Showing posts with label Nha nuoc va phap luat Viet Nam. Show all posts
Showing posts with label Nha nuoc va phap luat Viet Nam. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

LOẠI TRANH CHẤP NÀO PHẢI QUA HÒA GIẢI TẠI CẤP XÃ?

PHẠM THÁI QUÍ
Thực tế, việc tranh chấp liên quan đến đất đai xảy ra dưới rất nhiều kiểu, dạng và trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Hiểu thế nào là tranh chấp đất đai để khoanh vùng những loại tranh chấp phải qua thủ tục hòa giải tại cấp xã vẫn chưa có sự thống nhất. Từ đó, dẫn đến tình trạng“đánh nhầm hơn bỏ sót”- một trong những nguyên nhân làm ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay.
Vấn đề đặt ra
Luật Đất đai năm 2003 cũng như Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ mới chỉ quy định tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại UBND cấp xã, nhưng chưa quy định cụ thể bắt buộc phải hòa giải đối với những tranh chấp đất đai thuộc loại nào. Căn cứ vào quan hệ pháp luật về tranh chấp có thể phân loại: tranh chấp về quan hệ pháp luật đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất); tranh chấp về các hợp đồng dân sự như: chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tranh chấp tài sản chung (quyền sử dụng chung về đất đai); tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Vậy, theo quy định của Luật Đất đai, có phải tất cả các dạng tranh chấp trên đều phải thông qua việc hòa giải tại cấp xã hay không ?
Nhận thức chưa thống nhất
Qua hơn hai năm thực thi các quy định của Luật Đất đai 2003 về việc giải quyết tranh chấp đất đai, việc xác định loại tranh chấp nào bắt buộc phải qua hòa giải ở cấp xã vẫn chưa có sự thống nhất. Về vấn đề này, hiện nay đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tất cả các tranh chấp đất đai, như tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất, đều bắt buộc phải qua hòa giải tại cấp xã thì đương sự mới có quyền khởi kiện đến Toà án.

Đơn cử như vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa ông Lê Hữu Đài với hai người chị gái là bà Lê Thị Tứ và bà Lê Thị Nguyệt ở huyện T. tỉnh Q. là một ví dụ điển hình. Sau khi xảy ra tranh chấp, do không được giải quyết kịp thời nên ông Đài đã có hành vi manh động là đập phá ngôi nhà thờ do bà Tứ và bà Nguyệt xây trên thửa đất đang tranh chấp thừa kế. Với hành vi đó, ông Đài đã bị Tòa án xử phạt 9 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt ông Đài tiếp tục làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản thừa kế, nhưng Tòa án cương quyết trả lại đơn khởi kiện, vì cho rằng tranh chấp chưa được hòa giải tại cấp xã. Hoặc như vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D.T.H và chị N.T.L do TAND huyện Q. đang giải quyết: theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, buộc chị L trả lại đất cho bà vì cho rằng vợ chồng bà không ký vào hợp đồng mà do một người nào đó ký. Tranh chấp này chưa qua hòa giải tại cấp xã, mặc dù quan điểm của Tòa án là loại tranh chấp này không cần qua hòa giải nhưng để bảo đảm an toàn (khỏi bị hủy án) nên đã yêu cầu đương sự làm đơn yêu cầu UBND xã hòa giải mới tiếp tục giải quyết vụ án.
Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ có tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới phải qua hòa giải tại cấp xã, còn tranh chấp liên quan đến các hợp đồng mà quyền sử dụng đất chỉ là đối tượng của hợp đồng, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất thì không bắt buộc phải qua hòa giải tại cấp xã. Quan điểm này hợp lý hơn, bởi các lý do sau:
Thứ nhất: Theo các văn bản pháp luật về đất đai, thường gặp hai thuật ngữ là “tranh chấp liên quan đến đất đai” và “tranh chấp đất đai”. Đây là hai thuật ngữ có nội hàm khác nhau. Tranh chấp liên quan đến đất đai có phạm vi rộng hơn, bao gồm tranh chấp về các quan hệ hợp đồng, quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế mà quyền sử dụng đất là loại tài sản thuộc đối tượng của quan hệ pháp luật đó. Còn tranh chấp đất đai có phạm vi hẹp hơn, là   tranh chấp ai có quyền sử dụng đất. Khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai giải thích từ ngữ “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự cũng phân định rất rõ giữa tranh chấp về quyền sử dụng đất và các loại tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về thừa kế tài sản. Trở lại quy định của Luật Đất đai, tại các Điều 135 và 136 dùng thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chứ không dùng thuật ngữ “tranh chấp liên quan đến đất đai”.
Thứ hai: Các quy định của pháp luật về quan hệ hợp đồng, quan hệ thừa kế và quan hệ sở hữu rất phức tạp. Do đó, với trình độ của cán bộ cấp xã, khó có thể xác định được một hợp đồng có hiệu lực hay hợp đồng vô hiệu; khó  xác định diện, hàng thừa kế, quan hệ tài sản chung… Mặt khác, mục đích của việc hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự. Vậy khi hòa giải đương sự thỏa thuận để thực hiện một hợp đồng lẽ ra phải bị tuyên bố vô hiệu, hoặc thỏa thuận được việc chia thừa kế, nhưng bỏ sót những người lẽ ra phải được hưởng thừa kế, xác định không đúng di sản thừa kế… thì cán bộ cấp xã có khả năng nhận biết không?… Nếu giao các loại tranh chấp này cho UBND cấp xã hòa giải rất có thể sẽ vi phạm pháp luật.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về đất đai và thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai trong hơn hai năm qua có thể thấy, nguyên nhân của việc ách tắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở các địa phương từ khi thi hành Luật Đất đai 2003, chủ yếu do nhận thức của những người làm công tác pháp luật quá máy móc, không đúng với tinh thần quy định của pháp luật. Điều đó đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Để có nhận thức thống nhất trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, rất cần có văn bản hướng dẫn về vấn đề này.
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:

Wednesday, March 19, 2014

CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI TỪ LUẬT ĐẤT ĐAI

NGUYÊN TẤN
Đất đai có thể nói đã và đang trở thành một nguồn lợi béo bở nhất, đồng thời cũng dễ dàng nhất cho nạn tham nhũng hiện nay. Do đó, không nên bỏ qua mục tiêu ngăn chặn tham nhũng khi sửa đổi Luật Đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Dù với tư cách đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước có quyền gần như tuyệt đối trong việc định đoạt đối với đất đai.
Ví dụ, theo điều 5, Luật Đất đai, Nhà nước có các quyền: quyết định mục đích sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất; định giá đất; quyết định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất…
Với những quyền to lớn đó, nếu không có quy định ràng buộc chặt chẽ và cơ chế giám sát hữu hiệu thì tất yếu sẽ nảy sinh tham nhũng, nhất là khi đất đai trở thành một thứ hàng hóa có giá trị như hiện nay.
Thực tế cho thấy, tiêu cực, sai phạm đang có mặt trong hầu hết tiến trình thực thi quyền lực đối với đất đai nhưng phổ biến hơn cả là trong việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất… Việc thu hồi đất dù thủ tục xem ra hết sức phức tạp, rối rắm, nhưng lại đang bị lợi dụng, lạm dụng đến mức có người cho rằng “không đâu như ở Việt Nam thu hồi đất dễ như vậy”.
Một trong những cách thu hồi đất nhanh và rẻ là “thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế”. Với trường hợp này, người được giao đất được lợi rất nhiều thứ. Một mặt, việc thu hồi đất sẽ do Nhà nước “gánh” giùm và mặt khác tiền đền bù luôn luôn thấp vì áp theo khung giá do Nhà nước ấn định. Nói cách khác, họ được “cấp” đất với chi phí rẻ so với giá đất trên thị trường, ngược lại người bị thu hồi luôn luôn phải chịu thua thiệt nặng nề. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, chỉ hơn một năm qua, từ đầu năm 2008 đến nay, trong 12.039 vụ thanh tra tại các tỉnh, thành phố, cơ quan chức năng đã phát hiện 8.052 héc ta đất có sai phạm, kiến nghị thu hồi 3.790 héc ta, đã thu hồi 361,9 héc ta đất.
Với những mặt tiêu cực có thể xảy ra, việc thu hồi đất lẽ ra nên hết sức hạn chế, thế nhưng, pháp luật về đất đai lại mở rộng cho quá nhiều đối tượng được áp dụng.
Theo điều 40, Luật Đất đai, có bốn trường hợp Nhà nước được thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế gồm đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn.

Thế nhưng, đến Nghị định 181 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, loại “dự án đầu tư lớn” được diễn giải, mở rộng thêm ba đối tượng, đó là các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch thuộc nhóm A; các dự án từ vốn ODA; các dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài mà không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Đến lượt các văn bản diễn giải tiếp, chẳng hạn tại Nghị định 12/2009/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 2-4 năm nay (trước đây là Nghị định 16/2005/NĐ-CP), loại dự án thuộc nhóm A lại được mở rộng, nâng lên khoảng 50 lĩnh vực khác nhau. Đó là chưa kể những dạng “biến tướng” khác trong quá trình thực thi pháp luật.
Gắn liền với việc thu hồi đất, giao đất là chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; đất phi nông nghiệp không phải đất ở sang đất ở; đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang mục đích khác… Giá trị đất sau mỗi lần chuyển đổi như vậy có thể tăng lên gấp bội lần, thậm chí hàng trăm lần và do đó cũng trở thành miếng mồi ngon cho tiêu cực, tham nhũng, nhất là khi Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn quy định về việc chuyển đổi này còn khá sơ sài. Luật Đất đai chỉ quy định vỏn vẹn trong hai điều khoản và không hề nói rõ điều kiện cụ thể nào thì được chuyển mục đích sử dụng.
Hệ quả là với tình trạng cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng tràn lan ở các địa phương, hàng loạt héc ta “bờ xôi ruộng mật” lần lượt bị thế chỗ bởi các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng, để rồi thậm chí bị bỏ hoang do dự án “treo”, chủ đầu tư không có năng lực; hay hàng loạt khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ bị tàn phá nặng nề khi chuyển đổi mục đích sử dụng.
Theo một báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2000-2007 diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm tới 361.935 héc ta. Chỉ riêng từ năm 2000-2005, đất lúa giảm 318,4 ngàn héc ta, trong đó chuyển sang sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp không thu tiền là 40.700 héc ta, chuyển sang cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 24.700 héc ta và 220.000 héc ta đất dịch chuyển sang ngành nuôi trồng thủy sản. Với diễn biến trên, sản lượng lúa bị sụt giảm từ 400.000-500.000 tấn/năm và ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 100.000 hộ nông dân/năm.
Trong khi đó, cơ chế để giám sát việc thực thi quyền lực trong quản lý đất đai còn bộc lộ nhiều bất cập. Một trong những vấn đề quan trọng cần giám sát là quy hoạch sử dụng đất đai từ khi lập cho đến quá trình thực thi, triển khai. Nếu việc này được giám sát chặt chẽ thì khó có chuyện quy hoạch đường đi qua nhà của vị quan chức nọ bị bẻ cong sang nhà người khác hoặc tùy tiện cấp đất cho nhà đầu tư làm sân golf thay vì lẽ ra phải được giữ lại để nuôi bò sữa.
Theo Luật Đất đai, cả bốn cấp hành chính gồm Chính phủ, tỉnh (thành phố), huyện, xã đều có chức năng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, chỉ có việc lập quy hoạch chi tiết sử dụng đất ở cấp xã mới phải lấy ý kiến nhân dân. Như vậy, người dân không có cơ hội đóng góp ý kiến cho quy hoạch của các cấp còn lại mặc dù những quy hoạch này dùng để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch chi tiết.
Mặt khác, luật cũng chưa xác định giá trị pháp lý của việc đóng góp ý kiến, nghĩa là nếu ý kiến đó hợp lý mà không được cơ quan lập quy hoạch tiếp thu thì… cũng chẳng sao cả. Chính vì vậy, trên thực tế không ít nơi công đoạn lấy ý kiến của dân bị cơ quan lập quy hoạch lờ đi hoặc làm qua loa, hình thức. Một dự án xây dựng cụm công nghiệp tại Bảo Lộc, Lâm Đồng, thậm chí quên” luôn cả việc lấy ý kiến người dân và đến bảy tháng sau khi phê duyệt quyết định quy hoạch chi tiết mới được công bố.
Thế nhưng, ngay cả trong trường hợp người dân được lấy ý kiến đi chăng nữa thì việc đóng góp cũng khó đạt hiệu quả vì quy hoạch đất đai là một lĩnh vực chuyên môn phức tạp, không phải ai cũng hiểu để đóng góp ý kiến. Ngay tại nhiều cơ quan hay dự án ở TPHCM, những bảng, biển quy hoạch được treo, cắm từ năm này qua năm khác nhưng hầu hết người dân chẳng ai quan tâm vì họ có hiểu gì đâu.
Để khắc phục vấn đề này, nên chăng với những dự án có quy mô tác động lớn cần có một hội đồng thẩm định độc lập bao gồm các nhà chuyên môn, các nhà khoa học?
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ


image GS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc
Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới. Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.
Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”. Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.
Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.
Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Nhưng trước khi bị thuyết phục bởi những con số thống kê, chúng ta cần phải tìm hiểu bối cảnh ra đời của chúng, nói nhại theo một nhà xã hội học Mỹ, tôi nghĩ con số thống kê như là một cái áo dài của người phụ nữ, những gì nó tiết lộ thì thú vị đấy, nhưng những gì nó giấu giếm mới là quan trọng. Con số thống kê cũng vậy, nó là sản phẩm của xã hội, của con người, cho nên nó cũng chịu sự chi phối bởi tình cảm và chủ quan của tác giả tạo ra nó. Người đọc, do đó, cần phải tìm hiểu kỹ những bối cảnh này trước khi chấp nhận ý nghĩa của con số thống kê. Những khía cạnh cần tìm hiểu là vấn đề con số phản ảnh, phương pháp đo lường, nguồn gốc của dữ liệu, và cách diễn giải dữ liệu thống kê.
Con số phản ánh gì?
Trước hết là vấn đề mà con số thống kê phản ảnh. Chúng ta thử quay lại cái tít “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Bản tin cho biết con số này xuất phát từ một cuộc phỏng vấn trên 1.000 sinh viên năm thứ ba thuộc Đại học Cần Thơ vào năm 2009. Nhưng vấn đề đặt ra là định nghĩa của “nghiên cứu khoa học” và thế nào là “hiểu chính xác”. Nghiên cứu khoa học là một quy trình, và quy trình này có thể thay đổi tùy theo lĩnh vực khoa học.
Vì thế làm thế nào mà hiểu chính xác được quy trình? Ở đây, chỉ có hiểu đúng và hiểu sai mà thôi, chứ tôi nghĩ không có hiểu chính xác được. Chú ý rằng tuy nghiên cứu được thực hiện ở Cần Thơ, nhưng cái tít thì lại hàm ý khái quát cho sinh viên của cả nước, thậm chí cả thế giới! Nếu mục tiêu là thu hút chú ý của bạn đọc thì cái tít đã thành công một mức độ nào đó, nhưng nếu mục tiêu là cung cấp thông tin chính xác cho người đọc, thì tôi e rằng bài báo chưa đạt được mục tiêu.
Đo lường ra sao?
Thứ hai là vấn đề đo lường. Một con số thống kê chỉ đáng tin cậy nếu phương pháp đo lường chính xác và có độ tin cậy cao. Chẳng hạn như trong trường hợp “50% trẻ em tử vong do đuối nước”, câu hỏi lặp tức đặt ra là định nghĩa thế nào là “đuối nước” và đo lường ra sao, ai là người báo cáo tử vong (chắc chắn trẻ em đã chết không báo cáo được!), và nếu thân nhân báo cáo thì độ tin cậy cỡ nào.
Trước đây, báo chí Mỹ rầm rộ đưa tin về một nghiên cứu cho thấy 80% con cái của những cặp cha mẹ ly dị không có vấn đề gì khi trưởng thành và thích nghi tốt với xã hội, nhưng khi được hỏi “thích nghi với xã hội,” hay “trưởng thành,” có nghĩa là gì thì giới báo chí không trả lời được. Tình trạng ly dị thì dễ trả lời và không thành vấn đề, bởi vì nó là một hồ sơ hay tình trạng mà phần lớn ai cũng có thể xác nhận khá chính xác. Nhưng làm sao để xác định và định nghĩa thế nào là thích nghi với xã hội mới là một vấn đề quan trọng trong chương trình nghiên cứu.
Đây là một phạm vi mang tính định tính (qualitative) mà nhà nghiên cứu khó có thể đo lường một cách chính xác và khách quan như trong trường hợp của huyết áp, chiều cao cơ thể, hay màu da, sắc áo. Người ta chắc sẽ không ngạc nhiên nếu một nghiên cứu phát hiện rằng một người nào đó hoàn toàn hài lòng với cuộc sống và thích nghi với xã hội, mặc dù anh ta đang nghiện rượu, hay đã trải qua nhiều lần ly dị trong đời, trong khi một nghiên cứu khác có thể phát hiện rằng một người nào đó hoàn toàn có một cuộc sống gương mẫu nhưng lại không hài lòng với cuộc sống hiện tại!
Dữ liệu từ đâu?
Thứ ba là vấn đề nguồn gốc dữ liệu. Quay trở lại bài báo “50% trẻ em tử vong do đuối nước” chúng ta chỉ biết “Đây là thông tin từ báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em tại Việt Nam do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc” công bố. Nhưng chúng ta cần phải biết bối cảnh ra đời của con số này là gì. Một loạt câu hỏi đặt ra: đối tượng nghiên cứu là ai, ở đâu, vào thời gian nào?… Nhưng rất tiếc là bản tin hoàn toàn không cung cấp thêm thông tin nào về báo cáo này.
Cũng là vấn đề nguồn gốc, trong bài báo “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”, phóng viên cho biết, “đối tượng khảo sát gồm các nhóm chính: du học sinh đã tốt nghiệp, đã và sẽ về nước làm việc; du học sinh đã tốt nghiệp, đã và sẽ ở lại làm việc tại nước sở tại và du học sinh chưa tốt nghiệp có nguyện vọng thực tập”. Chúng ta thấy rõ ràng có sự mâu thuẫn. Trong khi cái tít của bài báo đề cập đến du học sinh về nước, thì đối tượng nghiên cứu lại gồm du học sinh sắp về nước và sắp tốt nghiệp!
Thật ra, đọc kỹ bài báo thì thấy thông tin phức tạp hơn, và có thể tóm lược như sau: trong số 350 du học sinh được phỏng vấn, có một số đã tốt nghiệp và một số chưa tốt nghiệp, nhưng chúng ta không biết con số này. Trong số đã tốt nghiệp, 64% quyết định ở lại nước sở tại, và 36% về Việt Nam. Trong số đã tốt nghiệp và về Việt Nam, “83% chưa hài lòng về chuyện lương, thưởng”. (Phóng viên lấy con số này làm tiêu đề, nhưng chú ý trong tiêu đề thì viết là “không hài lòng” còn bài viết là “chưa hài lòng”!)
Giả dụ như có 50% sinh viên đã tốt nghiệp, thì con số đã về Việt Nam là 375*0.5*0.36 = 63 người. Trong số 63 người này, có 52 người (63*0.83) chưa hài lòng với lương bổng ở Việt Nam. Nếu 52 người mà phóng đại lên 83% thì tôi e rằng phạm vào lỗi khái quát hóa.
Diễn giải có đúng?
Thứ tư là vấn đề diễn giải dữ liệu. Quay trở lại tiêu đề “50% trẻ em tử vong do đuối nước” chúng ta có thể hiều rằng trong tổng số trẻ em tử vong, phân nửa là do đuối nước. Có thể nào tin rằng đuối nước gây ra phân nửa tử vong ở trẻ em ở Việt Nam? Thật ra, chưa có bất cứ một nghiên cứu nào nói như thế. Tôi có thể khẳng định rằng con số này chắc chắn đã được trình bày sai, hoặc trình bày đúng nhưng nghiên cứu sai, hoặc diễn giải sai số liệu.
Một trong những sai lầm phổ biến trong diễn giải dữ liệu là vượt ra ngoài dữ liệu quan sát. Chẳng hạn như nếu một phân tích về mối tương quan giữa tiểu đường và bệnh nhân có trọng lượng dưới 50 ki lô gam, thì kết quả không thể phát biểu cho người có trọng lượng trên 50 ki lô gam.
Con số phần trăm thường hay bị diễn giải sai. Con số phần trăm là kết quả của tử số chia cho mẫu số và nhân cho 100. Một trong những cái sai tiêu biểu và rất phổ biến là tính phần trăm cho mẫu số thấp hơn 100. Chẳng hạn như bài báo cho biết trong số 22 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM, có 7 người can dự vào việc “luộc sách”, và phóng viên cho rằng 32% giảng viên luộc sách (tức lấy 7 chia cho 22 và nhân cho 100).
Vấn đề ở đây là chỉ số 22 giảng viên, nhưng nhà báo nhân lên thành 100 để cho có con số phần trăm, và đây là lỗi lầm về khái quát hóa ngoài dữ liệu cho phép. Đáng lẽ chỉ cần nói chính xác rằng 7 trong số 22 người bị nghi ngờ luộc sách là đủ, đâu cần gì phải nói đến con số 32%.
Một vấn đề khác là suy luận về bằng chứng, nguyên nhân và hậu quả. Ngay cả khi các dữ kiện được thu thập trong hai nhóm có đặc tính giống nhau hay tương đương nhau, nhà nghiên cứu vẫn chưa có thể phát biểu về mối liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả (cause and effect).
Thực ra, nhà nghiên cứu chỉ có thể phát biểu rằng dữ kiện [mà họ thu thập được] nhất quán (consistent) với giả thuyết. Nhưng kết quả của họ cũng có thể nhất quán với các giả thuyết khác nữa. Chẳng hạn như con số 50% trẻ em tử vong do đuối nước cũng có thể nhất quán với giả thuyết thuyền bè thiếu an toàn, và nếu không có dữ liệu về an toàn rất khó nói cái nào là nguyên nhân và cái nào là hệ quả.
Cần nhấn mạnh rằng những con số thống kê không chứng minh bất cứ một điều gì cả. Khoa học thống kê là một môn học bị lạm dụng quá nhiều nên môn học này có khi bị mang tiếng xấu, nhất là người ta hay gắn liền thống kê với câu nói của Benjamin Disrael. Tức là, người ta tin rằng thống kê có thể dùng để chứng minh bất cứ điều gì, kể cả nói láo.
Nhưng đó là một cách ngụy biện, chứ trong khoa học thì thống kê phải được dùng một cách thận trọng. Dù những con số thống kê có thể được trình bày và diễn dịch nhiều cách khác nhau, chúng không thể chứng minh bất cứ một điều gì cả. Điều mà thống kê có thể “chứng minh” được là bác bỏ những gì không chắc chắn, không có thực.
Nhà văn H. G. Wells từng nói rằng trong một xã hội hiện đại công dân cần thành thạo ba kỹ năng: đọc, viết, và thống kê. Giới báo chí, hơn ai hết, cần phải trang bị những kỹ năng về diễn giải và suy luận thống kê để tránh những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra trong tương lai.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Wednesday, February 12, 2014

