Saturday, November 23, 2013

Bảo đảm nguyên tắc “suy đoán vô tội” và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự



 
bo luat Hinh Su Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sựKhoa học Pháp lý – Phaply.com.vn : “Thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức. Tuy nhiên, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Một người bị buộc tội về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình…” và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…”, thì nội dung của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi năm 2001 (Điều 72), Bộ luật TTHS năm 1988 (các điều 10, 11) và Bộ luật TTHS năm 2003 (các điều 9, 10)…”
1. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” và sự cần thiết phải bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự
 “Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự) trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, để loại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từ phía cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT mà Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam đã quy định rõ các hoạt động TTHS phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” (Điều 3 Bộ luật TTHS năm 2003).
Thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức. Tuy nhiên, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Một người bị buộc tội về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình…” và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…”, thì nội dung của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi năm 2001 (Điều 72), Bộ luật TTHS năm 1988 (các điều 10, 11) và Bộ luật TTHS năm 2003 (các điều 9, 10). Cho nên, xét dưới góc độ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, yêu cầu của nguyên tắc “suy đoán vô tội” đòi hỏi tất cả các chủ thể, trước hết là các cơ quan THTT, người tiến hành TTHS phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của công dân, sau đến những người khác, cơ quan, tổ chức, báo chí, truyền thông… cũng phải đối xử và tôn trọng họ khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Còn khi họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, thì Nhà nước đã quy định các quyền và nghĩa vụ của họ với tư cách là người đã bị kết án.
Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nhắc lại và đặt tên nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Điều 72) ngày 23/11/2012 quy định: “1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.
Nghiên cứu Điều luật này trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng tôi nhận thấy, nội dung liên quan đến nguyên tắc “suy đoán vô tội” và một số điểm hạn chế, tồn tại của Điều 72 Hiến pháp hiện hành đã được Ban soạn thảo hoàn thiện như sau:
Một là, đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” trong khoản 1 để bảo đảm tính thống nhất và chặt chẽ với Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi năm 2009 về miễn hình phạt (Điều 54) vì phải bao quát hai trường hợp có hậu quả pháp lý khác nhau:
a) Một người phạm tội và đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt;
b) Một người phạm tội nhưng đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội nhưng không bị áp dụng hình phạt mà được miễn hình phạt.
Hai là, đã bổ sung nội dung “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” để bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN và quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” và Điều 11 (đã dẫn ở trên), cũng như Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc. Hơn nữa, logic đương nhiên là “người bị buộc tội” mới cần được “suy đoán vô tội”. Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo đã bổ sung nội dung “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” cho bảo đảm tương thích với các Công ước quốc tế (đã dẫn), cũng như tôn trọng quyền bào chữa và trợ giúp pháp lý của những người bị buộc tội tương ứng với các giai đoạn TTHS, thậm chỉ bao gồm cả người bị tình nghi (người bị bắt).
Ba là, đã bổ sung cho chính xác trong các giai đoạn tố tụng và thuật ngữ thống nhất trong Bộ luật TTHS về người bị bắt và các người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, tạm giam) về việc tôn trọng quyền con người của những người này. Khi họ bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Còn người nào làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Điều 293, 294 Bộ luật Hình sự hiện hành
Từ nội dung Điều 32 Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung Điều 72 Hiến pháp hiện hành), chúng tôi xin đóng góp thêm để hoàn thiện Điều luật này, cũng như bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS như sau:
Một là, về cơ bản, chúng tôi nhất trí với những đề xuất của Ban soạn thảo sửa đổi Hiến pháp về Điều 32 Dự thảo lần này, tuy nhiên, có ba điểm nên sửa đổi, bổ sung bao gồm:
- Khoản 1 Điều 32 Dự thảo quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Sau khi đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” nội dung khoản này đã rất đầy đủ. Mặc dù vậy, để bảo đảm nội dung nguyên tắc “suy đoán vô tội” và thống nhất với quy định của Bộ luật TTHS, cũng như tương ứng với các chức năng cơ bản trong TTHS, khoản này nên bổ sung thêm nội dung: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
- Khoản 2 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” nên sửa đổi, bổ sung thành: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị Tòa án kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án” cho bảo đảm đầy đủ nội dung (logic là thẩm quyền kết án chỉ do duy nhất Tòa án, đồng thời không thể bị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án), đồng thời phù hợp với khoản 7 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc, cũng như nguyên tắc pháp chế XHCN trong Hiến pháp và pháp luật.
- Khoản 3 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” nên sửa đổi, bổ sung thêm cả “những người khác theo quy định của pháp luật” (cùng với người bào chữa). Bởi lẽ, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân (Điều 56), nhưng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 còn quy định cả Trợ giúp viên pháp lý cũng được coi là người bào chữa thực hiện các nhiệm vụ như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện theo pháp luật… (điểm b khoản 3 Điều 21); hoặc dự phòng sau này có thể có thêm chủ thể nào đó được pháp luật quy định có quyền này.
- Khoản 4 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật” nên sửa đổi, bổ sung cho ngắn gọn và thống nhất với Điều 29 Bộ luật TTHS năm 2003, cũng như cần phục hồi cả các quyền lợi khác cho họ ngoài việc bồi thường, khôi phục danh dự (chức vụ, lương bổng…) như sau: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh theo các quy định của pháp luật”.

Như vậy, Điều 32 Dự thảo Hiến pháp nên sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 72 Hiến pháp hiện hành
Điều 32 Dự thảo
Hiến pháp sửa đổi
Kiến nghị sửa đổi
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh. 1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa. 4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật. 1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án.3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa và của những người khác theo quy định của pháp luật. 4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh theo các quy định của pháp luật.
Hai là, thông qua việc hoàn thiện Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, chúng tôi cho rằng, các bộ luật, luật dưới Hiến pháp phải phù hợp và thống nhất với Hiến pháp, vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản. Nếu không phù hợp, mâu thuẫn với Hiến pháp phải sửa đổi, bổ sung. Do đó, liên quan đến nội dung về “suy đoán vô tội”, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 đã gián tiếp thể hiện ở nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, còn Điều 10 quy định nguyên tắc: “Xác định sự thật vụ án” nhưng nội dung thứ hai của Điều 10 “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” lại phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội”. Vì vậy, có ba nội dung cần sửa đổi, bổ sung như sau:
- Sửa đổi tên gọi Điều 9 “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thành tên gọi “suy đoán vô tội” để tránh trùng lặp với nội dung của Điều luật này.
- Nội dung Điều 9 nêu: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” cần sửa đổi vấn đề liên quan đến vế thứ hai “và phải chịu hình phạt…” cho bảo đảm phù hợp với các quy định của BLHS và thực tiễn xét xử, cũng như thống nhất với Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (đã nêu) với hai trường hợp tương ứng khác nhau.
- Chuyển nội dung thứ hai trong Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003 (đã nêu) đưa vào Điều 9 cho phù hợp và phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội” (còn Điều 10 chỉ còn một nội dung). Việc bổ sung này hoàn toàn phù hợp với các tư tưởng tiến bộ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc (đã nêu). Ngoài ra, việc bổ sung này còn bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan, người THTT trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội. Hơn nữa, điều này còn tương thích với pháp luật TTHS nhiều nước (ví dụ: Điều 14 Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định về nguyên tắc “suy đoán vô tội”). Đặc biệt, Điều 48 Bộ luật TTHS có quy định về người tham gia TTHS là “Người bị tạm giữ” – cũng là một chủ thể cần được suy đoán vô tội, do đó, nên bổ sung thêm chủ thể này đầy đủ hơn.
Như vậy, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành Kiến nghị sửa đổi
Điều 9. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luậtKhông ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều 9. Suy đoán vô tội1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. 3. Mọi sự nghi ngờ về tội phạm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì các cơ quan THTT, người THTT phải giải thích theo hướng có lợi cho họ.
Ba là, tương tự, để bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS, Điều 293 về “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” và Điều 294 về “Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” trong BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 nên sửa tên tội và nội dung thay cụm từ “có tội” thành cụm từ “phạm tội” cho đúng với bản chất của hành vi phạm tội do chủ thể có thẩm quyền thực hiện trong từng giai đoạn tương ứng khác nhau (điều tra, truy tố, xét xử).
Hiện trong khoa học luật hình sự, BLHS và thực tiễn xét xử tồn tại hai khái niệm “người phạm tội” và “người có tội” nên cần có sự phân biệt rạch ròi, chỉ rõ tư cách tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền lợi và sinh mệnh chính trị cho họ. Thuật ngữ “người phạm tội” dùng để chỉ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Nói một cách khác, hành vi do người đó thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong Phần các tội phạm BLHS và người thực hiện hành vi đó bị coi là chủ thể của tội phạm (phạm tội là động từ). Trong khi đó, thuật ngữ “người có tội” cũng được sử dụng để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng thu hẹp hơn với người phạm tội – với họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (có tội là tính từ). Cho nên, thời điểm phát sinh cơ sở của trách nhiệm hình sự là thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng có thể trách nhiệm hình sự sẽ không được thực hiện trên thực tế, nếu có những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của pháp luật hình sự trên những cơ sở chung.
Như vậy, nhằm thực hiện đầy đủ và nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và Bộ luật TTHS, chúng tôi cho rằng, tên tội danh và nội dung trong hai điều luật trên trong BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Hình sự hiện hành Kiến nghị sửa đổi
Điều 293 – Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm……. Điều 294 – Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
……
Điều 293 – Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không phạm tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm……. Điều 294 – Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là phạm tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
……
Tóm lại, suy đoán vô tội là một nguyên tắc văn minh, tiến bộ trên thế giới và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Việc hoàn thiện các nội dung cơ bản của nó và bảo đảm tính thống nhất liên thông trong Hiến pháp, BLHS và Bộ luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý quan trọng, mà còn là “lá chắn thép” trong việc phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người. Đặc biệt, qua đó còn đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, họ vẫn có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án./.


