và xử lý công việc theo nhóm còn gặp nhiều khó khăn.
    Mặc khác, chính sách đãi ngộ và thu hút nguồn nhân lực cũng chưa được các ngân hàng quan tâm đúng mức, phát sinh tình trạng chảy máu chất xám trong lĩnh vực ngân hàng.
3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ nhất, tiếp tục tăng cường năng lực tài chính theo hướng tăng quy mô vốn điều lệ, đảm bảo mức an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao chất lượng tài sản có.
    Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ, mức vốn pháp định của tất cả các NHTM đến năm 2010 là 3.000 tỷ VND, CAR tối thiểu là  8%,  tỷ lệ nợ xấu dưới 5%.
- Đối với NHTMNN:
    -  Xác định  một tỷ lệ hợp lý lợi nhuận ròng được sử dụng hằng năm để tăng vốn điều lệ trong giai đoạn sắp tới. Theo Nghị định 166/1999/NĐ – CP, NHTM được trích 5% từ  nhuận ròng hằng năm nhưng không quá 100% vốn điều lệ của ngân hàng cho quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. So với nhu cầu tăng vốn hiện tại thì tỷ lệ này còn thấp, do đó việc cần tăng tỷ lệ này từ 5% lên 10%  là  rất cần thiết đối với các NHTM.
    – Xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng, kiểm tra và điều chỉnh các khoản mục tài sản không sinh lợi để nâng cao chất lượng tài sản có của NHTM. Mỗi ngân hàng phải đầu tư một hệ thống cảnh báo rủi ro, phải thành lập một công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, để cảnh báo kịp thời rủi ro phát sinh và xử lý triệt để các khoản nợ tồn đọng.
- Đối với NHTMCP:
    – Phải lựa chọn thời điểm và phương thức hợp lý để tăng vốn. NHTMCP có thể tăng vốn dưới hình thức chủ yếu là phát hành thêm cổ phiếu. Trong điều kiện hiện nay, phát hành thêm cổ phiếu quả là một bài toán rất khó cho các NHTMCP, trước mắt NHTMCP chỉ nên phát hành cổ phiếu để huy động từ cổ đông hiện hữu.
- Xây dựng và đề xuất với NHNN một tỷ lệ sở hữu cổ phiếu hợp lý của công đông chiến lược  và cổ đông nước ngoài. Với tỷ lệ 30% cho c đông nước ngoài như hiện nay vẫn còn là một tỷ lệ khiêm tốn. Tỷ lệ này có thể cao hơn nhưng vẫn kiểm soát được sự chi phối của cổ đông nước ngoài. Nếu tỷ lệ này được tăng lên sẽ giúp cho NHTMCP tranh thủ được một nguồn lực rất lớn cho việc gia tăng quy mô vốn của mình trong điều kiện cần thiết hiện nay.
    – Sáp nhập các ngân hàng, hoặc mua lại các ngân hàng nhỏ để hình thành nên một ngân hàng có tiềm lực tài chính lớn hơn, hình thành nên một tập đoàn tài chính đa năng cũng là một giải pháp rất hiệu quả cho các NHTMCP hiện nay
Thứ hai, chú trọng chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao chất lượng.
- NHTM phải có chiến lược đúng đắn cho nguồn nhân lực trong tương lai bằng cách đẩy mạnh hơn nữa chương trình liên kết, tài trợ tại các trường đại học và trung tâm đào tạo.
    – Phải có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với người lao động, tạo môi trường thuận lợi để người lao động phát huy hết năng lực của mình, phải biết tôn trọng tài năng của người lao động.
    – Phải xây dựng các dự án bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên định kỳ để nâng cao tính chuyên nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ mới.
Thứ ba, tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiện đại, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi nhất trong giao dịch cung ứng dịch vụ cho khách hàng:
    – NHTM phải tích cực hơn nữa trong việc đầu tư đổi mới công nghệ phù hợp chiến lược hiện đại hóa đối với ngành ngân hàng trong thời gian tới, chú trọng hơn nữa tính hiệu quả trong việc triển khai hệ thống ngân hàng lõi – Core banking
    – Bồi dưỡng nâng cao trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên, để nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ hiện đại.
Thứ tư, tăng cường năng lực quản trị điều hành theo tiêu chuẩn quốc tế.
    – Các NHTM cần phải chuẩn hóa mô hình tổ chức theo mô hình thông lệ quốc tế, mô hình tổ chức tập trung hướng tới khách hàng, theo đó Hội sở chính tập trung quản lý và xử lý tác nghiệp kinh doanh của ngân hàng, các chi nhánh tập trung vào việc bán các sản phẩm cho khách hàng và thực hiện chính sách chăm sóc khách hàng.
    – Đổi mới cơ cấu quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế: nhất quán hệ thống chính sách, tập trung quản trị rủi ro, phân chia trách nhiệm cụ thể và thù lao tương xứng.
Tài liệu tham khảo:
1.   PGS.TS. Trần Huy Hoàng (2008), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao động – Xã hội.
2.   Ban công tác về việc gia nhập WTO của VN, Biểu cam kết cụ  thể về dịch vụ, Báo cáo ngày 27/10/2006
3.   Dự án hỗ trợ thương mại đa biên – Multilaterral Trade Assistance Project, VN gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – Giải thích các điều kiện gia nhập.
4.   NHNN, Báo cáo thường niên qua các năm.
5.   NHTM, Báo cáo thường niên qua các năm.
6.   Quyết định 112/2006/QĐ-TTg, ngày 24/05/2006, Đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 223, THÁNG 5 NĂM 2009

