Wednesday, December 4, 2013

HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG

TS. PHAN CHÍ HIẾU – HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Chế định hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng khung pháp lý cho các giao lưu dân sự, kinh tế. So với Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, Dự thảo BLDS sửa đổi đã mang nhiều ý tưởng và nội dung mới. Tuy vậy, vẫn còn một số quy định về chế định hợp đồng chưa thực sự hợp lý, cần được trao đổi thêm .
Phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng
Xác định chính xác phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng không chỉ góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mà còn tạo tiền đề cho việc thiết kế cấu trúc và xây dựng các nội dung cụ thể của chế định này trong BLDS (sửa đổi). Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng trong thời gian qua nổi lên một số vấn đề.
Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng tản mát trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, từ những văn bản quy định chung về hợp đồng như BLDS, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) đến những văn bản quy định riêng về từng loại hợp đồng trong mỗi lĩnh vực cụ thể như Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng; dẫn đến có nhiều quy định về hợp đồng mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.
Thứ hai, các tiêu chí phân định hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự không rõ ràng, vì vậy, thường xuyên xuất hiện những quan hệ “giáp ranh” không biết thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật nào, BLDS hay PLHĐKT?
Thứ ba, cách thức áp dụng phối hợp các văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ hợp đồng cụ thể cũng không rõ ràng. Cho đến thời điểm hiện nay vẫn không rõ có thể áp dụng các quy định của BLDS để điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế được hay không; thứ tự ưu tiên áp dụng các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành so với các quy định trong BLDS, PLHĐKT n hư thế nào? Vì vậy, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng khá tuỳ tiện, thiếu thống nhất, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của những ngời có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Thực tế trên đặt ra nhu cầu phải thống nhất sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ hợp đồng. Muốn vậy, cần mở rộng phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng trong BLDS theo hướng: Mọi quan hệ hợp đồng, bất luận được ký kết giữa những ai, trong lĩnh vực gì, hướng tới mục đích nào đều chịu sự điều chỉnh chung của các quy định trong BLDS. Bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc chung về hợp đồng trong BLDS, nếu thấy cần thiết, Nhà nớc có thể ban hành các quy định riêng trong các đạo luật chuyên ngành để điều chỉnh hiệu quả hơn các quan hệ hợp đồng phát sinh trong từng lĩnh vực cụ thể như: sản xuất, mua bán, vận chuyển, bảo hiểm, tín dụng, xây dựng… Để đơn giản hoá việc áp dụng pháp luật trong thực tế, Dự thảo cần bổ sung điều khoản quy định về nguyên tắc áp dụng phối hợp BLDS với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan đến hợp đồng.
Ví dụ: “Điều…
1. Các quy định của Bộ luật này đợc áp dụng cho việc ký kết và thực hiện mọi loại hợp đồng mà không phân biệt lĩnh vực phát sinh quan hệ.
2. Trường hợp có sự khác nhau giữa quyđịnh của BLDS và luật chuyên ngành thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành.
3. Trường hợp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của BLDS”.
Dự thảo nên thay thế thuật ngữ hợp đồng dân sự đang sử dụng bằng thuật ngữ hợp
đồng. Đây không phải thuần tuý là vấn đề học thuật mà là tiền đề để mở rộng phạm vi điều chỉnh cho chế định hợp đồng trong BLDS. Việc Dự thảo tiếp tục sử dụng thuật ngữ hợp đồng dân sự, vô hình trung, sẽ tạo ra tư duy phân biệt các loại hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động.
Các quy định liên quan đến việc giao kết hợp đồng
Thứ nhất: Dự thảo cần bổ sung quy định để dễ dàng nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch (invitation to treat). Việc phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi khi bên đợc đề nghị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ dẫn tới hình thành quan hệ hợp đồng, còn khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao dịch chỉ dẫn tới việc hình thành đề nghị giao kết hợp đồng. Thực tế ký kết hợp đồng trong thời gian qua cho thấy, có nhiều trờng hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao dịch, ví dụ, các thông tin quảng cáo, tờ rơi, báo giá, thư mời thầu, trưng bày hàng hoá có niêm yết giá…
Thứ hai: Liên quan đến trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng đối với đề nghị giao kết hợp đồng, Khoản 3 Điều 372 Dự thảo quy định: “Trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị giao kết hợp đồng không được mời người thứ ba giao kết và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”. Tại sao pháp luật lại không cho phép người đề nghị giao kết hợp đồng mời người thứ ba giao kết hợp đồng với mình trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời nếu họ muốn thiết lập quan hệ với nhiều ngời và hoàn toàn có khả năng thực hiện tất cả các hợp đồng với những người được đề nghị giao kết hợp đồng? Do đó, cần quy định lại Khoản 3 Điều 372 Dự thảo nh sau: “Trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”.
Thứ ba: Bổ sung các điều luật quy định mang tính nguyên tắc về giao kết hợp đồng thông qua các thủ tục đặc biệt nh đấu thầu, đấu giá, mua bán tại các sàn giao dịch, mua bán những loại tài sản sẽ có trong tương lai, mua sắm của Chính phủ… Bổ sung những quy định riêng về giao kết và thực hiện hợp đồng với sự hỗ trợ của mạng Internet để đặt nền móng cho sự phát triển của thương mại điện tử. Đành rằng các vấn đề này phải đợc quy định trong từng văn bản pháp luật riêng, nhng BLDS (sửa đổi) cũng phải quy định những nguyên tắc chung về các hiện tợng nêu trên để đảm bảo tính thống nhất khi xây dựng các quy định riêng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.
Hình thức của hợp đồng
Điều 394 Dự thảo quy định: “Hợp đồng dân sự có thể đợc giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể hoặc thông điệp dữ liệu, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”. Như vậy, Điều 394 Dự thảo đã coi thông điệp dữ liệu là một hình thức của hợp đồng dân sự. Còn khoản 1 Điều 115 Dự thảo về hình thức của giao dịch dân sự lại quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Các giao dịch dân sự thông qua các hình thức điện báo, telex, fax, th điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là giao dịch bằng văn bản”.
Thực chất, Điều 394 Dự thảo là một bản sao không hoàn hảo của Điều 115 Dự thảo. Hợp đồng dân sự cũng là một dạng giao dịch dân sự, do đó quy định tại Điều 115 Dự thảo về hình thức giao dịch dân sự hoàn toàn có thể áp dụng cho hợp đồng dân sự. Bởi vậy, để tránh sự trùng lặp và mâu thuẫn giữa hai điều luật cùng quy định về một vấn đề thì Dự thảo cần loại bỏ Điều 394.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể xuất hiện những sự kiện dẫn đến việc một bên đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng. Về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, Điều 407 Dự thảo quy định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vihạm hợp đồng là điều kiện chấm dứt mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”. Theo điều luật này thì để bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợp đồng phải hội đủ hai điều kiện: (1) có sự vi phạm hợp đồng của bên kia và (2) hành vi vi phạm này đã đợc các bên tiên liệu và thoả thuận trớc với nhau trong hợp đồng hoặc đợc pháp luật quy định.
Trên thực tế khi ký hợp đồng, các bên không thể tiên liệu trước được tất cả các tình huống vi phạm hợp đồng dẫn tới quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bản thân BLDS hiện hành, Dự thảo BLDS (sửa đổi) và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác không quy định cụ thể về các hành vi vi phạm là căn cứ cho bên bị vi phạm thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bởi vậy, bên bị vi phạm rất khó thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, kể cả khi có sự vi phạm nghiêm trọng các cam kết trong hợp đồng.
Để bên bị vi phạm có thể chủ động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, Dự thảo nên quy định: Nếu có vi phạm nghiêm trọng (vi phạm cơ bản) của một bên thì bên kia được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và giải thích thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới quan niệm vi phạm cơ bản là những vi phạm dẫn đến mục đích mà các bên đặt ra khi ký hợp đồng là không đạt được. Từ phân tích trên, Điều 407 Dự thảo nên được quy định lại như sau: “Một bên có quyền đơn phơng chấm dứt thực hiện hợpđồng trong các trường hợp sau:
1. Khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng làm bên bị vi phạm không đạt được mục đích đề ra khi ký hợp đồng;
2. Các trường hợp khác theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại”.
Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự là thời hạn do pháp luật quy định để bên bị vi phạm hợp đồng thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng; nếu hết thời hạn này mà bên bị vi phạm không khởi kiện thì sẽ mất quyền khởi kiện. Điều 408 Dự thảo quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợpđồng dân sự là ba năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”.
Việc quy định trên dẫn tới sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Hiện nay, rất nhiều văn bản pháp luật đã có quy định về thời hiệu khởi kiện và mốc xác định ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng: Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp các bên bị xâm phạm; Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp; Luật Thơng mại quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày phát sinh quyền khiếu nại; Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định thời hiệu khởi kiện là ba năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
Để tránh sự phức tạp trong thực tiễn áp dụng, nên bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tại Điều 408 của Dự thảo. Nếu cần quy định về thời hiệu thì để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành, căn cứ vào tính chất của quan hệ hợp đồng trong từng lĩnh vực riêng mà quy định thời hiệu khởi kiện cho phù hợp.
Bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng
Để tạo cơ sở cho việc xây dựng các quy định về một số loại hợp đồng cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, Dự thảo cần quy định bổ sung một số loại hợp đồng thông dụng nh hợp đồng cung ứng điện năng, nớc, điện thoại, hợp đồng xây dựng… Tuy nhiên, để tạo tính thống nhất trong pháp luật về hợp đồng, cần tiến hành rà soát để hoàn thiện các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS. Các quy định liên quan đến hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành cần đợc hoàn thiện theo các hướng sau:
Thứ nhất, các quy định liên quan đến hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành
không nhắc lại một cách thuần tuý các quy định vốn đã rõ ràng trong BLDS.
Thứ hai, các văn bản pháp luật chuyên ngành chỉ quy định những gì mang tính đặc thù của các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể, hạn chế việc đa quá nhiều quy định riêng vào luật chuyên ngành.
Thứ ba, những quy định trong pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc chung của BLDS để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hợp đồng. Nói như vậy không có nghĩa là luật chuyên ngành không được quy định khác so với BLDS. Khi xây dựng các quy định về hợp đồng trong văn bản pháp luật chuyên ngành cần lưu ý tới những sự khác biệt cho phép và sự khác biệt không cho phép (mâu thuẫn).
Thứ tư, bản thân các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng cần quy định rõ nguyên tắc áp dụng phối hợp các quy định về hợp đồng trong BLDS và trong các văn bản pháp luật chuyên ngành để thống nhất trong nhận thức và thực tiễn vận dụng pháp luật.
Có như vậy thì các quy định của BLDS (khi được thông qua) mới thực sự trở thành “bà đỡ mát tay” cho các quan hệ hợp đồng ra đời, góp phần bảo đảm sự thông suốt của các quá trình giao lưu dân sự, kinh tế./.
**********************************
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2005