                            

TS. Trịnh Tiến Việt – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/bao-111am-nguyen-tac-suy-111oan-vo-toi-va-tinh-thong-nhat-giua-hien-phap-voi-bo-luat-hinh-su-bo-luat-to-tung-hinh-su

Hiến pháp Việt Nam và quyền bình đẳng trước pháp luật

 
(Khoa học Pháp lý – phaply.com.vn) – Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người. Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau. Nó được xem xét ở các cấp độ khác nhau. Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có. Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người. Thứ ba, người ta thực hiện quyền bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm. Nói cách khác, quyền bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dưới vùng “phủ sóng” của pháp luật. Điều này được quyết định bởi thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách là các quy phạm do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một trong những nguyên tắc quan trọng trong điều chỉnh pháp luật là bình đẳng. Cách tiếp cận này phù hợp với các Điều 6, 7 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) quy định về quyền bình đẳng và quyền bình đẳng trước pháp luật mà Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã cụ thể hóa.
1. Khái niệm quyền bình đẳng trước pháp luật
a. Mối quan hệ giữa tự do, bình đẳng và pháp luật
Tự do, bình đẳng, pháp luật là những khái niệm có quan hệ với nhau. Trong đó, bình đẳng là cội nguồn của tự do còn pháp luật là sự giới hạn cần thiết cho cả tự do và bình đẳng. Nói cách khác, để đánh giá ở đâu đó có tự do và bình đẳng hay không hãy nhìn vào pháp luật. J.J. Rouseau viết tác phẩm kinh điển “Khế ước xã hội” bắt nguồn từ nỗi trăn trở: “Con người sinh ra đã tự do nhưng ở đâu nó cũng bị xiềng xích”. Cái xiềng xích mà Rouseau muốn nhắc đến đó chính là quyền lực nhà nước thông qua pháp luật đã tước bỏ, hạn chế các quyền con người trong đó có quyền bình đẳng. Trong xã hội có nhà nước với tư cách là sản phẩm của sự tự do khế ước thì không thể có tự do nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành viên trong xã hội với nhau. Bản chất của sự bình đẳng là công nhận các giá trị như nhau của các thành viên xã hội trong tất cả các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội và pháp luật. Bình đẳng được xét dưới hai góc độ là bình đẳng thực tế và bình đẳng pháp lý. Bình đẳng thực tế là sự bình đẳng về xã hội. Đó là sự bằng nhau  về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp luật là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý. Về mối quan hệ giữa bình đẳng và pháp luật, Mác đã nói: “Về bản chất, pháp luật chỉ có thể là sự vận dụng một đại lượng ngang bằng với những người khác nhau”. Đại lượng ngang bằng ở đây là pháp luật. Bởi lẽ, các giá trị về bình đẳng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống được xã hội thông qua nhà nước và thể chế hóa thành pháp luật. Pháp luật trở thành thước đo mang tính chuẩn mực cho sự bình đẳng bởi đỉnh cao nhất của các hệ thống lập pháp quy gọn vào hai mục tiêu: Tự do và bình đẳng.
Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật là một quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở của tự do và tự nguyện.
 Khi giải thích về quyền bình đẳng trước pháp luật, Lê-nin cho rằng: “Khi những người theo chủ nghĩa xã hội  nói về bình đẳng thì có nghĩa là sự bình đẳng mang tính xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội chứ không phải sự bình đẳng về khả năng thể chất hoặc tinh thần”[1]. Từ đó có thể thấy, quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Chính pháp luật cũng giới hạn sự bình đẳng với sự bình quân chủ nghĩa và không thể có bình đẳng nếu có người đứng cao hơn pháp luật. Quan niệm như vậy sẽ hóa giải được mâu thuẫn giữa hai lý thuyết về nguồn gốc quyền con người và phù hợp với đặc tính của quyền con người là: tính hiện thực và tính được thể chế hóa thành luật.
Từ logic này có thể khẳng định, quyền con người là cái có trước và nhà nước với công cụ là pháp luật chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bình đẳng tuyệt đối không phải là sự ban phát hay có thể xin – cho từ phía nhà nước mà nhà nước chỉ ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm.
Việc đánh giá có bình đẳng hay không bình đẳng trước pháp luật nhiều khi còn ở chỗ quan niệm thế nào là bình đẳng trước pháp luật và pháp luật ở đây là thứ pháp luật như thế nào? Bình đẳng là sự đối xử như nhau nhưng có lẽ không chỉ dừng ở đó. Bình đẳng được hiểu theo chiều dọc và chiều ngang. Đó là sự đối xử như nhau đối với những người có hoàn cảnh như nhau và đối xử khác nhau với những người có hoàn cảnh khác nhau. Cùng một chủ thể kinh doanh được điều chỉnh bằng pháp luật như nhau. Cùng là con người nhưng nam giới có tuổi nghỉ hưu muộn hơn nữ giới. Cùng một hành vi phạm tội như nhau nhưng những người chưa thành niên không phải chịu mức án tử hình… Đó là những biểu hiện của bình đẳng theo chiều dọc mà mới nhìn tưởng như là sự bất bình đẳng.
b. Quyền được pháp luật xác nhận tư cách con người
Trong tác phẩm Bàn về bất bình đẳng, J.J. Rouseau viết:“Những kẻ quyền thế luôn tìm mọi cách để bênh vực cho sự bất bình đẳng. Họ giải thích rằng, bất bình đẳng là một quy luật tự nhiên, cũng như bàn tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhân dân rên rỉ dưới sự áp bức của họ thì họ lại dẫn Kinh thánh ra để bịt miệng thiên hạ”[2]. Dưới góc độ tự nhiên – sinh học, con người sinh ra đúng là bất bình đẳng. Nhưng con người không chỉ tồn tại với một mặt tự nhiên. Bản chất của con người là sinh vật xã hội tức là luôn phải tồn tại trong mối quan hệ với nhau. “Đời sống con người, nếu không hợp thành xã hội sẽ là đời sống gian nan, cô đơn, tàn nhẫn và ngắn ngủi”. Nói cách khác, hợp thành xã hội cũng là bản chất tự nhiên của con người để phân biệt với các sinh vật không phải là con người. Tính xã hội của con người làm phát sinh nhu cầu về bình đẳng. Bởi lẽ, xã hội loài người chỉ có thể tồn tại một cách trật tự khi có điều kiện: mọi cá nhân trong xã hội đều được những thành viên khác thừa nhận với tư cách là con người trong mọi mối quan hệ xã hội. Chính vì vậy, bình đẳng ở đây không phải là sự bình đẳng về những thuộc tính sinh học – tự nhiên mà là sự bình đẳng về tư cách con người trong xã hội. Đó là được thành viên khác, xã hội và nhà nước đối xử như là một thành viên trong xã hội có đầy đủ các phẩm chất, các quyền của một con người: quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… Quyền bình đẳng là một quyền tự nhiên của con người. Muốn có quyền bình đẳng trước pháp luật thì một người phải được pháp luật thừa nhận tư cách con người.
Sự bình đẳng hay bất bình đẳng trước pháp luật ở các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội loài người, xét cho cùng chính là nằm ở việc nhà nước và pháp luật xác định tư cách con người trong xã hội đó. Sở dĩ người ta đánh giá xã hội chiếm hữu nô lệ là một xã hội điển hình cho một xã hội bất bình đẳng là bởi người nô lệ không được coi là một con người mà chỉ là công cụ biết nói thuộc sở hữu của chủ nô. Nói cách khác, xã hội chiếm hữu nô lệ, sự bình đẳng (nếu có) chỉ là sự bình đẳng của các cá nhân chủ nô với nhau. Chính vì vậy “người thời cổ sẽ coi là điên rồ cái ý kiến cho rằng người Hy-lạp và người dã man, người tự do và nô lệ, công dân và dân bị bảo hộ, công dân Rô-ma và thần dân Rô-ma (hiểu theo nghĩa rộng) đều có thể đòi hỏi một giá trị chính trị ngang nhau”[3].
c. Quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử
Quyền bình đẳng trước pháp luật có nội dung thứ hai đó là quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Như trên đã nói, con người sinh ra có thể khác nhau về chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo và địa vị xã hội; tuy nhiên, đó không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong việc hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý. Ngược lại, pháp luật luôn đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình đẳng đó bằng việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt, đối xử còn có khía cạnh khác, đó là quyền được hưởng tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh.
Trong xã hội phong kiến, ở mức độ nào đó đã có sự bình đẳng hơn về tư cách con người giữa giai cấp phong kiến và người nông dân. Tuy nhiên, ở đây vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử trong đó có sự phân biệt đối xử trước pháp luật ở những người có đẳng cấp xã hội khác nhau. Căn nguyên là ở chỗ, trong xã hội phong kiến, nhà nước và pháp luật chia con người thành những đẳng cấp khác nhau. Nói cách khác, có sự bình đẳng về tư cách con người nhưng có sự phân biệt về việc hưởng thụ các quyền và nghĩa vụ  con người. Kiểu như lễ nghĩa không tới thứ dân, hình phạt không đến trượng phu. Chính sự bất bình đẳng trong xã hội phong kiến là nguyên nhân của cách mạng tư sản mà ngọn cờ của nó là tự do, bình đẳng. Sẽ không bao giờ có quyền bình đẳng – trong đó có bình đẳng trước pháp luật – nếu trong xã hội còn tồn tại một nhóm người tự cho mình những đặc quyền, đặc lợi, tự cho mình ở vị trí cao hơn so với những thành viên khác trong xã hội.
d. Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng
Quyền con người luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ nhiều phía. Đó có thể là các cá nhân khác trong xã hội, cũng có thể từ phía công quyền. Khi những quyền đó bị xâm hại dưới góc độ bình đẳng trước pháp luật, con người đều có quyền được pháp luật bảo vệ như nhau với các quyền pháp lý nhất định. Bảo vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ sở để bảo vệ các quyền khác của con người.
Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là nhu cầu đòi hỏi cần có phương tiện, công cụ pháp lý từ phía nhà nước; được thể hiện ở hai khía cạnh: được bảo vệ quyền một cách bình đẳng và quyền được bảo vệ quyền bình đẳng. Bảo vệ quyền, xét ở cả hai khía cạnh này đều là việc trong pháp luật ghi nhận các quyền bình đẳng và tạo ra cơ chế bảo vệ quyền đó khi nó bị xâm phạm. Nội dung của quyền bình đẳng trong bảo vệ quyền đòi hỏi mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý như nhau trước pháp luật. Tòa án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Một tòa án công bằng phải là hiện thân của công lý, là nơi phẩm giá con người đứng trước tòa được thừa nhận như nhau và được bảo vệ như nhau. Tòa án án không phải là công cụ chuyên chính, không phải nơi để chà đạp, xúc phạm, hạ nhục nhân phẩm con người. Không phải ngẫu nhiên mà Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 nhấn mạnh đến quyền được xét xử một cách bình đẳng, công bằng trước tòa án. Không thể có tình trạng khi vi phạm pháp luật thì người này bị xử lý kỷ luật nội bộ, người khác bị tòa án xét xử; càng không thể để tình trạng một người nào đó bị cho là phạm tội nhưng lại không được xét xử trước tòa. Đều bị xét xử trước tòa và đều được xét xử trước tòa đó là hai mặt của bình đẳng trước pháp luật xét dưới góc độ cơ chế bảo vệ.
Như vậy, từ chỗ trong xã hội có những người không được thừa nhận là con người, giữa con người với nhau còn sự phân biệt đối xử đến việc công nhận: mọi người đều được ghi nhận tư cách con người trước pháp luật cho thấy quyền bình đẳng là một trong những giá trị vĩ đại của văn minh nhân loại. Nó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của loài người. Nó không là một giá trị nhất thành bất biến mà có quá trình phát sinh, phát triển theo hướng luôn được làm mới và bổ sung cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Các giá trị đó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, trong đó tập trung nhất là các văn kiện quốc tế về quyền con người xuất hiện từ thời cách mạng tư sản đến nay.
2. Sự tương thích giữa pháp luật quốc tế và Việt Nam trong việc thể chế hóa quyền bình đẳng trước pháp luật
Quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật có đặc tính thể chế hóa thành pháp luật (các quyền và nghĩa vụ, cơ chế bảo đảm và bảo vệ nó…). Sự thể chế hóa này nhằm đảm bảo tính hiện thực của quyền con người và được thể hiện dưới cấp độ quốc tế và quốc gia.
Ở cấp độ quốc tế: Quyền bình đẳng trước pháp luật được ghi trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tuyên bố mà các nhà nước có thể tiếp thu chứ không mang giá trị ràng buộc. Điều 6 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 tuyên bố: Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi. Điều 7, Tuyên ngôn khẳng định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt nào.
Quyền bình đẳng trước pháp luật đã phát triển thêm một bước khi nó được đưa vào Công ước về quyền dân sự, chính trị 1966 với tư cách là một văn bản quy phạm pháp luật quốc tế có giá trị ràng buộc pháp lý với các quốc gia tham gia và được cụ thể hóa hơn so với Tuyên ngôn nhân quyền 1948. Không những vậy, nó còn là nguyên tắc của luật nhân quyền quốc tế được thể hiện ở nhiều công ước quốc tế khác nhau về các quyền con người. Không chỉ khẳng định, chi tiết hóa, Công ước quyền con người 1966 còn tạo ra cơ chế để bảo vệ quyền con người. Điều 26, 27 Công ước này quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.
Ở cấp  độ quốc gia: Quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam đã được thể hiện ngay từ Hiến pháp 1946 – một bản Hiến pháp được ca ngợi ở nhiều phương diện trong đó có phương diện bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Chẳng hạn Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”; “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”.
Kế thừa tư tưởng lập hiến tiến bộ trong đó có những tư tưởng văn minh tiến bộ về quyền con người có từ những năm đầu thế kỷ và đặc biệt là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 tái khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật tại Điều 51 bằng việc khẳng định: Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật.
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền Hiến định và bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc Hiến định. Chính vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong tất cả các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật như: Điều 5, Điều 14 -16 và  Điều 17 – 23 Bộ luật Dân sự (2005); Điều 5 Bộ luật Tố tụng Hình sự (2004); Điều 1 Luật Quốc tịch (1998); Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (1997); Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu HĐND (2003); Chương III, V Luật Hôn nhân và gia đình (2000); Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005).
Trên bình diện thể chế hóa quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam có thể đưa ra nhận xét sau đây:
Thứ nhất, bình đẳng trước pháp luật là một nội dung xuyên suốt tư tưởng lập hiến Việt Nam. Nó được khẳng định và thể hiện một cách nhất quán trong 4 bản Hiến pháp Việt Nam. Xu hướng chung là quyền bình đẳng trước pháp luật ngày càng được bổ sung trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, quyền bình đẳng trước pháp luật từ trước đến nay mới chỉ được thừa nhận là quyền công dân chứ không phải là quyền con người. Đây là sự hạn chế bởi quyền con người có khái niệm rộng hơn quyền công dân và một vấn đề đặt ra là nếu người nào đó bị tước, bị hạn chế quyền công dân thì quyền con người – trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật – có được thừa nhận và bảo vệ không? Trong khi đó, pháp luật vẫn còn tùy tiện trong việc áp dụng trách nhiệm pháp lý về tước quyền công dân. Pháp lệnh trừng trị tội phản cách mạng năm 1967 quy định hình phạt tước một loạt quyền công dân của các phần tử phản cách mạng như là một hình phạt chính[4].
Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật xuất hiện với tư cách là một quyền trong tất cả các bản Hiến pháp nhưng mức độ thể hiện của nó trong các bản Hiến pháp và các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác là không giống nhau, lúc thăng lúc trầm. Có khi nó được thể hiện giản dị, mạch lạc và tương đối đầy đủ trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 nhưng cũng có thời điểm, quyền này bị cắt xén, hạn chế, thậm chí phủ nhận trong Hiến pháp 1959 và 1980. Ví dụ quyền tự ứng cử chỉ xuất hiện trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959; quyền bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế có lúc bị triệt tiêu; quyền tự do xuất bản quy định trong Hiến pháp 1946 không thấy xuất hiện trở lại trong các bản Hiến pháp sau này.
Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật của con người trong mối quan hệ với Nhà nước chưa thiết lập được thế quân bình. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp luật chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa công dân với nhau. Sự bình đẳng trước pháp luật của công dân với Nhà nước còn mờ nhạt; thể hiện ở số quyền xét dưới khía cạnh bình đẳng trước pháp luật vẫn ít hơn số nghĩa vụ. Mặt khác, trong khi thiết kế quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền bình đẳng thì tư duy ban – phát, xin – cho phụ thuộc vào Nhà nước vẫn chiếm ưu thế. Ví dụ, cùng bị xâm hại các quyền bởi cơ quan hành chính nhưng công dân chỉ được khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính ra tòa án, còn bị xâm phạm bởi văn bản quy phạm pháp luật thì hiện nay chưa có cơ chế.
Thứ tư, quyền bình đẳng trước pháp luật chỉ nằm trên giấy, có ý nghĩa “tô điểm” cho Hiến pháp và pháp luật nếu pháp luật không tạo ra được cơ chế để thực hiện và bảo vệ nó. Dưới góc độ lập hiến và lập pháp, chúng ta có thể tự hào về số lượng các quyền, mức độ, phạm vi bao phủ các quyền thể hiện tính chất bình đẳng trước pháp luật của chúng ta không hề thua kém bất cứ nước nào. Tuy nhiên, hạn chế cố hữu nhất vẫn nằm ở cơ chế thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật khi nó bị xâm phạm từ mọi phía. Trách nhiệm tạo ra cơ chế này trước hết thuộc về Hiến pháp.
3. Các biện pháp thúc đẩy quyền bình đẳng trước pháp luật  ở Việt Nam
Để đề ra giải pháp thúc đẩy quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam, cách tốt nhất là đi tìm và giải quyết tận gốc nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội trong mọi lĩnh vực đang tồn tại trong xã hội. Bởi lẽ, pháp luật với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó luôn phản ánh các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. Không thể có sự bình đẳng trước pháp luật nếu vẫn còn sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực nói trên.
a. Bình đẳng về kinh tế sẽ có bình đẳng trước pháp luật
Trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì kinh tế đóng vai trò quyết định: “chẳng qua, chế độ pháp luật về chính trị và dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của các quan hệ kinh tế”[5]. Nguyên nhân của bất bình đẳng được J.J. Rouseau chỉ ra rằng: chế độ tư hữu là nguyên nhân gây nên bất bình đẳng xã hội, trong đó có bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cần đặt tư hữu vào bối cảnh mà J.J. Rouseau sống và trước đó.  Tư hữu thời J.J. Rouseau là thứ tư hữu thuộc về nhóm người thiểu số trong xã hội. Những nhóm người này sở hữu phần lớn của cải, nguồn lực trong xã hội. Pháp luật chỉ là sự ghi nhận và bảo vệ lợi ích của nhóm người này. Chính vì vậy, tư hữu mới là nguyên nhân gây nên sự bất bình đẳng pháp luật. Hay nói cách khác, bất bình đẳng trong tư hữu mới chính là nguyên nhân của bất bình đẳng chứ không phải bản thân nó.
Trong thời đại hiện nay, không ai phủ nhận vai trò của tư hữu đối với sự phát triển của xã hội. Nói cách khác, quốc gia nào bảo vệ sở hữu tư nhân, tạo điều kiện cho nó phát triển tốt nhất, quốc gia đó sẽ giàu mạnh nhất. Nhưng vấn đề cần hiểu khác đi về tư hữu. Tư hữu là sự thừa nhận quyền bình đẳng trong việc sở hữu tài sản và các nguồn lực quốc gia cho tất cả mọi người xét cả về phương diện kinh tế và cơ hội tiếp cận và sở hữu.
Ở Việt Nam hiện nay, tư hữu đã được thừa nhận bên cạnh sự chiếm ưu thế hơn của công hữu. Điều này thể hiện qua việc sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước vẫn được Hiến pháp khẳng định là nền tảng và chủ đạo. Ở đây, có điều chưa được làm sáng tỏ cả trên phương diện chính trị và khoa học[6]. Đó là bên cạnh việc khẳng định sự bình đẳng của các thành phần kinh tế nhưng thực tế, các doanh nghiệp nhà nước lại đóng vai trò chủ đạo. Và chủ đạo lại không được hiểu như là công cụ để điều hành kinh tế, lấp những khoảng trống tiêu cực mà tư nhân và thị trường bỏ ngỏ, mà lại là sự ưu ái trên mọi phương diện: nguồn lực, chính sách, pháp luật, các lợi thế cạnh tranh khác. Những ưu ái đối với doanh nghiệp nhà nước cũng tước đi cơ hội của khối doanh nghiệp dân doanh và như vậy, sự bình đẳng trước pháp luật trong lĩnh vực kinh tế không thể nói là đã được đảm bảo tốt nhất.
Tái cơ cấu nền kinh tế, phân bổ lại nguồn lực quốc gia đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, trả doanh nghiệp nhà nước về đúng với vai trò của nó như nó vốn có, đó chính là tiền đề để đảm bảo bình đẳng trước pháp luật.
b. Đảm bảo sự bình đẳng trong chính trị
Sự bình đẳng về chính trị là những cơ hội ngang nhau trong việc tham gia vào sinh hoạt chính trị của quốc gia, trong đó có sự tham gia vào thực hiện quyền lực nhà nước. Đây đang là vấn đề đặt ra ngay cả với các quốc gia văn minh. Ở Đức, sau hơn 20 năm thống nhất, ngoài Thủ tướng A. Mikel, còn lại, người phía Đông vẫn còn bị hạn chế trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị ở cấp liên bang[7]. Ở Việt Nam, Hiến pháp tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Cụ thể hơn, Hiến pháp phân chia nhân dân thành các thành phần khác nhau, trong đó nền tảng là giai cấp công nhân, nông dân và trí thức (Điều 2 Hiến pháp 1992). Với việc tuyên bố chủ quyền thuộc về nhân dân, cho thấy, quyền bình đẳng trong chính trị được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, thực tế sự tham gia một cách bình đẳng của nhân dân trong chính trị vẫn chưa được như mong muốn xét dưới các tiêu chí dân tộc, giới tính, địa vị xã hội.
Pháp luật phải đảm bảo cho người dân thực hiện quyền bình đẳng trong chính trị bằng việc cải cách chế độ bầu cử, thực hiện quyền khiếu nại tố cáo, quyền tiếp cận thông tin… Một mặt thúc đẩy quyền bình đẳng về chính trị, một mặt thể hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân.
           c. Pháp luật phải chứa đựng các giá trị tự do, bình đẳng
  Các quyền con người muốn trở thành hiện thực phải được thể chế hóa. Tuy nhiên, quyền bình đẳng trước pháp luật có được thực hiện trên thực tế hay không phải xét dưới hai khía cạnh: pháp luật có thừa nhận sự tự do bình đẳng hay không, đồng thời pháp luật phải chứa đựng trong nó các giá trị nhân loại về tự do, bình đẳng. Ở Việt Nam, xét trên cấp độ Hiến pháp, khía cạnh thứ nhất không có gì phải bàn nhiều. Nhưng ở cấp độ thấp hơn, nhất là các văn bản dưới luật, thì việc ghi nhận bảo vệ sự bình đẳng vẫn còn mờ nhạt, thậm chí là có cả vi phạm. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có nhiều. Có thể là sự tham gia của người dân trong việc hoạch định chính sách không được quan tâm, thiếu vắng cơ chế giám sát trong thực thi pháp luật… Người ta đang đồn đoán một hiện tượng không bình thường là sự chi phối của các nhóm lợi ích có ưu thế trong xã hội đến việc hoạch định chính sách và ban hành pháp luật, nhất là trong lĩnh vực kinh tế – không phải theo hướng tích cực mà là tạo sự ra bất bình đẳng. Điều này không phải hoàn toàn vô căn cứ nếu nghiên cứu nội dung và thực tế áp dụng một số loại văn bản pháp luật này. Ví dụ như, cùng thực hiện hoạt động kinh doanh trên thương trường nhưng có doanh nghiệp thua lỗ thì được Nhà nước ra tay cứu bằng nhiều cách hoặc là tái cơ cấu (chứ không cho phá sản), miễn thuế, khoanh nợ thậm chí trả nợ thay…
Đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật là việc giải quyết vấn đề người làm luật đó đứng ở đâu xét trên phương diện lợi ích./.