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH CẠNH TRANH TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM

THANH HƯƠNG (Tổng hợp)
Bài viết này sử dụng mô hình của Michael Porter (Năm lực lượng của Porter – Porter’s 5 forces) để nhìn vào thị trường ngân hàng Việt Nam và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp với nguồn lực của các ngân hàng.
Nguy cơ từ các ngân hàng mới
Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm. Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng ViệtNam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.
Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008.
Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.
Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008. Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại.
Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được. Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam.
Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không. Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ.
Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối. Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất. Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM.
Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp. Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn.
Nguy cơ bị thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:
• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
• Là nơi cho vay tiền
• Là nơi hoạt động kiều hối
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.
Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng. Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm.
Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán. Chính sự bất tiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng.
Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó là chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi”. Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng. Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm.
Quyền lực của khách hàng
Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận. Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.
Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác.
Quyền lực của các nhà cung cấp
Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.
Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân hàng khác. Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.
Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*). Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.
Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ. Họ đã phục vụ những khách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo.
Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản. Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể. Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking).
Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân hàng trong nước đã trang bị  hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự… khá quy mô. Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với khách hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với những khách hàng quan trọng của họ.
Triển vọng trong ngành ngân hàng
Hiện nay Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng nhưng chưa có một ngân hàng thực sự mạnh tầm cỡ quốc tế. Nhìn chung, các ngân hàng đã đua nhau mở rộng quy mô mạng lưới để huy động nhiều vốn (phát triển theo chiều rộng). Việc này dẫn đến tình trạng các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt với nhau trong hoạt động tín dụng mà quên mất các sản phẩm và dịch vụ tiện ích kèm theo (chiều sâu). Đồng thời, các ngân hàng mở rộng quy mô nhưng do thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cho nên công tác quản trị lại không theo kịp quy mô phát triển.
Khủng hoảng kinh tế cũng mang lại rất nhiều khó khăn cho ngành ngân hàng, một số ngân hàng đã không thể duy trì được mức tăng trưởng trong năm vừa qua. Đây chính là cơ sở để nhiều chuyên gia về sáp nhập (M&A) đưa ra nhận định rằng xu hướng sáp nhập trong ngành ngân hàng đang đến gần.
Tuy nhiên, ngành ngân hàng là một trong những ngành nghề nhạy cảm, do vậy việc sáp nhập chỉ có thể xảy ra trong vòng một, hai năm nữa khi ngành ngân hàng đã được mở nhiều cửa hơn theo cam kết với WTO.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG

Sunday, December 29, 2013

BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH

Khái niệm
Bán hàng đa cấp được hiểu là một phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
- Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
- Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.
Doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
- Thứ nhất, yêu cầu người muốn tham gia mạng phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Thứ hai, không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
- Thứ ba, cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Thứ tư, cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.
Hình thức xử lý
Doanh nghiệp bán hàng đa cấp sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng nếu thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Yêu cầu người muốn tham gia phải trả một khoản tiền hoặc trả bất kỳ một khoản phí nào dưới hình thức khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.
Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể thu tiền đối với những loại tài liệu mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải cung cấp cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp (sau đây gọi là Nghị định số 110);
- Không cam kết cho người tham gia trả lại hàng hoá và nhận lại Khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 110.
- Cản trở người tham gia trả lại hàng hoá phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để dụ dỗ người tham gia bán hàng đa cấp;
- Cung cấp thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để dụ dỗ người tham gia bán hàng đa cấp.
Doanh nghiệp bán hàng đa cấp sẽ bị phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm nêu trên trong trường hợp quy mô hoạt động bán hàng đa cấp diễn ra trong phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
- Buộc cải chính công khai.

CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN

Khái niệm
Theo Luật Cạnh tranh 2004, chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh. Luật Cạnh tranh cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn.
Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.́ Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó.
Hình thức xử lý
Theo quy định của Điều 30 Nghị định số 120, doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong các trường hợp sau:
- Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình và của doanh nghiệp khác nhằm mục đích cạnh tranh;
- Kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn nói trên.
Doanh nghiệp vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng:
- Hàng hoá, dịch vụ liên quan là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ;
- Hàng hoá, dịch vụ liên quan được lưu thông, cung ứng trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
Ngoài việc bị phạt tiền nêu trên, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục là:
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
- Buộc cải chính công khai.

