Monday, September 28, 2026

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ I):Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân

Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân


“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị.
  Tia Sáng 

xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
1. Hiến pháp

Chào các bạn, Hiến pháp mới đã hoàn thành. Từ ngày 3 tháng 5 năm Showa thứ 22 (năm 1947-ND), quốc dân Nhật Bản chúng ta sẽ phải tuân thủ hiến pháp này. Để có được bản Hiến pháp này, rất nhiều người đã lao tâm khổ tứ.  Nhân tiện đây, các bạn có biết hiến pháp là thứ như thế nào không? Có ai nghĩ nó giống như là thứ không có liên quan gì đến mình không? Giả sử có, thì đó là một sai lầm lớn.

Việc nước không thể một ngày ngơi nghỉ. Thêm nữa, cách tiến hành công việc trị nước cần phải được quyết định rõ ràng. Để làm được điều đó cần đến rất nhiều quy tắc. Các quy tắc này có rất nhiều nhưng trong đó quy tắc quan trọng nhất là Hiến pháp.

Quy tắc cơ bản nhất quyết định trị nước như thế nào, tiến hành việc nước như thế nào là Hiến pháp. Nếu như nhà của các bạn bị mất cột thì sẽ thế nào? Ngôi nhà sẽ đổ sập ngay lập tức. Nếu ví đất nước như ngôi nhà thì cây cột chính là Hiến pháp. Nếu như không có Hiến pháp, thì cho dù trong nước có bao nhiêu người đi chăng nữa cũng không hiểu được phải trị nước như thế nào. Vì vậy cho dù là ở nước nào, Hiến pháp với tư cách là quy tắc quan trọng nhất cũng được tuân thủ chặt chẽ. Quy tắc quan trọng nhất của đất nước nói một cách khác cũng là quy tắc có vị trí cao nhất vì thế  Hiến pháp còn được gọi là “quy tắc tối cao” của đất nước.

Tuy nhiên trong Hiến pháp này, giống như vừa trình bày, bên cạnh cách tiến hành việc nước còn viết về một điều quan trọng nữa. Đó là quyền lợi của quốc dân. Quyền lợi này sẽ được nói chi tiết ở phần sau vì thế ở đây chỉ xin được nói về việc tại sao nó lại quan trọng giống như là quy tắc quyết định cách  tiến hành việc nước.

Các bạn là một thành viên trong quốc dân Nhật Bản. Nếu như từng quốc dân không trở nên thông minh và mạnh mẽ thì toàn thể quốc dân không thể nào trở nên thông minh và mạnh mẽ được. Nguồn gốc của sức mạnh đất nước là nằm ở mỗi người dân. Vì thế mà nhà nước thừa nhận năng lực của từng người dân và bảo vệ nó chu đáo. Để làm được điều đó, Hiến pháp đã quy định  rất nhiều quyền lợi của từng người dân. Quyền lợi quan trọng này của người dân được gọi là “các quyền cơ bản của con người”. Quyền lợi này cũng được ghi trong Hiến pháp.

Vì vậy, một lần nữa tôi lại muốn nói xem Hiến pháp là gì. Hiến pháp là quy tắc quan trọng nhất của đất nước tức là “Pháp quy tối cao” vì vậy ở trong đó có ghi hai việc quan trọng. Thứ nhất là quy tắc quyết định cách trị nước, cách tiến hành việc nước. Thứ hai là quy tắc quy định những quyền quan trọng nhất của quốc dân tức là những “quyền con người cơ bản”. Bên cạnh đó hiến pháp cũng quy định nhiều việc cần thiết khác. Như sẽ được trình bày ở phần sau, Hiến pháp lần này cũng quy định một việc vô cùng quan trọng là không tiến hành chiến tranh.

Hiến pháp có từ trước đến nay là hiến pháp ra đời vào năm Minh Trị thứ 22 (tức năm 1889-ND), là hiến pháp do Thiên hoàng Minh Trị tạo ra và áp dụng cho người dân. Tuy nhiên Hiến pháp mới lần này là do chính bản thân quốc dân tạo ra, là thứ được lập ra một cách tự do bằng ý kiến của toàn thể quốc dân Nhật Bản. Để biết được ý kiến của toàn thể quốc dân, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra vào ngày 10 tháng 4 năm Showa thứ 21 (năm 1946-ND), các đại biểu mới của quốc dân được bầu và những người này đã tạo ra Hiến pháp. Vì vậy Hiến pháp mới là do toàn thể quốc dân lập nên.

Các bạn cũng là một trong số quốc dân Nhật Bản. Nếu vậy Hiến pháp này là do các bạn tạo ra. Các bạn sẽ coi trọng thứ mà bản thân mình tạo ra phải không nào. Nếu như Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ toàn thể quốc dân bao gồm các bạn và là quy tắc quan trọng nhất của đất nước thì các bạn với tư cách là một thành viên của quốc dân phải bảo vệ cho được Hiến pháp. Để làm được điều đó thì trước hết các bạn phải biết rõ những nội dung nào được viết trong hiến pháp này.

Khi quyết định quy tắc cho trò chơi nào đó các bạn cùng nhau viết và đặt kí hiệu cho nó  phải không nào. Quy tắc của quốc gia cũng thế, nó được viết phân theo từng nội dung và có thêm vào kí hiệu như điều số mấy. Hiến pháp lần này có từ điều 1 đến điều 103. Bên cạnh đó  còn có phần viết ở đầu tiên. Đây được gọi là “Lời nói đầu”.

Ở phần “Lời nói đầu” này có ghi những việc như ai tạo ra Hiến pháp này, quy tắc của Hiến pháp này được tạo ra từ tư duy nào… Lời nói đầu nhắm đến hai mục đích. Thứ nhất là khi mọi người đọc Hiến pháp và muốn biết ý nghĩa của nó thì đây là đầu mối. Tóm lại, Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ tư duy được ghi ở lời nói đầu vì vậy không được nghĩ khác với tư duy có ở Lời nói đầu. Tác dụng thứ hai là từ giờ trở đi khi thay đổi Hiến pháp không được trái với tư duy đã được ghi trong Lời nói đầu.

Vậy thì tư duy của Lời nói đầu là như thế nào. Tư duy quan trọng nhất có ba điều. Đó là “dân chủ chủ nghĩa”, “chủ nghĩa hòa bình quốc tế” và “chủ nghĩa chủ quyền thuộc về quốc dân”. Khi sử dụng từ “chủ nghĩa” thì nghe có vẻ khó nhưng nếu nghĩ thì chẳng có gì là khó. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa là cách suy nghĩ về sự vật. Do vậy các bạn cần phải biết về ba nội dung này. Trước hết hãy bắt đầu từ  “Dân chủ chủ nghĩa”

2. Dân chủ là gì

Tư duy số một trở thành nền tảng của Hiến pháp lần này là dân chủ. Vậy tóm lại dân chủ là gì? Các bạn đại thể đã nghe thấy từ này phải không nào? Nếu nói đây là thứ tạo nên nền tảng của Hiến pháp mới thì các bạn cần phải biết rõ về điều này. Thêm nữa cần phải hiểu biết đúng đắn về nó.

Các bạn hãy thử nghĩ đến việc đông đảo mọi người tập trung lại để cùng làm điều gì đó. Mọi chuyện sẽ được quyết định bằng ý kiến của ai? Nếu như ý kiến của mọi người đều giống nhau  thì sẽ không có chuyện gì. Giả sử như khi ý kiến khác nhau thì làm thế nào? Quyết định bằng ý kiến của một người? Quyết định bằng ý kiến của hai người? Hay là quyết định bằng ý kiến của số đông? Cái nào tốt hơn đây? Cũng có trường hợp ý kiến của một người đúng đắn và ưu việt trong khi ý kiến của nhiều người lại sai. Tuy nhiên phần lớn là ngược lại. Khi đó, việc mọi người thảo luận về suy nghĩ của bản thân sau đó quyết định theo ý kiến của số đông là điều hoàn toàn đúng đắn. Và những người còn lại nên tuân theo ý kiến của số đông mọi người. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của số đông mọi người là cách làm dân chủ.

Việc trị nước cũng giống như thế. Việc trị nước theo ý kiến của một số ít người là điều không tốt. Trị nước theo ý kiến của đông đảo quốc dân là tốt nhất. Tóm lại đông đảo quốc dân tiến hành trị nước là cách trị nước dân chủ.

Tuy nhiên đất nước khác với lớp học. Toàn thể quốc dân không thể tập trung lại một chỗ để thảo luận được. Việc đi đến từng nơi lắng nghe ý kiến của từng người cũng không thể làm được. Vì vậy cần phải có người thay mặt cho mọi người quyết định cách trị nước. Đó là quốc hội.

Việc quốc dân bầu cử nên nghị viên quốc hội cũng chính là việc họ lựa chọn ra người thay mặt mình trị nước. Vì vậy ở quốc hội công việc sẽ được quyết định bởi ý kiến của các nghị viên thay mặt quốc dân. Các nghị viên khác sẽ phải tuân theo điều này. Đó là việc quyết định công việc theo ý kiến của toàn thể quốc dân. Đây là dân chủ. Vì vậy dân chủ là toàn dân trị nước. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của mọi người sẽ ít sai sót nhất. Vì vậy nếu trị nước bằng dân chủ thì mọi người sẽ hạnh phúc và đất nước sẽ phồn vinh.

Do đất nước rộng lớn vì thế việc nước được giao phó cho các nghị viên quốc hội cho nên quốc hội thay mặt cho quốc dân. Sự “thay mặt” này được gọi là “đại diện”. Giống như trước đó tôi đã trình bày, dân chủ là toàn dân trị nước nên quốc hội sẽ thay mặt cho toàn thể quốc dân quyết định việc nước do đó người ta gọi đây là “dân chủ theo chế độ đại biểu”.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là không giao phó cho quốc hội mà quốc dân quyết định công việc theo ý kiến của bản thân mình. Trong hiến pháp lần này có giả sử nếu như có sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể quyết định được mà phải bỏ phiếu để biết từng người dân phản đối hay đồng ý. Khi đó, quốc dân trực tiếp quyết định việc nước vì vậy đây được gọi là cách làm “dân chủ trực tiếp”. Hiến pháp mới chọn hai cách trị nước là dân chủ theo chế độ đại biểu và dân chủ trực tiếp nhưng chủ yếu là dân chủ theo chế độ đại biểu, dân chủ trực tiếp chỉ giới hạn trong những việc quan trọng nhất. Vì vậy có thể nói Hiến pháp lần này đại thể là dân chủ theo chế độ đại biểu.

Các bạn là quốc dân Nhật Bản. Tuy nhiên vẫn  đang  còn là học sinh. Khi các bạn 20 tuổi lúc đó các bạn lần đầu tiên mới có thể quyết định được việc nước. Cả việc bầu nghị viên quốc hội hay bỏ phiếu liên quan đến việc nước khi các bạn đủ 20 tuổi các bạn mới có thể bắt đầu. Các bạn có anh trai, chị gái trên 20 tuổi phải không nào? Khi nhìn thấy anh, chị phân vân khi bỏ phiếu các bạn có tâm trạng thế nào? Bây giờ các bạn hãy học hành thật chăm chỉ, tìm hiểu thật kĩ về việc trị nước cũng như là Hiến pháp. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ cùng anh, chị có thể tự mình quyết định việc nước. Việc trị nước sẽ được tiến hành bằng suy nghĩ của các bạn. Không có gì vui hơn việc các bạn hòa thuận và tự mình tiến hành việc nước. Đó là dân chủ.

3. Chủ nghĩa hòa bình quốc tế

[...]

4. Chủ quyền thuộc về quốc dân

Các bạn hãy thử tập trung lại và  chọn ra xem ai là người vĩ đại nhất. Tóm lại “vĩ đại nhất” tức là thế nào? Có phải là học giỏi không? Hay là người khỏe  mạnh? Thật là khó vì có rất nhiều cách quyết định.