Ths. Đinh Thế Hưng – Viện Nhà nước và Pháp luật.
 http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/hien-phap-viet-nam-va-quyen-binh-111ang-truoc-phap-luat


[1] V.I Lê- nin Toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 362.
[2] Phùng Văn Tửu, Giăng Giắc Rútxô. Nxb Văn học, Hà Nội, 1978, tr. 155.
[3] F. Enghel, Đạo đức, pháp quyền và bình đẳng,  Chống Duy-ring, http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1870s/chongduhring/phan_11.htm
[4] Đào Trí Úc, Luật Hình sự Việt Nam, những vấn đề chung, NXB Khoa học xã hội, H., 2000, tr 252.
[5] K. Mác, Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 93.
[6] Theo TS Lê Đăng Doanh, không nước nào trên thế giới khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo kể cả Trung quốc, Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 31/10/2010.
[7] Đức sau 20 năm thống nhất: Còn đó bất bình đẳng chính trị, Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 10/10/2010.

Nguyên tắc Paris và các cơ chế bảo đảm nhân quyền quốc gia trên thế giới

HumanRights Nguyên tắc Paris và các cơ chế bảo đảm nhân quyền quốc gia trên thế giớiKhoa học Pháp lý – Phaply.com.vn : “…Bản chất chính trị của Ủy ban cần phải được đặc biệt lưu ý trong bối cảnh diễn biến hòa bình đã chuyển sang làn sóng thứ 3[5] với sự trỗi dậy mạnh mẽ của tổ chức xã hội dân sự và chủ nghĩa tư bản đã đẩy cao đến trạng thái độc quyền tuyệt đối của nó dưới hình thức đội lốt của chủ nghĩa tư bản nhân văn (humane capitalism) hay chủ nghĩa tư bản bộ mặt người (human-faced capitalism). Thực chất sự vận động ấy vẫn chưa thể làm thay đổi bản chất bóc lột và vi phạm các QCN hàng loạt của nó. Đó không khác gì hơn là một dạng thức mới của chủ nghĩa đế quốc mà ngày nay có thể được gọi dưới cái tên chủ nghĩa tư bản toàn cầu (global capitalism)…”
1. Nguyên tắc Paris và nền tảng hình thành các cơ quan nhân quyền quốc gia
Tháng 12/1993, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) đã thông qua Nghị quyết 48/134 quy định các nguyên tắc về quy chế của các cơ quan quốc gia trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (QCN)[1], được gọi là Nguyên tắc Paris. Nguyên tắc Paris bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
1. Thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.
2. Cơ quan nhân quyền quốc gia (CQNQQG) được xác lập bằng một đạo luật hay luật mang tính hiến định hoặc luật định, quy định chi tiết về thành phần, cơ cấu và phạm vi, thẩm quyền.
3. CQNQQG thực thi các nghĩa vụ sau:
(a) Đệ trình lên Chính phủ, Nghị viện và các cơ quan thẩm quyền có liên quan trên cơ sở tham vấn hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền liên quan hoặc thông qua việc thực hiện thẩm quyền của mình nhằm đánh giá về một vấn đề nhân quyền nào đó mà không cần đến sự đề nghị của cấp trên, nêu chính kiến, đề xuất, kiến nghị và báo cáo về bất cứ vấn đề nào liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền. CQNQQG có thể quyết định công khai các vấn đề đó trước công chúng. Các quan điểm, đề xuất, kiến nghị và báo cáo này, cũng như bất cứ sự đánh giá nào của CQNQQG cần phải xem xét những khía cạnh sau đây:
(i)                    Các quy định hành chính và lập pháp, cũng như các quy định liên quan đến các cơ quan tư pháp, liên quan đến việc tăng cường bảo vệ QCN. Trên cơ sở đó, CQNQQG sẽ đánh giá các quy định hành chính và luật hiện hành, cũng như các dự luật, kiến nghị, đề xuất; đồng thời đưa ra những kiến nghị phù hợp để bảo đảm rằng các quy định này hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc nhân quyền cơ bản. CQNQQG, khi phù hợp, cần đề xuất việc thông qua một luật mới, sửa đổi luật hiện hành và thông qua hoặc sửa đổi các biện pháp hành chính.
(ii)                   Quyết định xem xét đối với bất cứ sự vi phạm nhân quyền nào xảy ra.
(iii)                  Soạn thảo các báo cáo về tình hình trong nước liên quan đến nhân quyền nói chung và về các vấn đề cụ thể nói riêng.
(iv)                  Đề nghị Chính phủ lưu tâm đến các vụ việc vi phạm xảy ra ở bất cứ nơi nào trong lãnh thổ quốc gia khi các QCN bị vi phạm và đưa ra những kiến nghị, đề xuất đối với vấn đề đó, đưa ra sáng kiến nhằm chấm dứt tình hình vi phạm như vậy; đồng thời khi cần thiết bày tỏ quan điểm về vị trí và phản ứng của Chính phủ.
(b) Thúc đẩy và đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật, quy định và thực tiễn quốc gia với các văn kiện nhân quyền quốc tế mà quốc gia ấy là thành viên, cũng như việc thực thi hiệu quả.
(c) Khuyến khích việc phê chuẩn các văn kiện nhân quyền hay gia nhập các văn kiện này, đồng thời nhằm đảm bảo việc thực hiện chúng.
(d) Đóng góp vào các báo cáo mà các quốc gia thành viên được yêu cầu phải đệ trình lên các cơ quan và Ủy ban của LHQ, và lên các cơ quan khu vực, theo nghĩa vụ của mình; đồng thời, khi cần thiết, bày tỏ quan điểm về vấn đề này trên cơ sở tôn trọng tính độc lập của họ.
(e) Hợp tác với LHQ và cơ quan khác trong hệ thống LHQ, các thể chế khu vực và cơ quan quốc gia của các quốc gia khác phù hợp với các lĩnh vực tôn trọng và thúc đẩy nhân quyền.
(f) Hỗ trợ vào việc thành lập các chương trình giảng dạy, nghiên cứu trên lĩnh vực nhân quyền tại các trường đại học, cơ sở đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ.
(g) Công khai hóa các quyền con người và những nỗ lực nhằm đấu tranh chống lại tất cả các hình thức phân biệt đối xử, đặc biệt là phân biệt chủng tộc, thông qua việc tăng cường nhận thức công chúng, đặc biệt thông qua giáo dục và thông tin, truyền thông và sử dụng các cơ quan báo chí.
Thành phần cơ cấu của CQNQQG phải bảo đảm nguyên tắc độc lập và tính đại diện rộng rãi như sau:
Thứ nhất, tính đại diện rộng rãi bao gồm: (a) Các tổ chức phi chính phủ chịu trách nhiệm nhân quyền và nỗ lực đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, các tổ chức công đoàn, các tổ chức nghề nghiệp và xã hội liên quan, chẳng hạn, hội luật sư, hội thầy thuốc, hội nhà báo, hội các nhà khoa học; những xu hướng tư tưởng tôn giáo và triết học; (c) các trường đại học và các chuyên gia kinh nghiệm; (d) Nghị viện; (e) các bộ, ban ngành của Chính phủ (nếu các cơ quan này được bao hàm, những người đại diện của họ nên chỉ tham gia vào các cuộc tranh luận với tư cách tham vấn).
Thứ hai, được cung cấp ngân sách và độc lập về tài chính.
Thứ ba, độc lập về nhân sự (quy trình lựa chọn, bổ nhiệm độc lập, được trao thẩm quyền độc lập nhất định,…).
Theo quy định của Nguyên tắc này, trong phạm vi hoạt động của mình, CQNQQG phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
(a) Xem xét một cách độc lập đối với bất cứ vấn đề nào nằm trong thẩm quyền của mình, dù là chúng được chính phủ đệ trình hay được xử lý theo một cơ quan có thẩm quyền cao hơn, theo đề xuất của các thành viên của mình hoặc bất cứ người khiếu kiện nào.
(b) Gặp gỡ bất cứ cá nhân nào và lấy thông tin và các tài liệu cần thiết cho việc đánh giá về các vụ việc vi phạm trong thẩm quyền của mình.
(c) Giải quyết dư luận trực tiếp hay thông qua bất cứ cơ quan báo chí nào, đặc biệt nhằm công khai hóa chính kiến và đề xuất của mình.
(d) Họp thường xuyên và bất cứ khi nào cần thiết với sự hiện diện của tất cả các thành viên sau khi họ thấy được sự quan ngại.
(e) Thành lập các nhóm làm việc trong số các thành viên khi cần thiết và thành lập các phân bộ khu vực và địa phương nhằm trợ giúp cho việc thực hiện các chức năng của mình.
(f) Duy trì tham vấn với các cơ quan khác, dù là theo thẩm quyền tài phán hoặc không, chịu trách nhiệm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền (đặc biệt là, thanh tra Quốc hội, người hòa giải hay các cơ quan tương tự khác).
(g) Các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hoạt động của các CQNQQG; vì vậy cần xây dựng các quan hệ với các tổ chức phi chính phủ cống hiến trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, vào sự phát triển kinh tế và xã hội, vào đấu tranh chống chủ nghĩa chủng tộc, vào việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương đặc biệt (đặc biệt là trẻ em, lao động di cư, người tị nạn, những người bị khuyết tật về trí tuệ và vận động) hoặc đối với các lĩnh vực đặc biệt khác.
Một điểm hết sức quan trọng đó là việc nhấn mạnh đến thẩm quyền tương tự xét xử (quasi-jurisdictional competence) của CQNQQG (chẳng hạn, đó là Ủy ban) theo Nguyên tắc này. Theo đó, một cơ quan quốc gia có thể có thẩm quyền xem xét và giải quyết các khiếu kiện, khiếu nại liên quan đến các vụ việc vi phạm đối với cá nhân. Các vụ việc có thể được Ủy ban xem xét và xử lý bởi những cá nhân, người đại diện của họ, các bên thứ ba, các tổ chức phi chính phủ, các hội và tổ chức công đoàn hay bất cứ các tổ chức đại diện nào khác. Nguyên tắc này cũng chỉ ra những thẩm quyền và chức năng của một CQNQQG (như Ủy ban) khi xem xét các vụ cáo buộc vi phạm, đó là: (a) Tìm kiếm việc giải quyết thông qua hòa giải hoặc theo quy định của pháp luật, thông qua các quy đinh ràng buộc, trên cơ sở tin cậy; (b) thông báo cho bên khiếu nại về các quyền của họ, đặc biệt là các biện pháp khắc phục (bồi thường), và thúc đẩy việc tiếp cận đối với các quyền của người bị hại; (c) xem xét và giải quyết các khiếu nại hoặc khiếu kiện hoặc chuyển chúng đến cơ quan chức năng có thẩm quyền theo phạm vi quy định của pháp luật; (d) đưa ra các kiến nghị, đề xuất cho các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là bằng việc đề xuất những sửa đổi hoặc cải cách các luật, quy định và thực tiễn hành chính, trong trường hợp có những rào cản về thể chế cho những người khiếu kiện để bảo vệ các quyền của họ.
Kể từ khi được LHQ thông qua đến nay, sau hai thập kỷ, Nguyên tắc Paris đã trở thành nền tảng quy tắc hướng dẫn và chuẩn mực của LHQ cho việc hình thành tổ chức và hoạt động của các CQNQQG trên toàn thế giới, góp phần quan trọng vào việc định hình các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trên phạm vi toàn cầu, trong đó đáng chú ý là việc hoàn thiện cơ chế quốc gia bảo đảm nhân quyền.
2. Các cơ chế bảo đảm nhân quyền
Cơ chế chính thức bảo bảo đảm QCN bao gồm ba cơ chế chủ yếu đó là cơ chế của LHQ, cơ chế khu vực và cơ chế quốc gia.
2.1. Cơ chế LHQ
Cơ chế bảo đảm quốc tế về QCN là hệ thống các quy phạm, chuẩn mực, nguyên tắc ràng buộc pháp lý quốc tế về QCN cùng với những chế tài (như Hội đồng Nhân quyền, Uỷ ban Công ước, thủ tục, toà án,..) điều chỉnh hành vi của các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và thực thi các cam kết đối với các QCN. Cơ chế quốc tế này bao gồm: Cơ chế theo Hiến chương; cơ chế theo Ủy ban Công ước; cơ chế theo thủ tục đặc biệt.
Cơ chế theo Hiến chương LHQ
Được thành lập dựa vào chức năng các cơ quan chuyên môn của LHQ. Cơ chế này bao gồm Hội đồng Nhân quyền (ra đời từ năm 2006 thay thế cho Ủy ban Nhân quyền – UBNQ – được thành lập từ năm 1946) và các thủ tục đặc biệt. Theo Nghị quyết số 60/251 về việc thành lập Kiểm điểm định kỳ toàn cầu (Universal Periodic Review) đối với tình hình thực hiện QCN của các quốc gia thành viên. Tháng 3 vừa qua Chính phủ Việt Nam đã bảo vệ thành công kết quả thực hiện QCN theo cơ chế này.
Cơ chế theo các Uỷ ban Công ước
Đây là cơ chế giám sát việc thực hiện QCN của các quốc gia thành viên thông qua các Uỷ ban của các công ước quốc tế về QCN.
Cho đến nay đã có các ủy ban công ước sau được thành lập và hoạt động: Ủy ban Loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), 1969; Uỷ ban Quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (CESCR), 1987; Uỷ ban Nhân quyền (HRC), 1977; Uỷ ban Loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), 1982; Uỷ ban Chống tra tấn (CAT), 1987;  Uỷ ban Quyền trẻ em (CRC), 1990; Uỷ ban về Bảo vệ quyền của người lao động di cư và các thành viên gia đình của họ (CMW), 2004; Uỷ ban về Quyền của những người khuyết tật (CRPD),…
Cơ chế theo thủ tục đặc biệt
Cơ chế này được thành lập bởi Đại hội đồng LHQ dựa trên những cuộc họp toàn thể của Đại hội đồng và được thông qua bằng các nghị quyết ràng buộc. Chẳng hạn, đó là các nghị quyết, như Nghị quyết 728F (XXVIII), Nghị quyết 227 (X), Nghị quyết 607 (XXI), Thủ tục công khai 1235, Thủ tục kín 1503 (UBNQ được nhận/giải quyết bí mật các khiếu kiện về QCN do chính nạn nhân hay cá nhân khác, hoặc tổ chức phi chính phủ gửi đến). Cơ chế theo thủ tục (hay trình tự đặc biệt) này giúp các cá nhân của các quốc gia thành viên Công ước có thể khiếu kiện trực tiếp lên Uỷ ban Công ước về tình hình tôn trọng và thực hiện QCN ở quốc gia đó.
2.2. Cơ chế khu vực
Cùng với cơ chế quốc tế, cơ chế khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và bảo vệ các QCN được nêu trong hệ thống pháp luật quốc tế. Sự ra đời của cơ chế khu vực, điển hình và hiệu quả là cơ chế của châu Âu, là một yêu cầu tất yếu của việc đưa các chuẩn mực quốc tế áp dụng trong phạm vi quốc gia và khu vực dựa trên những điều kiện đặc thù và trình độ phát triển nhất định, sự tương đồng của khu vực. Cụ thể, các châu lục đều có Hiến chương, Tuyên bố, Công ước và Cơ chế giám sát (trừ châu Á). Riêng châu Âu và châu Mỹ có Toà án khu vực về QCN.
Các cơ chế khu vực bảo đảm nhân quyền trên thế giới hiện nay đáng chú ý đó là Cơ chế châu Âu (bao gồm: Hiến chương xã hội châu Âu, Công ước Châu Âu về QCN, UBNQ châu Âu, Tòa án Nhân quyền châu Âu); Cơ chế châu Mỹ-La tinh (Hiến chương Liên Mỹ, Công ước Liên Mỹ về QCN, Ủy ban Liên Mỹ về QCN, Tòa Án Liên Mỹ về Nhân quyền); Cơ chế châu Phi (Hiến chương xã hội châu Phi, Công ước châu Phi về QCN và quyền dân tộc, UBNQ châu Phi,..).
Châu Á Thái Bình Dương – một châu lục có số dân đông nhất thế giới và là nơi phản ánh đặc sắc đa dạng văn hóa và tôn giáo, cho đến nay vẫn chưa hình thành được một cơ chế nhân quyền khu vực. Mặc dù vậy, ở phạm vi bán khu vực, như Nam Á, và Đông Nam Á đã có các cơ chế tiểu khu vực này. Chẳng hạn, khu vực Đông Nam Á đã hình thành và trong quá trình phát triển, hoàn thiện một cơ chế về QCN tương tự như các cơ chế khu vực trên thế giới. Tháng 12/2007, ASEAN đã thông qua Hiến chương, theo đó xác lập việc hình thành cơ quan ASEAN về QCN (ASEAN Human Rights Body-AHRB) (theo Điều 14 của Hiến chương). Vì vậy, sau quá trình thảo luận, Ủy ban Liên chính phủ về QCN của ASEAN đã được thành lập vào ngày 23/10/2009 tại Cha Am Hua Hin, Thái Lan, với tên gọi là Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về QCN. Tuy nhiên, Ủy ban này chủ yếu có chức năng tham vấn chứ không có chức năng cơ bản khác như các Ủy ban khu vực khác (như chức năng điều tra, xử lý, giải quyết các khiếu nại liên quan đến QCN của các công dân quốc gia thành viên,…). ASEAN cũng đang trong quá trình soạn thảo và thông qua Tuyên bố ASEAN về QCN cũng như hoàn thiện các thể chế khác.
2.3. Cơ chế quốc gia
Tôn trọng, bảo vệ và thực hiện QCN trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm quốc gia. Các quốc gia phải có các biện pháp, bao gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp và các biện pháp khác. Chẳng hạn, về lập pháp, hành pháp và tư pháp cần không ngừng hoàn thiện và cải cách hệ thống luật pháp, hành pháp và tư pháp nhằm tôn trọng và bảo đảm tốt các QCN; sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về QCN.
Các biện pháp khác bao gồm việc: (a) Thông qua các chương trình, mục tiêu quốc gia (như đề ra các chủ trương, quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật về QCN cần phải được hiện thực hoá thông qua hàng loạt các chương trình hành động từ cấp trung ương xuống địa phương, sâu rộng ở các cấp, các ngành); b) tăng cường cơ chế giám sát hiệu quả (đặc biệt là cơ quan QCN độc lập, như xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, thúc đẩy và thực thi hiệu quả, như việc thành lập Uỷ ban về QCN, hoặc các uỷ ban chuyên trách, thanh tra Quốc hội về QCN); c) tăng cường phổ biến, giáo dục và tuyên truyền về pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền người; đẩy mạnh công tác giáo dục nhằm nâng cao trình độ nhận thức về QCN cho các cán bộ làm công tác thực thi pháp luật, công chức và người dân nói chung.
 Ngoài ra, Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh đến các quốc gia thành viên của điều ước quốc tế về QCN cần phải tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về nhằm thúc đẩy việc trao đổi kinh nghiệm, giáo dục và tuyên truyền về QCN, tăng cường năng lực của đội ngũ làm công tác thực thi pháp luật và bảo vệ QCN.
3. Các cơ chế quốc gia bảo đảm quyền con người
Các chuẩn mực nhân quyền quốc tế chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được tôn trọng, bảo đảm và thực thi trong thực tiễn ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, xét đến cùng, việc bảo đảm QCN ở cấp độ quốc gia đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trên thế giới hiện nay, ở cấp độ quốc gia có nhiều loại hình cơ quan nhân quyền và cơ chế quốc gia được thành lập và hoạt động theo Nguyên tắc Paris. Tuy nhiên điển hình đó là 3 cơ chế: (1) UBNQ quốc gia; (2) Thanh tra Quốc hội về nhân quyền và Cao Ủy Nhân quyền; (3) CQNQQG khác (như viện/trung tâm/hội/hội đồng,…nhân quyền quốc gia).

UBNQ quốc gia (National Commission of Human Rights)
 Đây là một cơ chế phổ biến trên thế giới hiện nay, với khoảng gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có hình thức Ủy ban quốc gia chuyên trách về bảo vệ và thúc đẩy QCN này[2]. Có nhiều tên gọi khác nhau, như UBNQ quốc gia; UBNQ và Cơ hội bình đẳng; UBNQ và Bình đẳng,…. Khu vực Đông Nam Á hiện nay đã có 6 UBNQ quốc gia được thành lập và hoạt động theo Nguyên tắc Paris, đó là UBNQ Thái Lan, UBNQ Phi-lip-pin, UBNQ In-đô-nê-xia, UBNQ Ma-lai-xia, UBNQ Đông Timor, UBNQ Mi-an-ma.
Các Ủy ban Quốc gia này hầu hết được thành lập theo một đạo luật của Nghị viện (Quốc hội), có quy chế độc lập với các nhánh quyền lực của Nhà nước và là sự đại diện đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong xã hội (các nhà lập pháp, luật sư, hoạt động xã hội,…)
Chức năng của các UBNQ quốc gia này bao gồm tiếp nhận, xem xét, giải quyết các khiếu kiện, tố cáo về những vụ việc vi phạm QCN; giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật về QCN; tư vấn pháp luật và chính sách về các vấn đề liên quan đến nhân quyền; tham gia làm báo cáo quốc gia về việc thực hiện nghĩa vụ nhân quyền quốc tế (của quốc gia thành viên công ước nhân quyền); điều tra, phát hiện và đề xuất phương án xử lý hoặc thực hiện thẩm quyền tương tự xét xử (quasi-judicial) để giải quyết tình trạng vi phạm nhân quyền….
  Thanh tra Quốc hội (Parliamentary Ombudsman) và Cao Ủy Nhân quyền
Cơ quan Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) có nguồn gốc từ các quốc gia Bắc Âu, đặc biệt là xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm 1809. Nghĩa gốc của từ Ombudsman xuất phát từ tiếng Old Norse (người Bắc Âu) có nghĩa là “đại diện” (umboðsmaðr) (hay “representive” trong tiếng Anh), là một quan chức do Chính phủ hay Nghị viện bổ nhiệm có chức năng đại diện cho quyền và lợi ích của công chúng thông qua việc điều tra và giải quyết các khiếu kiện cá nhân do công dân đệ trình. Cơ quan này hiện nay có ở hơn 60 quốc gia trên toàn thế giới[3]. Điều đáng ngạc nhiên là mô hình này được ưa chuộng ở rất nhiều quốc gia từng là thuộc địa của khối thịnh vượng chung (Common Wealth) của Anh cũng như nhiều quốc gia khác. Đồng thời là một cơ quan song trùng với CQNQQG. Chẳng hạn ở Anh, Canada, Thái Lan, ,…vừa có cả cơ quan Thanh tra Quốc hội và vừa có UBNQ quốc gia.
Cao Ủy Nhân quyền thuộc Nghị viện
Đây là mô hình CQNQGQ độc lập có ở một số quốc gia thuộc Nghị viện được thành lập dựa trên một điều luật của Hiến pháp nhưng có những đặc thù không giống như một CQNQQG. Chẳng hạn, mô hình này hiện diện trong chính thể của nước Cộng hòa Ukraina, với tên gọi Cao uỷ Nhân quyền của Nghị viện Ukraina (Ukrainian Parliamentary Commissioner for Human rights), là cơ quan được thành lập theo Điều 55 của Hiến pháp. Chức năng của cơ quan này là nhận và giải quyết các khiếu kiện về các vấn đề liên quan đến nhân quyền thông qua các cơ chế giải quyết của một cơ quan Nghị viện và thẩm quyền tương tự phán xét (quasi-judicial)[4].
Các CQNQQG khác
Các CQNQQG khác bao gồm các viện nghiên cứu quốc gia hay hội, hiệp hội, hội đồng quốc gia về nhân quyền được thành lập và hoạt động dựa trên Nguyên tắc Paris. Trên thế giới mô hình này khá phổ biến ở nhiều nước Bắc Âu và Tây Âu, như Viện Nhân quyền Đan Mạch, Trung tâm Nhân quyền Na Uy, Viện Nhân quyền Cộng hòa Liên bang Đức,…Việc lựa chọn mô hình này thường phù hợp với các quốc gia phát triển (nơi có trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao và đặc biệt là trình độ nhận thức, văn hóa pháp luật và ý thức cao về QCN của người dân và đội ngũ công chức) hay nơi có những đặc thù nhất định về thể chế chính trị và văn hóa (như Hội Nghiên cứu nhân quyền quốc gia Trung Quốc). Ngoại trừ trường hợp Trung Quốc, điểm lưu ý đó là bước tiến về dân chủ và QCN của các quốc gia lựa chọn mô hình các viện hay trung tâm quốc gia đạt trình độ tương đối cao.
4. Một số nhận xét
Nghiên cứu Nguyên tắc Paris và thực tiễn hình thành và phát triển của các cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc gia, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Một là, việc hình thành một CQNQQG là một yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội. Dù sớm hay muộn, những quốc gia đi theo lô-gich của sự phát triển kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, chắc chắn sẽ dẫn đến sự hình thành một cơ quan quốc gia nhằm thúc đẩy việc tôn trọng và bảo đảm QCN.
Hai là, dựa trên điều kiện đặc thù về chính trị, văn hóa, lịch sử và trình độ phát triển kinh tế-xã hội và nhận thức của người dân, có thể lựa chọn một mô hình phù hợp với mỗi nước. Chẳng hạn, kinh nghiệm từ In-đô-nê-xia, cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực, đã chỉ ra tính đa dạng của các mô hình. Mặc dù giữa chúng có những điểm chung nhất định, chẳng hạn đều được thành lập dựa theo Nguyên tắc Paris (là cơ quan được thành lập theo đạo luật và độc lập khỏi Chính phủ,…), mỗi Ủy ban đều phản ánh đặc thù riêng về điều kiện của mỗi nước.
Ba là, trong các chức năng của Ủy ban, không nhất thiết phải có chức năng điều tra, giám sát và tiến hành giải quyết theo hình thức bán-tư pháp (semi-judicial – tức là có những thẩm quyền tư pháp nhất định trong việc đưa các vụ việc vi phạm ra trước tòa án cũng như tham gia một phần vào quá trình tố tụng, như điều tra, xét xử đối với những vi phạm QCN,..) như mô hình của Ôt-xtrây-lia, đặc biệt ở những quốc gia mà thể chế chính trị không dựa trên phân quyền thì yêu cầu có chức năng này là không cần thiết.
Bốn là, có thể xây dựng mô hình UBNQ với những chức năng chủ yếu là nghiên cứu, giáo dục, phổ biến, tuyên truyền, xây dựng báo cáo quốc gia, đề xuất các kiến nghị, tham gia xây dựng luật và tư vấn về chính sách liên quan đến QCN. Đây cũng là mô hình CQNQQG của nhiều nước Bắc Âu mà bản thân chúng đều được hình thành và hoạt động theo Nguyên tắc Paris.
Năm là, trong khi thừa nhận vai trò và tầm quan trọng của một CQNQQG (cụ thể ở đây là UBNQ quốc gia) trong việc bảo vệ và thúc đẩy QCN, cần đặc biệt lưu ý đến bản chất sâu xa nhất của cơ chế cũng như tính tất yếu hình thành của nó, đó là bản chất chịu sự chi phối nhất định của các quyết định và ý chí chính trị của giai cấp cầm quyền. Bản chất chính trị của Ủy ban cần phải được đặc biệt lưu ý trong bối cảnh diễn biến hòa bình đã chuyển sang làn sóng thứ 3[5] với sự trỗi dậy mạnh mẽ của tổ chức xã hội dân sự và chủ nghĩa tư bản đã đẩy cao đến trạng thái độc quyền tuyệt đối của nó dưới hình thức đội lốt của chủ nghĩa tư bản nhân văn (humane capitalism) hay chủ nghĩa tư bản bộ mặt người (human-faced capitalism). Thực chất sự vận động ấy vẫn chưa thể làm thay đổi bản chất bóc lột và vi phạm các QCN hàng loạt của nó. Đó không khác gì hơn là một dạng thức mới của chủ nghĩa đế quốc mà ngày nay có thể được gọi dưới cái tên chủ nghĩa tư bản toàn cầu (global capitalism).
Sáu là, vai trò của các cơ quan chính thức như Tòa án Hiến pháp và hệ thống tòa án trung ương và địa phương, ở các nước trong khu vực được nghiên cứu, là rất quan trọng trong việc bảo vệ những nguyên tắc nền tảng của nền dân chủ (như nguyên tắc pháp quyền, phân chia, cân bằng và đối trọng quyền lực, tính minh bạch, công khai, trách nhiệm giải trình của các cơ quan quyền lực nhà nước, tránh lạm dụng quyền lực nhà nước,…), các quyền và tự do của công dân và tất cả mọi người. Vì vậy, trong một nền dân chủ hiện đại, không thể thiếu vắng vai trò của việc đề cao pháp luật, xem pháp luật là nguyên tắc tối thượng; đồng thời, có những cơ chế để kiềm chế xu hướng tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà nước của bất cứ nhánh quyền lực nào cũng như của từng cá nhân – công chức và quan chức nhà nước – là những người đại diện cho nhân dân.
Bảy là, phong trào và sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức xã hội dân sự (TCXHDS) trên thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á, trên lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền cho thấy vai trò thiết yếu của trụ cột này trong cấu trúc của đời sống xã hội hiện đại và của bất cứ nền dân chủ và nhà nước phát triển, văn minh nào. Việc hiện hữu của các TCXHDS là sự mở rộng không gian chính trị của người dân qua đó các quyền và lợi ích của họ không ngừng được cải thiện và hiện thực hóa. Tính hiệu quả, độc lập, tự trị và linh hoạt, năng động của khu vực xã hội dân sự, tạo ra không chỉ những sức ép đáng kể cho các cơ quan nhà nước phải hạn chế những sự vi phạm nhân quyền mà điều quan trọng hơn còn giúp chính các cơ quan nhà nước thực hiện tốt các chức năng của mình và giúp người dân bảo đảm được các quyền và tự do của mình. Nòng cốt của các TCXHDS trong xã hội hiện đại ngày nay thường là những hội, hiệp hội bao gồm những nhà trí thức, những nhà hoạt động xã hội, và những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết và tình nguyện, muốn góp phần vào việc thúc đẩy và giương cao các giá trị dân chủ và nhân quyền được thể hiện trong truyền thống văn hóa, dân tộc, pháp luật quốc tế và quốc gia. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của các TCXHDS trên lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở khu vực trong suốt những thập kỷ qua đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện không ngừng việc bảo đảm các quyền và tự do cho tất cả mọi người. Một điều vô cùng quan trọng, đó chính là sự hiện diện và đóng góp của các TCXHDS đã giúp cho cơ chế bảo đảm nhân quyền ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế được hiệu quả rõ rệt; nhất là làm cầu nối và một kênh tham khảo hữu ích, bổ trợ cho hoạt động bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền của các cơ chế chính thức như UBNQ quốc gia./.

http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/nguyen-tac-paris-va-cac-co-che-bao-111am-nhan-quyen-quoc-gia-tren-the-gioi
[1] Nghị quyết này thường được gọi tắt là Nguyên tắc Pa-ri (hay Các Nguyên tắc Paris), được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết số 48/134 ngày 20/12/1993. Xem toàn văn Nguyên tắc này tại http://www2.ohchr.org/english/law/parisprinciples.htm
[2] http://en.wikipedia.org/wiki/National_human_rights_institutions  (truy cập 12.10.2011).
[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Ombudsman (truy cập 12/10/2011)
[4] http://www.ombudsman.kiev.ua/om_01_e.htm
[5] Làn sóng đầu tiên của Diễn biến hòa bình dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền và cây gậy cà-rốt diễn ra trong thời kỳ chiến tranh lạnh cho đến khi sụp đổ hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Làn sóng thứ hai hòng xóa bỏ hoàn toàn các nước xã hội chủ nghĩa còn lại được xuất hiện từ sau năm 1991 cho đến đầu những năm 2000. Làn sóng thứ ba bắt đầu một vài năm trở lại đây với sự xuất hiện của khối Alba và mô hình về chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 ở châu Mỹ La tinh.

TS. Hoàng Văn Nghĩa – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Bộ luật Dân sự Pháp

french Bộ luật Dân sự Pháp
Ảnh: The Huffington Post
khoahocphaply.vn – phaply.com.vn – Nếu Hiến pháp là một trong số những niềm tự hào lâu đời của người Mỹ, thì với người Pháp, Bộ luật Dân sự (BLDS) hay còn gọi là Bộ luật Napoléon xứng đáng để họ tự hào, hơn cả một bộ luật, được ví như “Hiến pháp dân sự”, và như là áng văn bất hủ. Chính Napoléon, khi bị đi đày ở đảo Saint Helen, đã nói: “Vinh quang của tôi không phải ở chỗ tôi đã thắng 40 trận đánh. Thất bại Waterloo đã xoá đi tất cả hồi tưởng về những trận thắng đó. Cái không thể xoá trong trí nhớ, cái sẽ còn mãi mãi, đó là BLDS của tôi”.
Nếu đặt lên bàn cân – theo đúng nghĩa đen – với 2.283 điều luật – người Pháp chắc hẳn cũng tự hào không kém. So sánh nhỏ, theo bản dịch tiếng Việt của Nhà pháp luật Việt – Pháp (Nxb Tư Pháp, 2006) mà Sách hay muốn giới thiệu đến các bạn, dày 1.199 trang; trong khi BLDS Việt Nam năm 2005 dày 415 trang, với 777 điều… Đương nhiên, chúng ta không bàn về vấn đề vay mượn hay tiếp nhận pháp luật trong khoa học pháp lý, cũng không kỳ vọng hiện tại và tương lai, người Việt có thể tự hào về một đạo luật “hoành tráng” nào đó icon biggrin Bộ luật Dân sự Pháp .
Code civil Fr Bộ luật Dân sự PhápVề Bộ luật Napoléon, đã có quá nhiều bài nghiên cứu khoa học pháp lý. Vì thế, không vượt ra ngoài mục đích giới thiệu một cuốn sách tra cứu, tham khảo giá trị, dưới đây, Sách hay sẽ trích dẫn lại một bài viết để minh hoạ… Nếu cần nói thêm điều gì, thì BLDS Pháp chính là ví dụ tiêu biểu cho việc đưa cuộc sống vào pháp luật…
————————————
…“Nội dung cơ bản của Bộ luật dân sự Napoleon
Bộ luật dân sự Napoleon bao gồm 2283 Điều, chia thành Thiên mở đầu (Titre Preliminaire) và 3 Quyển (Livre). Các quyển chia làm các Thiên (Titre), các Thiên chia thành các Chương (Chapitre); các Chương chia làm các Phần ( Section); các phần chia thành các Điều (Article).
Thiên mở đầu (Titre Preliminaire) từ Điều 1 đến Điều 6. Thiên này được gọi là: “Công bố luật, hiệu lực của luật và áp dụng luật” (De la publication, des effets et de l,application des lois en general) chứa đựng một số nguyên tắc cơ bản về luật:
Quyển 1 – Về người (Des personnes) từ Điều 7 đến Điều 515.
Quyển này quy định về chứng thư, hộ tịch (Des actes de l,Etat civil) như chứng thư khai sinh, chứng thư kết hôn, chứng thư khai tử; nơi cư trú, mất tích, hôn nhân, ly hôn, quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, quyền của cha mẹ, tình trạng vị thành niên, giám hộ và quyền tự lập, tình trạng thành niên và những người thành niên được pháp luật bảo hộ.
Quyển 2 – Về tài sản và những thay đổi về sở hữu (Des biens et des differentes modifications de la propriete) từ Điều 516 đến Điều 710.
Quyển này quy định về phân biệt các loại tài sản (động sản, bất động sản), về sở hữu, quyền thu hoa lợi, quyền sử dụng và quyền cư dụng (de l,habitation); dịch quyền (một nghĩa vụ đối với bất động sản tạo điều kiện thuận tiện cho việc sử dụng bất động sản của người khác) hay địa dịch (des servitudes ou services fonciers), dịch quyền phát sinh địa thế, dịch quyền xác lập theo quy định của pháp luật (như các quy định về tường hào chung; hoảng cách giữa các công trình trung gian cần thiết đối với một số công trình xây dựng; trổ cửa sổ sang bất động sản của nhà hàng xóm; máng nước dọc mái nhà); dịch quyền về lối đi; dịch quyền xác lập theo ý chí của con người; chấm dứt dịch quyền.
Quyển 3 – Các phương thức xác lập quyền sở hữu (Des differentes manieres dont on acquiert la propriete) từ Điều 711 đến Điều 2281. Quyển này bao gồm các quy phạm pháp luật liên quan đến các vấn đề thừa kế, tặng cho lúc còn sống và di chúc; hợp đồng hay nghĩa vụ hợp đồng nói chung; những cam kết được hình thành không thông qua thỏa thuận; hôn ước và các chế độ tài sản trong hôn nhân; hợp đồng mua bán; hợp đồng trao đổi; hợp đồng thuê mướn; hợp thầu khoán xây dựng bất động sản; công ty dân sự; những thoả thuận liên quan đến việc thực hiện những quyền không chia phần; vay mượn; gửi giữ và quyền trữ; hợp đồng mang tính chất may rủi (đánh bạc và cá cược; hợp đồng về lợi tức trọn đời); uỷ quyền; bảo lãnh; dàn xếp, thoả thuận trọng tài; cầm cố; quyền ưu tiên và quyền thế chấp; cưỡng chế chuyển quyền sở hữu và thứ tự giữa những người có quyền; thời hiệu và chiếm hữu.
CivilCode Bộ luật Dân sự PhápCác đặc điểm cơ bản của bộ luật dân sự Napoleon
Đây là bộ luật phản ánh những tư tưởng của cách mạng dân chủ tư sản Pháp bảo vệ các quyền và tự do của cá nhân.
Về sở hữu, bộ luật đã khẳng định quyền sở hữu là quyền được hưởng thụ và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối, miễn là không sử dụng tài sản vào những việc mà pháp luật cấm (Điều 544). Không ai có thể bị buộc nhượng lại quyền sở hữu của mình, trừ phi vì lợi ích công cộng và với điều kiện được bồi thường trước một cách thoả đáng (Điều 545). Mọi người đều có quyền giao kết hợp đồng nếu không bị pháp luật coi là vô năng (Điều 1123). Quyền tự do của cá nhân được khẳng định trong các quy định về quyền của mỗi người được tôn trọng đời tư của mình (Điều 9); quyền của cha, mẹ đối với con chấm dứt khi con đạt 18 tuổi (khi mới ban hành bộ luật là 21 tuổi).
Bộ luật được xây dựng trên nguyên tắc phi tôn giáo.
Đây là nguyên tắc được thể hiện rõ trong các quy định về hôn nhân và gia đình. Thể thức cử hành kết hôn không gắn với nhà thờ mà cử hành công khai trước viên chức hộ tịch của xã, nơi một trong hai vợ chồng thường trú hoặc cư trú vào thời điểm công bố (Điều 165).
Tính ổn định, khả năng tồn tại và có hiệu lực lâu dài của bộ luật
Bộ luật dân sự Napoleon được các luật gia thực hành nổi tiếng của Pháp như Tronchet, Portalis, Bigot de Préameneu và Maleville soạn thảo dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hoàng đế Napoleon, một người có hiểu biết sâu sắc về luật La Mã cổ đại. (Napoleon đã từng dành trọn 2 năm trong tù ngục để nghiên cứu luật La Mã cổ đại với ý định tự mình làm luật sư bào chữa cho mình và nếu sự nghiệp chính trị thành công sẽ xây dựng bộ luật của mình.)
Cho đến nay Bộ luật dân sự Napoleon đã tồn tại được trên 200 năm, vì vậy bộ luật này thường được các luật gia Pháp gọi là “Hiến pháp dân sự” của nước Cộng hoà Pháp. Trải qua hai thế kỷ, trong số 2283 điều của Bộ luật vẫn còn giữ được nguyên vẹn trên 1100 điều.
Ý tưởng của các tác giả khi soạn thảo Bộ luật dân sự Napoleon là thông qua việc thống nhất các quan hệ dân sự xây dựng nền tảng để thống nhất các quan hệ chính trị.
Một trong những tác giả của Bộ luật dân sự Napoleon là Portalis vào năm 1802 đã nói: “trật tự dân sự chính là xi măng gắn kết các vấn đề chính trị. Chúng ta không phải là những người miền Prô-văng, miền Brơ-ta-nhơ hay xứ An -zat, chúng ta là người Pháp”[4]. Theo giáo sư Claude Witz, Bộ luật dân sự chính là một trong những “khối đá tảng” mà hoàng đế Napoleon đã đặt trên đất Pháp để củng cố quốc gia.
Bộ luật dân sự Pháp đánh dấu sự phát triển của kỹ thuật lập pháp.
Đây là bộ luật mẫu mực về cấu trúc chặt chẽ§, lôgic của các chế định pháp luật, về việc sử dụng ngôn ngữ chính xác, giản dị, trong sáng, dễ hiểu, sự phù hợp với thực tiễn, sự kết hợp khéo léo giữa tính tổng quát và tính cụ thể của các quy phạm pháp luật. Các nguyên tắc chung của bộ luật dân sự được quy định rất cụ thể, nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt và mềm dẻo, tạo điều kiện cho các thẩm phán có thể giải thích linh hoạt, phù hợp với thực tế. Có thể đưa ra các ví dụ sau đây để minh chứng:
- Điều 1382: “Bất cứ hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người khác, thì người gây ra thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại”;
- Điều 1384: “Mỗi người phải chịu trách nhiệm không những về những thiệt hại do mình gây ra mà cả những thiệt hại do những người mà mình phải chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ gây ra”.
Hai nguyên tắc trên đây trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng có thể áp dụng cho mọi quốc gia trên thế giới bởi tính hợp lý và công bằng của nó. Những quy định mang tính nguyên tắc như vậy có thể vượt qua không gian và thời gian và có thể áp dụng trong nhiều thế kỷ mà không cần phải nghi ngờ vào tính chân lý và công bằng của nó.
Nhiều quy phạm trong Bộ luật dân sự Napoleon thể hiện tính mẫu mực về tính cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng và vì thế đã được tiếp nhận nguyên vẹn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chúng ta có thể thấy điều này qua một số điều luật sau đây:
- Điều 671: “Chỉ được phép trồng những cây to, cây nhỡ, cây nhỏ gần giới hạn đất láng giềng theo khoảng cách được xác định theo những quy định cụ thể hiện hành hoặc những thông lệ được thừa nhận. Nếu không có những quy định hoặc thông lệ thì cây mọc cao trên 2 mét phải trồng cách đường giới hạn phân cách hai bất động sản là 2 mét, đối với các cây trồng khác là nửa mét”.
- Điều 673: “Chủ sở hữu bất động sản có quyền buộc bên hàng xóm phải cắt bỏ các cành cây mọc vươn sang đất của mình. Nếu hoa quả ở các cành cây tự nhiên rụng xuống thì chủ sở hữu đất bị cành cây vươn sang được hưởng. Nếu rễ cây hoặc cành nhỏ mọc vươn sang đất người khác thì người đó có quyền cắt những rễ và cành cây nhỏ đó đến giới hạn đường phân chia của hai bên. Quyền được cắt rễ cây và cành nhỏ hoặc quyền được yêu cầu bên hàng xóm cắt các rễ cây, cành cây của các cây to, cây nhỡ, cây nhỏ không thể bị thời hiệu tiêu diệt”.
- Điều 675: “Chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ hoặc lỗ cửa vào bức tường chung dù bằng bất cứ cách nào, kể cả khi có lắp kính mờ, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề bên kia đồng ý”;
- Điều 681: “Chủ sở hữu bất động sản phải lắp đặt mái nhà sao cho nước mưa chảy vào đất nhà mình hoặc đường công cộng, không được để nước mưa chảy vào đất của bên hàng xóm”.
Bộ luật dân sự Napoleon không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.
Có thể đưa ra các minh chứng sau đây:
- Cơ chế trách nhiệm trước đây trong bộ luật dân sự dựa trên khái niệm lỗi, vì vậy nhiều trường hợp xảy ra tai nạn lao động, nhưng người lao động không được bồi thường do không chứng minh được lỗi của người sử dụng lao động. Luật ngày 9/4/1898 đã buộc người sử dụng lao động phải bồi thường thiệt hại cho người lao động ngay cả trong những trường hợp người chủ lao động không có lỗi. Theo Luật số 70-459 ngày 4/6/1970 cha và mẹ, với tư cách là người thực thi quyền trông giữ con, phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do con chưa thành niên sống với họ gây ra. Người chủ và người được uỷ thác phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do gia nhân và người giúp việc gây ra trong khi họ làm nhiệm vụ. Thầy giáo và những người thợ thủ công phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do học sinh gây ra khi những người này đang chịu sự giám sát của họ.
- Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có nhiều cải cách trong tư duy pháp luật theo xu hướng tự do và bình đẳng. Quyền lực của người cha, theo triết lý năm 1804, đã bị huỷ bỏ, thay vào đó là khái niệm quyền của cha mẹ đối với con cái. Vào năm 1804, khi Bộ luật mới ra đời, theo Điều 1124 người phụ nữ có chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vì khi ký kết hay thực hiện bất kỳ một hợp đồng dân sự có giá trị nào đều phải được sự đồng ý của người chồng. Người vợ có nghĩa vụ tuân theo ý chí của chồng, “có nghĩa vụ sống với chồng và theo chồng đến bất cứ nơi nào được chồng chọn làm nơi cư trú” (Điều 214 Bộ luật dân sự). Về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, người chồng quản lý tài sản chung, nếu vợ chồng không lựa chọn một chế độ quản lý tài sản khác. Thì nay, theo Điều 1124 được sửa đổi theo Luật số 68-5 ngày 3/1/1968, bị coi là không có năng lực giao kết hợp đồng chỉ là những người chưa thành niên, chưa được quyền tự lập và người thành niên được bảo hộ do bị mắc các bệnh tâm thần hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Điều 213 của Bộ luật dân sự được sửa đổi theo Luật số 70- 459 ngày 4/6/1970 xác định vợ chồng cùng nhau đảm bảo việc quản lý gia đình về mặt tinh thần và vật chất. Vợ chồng cùng có nghĩa vụ dạy dỗ con cái và chuẩn bị cho tương lai của chúng. Với Luật số 75- 617 ngày 11/7/ 1975, Điều 215 Bộ luật dân sự đã quy định: “Nơi ở của gia đình là nơi vợ chồng chọn, có sự thoả thuận chung”. Với Luật ngày 3/1/1972 nguyên tắc bình đẳng con trong giá thú và ngoài giá thú được thiết lập. Với Luật ngày 5/7/1974 tuổi thành niên được giảm từ 21 tuổi xuống 18 tuổi.
- Vấn đề xác lập họ, tên cho con cũng là vấn đề cần lưu ý khi nói đến sự phát triển của Bộ luật dân sự Napoleon. Trước năm 2002, theo tập quán pháp luật áp dụng đương nhiên, con mang họ của bố, phụ nữ lấy chồng mang họ của chồng. Tuy nhiên, sau khá nhiều tranh luận, Luật số 2002-304 ngày 4/3/2002, đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 2003-516 ngày 18/6/2003 và được thể hiện trong Điều 311-21 của Bộ luật dân sự Napoleon cho phép cha, mẹ thoả thuận để lựa chọn họ cho con, theo đó con có thể mang họ của bố, hoặc họ của mẹ hoặc họ của cha và mẹ kết hợp lại theo trật tự thỏa thuận.
- Chế định ly hôn trong Bộ luật dân sự cũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm và thay đổi đáng kể theo hướng phát triển tư tưởng tự do hôn nhân. Bộ luật dân sự khi mới được ban hành vào năm 1804 đã cho phép ly hôn, trong đó có thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, Luật De Bonald ngày 8/5/1816 đã bãi bỏ chế định ly hôn vì cho rằng, chế định ly hôn làm huỷ hoại gia đình. Mãi đến gần cuối thế kỷ XIX, với Luật Naquet ngày 27/7/1884 chế định ly hôn mới được tái thiết lập, tuy nhiên cũng chỉ cho phép ly hôn do lỗi của một bên, còn thuận tình ly hôn vẫn chưa khôi phục được. Luật ngày 15/12/1904 cho phép người vợ (chồng) ngoại tình được kết hôn với người tình của mình. Luật ngày 5/7/1956 cho phép công nhận đứa con do ngoại tình là con trong giá thú nếu bố mẹ đứa trẻ đó kết hôn với nhau. Luật số 75-617 ngày 11/7/1975 đã phi hình sự hoá hành vi ngoại tình, tiếp tục cho phép thuận tình ly hôn và ly hôn do “chấm dứt cuộc sống chung” khi vợ và chồng không sống chung trong thực tế từ 6 năm trở lên” ngay cả khi một bên không muốn ly hôn.
Cuộc cải cách gần đây nhất đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc ly hôn được thực hiện vào năm 2004. Luật số 2004C-439 ngày 26/5/2004 (được thể hiện trong Điều 238 Bộ luật dân sự) quy định cuộc sống chung của vợ chồng được coi là hoàn toàn chấm dứt khi hai vợ chồng đã sống riêng biệt từ 2 năm trở lên, tính từ thời điểm có quyết định triệu tập ra toà để giải quyết việc ly hôn[5].
-Vấn đề năng lực hành vi dân sự cũng có những thay đổi nhất định theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Điều 22 Bộ luật dân sự Napoleon nguyên thuỷ quy định về vấn đề tước bỏ hoàn toàn quyền dân sự trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Quy định này tạo nên một khái niệm khá đặc biệt là “chết dân sự” – con người còn tồn tại về mặt sinh lý học nhưng về khía cạnh pháp lý coi như đã chết vì các quyền dân sự là các quyền cơ bản và tối thiểu nhất của con người không còn nữa. Quy định này đã được bãi bỏ bởi Luật ngày 31/5/1854. Trong phần Thừa kế thuộc Quyển 3 – Các phương thức xác lập quyền sở hữu của Bộ luật dân sự Napoleon có các quy định gián tiếp về năng lực pháp luật dân sự của các phôi thai. Đó là các quy định tại Điều 725 và Điều 906, theo đó các phôi thai được hưởng thừa kế, nếu sinh ra đứa bé sống được.
- Về quốc tịch, Bộ luật dân sự Napoleon cũng có những thay đổi đáng lưu ý. Khi bộ luật mới ban hành, vấn đề quốc tịch chưa được đề cập đến trong bộ luật. Các vấn đề pháp lý liên quan đến quốc tịch được quy định trong một đạo luật nằm ngoài bộ luật, đó là Luật ngày 10/8/1927. Trên cơ sở luật này, năm 1945 Bộ luật quốc tịch đã được ban hành. Với Luật ngày 22/7/1993 các quy định về quốc tịch đã được đưa vào bộ luật dân sự (Thiên I bis bao gồm các Điều từ 17 đến 34). Việc đưa Luật quốc tịch vào bộ luật dân sự khẳng định quan điểm gắn kết các quyền dân sự với tư cách công dân và việc giải quyết các tranh chấp về quốc tịch trước Toà dân sự của Toà án tư pháp. Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự (xác lập theo Luật số 73-42 ngày 9/1/1973) chỉ có Toà dân sự có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện về quốc tịch Pháp hoặc quốc tịch nước ngoài của cá nhân. Các Toà hành chính hoặc các Toà tư pháp khác chỉ có thẩm quyền giải quyết các vấn đề quốc tịch khi đó là yêu cầu phụ, trừ trường hợp đó là Toà hình sự có bồi thẩm đoàn. Việc thực hiện thủ tục tuyên bố vào quốc tịch Pháp hoặc mất quốc tịch Pháp, việc cấp giấy chứng nhận quốc tịch Pháp thuộc thẩm quyền của Toà án. Theo quy định tại Điều 26-1 (xác lập theo Luật số 93-933 ngày 22/7/1993) mọi tuyên bố về quốc tịch phải được đăng ký tại toà sơ thẩm có thẩm quyền trong trường hợp thủ tục tuyên bố được thực hiện tại Pháp hoặc tại Bộ Tư pháp trong trường hợp thủ tục tuyên bố được tiến hành tại nước ngoài. Nếu không tiến hành đăng ký mọi tuyên bố về quốc tịch sẽ không có hiệu lực. Theo quy định tại Điều 31 BLDS (xác lập theo Pháp lệnh số 45-2441 ngày 19/10/1945) chỉ có lục sự trưởng tại Toà án sơ thẩm thẩm quyền hẹp (Tribunal d,Instance) là người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quốc tịch Pháp cho những người chứng minh có quốc tịch này”…
(Trích từ bài viết: Tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật qua Bộ luật Napoleon 1804 của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng.
Đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 111, tháng 12/2007).

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code