BÁN PHÁ GIÁ

Bán phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một hàng hoá với giá thấp hơn giá bán thông thường trên thị trường nội địa của mình. Nếu hành động bán phá giá này gây thiệt hại đáng kể cho các nhà sản xuất của nước nhập khẩu thì cơ quan chức năng của nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá để bù đắp cho những thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra.
Bán phá giá được định nghĩa trong Khoản 1, Điều VI của GATT 1994: “… bán phá giá là cách hàng hóa của một nước được đưa vào thị trường của nước khác với mức giá thấp hơn giá thị thông thường của hàng hóa, …”
Điều 2.1 Hiệp định Chống bán phá giá (ADA) của WTO:
“…một hàng hóa được coi là bị bán phá giá, có nghĩa là được đưa vào thị trường của nước khác ở mức thấp hơn giá trị thông thường, nếu giá xuất khẩu của một hàng hóa được xuất khẩu từ một nước sang một nước khác thấp hơn giá có thể so sánh được, trong điều kiện thương mại thông thường, là giá của hàng hóa tương tự được bán để tiêu dùng tại nước xuất khẩu đó.”
Điều 3.1 Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (Pháp lệnh chống bán phá giá):
“Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá trị thông thường…”
Tóm lại, bán phá giá được xác định bằng cách so sánh “giá xuất khẩu” với “giá thông thường’. Bán phá giá xảy ra khi “giá xuất khẩu” thấp hơn “giá thông thường”. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình xác định liệu một nhà xuất khẩu có bán phá giá đến mức gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước tại thị trường nhập khẩu hay không phức tạp hơn nhiều so với việc so sánh giá một cách đơn giản. Để áp dụng được biện pháp chống bán phá giá, Cơ quan điều tra phải trải qua một cuộc điều tra kỹ lưỡng và phải chứng minh được đủ ba điều kiện:

§ Có bán phá giá và biên độ bán phá giá cụ thể (“xác định bán phá giá”)

§ Ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu bị thiệt hại một cách đáng kể hoặc bị đe dọa gây thiệt hại một cách đáng kể hoặc việc bán phá giá gây khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước (“xác định thiệt hại”)

§ Thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu xảy ra hoặc bị đe dọa xảy ra là do hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra (“xác định mối quan hệ nhân quả”)

Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá

Theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá 20/PL-UBTVQH11, một vụ việc điều tra và xử lý chống bán phá giá có thể được tiến hành qua bốn giai đoạn:
>>> Giai đoạn 1: Thẩm định hồ sơ và ra quyết định điều tra
>>> Giai đoạn 2: Điều tra sơ bộ và ra kết luận điều tra sơ bộ
>>> Giai đoạn 3: Điều tra cuối cùng và ra kết luận cuối cùng
>>> Giai đoạn 4: Áp dụng biện pháp chống bán phá giá và tiến hành rà soát


Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá

Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Khi cho rằng lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài, các cá nhân, tổ chức Việt Nam có thể nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá lên Cục Quản lý cạnh tranh. Hồ sơ bao gồm:

§ Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (Nội dung đơn được quy định chi tiết tại Điều 18 của Nghị định 90/2005/NĐ-CP)

§ Các tài liệu, thông tin liên quan khác mà tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá cho là cần thiết

Vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá do Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá tiến hành. Thời hạn và thủ tục chi tiết của từng giai đoạn được quy định cụ thể trong Pháp lệnh chống bán phá giá và Nghị định 90/2005/NĐ-CP.

Tuesday, October 22, 2013

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI DO HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH GÂY RA

ĐỖ VĂN ĐẠI
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước luôn phải đối mặt với các hoạt động cạnh tranh, trong đó có cả cạnh tranh không lành mạnh. Qua một số ví dụ giả thiết, bài viết phân tích những hạn chế trong pháp luật về xử lý xung đột pháp luật trong các tranh chấp về bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài do cạnh tranh không lành mạnh và đưa ra kiến nghị sửa đổi Khoản 4, Điều 835 Bộ luật Dân sự.
Xung đột pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có yếu tố nước ngoài
Toà án Việt Nam có thể được yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài do hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) gây ra trong hai hoàn cảnh:
1. Hành vi CTKLM thực hiện trên thị trường Việt Nam
1.1. Trường hợp bên thực hiện hành vi CTKLM là tổ chức, cá nhân nước ngoài và bên bị thiệt hại là tổ chức, cá nhân Việt Nam
Ví dụ thứ nhất: Để có thêm khách hàng, một doanh nghiệp Đài Loan đã thực hiện chương trình quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng Việt Nam. Nhưng theo một doanh nghiệp Việt Nam X., chương trình quảng cáo đó đã gây ra tổn thất đến doanh nghiệp của mình, đây là hành vi CTKLM. Doanh nghiệp X. yêu cầu Toà án buộc doanh nghiệp Đài Loan phải bồi thường thiệt hại. Toà án sẽ giải quyết tranh chấp theo pháp luật Đài Loan hay pháp luật Việt Nam?
1.2 Trường hợp bên thực hiện hành vi là doanh nghiệp Việt Nam và bên bị thiệt hại là doanh nghiệp nước ngoài