Trong đất nước thì có thể nói ai là  người “vĩ đại nhất” đây? Giả sử như việc nước được quyết định bởi ý nghĩ của một người thì phải nói người đó là vĩ đại. Nếu như việc nước được quyết định bằng ý nghĩ của nhiều người thì mọi người sẽ trở nên vĩ đại. Nếu như toàn thể quốc dân quyết định thì người vĩ đại nhất là toàn thể quốc dân. Hiến pháp lần này là hiến pháp dân chủ nên việc trị nước được tiến hành bằng suy nghĩ của toàn thể quốc dân. Và như thế thì rõ ràng toàn thể quốc dân là vĩ đại nhất.
 
Sức mạnh trị nước được gọi là “chủ quyền” và nếu sức mạnh này nằm ở toàn thể quốc dân thì người ta gọi đó là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Hiến pháp lần này giống như tôi vừa trình bày, coi dân chủ là gốc vì vậy chủ quyền đương nhiên là thuộc về quốc dân Nhật Bản. Vì vậy ngay ở phần Lời nói đầu và  ở  Điều 1 của hiến pháp cũng ghi rõ ràng là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Chủ quyền thuộc về quốc dân được gọi là “chủ quyền tại dân”. Hiến pháp mới được tạo thành từ tư duy chủ quyền tại dân vì vậy nó là hiến pháp chủ nghĩa chủ quyền tại dân. Các bạn là một người dân Nhật Bản. Các bạn  sẽ là người nắm chủ quyền trong tay. Tuy nhiên chủ quyền lại nằm trong toàn thể quốc dân Nhật Bản. Nó không phải là thứ từng người riêng biệt nắm trong tay. Chuyện từng người nghĩ rằng mình là vĩ đại và tự ý tiến hành mọi việc chắc chắn không phải là điều tốt. Đó là điều không thích hợp với dân chủ. Các bạn vừa phải tự hào rằng mình là một người dân nắm chủ quyền trong tay vừa phải có tinh thần trách nhiệm. Vừa phải là học sinh tốt vừa phải là quốc dân tốt.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)

CHƯƠNG 6 - ĐỐI THOẠI HƯNG QUỐC VỚI MARXISM VÀ ENGELSISM - GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

PHẦN III — CON NGƯỜI – LAO ĐỘNG – GIAI CẤP

CHƯƠNG VI

GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

Từ khác biệt về vị trí kinh tế đến câu hỏi về quyền lực và xung đột xã hội. Nếu Chương V đặt câu hỏi về con người trong lao động, thì Chương VI đặt câu hỏi rộng hơn. Khi những con người khác nhau đứng ở những vị trí khác nhau trong quá trình sản xuất, họ có hình thành những lợi ích khác nhau hay không Đây là nơi khái niệm giai cấp bước vào trung tâm tư tưởng Marx.

Nhưng ngay từ đầu phải làm rõ một điều. Marx không phát minh ra việc phân chia xã hội thành các nhóm. Trước Marx, các nhà sử học và kinh tế học đã nói về quý tộc, nông dân, thương nhân, chủ xưởng, người lao động, người giàu, người nghèo. Điều Marx muốn làm khác hơn là tìm ra quan hệ cấu trúc phía sau những nhóm xã hội ấy.

Một người giàu không nhất thiết thuộc cùng một giai cấp với một người giàu khác. Một người nghèo không nhất thiết có cùng vị trí xã hội với mọi người nghèo. Một doanh nhân sở hữu nhà máy khác với một bác sĩ có thu nhập cao nhưng không sở hữu tư liệu sản xuất. Một nông dân sở hữu ruộng đất khác với một người làm thuê trong nông nghiệp.

Vì vậy giai cấp trong Marx không đơn giản là tầng lớp giàu – nghèo. Nó liên quan đến vị trí của con người trong những quan hệ sản xuất và quan hệ quyền lực được hình thành xung quanh sản xuất. Đây cũng là cách nhiều truyền thống Marxist và Marxist phân tích về sau tiếp tục định nghĩa khái niệm này.

Từ đó xuất hiện câu hỏi thứ hai. Nếu vị trí khác nhau tạo ra lợi ích khác nhau, những lợi ích ấy có tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp hay không? Đó chính là vấn đề của chương này.

1. MARX CÓ ĐỊNH NGHĨA “GIAI CẤP” KHÔNG?

Đây là một nghịch lý thú vị.

Marx nổi tiếng với lý thuyết giai cấp, nhưng ông không để lại một định nghĩa hoàn chỉnh, có hệ thống về “giai cấp” tương đương với một chương lý thuyết độc lập.

Thậm chí Tư bản, tập III, kết thúc ở Chương LII với một phần có tiêu đề “Các giai cấp”, nhưng chương này chỉ dài vài trang và bị bỏ dở. Vì vậy, việc xây dựng một “định nghĩa Marx hoàn chỉnh về giai cấp” phải dựa trên nhiều văn bản khác nhau, chứ không thể chỉ trích một câu rồi coi đó là định nghĩa cuối cùng. Điều này rất quan trọng.

Bởi Marx viết về giai cấp trong nhiều hoàn cảnh xã hội phong kiến; xã hội tư bản; cách mạng Pháp; nông dân; tiểu tư sản; tư sản; vô sản; địa chủ; người làm thuê; đấu tranh tiền lương; tổ chức chính trị.

Khái niệm giai cấp vì thế phải được đọc trong quan hệ, không phải như một nhãn cố định.Các nghiên cứu về Marx cũng nhấn mạnh tính quan hệ của khái niệm giai cấp: một giai cấp được xác định không chỉ bởi đặc điểm riêng của nó mà bởi vị trí của nó trong quan hệ với các giai cấp khác.

2. “GIAI CẤP” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI “TẦNG LỚP”

Đây là ranh giới đầu tiên cần khóa. Trong đời sống hiện đại, chúng ta thường nói tầng lớp trung lưu; tầng lớp giàu; tầng lớp nghèo; tầng lớp chuyên gia; tầng lớp doanh nhân; tầng lớp lao động. Những cách phân loại ấy có thể rất hữu ích. Nhưng chúng không hoàn toàn giống khái niệm giai cấp của Marx.

Ví dụ: Một bác sĩ có thu nhập cao. Một chủ doanh nghiệp nhỏ có thu nhập tương đương. Một giáo sư đại học có tài sản lớn. Một quản lý cấp cao nhận lương rất cao. Nếu chỉ phân loại theo thu nhập, họ có thể nằm trong cùng một nhóm.

Nhưng xét theo quan hệ với tư liệu sản xuất, quyền kiểm soát quá trình lao động và nguồn thu nhập, vị trí của họ có thể rất khác nhau. Ngược lại, một công nhân kỹ thuật có thu nhập cao vẫn có thể là người bán sức lao động của mình cho một tổ chức mà mình không sở hữu.

Vì vậy thu nhập cho biết một phần vị trí kinh tế; nó không tự mình xác định toàn bộ vị trí giai cấp.Đây là lý do phân tích giai cấp của Marx có chiều sâu hơn việc lập bảng thu nhập.

3. GIAI CẤP LÀ MỘT QUAN HỆ

Hãy thử bỏ chữ “giai cấp” ra khỏi câu hỏi, thay vì hỏi ai thuộc giai cấp nào? Hãy hỏi người này đứng ở đâu trong quan hệ sản xuất? Ai sở hữu nhà máy? Ai làm việc trong nhà máy?Ai quyết định sản xuất cái gì?Ai kiểm soát thời gian lao động? Ai quyết định tiền công? Ai sở hữu sản phẩm? Ai nhận phần thặng dư? Ai chịu rủi ro? Ai có quyền thuê và sa thải? Ai có quyền thương lượng?Khi những câu hỏi này được đặt cạnh nhau, cấu trúc giai cấp trở nên rõ hơn.

Một chủ doanh nghiệp và một người lao động có thể cùng là công dân của một quốc gia. Cùng chịu một hệ thống pháp luật. Cùng mua hàng trên một thị trường.Nhưng trong quan hệ sản xuất, họ không nhất thiết có cùng vị trí.

Đó chính là ý nghĩa của việc nói giai cấp là một quan hệ, không chỉ là một thuộc tính. Một người không phải là “giai cấp tư sản” chỉ vì người đó giàu.Một người cũng không phải “giai cấp vô sản” chỉ vì người đó nghèo. Phải nhìn vào quan hệ xã hội cụ thể.

4. TƯ SẢN VÀ VÔ SẢN

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, Marx và Engels mô tả xã hội tư bản hiện đại như một xã hội trong đó các đối kháng giai cấp vẫn tồn tại nhưng mang những hình thức mới. Họ đặc biệt nhấn mạnh sự đối lập giữa bourgeoisie và proletariat.

Theo Marx và Engels, tư sản hiện đại là những người gắn với quyền sở hữu và kiểm soát các tư liệu sản xuất trong nền kinh tế tư bản.

Vô sản là những người không sở hữu những tư liệu sản xuất đủ để tự duy trì đời sống kinh tế độc lập và vì vậy phải bán sức lao động của mình.

Điều quan trọng là những vị trí trong một quan hệ. Nếu không có người bán sức lao động thì vị trí của nhà tư bản cũng thay đổi. Nếu không có người sở hữu và tổ chức tư liệu sản xuất thì quan hệ lao động làm thuê cũng thay đổi. Hai vị trí tồn tại trong cùng một cấu trúc.

Do đó, đối với Marx, tư sản và vô sản không phải hai nhóm độc lập tình cờ tồn tại cạnh nhau. Chúng được xác định thông qua quan hệ với nhau.

5. “LỊCH SỬ CỦA MỌI XÃ HỘI…” – CÂU NÓI NỔI TIẾNG VÀ GIỚI HẠN CỦA NÓ

Một trong những câu nổi tiếng nhất của Tuyên ngôn là: “Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp.” Đây là một trong những câu được trích dẫn nhiều nhất của Marx và Engels. Nhưng câu này cần được đọc trong toàn bộ đoạn văn và hoàn cảnh lịch sử của nó.

Ngay sau đó, Tuyên ngôn đưa ra hàng loạt ví dụ người tự do và nô lệ; quý tộc và bình dân; lãnh chúa và nông nô; chủ phường hội và thợ bạn;tư sản và vô sản.

Mục tiêu của Marx và Engels là chỉ ra rằng lịch sử xã hội có thể được nhìn dưới góc độ xung đột giữa những nhóm có vị trí và lợi ích khác nhau. Nhưng nếu đọc câu đó như một định luật tuyệt đối mọi sự kiện lịch sử đều chỉ do đấu tranh giai cấp gây ra,thì chúng ta đã đi xa hơn văn bản.

Lịch sử còn có chiến tranh giữa các quốc gia; tôn giáo; dân tộc; giới; văn hóa; công nghệ;địa lý;môi trường; thể chế; cá nhân; tư tưởng; những liên minh vượt qua ranh giới giai cấp.Ngay trong Marx, những yếu tố này không biến mất.

Vì vậy, cách đọc nghiêm túc hơn là Marx đưa đấu tranh giai cấp trở thành một biến số trung tâm để giải thích cấu trúc và biến đổi xã hội; ông không cung cấp một phép toán cho phép quy mọi sự kiện lịch sử về một nguyên nhân duy nhất.

6. TẠI SAO GIAI CẤP LẠI ĐẤU TRANH?

Đây là câu hỏi quan trọng hơn việc chỉ nói các giai cấp có lợi ích khác nhau. Khác biệt lợi ích chưa chắc tạo ra xung đột. Hai doanh nghiệp có lợi ích khác nhau nhưng vẫn có thể hợp tác. Hai người lao động có mức lương khác nhau vẫn có thể cùng làm việc.Hai nhóm xã hội có lợi ích khác nhau vẫn có thể đạt được thỏa hiệp. Vậy tại sao Marx lại đặt nặng đấu tranh giai cấp?

Một phần câu trả lời nằm ở cấu trúc của quan hệ sản xuất tư bản. Nếu nhà tư bản muốn tăng lợi nhuận, họ có động lực kiểm soát chi phí.Tiền lương là một bộ phận của chi phí sản xuất.Người lao động, ngược lại, có lợi ích trong việc cải thiện tiền lương, thời gian làm việc và điều kiện lao động.

Marx phân tích trực tiếp quan hệ này trong Value, Price and Profit năm 1865. Ông xem sự đấu tranh của người lao động chống giảm lương và đòi tăng lương là một đặc điểm gắn với chính hệ thống tiền công, đồng thời nhấn mạnh rằng mức tiền lương phải được đặt trong quan hệ với năng suất, giá trị sức lao động, giá cả và chu kỳ kinh tế. Như vậy, xung đột không xuất hiện chỉ vì con người “xấu”. Nó có thể được tạo ra bởi cấu trúc lợi ích.

7. ĐẤU TRANH GIAI CẤP KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CÁCH MẠNG

Đây là một điểm rất dễ bị hiểu sai. Khi nghe “đấu tranh giai cấp”, nhiều người lập tức nghĩ đến bạo lực cách mạng. Nhưng trong phân tích của Marx, đấu tranh giai cấp có thể tồn tại ở nhiều cấp độ. Một cuộc đình công.Một cuộc thương lượng tiền lương.Một đạo luật lao động. Một cuộc vận động chính trị. Một tổ chức công đoàn. Một tranh chấp về thời gian làm việc. Một cuộc tranh luận về thuế. Một cuộc đấu tranh về quyền sở hữu. Một phong trào chính trị.

Những điều đó đều có thể phản ánh xung đột lợi ích giữa những nhóm có vị trí khác nhau trong nền kinh tế. Trong Value, Price and Profit, Marx trực tiếp bàn về “struggle between capital and labour” và kết quả của nó.

Do đó đấu tranh giai cấp rộng hơn cách mạng. Cách mạng là một hình thức biến đổi cực đoan của xung đột chính trị – xã hội. Không phải mọi xung đột giai cấp đều dẫn tới cách mạng. Đây là một ranh giới quan trọng cho Chương XI sau này, khi chúng ta bàn riêng về cách mạng hay cải cách.

8. GIAI CẤP “TỰ THÂN” VÀ GIAI CẤP “CHO MÌNH”

Một đóng góp quan trọng của truyền thống Marxist về sau là phân biệt giữa một nhóm có cùng vị trí khách quan và một nhóm có ý thức về lợi ích chung và tổ chức thành lực lượng tập thể. Cách nói thường gặp là class-in-itself và class-for-itself. Điều này giúp giải thích một nghịch lý.

Hàng triệu người có thể cùng làm công việc tương tự nhưng không nhất thiết hành động cùng nhau. Họ có thể cạnh tranh. Họ có thể khác nhau về dân tộc; tôn giáo; kỹ năng; nghề nghiệp; giới; vùng miền; trình độ; ý thức chính trị.

Vì vậy vị trí kinh tế không tự động tạo ra ý thức giai cấp. Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Nếu chỉ cần cùng một vị trí kinh tế là tự động có cùng ý thức, thì tổ chức chính trị sẽ không còn cần thiết. Nhưng lịch sử thực tế cho thấy việc biến một nhóm xã hội thành một lực lượng tập thể cần giao tiếp; tổ chức; lãnh đạo; biểu tượng;lợi ích chung; mạng lưới; thể chế; và đôi khi cả những trải nghiệm chung.

Nói cách khác giai cấp không chỉ là một cấu trúc; nó còn có quá trình hình thành chính trị và xã hội.

9. “HAI GIAI CẤP LỚN” – MARX CÓ ĐÁNH GIÁ QUÁ CAO SỰ PHÂN CỰC KHÔNG?

Trong Tuyên ngôn, Marx và Engels cho rằng xã hội tư sản hiện đại có xu hướng đơn giản hóa đối kháng giai cấp thành hai lực lượng lớn: tư sản và vô sản. Đây là một mệnh đề rất mạnh.

Nhưng chính lịch sử của chủ nghĩa tư bản sau Marx đặt ra nhiều câu hỏi. Xã hội hiện đại xuất hiện tầng lớp quản lý; chuyên gia; công chức; kỹ sư; lao động tri thức; tiểu chủ; doanh nghiệp gia đình; cổ đông nhỏ; người tự doanh; lao động nền tảng; người làm việc kết hợp giữa sở hữu và làm thuê.

Một giám đốc điều hành nhận lương cao nhưng không sở hữu phần lớn doanh nghiệp đứng ở đâu? Một kỹ sư sở hữu cổ phiếu công ty đứng ở đâu? Một chủ cửa hàng vừa sở hữu doanh nghiệp vừa trực tiếp làm việc đứng ở đâu? Một người làm nghề tự do sở hữu công cụ sản xuất của chính mình nhưng phụ thuộc vào nền tảng kỹ thuật số đứng ở đâu? Những trường hợp này cho thấy cấu trúc xã hội hiện đại phức tạp hơn một sơ đồ hai cực. Nhưng điều đó không tự động bác bỏ khái niệm giai cấp. Nó buộc chúng ta làm cho khái niệm tinh tế hơn.

10. TIỂU TƯ SẢN – NHÓM NẰM Ở GIỮA

Marx và Engels đặc biệt quan tâm đến tầng lớp tiểu tư sản. Trong Tuyên ngôn, họ đề cập đến tiểu chủ; thợ thủ công; tiểu thương; nông dân; nhà sản xuất nhỏ. Những nhóm này vừa có thể đứng gần lao động trực tiếp, vừa có một phần sở hữu hoặc quyền kiểm soát sản xuất. Họ có thể chống lại tư bản lớn vì bị cạnh tranh. Nhưng đồng thời cũng có thể mong muốn trở thành người sở hữu lớn hơn.

Vì vậy, vị trí của họ không đơn giản. Đây là một trong những ví dụ cho thấy Marx không phải lúc nào cũng mô tả xã hội bằng một nhị nguyên tuyệt đối. Ngay trong Tuyên ngôn, ông và Engels đã dành nhiều chú ý cho những nhóm nằm giữa tư sản lớn và vô sản. Điều này có ý nghĩa rất lớn khi nghiên cứu xã hội ngày nay. Bởi phần lớn xã hội hiện đại không nằm hoàn toàn ở hai cực.

11. NÔNG DÂN – MỘT THÁCH THỨC ĐỐI VỚI MÔ HÌNH GIAI CẤP

Nông dân là một trường hợp đặc biệt. Một nông dân sở hữu mảnh đất nhỏ có thể vừa là người lao động vừa là người sở hữu tư liệu sản xuất. Họ không hoàn toàn giống công nhân làm thuê. Nhưng cũng không giống nhà tư bản công nghiệp lớn.

Trong phân tích về nông dân Pháp trong The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte, Marx mô tả những người sản xuất nhỏ phân tán, trong đó điều kiện sống và sản xuất có thể khiến họ khó hình thành một tổ chức chính trị thống nhất như một giai cấp tự ý thức. Đây là một ví dụ quan trọng về sự khác biệt giữa cùng một vị trí kinh tế tương đối và khả năng hành động chính trị tập thể.

Điều này cho thấy Marx hiểu một điều rất quan trọng cấu trúc xã hội không tự động biến thành hành động chính trị. Phải có những điều kiện trung gian. Đây là một trong những điểm làm cho phân tích giai cấp của Marx phong phú hơn một công thức kinh tế đơn giản.

12. CASE STUDY – PHONG TRÀO LAO ĐỘNG VÀ NGÀY LÀM VIỆC

Một trường hợp rất điển hình là cuộc đấu tranh về thời gian lao động. Trong thế kỷ XIX, ngày làm việc dài là một vấn đề trung tâm của phong trào lao động. Marx không coi cuộc đấu tranh ấy đơn giản là cuộc tranh cãi về một con số. Nó là cuộc tranh chấp về ai có quyền quyết định một ngày của người lao động? Nếu chủ doanh nghiệp muốn kéo dài ngày làm việc để tăng sản lượng, còn người lao động muốn giới hạn thời gian lao động để bảo vệ sức khỏe và đời sống, đây là một xung đột lợi ích.

Nhưng xung đột ấy có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức thương lượng; công đoàn; luật pháp; chính sách xã hội; đình công; hoặc những thay đổi trong công nghệ sản xuất.Điểm này rất quan trọng.

Cùng một xung đột có thể dẫn tới những hình thức thể chế khác nhau. Không phải mọi xung đột đều phải kết thúc bằng cách mạng. Đây là nơi một phân tích Marxist nghiêm túc có thể gặp một bài toán mà Marx không giải quyết theo một công thức duy nhất làm thế nào để chuyển xung đột lợi ích thành thương lượng thể chế thay vì để nó tích tụ thành phá vỡ hệ thống?

13. ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ NHÀ NƯỚC

Nếu giai cấp có lợi ích khác nhau, nhà nước đứng ở đâu? Đây là một trong những câu hỏi lớn nhất của Marxism. Một cách diễn giải phổ biến cho rằng Marx xem nhà nước như công cụ của giai cấp thống trị. Cách diễn giải ấy có cơ sở trong một số văn bản Marx–Engels, đặc biệt trong Tuyên ngôn và một số tác phẩm chính trị.

Nhưng nếu biến nó thành: “Nhà nước luôn luôn và chỉ là công cụ trực tiếp của một giai cấp,” thì sẽ bỏ qua sự phức tạp trong chính phân tích của Marx về nhà nước và đấu tranh chính trị.

Trong thực tế, nhà nước có thể bảo vệ quyền sở hữu; điều tiết thị trường; áp đặt thuế;giới hạn quyền lực doanh nghiệp; bảo vệ người lao động; cung cấp giáo dục; cung cấp hạ tầng; giải quyết tranh chấp; đồng thời duy trì những cấu trúc quyền lực hiện hữu. Nó không đơn giản là một “cánh tay” của bất kỳ nhóm nào trong mọi tình huống.

Chính vì vậy, về sau nhiều truyền thống Marxist đã tranh luận gay gắt về tính tự chủ tương đối của nhà nước. Đây sẽ là vấn đề cần dành riêng cho Chương X:

NHÀ NƯỚC LÀ GÌ?

14. ĐẤU TRANH GIAI CẤP KHÔNG PHẢI LÀ HẬN THÙ GIỮA CÁC CÁ NHÂN

Đây là một phân biệt rất quan trọng. Marx nói về quan hệ giai cấp. Điều đó không có nghĩa mọi chủ doanh nghiệp đều là người xấu. Một người chủ có thể đối xử rất tốt với nhân viên. Một người lao động có thể rất tôn trọng chủ doanh nghiệp. Hai người có thể là bạn bè. Họ vẫn có thể nằm ở những vị trí khác nhau trong quan hệ sản xuất.

Điều Marx muốn phân tích là cấu trúc quyền lực và lợi ích, không phải phẩm chất đạo đức của từng cá nhân. Đây là điểm cần nhấn mạnh vì nếu biến lý thuyết giai cấp thành sự phán xét đạo đức về từng con người, ta đã biến phân tích cấu trúc thành định kiến.

Một người giàu không mặc nhiên là kẻ bóc lột. Một người nghèo không mặc nhiên là người bị bóc lột trong mọi quan hệ. Phải nghiên cứu quan hệ cụ thể.

15. ĐẤU TRANH GIAI CẤP CÓ THỂ KẾT THÚC BẰNG THỎA HIỆP KHÔNG?

Đây là câu hỏi Marxism phải đối diện. Nếu lợi ích giữa tư bản và lao động hoàn toàn đối lập, thì tại sao lịch sử chủ nghĩa tư bản lại chứng kiến rất nhiều thỏa hiệp?

Ví dụ: tăng lương; giảm giờ làm; bảo hiểm xã hội; quyền công đoàn; luật an toàn lao động; thuế lũy tiến; thương lượng tập thể; cổ phần cho người lao động.Những cải cách này không xóa bỏ tư bản chủ nghĩa.

Nhưng chúng có thể làm thay đổi cách xung đột được quản lý. Điều đó dẫn đến một nhận xét quan trọng. Xung đột lợi ích không đồng nghĩa với bất khả năng hợp tác. Hai bên có thể có lợi ích đối lập trong một vấn đề nhưng lợi ích chung trong vấn đề khác. Doanh nghiệp cần lợi nhuận. Người lao động cần tiền lương. Nhưng cả hai cùng cần doanh nghiệp tồn tại; năng suất tăng; thị trường phát triển;xã hội ổn định. Từ đây xuất hiện một không gian rất quan trọng là thương lượng.

16. HƯNG QUỐC: TỪ “ĐẤU TRANH” ĐẾN “QUẢN TRỊ XUNG ĐỘT”

Đây là nơi Hưng Quốc học bắt đầu rẽ sang một hướng khác. Marx giúp ta nhận diện xung đột lợi ích.

Hưng Quốc cần đặt thêm câu hỏi một quốc gia trưởng thành phải làm gì với xung đột lợi ích ấy? Không phải phủ nhận. Không phải che giấu. Không phải kích thích nó vô hạn, mà là thiết kế thể chế để xung đột có thể được bộc lộ, thương lượng và giải quyết mà không phá vỡ cộng đồng chính trị.

Đó là một chuyển đổi quan trọng từ đấu tranh giai cấp → quản trị xung đột xã hội. Một nền kinh tế khỏe mạnh không cần giả vờ rằng doanh nghiệp và người lao động luôn có cùng lợi ích. Nhưng cũng không cần coi họ là hai lực lượng phải tiêu diệt nhau.

Có thể có công đoàn; hiệp hội doanh nghiệp; thương lượng tập thể; trọng tài; tòa án lao động; luật cạnh tranh; luật phá sản; hệ thống an sinh; thuế; đại diện chính trị.Những cơ chế ấy không xóa bỏ khác biệt lợi ích. Chúng thể chế hóa khác biệt lợi ích. Đó là một bước tiến quan trọng từ xã hội vận hành bằng xung đột tự phát sang xã hội vận hành bằng luật lệ.

17. HƯNG QUỐC KHÔNG PHỦ NHẬN XUNG ĐỘT

Điều này rất quan trọng. Nếu phản biện Marx bằng cách nói mọi người đều cùng chung lợi ích quốc gia thì cũng không đủ. Bởi lợi ích thực tế luôn khác nhau. Doanh nghiệp muốn chính sách thuế khác. Người lao động muốn chính sách tiền lương khác. Người tiêu dùng muốn giá thấp. Người sản xuất muốn giá cao hơn. Người thuê nhà muốn giá thuê thấp. Chủ nhà muốn giá thuê cao.Người nộp thuế muốn thuế thấp. Nhà nước cần nguồn thu để cung cấp dịch vụ công. Người trẻ muốn thay đổi nhanh. Người lớn tuổi có thể ưu tiên ổn định.

Không có xã hội nào hoàn toàn không có xung đột lợi ích. Một lý thuyết kiến quốc trưởng thành phải thừa nhận xung đột nhưng không thần thánh hóa xung đột. Đó là ranh giới rất quan trọng giữa: phân tích xung đột và chính trị hóa mọi khác biệt thành chiến tranh xã hội.

18. “GIAI CẤP” VÀ “NHÂN DÂN” KHÔNG PHẢI HAI KHÁI NIỆM CÙNG TẦNG

Đối với Hưng Quốc học, đây là một điểm đặc biệt quan trọng. “Giai cấp” là một khái niệm phân tích quan hệ kinh tế – xã hội. “Nhân dân” là một khái niệm về cộng đồng chính trị và chủ thể của quốc gia. Không thể dùng cái này thay cho cái kia. Một người có thể đồng thời là người lao động; chủ doanh nghiệp nhỏ; cha mẹ; công dân; thành viên cộng đồng; người nộp thuế; người tiêu dùng; người tham gia xã hội. Nếu chỉ nhìn họ qua một thuộc tính giai cấp, chúng ta làm nghèo con người.

Một quốc gia không phải là một tập hợp những giai cấp đang chờ xung đột. Nó là một cộng đồng gồm những con người có lợi ích khác nhau nhưng cũng có những lợi ích chung.

Hưng Quốc vì vậy cần một khái niệm rộng hơn toàn dân không có nghĩa là không có xung đột lợi ích; toàn dân có nghĩa là có một không gian chính trị và pháp lý để những lợi ích khác nhau cùng tồn tại trong một trật tự chung.

19. TỪ “GIAI CẤP” ĐẾN “NĂNG LỰC HỢP TÁC”

Đây là một trong những điểm Hưng Quốc học có thể phát triển vượt khỏi Marx. Một quốc gia mạnh không phải quốc gia không có mâu thuẫn. Một quốc gia mạnh là quốc gia có khả năng chuyển mâu thuẫn thành hợp tác có tổ chức. Doanh nghiệp và người lao động có thể cùng nâng năng suất. Người giàu và người nghèo có thể cùng hưởng lợi từ một hệ thống giáo dục tốt. Nhà nước và thị trường có thể bổ trợ nhau trong những lĩnh vực phù hợp.

Các địa phương có thể cạnh tranh nhưng vẫn chia sẻ lợi ích quốc gia.Các thế hệ có thể có ưu tiên khác nhau nhưng cùng đầu tư vào tương lai.

Đó là hợp tác trong khác biệt. Không phủ nhận xung đột. Không biến xung đột thành bản sắc duy nhất của xã hội.

20. QUY LUẬT VẬN HÀNH HƯNG QUỐC

Từ Marx, có thể giữ lại một nguyên tắc rất mạnh bất cứ nơi nào có sự phân phối quyền lực, tài sản, cơ hội và lợi ích không đồng đều, ở đó có khả năng xuất hiện xung đột lợi ích.

Nhưng Hưng Quốc phải bổ sung:

Một thể chế tốt không cố làm cho mọi lợi ích giống nhau; nó tạo ra luật chơi để những lợi ích khác nhau có thể cạnh tranh, thương lượng và cùng tồn tại trong giới hạn của lợi ích chung.

Từ đó hình thành một chuỗi Khác biệt lợi ích → xung đột → tổ chức → thương lượng → luật lệ → thỏa hiệp → điều chỉnh thể chế.

Nếu không có tổ chức xung đột dễ trở thành tự phát. Nếu không có luật xung đột dễ trở thành quyền lực của kẻ mạnh. Nếu không có thương lượng xung đột dễ tích tụ. Nếu không có giới hạn một nhóm có thể áp đảo nhóm khác. Nếu không có lợi ích chung thỏa hiệp khó bền vững. Do đó Năng lực kiến quốc không phải là xóa bỏ xung đột; đó là nâng cấp phương thức xã hội xử lý xung đột.

21. PHẢN ĐỀ: KHI “ĐẤU TRANH GIAI CẤP” TRỞ THÀNH MỘT CÁCH NHÌN DUY NHẤT

Đây là giới hạn lớn nhất cần đặt ra. Nếu mọi quan hệ xã hội đều được đọc trước tiên như: kẻ áp bức – người bị áp bức,thì những quan hệ khác có thể bị che khuất. Một công ty có quan hệ chủ – thợ. Nhưng cũng có quan hệ kỹ sư – công nhân;quản lý – nhân viên; người mua – người bán; nhà nước – doanh nghiệp; doanh nghiệp – người tiêu dùng; doanh nghiệp – ngân hàng; doanh nghiệp – cộng đồng địa phương. 

Một người lao động đồng thời có thể là người tiêu dùng; cổ đông; chủ nhà; người nộp thuế; cha mẹ; công dân. Lợi ích của họ không phải lúc nào cũng đồng nhất với “lợi ích giai cấp” được giả định.

Một công nhân có thể muốn lương cao nhưng cũng muốn doanh nghiệp mình làm việc không phá sản. Một người tiêu dùng có thể muốn giá thấp nhưng đồng thời là người lao động muốn lương cao. Một doanh nghiệp có thể muốn thuế thấp nhưng cũng cần hạ tầng công cộng. Con người vì thế sống trong nhiều quan hệ chồng lên nhau. Đây là điểm mà một lý thuyết giai cấp đơn tuyến có thể không đủ để giải thích xã hội hiện đại.

22. GIAI CẤP TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ

Thế kỷ XXI đặt ra những câu hỏi mới cho Marx.

Một nền kinh tế kỹ thuật số có chủ sở hữu nền tảng; nhà đầu tư; nhân viên tri thức; lao động tự do; người bán hàng; tài xế nền tảng; người sáng tạo nội dung; người sở hữu dữ liệu; người sử dụng thuật toán. Một người lái xe cho nền tảng kỹ thuật số có thể sở hữu chiếc xe của mình nhưng vẫn phụ thuộc vào thuật toán, hệ thống đánh giá và nền tảng phân phối khách hàng. Vậy họ có phải “vô sản” theo nghĩa Marx cổ điển không?

Câu trả lời không nên được quyết định bằng một cái nhãn. Phải phân tích họ sở hữu gì? họ kiểm soát gì? họ phụ thuộc vào ai? nguồn thu nhập đến từ đâu? ai kiểm soát dữ liệu? ai quyết định giá? ai phân bổ công việc? ai chịu rủi ro? Đó là cách đưa phương pháp Marx vào thế kỷ XXI mà không biến Marx thành một bảng phân loại có sẵn.

23. CASE STUDY MỞ RỘNG – LAO ĐỘNG NỀN TẢNG

Lao động nền tảng là một ví dụ rất thích hợp. Một tài xế có phương tiện riêng. Họ không phải công nhân nhà máy theo nghĩa thế kỷ XIX. Nhưng nền tảng có thể quyết định cách phân phối đơn hàng; hệ thống đánh giá; mức độ tiếp cận khách hàng; điều kiện sử dụng dịch vụ; cách dữ liệu được vận hành.

Vì vậy, quyền sở hữu vật chất đối với chiếc xe không đồng nghĩa với toàn quyền kiểm soát quá trình kinh tế. Điều này gợi ra một khái niệm mà Marx chưa thể biết quyền lực thuật toán. Trong nền kinh tế số, một phần quyền lực có thể chuyển từ: sở hữu máy móc sang kiểm soát dữ liệu, nền tảng, tiêu chuẩn và thuật toán. Đây là một mở rộng quan trọng của câu hỏi Marx Ai kiểm soát điều kiện mà trong đó lao động được tổ chức?

24. HƯNG QUỐC: TỪ GIAI CẤP ĐẾN “XÃ HỘI CÓ KHẢ NĂNG THƯƠNG LƯỢNG”

Từ đây có thể hình thành một khái niệm phù hợp hơn với Hưng Quốc XÃ HỘI CÓ KHẢ NĂNG THƯƠNG LƯỢNG. Một xã hội trưởng thành không phải xã hội không có xung đột. Đó là xã hội trong đó xung đột được nhìn thấy; lợi ích được đại diện; tiếng nói được bảo vệ; quyền lực bị giới hạn; tranh chấp được đưa vào luật; thỏa hiệp có thể được hình thành; và khi thỏa hiệp thất bại, vẫn có những cơ chế hòa bình để thay đổi luật chơi.

Đây là một bước chuyển căn bản từ xã hội đấu tranh sang xã hội quản trị được đấu tranh. Không phải vì xung đột biến mất. Mà vì thể chế trưởng thành hơn xung đột.

25. ĐIỀU MARX ĐỂ LẠI

Sau khi đi qua khái niệm giai cấp, có ít nhất năm câu hỏi Marx để lại cho nghiên cứu xã hội hiện đại.

Thứ nhất: Ai sở hữu những nguồn lực quyết định?

Thứ hai: Ai kiểm soát quá trình sản xuất?

Thứ ba: Ai được hưởng phần lớn thành quả?

Thứ tư: Ai có khả năng thương lượng?

Thứ năm: Khi lợi ích xung đột, xã hội giải quyết bằng cách nào?

Đây là những câu hỏi vẫn còn giá trị ngay cả khi người ta không chấp nhận toàn bộ lý thuyết Marx. Bởi chúng buộc chúng ta nhìn vào quyền lực phía sau các con số kinh tế. GDP có thể tăng. Nhưng ai được hưởng? Năng suất có thể tăng. Nhưng ai kiểm soát công nghệ?Tài sản có thể tăng. Nhưng ai sở hữu? Tiền lương có thể tăng. Nhưng chi phí sinh hoạt tăng bao nhiêu? Doanh nghiệp có thể phát triển.

Nhưng người lao động có quyền thương lượng đến đâu? Đó là sức mạnh của câu hỏi Marx.

26. ĐIỀU HƯNG QUỐC KHÔNG TIẾP NHẬN NGUYÊN XI

Nhưng từ những câu hỏi đó không thể tự động suy ra rằng xã hội phải được tổ chức thành cuộc đấu tranh thường trực giữa các giai cấp.

Hưng Quốc không lấy xung đột làm mục tiêu. Không coi một giai cấp là kẻ thù vĩnh viễn. Không coi sự giàu có tự thân là bằng chứng của bóc lột. Không coi người lao động là một khối thống nhất tuyệt đối. Không coi toàn bộ xã hội có thể được giải thích bằng một trục duy nhất.

Thay vào đó Hưng Quốc tiếp nhận phương pháp nhận diện quyền lực và lợi ích, nhưng đặt mục tiêu cuối cùng ở năng lực hợp tác và phát triển của toàn xã hội. Đây là một khác biệt nền tảng.

Marx giúp chúng ta nhìn thấy vết nứt. Hưng Quốc phải hỏi làm thế nào để xây được cây cầu qua vết nứt đó?

KẾT LUẬN CHƯƠNG VI

Khái niệm giai cấp của Marx không bắt đầu từ câu hỏi Ai giàu? Ai nghèo? Nó bắt đầu từ câu hỏi Con người đứng ở đâu trong quan hệ sản xuất và quyền lực?

Từ đó, Marx đi đến luận điểm rằng những vị trí khác nhau có thể tạo ra những lợi ích khác nhau, và trong chủ nghĩa tư bản, quan hệ giữa tư bản và lao động chứa đựng những xung đột lợi ích có tính cấu trúc. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đặt đấu tranh giai cấp vào trung tâm của cách Marx và Engels giải thích sự biến đổi lịch sử, còn Value, Price and Profit cho thấy đấu tranh giữa vốn và lao động có thể biểu hiện ngay trong những tranh chấp cụ thể về tiền lương và điều kiện lao động.

Nhưng chính việc đọc Marx kỹ cũng cho thấy giai cấp không phải một nhãn đạo đức; đấu tranh giai cấp không đồng nghĩa với cách mạng; xung đột lợi ích không đồng nghĩa với bất khả năng thỏa hiệp; và vị trí kinh tế không tự động tạo ra ý thức chính trị. Đó là những ranh giới cần giữ.

Hưng Quốc học có thể tiếp nhận một câu hỏi rất mạnh từ Marx ai có quyền lực, ai kiểm soát nguồn lực, ai được hưởng thành quả và ai có khả năng thương lượng? Nhưng Hưng Quốc đặt thêm một câu hỏi mà lý thuyết giai cấp không thể tự mình giải quyết làm thế nào để những con người có lợi ích khác nhau vẫn có thể cùng xây dựng một quốc gia?

Từ đó, khái niệm đấu tranh phải được bổ sung bằng khái niệm thể chế. Xung đột cần được nhìn thấy. Lợi ích cần được đại diện. Quyền lực cần bị giới hạn. Tranh chấp cần có luật. Thỏa hiệp cần có không gian và khi luật chơi không còn phù hợp, xã hội phải có khả năng sửa luật mà không cần phá hủy toàn bộ cộng đồng.

Đó là bước chuyển từ đấu tranh giai cấp đến quản trị xung đột xã hội. Nhưng để hiểu tại sao Marx đặt nặng những xung đột ấy, chúng ta vẫn còn thiếu một mảnh ghép. Nếu giai cấp được xác định bởi vị trí trong quan hệ sản xuất, thì câu hỏi tiếp theo phải là Tư bản thực chất là gì? Có phải chỉ là tiền? Có phải chỉ là máy móc? Có phải chỉ là nhà xưởng?

Hay tư bản là một quan hệ xã hội, trong đó tiền, máy móc, hàng hóa và sức lao động được tổ chức thành một cơ chế tự mở rộng giá trị? Đây là bước chuyển từ giai cấp sang tư bản.

Và đó là Chương VII:

TƯ BẢN – MÁY MÓC, THỊ TRƯỜNG VÀ QUYỀN LỰC

Khi tiền không còn chỉ là tiền, mà trở thành một quan hệ vận động để tạo ra thêm tiền.

Chương VII sẽ là một chương then chốt về kinh tế chính trị Marx: hàng hóa → tiền → tư bản → sức lao động → máy móc → tích lũy → quyền lực. Ở đó cần đặc biệt tránh cách giải thích giản đơn “Marx chống tiền” hay “Marx chống thị trường”, vì vấn đề của Marx sâu hơn: ông muốn giải phẫu quan hệ xã hội ẩn phía sau những hình thức kinh tế tưởng như trung tính.

Hoàng Phong Nhã 

Sunday, September 27, 2026

CHƯƠNG 5 - ĐỐI THOẠI HƯNG QUỐC VỚI MARXISM VÀ ENGELSISM - LAO ĐỘNG VÀ SỰ THA HÓA


PHẦN III — CON NGƯỜI – LAO ĐỘNG – GIAI CẤP

CHƯƠNG V

LAO ĐỘNG VÀ SỰ THA HÓA

Khi hoạt động tạo ra thế giới cũng có thể khiến con người xa lạ với chính mình . Có một câu hỏi nằm ở trung tâm tư tưởng Marx mà nếu chỉ đọc Marx như một nhà kinh tế chính trị thì rất dễ bỏ qua. Con người đang sống bằng lao động của mình, nhưng liệu họ có thực sự làm chủ hoạt động mà mình dành phần lớn đời sống cho nó hay không? Con người lao động để tạo ra của cải.

Nhưng nếu sản phẩm do họ tạo ra thuộc về một quyền lực khác thì sao? Con người sử dụng trí tuệ, sức lực và thời gian của mình để sản xuất.

Nhưng nếu chính quá trình sản xuất ấy trở thành một hoạt động mà họ không còn cảm thấy là của mình thì sao? Con người tạo ra thế giới vật chất.

Nhưng nếu thế giới ấy quay trở lại như một quyền lực xa lạ chi phối họ thì sao? Đây là điểm xuất phát của khái niệm tha hóa (alienation, Entfremdung) trong Marx thời kỳ đầu.

Khái niệm này xuất hiện đặc biệt rõ trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844. Những bản thảo được Marx viết trong năm 1844 nhưng chỉ được xuất bản lần đầu vào năm 1932, vì vậy lịch sử tiếp nhận chúng diễn ra muộn hơn rất nhiều so với những tác phẩm Marx đã công bố khi còn sống.

Điều đó lập tức đặt ra một yêu cầu phương pháp. Không được lấy Marx năm 1844 rồi coi đó là toàn bộ Marx. Nhưng cũng không được bỏ qua Marx năm 1844 chỉ vì ông về sau phát triển một hệ thống phân tích kinh tế chính trị phức tạp hơn.Vì trong những bản thảo ấy đã xuất hiện một câu hỏi sẽ theo Marx trong nhiều hình thức khác nhau, điều gì xảy ra với con người khi những quan hệ xã hội do con người tạo ra quay trở lại thống trị chính con người?

1. LAO ĐỘNG KHÔNG CHỈ LÀ CÁCH KIẾM SỐNG

Trong cách hiểu thông thường, lao động trước hết là phương tiện để có thu nhập.

Con người đi làm được trả lương. Dùng tiền để ăn, ở, học tập, chăm sóc gia đình và xây dựng cuộc sống. Cách nhìn này hoàn toàn đúng ở một tầng rất quan trọng.

Nhưng Marx hỏi sâu hơn, lao động có ý nghĩa gì đối với chính con người? Một người thợ làm ra một chiếc bàn. Một kỹ sư thiết kế một cây cầu. Một nông dân trồng lúa. Một bác sĩ chữa bệnh. Một giáo viên dạy học. Một lập trình viên viết phần mềm.

Ở mỗi trường hợp, lao động không chỉ tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch vụ. Nó cũng là một cách con người sử dụng năng lực của mình để biến thế giới. Con người nhìn thấy một ý tưởng trong đầu và biến nó thành vật thể. Nhìn thấy một vấn đề và tìm cách giải quyết. Nhìn thấy một nhu cầu và tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu ấy. Theo nghĩa đó, lao động có thể là một hình thức sáng tạo và tự khẳng định. Đây là một điểm quan trọng trong Marx thời kỳ đầu.

Con người không chỉ tồn tại trong tự nhiên như một sinh vật thụ động. Con người có khả năng biến đổi tự nhiên một cách có ý thức, tạo ra những hình thức đời sống mới và nhận ra chính mình trong thế giới do mình tạo ra. Marx gọi con người là một “species-being”, thường được dịch là “sinh thể loài”, “bản chất loài” hay “thực thể loài”, tùy bản dịch và cách diễn giải.

Vì vậy, câu hỏi của Marx không đơn giản là người lao động có được trả lương đủ hay không? Mà còn là họ có quyền năng, phẩm giá và khả năng tự phát triển như thế nào trong chính hoạt động lao động của mình? Đây là nơi lý thuyết tha hóa bắt đầu.

2. MARX NÓI “THA HÓA” LÀ GÌ?

Trong Bản thảo 1844, Marx phân tích lao động tha hóa theo nhiều chiều liên hệ với nhau. Cách trình bày nổi tiếng nhất thường được khái quát thành bốn phương diện: con người bị tách khỏi sản phẩm lao động; bị tách khỏi chính hoạt động lao động; bị tách khỏi khả năng phát triển những năng lực người của mình; và bị tách khỏi những người khác. Đây không phải bốn hiện tượng hoàn toàn tách biệt. Chúng tạo thành một chuỗi. Người lao động tạo ra sản phẩm nhưng không kiểm soát sản phẩm. Vì vậy hoạt động tạo ra sản phẩm cũng bị đặt dưới một mục đích bên ngoài người lao động.

Khi hoạt động sống bị biến thành phương tiện thuần túy để tồn tại, khả năng tự phát triển của con người bị thu hẹp, và khi mỗi người phải cạnh tranh với những người khác trong cùng một cấu trúc, quan hệ giữa người với người cũng có thể trở nên xa lạ.

Marx viết trong Estranged Labour rằng sản phẩm của lao động có thể đối diện với người lao động như một quyền lực xa lạ; ông cũng phân tích sự xa lạ không chỉ trong sản phẩm cuối cùng mà ngay trong hành vi sản xuất. Đây là điểm cần nhấn mạnh, tha hóa không chỉ có nghĩa là “khổ”.

Một người có thể làm việc rất vất vả nhưng không nhất thiết bị tha hóa theo nghĩa Marx. Ngược lại, một người có thể có thu nhập khá nhưng vẫn trải nghiệm công việc như một hoạt động hoàn toàn xa lạ với mục đích, năng lực và đời sống của mình. Tha hóa vì thế không thể được đo bằng tiền lương đơn thuần.

3. THA HÓA KHỎI SẢN PHẨM

Hãy bắt đầu từ điều dễ hiểu nhất. Một người công nhân làm ra một sản phẩm. Nhưng sản phẩm ấy không thuộc về họ. Điều này tự nó không phải một vấn đề bất thường. Trong nền kinh tế hiện đại, người lao động thường sản xuất cho doanh nghiệp và nhận tiền công thay vì trực tiếp sở hữu sản phẩm.

Vấn đề Marx đặt ra nằm sâu hơn:

Người lao động không chỉ không sở hữu sản phẩm; họ cũng không quyết định được sản phẩm ấy được sử dụng như thế nào, sản xuất để phục vụ mục đích gì và giá trị do nó tạo ra được phân phối ra sao.

Trong Bản thảo 1844, Marx diễn đạt nghịch lý này rất mạnh: càng sản xuất nhiều, người lao động càng có thể trở nên phụ thuộc vào một thế giới vật chất không thuộc quyền kiểm soát của mình.

Ở đây cần tránh hiểu Marx theo nghĩa công nhân phải sở hữu mọi thứ mình làm ra. Đó không phải là toàn bộ lập luận. Vấn đề sâu hơn là quan hệ quyền lực đối với sản phẩm và quá trình sản xuất.

Một người có thể không sở hữu chiếc điện thoại mình sản xuất nhưng vẫn có tiếng nói đáng kể về tổ chức công việc, tiêu chuẩn an toàn, thời gian lao động, quyền thương lượng và điều kiện làm việc. Ngược lại, một người có thể không sở hữu doanh nghiệp nhưng có quyền tự chủ nghề nghiệp rất cao. Do đó sở hữu là một yếu tố của tha hóa, nhưng không phải toàn bộ khái niệm tha hóa. Đây là một ranh giới cần giữ khi đưa Marx vào thế kỷ XXI.

4. THA HÓA NGAY TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG

Đây mới là phần sâu nhất. Nếu một người không thích sản phẩm mình làm ra, họ vẫn có thể hoàn thành công việc. Nhưng nếu chính hoạt động làm việc trở thành thứ họ cảm thấy hoàn toàn bên ngoài mình thì vấn đề khác hẳn.

Marx cho rằng trong lao động bị tha hóa, con người có thể không cảm thấy mình đang thực hiện năng lực sống của chính mình mà chỉ đang thực hiện một hoạt động cần thiết để duy trì sự tồn tại. Nói đơn giản làm việc để sống, nhưng công việc không còn là một phần có ý nghĩa của đời sống mà trở thành điều tôi buộc phải bán một phần đời mình để đổi lấy khả năng tiếp tục sống. Đây là một nhận xét có sức nặng triết học.

Bởi thời gian lao động không phải thứ nằm ngoài cuộc đời. Một người làm việc tám giờ mỗi ngày, năm hoặc sáu ngày một tuần, trong hàng chục năm, đang dành một phần rất lớn đời mình cho hoạt động ấy. Nếu toàn bộ thời gian đó chỉ được trải nghiệm như một sự cưỡng bức bên ngoài, vấn đề không còn là tiền lương. Nó trở thành vấn đề về đời sống con người.

5. “LAO ĐỘNG TỰ DO” VÀ MỘT NGHỊCH LÝ

Marx không phủ nhận rằng con người phải lao động. Con người cần ăn, mặc, nhà ở, sản xuất. Ngay cả trong một xã hội không có tư bản chủ nghĩa, con người vẫn phải làm việc. Vậy vấn đề không thể là lao động = tha hóa. Vấn đề là một hình thức tổ chức lao động cụ thể có thể biến lao động từ hoạt động có ý nghĩa của con người thành một hoạt động bị chi phối bởi những lực lượng mà người lao động không kiểm soát hay không? Đây là câu hỏi chính xác hơn.

Một bác sĩ có thể làm việc rất nhiều nhưng vẫn cảm thấy nghề nghiệp là một phần căn tính của mình. Một nhà nghiên cứu có thể dành hàng chục năm cho một lĩnh vực và xem chính quá trình nghiên cứu là sự phát triển bản thân. Một nghệ nhân có thể lao động cực nhọc nhưng đồng thời trải nghiệm nghề nghiệp như một hình thức sáng tạo. Vì vậy, cường độ lao động không phải thước đo duy nhất của tha hóa. Quyền tự chủ, ý nghĩa, khả năng sáng tạo, quan hệ xã hội và mức độ kiểm soát đối với quá trình lao động đều quan trọng.

6. THA HÓA KHỎI “ĐỜI SỐNG LOÀI”

Đây là phần khó nhất trong tư tưởng Marx thời kỳ đầu. Marx cho rằng con người có khả năng biến hoạt động sống của mình thành đối tượng có ý thức.Con người có thể không chỉ làm để tồn tại mà còn tạo ra, học hỏi, sáng tạo, hợp tác và mở rộng năng lực của mình.

Trong Bản thảo 1844, Marx liên hệ lao động với cái ông gọi là “species-life” – đời sống của con người với tư cách một sinh thể có khả năng hoạt động có ý thức và phổ quát. Khi lao động chỉ còn là phương tiện kiếm sống, năng lực ấy có thể bị đảo ngược đời sống trở thành phương tiện cho lao động. Đây là một trong những nghịch lý sâu nhất mà Marx nêu ra. Con người tạo ra kinh tế để phục vụ đời sống.

Nhưng nếu cấu trúc kinh tế bắt đầu quyết định toàn bộ đời sống, con người có thể biến thành phương tiện cho chính hệ thống mà họ tạo ra. Điều này giải thích vì sao lý thuyết tha hóa có sức ảnh hưởng lâu dài vượt khỏi kinh tế chính trị. Nó được các truyền thống triết học xã hội về sau tiếp tục phát triển, trong đó có Frankfurt School và Herbert Marcuse.

7. THA HÓA KHỎI NGƯỜI KHÁC

Một người bị tha hóa khỏi lao động cũng có thể bị tha hóa khỏi người khác. Tại sao?Vì quan hệ giữa những người cùng lao động không còn chỉ là quan hệ cộng tác giữa những con người có mục tiêu chung. Họ có thể trở thành đối thủ. Đối thủ tìm việc, cạnh tranh tiền lương, tranh thăng chức, tranh thị phần,tranh nguồn lực.

Trong Bản thảo 1844, Marx cho rằng sự xa lạ của con người với chính lao động của mình đồng thời tạo ra sự xa lạ trong quan hệ giữa người với người. Điểm này không có nghĩa cạnh tranh luôn xấu. Đó sẽ là một kết luận vượt quá văn bản của Marx. Cạnh tranh có thể thúc đẩy năng suất, sáng tạo và đổi mới.

Nhưng cạnh tranh cũng có thể trở thành một cơ chế phá vỡ hợp tác nếu toàn bộ quan hệ xã hội bị quy về thắng – thua. Vì vậy, câu hỏi hiện đại phải là làm thế nào để có cạnh tranh mà vẫn duy trì được khả năng hợp tác và phẩm giá của người tham gia? Đây là câu hỏi mà Marx thời kỳ đầu đặt ra theo một ngôn ngữ khác.

8. TỪ “THA HÓA” ĐẾN “TƯ HỮU”: QUAN HỆ NÀO LÀ NGUYÊN NHÂN?

Một vấn đề rất quan trọng trong Bản thảo 1844 là quan hệ giữa lao động tha hóa và sở hữu tư nhân.

Marx không chỉ nói sở hữu tư nhân → tha hóa lao động. Lập luận của ông phức tạp hơn.

Ông tìm cách cho thấy sở hữu tư nhân vừa là kết quả của lao động bị tha hóa vừa là hình thức vật chất của quan hệ tha hóa ấy. Trong văn bản, Marx nói rõ rằng ông muốn truy nguyên các quan hệ kinh tế từ chính quá trình lao động bị tha hóa. Đây là điểm cho thấy Marx năm 1844 vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh của triết học Hegel.

Ông đang tìm một cấu trúc nội tại giải thích tại sao những phạm trù như lao động, sở hữu, tiền lương và tư bản liên hệ với nhau. Nhưng cần thận trọng. Marx trưởng thành về sau không đơn giản lặp lại cách trình bày năm 1844. Trong Tư bản, ông chuyển trọng tâm sang phân tích các quan hệ hàng hóa, giá trị, lao động, sức lao động, tư bản và quá trình sản xuất giá trị thặng dư.

Nói cách khác khái niệm tha hóa không biến mất hoàn toàn khỏi thế giới tư tưởng Marx, nhưng cách Marx phân tích chủ nghĩa tư bản đã thay đổi đáng kể.

9. MARX TRƯỞNG THÀNH: TỪ “THA HÓA” ĐẾN “SỨC LAO ĐỘNG”

Đây là bước chuyển rất quan trọng. Trong Tư bản, Marx không bắt đầu bằng câu hỏi con người có cảm thấy xa lạ với công việc không? Ông bắt đầu bằng những phạm trù kinh tế có cấu trúc chặt chẽ hơn. Hàng hóa. Giá trị sử dụng. Giá trị. Lao động. Sức lao động. Tư bản. Quá trình lao động. Giá trị thặng dư.

Trong Chương VII của Tư bản, Marx phân tích quá trình lao động như một quá trình mà trong đó con người tác động vào tự nhiên thông qua hoạt động có mục đích và công cụ lao động. Ông nhấn mạnh rằng quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng có những đặc điểm chung vượt lên trên hình thức xã hội cụ thể, rồi mới phân tích hình thức của nó dưới chủ nghĩa tư bản.

Đây là điểm rất quan trọng. Lao động tự nó không phải là một hiện tượng riêng của chủ nghĩa tư bản. Con người đã lao động trước chủ nghĩa tư bản. Con người vẫn phải lao động trong bất kỳ xã hội nào. Vấn đề nằm ở hình thức xã hội mà trong đó lao động được tổ chức. Đây là sự trưởng thành đáng kể trong phương pháp của Marx. Ông không còn chỉ hỏi lao động có bị tha hóa không?. Ông hỏi trong một phương thức sản xuất nhất định, lao động được tổ chức thông qua những quan hệ xã hội nào?

10. TỪ LAO ĐỘNG ĐẾN “SỨC LAO ĐỘNG”

Một trong những phân biệt quan trọng nhất trong Tư bản là giữa lao động và sức lao động. Người lao động bán sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Nhà tư bản mua quyền sử dụng sức lao động đó trong quá trình sản xuất.

Marx phân tích đây là điểm đặc biệt của quan hệ tư bản chủ nghĩa: sức lao động trở thành một loại hàng hóa, và việc sử dụng nó trong sản xuất có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của chính sức lao động được mua. Đó là nền tảng của phân tích giá trị thặng dư về sau. Đây là bước chuyển từ triết học sang kinh tế chính trị.

Tha hóa không còn chỉ được trình bày như một trải nghiệm tinh thần. Nó được đặt vào một cấu trúc:

ai sở hữu tư liệu sản xuất → ai sở hữu sức lao động → ai kiểm soát quá trình sản xuất → sản phẩm thuộc về ai → giá trị được phân phối như thế nào. Từ đây, Chương V bắt đầu nối trực tiếp sang các chương kinh tế của cuốn sách.

11. CASE STUDY – NHÀ MÁY CÔNG NGHIỆP

Hãy hình dung một nhà máy thế kỷ XIX. Một người công nhân làm việc trong một hệ thống sản xuất lớn. Trước đó, một người thợ thủ công có thể trực tiếp làm ra phần lớn sản phẩm.Trong nhà máy, công việc được phân chia. Một người chỉ thực hiện một công đoạn. Một người khác kiểm tra.Một người vận hành máy. Một người quản lý tốc độ. Một người kiểm soát nguyên liệu. Một người sở hữu nhà máy. Sản phẩm cuối cùng là kết quả của hàng trăm người.

Nhưng không một cá nhân nào trong số họ có thể nói đây hoàn toàn là sản phẩm của tôi. Đó là một sự thay đổi căn bản trong tổ chức lao động. Marx nhìn thấy trong sự thay đổi ấy một nghịch lý năng lực sản xuất của xã hội tăng lên, nhưng cá nhân có thể ngày càng ít kiểm soát điều kiện mà trong đó năng lực của mình được sử dụng. Đây là một trong những căng thẳng trung tâm của công nghiệp hóa. Nhưng cũng phải nhìn mặt thứ hai. Phân công lao động và máy móc không chỉ tạo ra tha hóa. Chúng cũng tạo ra năng suất cao hơn; sản xuất quy mô lớn; sản phẩm rẻ hơn; kỹ năng mới; thị trường rộng hơn; chuyên môn hóa; và những khả năng vật chất mà nền sản xuất thủ công khó đạt được.

Nếu chỉ nhìn mặt tha hóa mà bỏ qua những năng lực sản xuất mới, ta sẽ không hiểu được toàn bộ lịch sử công nghiệp. Đây chính là nơi phép biện chứng của chương trước phải quay trở lại. Một quá trình có thể đồng thời tạo ra năng lực và tạo ra vấn đề.

12. PHẢN ĐỀ: KHÔNG PHẢI MỌI CÔNG VIỆC KHÔNG THÚ VỊ ĐỀU LÀ THA HÓA

Đây là ranh giới cần thiết để tránh biến Marx thành một nhà phê phán mọi lao động.

Có những công việc đơn điệu, nặng nhọc,nguy hiểm. Nhưng không phải cứ công việc khó chịu là tha hóa theo nghĩa đầy đủ của Marx. Một người có thể làm công việc đơn điệu nhưng vẫn có thu nhập ổn định; có quyền thương lượng; có thời gian nghỉ ngơi; có quan hệ xã hội tốt;có cơ hội học tập;có quyền thay đổi nghề nghiệp; và nhìn thấy ý nghĩa trong việc mình làm.

Ngược lại, một công việc rất “sáng tạo” vẫn có thể chứa tha hóa nếu người làm không có quyền kiểm soát mục đích, tiêu chuẩn và kết quả của chính công việc. Do đó tha hóa không phải là mức độ nhàm chán của công việc. Nó là một vấn đề về quan hệ giữa con người, hoạt động của mình, sản phẩm, những người khác và những điều kiện xã hội bao quanh hoạt động ấy. Đây là cách đọc Marx chính xác hơn.

13. THA HÓA TRONG THỜI ĐẠI TRI THỨC

Nếu đưa Marx vào thế kỷ XXI, vấn đề trở nên thú vị hơn. Một kỹ sư công nghệ có thể làm việc trong văn phòng hiện đại. Không có dây chuyền thép, tiếng máy dập, khói nhà máy. Nhưng vẫn có thể đặt câu hỏi Ai quyết định sản phẩm,  thuật toán,  tốc độ làm việc? Ai sở hữu dữ liệu? Ai kiểm soát tiêu chuẩn đánh giá? Ai sở hữu kết quả trí tuệ? Ai chịu trách nhiệm khi hệ thống gây hậu quả? Những câu hỏi ấy cho thấy tha hóa không nhất thiết biến mất khi công việc trở nên “trí thức”. Nó chỉ thay đổi hình thức.

Tuy nhiên, cũng không được suy ra rằng mọi lao động tri thức trong kinh tế thị trường đều tha hóa.Một nhà khoa học có thể có quyền tự chủ rất lớn. Một doanh nhân có thể vừa sở hữu vừa trực tiếp lao động. Một lập trình viên có thể tham gia vào cả thiết kế, quyết định sản phẩm và sở hữu một phần doanh nghiệp. Một người làm việc tự do có thể có nhiều quyền tự chủ hơn nhưng lại chịu rủi ro thu nhập cao hơn. Vì vậy, câu hỏi không phải là thị trường hay không thị trường? Mà là cấu trúc tổ chức nào giúp con người có khả năng phát triển năng lực, có quyền tự chủ và đồng thời duy trì hiệu quả sản xuất? Đây là một câu hỏi mà Marx mở ra nhưng không thể tự mình cung cấp toàn bộ câu trả lời cho nền kinh tế hiện đại.

14. HƯNG QUỐC ĐỌC LÝ THUYẾT THA HÓA

Đây là nơi Hưng Quốc học cần giữ khoảng cách rõ ràng với Marx. Marx giúp chúng ta đặt một câu hỏi rất quan trọng một nền kinh tế có thể giàu lên nhưng con người có thực sự mạnh lên hay không? GDP tăng, xuất khẩu tăng, nhà máy tăng, công nghệ tăng. Nhưng nếu con người không được học đầy đủ, không có cơ hội phát triển năng lực, không có quyền bảo vệ phẩm giá, không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, không có tiếng nói trong những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến mình, thì sức mạnh kinh tế ấy có thể không chuyển hóa đầy đủ thành sức mạnh con người.Đây là nơi Hưng Quốc có thể tiếp nhận câu hỏi của Marx.

Nhưng Hưng Quốc không cần đi đến kết luận rằng muốn giải phóng con người thì phải xóa bỏ toàn bộ thị trường hoặc sở hữu tư nhân. Đó là một bước kết luận vượt khỏi điều mà khái niệm tha hóa tự nó chứng minh được. Thay vào đó, có thể đặt ra một mục tiêu rộng hơn xây dựng một nền kinh tế trong đó tăng trưởng năng lực sản xuất đồng thời mở rộng năng lực của con người.

Đây là một khác biệt quan trọng Marx hỏi con người có bị biến thành công cụ của tư bản hay không?

Hưng Quốc có thể hỏi thêm làm thế nào để tư bản, công nghệ, thị trường và nhà nước cùng trở thành công cụ phục vụ sự phát triển của con người?

15. TỪ “GIẢI PHÓNG LAO ĐỘNG” ĐẾN “NÂNG CAO NĂNG LỰC”

Nếu chỉ nói “giải phóng người lao động”, khái niệm vẫn có thể quá hẹp. Một quốc gia hiện đại không chỉ cần bảo vệ người lao động khỏi bóc lột. Nó cần làm cho người lao động có năng lực lựa chọn. Một người có giáo dục tốt có nhiều lựa chọn hơn một người không có giáo dục.

Một người có kỹ năng có nhiều khả năng chuyển việc hơn người chỉ có một kỹ năng, có tài sản và tiết kiệm có sức chống chịu lớn hơn người không có dự phòng, được pháp luật bảo vệ có vị thế thương lượng khác với người không có quyền lực pháp lý. được tiếp cận công nghệ có khả năng sản xuất khác với người bị đứng ngoài cuộc cách mạng công nghệ.

Như vậy giải phóng không chỉ là lấy đi một quyền lực đang áp đặt lên con người. Nó còn là tạo cho con người năng lực để tự quyết định đời mình. Đây là điểm Hưng Quốc có thể phát triển xa hơn câu hỏi ban đầu của Marx.

16. LAO ĐỘNG VÀ PHẨM GIÁ

Có một điều trong tư tưởng Marx mà một Hưng Quốc học không nên bỏ qua con người không thể chỉ được nhìn như một đơn vị sản xuất. Một quốc gia có thể coi người dân là lao động, người tiêu dùng, nộp thuế, đóng góp GDP. Nhưng đó vẫn chưa phải toàn bộ con người. Họ còn là cha mẹ, con cái, công dân, người sáng tạo, người học, người hàng xóm, người tham gia cộng đồng, người có ước mơ, người có phẩm giá.

Nếu một nền kinh tế chỉ nhìn con người bằng năng suất, nó sẽ dễ biến con người thành nguồn lực.Nếu một nhà nước chỉ nhìn người dân bằng khả năng đóng góp, nó cũng có nguy cơ mắc sai lầm tương tự. Con người không phải “nguồn lực” theo nghĩa thuần túy. Nguồn lực là thứ con người sử dụng. Con người là chủ thể sử dụng nguồn lực. Đây là một ranh giới rất quan trọng trong tư duy kiến quốc.

17. QUY LUẬT VẬN HÀNH HƯNG QUỐC

Từ cuộc đối thoại với Marx về lao động và tha hóa, có thể rút ra một nguyên tắc một nền kinh tế mạnh không chỉ là nền kinh tế tạo ra nhiều của cải; đó phải là nền kinh tế làm tăng khả năng của con người tạo ra, lựa chọn và làm chủ cuộc sống của mình. Điều này dẫn đến năm câu hỏi:

Một: Người lao động có năng lực hay không?

Hai: Họ có cơ hội nâng cao năng lực hay không?

Ba: Họ có quyền thương lượng và được pháp luật bảo vệ hay không?

Bốn: Công việc có cho phép một mức độ tự chủ và sáng tạo phù hợp hay không?

Năm: Thành quả của tăng trưởng được chuyển hóa thành giáo dục, y tế, tài sản, cơ hội và khả năng tự chủ của người dân đến đâu?

Những câu hỏi này không phủ định thị trường. Chúng cũng không tự động khẳng định nhà nước phải kiểm soát sản xuất. Chúng đặt ra một tiêu chuẩn khác thể chế kinh tế phải được đánh giá không chỉ bằng lượng của cải tạo ra mà còn bằng năng lực con người mà nó tạo ra. Đó là bước chuyển từ lao động như chi phí sang con người như năng lực quốc gia.

18. RANH GIỚI GIỮA MARX 1844 VÀ MARX CỦA “TƯ BẢN”

Đây là một điểm cần khóa lại cho toàn bộ cuốn sách. Marx năm 1844. Trọng tâm là con người; lao động; tha hóa; tự do; bản chất loài; sở hữu tư nhân; quan hệ giữa con người và sản phẩm của mình.

Marx còn rất gần với triết học Hegel và Feuerbach. Các nghiên cứu triết học về Marx thường xem Bản thảo 1844 là văn bản quan trọng để hiểu lý thuyết tha hóa của ông.

Marx của Tư bản, trọng tâm chuyển mạnh sang hàng hóa; giá trị; lao động; sức lao động; tư bản; sản xuất; giá trị thặng dư; tích lũy; quan hệ xã hội của sản xuất.

Trong Tư bản, Marx phân tích quá trình lao động một cách có hệ thống hơn, trước hết như một quá trình con người tác động vào tự nhiên, sau đó phân tích hình thức đặc thù mà quá trình ấy mang trong quan hệ tư bản. Vì vậy, không nên nói. Marx 1844 = Marx toàn bộ. Cũng không nên nói: Marx trưởng thành đã hoàn toàn từ bỏ tha hóa. Cách chính xác hơn là khái niệm tha hóa thuộc về một giai đoạn phát triển quan trọng của tư tưởng Marx và có những vấn đề tiếp tục được chuyển hóa trong phân tích kinh tế chính trị về sau.

19. PHẢN ĐỀ LỚN: CÓ THỂ XÓA BỎ HOÀN TOÀN THA HÓA KHÔNG?

Đây là câu hỏi mà Marx để lại nhưng lịch sử thế kỷ XX khiến nó trở nên khó khăn hơn. Giả sử một xã hội xóa bỏ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Liệu tha hóa tự động biến mất? Không nhất thiết.

Một người có thể không làm việc cho một nhà tư bản tư nhân nhưng vẫn không có quyền kiểm soát công việc của mình. Một bộ máy nhà nước có thể thay thế quyền lực của doanh nghiệp tư nhân nhưng vẫn tổ chức lao động theo cách tập trung và áp đặt. Một doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể vẫn có thể có quản lý quan liêu. Một tổ chức phi lợi nhuận vẫn có thể khiến nhân viên kiệt sức. Một công ty công nghệ hiện đại vẫn có thể tạo ra cảm giác mất quyền kiểm soát dù không có dây chuyền nhà máy cổ điển.

Điều đó cho thấy tha hóa không thể được giải thích chỉ bằng câu hỏi “ai sở hữu tư liệu sản xuất?” Cần hỏi thêm ai quyết định? ai chịu trách nhiệm? ai có quyền phản đối? ai có thể rời đi? ai có quyền thương lượng? ai được hưởng thành quả? ai kiểm soát dữ liệu và thông tin? ai có khả năng thay đổi luật chơi? Đây là nơi lý thuyết tha hóa mở ra một câu hỏi rộng hơn về quyền lực trong tổ chức.

20. TỪ THA HÓA ĐẾN KIẾN QUỐC

Một quốc gia muốn hưng thịnh không thể chỉ hỏi chúng ta sản xuất được bao nhiêu? .Phải hỏi thêm chúng ta tạo ra những con người như thế nào? Một hệ thống giáo dục tốt tạo ra người có năng lực. Một thị trường lao động tốt tạo ra cơ hội. Một hệ thống pháp luật tốt bảo vệ quyền thương lượng. Một nền kinh tế cạnh tranh tạo động lực đổi mới. Một hệ thống an sinh tốt giúp con người chịu được những cú sốc mà không mất hoàn toàn khả năng tự chủ. Một thể chế minh bạch giúp người dân biết mình đang tham gia vào một luật chơi nào.Những điều đó không làm cho mọi công việc trở nên lý tưởng.

Nhưng chúng làm giảm nguy cơ con người bị biến thành những bánh răng hoàn toàn bị động trong một hệ thống mà họ không hiểu và không thể tác động. Đó là một mục tiêu kiến quốc thực tế hơn việc tìm kiếm một xã hội “không còn mọi tha hóa”.

KẾT LUẬN CHƯƠNG V

Marx bắt đầu từ một điều rất đơn giản con người phải lao động để sống. Nhưng từ đó ông đi đến một câu hỏi rất sâu nếu chính hoạt động mà con người dùng để tạo ra đời sống lại trở thành một quyền lực xa lạ đối với họ thì sao?

Trong Bản thảo 1844, Marx phân tích sự tha hóa khỏi sản phẩm, khỏi hoạt động lao động, khỏi đời sống người và khỏi những người khác.

Về sau, trong Tư bản, ông chuyển sang một hệ thống phân tích kinh tế chính trị chặt chẽ hơn, đặc biệt là sự phân biệt giữa lao động và sức lao động và cách quá trình lao động được tổ chức trong quan hệ tư bản.

Hai giai đoạn này không nên bị ép thành một. Nhưng chúng có một điểm gặp nhau, con người tạo ra các quan hệ xã hội, rồi những quan hệ ấy có thể quay trở lại định hình và chi phối con người. Đó chính là một trong những mạch sâu nhất nối Chương III, Chương IV và Chương V.

Từ lịch sử đến biện chứng. Từ biện chứng đến lao động, và từ lao động, chúng ta tiến tới câu hỏi lớn hơn. Nếu con người cùng sản xuất trong một hệ thống xã hội, những người có vị trí khác nhau trong hệ thống ấy có những lợi ích khác nhau đến mức nào? Khi một bên sở hữu tư liệu sản xuất còn bên kia phải bán sức lao động để sống, quan hệ ấy chỉ là một quan hệ kinh tế hay còn là một quan hệ quyền lực?và nếu lợi ích khác nhau, chúng có nhất thiết dẫn tới xung đột giai cấp? 

Hoàng Phong Nhã 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

Karl Marx, Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, đặc biệt phần “Estranged Labour”. Đây là văn bản gốc quan trọng nhất cho việc nghiên cứu khái niệm tha hóa ở Marx thời kỳ đầu.

Karl Marx, Capital, Vol. I, Chương I và Chương VII, đặc biệt phần về hàng hóa, lao động và quá trình lao động.

Karl Marx, Grundrisse, các phần về quá trình lao động và quan hệ giữa lao động với tư bản.

Stanford Encyclopedia of Philosophy, mục “Karl Marx”, phần về Economic and Philosophic Manuscripts và lý thuyết tha hóa.

Stanford Encyclopedia of Philosophy, “Critical Theory”, về ảnh hưởng của khái niệm tha hóa Marx đối với truyền thống Frankfurt School.

Stanford Encyclopedia of Philosophy, “Herbert Marcuse”, về sự phát triển khái niệm lao động như quá trình tự hình thành và sự đảo ngược của nó trong tha hóa.

Luận đề cần mang sang Chương VI

Marx bắt đầu từ sự tha hóa của người lao động; nhưng khi đặt những người lao động khác nhau vào cùng một cấu trúc sở hữu, sản xuất và phân phối, ông đi đến một câu hỏi rộng hơn: liệu những khác biệt về vị trí kinh tế có tạo nên những giai cấp có lợi ích đối lập hay không?

Đó là nơi khái niệm “giai cấp” xuất hiện — và cũng là nơi cần đặc biệt tránh một giản lược rất phổ biến:

Marxism không chỉ nói rằng xã hội có người giàu và người nghèo.

Vấn đề Marx muốn phân tích sâu hơn là vị trí của con người trong quan hệ sản xuất và quyền lực mà vị trí ấy tạo ra.

Đây sẽ là trọng tâm của Chương VI.

Chương V như vậy đã tạo cầu nối trực tiếp từ con người → lao động → tha hóa → quan hệ sản xuất → giai cấp, nhưng vẫn giữ ranh giới giữa Marx năm 1844 và Marx của Tư bản. Chương VI sẽ là nơi cần làm thật kỹ khái niệm giai cấp, vì đây là một trong những điểm dễ bị biến từ một công cụ phân tích xã hội thành một công thức chính trị giản đơn.

Friday, September 25, 2026

CHƯƠNG 4 - ĐỐI THOẠI HƯNG QUỐC VỚI MARXISM VÀ ENGELSISM - PHÉP BIỆN CHỨNG – TỪ TRIẾT HỌC ĐẾN QUY LUẬT VẬN ĐỘNG

 

PHẦN II — TỪ HEGEL ĐẾN DUY VẬT LỊCH SỬ

CHƯƠNG IV

PHÉP BIỆN CHỨNG – TỪ TRIẾT HỌC ĐẾN QUY LUẬT VẬN ĐỘNG

Khi mâu thuẫn không chỉ là điều cần loại bỏ, mà còn là điều cần được hiểu

Nếu Chương III đặt ra câu hỏi: Marx và Engels đã chuyển cách nhìn lịch sử từ thế giới của ý niệm sang đời sống vật chất như thế nào, thì Chương IV phải đi sâu hơn vào công cụ tư duy đứng phía sau sự chuyển đổi ấy.

Đó là phép biện chứng.

Nhưng ngay ở đây cần tránh một hiểu lầm rất phổ biến.

Phép biện chứng không đơn giản có nghĩa là “mọi thứ đều có hai mặt”, càng không phải một công thức cứ gặp hai mặt đối lập là có thể kết luận rằng một cái mới sẽ ra đời. Càng không nên đồng nhất phép biện chứng của Hegel, phương pháp phê phán của Marx, hệ thống hóa của Engels và các “quy luật biện chứng” trong những giáo trình Marxism về sau thành một thứ duy nhất.

Lịch sử tư tưởng phức tạp hơn thế.

Ở Hegel, biện chứng trước hết là một cách hiểu sự vận động của khái niệm, của lý tính và của hiện thực trong những quan hệ nội tại của chúng. Ở Marx, biện chứng trở thành một phương pháp phê phán các hình thức xã hội lịch sử, đặc biệt là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở Engels, phạm vi được mở rộng mạnh hơn sang tự nhiên, khoa học và một quan niệm tổng quát về các quy luật vận động. Về sau, nhiều truyền thống Marxist tiếp tục hệ thống hóa những ý tưởng ấy thành một học thuyết có cấu trúc chặt chẽ hơn.

Chính vì vậy, câu hỏi của chương này không phải phép biện chứng có đúng không? Mà là Marx và Engels thực sự hiểu phép biện chứng như thế nào, họ đã sử dụng nó ra sao, và điều gì xảy ra khi một phương pháp tư duy biến thành một bộ “quy luật” được áp dụng sẵn cho mọi hiện tượng? Đó là ranh giới rất quan trọng giữa biện chứng như phương pháp và biện chứng như giáo điều.

1. HEGEL VÀ CÂU HỎI VỀ SỰ VẬN ĐỘNG

Muốn hiểu Marx, không thể bỏ qua Hegel.

G.W.F. Hegel không phải người đầu tiên sử dụng khái niệm biện chứng. Từ Plato đến những truyền thống triết học cổ đại, biện chứng đã gắn với đối thoại, phản biện và sự vận động của tư tưởng. Nhưng Hegel đã đưa nó thành một thành tố trung tâm của hệ thống triết học của mình.

Theo các nghiên cứu về Hegel, biện chứng của ông không đơn thuần là một cuộc tranh luận giữa hai người hay một công thức “luận đề – phản đề – hợp đề” đơn giản. Nó liên quan đến cách một khái niệm, khi được suy nghĩ đến tận cùng, bộc lộ những giới hạn và căng thẳng nội tại, từ đó chuyển sang một hình thức khái niệm khác bao quát hơn. Khái niệm Aufhebung của Hegel đặc biệt quan trọng vì nó vừa mang nghĩa phủ định, vừa bảo tồn và nâng lên một cấp độ khác. Điều này khác rất xa với cách hiểu giản lược A đối lập B → A bị B phủ định → C ra đời. Nếu hiểu như vậy, chúng ta biến một phương pháp triết học phức tạp thành một sơ đồ cơ học. Hegel quan tâm đến một vấn đề sâu hơn một hình thức hiện thực chứa đựng những giới hạn nào bên trong chính nó, và những giới hạn ấy thúc đẩy nó biến đổi ra sao? Đây là điểm có ảnh hưởng rất lớn đến Marx.

2. MARX KHÔNG “VỨT BỎ” HEGEL

Marx thường được trình bày như người đã “lật ngược” phép biện chứng Hegel. Cách nói này có cơ sở từ chính Marx, nhưng nếu hiểu quá đơn giản thì lại làm mất đi phần quan trọng nhất. 

Trong lời bạt cho lần xuất bản thứ hai của Tư bản, Marx thừa nhận ảnh hưởng của Hegel và cho rằng phép biện chứng Hegel chứa một “hạt nhân hợp lý”, mặc dù nó xuất hiện trong một hình thức mà Marx coi là thần bí. Marx viết rằng phép biện chứng ở Hegel “đứng trên đầu” và cần được đặt “đúng chân” để nhận ra hạt nhân hợp lý bên trong lớp vỏ thần bí ấy.

Điều đáng chú ý là Marx không nói Hegel hoàn toàn sai. Ông nói, về cơ bản Hegel đã nhìn thấy một phương thức vận động quan trọng, nhưng đặt nó trong một cấu trúc triết học mà Marx muốn phê phán và tái định vị. Đây là khác biệt rất lớn. Marx không tiếp nhận toàn bộ hệ thống Hegel. Nhưng ông cũng không thể đơn giản vứt bỏ Hegel. Ông giữ lại một điều cực kỳ quan trọng không được xem một hình thái xã hội như một vật thể bất biến. Phải nhìn nó trong quá trình hình thành, vận động, phát triển và biến đổi của nó. Chính điều này trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của phương pháp Marx.

3. BIỆN CHỨNG CỦA MARX: NHÌN SỰ VẬT TRONG QUAN HỆ VÀ QUÁ TRÌNH

Điểm mạnh của tư duy biện chứng nằm ở việc nó chống lại một cách nhìn quá tĩnh. Một nền kinh tế không chỉ là một tập hợp doanh nghiệp. Một thị trường không chỉ là nơi mua và bán. Một nhà nước không chỉ là một bộ máy hành chính. Một giai cấp không chỉ là một nhóm người có cùng mức thu nhập. Một thiết chế pháp luật không chỉ là những điều khoản nằm trên giấy. Mỗi thứ tồn tại trong một mạng lưới quan hệ, và các quan hệ ấy thay đổi. Đây là điều làm cho phương pháp Marx khác với cách phân loại xã hội thành những “vật thể” đứng yên.

Khi nghiên cứu tư bản chủ nghĩa, Marx không chỉ hỏi tư bản là gì? Ông còn hỏi tư bản vận động như thế nào? Nó được tích lũy ra sao? Quan hệ giữa tư bản và lao động được tái tạo như thế nào? Hàng hóa xuất hiện dưới hình thức nào? Tiền chuyển hóa thành tư bản bằng cơ chế nào? Sản xuất tạo ra những quan hệ xã hội nào? Và những quan hệ ấy lại quay trở lại tác động vào sản xuất như thế nào?Đó chính là tư duy biện chứng trong thực hành.

Nó không hài lòng với một định nghĩa đứng yên, tìm quan hệ vận động bên trong định nghĩa ấy.

4. MÂU THUẪN: KHÔNG PHẢI MỌI KHÁC BIỆT ĐỀU LