Showing posts with label Tranh tung va Luat su. Show all posts
Showing posts with label Tranh tung va Luat su. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

KỶ LỤC CỦA MỘT LUẬT SƯ GỐC VIỆT

TUYẾT LINHimage
THANHNIEN - Trong số hàng trăm luật sư người gốc Việt tại Mỹ, luật sư trẻ Luân Phan được xem là một trong những người thành công nhất.
Mới đây Luân Phan đã được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Luật sư người Mỹ gốc Việt khu vực Nam California. Trong các năm 2004, 2005 và 2006, anh được bầu là "Ngôi sao đang lên" (Rising Star) của Nam California. Mới đây, Tạp chí Law and  Politics and Los Angeles bầu chọn anh là "Siêu luật sư" (Super Lawyer) năm 2008. Vì đâu anh được tín nhiệm cao như vậy? Đó là tính cách làm việc hết mình đem lại thắng lợi cho thân chủ trong các vụ kiện và đặc biệt, một vụ kiện hồi năm ngoái mà luật sư Luân giúp thân chủ được bồi hoàn khoản tiền 96,4 triệu USD đã trở thành kỳ tích trong giới luật sư ở Los Angeles và làm điển hình để trường luật Loyola – nơi Luân tốt nghiệp – lôi cuốn sinh viên. Câu chuyện được kể lại dưới đây được xem như vụ kiện thắng nhiều tiền nhất cho một nguyên đơn trong lịch sử xử án của tiểu bang California.
Khi bác sĩ và bệnh viện phớt lờ 
Vụ kiện liên quan đến một bé sơ sinh tên là Aidan, đã bị hư não bộ vĩnh viễn mà trách nhiệm thuộc về Bệnh viện Verdugo Hills (VHH) và bác sĩ trị liệu chính Nishibayashi. Aidan chào đời tháng 3.2003, là một đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy nhiên, cháu có nguy cơ đối diện với việc phát triển một chứng bệnh gọi là kernicterus (bệnh vàng nhân não) – một chứng bệnh chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh trong vòng từ ngày thứ hai đến ngày thứ tám khi mới chào đời, mà nếu không ngăn chặn thì sẽ làm hư não bộ. Điều đáng nói là trước khi Aidan chào đời 2 năm, tức là từ năm 2001, các cơ quan y tế chính yếu ở Mỹ, kể cả Học viện Nhi khoa (AAP) và Trung tâm Ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật đều đã báo động trên cả nước về nguy cơ bệnh kernicterus tăng cao ở trẻ sơ sinh. Kèm theo lời cảnh báo là hướng dẫn ngăn ngừa bệnh mà AAP đã phổ biến từ năm 1994. Tất cả các bệnh viện đều phải bảo đảm tiến hành các chính sách và biện pháp thích hợp trong việc chẩn đoán, trị liệu để không một trẻ sơ sinh nào mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo đó.

Mặc dù VHH thừa nhận là họ có biết đến những lời cảnh báo nói trên, nhưng ban giám đốc bệnh viện đã không thi hành theo những hướng dẫn và do vậy, tất cả nhân viên của bệnh viện, kể cả bác sĩ Nishibayashi, đã không lường được mức độ nguy hiểm đến với cháu Aidan để đưa ra những lời khuyên, chỉ dẫn thích hợp cho cha mẹ cháu. Hơn thế nữa, họ đã "tư vấn" cho cha mẹ Aidan những điều còn tai hại hơn.
Những lời khuyên tai hại
Khi Aidan bắt đầu bị chứng vàng da ngay sau khi chào đời, nhân viên y tế của VHH đã nói với cha mẹ cháu là không có gì lạ cả và tự nó sẽ biến mất chỉ trong vòng vài ba ngày thôi. Thậm chí, trên đầu Aidan có mấy vết bầm là dấu hiệu có thể tăng nồng độ sắc tố mật, dẫn đến chứng vàng da nặng rồi chuyển qua  kernicterus nhưng bác sĩ Nishibayashi đã cho cháu về nhà 24 tiếng đồng hồ sau đó. Do tin vào lời tư vấn nên cha mẹ Aidan chẳng đưa cháu đến phòng cấp cứu. Chỉ hai ngày sau, Aidan bị vàng da nặng hơn. Các khám nghiệm sau đó cho thấy cháu đã bị máu dồn lên màng óc trước khi mẹ cho bú. Triệu chứng này kết hợp với nguồn gốc thuộc sắc dân Á Đông khiến Aidan rất dễ bị bệnh vàng nhân não. Cháu được chuyển ngay đến phòng cấp cứu và nơi đó phát hiện nồng độ sắc tố mật đã vượt mức. Nếu như Aidan nhận được sự trị liệu kịp thời và thích hợp thì cháu dễ dàng thoát khỏi những tổn thương não bộ. Và hậu quả của sự tắc trách từ VHH và bác sĩ Nishibayashi là vào lúc tòa xử án năm 2007, cháu Aidan đã 4 tuổi nhưng gần như sống đời sống thực vật. Cháu không đi, không ngồi, không đứng, không nói được, không thể tự mình ăn uống và tình trạng như thế sẽ kéo dài đến hết đời.
Khi vụ việc được đưa ra tòa, sau 9 ngày bàn cãi, cuối cùng bồi thẩm đoàn đi đến quyết định cho bên nguyên đơn được bồi thường khoản tiền 96,4 triệu USD, và đây trở thành một vụ kiện đi vào lịch sử xử án của California. Bồi thẩm đoàn gồm 12 người, 6 nam, 6 nữ, trong đó có 4 người Mỹ da trắng, 3 người Mỹ gốc Phi, 5 người còn lại gốc Á và Mỹ La-tinh. Số phiếu thuận cho bên nguyên là 9/12. May mắn cho luật sư Luân Phan là nếu chỉ đạt đa số phiếu 8/12 của bồi thẩm đoàn thì vụ kiện có thể phải xử lại. Họ đứng về phía nguyên cáo khi Luân Phan chứng minh quyền của các bậc cha mẹ là phải được khuyến cáo đúng mức về tình trạng sức khỏe nguy kịch của con mình. Trong vụ án này, bồi thẩm đoàn cho rằng lỗi cẩu thả của bệnh viện là 40%, của bác sĩ Nishibayashi là 55% và của cha mẹ cháu Aidan là 5% nên đã quyết định khoản tiền bồi hoàn nói trên.
Thế là công lao của luật sư Luân Phan cùng các cộng sự trong suốt 2 tháng đã được đền đáp. Trong thời gian 2 tháng đó, số tiền mà Luân Phan và nhân viên chi phí là 400.000 USD và thời gian làm việc của họ quy ra tiền khoảng 2 triệu USD.
Mỹ là quốc gia có nền y học tiên tiến nhưng cũng không tránh khỏi việc bệnh nhân tử vong do sai lầm của các giới chức ngành y, dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện. Theo thống kê chỉ riêng tại tiểu bang California thì trong 10 tháng qua có đến 145 ca phẫu thuật mà bác sĩ đứng mổ đã bỏ quên dụng cụ bên trong cơ thể bệnh nhân; có 41 người bị giải phẫu sai bộ phận hoặc giải phẫu nhầm người khác. Mỗi tháng có khoảng 100 bệnh nhân bị nguy hiểm đến tính mạng do những lỗi đáng ra có thể tránh được.
Mỹ là quốc gia có nền y học tiên tiến nhưng cũng không tránh khỏi việc bệnh nhân tử vong do sai lầm của các giới chức ngành y, dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện. Theo thống kê chỉ riêng tại tiểu bang California thì trong 10 tháng qua có đến 145 ca phẫu thuật mà bác sĩ đứng mổ đã bỏ quên dụng cụ bên trong cơ thể bệnh nhân; có 41 người bị giải phẫu sai bộ phận hoặc giải phẫu nhầm người khác. Mỗi tháng có khoảng 100 bệnh nhân bị nguy hiểm đến tính mạng do những lỗi đáng ra có thể tránh được.
Bí quyết thành công 
Luân Phan tâm sự, bài học quan trọng nhất đối với anh trong xã hội Mỹ là: Khi đi phỏng vấn xin việc nếu im lặng quá thì sẽ thất bại vì không ai chịu thuê ta nếu như ta không tỏ ra năng động, không bộc lộ những gì mình muốn cho người phỏng vấn biết. Bài học đó rút ra từ chính trường hợp của anh. Khi còn là sinh viên trường luật Loyala, trong tổng số khoảng 400 sinh viên thì   O’Melveny&Myers – một công ty luật uy tín – chỉ mời 6 sinh viên xuất sắc đến phỏng vấn, trong đó có Luân Phan. Nhưng do quá khiêm tốn và ít nói nên anh là người duy nhất không được thuê. Song có lẽ đó cũng là sai lầm của O’Melveny&Myers nếu như biết được kết quả sau này của vị luật sư trẻ mang lại cho bất cứ công ty nào mà anh cộng tác.
Tuy Luân Phan thường khiêm tốn nhưng bạn bè, đồng nghiệp đều thừa nhận anh là người rất năng động và ham học hỏi. Theo Luân Phan, để thành công trong nghề luật thì không nhất thiết phải áp dụng mọi thứ học được từ trong nhà trường, vì như thế thì ai cũng giống ai. Giờ đây, với danh tiếng của một luật sư chính, anh thường được giới thiệu các vụ kiện lớn với khoản tiền bồi thường lên tới hàng chục triệu USD.
SOURCE: BÁO THANH NIÊN

Wednesday, January 22, 2014

NGƯỜI GỬI TIỀN, VIETINBANK, HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ VÀ 4.000 TỶ

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA
Huỳnh Thị Huyền Như kêu gọi khách hàng gửi tiền về Vietinbank, bằng hình thức ủy thác, gửi tiền trực tiếp… Sau khi khách hàng gửi tiền vào Vietinbank, Huyền Như có hai thủ đoạn chính để rút tiền. Một là, dùng chứng từ giả để rút ra, giả chữ ký của chủ tài khoản. Hai là, dùng chứng từ giả, giả chữ ký và thế chấp khoản tiền đó để vay Vietinbank, chiếm đoạt tiền vay; sau đó bị bắt, Vietinbank trích tiền gửi của khách hàng để bù đắp cho việc cho vay này, mặc dù hợp đồng thế chấp là giả. Tóm lại là người gửi tiền đã chuyển vào tài khoản hợp pháp của ngân hàng Vietinbank, sau đó Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối để lấy tiền ra.
Vụ án phức tạp, thời gian xét xử dự kiến kéo dài từ ngày 6/1/2014 đến 25/1/2014. Trong những ngày qua trên các báo phản ánh câu chuyện phức tạp, nóng bỏng là Huyền Như chiếm đoạt tiền của ai, Vietinbank có phải đền tiền cho khách hàng hay không? Để bạn đọc tiện theo dõi và bình luận tôi xin tổng hợp các tin bài từ trang website: Cafef.vn và VnEconomy.vn, như sau.
QUAN ĐIỂM VIỆN KIỂM SÁT
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát cho rằng trong vụ án này, Huỳnh Thị Huyền Như phạm tội lừa đảo, Vietinbank không bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm về dân sự đối với các khoản tiền mà các đơn vị, cá nhân gửi vào ngân hàng. Theo đó Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng gần 4.000 tỷ đồng.
QUAN ĐIỂM BẢO VỆ VIETINBANK
Trả lời Hội đồng xét xử các câu hỏi của luật sư liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của VietinBank, ông Nguyễn Mạnh Toàn, chuyên viên phòng Pháp chế ngân hàng VietinBank đã khẳng định rằng, các bộ luật, nghị định, quyết định hoặc các văn bản dưới luật khác không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, tài khoản của khách hàng được mở tại ngân hàng cũng như quản lý số dư trên các tài khoản này tại ngân hàng. Mấu chốt nhất trong nội dung trả lời là không có định nghĩa về “quản lý tài khoản” nên không có “trách nhiệm quản lý tài khoản”; số dư tài khoản thuộc quyền sở hữu và định đoạt của khách hàng.
Luật sư Nguyễn Thị Bắc bảo vệ quyền lợi cho Vietinbank đã trình bày quan điểm khẳng định Vietinbank không phải là bị hại của vụ án và Vietinbank không thiệt thòi gì. Việc xảy ra vụ án lớn như thế không chỉ bởi lỗi tinh vi của bị cáo Huyền Như mà còn bởi sai phạm quá tinh vi của các ngân hàng, doanh nghiệp cá nhân bị hại.
Phản bác mọi ý kiến, quan điểm của các luật sư khác, đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát, luật sư Bắc cho rằng Vietinbank không chịu trách nhiệm gì về những tổn thất mà Huyền Như gây ra. Bởi toàn bộ hợp đồng này do Như ký với các bị hại, không diễn ra trong văn phòng của Vietinbank, và đây hoàn toàn là những giao dịch bất hợp pháp. Bởi vậy, Vietinbank không chịu bất kể trách nhiệm dân sự nào của vụ việc.
Lý giải về việc thời gian sai phạm của Huyền Như kéo dài và số tiền Như chiếm đoạt rất lớn nhưng Vietinbank không hề biết, luật sư Bắc khẳng định trong suốt thời giandài, các cơ quan thanh tra Chính phủ, kiểm toán Nhà nước và cả kiểm toán Quốc tế đã làm việc ở Vietinbank nhưng không phát hiện ra bởi Như phạm tội hết sức tinh vi và do sai phạm tinh vi của các cá nhân, bị hại.
QUAN ĐIỂM BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN
Luật sư Trương Thanh Đức (bảo vệ quyền và lợi ích của NaviBank) đã bắt đầu bài trình bày quan điểm của mình trong ngày xét xử t(16-1) : Tại trang web của VietinBank sáng nay 16-1 vẫn đang khẳng định rằng “Tiền trong tài khoản của khách hàng được VietinBank quản lý, bảo mật”.
Ai quản lý tài khoản?
Theo luật sư Đức, hiện nay, các quy định về mở và sử dụng tài khoản của ngân hàng đã xác định không thật rõ về trách nhiệm quản lý tài khoản. Tuy nhiên vẫn hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm này. Chẳng hạn, khoản 2, Điều 67 về “Phong tỏa tài khoản”, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định “Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải thực hiện ngay quyết định của Chấp hành viên về phong toả tài khoản.”
Đương nhiên phải hiểu rằng người “quản lý tài khoản” là ngân hàng chứ không phải là chủ tài khoản, vì nghiệp vụ “phong tỏa tài khoản” chỉ dành riêng cho ngân hàng, chứ không dành cho khách hàng. Hay khoản 5, Điều 3 về “Nhận biết khách hàng”, Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04-10-2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Phòng chống rửa tiền cũng quy định, ngân hàng phải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng trong “dịch vụ quản lý tài khoản của khách hàng”.
Như vậy thì khách hàng có trách nhiệm quản lý tài khoản của mình tại ngân hàng hay không? Luật sư Đức đặt câu hỏi và tự trả lời luôn: “Xin khẳng định rằng khách hàng cũng có trách nhiệm quản lý tài khoản. Điều này đã được quy định trong Điều 10 về “Trách nhiệm của chủ tài khoản”, Quy chế Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN2 ngày 21-11-2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là phải hiểu trách nhiệm ở đây là như thế nào?
Trách nhiệm quản lý đến đâu?
Cho rằng liên quan đến hậu quả mất tiền trong vụ án nói trên, ngân hàng đã viện dẫn quy định quan trọng nhất tại khoản 2, Điều 10, Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2, đó là khách hàng có trách nhiệm: “Tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư trên tài khoản, đối chiếu với Giấy báo Nợ, Giấy báo Có, hoặc Giấy báo số dư tài khoản do Ngân hàng nơi mở tài khoản gửi đến”.
Theo ông Đức, một trong những quyền quan trọng nhất của chủ tài khoản là được ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các yêu cầu thanh toán, rút tiền, chuyển tiền. Nhưng để thực hiện được quyền này, thì đồng thời khách hàng phải có trách nhiệm tổ chức hạch toán kế toán như thanh toán tiền hàng hay trả lương và theo dõi xem tiền còn hay hết, chứ không thể yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mục đích trái luật hay chuyển tiền khi tài khoản trống rỗng. Chủ tài khoản không thể tự mình giao dịch rút tiền, chuyển tiền, thanh toán nếu như không có sự cho phép của ngân hàng. Thậm chí đúng là chủ tài khoản đã ký lệnh thanh toán, nhưng nếu chữ ký không giống với đăng ký hay ký bằng mực đỏ, thì ngân hàng có quyền đồng thời phải từ chối thực hiện lệnh chi.
Như vậy, khách hàng chỉ quản lý một phần tài khoản và những gì ngoài phạm vi ngân hàng, còn lại thì chủ yếu thuộc về trách nhiệm của ngân hàng. Điều đó có nghĩa là, dù tội phạm có giật được tài khoản, thì cũng không dễ gì chiếm đoạt được tiền trong tài khoản của khách hàng, vì ngân hàng mới là người quyết định trong việc mở két và xuất tiền. Ngân hàng là hầu bao giữ tiền, tội phạm muốn lấy tiền, thì buộc phải tìm cách rút ruột ngân hàng.
Trách nhiệm pháp lý
Với cơ sở nói trên, theo luật sư Đức tài khoản bị “chọc thủng” ở khâu nào, thì sẽ tương ứng với trách nhiệm liên quan của khách hàng hay ngân hàng ở đó. Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2 cũng đã đồng thời quy định tại Điều 10 và Điều 12, khách hàng thì phải “chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.”, còn ngân hàng thì phải “chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng trên tài khoản của khách hàng do lỗi của mình.” Nếu khách hàng không hề ký lệnh rút tiền hay thanh toán, cũng không hề ký hợp đồng cầm cố tiền gửi,… thì đương nhiên là không có lỗi trong việc tiền cứ “biến” khỏi tài khoản.
Tại phiên tòa này, đại diện Vietinbank cho rằng, những quy định trên chỉ áp dụng đối với tài khoản tiền gửi, chứ không áp dụng đối với tài khoản thanh toán của khách hàng. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của pháp luật luật sư Đức cho rằng: “tài khoản thanh toán cũng chính là một loại tiền gửi và không có sự khác nhau về trách nhiệm pháp lý giữa hai loại tài khoản này. Khoản 22, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã giải thích rõ “Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.” Không những thế, Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2 còn xác định cụ thể hơn, “tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản séc bảo chi, tài khoản chuyển tiền, tài khoản tiền vay,…” đều là “các tài khoản thanh toán khác”. Luật sư Trương Thanh Đức viện dẫn.
Do vậy, vấn đề pháp lý mấu chốt trong việc tranh cãi nói trên không phải ở chỗ ai là người có trách nhiệm quản lý tài khoản, mà là ai đã có lỗi chủ yếu và trực tiếp dẫn đến nguyên nhân thất thoát hàng ngàn tỷ đồng trong tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Luật sư Đức nói.
Yêu cầu Vietinbank dũng cảm nhận trách nhiệm
Tương tự, luật sư Trần Minh Hải (bào chữa cho Công ty CP chứng khoán Phương Đông) lập luận, từ khi tiền của khách hàng chuyển vào tài khoản tiền gửi mở tại Vietinbank, sau khi được hạch toán chuyển tiền liên ngân hàng, từ đây trách nhiệm quản lý tiền gửi đã phát sinh. Lúc này, một lằn ranh pháp lý rõ rệt đã được hình thành: Tiền gửi của khách hàng lập tức thuộc trách nhiệm quản lý của Vietinbank.
“Từ đây, nếu như tiền gửi của khách hàng đang nằm trong sự quản lý an toàn của cả hệ thống ngân hàng Vietinbank, bao gồm các yếu tố công nghệ, con người, quy trình… mà bị thất thoát do lỗi của ngân hàng, thì đương nhiên ngân hàng Vietinbank phải gánh chịu trách nhiệm”, luật sư Hải nói.
Theo luật sư Hải, ngân hàng để xảy ra hiện tượng cán bộ của mình dùng thẩm quyền ngân hàng giao phó, chiếm đoạt tiền gửi trên tài khoản của khách hàng, thì đương nhiên ngân hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ngân hàng quản lý tài khoản của khách hàng nhưng lại để tiền chuyển khỏi tài khoản tiền gửi của khách hàng mà không hề có chứng từ, lệnh chuyển tiền hợp pháp. Huyền Như dùng thủ đoạn lập khống các ủy nhiệm chi để che dấu sai phạm chỉ là trì hoãn sự phát giác của Vietinbank. Nói cách khác, hành vi phạm tội của Huyền Như đã hoàn thành ngay tại thời điểm tiền được chuyển ra khỏi tài khoản của khách hàng. Đó là thời điểm tiền gửi của khách hàng đang nằm dưới sự quản lý của Hệ thống Vietinbank, đó là hành vi rút ruột tiền của Vietinbank, Vietinbank phải chịu trách nhiệm về sự chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng, luật sư Hải lập luận.
Theo điều 18, Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20.9.2001: “Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, người sử dụng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho bên liên quan do vi phạm quy định hoặc thỏa thuận giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán”, luật sư Hải viện dẫn.
Luật sư Trấn cho rằng kết luận của vị công tố là không phù hợp với pháp luật.
Cụ thể, Huỳnh Thị Huyền Như và Võ Anh Tuấn đều là người của pháp nhân Vietinbank do Vietinbank bổ nhiệm, quản lý. Cả hai được Vietinbank giao trách nhiệm huy động vốn cho Vietinbank. Theo quy định của điều 618 Bộ luật dân sự thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân giao.
Bảo vệ cho Ngân hàng ACB, luật sư Lưu Văn Tám đề nghị
Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Vietinbank thừa nhận tại tòa trong quá trình xét hỏi chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền bị chiếm đoạt trong trường hợp nếu đó là hợp đồng thật.
“Cụ thể, đối với các hợp đồng do Vietinbank xác lập với khách hàng, có chữ ký, con dấu thật thì Vietinbank sẽ chịu trách nhiệm trả cho khách hàng. Có 32 hợp đồng của ACB là hợp đồng thật, chữ ký và con dấu thật của Vietinbank và đã chuyển tiền cho Vietinbank”, luật sư Tám nói.
Việc vị công tố lập luận khách hàng không giao dịch trực tiếp với người có trách nhiệm của Vietinbank dẫn đến mất tiền là không thỏa đáng, vì lãnh đạo của Vietinbank chỉ có vài người, làm sao có thể tiếp xúc với hàng trăm, hàng ngàn khách hàng một ngày, luật sư Tám phân tích.
Nếu việc trả lãi suất vượt trần là sai thì cũng không thể dẫn đến hậu quả ACB bị mất tiền và không thể phủ nhận trách nhiệm của Vietinbank trong việc hoàn trả ACB số tiền gốc, lãi hợp pháp theo quy định, theo luật sư Tám.
Cũng theo luật sư Tám, nếu Cơ quan công tố cho rằng hợp đồng (giao dịch) ủy thác của lãnh đạo ACB cho nhân viên mình là trái pháp luật, bị vô hiệu, dẫn đến 32 hợp đồng tiền gửi cũng vô hiệu theo, thì Vietinbank vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho ACB toàn bộ các khoản tiền gốc đã nhận là 668,908 tỉ đồng theo quy định tại điều 137 Bộ luật dân sự, chứ không thể “quỵt” tiền.
Đặc biệt, luật sư Tám còn cho rằng, cùng một hành vi, cùng một hậu quả, nhưng Cơ quan công tố lại tự mâu thuẫn cho hai kết quả khác nhau. Cụ thể, với hành vi Huyền Như làm giả hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng VIB thì cơ quan công tố xác định Huyền Như chiếm đoạt tiền vay của VIB.
Trong khi đó, cũng là hành vi thế chấp giả, hồ sơ vay giả tại Vietinbank với cùng tính chất, thì công tố cho rằng Huyền Như không chiếm đoạt tiền của Vietinbank dẫn đến hậu quả ACB trở thành nạn nhân bị Huyền Như chiếm đoạt tiền, theo kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia.
Trong suốt quá trình tố tụng, ACB luôn khẳng định Vietinbank phải có trách nhiệm, chứ không yêu cầu Huyền Như, do đó cần xem xét lại tư cách tham gia tố tụng của Vietinbank là bị đơn dân sự, còn ACB là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trách nhiệm này còn xuất phát từ việc trong thời gian xảy ra sự việc, theo sơ đồ của Vietinbank thì Huyền Như là Phó trưởng phòng Giao dịch. Chức danh này là chức danh quản lý nên Như là người có trách nhiệm quản lý giao dịch về tiền của ACB, được phân công việc huy động vốn chứ không phải thông qua Huyền Như để gửi tiền như nhận định của Viện Kiểm sát.
Đặc biệt, luật sư Tám yêu cầu Hội đồng Xét xử xem xét bản chất vụ án này Huyền Như phạm tội tham ô tài sản, đồng thời kiến nghị yêu cầu khởi tố lãnh đạo Vietinbank và Vietinbank chi nhánh Tp.HCM về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ án này.
Luật sư Nguyễn Minh Tâm bảo vệ quyền lợi cho Công ty Cổ phần Chứng khoán Saigonbank – đã phản bác các lý lẽ mà đại diện Viện Kiểm sát đã kết luận
Khi đại diện Viện Kiểm sát lập luận hành vi tội phạm của Như đã hoàn thành khi các bị hại gửi tiền vào tài khoản của họ tại Vietinbank, luật sư Tâm đặt câu hỏi: “Không hiểu được thời điểm hoàn thành tội phạm mà Viện Kiểm sát dựa trên căn cứ và lý lẽ nào? Phải chăng, việc quy kết như vậy để “giải thoát” cho Vietinbank?”.
Theo ông, SBBS không phải là nguyên đơn dân sự, không phải là đơn vị bị thiệt hại do hành vi tội phạm của Như. Bởi lẽ, ngay từ đầu, SBBS hoàn toàn tin tưởng giao dịch với Vietinbank thông qua tư cách của Như là quyền Trưởng phòng giao dịch, sau khi tiền đã vào tài khoản, Như mới làm giả chữ ký của chủ tài khoản, lừa các giao dịch viên, chuyển đi các địa chỉ của Như. Do đó, luật sư Tâm lập luận chính Vietinbank đã bị Như qua mặt và những sơ hở trong quản lý của Vietinbank mới là điều kiện cho Như tiếp tục chiếm đoạt. “Trong phần luận tội VKS cũng thừa nhận rằng, Huyền Như đã lừa dối cả lãnh đạo Vietinbank rằng Vietinbank đã có những sơ hở trong quản lý nghiệp vụ để Huyền Như qua mặt, làm giả các lệnh chuyển tiền để rút tiền từ tài khoản của khách hàng.” “Nạn nhân trong vụ án này chính là Vietinbank, chứ không phải SBBS”.
Để chứng minh cho yêu cầu này, ông đã làm rõ tài khoản của SBBS mở tại Vietinbank là hoàn toàn hợp pháp, dựa trên hồ sơ gốc, do chính những người đại diện SBBS lập, chứ không phải bị Như làm giả như một số trường hợp khác. Căn cứ theo điều 12 của Quyết định 1284, Vietinbank phải chịu trách nhiệm về tài khoản của khách hàng, bên cạnh việc cung ứng kịp thời các dịch vụ, để cho Như dùng hồ sơ giả để rút tiền chiếm đoạt, Vietinbank còn không gửi kịp thời giấy báo nợ, báo có, không thông tin kịp thời số dư tài khoản hàng tháng theo quy định. Nếu Vietinbank thực hiện đúng trách nhiệm thì ngay lần đầu tiên đã có thể phát hiện Như lừa đảo.
Luật sư Tâm nói: “Vietinbank hoàn toàn có lỗi, họ phải chịu trách nhiệm trước những thiệt hại. Lỗi vi phạm là căn cứ phát sinh trách nhiệm buộc Vietinbank phải bồi thường SBBS”.
Trước khi kết thúc bài phát biểu, ông hướng về Hội đồng Xét xử và nói: “Một tổ chức tín dụng bị mất lòng tin của khách hàng thì liệu họ có tồn tại được hay không!”.
BÌNH LUẬN CỦA TÁC GIẢ
Phản bác quan điểm của Viện Kiểm sát và Vietinbank, tác giả đặt câu hỏi: Trường hợp Vietinbank đã cho công ty A vay tiền, sau đó ông giám đốc công ty A dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền vay của Công ty A thì nghĩa vụ trả nợ VietinBank thuộc về Công ty A hay ông giám đốc? Tòa án chưa có phán quyết cuối cùng, nhưng quan điểm của Viện kiểm sát và quan điểm của Vietinbank trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như đã làm dư luận, đặc biệt hàng triệu người đang gửi tiền và sẽ gửi tiền vào ngân hàng phải lo sợ vì gửi tiền vào Ngân hàng mà không may gặp phải cán bộ ngân hàng gian dối thì mất trắng.
SOURCE: TÁC GIẢ CUNG CẤP
VIỆC SỬ DỤNG BÀI VIẾT VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI PHẢI CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ
TRA CỨU CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ TẠI ĐÂY

Sunday, January 12, 2014

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…
Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Từ đó, tòa buộc Công ty TG phải chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu, đồng thời thu hồi toàn bộ mặt hàng bánh tráng K’ trên thị trường Mỹ. Về phần phí luật sư, tòa nhận định chi phí này của Công ty TP là hợp lý, cần thiết, cần chấp nhận bởi phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Điều này cũng đã có lợi cho phía bị đơn bởi nguyên đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần…

Phí luật sư: Chấp nhận hay không?

Có thể nói đây là lần đầu tiên một tòa án chấp nhận yêu cầu bồi hoàn chi phí thuê luật sư của đương sự. Trước đây, gặp tình huống này, các tòa đều bác, lập luận rằng một khi đương sự đã chủ động quyết định thuê luật sư thì phải tự lo. Tòa chỉ chấp nhận những khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và thật sự cần thiết.

Theo một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM, Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo thỏa thuận của đương sự với luật sư, trong phạm vi quy định của văn phòng luật sư và quy định của pháp luật. Chi phí cho luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Vì thế, chi phí luật sư không phải là chi phí cần thiết để đeo đuổi một vụ kiện, từ đó bắt phía vi phạm trong vụ án phải gánh chịu.

Đồng tình, một thẩm phán TAND quận 11 (TP.HCM) cũng cho rằng kết quả giải quyết một vụ án do tòa quyết định, không phụ thuộc vào yếu tố có hay không có luật sư. Có thể nói rằng dù có hay không có luật sư, tòa vẫn phải giải quyết vụ việc đúng pháp luật.

Ở một góc độ khác, luật sư Châu Huy Quang (Hãng luật LCT Lawyers) phân tích: Theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu tòa buộc bên vi phạm phải bồi hoàn chi phí hợp lý để thuê luật sư. Dù có khác với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đây có lẽ là điểm tiến bộ trong quá trình cải cách tư pháp ở chỗ thừa nhận việc luật sư tham gia hỗ trợ pháp lý cho đương sự là một nhu cầu cần thiết, hợp lý. Hơn nữa, việc tòa tuyên buộc bên vi phạm phải bồi hoàn khoản phí này cũng là một cách răn đe các hành vi tương tự.

Tính phí sao cho hợp lý?

Theo Điều 55 Luật Luật sư, chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí cần thiết phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc, kỹ năng, trình độ và lượng thời gian cần thiết để luật sư nghiên cứu vụ việc.

Vấn đề là việc cụ thể hóa căn cứ để tính phí luật sư thế nào cho thỏa đáng còn bỏ ngỏ. Đặc biệt, với những tranh chấp có một phần vụ việc xảy ra ở nước ngoài thì do sự khác biệt về mặt bằng chi phí thuê luật sư nước ngoài, phương thức tính phí… so với trong nước nên khó có cơ sở tính phí cho hợp lý. Nếu chỉ đơn thuần dựa vào hợp đồng dịch vụ mà đương sự ký với luật sư nước ngoài để tuyên buộc bên thua phải bồi hoàn đầy đủ là chưa ổn. Ví dụ: thù lao bình quân tính theo giờ của luật sư ở Mỹ là 200-1.000 USD trong khi phí luật sư ở Việt Nam lại thường không đến mức đó.

Mỹ: Quan tòa quyết!

Ở Mỹ, nguyên tắc bồi hoàn chi phí kiện tụng được xây dựng theo tinh thần “người thua trả”. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp yêu cầu bồi hoàn chi phí luật sư đều được tòa án xem xét, chấp nhận. Quan tòa được toàn quyền chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu này của đương sự, tùy vào từng vụ việc cụ thể, trong các lĩnh vực cụ thể như sở hữu trí tuệ, chống cạnh tranh, xâm hại quyền dân sự, quyền tự do về thông tin, kiện tập thể…

Singapore: Lập trung tâm trọng tài

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) vừa thành lập trung tâm trọng tài và hòa giải đầu tiên của châu Á tại Singapore. Đây là trung tâm đầu tiên của WIPO ở bên ngoài châu Âu cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp nhằm giải quyết các tranh chấp liên quan tới sở hữu trí tuệ.

Trụ sở chính WIPO tại Geneva thành lập năm 1994 và đã xử lý hơn 30.000 vụ tranh chấp với giá trị mỗi vụ từ 10.000 USD tới hàng trăm triệu USD. Có rất nhiều tranh chấp đã được gửi tới WIPO, trong đó tranh chấp về đăng ký sở hữu tên miền chiếm phần lớn. Trước nhu cầu tăng nhanh về tranh chấp sở hữu trí tuệ ở châu Á, đặc biệt trong lĩnh vực phim ảnh và kỹ thuật, WIPO thành lập thêm trung tâm tại Singapore.

Hiện WIPO đang nghiên cứu nhiều lĩnh vực mới, đặc biệt các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời buổi các mạng xã hội phát triển, tổ chức các buổi tọa đàm, duy trì các ủy ban trao đổi trong nhiều lĩnh vực.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi
Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.
Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.
Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ
Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.
Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…
Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

“Có cái dự án này ngon lắm”…
Lần khác, một nữ khách hàng trung niên điệu đà dựng xe trước văn phòng. Cách ăn mặc của chị toát lên vẻ gì đó… là lạ bởi những gam màu tương phản được “phối” chỏi nhau từ đầu đến chân. Chiếc nón rộng vành đỏ chói, chiếc áo vàng diêm dúa, cái quần đen, đôi giày cam cao cổ. Không những thế, chị còn xách theo một cái túi xách màu tím to đùng.
Gặp luật sư, chị nói không ngừng, cương quyết không cho ai xen ngang. Chị nói về những ý tưởng kinh doanh, về cuộc sống hằng ngày, thậm chí cả chuyện… ông hàng xóm nơi chị ở ăn gì, đi đâu. Hơn một tiếng đồng hồ nghe chị nói, luật sư chưa kịp hiểu gì thì lại tiếp tục bị “choáng” khi chị bất ngờ thốt lên: “Á…, tôi biết có cái dự án này gần nhà tôi ngon lắm, luật sư có tham gia không, tôi môi giới cho”…
Té ra mục đích của chị là tư vấn cho luật sư tham gia một dự án nào đó mà chị nghĩ là “ngon” chứ không phải nhờ luật sư tư vấn cho mình. Tất nhiên luật sư từ chối và tìm cách nói khéo để chị rời văn phòng càng nhanh càng tốt.
“Em bị gắn chip theo dõi, luật sư ơi”
Hôm ấy, một thanh niên trẻ mặt mày căng thẳng, hồng hộc đẩy cửa văn phòng xin gặp luật sư nói có chuyện cần gấp. Luật sư Q. động viên anh bình tĩnh để còn trình bày sự việc thì anh trợn tròn mắt, nói trong hơi thở gấp gáp: “Em bị người nước ngoài gắn chip điện tử trên hộp sọ để theo dõi. Luật sư ơi, em phải làm sao đây? nguy to rồi!”. “Là sao?” – luật sư cũng tròn mắt hỏi lại. “Là em bị người ta theo dõi chứ sao!”… Rồi anh thanh niên tuôn một tràng, nào là hằng đêm anh thường mơ thấy một ông Tây cao lớn cầm cây roi bấm bấm điều khiển mọi hoạt động của anh, nào là anh vùng chạy nhưng không thoát vì đầu anh bị gắn chip điện tử…
Chắc chắn thần kinh anh chàng có vấn đề, luật sư khuyên nên đến bệnh viện kiểm tra. Anh thanh niên lại quả quyết: “Em bình thường mà, luật sư nghĩ em tâm thần à?”. Nói xong, anh hăng hái liệt kê… hàng chục giấc mơ khác nhau để chứng tỏ mình đang rất minh mẫn, rồi một mực đòi luật sư “hiến kế gỡ con chip trong đầu” ra. Đến nước này thì luật sư chào thua, chỉ còn biết gợi hỏi về người nhà rồi liên hệ để đưa anh chàng bị ám ảnh bởi “con chip” này về.
“Luật sư phải biết lắng nghe chứ!”
Trường hợp dưới đây là một khách hàng hoàn toàn bình thường nhưng “kêu oan có chu kỳ”. Ông vốn bị xét xử trong một vụ án hình sự từ những năm còn chiến tranh. Đất nước thống nhất, ông bắt đầu ôm hồ sơ đi kêu cứu khắp nơi để đòi bồi thường oan. Khổ một nỗi là sự việc xảy ra đã quá lâu, hồ sơ vụ án cũng thất lạc hết. Không một chút nao núng, ông liên tục gõ cửa hầu như khắp các văn phòng luật sư tại TP.HCM.
Luật sư Q. kể, cứ khoảng một năm ông lại đến văn phòng của ông và lần nào cũng vậy, vị khách kiên quyết yêu cầu được nói, kiên quyết yêu cầu luật sư lắng nghe. Vị khách cứ tự mở hồ sơ, tự nói, tự giải thích pháp luật, rồi… tự đứng dậy về trước mặt luật sư. Nổi nóng với khách hàng này không được vì ông sẽ lý luận: “Luật sư thì phải biết lắng nghe khách hàng nói chứ, sau đó muốn giải thích gì thì nói sau”. Tất nhiên không luật sư nào dám lấy phí tư vấn của những khách hàng như thế.
Nghề luật sư là thế, bên cạnh những giây phút tư vấn tận tình, căng thẳng nghiên cứu hồ sơ, lên kế hoạch bảo vệ thân chủ thì còn có cả những lúc gặp chuyện oái oăm với khách hàng “đặc biệt”. Theo luật sư Q., dù khách hàng có thuộc đối tượng tầng lớp nào nhưng họ đã tìm đến thì luật sư phải tiếp đón, hỏi han và giúp đỡ nếu có thể. Bởi vậy, ông và các đồng nghiệp dù có gặp các tình huống hy hữu như trên cũng phải bấm bụng mà dành thời gian tìm cách xử lý cho phù hợp, để rồi xem đó như những kỷ niệm vui trong đời hành nghề.
“Uýnh luật sư đi”…
Tại tòa, chuyện luật sư bị đương sự mắng nhiếc, lườm nguýt là chuyện thường. Luật sư Q. kể, có lần tham gia bảo vệ cho đương sự trong một vụ tranh chấp về đất đai mà cả hai bên đều là những người trong nội bộ gia đình. Tòa tuyên án xong, bên thua kiện hung hăng dọa đánh luật sư, lập tức bên thắng kiện đứng ra hò hét bảo vệ lại luật sư. Hai bên bắt đầu “xáp lá cà”, hết võ miệng rồi đến võ chân tay. Rất may là trong lúc hai bên cự cãi, luật sư đã chọn đường rút an toàn.
Rồi có lần các bên đương sự căng đến mức tòa chưa xử đã cãi nhau um sùm, đòi choảng nhau. Tòa chưa kịp vào phòng xử nên chưa thể can thiệp, luật sư đành đứng ra dàn hòa. Ai dè chẳng hiểu sao cả hai bên lại quay sang xối xả mắng luật sư rồi tất cả cùng xung phong dọa… “uýnh” luật sư.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Sunday, December 29, 2013