Ví dụ thứ hai: Để có thêm khách hàng, một doanh nghiệp Việt Nam Y. đã thực hiện một số biện pháp cạnh tranh. Doanh nghiệp Hàn Quốc H. hiện cũng đang tham gia trên thị trường Việt Nam cho rằng các biện pháp của doanh nghiệp Y. là hành vi CTKLM và đã gây thiệt hại cho họ. Doanh nghiệp Hàn Quốc H. kiện ra Toà án nước ta yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này, Toà án sẽ áp dụng pháp luật Hàn Quốc hay pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp này?
2. Hành vi CTKLM thực hiện ngoài thị trường Việt Nam
2.1 Trường hợp một bên là doanh nghiệp Việt Nam
Ví dụ thứ ba: Doanh nghiệp A. (Việt Nam) và doanh nghiệp T. (Trung Quốc) cùng cạnh tranh trên thị trường Lào. Để có thêm khách hàng trên thị trường Lào, doanh nghiệp A đã thực hiện một số hành vi cạnh tranh mà doanh nghiệp T. cho là không lành mạnh. Nhằm được bồi thường những thiệt hại, bên T. cho là bên A gây ra, bên T. khởi kiện bên A trước Toà án Việt Nam. Muốn giải quyết tranh chấp, cần xác định xem các hành vi cạnh tranh trên có phải là CTKLM theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc hay pháp luật Lào?
2.2 Trường hợp cả hai bên là doanh nghiệp Việt Nam.
Ví dụ thứ tư: doanh nghiệp A. và doanh nghiệp B. cùng cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Để có thêm khách hàng trên thị trường Mỹ, doanh nghiệp A đã sử dụng một số biện pháp cạnh tranh mà doanh nghiệp B cho là không lành mạnh. Nhằm được bồi thường thiệt hại mà bên B cho là bên A gây ra do những hành vi cạnh tranh trên, bên B khởi kiện bên A trước Toà án Việt Nam. Vậy pháp luật Việt Nam hay pháp luật Mỹ sẽ điều chỉnh tranh chấp trên? Việc giải quyết xung đột pháp luật này là cần thiết vì mức độ bồi thường thiệt hại theo pháp luật Mỹ là tương đối cao, có thể gấp ba lần thiệt hại thực tế, trong khi đó, mức độ bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam có thể thấp hơn nhiều.
Giải quyết xung đột
1. Pháp luật nước ta về CTKLM có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 1, Điều 2 của Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004, Luật này quy định về “…hành vi cạnh tranh không lành mạnh…” đối với doanh nghiệp “hoạt động ở Việt Nam” ngay cả đối với doanh nghiệp “nước ngoài”. Như thế, chỉ giới hạn việc xác định pháp luật điều chỉnh CTKLM “ở Việt Nam”. Tức là, khi hành vi cạnh tranh ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam thì pháp luật về cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh nhưng chúng ta không biết pháp luật nước nào sẽ điều chỉnh tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra ở nước ngoài khi có ít nhất một bên là Việt Nam?
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do vậy, chúng ta có thể sử dụng những quy phạm xung đột pháp luật được quy định trong BLDS Việt Nam. Có thể áp dụng cho ví dụ thứ nhất về hành vi gây thiệt hại và nơi phát sinh hậu quả thực tế xảy ra ở Việt Nam vì bên bị thiệt hại ở Việt Nam theo Khoản 1, Điều 835 BLDS: “việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”.
Tuy nhiênT, khi phân tích Khoản 1, Điều 835 BLDS, chúng ta thấy quy phạm này không phù hợp với việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra được nêu ở các ví dụ thứ hai, ba, tư. Khoản 1, Điều 835 BLDS là một quy phạm xung đột pháp luật phức tạp: Pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hay pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả thực tế sẽ được chọn để điều chỉnh tranh chấp, nhưng ai là người quyết định chọn một trong hai luật này? Toà án, người bị thiệt hại hay người gây thiệt hại? Trong các ví dụ nêu trên, Toà án, người thực hiện hành vi cạnh tranh hay người tự coi là bị thiệt hại có quyền chọn một trong hai luật đó? Sự phức tạp có thể tăng thêm nếu chúng ta áp dụng quy phạm xung đột này vào vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra.
Thứ nhất, việc xác định nước nơi xảy ra hành vi cạnh tranh bị một bên coi là không lành mạnh đôi khi không đơn giản. Phát triển ví dụ thứ ba, chúng ta có thể gặp hoàn cảnh là bên A Việt Nam thực hiện hành vi cạnh tranh thông qua thông tin đại chúng Lào nhưng nội dung của các hành vi lại được thiết lập và thực hiện tại Việt Nam (phim quảng cáo được dàn dựng và quay ở Việt Nam nhưng truyền tải ở Lào thông qua truyền hình Lào). Vậy, nơi xảy ra hành vi cạnh tranh bị bên T. Trung Quốc coi là không lành mạnh là Việt Nam hay Lào?