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN: LUẬT PHÁP KHÓ THỰC THI

Nguyễn Văn Mạnh – Hội viên CLB Pháp chế DN
BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ONLINE
===================
Để triển khai thi hành công tác bán đấu giá tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, ngày 18/1/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Bộ Tư pháp đã có Thông tư hướng dẫn số 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005, song thực tiễn việc tổ chức thi hành bán đấu giá tài sản còn những vướng mắc, bất cập.
Trước áp lực của hội nhập, hệ thống pháp luật của VN luôn được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn, tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế. Khi các bộ luật và luật chuyên ngành thay đổi, nảy sinh một bất cập là việc xây dựng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành không theo kịp tiến độ, làm cho hiệu lực thi hành của các văn bản luật và văn bản dưới luật không thống nhất, không tạo được cơ sở pháp lý cho việc vận dụng thực thi pháp luật, gây khó khăn ách tắc cho các DN và người dân.
Văn bản quy phạm chưa thống nhất
Sau khi Bộ Luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 1/7/1996, cho đến ngày 19/12/1996 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 86/CP hướng dẫn thi hành điều 454 về quy chế bán đấu giá tài sản. Sau đó gần 10 năm, ngày 18/1/2005 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 86-CP ngày 19/12/1996. Trong khi đó Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ Luật Dân sự mới vào ngày 14/6/2005 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006).



“Từ năm 2003 đến nay toàn thành phố Hà Nội đã tổ chức các phiên đấu giá quyền sử dụng đất với tổng số tiền theo kết quả đấu giá là 3.666 tỷ đồng nhưng cho đến nay mới chỉ thu được 2.355 tỷ đồng. Hiện còn 1.310 tỷ chưa thu được, năm 2004 nợ đọng 1.186 tỷ, năm 2005 là 177,067 tỷ. Quận Tây Hồ 8 tháng đầu năm 2006 diện tích đấu giá đạt 70%, tương đương 299 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ thu được 67 tỷ đồng”. (Đất để hoang, tiền nợ đọng – Báo Lao động ngày 10/8/2006).

Tại Điểm 4 Nghị quyết số 45/2005/QH11 về thi hành Bộ Luật Dân sự đã ghi rõ: “Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình có trách nhiệm: a) Tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ bỏ sửa đổi bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ Luật Dân sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ Luật Dân sự từ ngày 1/1/2006″. Đã gần một năm trôi qua biết bao sự kiện nảy sinh trong các quan hệ dân sự có liên quan đến bán đấu giá tài sản, song các cơ quan chức năng vẫn chưa soạn thảo được Nghị định về bán đấu giá tài sản phù hợp với Bộ Luật Dân sự mới. Một minh chứng cụ thể là những điều “chênh nhau” trong khoản 3 điều 455 thuộc Bộ Luật Dân sự cũ và khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới.
Tại khoản 3 điều 455 (luật cũ) đã hạn chế hành vi mua bán bất động sản qua bán đấu giá bằng việc quy định phải có chứng nhận của công chứng nhà nước và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tại khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới lại quy định: “Việc mua bán đấu giá bất động sản được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc được đăng ký nếu pháp luật có quy định”. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất động sản nào được bán đấu giá khi trao đổi mua bán giữa các chủ thể dân sự cũng phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy quy định như khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới là phù hợp với thực tiễn trong các quan hệ giao dịch dân sự về mua bán bất động sản. Đơn cử, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi bán đấu giá phải đăng ký, còn nhà ở thuộc sở hữu cá nhân, tư nhân thì khi mua bán thông qua đấu giá không phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần công chứng, chứng thực là hợp pháp. Vì vậy, nếu không có văn bản hướng dẫn vấn đề này trong luật dân sự sẽ tạo nên nhiều hệ luỵ không đáng có.
Và những vướng mắc từ thực tiễn
Trong những năm gần đây, thực tiễn công tác bán đấu giá quyền sử dụng đất vẫn không thu được kết quả như mong muốn. Nguyên nhân của hiện tượng nợ đọng tiền sử dụng đất trong bán đấu giá có nhiều, nhưng chủ yếu là do thị trường nhà đất rớt giá và trầm lắng khiến cho nhiều chủ đầu tư tuy trúng giá nhưng lại mất khả năng thanh toán. Thậm chí, có những chủ đầu tư không đủ khả năng tài chính cũng tham gia đấu giá. Công tác khảo sát, tìm hiểu khả năng tài chính của các đối tác của Hội đồng đấu giá còn nhiều hạn chế cũng dẫn đến tình trạng “bỏ của chạy lấy người” như báo chí đã nêu. Nhìn vào thực tế các phiên đấu giá cho thấy, có những DN bỏ giá quá cao so với thực lực của các Cty làm cho các chuyên gia, DN lớn trong ngành xây dựng đô thị cũng phải lắc đầu. Không những vậy, thực tế đang có tình trạng đua nhau nâng giá quyền sử dụng đất lên cao đến mức phi lí, ngoài khả năng tài chính để được trúng giá rồi mới tính chuyện hợp tác làm ăn. Đây là một thực tế tồn tại vướng mắc của luật pháp điều chỉnh về quan hệ bán đấu giá tài sản. Ngoài các văn bản luật, nghị định, thông tư hướng dẫn, các tỉnh thành phố còn có quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất. Phải chăng các văn bản này còn chưa sát với thực tiễn gây ra tình trạng lãng phí tiền của nhà nước?
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý về bán đấu giá tài sản cho phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành.
Nguyễn Văn Mạnh – Hội viên CLB Pháp chế DN

ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CÔNG CHỨNG

LÊ THỊ PHƯƠNG HOA
SỞ TƯ PHÁP TỈNH VĨNH PHÚC
——————————————-
Quan niệm về công chứng là yếu tố quyết định tới việc xác định mô hình tổ chức, hoạt động công chứng ở mỗi quốc gia. Đổi mới quan niệm về công chứng là tạo cơ sở để đổi mới mô hình tổ chức, hoạt động công chứng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng. Đây cũng là yêu cầu bức thiết ở Việt Nam hiện nay
Quan niệm về công chứng ở Việt Nam
Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng nhà nước ở Việt Nam – công chứng nhà nước được xác định  là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945), khái niệm công chứng nhà nước được đ a ra ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới nên văn bản này không thể tránh hết được các hạn chế, đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm tăng nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong vòng 10 năm (1991 – 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định số 5/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 5/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, công chứng nhà nước được xác định như sau: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ” (Điều 1).
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc y ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu” (Điều
1).
So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định này đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định số 45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy định “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ” ở cả hai nghị định này còn quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng.
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng. Theo Nghị định này, “công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” (khoản 1 Điều 2). Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã xác định khái niệm chứng thực “là việc y ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” (khoản 2 Điều 2).
Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay đổi tên gọi từ “Phòng công chứng nhà nước” ở các văn bản pháp lý trước đó thành “Phòng công chứng“. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt Nam.
Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP còn có một số điểm chưa phù hợp, đó là:
Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.
Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và Nghị định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận...”. Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là hoạt động của công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình. Quy định như trên đã làm “mờ” đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng.
Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở nước ta từ năm 1987 đến nay cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ “Công chứng nhà nước” hay “Công chứng” thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không thay đổi, đó là: công chứng là hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện. Với quan niệm này, công chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước. Cụ thể, phòng công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhà nước bảo đảm toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng. Đây là mô hình công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ) và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí trái ng ợc nhau) về công chứng, đó là: công chứng là một cơ quan hành chính (cũng có ý kiến cho là cơ quan hành chính tư pháp), hoạt động công chứng là hoạt động quản lý nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng là hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nước và hỗ trợ tư pháp, do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật sư …
Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả và vai trò công chứng trong đời sống xã hội. Nguyên nhân chính ở đây là do chúng ta chưa có được nhận thức đúng về bản chất công chứng. Như vậy, để có được nhận thức thống nhất, chuẩn xác về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng, phát huy vai trò công chứng trong đời sống xã hội, về mặt lý luận, trước hết cần nghiên cứu làm rõ bản chất công chứng.
Quan niệm về công chứng trên thế giới
Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động của công chứng viên… Công chứng viên, theo tiếng Latinh là “Notarius“. “Notarius” trong luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong luật La Mã, công chứng viên là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Theo cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng. Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự Civil Law); hệ thống công chứng Ănglo Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Ănglo Saxon (Common Law) và hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).
So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon có sự khác biệt nhau về cách thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công chứng ở hai hệ thống này về cơ bản tương đồng. Cả hai hệ thống này đều coi công chứng là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác
thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa dạng, công chứng viên do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề. Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số nước.
ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng La tinh), Điều 1 Pháp lệnh số 452500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa Pháp quy định: “Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng” .
ở  Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng Anglo Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định: “Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự cố xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển“.
Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác với hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon. hệ thống công chứng Collectiviste, công chứng chưa ở được coi là một nghề (công chứng viên là công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính); việc công chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm trong hoạt động
của mình).
Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đều có sự đổi mới trong quan niệm về công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng La tinh và hệ thống Anglo Saxon, đó là xác định công chứng là một nghề tự do đặt d ới sự quản lý của nhà nước và đang từng bước tiến hành cải cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do. Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày 14/02/1991 về công chứng quy định: “Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những văn bản mà trong đó, các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực“.
Đổi mới quan niệm về công chứng ở Việt Nam
Điều 1 Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của Cộng hòa Bênanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên. Qua những nội dung đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: mặc dù nội dung chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng ở các nước này đều có những điểm chung cơ bản sau:
Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các hợp đồng giao dịch. nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao ý dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư ). Qua các phân tích trên cho thấy, khởi nguồn, hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. như vậy, công chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc. Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, th ơng mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, th ơng mại phát triển và hỗ trợ t pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung
của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công).
Như vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công (service public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc t vấn, soạn thảo, chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Khẳng định bản chất công chứng như trên, cho phép chúng ta thấy rõ:
a) Công chứng là một hoạt động xã hội nghề nghiệp, không mang đặc tr ng quyền lực nhà nước; b) Về mặt tổ chức, công chứng cần được xác định là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính tư pháp.
Như vậy, để bảo đảm sự phù hợp, hài hòa, tương thích với quan niệm của thế giới về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng cao hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng trong nền kinh tế thị trường định h ớng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, công chứng nên được hiểu như sau:
Công chứng là hành vi của công chứng viên lập, chứng nhận tính xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.
***************************
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2005

GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ


Sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của công nghệ thông tin để làm biến đổi sâu sắc nhiều hoạt động của thế giới. Những thay đổi diễn ra trong các giao dịch là dễ thấy nhất vì nó động chạm đến từng cá nhân. Giao dịch điện tử, giao dịch trên mạng để và đang mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên, do tốc độ phát triển “tên lửa” của công nghệ thông tin và tính kỹ thuật cao của nó nên các rủi ro cho đối tượng tham gia giao dịch là một khả năng thường trực.

 Trong giao dịch truyền thống, hình thức văn bản được ghi (viết) trên giấy là hình thức chủ yếu và được sử dụng rộng rãi từ lâu, trở thành phổ biến đến mức đương nhiên. Các văn bản này, ngoài nội dung còn có chữ ký xác nhận (hoặc điểm chỉ) của người cam kết chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản. Ngoài ra, các công đoạn tiếp sau: bao gói, chuyển phát, đối chiếu khi cần thiết đều dễ hiểu, dễ kiểm soát đối với người lập văn bản. Về mặt quản lý, kỹ thuật xác định chữ ký của người lập văn bản cũng để phát triển đến mức không khó khăn khi xác nhận chữ ký thật so với chữ ký giả mạo. Để giao dịch điện tử được chấp nhận rộng rãi và phát triển sâu rộng, cần có hình thức đáp ứng các đặc trưng của chữ ký tay và bảo toàn được thông tin khi truyền đi trên các phương tiện điện tử. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có kỹ thuật, công nghệ đảm bảo không chỉ xác nhận tác giả mà còn phải xác minh được tính toàn vẹn của thông tin chứa trong văn bản giao dịch được truyền đi bởi các phương tiện điện tử.

Trên thế giới để có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi nhằm nhận dạng và chứng thực cá nhân trong giao dịch điện tử. Giải pháp phổ biến, được công nhận và áp dụng rộng rãi là chữ ký kỹ thuật số (Digital Signatures) hay còn gọi là chữ ký điện tử.