TÌM HIỂU HỆ THỐNG THUẬT NGỮ DÙNG ĐỂ CHỈ NGƯỜI LUẬT SƯ TRONG TIẾNG ANH

NGUYỄN TUYẾT NHUNG – NHQUANG & CỘNG SỰ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá khi sự giao lưu giữa các hệ thống pháp luật ngày càng trở nên mạnh mẽ, việc chúng ta, một nước theo hệ thống luật thường pháp (civil law) đang dần làm quen và và tiến tới hiểu rõ hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia theo hệ thống luật thông pháp (common law) là điều tất yếu. Để có một cái nhìn toàn diện về hệ thống luật của một quốc gia, cần phải tìm hiểu cơ cấu xã hội luật sư trong quốc gia đó. Tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ mong muốn giới thiệu một số thuật ngữ trong tiếng Anh dùng để chỉ người luật sư ở các nước thông pháp, có đối chiếu với các thuật ngữ trong tiếng Việt nhằm bước đầu đưa ra một cái nhìn tổng thể về xã hội luật sư của các quốc gia này. Đồng thời cũng hi vọng rằng bài viết này sẽ góp phần giúp các luật sư, các dịch giả và những người có liên quan hiểu rõ và sử dụng chính xác hơn các thuật ngữ chỉ người luật sư trong tiếng Anh.
Nói một cách tổng quát, “luật sư” được gọi bằng thuật ngữ chung nhất là lawyer hoặc legal practitioner (người hành nghề luật) hay cổ hơn nữa là men of the court. Xét theo tính chất nghề nghiệp (chức năng), có thể phân loại luật sư thành luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Xét theo lĩnh vực hành nghề thì có luật sư hình sự, luật sư dân sự, luật sư thương mại, luật sư hôn nhân & gia đình, trẻ em v.v.. Ở Việt Nam sự phân định này là chưa rõ rệt, hầu như không có sự giới hạn loại hình cũng như lĩnh vực hoạt động chuyên môn của luật sư cũng như văn phòng luật sư (trừ các công ty luật hợp danh thì không được tham gia tranh tụng). Tuy nhiên ở các nước theo hệ thống luật thông pháp (common law), nghề luật sư đã có cả một bề dày lịch sử, và xã hội luật sư được phân hoá và phân cấp rất sâu và rõ ràng. Có thể thấy rõ sự phân hoá này qua hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các nước này.
Trước hết, chúng ta hãy cùng xem xét các thuật ngữ chỉ người luật sư phân chia theo tính chất nghề nghiệp. Như đã nói ở trên, ở Việt Nam nếu dựa trên tính chất nghề nghiệp, ta có luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Ở Anh và Australia, họ dùng các thuật ngữ chuyên biệt là barrister và solicitor. Hai thuật ngữ này xuất hiện ở Anh khoảng cuối thế kỉ 16 đầu thế kỉ 17 khi nhu cầu về khiếu kiện dân sự bùng nổ (Wilfrid Prest, tr. 20). Vậy, thế nào là một barrister và thế nào là một solicitor? Việc phân biệt nội hàm khái niệm của hai thuật ngữ này đã tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu vì ranh giới giữa hai khái niệm này rất mong manh. Tuy nhiên, theo Wilfrid Prest thì có thể phân biệt một cách tương đối dựa trên chức năng của người luật sư. Barrister (còn gọi là advocate ở Scotland và Ấn Độ) là những luật sư chuyên đảm nhiệm việc tranh tụng tại toà, còn solicitor là những luật sư chuyên tư vấn pháp lí, lo chuẩn bị hồ sơ và thực hiện các thủ tục giấy tờ pháp lí (Wilfrid Prest, tr. 18). Đối chiếu sang tiếng Việt, barrister chính là luật sư tranh tụng còn solicitor chính là luật sư tư vấn. Tuy nhiên, trên thực tế, một luật sư có thể kiêm hai chức năng tranh tụng và tư vấn. Điều này cũng tương tự như ở Việt Nam.
Ở Mỹ, người ta lại dùng các thuật ngữ attorney để chỉ người luật sư. Thuật ngữ attorney có gốc là một từ tiếng Pháp à tourner, có nghĩa là thay mặt, nhân danh ai đó (Morris, Cook, Greyke, Holloway, tr. 22). Các attorney ở Mỹ có hai loại là agent và pleader. Tương tự như các solicitor của Anh, các agent đại diện cho các đương sự tiến hành các thủ tục pháp lí thông thường, đặc biệt là các thủ tục hành chính cần thiết cho việc khởi kiện hoặc theo kiện tại toà dân sự hoặc hình sự. Còn các pleader, còn gọi là counsel at law hay councellor hay councel, tương tự như các barrister ở Anh và Australia, chuyên tham gia tranh tụng tại toà. Cũng có thể chia attorney thành hai cấp độ là attorney-in-fact và attorney-at-law. Attorney-in-fact là các đại diện pháp lý cho cá nhân hoặc pháp nhân trong các hoạt động pháp lí liên quan tới kinh doanh, tài sản hoặc các vấn đề cá nhân, và thường hoạt động không cần phải có giấy phép của chính phủ. Ngược lại, các attorney-at-law là các luật sư đã được cấp chứng chỉ hành nghề, có quyền đại diện cho thân chủ tham gia vào các hoạt động pháp lí trong và ngoài toà án cũng như cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lí. Do vậy có thể hiểu attorney-in-fact là các đại diện theo uỷ quyền còn attorney-at-law là các luật sư hành nghề. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng ở Mỹ thuật ngữ attorney còn dùng để chỉ công tố viên ở các cấp trong các cụm thuật ngữ county attorney (công tố viên của hạt), district attorney (công tố viên của bang), và attorney general (công tố viên liên bang).
Xét trên khía cạnh đối tượng khách hàng thì tồn tại cả một khoảng cách lớn giữa hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các nước thông pháp và hệ thuật ngữ tương ứng của Việt Nam. Ở các nước thông pháp, xét theo đối tượng khách hàng, từ lâu đã có in-house lawyer – luật sư riêng, trong đó bao gồm family lawyer – luật sư gia đình và corporate lawyer – luật sư công ty. Các corporate lawyer được định nghĩa là các luật sư đại diện cho một công ty tham gia vào các hoạt động pháp lí liên quan tới công ty đó (bao gồm cả tranh tụng và tư vấn). Tuy nhiên, ở Việt Nam có một thực tế là các gia đình và doanh nghiệp chưa có thói quen và nhu cầu thuê luật sư riêng cho mình. Vì thế cụm thuật ngữ “luật sư riêng” vẫn chưa được phổ biến. Mặc dù rằng rất nhiều doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có hẳn một phòng pháp chế chuyên lo việc pháp lý của công ty, nhưng những người làm tại phòng pháp chế này phần nhiều không phải là luật sư. Nên họ không phải là những in-house lawyer. Gần đây ở Việt Nam chúng ta thấy xuất hiện khái niệm luật sư kinh doanh. Theo định nghĩa của Đỗ Trọng Hải thì hoạt động chủ yếu của luật sư kinh doanh là cung cấp dịch vụ pháp lý hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp và các đơn vị kinh doanh trong quá trình hoạt động của các tổ chức đó. Như vậy, xét trên góc độ đối tượng khách hàng thì cả corporate lawyer và luật sư kinh doanh đều làm việc cho các doanh nghiệp và đơn vị kinh doanh. Cho nên, theo tôi thuật ngữ tiếng Việt tương đương của thuật ngữ corporate lawyer chính là luật sư kinh doanh. Nhưng vì thuật ngữ luật sư kinh doanh không nhấn mạnh được đối tượng khách hàng của người luật sư như thuật ngữ corporate lawyer, nên theo tôi, tương đương chính xác nhất của thuật ngữ này trong tiếng Việt phải là luật sư công ty.
Cuối cùng, khi xem xét các thuật ngữ chỉ người luật sư từ khía cạnh lĩnh vực hoạt động, chúng ta lần nữa thấy được sự đi sau của nghề luật sư Việt Nam so với nghề luật sư các nước phát triển trong việc chuyên môn hoá xã hội luật sư. Hiện nay, phần nhiều các luật sư Việt Nam sử dụng thuật ngữ chỉ về công việc của mình một cách chung chung là “luật sư” mà chưa chỉ rõ tính chuyên môn trong hành nghề. Trong khi đó ở các nước thông pháp (common law), khi nhìn vào hệ thuật ngữ chỉ luật sư, có thể thấy độ phân hoá luật sư theo lĩnh vực của họ rất sâu rộng. Họ có từ criminal lawyer (luật sư hình sự), economic lawyer (luật sư kinh tế), commercial lawyer (luật sư thương mại), construction lawyer (luật sư xây dựng), labor lawyer (luật sư lao động), contract lawyer (luật sư hợp đồng) đến tax lawyer (luật sư thuế), environmental lawyer (luật sư môi trường), intellectual property lawyer hay patent lawyer (luật sư sở hữu trí tuệ), real estate and housing lawyer (luật sư địa ốc), bankcruptcy lawyer (luật sư chuyên về phá sản), divorce lawyer (luật sư chuyên về li hôn), v.v.
Tóm lại, trên đây là một số đúc rút về các thuật ngữ dùng để biểu đạt khái niệm người luật sư trong tiếng Anh. Có thể thấy rằng, sự phát triển của nghề luật ở các quốc gia theo hệ thống thông pháp cũng như cơ cấu của xã hội luật sư của họ đã được phản ánh rất rõ trong sự phát triển của ngôn ngữ, cụ thể là ở hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các quốc gia đó. So sánh với hệ thuật ngữ chỉ người luật sư trong tiếng Việt, hệ thuật ngữ của họ rõ ràng là phong phú và toàn diện hơn rất nhiều, phản ánh chính xác tương quan về lịch sử và mức độ phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam so với thế giới, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật thông pháp.

LITERATURE

Morris, Cook, Greyke, Geddes, Holloway Laying down the Law: the foundations of legal reasoning, research and writing in Australia (4th ed) Butterworths, 1997. p. 22.
Wilfrid Prest A career in law Cambridge, 1986, p. 18. The rise of the Lawyers.
Henry Cambell Black Black’s Law Dictionary (4th ed) St. Paul Minn West Publishing Company, 1951, p. 75, 164, 191, 41/8, 1564.
Đỗ Trọng Hải, Bước khởi đầu của luật sư kinh doanh ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp, 2005.
<http://www.nclp.org.vn/News/clbluatsu/2005/10/927.aspx>
Nghề luật sư kinh doanh ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp, 2005.
<http://www.nclp.org.vn/News/clbluatsu/2005/06/779.aspx>
Attorney, Columbia University Press
<http://www.answers.com/attorney>
——————————————————–
TRÍCH DẪN TỪ:

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code