Thứ hai, nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi cạnh tranh bị một bên coi là không lành mạnh được xác định như thế nào? Trong ví dụ trên, hành vi cạnh tranh của bên A có thể làm giảm khách hàng của bên T. trên thị trường Lào, đồng thời làm giảm tổng thu nhập của bên T. ở Trung Quốc vì trụ sở của bên T. ở Trung Quốc. Vậy, nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi cạnh tranh bị bên T. coi là không lành mạnh là ở Lào hay ở Trung Quốc? Tương tự đối với ví dụ thứ hai, bên Hàn Quốc có trụ sở ở Hàn Quốc nhưng tham gia cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, vậy, nơi phát sinh hậu quả thực tế là ở Việt Nam hay ở Hàn Quốc?
Theo Khoản 3, Điều 835 BLDS, “trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam, thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nếu áp dụng quy phạm xung đột pháp luật này vào ví dụ thứ tư, chúng ta có giải pháp sau: Tranh chấp giữa bên A và bên B được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định xem các hành vi trên có phải là hành vi CTKLM hay không, và nếu có thì mức thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại phải xác định theo pháp luật Việt Nam. Giải pháp này không hợp lý vì pháp luật cạnh tranh Việt Nam được xây dựng chỉ để điều chỉnh cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Vậy, áp dụng pháp luật cạnh tranh Việt Nam vào các hành vi cạnh tranh trên thị trường Mỹ là không hợp lý. Nói một cách khác, quy phạm xung đột pháp luật ở Khoản 3, Điều 835 BLDS không phù hợp với vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra ở thị trường nước ngoài.
2. Phương hướng giải quyết xung đột pháp luật về CTKLM có yếu tố nước ngoài
Vì pháp luật cạnh tranh được xây dựng theo đặc thù của thị trường một nước và để điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, chúng ta nên thiết lập quy phạm xung đột như sau: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà thị trường bị ảnh hưởng. ở ví dụ thứ nhất và thứ hai, thị trường Việt Nam bị ảnh hưởng nên việc áp dụng pháp luật Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với Điều 1, Điều 2 Luật Cạnh tranh. Trong ví dụ thứ ba, thị trường Lào bị ảnh hưởng do hành vi cạnh tranh của bên A, vậy pháp luật Lào được chọn để xác định các hành vi đó có là hành vi CTKLM hay không; nếu đó thực sự là hành vi CTKLM thì mức thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại là bao nhiêu cũng được điều chỉnh bởi pháp luật nước này. Tương tự, trong ví dụ thứ tư, thị trường Mỹ bị ảnh hưởng nên pháp luật Mỹ được chọn để điều chỉnh tranh chấp giữa hai doanh nghiệp Việt Nam.
Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, nhiều khi thị trường không phải chỉ của một, mà của nhiều quốc gia cùng bị ảnh hưởng. Đối với trường hợp vừa nêu, giải pháp kiến nghị vẫn có thể được sử dụng. Phát triển ví dụ tranh chấp giữa doanh nghiệp A Việt Nam và doanh nghiệp T. Trung Quốc, chúng ta có thể gặp trường hợp hai doanh nghiệp này, bên cạnh thị trường Lào, cùng cạnh tranh trên thị trường Thái Lan. Hai thị trường có thể bị ảnh hưởng, thị trường Lào và thị trường Thái Lan. Khi đó, chúng ta áp dụng pháp luật Lào đối với những hành vi cạnh tranh trên thị trường Lào, đồng thời áp dụng pháp luật Thái Lan đối với những hành vi cạnh tranh trên thị trường Thái Lan. Có thể hành vi cạnh tranh của bên A không bị coi là không lành mạnh theo pháp luật Thái Lan và do vậy, không có bồi thường thiệt hại nhưng bị coi là không lành mạnh theo pháp luật Lào nên có thể có bồi thường thiệt hại. Sự khác nhau không làm ảnh hưởng đến giải pháp chọn pháp luật của nước mà thị trường bị ảnh hưởng để điều chỉnh mà còn cho thấy đây là giải pháp hợp lý: pháp luật cạnh tranh mỗi nước được xây dựng phù hợp với thị trường từng nước và để điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trên thị trường nước đó. Vậy, ngay cả khi hai hay nhiều thị trường bị ảnh hưởng, chúng ta vẫn có thể sử dụng giải pháp kiến nghị ở trên.