Chữ ký điện tử là gì?Thông thường, để chuyển thông điệp từ người gửi đến người nhận được bí mật, không bị sửa chữa trên đường đến tay người nhận, phải mã hoá chúng theo một nguyên tắc nào đó trước khi gửi đi, nguyên tắc này gọi là khoá mã (tiếng Anh là Key). Người nhận muốn hiểu được thông điệp phải sử dụng khoá mã đó để giải mã. Việc mã hoá và giải mã thông điệp dùng một chìa khoá rất dễ dẫn đến tình trạng chìa khoá đó bị người thứ ba chiếm đoạt. Người có chìa khoá mã có thể xem và sửa đổi nội dung thông điệp, như vậy sẽ làm mất tính nguyên trạng và bảo mật của thông tin. Vấn đề đặt ra là làm sao đảm bảo thông điệp truyền đi bằng các phương tiện điện tử giữ được bí mật, nội dung không bị thay đổi trên đường truyền, người nhận thông điệp nhận đúng được người gửi và người gửi không chối bỏ được trách nhiệm để “ký” và gửi thông điệp của mình. Giải quyết vấn đề nêu trên, trong truyền nhận các thông điệp điện tử, người ta sử dụng một chương trình phần mềm mã hoá các thông điệp có 2 khoá mã: Khoá mã công cộng (Public Key) và mã khoá riêng của người gửi thông điệp (Private Key hay còn gọi là Secret Key). Trong đó, mã khoá công cộng có thể được công khai cho những ai cần chia sẻ thông tin. Còn mã khoá riêng là bí mật của người “ký” gửi thông điệp đi. Hai khóa mã này có liên quan mật thiết đến nhau: Khi người gửi thông điệp dùng mã khoá riêng để mã hoá thông điệp thì trong thông điệp sẽ có một “chữ ký”. Người nhận dùng mã khoá công cộng cùng cặp để nhận dạng “chữ ký”, qua đó xác minh: người gửi thông điệp là ai; nội dung thông điệp có được bảo toàn nguyên trạng trong quá trình truyền trên mạng hay không. Về nguyên tắc, không thể dùng mã khoá công cộng để tìm ra mã khoá riêng. Có thể hiểu “chữ ký điện tử” là sự kết hợp giữa khoá mã riêng và dữ liệu cần mã hoá bằng công nghệ số. Ở đây, cũng cần lưu ý bạn đọc là độ dài (đo bằng đơn vị thông tin) của khoá mã càng lớn thì khả năng bảo mật của thông tin để được mã hoá càng cao nhưng cũng vì thế mà nó cũng tỷ lệ thuận với thời gian cần phải bỏ ra để mã hoá và giải mã. Hiện nay, độ dài của mã khoá điện tử thường được thiết kế có độ dài từ 95 – 265 byte. Như trên để trình bày, mỗi người tham gia giao dịch điện tử cần phải có đồng thời một cặp khoá mã (Public Key và Secret Key). Một câu hỏi được đặt ra: Ai là người cung cấp cặp khoá mã ấy? Và dịch vụ chứng thực điện tử để xuất hiện. Chứng thực điện tử là gì?“Chứng thực điện tử” hay “chứng thực số” (Digital Certificate) là dịch vụ do những nhà cung cấp chứng chỉ số (Certification Authorities – CA) thực hiện, cung cấp cho khách hàng công cụ và kiến thức cần thiết (tên truy cập, mật khẩu, địa chỉ kết nối, khoá mã…) nhằm bảo mật thông tin, chứng thực nguồn gốc và nội dung thông tin trong giao dịch qua mạng. Chứng thực điện tử dựa trên cơ sở hạ tầng khoá công khai (Public Key Infrastructure) với nền tảng là mật mã khoá công khai và chữ ký số. Nhà cung cấp dịch vụ chứng thực đảm bảo:- Chứng thực danh tính của những người tham gia giao dịch: Chỉ có chủ sở hữu của chứng chỉ số mới có thể ký chữ ký điện tử và gửi thông điệp đi. Và người nhận thông điệp tin tưởng thông điệp đúng là của người chủ hợp pháp gửi đến.- Bảo mật được thông tin: Thông điệp được mã hoá trước khi chuyển đi.- Đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khi đến người nhận: Thông tin để được mã hoá sẽ không bị sửa đổi trên đường truyền.Dịch vụ chứng thực điện tử để và đang phát triển thành dịch vụ toàn cầu. Một số nhà cung cấp nổi tiếng trên thế giới như Verysign, WSIeKey, eTrust… Để có một số Công ty và tổ chức của Việt Nam thử nghiệm và cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử như Công ty phần mềm và truyền thông (VASC), Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC), Trung tâm tin học – Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Cơ yếu Chính phủ. Giao dịch điện tử có an toàn không?Tuy rằng trên ý thuyết, việc tấn công vào hệ thống truyền nhận tin để được mã hoá trên mạng là không thể, nhưng thực ra mọi hệ thống điện tử chỉ có độ an toàn tương đối. Thiệt hại do các vụ tấn công gây ra là không đáng kể so với lợi ích do giao dịch điện tử mang lại. Hơn nữa, phần lớn các cuộc tấn công đều do sự mất cảnh giác, không cẩn thận của người sử dụng hệ thống. Ví dụ như việc để lộ Password hoặc đặt Password không đủ khó khiến cho khoá mã bí mật bị phá; hoặc để máy tính cá nhân bị dính virus, Trojan (thuật ngữ chỉ Chương trình máy tính xuất hiện để thực hiện một chức năng có ích, nhưng đồng thời có chứa các mã hoặc các lệnh ẩn, gây hỏng đối với hệ máy đang chạy nó. Thuật ngữ này được đặt theo điển tích Hy lạp về Con ngựa thành Troa (Trojan Horse): Theo thần thoại Hy Lạp, quân Hy Lạp muốn chiếm thành Troa để dùng mưu chứa quân vào bụng một con ngựa gỗ để đưa vào thành. Đêm đến quân trong bụng ngựa chui ra mở cửa thành, đốt lửa làm ám hiệu cho đại quân tấn công hạ được thành. Trojan máy tính đầu tiên xuất hiện năm 1989, ngụy trang dưới những thông tin về bệnh AIDS), Keylogger (chương trình lấy cắp khoá mã, mật khẩu…). Vì vậy, để có an toàn tuyệt đối về mặt kỹ thuật trong giao dịch điện tử, ngoài trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ chứng thực, người tham gia giao dịch phải luôn luôn có ý thức thực hiện nghiêm túc các chính sách, nội quy về bảo mật, về an toàn cho hệ thống. Khía cạnh pháp lý của giao dịch điện tửVấn đề an toàn cho giao dịch thông qua mạng được khẳng định về mặt kỹ thuật nếu được tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy định về bảo mật. Tuy nhiên, trong giao dịch luôn luôn phát sinh các tranh chấp, để giải quyết các tranh chấp đó cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh. Chỉ khi có khung pháp lý chặt chẽ, đảm bảo phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan thì giao dịch điện tử mới có thể phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Trước hết, phải xác định giá trị pháp lý của văn bản điện tử. Một văn bản điện tử đảm bảo các thành tố: khẳng định người ký, đảm bảo toàn vẹn của nội dung thông tin phải được coi như có giá trị như văn bản trên giấy truyền thống. Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng tham gia giao dịch điện tử (kể cả nhà cung cấp chứng thực số) trong việc cung cấp, nhận, xử lý thông tin, bảo đảm an toàn hệ thống… Thứ ba, phải thay đổi quy trình của từng giao dịch cụ thể theo mức độ phổ biến, và hành lang pháp lý của giao dịch điện tử trong xã hội. Ví dụ: Trong một số giao dịch, theo cách truyền thống, ngoài khai báo, bên có yêu cầu phải nộp bản photocopy và xuất trình văn bản gốc cho người xử lý. Khi giao dịch điện tử chưa phát triển như ở nước ta hiện nay thì việc khai thác các cơ sở dữ liệu điện tử có liên quan để đối chiếu, xác minh ngay là chưa thực hiện được vì chưa có hoặc không được phổ biến trên mạng (ví dụ như giấy phép xuất nhập khẩu, vận đơn…). Do đó, phải có quy định về giới hạn giao dịch và trách nhiệm lưu giữ bản gốc. Thứ tư, phải có chế tài xử lý nghiêm khắc các vi phạm. Giao dịch điện tử trên thế giới và ở Việt NamTrên thế giới, nhiều nước để ban hành các đạo luật công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, tạo hành lang pháp lý cho giao dịch điện tử phát triển. Điểm qua một số nước trong khu vực và trên thế giới:- Năm 1997 Malaysia ban hành Luật Chữ ký số;- Năm 1998 Singapore ban hành Luật Giao dịch điện tử;- Năm 1999 Hàn Quốc ban hành Luật Chữ ký điện tử, Luật này được sửa đổi năm 2001;- Năm 2000 hàng loạt các nước và vùng lãnh thổ ban hành Luật về giao dịch điện tử như: Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Brunei, Ấn Độ, Hồng Kông;- Năm 2001 Liên minh Châu Âu chính thức chấp nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử;- Năm 2004 Trung Quốc thông qua Luật Chữ ký điện tử. Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tích cực soạn thảo các văn bản pháp quy điều chỉnh các mối quan hệ trong giao dịch điện tử như: Luật Giao dịch điện tử, Pháp lệnh Thương mại điện tử, Nghị định về chữ ký số và chứng thực điện tử. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm nên các dự án Luật nêu trên cần nhiều thời gian nghiên cứu. Để sớm sử dụng những tiện ích mà giao dịch điện tử mang lại, không chờ đến khi xây dựng được hệ thống pháp luật về giao dịch điện tử, ngày 21/3/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều 2 của Quyết định này quy định: “Chứng từ điện tử là chứng từ kế toán mà các yếu tố của nó được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử để được mã hoá mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang thông tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. Chứng từ điện tử phải có đủ các yếu tố quy định cho chứng từ kế toán, đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán và phải được mã hoá bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý truyền tin và lưu trữ; riêng yếu tố chữ ký phải được mã hoá bằng khoá mật mã – được gọi là chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử được xác lập riêng cho từng cá nhân để xác định quyền hạn và trách nhiệm của người lập và những người liên quan chịu trách nhiệm về tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử. Chữ ký trên chứng từ điện tử có giá trị như chữ ký tay trên chứng từ giấy”. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý cao nhất quy định về chữ ký điện tử đang được áp dụng tại Việt Nam. Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để ban hành quy định về xây dựng, cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký điện tử trong hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.

Nhiều ngành khác của nước ta đang nỗ lực nghiên cứu, làm thí điểm, từng bước thay các giao dịch truyền thống bằng giao dịch điện tử trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình trước khi có một bộ luật bao quát cho mọi đối tượng tham gia giao dịch điện tử. Ngành Hải quan cũng đang cố gắng để có thể thực hiện thông quan điện tử cho hàng hoá xuất nhập khẩu của một số doanh nghiệp được chọn lọc làm thủ tục tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.



Y Vân_Viện NCHQ

http://www.customs.gov.vn

PHÂN TÍCH MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT NHÀ Ở VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở

HỒ QUANG HUY
1. Về điều kiện để nhà ở được dùng làm tài sản thế chấp
Theo quy định tại Điều 91 của Luật Nhà ở thì điều kiện để nhà ở tham gia giao dịch (trong đó bao gồm cả thế chấp nhà ở) là:
a) Có Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật;
b) Không có tranh chấp về quyền sở hữu;
c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Với quy định tại Điều 91 Luật Nhà ở thì trong trường hợp thiếu một trong các điều kiện trên thì chủ sở hữu nhà ở không được dùng nhà ở để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ quan nào có thẩm quyền xác định nhà ở “không có tranh chấp về quyền sở hữu” và “không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” và cách thức xác định những nội dung đó được thực hiện như thế nào? Theo chúng tôi, nếu không có hướng dẫn phù hợp thì việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà ở sẽ gặp nhiều khó khăn vì trên thực tế để đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 91 của Luật Nhà là không đơn giản, nhất là trong bối cảnh “lý lịch pháp lý của nhà đất” ở nước ta tương đối phức tạp.
2. Về điều kiện thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
Theo quy định của Điều 114 Luật Nhà ở thì “chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ nhưng chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”.
Như vậy, trong trường hợp thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, chủ sở hữu nhà ở phải đáp ứng 2 điều kiện: (i) giá trị của nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm và (ii) chỉ thế chấp nhà ở cho một tổ chức tín dụng.
Với quy định trên, nhà làm luật hi vọng sẽ hạn chế được những rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, từ giác độ kinh tế thì quy định đó đã cản trở khả năng huy động vốn trong xã hội phục vụ sản xuất, kinh doanh (trái với mục đích thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản và thị trường vốn) và đã “vô hiệu hoá” hệ thống, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm nhà ở. Phần lớn các chuyên gia trong và ngoài nước đều đánh giá quy định tại điều 114 là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và không khuyến khích sự phát triển của nền kinh tế. Theo chúng tôi, để hạn chế rủi ro cho hệ thống các tổ chức tín dụng, Nhà nước cần sử dụng các giải pháp có tính hiệu quả, khoa học và tích cực hơn, ví dụ như: xác định rõ trách nhiệm của từng khâu trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn; tăng cường vai trò, hiệu quả của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trong việc công khai hoá thông tin; hoàn thiện hệ thống pháp luật tín dụng, ngân hàng để loại bỏ những “lỗ hổng” dẫn đến khả năng lừa đảo như hiện nay…). Ngoài ra, nếu theo quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở, trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở thế chấp nhà ở cho tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng để vay vốn thì rất có thể hợp đồng thế chấp đó sẽ bị tuyên vô hiệu do vì phạm về điều kiện chủ thể (vì chủ sở hữu nhà ở “chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”).
Do vậy, những bất cập trong quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn cho việc khai thông thị trường vốn và thị trường bất động sản ở nước ta trong thời gian tới.
3. Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng thế chấp nhà ở
Theo quy định tại các điều 93, 117 và 118 của Luật Nhà ở thì hợp đồng thế chấp nhà ở phải đáp ứng các quy định sau đây:
3.1. Về hình thức của hợp đồng
Hợp đồng thế chấp nhà ở được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, cụ thể là hợp đồng thế chấp nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn.
Như vậy, trong trường hợp không thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp về nhà ở thì nguy cơ rủi ro cho các bên là rất lớn (có thể hợp đồng bị tuyên vô hiệu do vi phạm về hình thức). Đây là một trong những vấn đề cần lưu ý khi ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, nếu theo quy định của pháp luật công chứng, chứng thực hiện hành thì Uỷ ban nhân dân xã không có thẩm quyền chứng thực các giao dịch về bất động sản. Do vậy, trong thời gian tới cần có các quy định nhằm thống nhất vấn đề này.
3.2. Về nội dung của hợp đồng
Hợp đồng thê chấp nhà ở phải thể hiện các nội dung sau đây:
a) Tên và địa chỉ của các bên;
b) mô tả đặc điểm của nhà ở;
c) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
d) Cam kết của các bên;
đ) Các thoả thuận khác;
e) Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản;
g) Chữ ký của các bên.
Như vậy, hợp đồng thế chấp nhà ở phải có đầy đủ các nội dung trên.Về vấn đề này, Luật Nhà ở đã quy định “không mềm dẻo” như Bộ luật dân sự năm 2005. Sự thiếu thống nhất đó đã vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, tự thoả thuận của pháp luật hợp đồng. Do vậy, nên chăng chúng ta quy định nội dung của hợp đồng thế chấp nhà ở dưới dạng “khuyến nghị” (xem Điều 402 Bộ luật dân sự) và tôn trọng quyền tự do ý chí hợp pháp của các bên ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở.
3.3. Về các trường hợp chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở
a) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp đã được thực hiện;
b) Việc thế chấp nhà ở được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;
c) Nhà ở thế chấp được xử lý;
d) Theo thoả thuận của các bên.
Quy định về chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở của Luật Nhà ở hoàn toàn giống với quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự, nghĩa là hợp đồng thế chấp nhà ở không có bất kỳ điểm nào khác biệt với các hợp đồng thế chấp tài sản. Do vậy, theo chúng tôi quy định này trong Luật Nhà ở là không cần thiết vì Bộ luật dân sự đã có quy phạm điều chỉnh.
3.4. Về xử lý nhà ở thế chấp
a) Việc xử lý nhà ở thế chấp để thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản, chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá nhà ở.
b) Bên mua nhà ở thế chấp được công nhận là chủ sở hữu nhà ở từ thời điểm ký kết hợp đồng.
Như vậy, với quy định trên, khi xử lý tài sản thế chấp là nhà ở, các bên hoàn toàn có quyền thoả thuận về lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm và áp dụng các quy định về xử lý tài sản bảo đảm của pháp luật hiện hành để điều chỉnh.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 93 của Luật Nhà ở thì “trình tự thế chấp nhà ở thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự”. Do vậy, trong trường hợp nhận thế chấp nhà ở, các bên cần tìm hiểu những quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự.
4. Về thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý của nhà ở
Nghiên cứu Luật Nhà ở, chúng tôi nhận thấy một trong những hạn chế lớn nhất của Luật Nhà ở là chưa có quy định trực tiếp về công khai hoá thông tin về tình trạng pháp lý của nhà ở. Điều này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi quyết định có nhận thế chấp nhà ở hay không do thiếu thông tin cần thiết về nhà ở là tài sản thế chấp. Tuy nhiên, nếu theo quy định tại các điều 12, 14, 15, 16, 19 và 20 của Luật Nhà ở, trong trường hợp có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nhà ở thì tổ chức tín dụng căn cứ vào chủ sở hữu nhà ở là tổ chức hay cá nhân để xác định cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin, cụ thể là: trong trường hợp chủ sở hữu là cá nhân thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện; còn trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là tổ chức thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về trình tự, thủ tục tìm hiểu thông tin về chủ sở hữu nhà ở.
Ngoài ra, để tìm hiểu về việc nhà ở đó đang được dùng làm tài sản thế chấp hay không thì tổ chức tín dụng phải tìm hiểu thông tin ở Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường vì theo quy định hiện hành cơ quan có thẩm quyền đăng ký thế chấp nhà ở là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh và huyện.
Để hướng dẫn Luật Nhà ở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Tuy nhiên, bước đầu tiếp cận Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, chúng tôi nhận thấy, Nghị định này chưa khắc phục được những hạn chế chủ yếu của Luật Nhà ở. Do vậy, theo chúng tôi, trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bất động sản dựa trên nguyên tắc pháp lý "bất động sản là một khối thống nhất, trong đó quyền sử dụng đất là trung tâm", tôn trọng quyền tự do, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch, đảm bảo tính công khai, minh bạch, thuận lợi cho các giao dịch trên thị trường bất động sản.
SOURCE: CHƯA CẬP NHẬT ĐƯỢC THÔNG TIN

Quốc hội yêu cầu không được bức cung, nhục hình

(NLĐO)- Nghị quyết được QH thông qua chiều 27-11 yêu cầu Chính phủ chỉ đạo các cơ quan điều tra, Điều tra viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra, trọng chứng hơn trọng cung; không được bức cung, dùng nhục hình, không làm oan người vô tội…




Các đại biểu Quốc hội nhấn nút biểu quyết thông qua Nghị quyết

Với gần 90% đại biểu tán thành, chiều nay 27-11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tăng cường các biện pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm, trong đó tập trung chống tội phạm tham nhũng.

Theo Nghị quyết, năm 2013, dù đã có nhiều nỗ lực song hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm của Chính phủ, VKSND và TAND còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; tình hình tội phạm, tham nhũng còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp; một số tội phạm có chiều hướng gia tăng gây bức xúc trong dư luận.

Quốc hội yêu cầu Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước phải tập trung thanh tra, kiểm toán các “địa chỉ” dễ phát sinh tham nhũng như các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các ngành, lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn. Các cơ quan này phải chủ động chuyển giao vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cung cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét khởi tố hình sự và phải chịu trách nhiệm nếu không phát hiện hoặc có dấu hiệu nhưng chỉ xử lý hành chính.

Đáng chú ý, Nghị quyết của Quốc hội nêu rõ Chính phủ chỉ đạo các cơ quan điều tra, Điều tra viên tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra, nâng cao chất lượng điều tra, tạo điều kiện cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu; trọng chứng hơn trọng cung; không được bức cung, dùng nhục hình; tăng cường các biện pháp chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; đẩy nhanh tiến độ điều tra các loại án; bảo đảm việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải khách quan, toàn diện theo đúng quy định pháp luật; hằng năm, tăng tỷ lệ phát hiện, khám phá các loại tội phạm.

Thời gian vừa qua, dư luận chấn động vì vụ án oan kéo dài suốt 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn (ngụ làng Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Sau khi được tạm đình chỉ thi hành án vào ngày 4-11, được Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao huỷ 2 bản án kết tội Giết người, ông Nguyễn Thanh Chấn cho biết đã bị các điều tra viên Công an Bắc Giang ép cung và dùng nhục hình.


Ông Nguyễn Thanh Chấn (phải) cho biết đã bị các điều tra viên Công an Bắc Giang ép cung và dùng nhục hình. Ảnh: Ông Chấn ngày được tạm đình chỉ thi hành án (ngày 4-11)

Tiếp sau vụ ông Chấn, một loạt vụ án oan và nghi oan tiếp tục được “xới” lên như vụ “trộm cắp cổ vật” 8 công dân bị cơ quan tố tụng tỉnh Bắc Giang truy tố oan và phải ngồi tù gần 1.000 ngày; vụ xử bà Đỗ Thị Hằng (ở Bắc Giang) tội buôn bán phụ nữ, vụ Huỳnh Văn Nén…

Trong phiên chất vấn tại Quốc hội ngày 21-11, hàng loạt câu hỏi về án oan, bức cung, nhục hình… của các đại biểu Quốc hội dành cho Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình đã làm nóng nghị trường, khiến không chỉ chánh án mà Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình phải cùng “chia lửa”.