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC KHÁI NIỆM GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

PGS. TS. TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN
Một trong những vấn đề lý luận mang tính cốt lõi cần ưu tiên làm sáng rõ để việc nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN được nhanh và đúng là vấn đề nhận thức nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư. Nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác, theo tôi, có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ.
Sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB)
Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất TBCN, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của CNTB.
Trong hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào việc mua sắm sức lao động và tư liệu sản xuất. Còn mục đích của nhà tư bản khi chi tiền ra mua sắm các thứ đó chẳng có gì khác hơn là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà mình đã ứng chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra đó chính là giá trị thặng dư.
Tư liệu sản xuất như nhà xưởng, công trình kiến trúc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu phụ… là tư bản bất biến. Nó không thay đổi lượng giá trị trong quá trình sản xuất mà chỉ chuyển hóa giá trị của nó sang các sản phẩm mới được sản xuất ra. Nó không thể là nguồn gốc của  giá trị thặng dư. Còn sức lao động thì trong quá trình tiêu dùng nó, tức là trong quá trình sử dụng nó vào lao động sản xuất, nó có khả năng tạo ra giá trị mới mà lại lớn hơn cái giá trị của bản thân nó. Sức lao động là tư bản khả biến.
 Nhà tư bản sử dụng tính chất khả biến đó vào mục đích tạo ra cho mình giá trị thặng dư. Chiếm đoạt giá trị thặng dư này là hành vi được gọi đích danh là “bóc lột”. Đó là nói chung. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, hành vi “bóc lột” giá trị thặng dư còn được nhà tư bản thực hiện bằng sự gia tăng giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tức là kéo dài tuyệt đối ngày lao động và rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư. Việc tăng giá trị thặng dư còn được một số nhà tư bản thực hiện bằng cách hạ thấp giá trị của hàng hóa do xí nghiệp mình sản xuất so với giá trị xã hội của hàng hóa đó. Số giá trị thặng dư tạo ra bằng cách này được gọi là giá trị thặng dư tương đối. Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng năng suất  lao động xã hội, còn bên kia – bên giá trị thặng dư siêu ngạch thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng công nghệ tiến bộ; nhờ áp dụng các phương pháp hoàn thiện hơn trong tổ chức sản xuất.
Đấu tranh của công nhân
Trong hoạt động kinh tế TBCN, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếm đoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân chống lại sự chiếm đoạt đó: đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việc trong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu tranh chống việc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng lao động thặng dư để chống bóc lột giá trị thặng dư tương đối; còn việc đấu tranh chống lại sự bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch thì tức là sự phản ứng lại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sáng kiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ, phản ứng lại việc áp dụng phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn…
Thật ra, sự đấu tranh của giai cấp công nhân dưới chế độ TBCN để chống lại sự bóc lột giá trị thặng dư nói chung, trong đó có cả việc chống lại sự sản sinh ra ba thứ giá trị thặng dư vừa nói, là nhằm vào chỉ một chủ điểm: Chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư nói chung, trong đó bao gồm cả ba thứ giá trị thặng dư vừa nói. Như vậy, mục đích của công cuộc đấu tranh này là mang tính chất quan hệ sản xuất. Còn bản thân việc làm thế nào để sinh ra ba thứ giá trị thặng dư đó lại không phải là nguyên nhân sinh ra cuộc đấu tranh; tức là mục đích đấu tranh của giai cấp công nhân dưới chế độ TBCN thực chất là đòi phải phân chia các giá trị thặng dư cho đúng, cho hợp lý, hợp tình chứ nhà tư bản chớ có ăn chặn, ăn gọn toàn bộ các giá trị thặng dư. Và tới khi mà mục đích căn bản này của giai cấp công nhân không được thực hiện  và nhà tư bản vẫn thẳng tay bóc lột các loại giá trị thặng dư thì cuộc đấu tranh mới diễn ra quyết liệt hơn: đình công, phá máy móc, phá nhà xưởng… và một trong những kết quả tổng thể của cuộc đấu tranh giai cấp này đối với xã hội là: sáng kiến, phát minh khoa học, kỹ thuật bị hạn chế, năng suất lao động không được phát huy; phương pháp sản xuất không được cải tiến…dẫn tới tổng sản phẩm xã hội bị thu hẹp.
Tất cả các khía cạnh liên quan  đến sự sản sinh và sự chiếm đoạt giá trị thặng dư như vừa đề cập đến ở trên phải được đặt gọn trong nền kinh tế  TBCN; chúng được bảo hộ bằng nền chính trị (có khi cả quân sự nữa) của CNTB và sự sản sinh, chiếm đoạt giá trị thặng dư cũng là viên đá tảng trong hạ tầng cơ sở của kiến trúc thượng tầng TBCN. Sự chiếm đoạt giá trị thặng dư mà chủ tư bản thường xuyên thực hiện đối với phía sản sinh ra giá trị thặng dư được được gọi là sự bóc lột. Đó là sự bóc lột mà giai cấp tư bản thực hiện với giai cấp công nhân trong chế độ TBCN.
Như vậy, bóc lột giá trị thặng dư là sản phẩm của chế độ TBCN. Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh. Ngộ nhận về điều này sẽ dẫn đến rối loạn khi chúng ta phải luận giải để trả lời các câu hỏi: Vậy thì cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN thuộc về ai? Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN này có phải sở hữu “giá trị thặng dư” là hành động bóc lột hay không?
Bóc lột giá trị thặng dư là sản phẩm của chế độ TBCN. Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh. Ngộ nhận về điều này sẽ dẫn đến rối loạn khi chúng ta phải luận giải để trả lời các câu hỏi: Vậy thì cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN thuộc về ai? Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN này có phải sở hữu “giá trị thặng dư” là hành động bóc lột hay không?
Hưởng thụ thực lãi
Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, trong xã hội VN có một hình thái hoạt động vốn bình thường nay bỗng trở nên sôi động. Đó là hoạt động kinh tế tư nhân, bao gồm cả hình thái hoạt động kinh tế được gọi là “hoạt động kinh tế tư bản tư nhân”.
Một trong những yếu tố quan trọng trong kết quả của hình thái hoạt động này là số tiền dôi ra sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí trả cho sức lao động và tư liệu sản xuất. Số tiền dôi ra này nếu chỉ thuộc về người chủ tư bản tư nhân thì y  mới bị gọi là kẻ bóc lột. Thiết chế pháp lý về nguyên tắc phân chia số tiền dôi ra này phải phù hợp với tính chất định hướng XHCN. Và như vậy thì ở đây phải chăng nội hàm của khái niệm ‘bóc lột” đã bị tha hóa? Và một khi nội hàm của một khái niệm đã bị tha hóa thì nên chăng  hãy cho khái niệm ấy mang một tên gọi khác, chẳng hạn như thay cái tên “bóc lột” bằng tên gọi “hưởng thụ thực lãi”. Hưởng thụ thực lãi từ sự phân chia lãi theo những nguyên tắc mang tính định hướng XHCN chứ không phải là nhận lãi theo kiểu bóc lột trong kinh tế TBCN.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN, nếu ấn định được nguyên tắc phân chia lại giá trị thặng dư như đã nói ở trên thì cuộc đấu tranh giành giật giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ tự thủ tiêu, bởi vì số của cải làm dôi ra do kéo dài thời gian lao động, do rút ngắn thời gian lao động cần thiết để hoàn thành từng sản phẩm; do biết áp dụng kỹ thuật mới, biết ứng dụng công nghệ tiến bộ, biết áp dụng những phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn…không phải bị nhà tư bản chiếm đoạt mà được phân chia cho mọi thành viên trong cơ sở sản xuất theo tỷ lệ thỏa thuận. Giờ lao  động bị kéo dài thêm sẽ không còn là lao động tha hóa mà trở thành lao động tự nguyện, lao động có ích, trong đó có ích cho bản thân mỗi người và có ích cho mọi người; sáng kiến, phát minh khoa học, kỹ thuật sẽ được khuyến khích, được áp dụng vì lợi ích chung. Như vậy là cuộc giành giật các giá trị thặng dư mà dưới chế độ TBCN đã làm tổn hại đến tổng sản phẩm xã hội, nay biến thành cuộc hợp đồng sản xuất, hợp tác lao động sáng tạo để không ngừng làm tăng trưởng cho tổng sản phẩm xã hội.
Nguyên tắc phân chia lãi
Có thể hình dung một cách tổng quát nguyên tắc phân chia lại giá trị thặng dư mà đến đây xin được gọi là “nguyên tắc phân chia lãi” này như sau: phần thứ nhất chia cho người bỏ vốn trả cho việc mua sức lao động và sắm tư liệu  sản xuất, phần thứ hai chia cho tập thể toàn bộ các thành viên của cơ sở sản xuất (chẳng hạn như là tổ chức công đoàn) để làm vốn tái đầu tư của tập thể mọi thành viên trong cơ sở sản xuất vào vòng quay sản xuất tiếp theo. Số vốn tái đầu tư này, qua một vòng quay của quá trình sản xuất, nó sẽ sản sinh ra một số lãi mới mà nguyên tắc chia số lãi mới này là cộng chung nó vào với giá trị thặng dư nguyên gốc để gọi chung là tổng giá trị thặng dư rồi chia cho mọi thành viên của cơ sở sản xuất theo tỷ lệ của mức lương. Ví dụ: tổng giá trị thặng dư của vòng quay thứ nhất là 500 triệu đồng; trong cơ sở sản xuất  gồm 50 thành viên với tổng số lương được nhận trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 1.000 triệu đồng, tức là tổng giá trị thặng dư của vòng quay sản xuất này bằng 50% số lương. Như vậy, mỗi thành viên tham gia sản xuất ở vòng quay này trung bình được lĩnh thêm một số tiền bằng 50% số lương gốc của mình. Lĩnh theo tỷ lệ lương, mà lương là sự phản ánh mức độ đóng góp sức lực, trí tuệ của từng người cho toàn bộ công việc sản xuất của vòng quay đó.Lương của mỗi người mỗi khác nên số tiền được lĩnh thêm của mỗi người cũng mỗi khác. Một thành viên nhận tổng số lương trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 20 triệu đồng thì được lĩnh thêm 10 triệu đồng nữa. Một thành viên khác lương chỉ có 10 triệu đồng thì chỉ được nhận thêm 5 triệu đồng. Còn người đóng góp sức lực, trí tuệ nhiều, hưởng lương lên tới 40 triệu thì được lĩnh thêm 20 triệu đồng nữa v.v…
Tỷ lệ phân chia số tiền dôi ra các loại theo “nguyên tắc phân chia lãi” (tức có thể hiểu như là phân chia lại giá trị thặng dư) này cho người bỏ vốn và cho tập thể toàn bộ các thành viên của cơ sở sản xuất (công đoàn cơ sở) như vừa nói là sự thể hiện tính định hướng XHCN; là sự khác nhau cơ bản giữa sản xuất kinh tế TBCN và sản xuất kinh tế XHCN giai đoạn hiện nay của VN. Tỷ lệ phân chia đó được ấn định từ kết quả thỏa thuận giữa người bỏ vốn với tập thể các thành viên của cơ sở sản xuất trong đó cũng có cả người chủ bỏ vốn. Mà xin được lưu ý đặc biệt một điều rằng người chủ bỏ vốn đầu tư ngoài việc lĩnh tỷ phần tiền dôi ra cho anh ta với tư cách là chủ, anh ta còn được nhận số tiền là tỷ phần do công đoàn chia cho anh ta với tư cách là một thành viên của tập thể. Lương gốc mà anh ta nhận được tính gộp cả lương sản xuất cụ thể, cả lương lao động quản lý, cả lương sáng chế, phát minh, sáng kiến…của bản thân anh ta. Các thành viên của gia đình anh ta có tham gia sản xuất, quản lý…cũng nhận được sự phân phối theo nguyên tắc đó.
Định hướng XHCN
Tỷ lệ phân chia nói trên được ấn định theo mục đích xây dựng CNXH, theo tinh thần thỏa thuận có tính chất nhân bản  XHCN – tự nguyện vì lý tưởng XHCN. Tỷ lệ phân chia đó khi gộp chung lại của toàn xã hội không là sức mạnh nhằm đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo; không tạo ra tình trạng một nhóm thiểu số, rất thiểu số, thì lại sở hữu một số tài sản kếch sù của toàn xã hội, dẫn tới chỗ họ có thể dùng sức giàu có về kinh tế đó để khuynh  đảo luôn cả hệ thống chính trị, quân sự; lũng đoạn luôn cả hệ tư tưởng để lái đất nước chệch ra khỏi quỹ đạo của CNXH.
Về phía những người là đảng viên Đảng cộng sản thì chấp nhận tỷ lệ phân chia theo cách này hay không chấp nhận là tiêu chuẩn để đánh giá chất cộng sản của bản thân. Đối với cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước và của các tổ chức ban, ngành, hội, đoàn…cũng phải lấy thái độ, mức độ ủng hộ phương hướng phân chia theo tỷ lệ này làm thước đo quan điểm và trình độ giác ngộ chính trị của mình đối với sự nghiệp xây dựng đất nước VN hướng tới CNXH.
Hệ thống các cơ quan lập pháp căn cứ vào thực tế hoạt động kinh tế trên đất nước từng giai đoạn mà đưa vào luật, vào các văn bản dưới luật…những nguyên tắc phân chia theo tỷ lệ này. Đảng lãnh đạo sự phân chia tỷ lệ này; nhà nước quản lý việc thực hiện sự phân chia tỷ lệ này; nhân dân làm chủ việc thực hiện cách phân chia tỷ lệ này. Tỷ lệ phân chia này không phải thực hiện đồng loạt cho mọi cơ sở sản xuất, mọi tổ chức sản xuất kinh tế. Lại càng không phải áp dụng trong mọi thời điểm. Vận dụng hợp lý sự ấn định tỷ lệ đó cho từng lúc, từng nơi là chứng tỏ sự sáng suốt của hệ thống cơ quan lập pháp; là thuộc về nghệ thuật quản lý của Nhà nước; nghệ thuật  lãnh đạo của Đảng cộng sản VN; là thể hiện bản lĩnh của từng con người VN mong muốn xây dựng đất nước theo định hướng XHCN.
Kết luận
Qua sự trình bày, phân tích những khía cạnh cơ bản của vấn đề giá trị thặng dư như trên, chúng ta có thể đi đến mấy kết luận tổng quát như sau:
1. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN giai đoạn hiện nay, giá trị thặng dư phải được phân chia lại. Hành vi “chiếm đoạt” giá trị thặng dư mà với chế độ TBCN gọi là “bóc lột”, nay phải được thay thế bằng hành vi “hưởng thụ thực lãi” của hoạt động kinh tế. Do đó, nội hàm của khái niệm “bóc lột” phải được nhận thức lại.
2. Tỷ lệ phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” trong hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN giai đoạn hiện nay đặt trên cơ sở những nguyên tắc mang tính thỏa thuận, tự nguyện giữa mọi thành viên tham gia sản xuất.
3. Nguyên tắc phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” này định mức hưởng thụ khác nhau cho từng loại thành viên có năng suất lao động và sáng tạo trong sản xuất khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các thành viên cụ thể có năng suất lao động và sáng tạo trong sản xuất khác nhau trong tập thể sản xuất, tùy theo mức độ đóng góp của loại thành viên ấy, của các thành viên cụ thể ấy – tức là làm nhiều được hưởng nhiều, làm ít được hưởng ít -  đó chính là nguyên tắc cơ bản của CNXH và mục tiêu định hướng trong nền kinh tế thị trường ở VN ngày nay.
4. Phủ định hình thái bóc lột bởi hình thái phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” không phải là  làm trái với lý luận kinh tế của Mác mà chính là phát triển lý luận kinh tế của Mác. Lấy cách phân tích, lý giải của Mác về giá trị thặng dư trong nền kinh tế TBCN mà  soi sáng cho việc phân tích, lý giải về sự phân chia lại cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trường hợp VN giai đoạn hiện nay, đó chẳng phải là phát triển lý luận kinh tế của Mác thì còn là gì nữa? Trong nền kinh tế thị trường định hướng XNCN của VN giai đoạn hiện nay như vậy là không còn vấn đề bóc lột theo nghĩa là Mác đã nói về nền kinh tế TBCN; không còn vấn đề giá trị thặng dư theo nghĩa mà Mác đã nói khi phân tích nền kinh tế TBCN. Do đó không thể đánh giá chất lượng các đảng viên Đảng cộng sản VN hoạt động kinh tế qua sự “bóc lột” ít hay “bóc lột” nhiều mà phải đánh giá chất lượng các đảng viên Đảng cộng sản VN đang tham gia hoạt động kinh tế hiện nay qua thái độ chấp nhận nhiều hay chấp nhận ít, chấp nhận hay không chấp nhận nguyên tắc phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi”. Và kết luận chung lại, vấn đề đặt ra về việc cấm đảng viên không được làm kinh tế tư bản tư nhân thực chất là vấn đề cấm đảng viên không được làm kinh tế dạng tư bản tư nhân mà không chịu chấp nhận sự phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” theo nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN VN giai đoạn lịch sử hiện nay -  “giai đoạn lịch sử VN hiện nay” ở đây là tôi muốn nói đến giai đoạn lịch sử bắt đầu bằng sự mở đầu công cuộc đổi mới năm 1986, qua các mốc quan trọng là thời kỳ thực hiện các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX của Đảng cộng sản VN và sau đó tiếp tục ít nhất là năm đại hội nữa của Đảng trong đầu thế kỷ XXI này
(*) Trích từ chuyên luận “Mấy vấn đề lý luận cốt lõi trong nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN”. Đầu bài do toà soạn đặt.       
SOURCE: TAP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 144, THÁNG 10 NĂM 2002