Như vậy, tiêu chí “thị trường bị ảnh hưởng” nên được sử dụng để chọn luật áp dụng quy phạm xung đột mới cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra. Đây cũng là giải pháp được thừa nhận ở một số nước1. Theo Điều 1222 BLDS Nga thì về nguyên tắc “pháp luật của nước có thị trường bị ảnh hưởng điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh”2. Tương tự, Điều 136 Luật về Quan hệ có yếu tố nước ngoài Thuỵ Sỹ, “những yêu cầu dựa trên cơ sở một hành vi cạnh tranh không lành mạnh được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà trên thị trường nước đó hậu quả được phát sinh”3.
Chúng ta nên luật hoá quy phạm xung đột về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra được kiến nghị ở trên nhưng luật hoá quy phạm này trong văn bản nào là vấn đề cần bàn.
Khác với pháp luật một số nước, Luật Cạnh tranh nước ta có điều chỉnh vấn đề CTKLM4. Do đó, chúng ta có thể nghĩ đến việc luật hoá giải pháp đó vào Luật Cạnh tranh. Đây là giải pháp dường như phù hợp với xu hướng chung của pháp luật nước ta hiện nay (rất nhiều văn bản chuyên ngành nước ta chứa đựng quy phạm xung đột như Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân và gia đình…)5. Song, các nhà xây dựng Luật Cạnh tranh đã không đưa quy phạm trên vào Luật.
Tham gia hội nhập, khả năng Tòa án Việt Nam phải đối mặt với các vụ kiện về cạnh tranh có yếu tố nước ngoài là hoàn toàn thực tế. Chính vì thế, việc xây dựng pháp luật phải lường trước và lập ra quy phạm để xử lý. Do Luật Cạnh tranh không có quy phạm xung đột chung điều chỉnh việc xử lý bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra, thì nên đưa quy phạm này vào một văn bản chuyên về Tư pháp quốc tế như ở Thuỵ Sỹ, Bỉ6, hay vào BLDS như ở Nga? Vấn đề này đã được đặt ra trong quá trình xây dựng BLDS7. Theo chúng tôi, trong hoàn cảnh hiện nay ở nước ta, việc đưa quy phạm trên vào một văn bản chuyên về Tư pháp quốc tế là không thực tế, vì chưa có dự thảo về lĩnh vực này. Trong nhiều năm nữa, mong muốn xây dựng quy phạm xung đột pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong một đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế mới có thể thực hiện được8.
Vì vậy, trong điều kiện sửa đổi BLDS, chúng ta nên luật hoá quy phạm này bằng cách bổ sung Khoản 4, Điều 835 BLDS với nội dung như sau: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà thị trường bị ảnh hưởng. /.
———————–
1 Về việc điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh ở một số nước, xem thêm: Hà Huy Hiệu và Bùi Nguyên Khánh, Một số khía cạnh quốc tế của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, 12/2000, tr.10 và tiếp theo.
2 Xem Tạp chí RCDIP 2002, tr. 192.
3Trong thực tế, tranh chấp về cạnh tranh có yếu tố nước ngoài thường xảy ra ở Thuỵ Sĩ (xem Paolo Michele Patochi và Elliott Geisinger, Bình luận Tư pháp quốc tế Thuỵ Sĩ, NXB Payot Lausanne 1995, tr362-363).
4 ở Pháp, Nghị định năm 1986 về cạnh tranh nay được bộ luật hoá (Bộ luật thương mại không điều chỉnh vấn đề cạnh tranh không lành mạnh mà điều chỉnh tập trung kinh tế, thống lĩnh thị trường, thoả thuận hạn chế cạnh tranh). Tương tự đối với Luật Cộng đồng châu Âu về cạnh tranh: ở đây, vấn đề cạnh tranh không lành mạnh không được đề cập đến.
5 Theo Đoàn Năng (xem Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, 11/1998, tr. 50; Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr. 225), “khi xây dựng các văn bản pháp luật mới về từng lĩnh vực chuyên ngành, phải chú ý xây dựng quy phạm xung đột ngay trong các văn bản pháp luật chuyên ngành đó”.
6 Xem Điều 99, Đ 2-2 Luật về Bộ luật Tư pháp quốc tế Bỉ ngày 16/07/2004.
7 Xem Bộ tư pháp, Tạp chí Dân chủ pháp luật, Số chuyên đề về BLDS, tháng 11-1995, tr. 17-18; tr. 240-242.
8 Về việc có nên hay không, nên xây dựng một đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế, xem thêm: Nguyễn Tiến Vinh, Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong phần VII “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của BLDSVN, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, số 5/2003, tr. 48.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 50, THÁNG 3 NĂM 2005

XỬ LÝ PHÁ SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

CIVILLAWINFOR – Bài viết này được tác giả viết năm 2003 để đóng góp vào Dự thảo Luật phá sản sửa đổi và Luật phá sản sửa đổi đã được ban hành năm 2004. Civillawinfor đăng lại để có thêm thông tin cho quí vị nghiên cứu.
PHẠM HẢI ĐĂNG – Vụ Tài chính đối ngoại Bộ Tài chính
Có thể nói rằng về cơ bản đến dự thảo 6 Luật Phá sản sửa đổi, Ban soạn thảo đã thực hiện được một sự cải cách khá toàn diện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, trong đó có nhiều qui định rất mới và hết sức thiết thực cho việc vận dụng khi xử lý các trường hợp phá sản trong tình hình quan hệ kinh tế hết sức phong phú, phức tạp do môi trường kinh doanh của chúng ta đã thay đổi rất sâu sắc trong 10 năm qua.
Tuy nhiên, cũng còn một số nội dung của Dự thảo cần được tranh luận để làm rõ và giải quyết triệt để hơn, cụ thể như sau:
1/ Về nguyên tắc của Luật: ở phần lời nói đầu Dự thảo Luật đã thể hiện một số nguyên tắc xây dựng Luật Phá sản lần này. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, cần qui định rõ trong một điều khoản các nguyên tắc chung để không những quá trình xây dựng Luật phải tuân theo mà cả các văn bản hướng dẫn sau này như Nghị định, thông tư ( Do các ban soạn thảo khác biện soạn) tuân thủ. Thí dụ: Nguyên tắc đối xử ngang bằng giữa các chủ nợ ( giữa chủ nợ trong nước và chủ nợ nước ngoài, giữa chủ nợ không có bảo đảm với nhau, giữa các chủ nợ có bảo đảm…v.v).
2/ Về đối tượng áp dụng và tên gọi của Luật Phá sản sửa đổi: Tôi cho rằng, tên gọi do Ban soạn thảo đưa ra là Luật Phá sản là một sự đổi mới thể hiện quan điểm giải quyết triệt để hơn và phạm vi áp dung của Luật rộng hơn là hợp lý. Luật Phá sản mới sẽ không chỉ giải quyết các trường hợp phá sản của pháp nhân hay doanh nghiệp mà còn mở rông ra các đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh khác không thành lập pháp nhân hoặc chưa được coi là doanh nghiệp. Về nguyên tắc những đối tượng tham gia vào hoạt động kinh doanh theo qui định của các luật hiện hành như Luật Thương mại (thương nhân) Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…là hết sức rộng rãi và những đối tượng này đều có thể lầm vào "tình trạng phá sản". Khi đã tham gia hoạt động kinh doanh mà lâm vào tình trạng phá sản thì đối tượng kinh doanh đó rất có thể mắc nhiều khoản nợ với nhiều chủ nợ. Nếu nhìn từ quan điểm bảo vệ các chủ nợ đòi nợ một cách trật tự và công bằng thì đương nhiên phải áp dụng luật phá sản đối với những đối tượng này cho dù là pháp nhân hay thể nhân, cho dù được coi là doanh nghiệp hay thương nhân. Mặt khác, Luật phá sản ra đời là để bảo đảm sự phân bố lại tài sản một cách có trật tự giữa các chủ thể tham gia hoạt động "kinh doanh" vì vậy nên chăng cần có quan điểm là Luật phá sản áp dụng như một thủ tục đòi nợ tập thể liên quan đến kinh doanh, có nghĩa là, xét theo chủ thể, liên quan đến đối tượng tham gia kinh doanh (mắc nợ). Xác định đối tượng đầy đủ hơn như vậy, theo quan điểm của tôi sẽ thuận tiện hơn trong việc sử lý phá sản dây truyền (như tại các nước Châu á trong khủng hoảng năm 1997. Những đối tượng, như doanh nghiệp tư nhân, thành viên công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể, do trách nhiệm là vô hạn cũng cần thiết phải tuyên bố miễn trách nhiệm cho họ sau khi đã thực hiện thủ tục thanh toán xong và Toà án Tuyên bố phá sản. Lý do là: Quan điểm trách nhiệm vô hạn nên được hiểu về mặt tài sản tại thời điểm giải quyết phá sản, là toàn bộ tài sản của nhứng đối tượng này, không phân biệt tài sản đưa vào kinh doanh với tài sản không đưa vào kinh doanh phải được đem ra xử lý ( cần xác định rõ là mọi tài sản thuộc sở hữu của họ tại thời điểm giải quyết phá sản) chứ không nên hiểu là vô hạn về mặt thời gian, nghĩa là theo suốt cuộc đời họ. Với quan điểm như vậy, nhiều năm sau đối tượng đó còn có cơ hội quay lại gây dựng sự nghiệp và tham gia môi trường kinh doanh. Đạo lý Luật Phá sản còn bảo vệ cả con nợ là ở chỗ này.

4/ Về dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, quyền nộp đơn và mở thủ tục phá sản tại toà án: Điều 3 Dự thảo qui định hai dấu hiệu, trong đó dấu hiệu kinh doanh thua lỗ cũng cần có sự tranh luận. ở một số nước. Việc xác định một doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ hay không thua lỗ thường căn cứ vào Bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp, tuy nhiên nhiều trường hợp doanh nghiệp thực chất đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán – tình trạng phá sản thực tế nhưng trên bảng cân đối tài sản vẫn không thể hiện được điều đó. Trong tình huống này người ta phải căn cứ vào dòng tiền (cashflow) và để xác định là doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán hay không đối với các khoản nợ đến hạn. Nhiều nước, trong đó có Trung Quốc đã chuyển sang lấy tiêu chi cashflow để xác định một doanh nghiệp là lâm vào tình trạng phá sản hay không. Đương nhiên báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập có thể được xem là căn cứ (theo quan điểm cashflow thì cần xem báo cáo lưu chuyển tiền tệ). Luật cũng có thể xem xét việc qui định kết hợp cả hai yếu tố này (xuất hiện một trong hai yếu tố).
Ngoài ra, đề nghi Ban soạn thảo cân nhắc việc qui đinh thủ tục công nhận giải quyết tự nguyện ngoài toà án. Luật phá sản của nhiều nước trên thế giới có qui định tạo điều kiện cho việc xử lý nợ ngoài toà án ( out of court hay work-out). Điều này rất có ý nghĩa đối với những nước đã từng trải qua cơn khung hoảng kinh tế như năm 1997 ở châu á vì đã giảm được nhiều áp lực lên hệ thống toà án khi mà vào thời điểm đó đã trở nên quá tải. Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi qui định " Doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ và đã quá thời hạn thanh toán mà không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, thì bị coi là lâm vào tình trạng phá sản". Qui định này được hiểu là ngay lập tức khi không thanh toán được nợ theo yêu cầu của chủ nợ thi doanh nghiệp thua lỗ bị liệt vào tình trạng phá sản và đặt dưới thủ tục toà án. Doanh nghiệp mắc nợ không có một khoảng đệm dù ngắn ngủi để thương lượng và tìm giải pháp hoà hoãn với chủ khoản nợ đến hạn đó. Mọi thủ tục thương lượng và hoà giải giữa họ là tuân theo thủ tục toà án – một thủ tục nặng nề và tốn phí tiền bạc, thời gian hơn rất nhiều so với thủ tục ngoài toà án (thương lượng). Trường hợp doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ có thể thoả thuận ngoài toà án về phương án thanh toán nợ và thanh lý tự nguyện (thực chất là thủ tục thanh lý tự nguyện cũng cần được xem xet và co qui định về công nhận của Toà án thay vì của cơ quan quản lý hành chính như hiện nay nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của thoả thuận xử lý nợ đó. Đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc vấn đề này.
5/ Về mức trách nhiệm trả nợ: Luật doanh nghiệp ra đời cho phép nhà đầu tư đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký mức vốn điều lệ. Cơ quan đăng ký chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm về nội dung đăng ký. Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp vốn đăng ký rất cao nhưng vốn góp thực tế hoặc tổng giá trị tài sản thấp hơn mức vốn đăng ký rất nhiều. Vậy Luật phá sản nên chăng cần có qui định mức vốn điều lệ là mức trách nhiệm trả nợ tối đa của chủ/các chủ doanh nghiệp? Nếu tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thấp hơn mức không đủ (tại thời điểm giải quyết phá sản) để trả tất cả các khoản nợ thì chủ doanh nghiệp phải dùng cả tài sản riêng để trả nợ nhưng tổng các khoản nợ phải trả không quá mức vốn pháp định. Quan điểm này được xem là khắt khe và khó thực hiện, tuy nhiên lại có tác dụng nâng cao kỷ luật kinh doanh. Quan điểm này cũng có tác dung chống việc lợi dụng phá sản để thoát khỏi các khoản nợ một cách bất hợp pháp.
6/ Vấn đề xử lý phá sản có yếu tố nước ngoài (cross-border insolvency): Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngay trong nội bộ nên kinh tế nước ta có một bộ phận doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mối liên hệ xuyên quốc gia về mặt tài sản. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư ra nước ngoài không ít, do đó tồn tại tài sản của doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam ở nước ngoài, quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế còn dẫn đến nhiều trường hợp đa dạng khác mà tài sản doanh nghiệp phá sản khổng chỉ nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Luật phá sản nhiều nước qui định hiệu lực của việc áp dụng các thủ tục giải quyết phá sản theo luật phá sản của họ có hiệu lực đối với cả các tài sản của doanh nghiệp mắc nợ ở trong và ngoài lãnh thổ nước mình. Đồng Thời Luật phá sản của một số nước cũng qui định luôn việc công nhận và áp dụng các phán quyết về phá sản của toà án nước ngoài.
Trên đây là một vài ý kiến tôi xin được phép bầy tỏ với quí vị. Rất mong nhận được ý kiến tranh luận hay phản từ các quí vị đại biểu tham dự buổi hội thảo này, và cũng mong rằng vài ý kiến nhr bé trên đây có thể giúp ích cho Ban soạn thảo hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code