Nguyễn Quyết

MỘT VỤ KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

Thấy gì qua vụ việc tàu Cần giờ kiện Bảo việt
Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Sài Gòn, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt Việt Nam theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20.02.2004 tới 20.02.2005 theo Quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu Miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 01.01.2004 tới 31.12.2004 theo Quy tắc ITC 1995.
Ngày 28/7/2004, Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn của chủ tàu, thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 27/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises của Tanzania với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua gạo xảy ra từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang. Như vậy việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh và Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Sài Gòn, không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.
Vào cuối năm 2004, tàu Cần Giờ cùng toàn bộ thủy thủ đoàn bị bắt giữ tại Tanzania, không được thả về trước Tết Nguyên Đán 2005 đã trở thành một sự kiện tâm điểm được báo giới liên tục cập nhật thông tin, đăng tải.
Kể từ ngày tàu Cần Giờ bị bắt, Sea Sài Gòn đã áp dụng tất cả các biện pháp theo con đường ngoại giao, bằng quan hệ hữu nghị và đồng nghiệp, bằng biện pháp kinh tế và tới cơ quan cao nhất của nước ta – Chính phủ, để can thiệp giải phóng tàu, nhưng không có hiệu quả. Đến tháng 8/2005, tàu Cần Giờ mới được giải phóng và theo chủ tàu, vụ việc này đã làm Sea Sài Gòn thiệt hại trên 1 triệu Đô la Mỹ.
Ngày 21.11.2005, Bảo Việt Việt Nam nhận được Giấy triệu tập của Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29.11.2005 để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Sài Gòn đối với Bảo Việt Việt Nam về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania. Đồng thời trên một số báo như báo Pháp Luật, báo Tiền Phong… cũng đăng tin về vụ Sea Sài Gòn khởi kiện đòi Bảo Việt bồi thường cho những thiệt hại xảy ra đối tàu tàu Cần Giờ và thủy thủ đoàn.
Căn cứ vào Quy tắc của WOE, Quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ. Bản thân Sea Sài Gòn, trong một lần phỏng vấn báo chí cũng thể hiện nhận thức được rằng thiệt hại xảy ra đối với tàu Cần Giờ không thuộc trách nhiệm bảo hiểm (Bài “Bằng mọi cách đưa tàu Cần Giờ về nước trước Tết” của phóng viên Cẩm Tú đăng trên Vietnamnet ra ngày 18/1/2005).
Liên quan đến sự trở về của con tàu cũng như thủy thủ đoàn của tàu Cần Giờ đó là ngay từ đầu khi nhận được đề nghị của Sea Sài Gòn, Bảo Việt Việt Nam đã tích cực phối hợp với Hội WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi của chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính để giúp chủ tàu.
Tính đến tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt Việt Nam phải thanh toán là 12.011 Đôla Mỹ. Kết quả tàu Cần Giờ được rời cảng Tanzania vào ngày 20/8/2005, đã có phần giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành và sự hỗ trợ pháp lý tích cực của luật sư do Hội WOE và Bảo Việt Việt Nam chỉ định.
Trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 27/7/2004 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt Việt Nam vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu, tạo sự tin tưởng tuyệt đối cho Sea Sài Gòn trong thời điểm khó khăn.
Sau khi tàu Cần Giờ được giải phóng, Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn số 106-05/CV-BGĐ của Sea Sài Gòn, thông báo tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà Sea Sài Gòn phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52 Đô la Mỹ và đề nghị Bảo Việt Việt Nam xem xét hỗ trợ.
Do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu cũng như trách nhiệm dân sự chủ tàu (P & I) nên Bảo Việt Việt Nam và WOE không có cơ sở để giải quyết bồi thường cho chủ tàu. WOE đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Sài Gòn do các phi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm. Tuy nhiên, xét tình hình Sea Sài Gòn là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt sai, Bảo Việt Việt Nam đã đồng ý hỗ trợ 20.000 Đô la Mỹ theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Sài Gòn, đồng thời yêu cầu Sea Sài Gòn chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise.
Như vậy có thể nói trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được rời cảng Tanzania, Bảo Việt Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Sài Gòn và dành sự giúp đỡ hỗ trợ tốt nhất có thể trong khả năng của một doanh nghiệp bảo hiểm. Điều đó phần nào giúp Sea Sài Gòn thành công trong vụ kiện đòi giải phóng tàu Cần Giờ và khắc phục một phần khó khăn về tài chính khi không may gặp rủi ro.
Trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ, Bảo Việt Việt Nam đã thường xuyên báo cáo Bộ Tài chính và thực hiện sự chỉ đạo sát sao của Bộ để xử lý vụ việc.
Được biết ngay sau khi nhận được phản ứng của Bảo Việt Việt Nam về việc Sea Sài Gòn tuyên bố khởi kiện Bảo Việt, phía Sea Sài Gòn đã chuyển lời xin lỗi và thông báo sẽ rút đơn kiện. Tuy nhiên, chỉ gần một ngày sau, Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh vẫn mời hai bên có mặt tại Tòa thông báo về vụ kiện nói trên.
Tại Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh vào ngày 29/11/2005, đại diện Bảo Việt và Tòa án đã chờ một tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy đại diện Sea Sài Gòn có mặt. Thư ký Tòa đã phải điện thoại cho Sea Sài Gòn và được đại diện của Sea Sài Gòn cho biết theo nghị quyết Hội đồng Quản trị, Sea Sài Gòn rút đơn kiện. Tòa đã đề nghị Sea Sài Gòn phải có mặt để Tòa hướng dẫn thủ tục rút đơn kiện. Nhưng lại một tiếng nữa trôi qua, phía Tòa lại nhận được điện thoại của Luật sư – đại diện bảo vệ quyền lợi do Sea Sài Gòn chỉ định – báo xin hoãn một tháng cho các bên có thời gian thương lượng…Tòa án cho phép Bảo Việt ra về và cũng chưa thông báo nội dung đơn kiện…
Như vậy việc Sea Sài Gòn có tiếp tục kiện hay rút đơn kiện Bảo Việt liên quan đến thiệt hại của tàu Cần Giờ vẫn còn phải tiếp tục chờ đợi gần một tháng nữa khi mà về mặt pháp lý, thiệt hại xảy ra đối với tàu Cần Giờ không thuộc phạm vi bảo hiểm theo Điều khoản bảo hiểm quốc tế và đơn bảo hiểm đã cấp; Về phía mình, Bảo Việt đã nỗ lực hết mình và đã mang lại kết quả là tàu Cần Giờ được giải phóng trở về cảng Sài Gòn Việt Nam và Sea Sài Gòn lại có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình đối với con tàu này.
Vụ việc trên cũng là một kinh nghiệm quý để Bảo Việt Việt Nam có những ứng xử thích hợp để bảo vệ uy tín của mình trên thị trường bảo hiểm đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt này.
Minh Phương
(Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam)
==============================================================
Bảo Việt không đồng ý đền bù cho tàu Cần Giờ
(VietNamNet) – Trước sự việc bị Công ty vận tải biển Sài Gòn (Sea Saigon) khởi kiện và đòi bồi thường thiệt hại cho tàu Cần Giờ trong cả quá trình tàu này bị giam giữ tại Tanzania, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã thể hiện thái độ bất bình.
Hôm 21/11/2005, Bảo Việt nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29/11 để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Saigon đối với Bảo Việt về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania.
Trong công văn số 106-05/CV-BGĐ được gửi đến Bảo Việt trước đó, Sea Saigon thông báo với Bảo Việt rằng tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà họ phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52USD và đề nghị Bảo Việt xem xét hỗ trợ. Tuy nhiên, Bảo Việt cho rằng “do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm 2 bên đã ký kết nên Bảo Việt không có cơ sở để giải quyết cho chủ tàu”.
Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20/2/2004 tới 20/2/2005 theo quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 1/1/2004 tới 31/12/2004 theo quy tắc ITC 1995.
Ngày 28/7/2004, Bảo Việt nhận được công văn của chủ tàu thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 28/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua hàng từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang. Nhưng theo Bảo Việt, việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh, không thể đại diện cho tài sản của Chính phủ Việt Nam. Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.
Kể từ ngày tàu Cần Giờ bị bắt, Sea Saigon đã áp dụng tất cả các biện pháp theo con đường ngoại giao và Chính phủ để can thiệp giải phóng tàu nhưng không có hiệu quả. Sau hơn 1 năm bị giam giữ, hôm 25/11 vừa qua, tàu Cần Giờ mới cập cảng Sài Gòn sau khi được giải phóng. Và theo chủ tàu, vụ việc này đã làm Sea Sài Gòn thiệt hại trên 1 triệu USD.
Trong một thông báo gửi tới báo chí, Bảo Việt khẳng định: “Căn cứ vào quy tắc của WOE, quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ. Mặc dù vậy, ngay từ đầu khi nhận được đề nghị của Sea Sài Gòn, chúng tôi đã tích cực phối hợp với WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính giúp chủ tàu. Tính đến thời điểm tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt phải thanh toán là 12.011USD. Kết quả tàu Cần Giờ được rời cảng Tanzania vào ngày 20/8/2005 đã chứng minh những nỗ lực giúp đỡ không ngừng của các cơ quan, ban ngành và sự hỗ trợ pháp lý tích cực của luật sư do Hội WOE và Bảo Việt chỉ định”.
WOE cũng đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Saigon do các phi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm.
“Tuy nhiên, xét tình hình Sea Sài Gòn là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt oan sai, Bảo Việt đã đồng ý hỗ trợ 20.000USD theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Saigon, đồng thời yêu cầu Sea Saigon chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise”, thông báo nêu rõ.
Trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 27/7/2005 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu.
“Tuy nhiên rất tiếc Sea Saigon đã không ghi nhận thiện chí và những nỗ lực giúp đỡ đó của Bảo Việt mà còn tiến hành khởi kiện”, đại diện của Bảo Việt nói.
Sau 1 năm bị khống chế, tàu Cần Giờ mới về đến Nha Trang.
===================================================
Hợp đồng bảo hiểm trong vụ tàu Cần Giờ
(VNECONOMY )
Tàu Cần Giờ bị giam giữ tại Tanzania.
Bảo Việt khẳng định: “Trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được phép rời cảng Tanzania, Bảo Việt luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Saigon. Tuy nhiên thiện chí đó đã không được ghi nhận”.
Ngày 29/11 tới, tại Tòa án nhân dân Tp.HCM, Công ty vận tải biển Sài Gòn (Sea Saigon) chính thức khởi kiện Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), liên quan đến việc bồi thường thiệt hại cho tàu Cần Giờ khi bị giam giữ tại Tanzania.
Về vụ việc này, Bảo Việt cũng đã có thông tin phản hồi chính thức, trong đó nhấn mạnh: “Có thể nói, trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được phép rời cảng Tanzania, Bảo Việt Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Saigon và dành sự giúp đỡ hỗ trợ tốt nhất có thể trong khả năng của một doanh nghiệp bảo hiểm. Điều đó phần nào giúp Sea Saigon thành công trong vụ kiện đòi giải phóng tàu Cần Giờ và khắc phục một phần khó khăn về tài chính khi không may gặp rủi ro”.
Tuy nhiên, theo Bảo Việt, “rất tiếc là Sea Saigon đã không ghi nhận thiện chí và những nỗ lực giúp đỡ đó mà còn tiến hành khởi kiện và đưa tin rộng rãi trên báo chí. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tới thương hiệu của Bảo Việt trong bối cảnh cạnh tranh đang diễn ra mạnh mẽ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam”.
Về tính pháp lý trong trách nhiệm bồi thường bảo hiểm của Bảo Việt trong vụ việc này, Bảo Việt giải thích như sau:
Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt Việt Nam theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20/02/2004 tới 20/02/2005, theo Quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu Miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 01/01/2004 tới 31/12/2004, theo Quy tắc ITC 1995.
Ngày 28/7/2004, Bảo Việt nhận được công văn của chủ tàu thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 28/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua hàng từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang.
Theo Bảo Việt, việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh và Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.
Ngày 21/11/2005, Bảo Việt nhận được Giấy triệu tập của Tòa án Nhân dân Tp.HCM, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29/11/2005 tới để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Saigon đối với Bảo Việt về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania.
“Căn cứ vào Quy tắc của WOE, Quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ”, Bảo Việt khẳng định.
Tuy nhiên, ngay từ khi nhận được đề nghị của Sea Saigon, “Bảo Việt đã tích cực phối hợp với WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính giúp chủ tàu”.
Tính đến thời điểm tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt phải thanh toán là 12.011 Đô la Mỹ. Và trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 28/7/2004 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu, tạo sự tin tưởng cho Sea Saigon trong thời điểm khó khăn.
Sau khi tàu Cần Giờ được giải phóng, ngày 19/8/2005 Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn số 106-05/CV-BGĐ của Sea Saigon, thông báo tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà họ phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52 Đô la Mỹ và đề nghị Bảo Việt Việt Nam xem xét hỗ trợ.
Do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm nên Bảo Việt Việt Nam và WOE không có cơ sở để giải quyết cho chủ tàu. WOE cũng đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Saigon do các chi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm.
“Tuy nhiên, xét tình hình Sea Saigon là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt oan sai, Bảo Việt Việt Nam đã đồng ý hỗ trợ 20.000 Đô la Mỹ theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Saigon, đồng thời yêu cầu Sea Saigon chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise”, Bảo Việt cho biết.
Ngoài ra, trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ, Bảo Việt cho biết đã thường xuyên báo cáo với Bộ Tài chính Việt Nam và thực hiện sự chỉ đạo sát sao của bộ này để xử lý vụ việc.
Bảo Việt cũng e ngại rằng, xung quanh vụ việc này, những thông tin chưa đầy đủ hoặc thiếu chuẩn xác sẽ gây ảnh hưởng tới uy tín của mình.

Làm thế nào để chống bức cung?

 Luật sư NGUYỄN TIẾN TÀI:
Án oan, hãy nhìn thẳng vào sự thật
Luật sư Nguyễn Tiến Tài - Ảnh: N.T.T.
Trong lịch sử tố tụng nước ta đã xảy ra nhiều vụ án oan gây chấn động như vụ án vườn điều (Bình Thuận), vụ án Bùi Minh Hải (Đồng Nai)... Và mới đây dư luận lại sôi lên với vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn. Phải nói thẳng ra rằng cũng như các vụ án oan khác, vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn tiếp tục phơi bày những khiếm khuyết trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.
Trước hết là tình trạng ép cung, nhục hình. Với tâm lý muốn phá án nhanh, không ít điều tra viên đã coi việc đe dọa, đánh đập hoặc dùng những cách thức nhục hình khác đối với nghi can là một “nghiệp vụ” đương nhiên cho dù pháp luật nghiêm cấm.
Việc ép cung, nhục hình không chỉ xâm hại đến nhân phẩm, sức khỏe của người khác mà còn gây ra thảm họa oan sai. Điều đáng nói là trong khi đó lại thiếu vắng một cơ chế giám sát hữu hiệu để ngăn ngừa tình trạng ép cung, nhục hình.
Luật tố tụng hình sự cũng quy định cho luật sư được quyền có mặt khi hỏi cung bị can, tuy nhiên lại không quy định đây là yêu cầu bắt buộc nên không phải bao giờ luật sư cũng có mặt trong các cuộc hỏi cung để có thể giám sát đầy đủ.
Điều cần nói thêm là có vẻ như câu chuyện đầy bi kịch trên vẫn thấp thoáng hằng ngày ở đâu đó. Tiếng nói của người dân, kể cả lời trình bày của luật sư, vẫn không dễ gì được lắng nghe trong các phiên tòa.
* Ông NGUYỄN VĂN CHUNG (viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận 3):
Vẫn xảy ra chuyện bức cung
Việc bức cung do ý chí chủ quan của điều tra viên. Cơ quan điều tra nói cấm ép cung, bức cung và dùng nhục hình nhưng trên thực tế việc đó không tránh khỏi. Vẫn xảy ra việc điều tra viên đánh nghi phạm, trong lúc đau quá nghi phạm phải nhận rồi kêu oan sau. Lúc này trách nhiệm xem xét là của viện kiểm sát, của tòa. Tôi cho rằng ở những vụ oan sai mà tòa và viện kiểm sát không phát hiện là bởi cơ quan điều tra làm hồ sơ “khéo” quá, lời khai khớp, các chứng cứ cũng khớp với nhau.
Tôi muốn nói rằng khi bị can có lời kêu oan thì kiểm sát viên phải hết sức chú ý. Nếu cứ áp dụng ý chí chủ quan của mình là nghi phạm kêu bậy bạ, linh tinh thì dễ làm oan.
* Trung tá NGUYỄN TRÍ NGHĨA (Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an TP.HCM):
Làm điều tra phải có tâm
Tôi có nhiều năm làm điều tra viên, trước đây ở đội điều tra truy xét trọng án, sau này chuyển về đội điều tra trọng án. Các đối tượng tôi tiếp xúc thuộc đủ thành phần, từ trí thức trình độ cao, người lao động chân tay cho tới các thành phần bất hảo vào tù ra khám như cơm bữa. Tuy nhiên, từ khi làm công tác điều tra tới nay tôi chưa bao giờ giơ tay tát một đối tượng nào để buộc họ phải khai nhận hành vi hay làm theo ý chí của mình.
Bắt được đối tượng về rồi, việc làm sao để đối tượng khai ra hành vi của mình, khai đúng sự thật, đúng bản chất của hành vi và động cơ, mục đích, diễn biến trước, trong và sau khi gây án thế nào là điều không hề dễ dàng. Nhiều đối tượng còn lên cả kế hoạch chối tội. Tuy nhiên, không có một kịch bản chối tội nào “hoàn hảo”, quan trọng là điều tra viên có tìm ra được kẽ hở, chứng minh được và khai thác đúng điểm yếu để buộc đối tượng phải tâm phục khẩu phục khai nhận hay không.
Tôi thường không bắt đầu điều tra vụ án bằng việc xét hỏi đối tượng mà sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước. Đặc biệt, tôi luôn tìm hiểu thông tin chi tiết về đối tượng như môi trường sống, làm việc, trình độ văn hóa, chuyên môn, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, sở thích, thói quen... Trước khi vào cuộc xét hỏi, ghi lời khai, tôi đã hình dung rõ ràng người ngồi trước mình là ai để chuẩn bị phương án khai thác hiệu quả nhất. Tôi cũng không bắt đầu bằng những câu hỏi liên quan tới vụ án, mà thường tạo sự gần gũi, thông cảm và chia sẻ với đối tượng. Có khi câu chuyện mà đối tượng chia sẻ không liên quan tới vụ án, nhưng thể hiện rất nhiều về tâm tư, tình cảm, cách sống, có thể dùng để thuyết phục đối tượng khai báo.
Có vụ án đối tượng là một thanh niên gây ra vụ giết người cướp tài sản nhất quyết không thừa nhận bất cứ sự liên hệ nào. Qua hồ sơ, cách nói chuyện thì tôi hiểu thanh niên này rất sùng đạo, tôi không nói về vụ án, mà lan man sang chuyện bàn luận về các lời răn của Chúa. Bất ngờ tôi hỏi: “Cháu có thấy cháu làm gì sai với lời răn của Chúa không?”, thanh niên này im lặng cúi đầu. Chỉ trong một giờ đồng hồ, tại chính địa phương nơi thanh niên này đang lẩn trốn, toàn bộ bản chất, diễn biến, động cơ gây án được làm rõ.
Với tôi, người làm điều tra phải không ngừng học hỏi, học hỏi ở mọi lúc mọi nơi để nâng cao sự hiểu biết về cả chuyên môn lẫn kiến thức xã hội của mình. Kiến thức càng rộng, càng sâu thì việc nhận định, đánh giá những yếu tố liên quan tới vụ án càng sâu sắc, gần với bản chất hơn.
Người làm điều tra phải có tâm và sự đam mê công việc vì nếu không có hai yếu tố này, người làm điều tra càng giỏi càng dễ chủ quan, mắc vào bệnh ham thành tích, “đánh án” bằng mọi giá thì việc dẫn tới oan sai hay bỏ lọt tội phạm là khó tránh khỏi.
Có những vụ án, bằng cảm nhận của người làm điều tra có thể thấy rõ đối tượng gây án là ai, nhưng khi chưa đủ yếu tố để khẳng định, bắt giữ, chúng tôi buộc phải chấp nhận đeo bám, dùng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra tới khi có đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng, chứ không bắt giữ, làm án bằng mọi giá.
* Ông PHẠM CÔNG HÙNG (thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao):
Tòa có thể phát hiện chứng cứ ngụy tạo
Ông Phạm Công Hùng - Ảnh: Hoàng Điệp
Vụ việc xảy ra đối với ông Nguyễn Thanh Chấn là một nỗi xót xa, đau đớn không bút nào tả xiết, không khác gì một vết dao cứa vào lồng ngực. Đây không chỉ là nỗi đau của cá nhân tôi mà còn là nỗi đau của ngành tư pháp, bởi đâu đó người dân đang nghĩ rằng sẽ còn những “ông Chấn” khác nữa đang bị oan sai.
Hơn 30 năm làm thẩm phán, không ít lần tôi được nghe các bị cáo khai bị ép cung. Bằng niềm tin nội tâm, tôi tin những lời nói của bị cáo là đúng. Tuy nhiên, hiện nay trong tất cả các bản cung được thực hiện tại cơ quan điều tra đều có dòng cuối cùng ghi rằng: “Tôi đã nghe, đã đọc và đồng ý với bản cung này”, đồng thời bị can đều phải ký tên và điểm chỉ vào đó. Việc xác nhận đã được đọc, nghe, đồng ý và điểm chỉ, ký tên là một trong những quy trình rất chặt chẽ, do đó rất khó có thể tìm được bằng chứng về việc cán bộ điều tra ép cung, nhục hình với các bị cáo.
Khi xét xử phúc thẩm những vụ án mà bị cáo kêu oan và khai sở dĩ đã nhận tội bởi bị bức cung, tôi xem xét rất kỹ các chi tiết trong hồ sơ vụ án. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng chỉ cần cẩn trọng, có tâm sẽ phát hiện bởi quá trình tạo dựng chứng cứ, bằng chứng thể nào cũng có những sai sót, sơ sểnh.
Nếu thẩm phán cẩn trọng hoàn toàn có thể phát hiện những chi tiết bất thường trong một vụ án có dấu hiệu ép cung, nhục hình và ngụy tạo chứng cứ từ cơ quan điều tra.
Để hạn chế oan sai thì buộc phải tránh bức cung nhục hình. Muốn vậy, phải để luật sư tham gia ngay từ đầu và thực hiện các quyền của luật sư. Thậm chí, tôi cho rằng luật pháp cần thiết phải có điều khoản quy định: mọi lời khai của bị can nếu không có sự chứng kiến của luật sư là vô giá trị!
"Nếu thẩm phán cẩn trọng hoàn toàn có thể phát hiện những chi tiết bất thường trong một vụ án có dấu hiệu ép cung, nhục hình và ngụy tạo chứng cứ từ cơ quan điều tra"
Ông PHẠM CÔNG HÙNG
(Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
"Luật tố tụng hình sự cũng quy định cho luật sư được quyền có mặt khi hỏi cung bị can, tuy nhiên lại không quy định đây là yêu cầu bắt buộc nên không phải bao giờ luật sư cũng có mặt trong các cuộc hỏi cung"
Luật sư NGUYỄN TIẾN TÀI
HOÀNG ĐIỆP - GIA MINH ghi

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code