ĐƯỜNG LỐI CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

TS. NGUYỄN HỒNG OANH
Bằng một loạt những quyết định giải quyết những vụ tham nhũng lớn gần đây, Chính phủ đã nhận được sự cổ vũ và ủng hộ của nhân dân và thế giới về quyết tâm làm trong sạch bộ máy và đẩy mạnh cải cách để đưa dân tộc thoát khỏi sự kìm kẹp của đói nghèo và lạc hậu. Nhìn lại hai thập kỷ đã qua kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, có thể thấy VN hiện thuộc nhóm những quốc gia đang có đà tăng trưởng cao trong khu vực (khoảng 7,2%/năm) chỉ sau Trung Quốc (9.2%/năm) [1].
Chính sách ngoại giao ôn hoà, hợp tác, cùng với nỗ lực tham gia ASEAN, APEC, WTO và thu hút đầu tư nước ngoài đã cải thiện đáng kể uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Bên cạnh đó VN cũng được coi là một nước khá thành công trong xoá đói giảm nghèo và hạn chế những tác động tiêu cực do phát triển kinh tế gây ra trong thời kỳ quá độ. Tuy đã đạt được khá nhiều thành công, VN vẫn phải đối mặt với những thách thức rất lớn phía trước.  Cho đến nay VN vẫn chỉ được coi là một nước nghèo với thu nhập bình quân đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (Biểu 1).  Tỉ lệ nghèo hiện nay vẫn còn khoảng trên 20% nghĩa là cứ 5 hộ thì có một hộ nghèo [2].  Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2004-2005, chỉ số cạnh tranh phát triển của VN bị tụt 4 hạng, xếp thứ 81 trên 117 quốc gia [3].   Điều này cho thấy trong khi những tác dụng của chính sách đổi mới trước đây đã đi vào ổn định, VN đứng trước nguy cơ có thể bị tụt hậu nếu không tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách.  Bài viết dưới đây chia sẻ một số ý kiến bàn luận về cải cách kinh tế của đất nước trong điều kiện hiện tại.

Biểu 1: Thu nhập bình quân đầu người của VN và một số nước [4] (US$)
Nhật 37050 Trung Quốc 1500
Úc 27070 Philippines 1170
Singapore 24760 Indonesia 1140
Hàn Quốc 14000 VN 540
Malaysia 4520 Lào 390
Thái Lan 2490 Campuchia 350
Vai trò của Nhà nước và khối quốc doanh trong nền kinh tế thị trường 
Về đường lối phát triển kinh tế và hội nhập, VN đã cam kết xây dựng nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” – một mô hình trong đó kinh tế quốc doanh “giữ vai trò chủ đạo” [5].  Thực tế khối kinh tế quốc doanh có khoảng 12.000 DNNN giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới và nay chỉ còn khoảng 4.000 DNNN và vẫn đang nắm giữ khoảng 75% tài sản cố định quốc gia, 50% vốn đầu tư nhà nước và 60% tín dụng ngân hàng trong nước [6].  Trong khi đó khối này chỉ đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội và tạo việc làm cho khoảng 10% của lực lượng lao động của cả nước, phần còn lại chủ yếu do khu vực ngoài quốc doanh đóng góp (Biểu 2) [7].   
Phần lớn tài sản của khối quốc doanh chủ yếu nằm ở các công ty lớn, trong đó số làm ăn có lãi một phần là do độc quyền trong một số lĩnh vực như hàng không, dầu khí, điện lực, viễn thông.  Ở những khu vực không được bảo trợ các DNNN thường phải chật vật để cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.  Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2003 tỷ lệ DNNN đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn dưới 5% (mức lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất gửi tiền tiết kiệm ngân hàng hiện tại là 7-8%/năm) là 59%.  Hiệu quả hoạt động của DNNN sẽ còn thấp nữa nếu tính tới giá trị của đất và tín dụng mà các DNNN đang được ưu đãi [8].  Những ưu đãi này không khỏi gây khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và hạn chế sức phát huy của nền kinh tế thị trường.  Điều này một phần lý giải tại sao sau 20 năm cải cách, nhiều quốc gia vẫn chưa công nhận kinh tế VN là một nền kinh tế thị trường, vấn đề có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp VN sau khi gia nhập WTO nếu điều kiện “nền kinh tế phi thị trường” bị áp cho VN và qua đó các nước nhập khẩu có thể áp đặt phương thức điều tra chống phá giá không công bằng đối với hàng xuất khẩu từ VN. 
Nhìn chung những bất cập liên quan tới DNNN đã được giải quyết theo hai hướng chủ yếu là cổ phần hoá và cho ra đời Luật doanh nghiệp 1999 để khuyến khích sự hoạt động của khối doanh nghiệp tư nhân.  Hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá và phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân kể từ năm 2000 là những bằng chứng rõ nét thể hiện sự chuyển đổi tích cực cơ cấu kinh tế [9].  Gần đây Luật doanh nghiệp năm 2005 chung cho tất cả các loại doanh nghiệp chứng tỏ một bước tiến mới trong việc xoá bỏ phân biệt theo thành phần sở hữu đối với doanh nghiệp, theo đó trong 4 năm kể từ ngày có hiệu lực (1.7.2006) tất cả các DNNN thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần. 
Tổng kết lại có thể thấy mặc dù đã giữ vai trò chủ đạo trong thời kỳ đầu của công cuộc cải cách như là di sản của nền kinh tế tập trung bao cấp, khối quốc doanh đã đang phải thu hẹp trong quá trình tiến tới một nền kinh tế thị trường để hội nhập.  Tuy đây là sự chuyển biến tất yếu và tích cực, nó cũng đặt vai trò quản lý nhà nước vào một không gian mới với những thách thức không thể bỏ qua. 
Thứ nhất, trong khi nhu cầu ngân sách nhà nước sẽ ngày càng tăng để phục vụ cho đầu tư phát triển thì 35% nguồn thu nội địa do các DNNN hiện đang đóng góp có thể bị ảnh hưởng khi phần lớn DNNN chuyển đổi sở hữu. Gánh nặng ngân sách của nguồn nội địa sẽ tăng một khi thuế xuất nhập khẩu (khoảng 20% tổng thu) phải giảm theo các cam kết với WTO và các hiệp định thương mại tự do.  Một khó khăn nữa là ngành thuế của VN còn khá non trẻ đối với một nền kinh tế thị trường.   Nhằm bảo đảm thu thuế một cách hiệu quả, công bằng từ mọi nguồn, đặc biệt là khu vực tư nhân (bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp), thì cải tổ ngành thuế là cần thiết và cấp bách trong thời gian tới  [10].
Vì Nhà nước không trực tiếp sở hữu và điều hành các doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sẽ phải gián tiếp thông qua luật pháp chung thay vì trực tiếp điều hành qua bộ chủ quản như trước đây.  Do vậy công tác xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các khung pháp lý cho nền kinh tế thị trường và hội nhập như thuế, cạnh tranh, kinh doanh, tài chính, bất động sản, lao động, bản quyền,… là cần thiết.  Ngoài ra cần nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy lập pháp và hành pháp và học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển. 
Về quản lý các doanh nghiệp vẫn thuộc sở hữu nhà nước hay Nhà nước nắm quyền chi phối trong thời kỳ tới, có thể thấy việc tiếp tục phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước nắm quyền chi phối như hiện nay như con dao hai lưỡi. Mục tiêu chính của tập đoàn kinh tế là tập hợp một nhóm các doanh nghiệp nhằm tạo dựng lợi thế về qui mô (economies of scale) để tăng hiệu quả kinh tế cũng như sức cạnh tranh.  Trên nguyên tắc này, việc thành lập các tập đoàn kinh tế sẽ đáp ứng được nhu cầu tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước nắm quyền chi phối.  Tuy nhiên mặt trái của vấn đề là các tập đoàn kinh tế có thể trở thành những công ty độc quyền ngăn cản sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoặc gây thiệt hại cho người tiêu dùng [11]. 
Bài học về quản lý các DNNN lớn đã cho thấy không ít công ty lớn được Nhà nước bảo hộ thường có sức cạnh tranh thấp nhưng lại khó diệt vong, do đó có thể gây hậu quả tai hại lâu dài gồm cả nợ khó đòi và lao động dôi dư.  Ngược lại một số công ty lớn ăn lên làm ra do biệt tận dụng lợi thế của mình, giám đốc có thể rút ruột tài sản công mà vẫn có thành tích vì công ty vẫn làm ăn có lãi.  Giải pháp cho những vấn đề này là hoàn thiện cơ chế quản lý về nhân sự và tài chính của doanh nghiệp thích hợp.  Đồng thời cần giám sát chặt chẽ hoạt động cạnh tranh và có can thiệp thích hợp nếu có độc quyền, lạm dùng độc quyền.  Nhằm giảm bớt gánh nặng quản lý và ngân sách, nhà nước vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá các công ty lớn để bộ máy điều hành chịu sự giám sát của hội đồng quản trị nhiều thành phần và tiếp cận với nguồn vốn của dân. 
Tham nhũng và bộ máy quản lý 
Một trong những rào cản lớn đối với phát triển trong quá trình quá độ đối với các nước đang phát triển là nạn tham nhũng đi đôi với hiệu quả của bộ máy quản lý thấp.  Nạn tham nhũng ở VN không phải là vấn đề mới lạ nhưng không ít ý kiến cho rằng nó đã trở nên phổ thông, hệ thống và nghiêm trọng.  Trong khi lương công chức theo qui định chỉ có vài triệu đồng một tháng, nhiều người vẫn có đủ tiền mua xe hơi, xe máy đắt tiền, nhà to, cho con cái đi du học.  Gần đây một loạt các vụ án tham nhũng lớn cấp thành phố, tổng công ty và cấp bộ xảy ra với thất thoát hàng tỷ đồng mỗi vụ.  Chỉ tính con số thống kê chính thức năm 2002, ngành thanh tra phát hiện các sai phạm với tổng giá trị lên tới 2.739 tỷ đồng với 12.512 hecta đất, mặc dù “Tỉ lệ phát hiện như vậy rất nhỏ và chưa phản ánh đúng thực tế xã hội đòi hỏi” [12]. 
Tham nhũng (bao gồm cả tham ô và hối lộ) tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế của đất nước.  Về mặt kinh tế, hối lộ làm tăng chi phí sản xuất. Trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh quốc tế thì điều này có nghĩa là một quốc gia có tệ tham nhũng càng nghiêm trọng sẽ càng bị mất lợi thế cạnh tranh.  Đối với cạnh tranh trong nước, tham nhũng gây nên cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp.  Doanh nghiệp trốn được thuế (do biết đi cửa sau) sẽ có giá bán thấp hơn các doanh nghiệp khác thực hiện đầy đủ các loại thuế.  Tham nhũng cũng ảnh hưởng tới đầu tư (trong nước và nước ngoài) vì nó làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư và mức độ hấp dẫn của môi trường kinh doanh.  Tham nhũng còn thể hiện những bất công trong xã hội và giảm hiệu quả quản lý nhà nước.  Một giám đốc tham ô của nhà nước 1 tỷ đồng thì không có nghĩa là nền kinh tế bị thiệt hại 1 tỷ đồng đó.  Thực ra tiền chỉ chuyển từ nhà nước sang túi của vị giám đốc đó.  Nếu số tiền trên được lấy từ quĩ phúc lợi của một công ty thì cũng có nghĩa là công nhân của công ty đó bị cướp đi khoản tiền đúng bằng đó. 
Muốn giải quyết được nạn tham nhũng phải xác định và diệt trừ căn nguyên của nó, đó chính là sự bất hợp lý trong chế độ thù lao của công chức so với lao động ở các khu vực kinh tế khác.  Nếu trong một nền thị trường mà sức lao động cũng là một loại hàng hoá thì không thể trông đợi công chức với đồng lương một vài triệu/tháng vẫn cống hiến hết tài đức cho xã hội.  Để đẩy lùi nguy cơ tham nhũng do vậy cần bảo đảm thu nhập cho công chức theo mức mà thị trường lao động chấp nhận.  Tuy vậy, tăng lương cho khối nhà nước thì không tránh khỏi bùng nổ ngân sách và lạm phát phi mã như đã từng xảy ra trong thời bao cấp.  Mặt khác, nếu giữ chi ngân sách cố định thì để tăng lương gấp đôi thì cũng có nghĩa là phải cắt giảm một nửa nhân lực – điều không khả thi đối với một nền kinh tế đang phát triển như VN.  Thực tế năm 2004 bộ máy hành chính cố gắng cắt giảm được khoảng 13.000 lao động thì tổng số biên chế tăng thêm khoảng 60.000 lao động [13].  Qua đây có thể thấy sự phức tạp của tham nhũng là ở chỗ nó gắn liền với bộ máy nhà nước kém hiệu quả.  Do đó về mặt chiến lược cần xác định chống tham nhũng phải đi đôi với cải cách bộ máy hành chính. 
image
Để diệt trừ tham nhũng trước mắt cần cải thiện hệ thống pháp luật và bộ máy điều tra, thanh tra, giám sát, chống tham nhũng.  Nhưng để thành công thì bộ máy chống tham nhũng phải thực sự trong sạch và mạnh.  Một số bài học rút ra từ những số vụ tham nhũng lớn điển hình gần đây là: 
° Giao nhiều quyền hành (và cả trách nhiệm) hơn cho những người đứng đầu bộ máy điều tra, thanh tra, chống tham nhũng.  Chẳng hạn việc thủ tướng là trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng là một quyết định đúng trong bối cảnh hiện nay.   
° Cần có nhiều “Bao Công” hơn để bộ máy chống tham nhũng đủ mạnh.  Trong bối cảnh tham nhũng tràn lan như hiện nay, nếu chỉ có Ban chỉ đạo làm việc đắc lực thì cũng chỉ giải quyết được những vụ tham nhũng lớn.  Để bảo đảm hiệu quả chống tham nhũng ở cấp tỉnh trở xuống, cần có quyết sách đối với lãnh đạo ở các cấp này.  Chẳng hạn cần nâng cao và củng cố vai trò của hội đồng nhân dân ở các cấp địa phương.   
° Triển khai áp dụng bằng được Luật chống tham nhũng hiệu quả và rộng rãi. 
° Thiết lập đường dây nóng chống tham nhũng trên toàn quốc. Đẩy mạnh tuyên truyền chống tham nhũng trên cả nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng. 
° Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của báo chí và thông tin đại chúng trong cuộc chiến chống tham nhũng.  Nếu chúng ta có được một hệ thống báo chí và thông tin đại chúng dân chủ và tốt như bây giờ từ cách đây vài thập kỷ thì hẳn VN ngày nay đã khác. 
Đặc điểm của những giải pháp trên là có tác dụng ngay nhưng chưa chắc đã bền vững.  Vì nếu chỉ tập trung làm trong sạch mà không cải thiện thu nhập và chính sách đãi ngộ phù hợp có thể dẫn tới nguy cơ bị mất chất xám và cán bộ giỏi.  Bên cạnh đó phải kể đến những ràng buộc mang tính hệ thống như đã thấy khi đụng vào những đối tượng thuộc diện “trung ương quản lý”.  Mặt hạn chế của hệ thống hiện nay là khả năng ứng phó của nó đối với những cú sốc kiểu như vụ PMU18.  Việc giải quyết với những tình huống như vậy còn phụ thuộc vào ý chí của lãnh đạo nhiều hơn là sức ép của bản thân hệ thống.  Do vậy để bảo đảm hiệu quả và bền vững, chống tham nhũng cần đi đôi với cải cách bộ máy hành chính và thể chế như đã đề cập ở trên.   
Nhân lực và cạnh tranh để hội nhập 
Rốt cục vấn đề cốt lõi để giải quyết nạn tham nhũng và tăng hiệu quả quản lý nhà nước là cải thiện được chất lượng con người trong bộ máy.  Vấn đề nhân lực không chỉ quan trọng đối với bộ máy quản lý hành chính mà cả nền kinh tế nước nhà trong thời kỳ hội nhập nói chung.   
Nguồn lực vật chất đã đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế trong suốt 20 năm đổi mới nhưng xét về sâu xa mới chỉ là điều kiện cần để thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá và tự do thương mại, tích luỹ tư bản thông qua hoạt động của nền kinh tế thị trường sẽ nhanh chóng đáp ứng nhu cầu đầu tư và công nghệ của các quốc gia.  Khi đó yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia sẽ không còn bị lệ thuộc nhiều vào tích luỹ tư bản mà chủ yếu là nhân lực.  Sự bùng nổ đầu tư nước ngoài vào một số nước châu Á trong mấy thập kỷ qua đã cho thấy một trong những nhân tố chủ yếu thu hút đầu tư nước ngoài là nguồn nhân lực.  Đầu tư nước ngoài sẽ đổ về nơi có lao động rẻ hơn mà “rẻ” ở đây không phải là về giá trị tuyệt đối của chi phí nhân công mà là giá trị tương đối của nó so với giá của sản phẩm được làm ra hoặc so với chi phí nhân công ở những nước khác.  Điều này có nghĩa chất lượng con người sẽ là yếu tố quyết định cuối cùng quyết định đến tăng trưởng và sức cạnh tranh của quốc gia vì những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp (thông qua thu hút đầu tư nước ngoài).  Đánh giá về tiềm năng, VN có lợi thế về nguồn lao động dồi dào với dân số khá lớn và chỉ số phát triển con người, theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), ở mức 108 trong số 177 quốc gia [14].  Tuy vậy theo Bộ LĐTBXH thì khoảng 3/4 lực lượng lao động của cả nước vẫn chưa qua đào tạo [15].  Để phát triển được lợi thế tương đối về nguồn lực lao động, thì phát triển chất lượng nguồn lao động cần phải được ưu tiên như một nhiệm vụ chiến lược. 
Một vấn đề khác liên quan đến vấn đề nhân lực là sự phân bổ lao động.  Biểu 3 cho thấy ngành nông, lâm nghiệp hiện chiếm 55% lực lượng lao động của cả nước, trong khi chỉ đóng góp khoảng 18% tổng thu nhập quốc dân [16].  Trong điều kiện đất chật, người đông thì một trong những giải pháp cho ngành này là thúc đầy cơ giới hoá để tăng năng suất.  Điều này đồng nghĩa với nguy cơ thừa lao động trong ngành nông nghiệp và việc phải cơ cấu lại (đào tạo, chuyển đổi) một phần lực lượng lao động không nhỏ từ nông nghiệp sang các ngành khác.  Biểu hiện thực tế của vấn đề này là làn sóng lao động từ ngoại tỉnh đổ về các thành phố và khu công nghiệp đang ngày càng một tăng. Nhà nước cần coi như đây là một cơ hội và sớm có chính sách giải quyết thích hợp vì trong tương lai ngành dịch vụ và công nghiệp sẽ còn chiếm tỉ trọng cao hơn và cần nhiều lao động hơn. 
Liên quan tới chất lượng con người thì không thể không kể tới chất lượng giáo dục và đào tạo.  VN cần một sự cải tổ toàn diện ngành GDĐT vì hệ thống giáo dục từ tiểu học đến cao học vốn nặng về lý thuyết, yếu về thực hành, không cân đối giữa đào tạo đại học và dạy nghề.  Một thách thức đối với vấn đề nhân lực là trí thức và lao động VN còn bị rào cản về ngôn ngữ khiến cho lao động VN ít hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực. 
Trở lại vấn đề cải cách hành chính và chống tham nhũng nhìn dưới góc độ chất lượng nhân lực.  Bài học sau 20 năm đổi mới là nếu thị trường hoá (xoá bỏ rào cản đối với cung, cầu) đối với hàng hoá, dịch vụ thì chất lượng hàng hoá, dịch vụ vừa nhiều, vừa tốt, vừa rẻ hơn so với thời bao cấp.  Nếu xã hội hoá dịch vụ công ích (mà thực chất là thị trường hoá), như dịch vụ vận tải, thì chất lượng dịch vụ cao hơn với giá cả thấp hơn.  Vậy sao không mở cửa đối với lao động trong khu vực nhà nước để cải thiện chất lượng nhân lực trong khu vực này? Thực tế hàng nghìn tỷ đồng được đầu tư cho các dự án chính phủ điện tử khắp cả nước nhưng không mấy cơ quan nhà nước công khai thông báo tuyển dụng trên trang web của mình.  Trên các báo, quảng cáo tuyển dụng của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước chỉ lác đác.  Không ít ý kiến cho rằng tuyển dụng vẫn chủ yếu mang tính nội bộ, ưu tiên con em lãnh đạo, người ngoài bộ máy khó được tiếp nhận nếu không quen biết hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn chính trị (đặc biệt đối với các vị trí lãnh đạo),… Cùng với thu nhập kém hấp dẫn, tuyển dụng nhân sự là một trong những rào cản đối với việc cải thiện bộ máy hành chính.  Phân tích trên cho thấy một số vấn đề liên quan đến việc tăng cường chất lượng nhân lực cần được giải quyết là: 
° Đẩy mạnh cải cách trong công tác tổ chức nhân sự trong khu vực nhà nước.  
° Đưa vào luật những vấn đề liên quan tới tuyển dụng và quản lý nhân lực trong các cơ quan tổ chức hành chính trong đó có những chính sách cụ thể ngăn chặn nạn con ông cháu cha. 
° Qui định các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước về việc công khai tuyển dụng trên mọi phương tiện thông tin đại chúng. 
° Mạnh dạn hạn chế tới mức tối thiểu và tiêu chuẩn hoá những yêu cầu liên quan tới chính trị không cần thiết đối với nhân sự làm việc trong bộ máy thuần tuý mang tính hành chính, công ích và thay vào đó là yêu cầu về bằng cấp, kinh nghiệm chuyên môn, ngoại ngữ và tin học. 
° Thực hiện khoán quĩ lương và khuyến khích đa dạng hoá các hình thức tuyển dụng (hợp đồng ngắn hạn, dài hạn, vụ việc, …).  Việc đa dạng hoá hình thức tuyển dụng không chỉ tiết kiệm ngân sách mà còn tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan do khuyến khích chuyên môn hoá.   
Xoá đói giảm nghèo 
Một trong những thành tích nổi bật của 20 năm đổi mới là giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 57% năm 1993 xuống còn khoảng 20% năm 2005.  Tuy đây là một thành công ấn tượng song tỷ lệ này vẫn còn khá cao và vẫn nên được ưu tiên giải quyết trong thời gian tới.  Cần chú ý rằng tăng trưởng kinh tế cao không hoàn toàn có nghĩa là đói nghèo sẽ giảm vì không có gì đảm bảo rằng mức sống của tất cả mọi đối tượng trong xã hội đều được tăng như nhau.  Thực tế tăng trưởng cao thường đi kèm với tăng khoảng cách giàu nghèo bởi vậy cần xác định xoá đói nghèo là một nhiệm vụ không thể tách rời trong quá trình phát triển.   
Đặc điểm nổi bật của nghèo đói ở VN là khoảng 90% hộ nghèo sống ở nông thôn mà sinh kế chủ yếu là nghề nông.  Do vậy phát triển nông nghiệp là giải pháp tất yếu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.  Một thách thức căn bản của nông nghiệp VN là năng suất thấp mà lý do chủ yếu là do sản xuất manh mún và nông dân thiếu vốn trầm trọng.  Cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp là cần thiết nhưng điều kiện tiên quyết là đồng ruộng phải đủ lớn không thể nhỏ lẻ manh mún.  Bởi vậy cần bắt đầy từ việc đẩy mạnh cải cách địa chính và dồn điền đổi thửa.  Mặt khác để bảo đảm vốn cho sản xuất nông nghiệp, nhà nước vẫn cần duy trì tín dụng ưu đãi cho các đối tượng nghèo đồng thời đẩy mạnh khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp. 
Liên quan đến năng suất không thể không nói tới những hạn chế trong nghiên cứu khoa học và phổ biến công nghệ (giống, công nghệ nuôi, trồng, bảo quản sau thu hoạch) cho bà con nông dân.  Do chất lượng liên quan đến giá thành nên VN tuy đứng thứ 2 trên thế giới về số lượng gạo xuất khẩu nhưng chỉ đứng thứ 4 về doanh thu. 
Mặt khác có thể thấy mối liên hệ giữa đói nghèo và tỷ lệ thời gian lao động trong nghành nông nghiệp. Hiện tại tỉ lệ thời gian lao động trung bình cả nước chỉ đạt 79%, trong khi các vùng có tỷ lệ nghèo cao là Bắc Trung bộ và Tây Bắc chỉ có tỷ lệ thời gian lao động 76% và 77% [17].  Biểu 4 cho thấy mối liên hệ giữa thời gian lao động và tỷ lệ nghèo của tất cả 8 vùng trong cả nước theo đó nếu thời gian lao động tăng lên 1% thì tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm đi khoảng 1,8% [18].  Để giải quyết vấn đề này cần đa dạng hoá hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm giảm thời gian nông nhàn.  Ngoài ra Nhà nước cũng cần có chính sách cơ cấu lại lao động nông thôn bằng cách tạo điều kiện thu hút lao động vào các khu công nghiệp và các thành phố như đã đề cập ở trên [19].   
Một đặc điểm khác của nông nghiệp VN là vẫn nặng về sản xuất nuôi trồng trong khi kém về chế biến và giá trị gia tăng.  Ba hệ quả trực tiếp của vấn đề này là giá trị sản phẩm đầu ra thấp (do sản phẩm chủ yếu là thô), xuất khẩu chịu rủi ro cao do thị trường nông sản thế giới thay đổi thất thường, và chịu ảnh hưởng tiêu cực của tính thời vụ (bán rẻ vào mùa thu hoạch).  Ngành chế biến nông sản vẫn chưa được khai thác một cách triệt để và cần được khuyến khích.  Trong thời gian qua tuy một số doanh nghiệp chế biến của nhà nước đã được thành lập ở các địa phương, nhưng kết quả không như mong đợi do các doanh nghiệp không những không phát huy được khả năng mà còn hạn chế đầu tư và cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác.  Trong thời gian tới cần đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp chế biến đồng thời có chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này.  Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nông thôn ở VN trong thời gian qua đã giúp làm thay đổi bộ mặt, cải thiện điều kiện sống ở các vùng nông thôn và giảm chi phí sản xuất nông nghiệp.  Nếu đầu tư sản xuất và chế biến nông sản được tăng cường thì tác động của cơ sở hạ tầng nông thôn mới được phát huy triệt để. 
Cuối cùng là khả năng chống chọi của người nghèo với thiên tai, bão, lũ.  Mức thiệt hại về kinh tế trung bình hàng năm do thiên tai gây ra tương đương khoảng 2% của tổng thu nhập quốc dân, tương đương khoảng 120 nghìn tỷ đồng [20].  Tuy con số không phải là lớn đối với cả nền kinh tế, nhưng thường thập trung vào một số vùng vốn đã nghèo như miền Trung nên ảnh hưởng của thiên tai đối với đói nghèo cũng rất nghiêm trọng.  Giảm thiểu rủi ro do thiên tai gây nên đối với các tỉnh có tỷ lệ nghèo cao sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc xoá đói nghèo một cách bền vững và làm giảm tình trạng tái nghèo có thể xảy ra do ảnh hưởng của thiên tai. 
Lời kết 
Trong kỷ nguyên kinh tế toàn cầu và hội nhập, khi mà cạnh tranh giữa các quốc gia trở nên khắc nghiệt thì lợi thế tương đối càng trở nên quan trọng.  Trong một thế giới mà hàng hoá, vốn đầu tư và công nghệ dễ dàng luân chuyển giữa các quốc gia thì lợi thế quốc gia sẽ phụ thuộc vào yếu tố còn lại là nhân lực (cả chất, số lượng) và trình độ quản lý.  Yếu tố thứ hai phụ thuộc vào nhân lực và thể chế.  Nói tóm lại thì nhân lực và thể chế là những yếu tố không thể bỏ qua để phát triển và hội nhập vì chúng gắn liền với quốc gia, địa phương, văn hoá, sắc tộc – điều này lý giải tại sao giá trị xuất khẩu lao động nhỏ không đáng kể so với xuất khẩu hàng hoá đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới.  Bốn vấn đề đã được đề cập trên là vai trò của Nhà nước, chống tham nhũng, phát triển nguồn lực và xoá đói nghèo, xoay quanh hai yếu tố này.   
Nhìn lại tiến bộ so với thời kỳ trước đổi mới thì có thể thấy VN đã đi được một quãng đường dài, thu nhập đầu người tăng gấp đôi trong vòng một thập kỷ là một mốc son trong chặng đường lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.  Tuy vậy, những thành công mà chúng ta vẫn tự hào lại chủ yếu là do tự cởi trói mình bằng cách “xoá bỏ ngăn sông cấm chợ” [21].  Ngày nay khi tác động của những thay đổi mang tính vĩ mô này đã đi vào ổn định, thành công trong thời kỳ tới đòi hỏi nhiều hơn ở những đổi mới ở tầm vi mô, trong khi Nhà nước lại không còn trực tiếp can thiệp vào hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. 
Từ mức thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia (Biểu 1) có thể thấy nếu VN vẫn chỉ giữ mức tăng trưởng bình quân đầu người như hiện nay thì phải mất 26 năm VN mới đạt được mức thu nhập bình quân đầu người như mức hiện tại của Thái lan (với mức sống khá trong các nước đang phát triển) và mất 66 năm mới đạt được mức thu nhập bình quân đầu người như mức hiện tại của Singapore (với mức sống khá trong nhóm các nước công nghiệp).  Còn để đuổi kịp về mức thu nhập bình quân đầu người như của hai nước này, VN cần tới 54 năm để đuổi kịp Thái Lan và 91 năm để đuổi kịp Singapore [22].  Tất nhiên với tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người thấp hơn của Trung quốc thì VN sẽ không bao giờ đuổi kịp được.  Nhằm rút ngắn thời gian thì VN phải đạt tốc độ tăng trưởng trên 9% là cần thiết và điều này cũng khả thi nếu tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới.  Đây cũng là mục tiêu mà nhân dân có thể kỳ vọng từ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước để VN được sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốnª 
Chú thích
[1] Ngân Hàng Thế giới (2006), http://devdata.worldbank.org/.
[2] Theo qui định mới của chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, chuẩn nghèo được qui định là mức thu nhập 200.000đ/người/tháng đối với nông thôn và 260.000đ/tháng đối với thành thị. 
[3] Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2006), Chỉ số Cạnh tranh Phát triển [Growth Competitiveness Index], http://www.weforum.org/.
[4] Nguồn: Xem chú thích 1.
[5] Điều 15 và 19, Hiến Pháp VN 1992.
[6] Thời báo Kinh tế VN (2006), Vào WTO, Chính phủ và doanh nghiệp phải cùng nhau tháo gỡ, http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?param=article&catid=01&id=58161b87cc2496. Truy cập 28/8/2006.
[7] Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám Thống kê, NXB Thống kê, Hà nội.
[8] Ngân hàng Thế giới (2005), Báo cáo phát triển VN 2006 [Vietnam Development Report 2006], Hà nội, trang 11. 
[9] Theo Nhân Dân Điện Tử (2002), http://www.nhandan.org.vn/vietnamese/20020101/bai-kt8.html, Thống kê đến cuối năm 2000, có hơn 40% DNNN không hoạt động có hiệu quả, và tổng số nợ của các DNNN lên đến 190.000 tỷ đồng tương đương 33% tổng thu nhập quốc dân.
Năm 2004, tỉ lệ lao động cho khối  doanh nghiệp tư nhân là 17%, cao hơn gấp đôi tổng số lao động làm việc cho khối quốc doanh và hành chính nhà nước cộng lại, 8,4%.  Nguồn: Xem chú thích 7. 
[10] Nguồn: Bộ tài chính (2006), Dự toán thu, chi ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2005, http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=87. 
[11] Về lý thuyết, tác dụng tiêu cực về kinh tế của độc quyền luôn lớn hơn lợi ích mà nó mang lại.  Các nước phát triển thường chỉ cho phép độc quyền ở những lĩnh vực không cần thiết phải khuyến khích cạnh tranh thuần khiết như phân phối điện, nước.  
[12] Tuổi trẻ (2003), Thủ tướng Phan Văn Khải: Sai phạm nhiều kỷ luật chẳng bao nhiêu, http://media.vdc.com.vn/top/ctxh/chitiet.cfm?id=57425, cập nhật 27/2/2003.
[13] Báo Thanh niên ngày 24/1/2005.
[14] Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (2005), Báo cáo phát triển con người 2005 [Human Development Report 2005].
[15] Vietnamnet (2006), Năm 2005: 1,6 triệu người được giải quyết việc làm, http://www.vietnamnet.vn, ngày 11.1. 
[16] Nguồn: Xem chú thích 7.
[17] Nguồn: Xem chú thích 7.
[18] Dựa trên số liệu của Tổng cục thống kê và Bộ lao động, thương binh và xã hội.
[19] Xem thêm chi tiết trong bài của Ngân hàng Thế giới (2005), Tăng cường phát triển nông nghiệp VN [Accelerating rural development Vietnam], Hà nội.  
[20] Nguồn: Xem chú thích 19. 
[21] Võ Văn Kiệt (2006), Nhớ đồng chí Lê Duẩn, Báo Nhân Dân, ngày 16 tháng 8. 
[22] Tốc độ tăng trưởng trung bình của thu nhập bình quân đầu người sẽ thấp hơn mức tăng trưởng tổng thu nhập quốc gia nếu dân số tăng và ngược lại.  Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho giai đoạn 2000-2004.  Nguồn: Xem chú thích 1. 
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 193, THÁNG 11/2006

HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

LÊ XUÂN ĐÌNH
Các tài liệu nghiên cứu gần đây đã đề cập nhiều đến nội dung, bước đi và yêu cầu thời đại của quá trình công nghiệp hóa đất nước. Riêng vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường, thì hiện đại hóa, hay nói cách khác hướng tới nền kinh tế thị trường hiện đại là như thế nào, và cần khai thác những đặc điểm tương đồng gì giữa việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc hiện đại hóa thị trường Việt Nam, vẫn còn ít được đề cập.
1 – Hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường hiện đại
Hiện đại hóa (modelisation) đã được tiếp cận rất khác nhau qua các giai đoạn phát triển của lịch sử. Hiểu theo nghĩa rộng và phổ biến nhất hiện nay, hiện đại hóa là quá trình giải phóng sức sản xuất, giải phóng con người khỏi nghèo nàn, lạc hậu, áp bức, bất công, là sự phát triển nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu đa dạng của con người, bảo đảm sự phát triển toàn diện các cá nhân, là sự phát triển của xã hội, sự giàu mạnh và thịnh vượng của quốc gia. Theo cách tiếp cận đó, khái niệm hiện đại hóa bao hàm một nội dung rất rộng lớn, thể hiện toàn bộ mục tiêu phát triển của nền kinh tế – xã hội, trong đó công nghiệp hóa là phương tiện, công cụ của hiện đại hóa và cũng là nội dung cơ bản của hiện đại hóa.
Hiện đại hóa đã được sử dụng khá rộng rãi trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ từ rất lâu. Hiện đại hóa nền kinh tế – xã hội đã xuất hiện như một phạm trù triết học ở châu Âu vào cuối những năm 50 đầu những năm 60(1)của thế kỷ XX.
Thuật ngữ hiện đại hóa lần đầu tiên được đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (năm 1996). Tuy nhiên, những nội dung của quá trình hiện đại hóa với các mức độ khác nhau trong lịch sử Việt Nam thì đã diễn ra từ rất lâu. Nhìn lại lịch sử, việc tiếp nhận và đồng hóa chữ Hán thành chữ Hán – Nôm (sử dụng chữ Hán trên nền phát âm của người Việt); việc sử dụng chữ cái la-tinh trên nền phiên âm và phát âm tiếng Việt thành chữ quốc ngữ từ thế kỷ thứ XVIII; phong trào duy tân đầu thế kỷ XX… và nhiều sự kiện lịch sử đánh dấu việc ông cha ta tiếp thu kiến thức, thành tựu kỹ thuật từ nước ngoài (như tơ lụa, dệt vải, đóng tàu thuyền…) là những nội dung của hiện đại hóa trong từng thời kỳ, hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Vài thập niên cuối của thế kỷ XX, nhận thức của Đảng đã có nhiều thay đổi về mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực. Nhưng bước ngoặt quan trọng nhất về tư duy nhận thức là việc từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến nay chúng ta hầu như đã thống nhất quan điểm rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển lực lượng sản xuất của xã hội loài người.
Kinh tế thị trường là phương thức vận hành nền kinh tế, là phương tiện để đạt tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; trong đó, quá trình phân phối tài nguyên, lao động và lợi ích vật chất đều dựa trên cơ sở các quan hệ cung cầu thị trường và do các quy luật của trao đổi và lưu thông hàng hóa (quy luật của thị trường) chi phối. Kinh tế thị trường là một loại phương thức tổ chức vận hành kinh tế – xã hội, nói theo cách thông thường, nó là một thể chế vận hành nền kinh tế, mà quy luật xuyên suốt của kinh tế thị trường là quy luật giá trị. Xét về mặt lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, nhiều quan niệm cho rằng, có giai đoạn của kinh tế thị trường chưa phát triển và kinh tế thị trường phát triển cao. Ngoài ra, kinh tế thị trường còn được phân biệt tùy theo bản chất của sự điều tiết của nhà nước, nghĩa là bản chất chính trị của nhà nước, có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Mỗi quốc gia thường lựa chọn cho mình một mô hình kinh tế, tuy vẫn dựa trên sự vận hành chung của các quy luật thị trường, nhưng các mối quan hệ tương tác giữa nhà nước, chính phủ, thể chế chính trị với các nhóm lợi ích trong xã hội thì rất khác nhau.
Nghị quyết của các kỳ đại hội Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ta đã xác định: đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mục tiêu là phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Khái niệm hiện đại ở đây thể hiện sự bắt kịp các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến nhất của nhân loại, sự tiếp nhận một cách tối ưu những thành tựu hiện đại (tại thời điểm đánh giá) của khoa học, kỹ thuật và công nghệ của loài người. Điều đó thể hiện ở chỗ, từ Đại hội IX Đảng ta đã xác định: “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt…”. Vậy cụ thể phải thực hiện từng bước đi như thế nào, khâu nào phải tiến hành tuần tự, khâu nào thì có thể “đi tắt đón đầu”… thì hầu như còn nhiều nội dung chưa được đề cập một cách sâu sắc.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng đã đề ra những mục tiêu cụ thể về việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể đó tiếp tục được nhấn mạnh tại Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khóa X) về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước thực tế hiện nay là ngoài việc định hướng xã hội chủ nghĩa cho kinh tế thị trường ở nước ta, thì nền kinh tế quốc dân và thể chế kinh tế thị trường đang chịu sự tác động của hai lực kéo:
Thứ nhất, đó là thể chế kinh tế thị trường quốc tế với một hệ thống các luật quốc tế, các công ước, các cam kết, các hiệp định, định chế trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việt Nam đã cam kết và không thể có cách nào khác ngoài việc thực hiện những lộ trình tự do hóa thương mại, kể cả song phương và đa phương, với WTO.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài những luật chơi chung của WTO, còn nhiều vấn đề khác nước ta cũng đang phải điều chỉnh cho phù hợp với các luật chơi của quốc tế. Trong đó, nước ta phải điều chỉnh nhiều luật, bộ luật và các định chế trong nước.
Vì vậy, đây cũng là một vấn đề lớn liên quan tới việc hiện đại hóa thể chế kinh tế thị trường đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm tới.
2 – Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được xác định trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, và “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ”(2).
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, bảo đảm môi trường cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế một cách minh bạch và công bằng. Hiện nay, trên lĩnh vực ngoại giao, nước ta đang tìm mọi cách để đàm phán vận động các thành viên của WTO thừa nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, nhưng trong chính sách đối nội, rõ ràng, phải gấp rút cải cách để khắc phục những yếu tố phi thị trường, vốn là hậu quả của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây để lại.
Nhà nước định hướng nền kinh tế bằng cách tạo sân chơi và luật chơi chung cho các chủ thể kinh tế một cách bình đẳng, kể cả chủ thể là Nhà nước tham gia hoạt động kinh tế với các thành phần kinh tế khác. Điều khó khăn nhất hiện nay là xác định cho rõ chức năng, vai trò quản lý của Nhà nước phân biệt với chức năng, vai trò sản xuất kinh doanh; giữa quản lý hành chính và quản lý kinh tế…; không hình sự hóa các tội phạm kinh tế…
Lựa chọn một cơ cấu kinh tế hợp lý có tính đến việc sử dụng tối ưu và bền vững các nguồn lực trong nước với việc xác định chỗ đứng, giá trị riêng có của Việt Nam trong chuỗi giá trị của nhân loại, tính đến sự tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế.
Về mặt sản xuất, phải kết hợp hài hòa giữa hai cách thức tiếp cận thị trường: 1 – Đưa ra thị trường những cái thị trường cần chứ không phải những cái mình có; 2 – Tìm thị trường cần những cái mình có chứ không chạy theo thiên hạ, họ làm cái gì thì mình làm theo cái nấy. Chẳng hạn, nếu chúng ta thấy các nước sản xuất máy bay, chúng ta cũng tìm cách sản xuất máy bay, thì rất khó thành công, đường đi khá gập ghềnh vất vả mà rủi ro thất bại lớn. Trong khi đó, tìm cách để khai thác tốt nhu cầu thị trường thế giới kết hợp với việc quảng bá sản phẩm Việt Nam đang có sức cạnh tranh lớn, thì sự bảo đảm thắng lợi trong cạnh tranh sẽ chắc chắn hơn.
3 – Đặc trưng của kinh tế thị trường hiện đại
Theo nghiên cứu của chúng tôi, kinh tế thị trường hiện đại có thể có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Các quy luật của thị trường, trước hết là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và quy luật cung – cầu…, là cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực trong nền kinh tế, chi phối toàn bộ các quá trình đó.
- Thị trường phát triển toàn diện và đồng bộ, trong đó các loại thị trường đều phát triển. Tất các các bộ phận, các loại thị trường tương tác hỗ trợ lẫn nhau để hình thành nên một hệ thống các quan hệ, thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, có các mối quan hệ hữu cơ, có tác dụng và là đầu mối của tất cả các hoạt động của nền kinh tế – xã hội.
- Các chủ thể (kể cả trong nước và nước ngoài) tham gia thị trường bình đẳng và cạnh tranh với nhau là các thực thể kinh tế có lợi ích riêng, nhưng đều tuân thủ hệ thống pháp luật chung (kể cả luật pháp trong nước và các định chế quốc tế).
- Các tín hiệu, thông tin thị trường về mọi hoạt động trong nền kinh tế – xã hội, tài chính, tiền tệ, sử dụng các nguồn lực, cân đối lớn – vĩ mô và vi mô, do thị trường phát ra… đều được công khai, minh bạch và bình đẳng trong việc tiếp cận đối với mọi thành viên và chủ thể trong xã hội.
- Thống nhất hình thành một trật tự thị trường, sản xuất xã hội, lưu thông phân phối và tiêu dùng dựa trên những tiến bộ mới nhất về khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
- Các phương tiện kỹ thuật tiên tiến được sử dụng một cách tối ưu cho mọi hoạt động của thị trường, thương mại điện tử trở thành phương thức giao dịch phổ biến; các cơ sở hoạt động về hậu cần – logistics(3), ngày càng có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội.
Với nội hàm của kinh tế thị trường hiện đại, quá trình xây dựng nên lưu ý ở hai nội dung chính:
a) Phần cứng là hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật gồm hệ thống phân phối, logistics, hệ thống chợ, các trung tâm buôn bán, các trung tâm siêu thị, bến cảng, kho bãi, giao thông, liên lạc, hệ thống các ngân hàng thanh toán… hiện hữu trong nền kinh tế và có thể đánh giá được tính đồng bộ, cũng như trình độ hiện đại của nó. Thương mại hiện đại ngày càng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại, kỹ thuật số vào vận hành tất cả các bộ phận cấu thành nên hệ thống phần cứng của nó.
b) Phần mềm bao gồm hai mảng vấn đề lớn cần chú ý:
- Hệ thống pháp luật, thể chế, định chế để thị trường hoạt động một cách bình thường, không bị ách tắc, không bị các rào cản có tính chất can thiệp quá mức dẫn đến méo mó thị trường; thể hiện các mối quan hệ giữa người với người và với các khâu trong hoạt động của thương mại hiện đại.
- Văn hóa, trong đó tập quán của công chúng đóng vai trò quan trọng. Thử hình dung một hệ thống phần cứng tốt đến mấy, mà ý thức của người dân không đáp ứng thì cũng chưa thể có thị trường hiện đại được.
4 – So sánh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường hiện đại
Với bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không thể không tận dụng tốt nhất những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại; tiên phong trong việc thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất; tiếp thu sớm nhất những gì tinh tú nhất của nhân loại; bảo đảm phát triển bền vững một cách tốt nhất.
Do vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải vừa tận dụng những gì ưu việt, tiến bộ nhất của kinh tế thị trường, vừa phát huy những bản chất tốt đẹp nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế, khi phối kết hợp cả hai nội dung lớn lại thì những hạn chế, những nhược điểm cố hữu của kinh tế thị trường sẽ được khắc phục bằng những ưu việt của các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa đầy tính nhân văn và bảo đảm bền vững. C.Mác đã phát hiện về những hạn chế, về tính chất thiếu bền vững của phương thức sản xuất của chủ nghĩa tư bản, bởi nó chỉ quan tâm đến lợi nhuận chứ không phải vì mục tiêu cuối cùng là con người: “Cái giới hạn thật sự của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là bản thân tư bản, điều đó có nghĩa là: tư bản và việc làm cho tư bản tự nó tăng thêm giá trị là điểm xuất phát và điểm cuối cùng, là động cơ và mục đích của sản xuất, sản xuất chỉ là sản xuất cho tư bản, chứ không phải ngược lại; những tư liệu sản xuất không phải đơn thuần là những phương tiện cho quá trình sinh sống thường xuyên mở rộng của xã hội những người sản xuất.”(4).
Vậy, nền sản xuất mang bản chất xã hội chủ nghĩa phải phát huy cao độ sự thống nhất giữa mục đích và phương tiện, đó là lấy con người làm trung tâm, làm mục tiêu cao cả của mọi mục tiêu sản xuất, kinh doanh. Như thế thì sự thống nhất giữa định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển bền vững, thống nhất giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường hiện đại ắt sẽ được bảo đảm.
5 – Các giải pháp phát triển kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Cụm các giải pháp phát triển phần cứng đòi hỏi phải đầu tư, tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng… để sớm có nền tảng vật chất bảo đảm cho thị trường hiện đại phát triển.
Cụm các giải pháp phần mềm: xu thế thế giới là một động lực thúc đẩy quá trình phát triển phần mềm của kinh tế thị trường hiện đại, vì đã hội nhập sâu thì Việt Nam phải thay đổi nhiều bộ luật, đồng thời phải thực hiện nhiều cam kết để “chơi trong một sân chung với thế giới”, và do đó động lực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa thị trường trong nước nhanh hơn là đứng độc lập một mình.
Các giải pháp về phát triển văn hóa, tạm gọi là như vậy, sẽ lệ thuộc vào tốc độ cải thiện về dân trí, về hiện đại hóa tập quán sinh hoạt, hiện đại hóa nhiều quy định, quy chế dưới luật để đưa hàng chục triệu người dân sống và làm việc theo pháp luật, có tác phong hiện đại, có đủ trình độ để sử dụng những trang thiết bị, máy móc hiện đại của kết cấu hạ tầng thị trường hiện đại nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Cụm giải pháp dài hạn là thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển thương mại điện tử, chính phủ điện tử, và, sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của kinh tế tri thức.
Cụm các giải pháp về nâng cao năng lực điều tiết của Nhà nước đối với kinh tế thị trường, khi nói đến những thất bại của thị trường thì vấn đề đầu tiên cần phải lưu ý đó là tính chất chu kỳ của kinh tế. Những biến động về tài chính, tiền tệ những tháng đầu năm 2008 ở trong nước và trên thế giới đã thể hiện rõ nét thêm về điều đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm về minh bạch thông tin, cảnh báo sớm để can thiệp kịp thời làm giảm tác hại của những chu kỳ kinh tế có thể lường trước là một nghệ thuật mà các nền kinh tế phát triển đã rất thuần thục. Tiếp đến là trong điều hòa các vấn đề xã hội, nhất là kìm chế sự phân hóa giàu nghèo, không ai khác ngoài các chính sách của Chính phủ làm cho xã hội phát triển nhanh, nhưng hài hòa giữa các tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người đều được hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nền kinh tế phát triển vừa nhanh, vừa hiệu quả và bền vững.


(1) Lương Việt Hải (Chủ biên), Lê Xuân Đình – Nguyễn Đình Hòa: Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr 240
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 100
(3) Hệ thống hậu cần hợp lý các luồng vận động của hàng hóa trong một nền kinh tế từ điểm đầu đến điểm cuối
(4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t 25 phần 1, tr 380
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 21 (165) NĂM 2008

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code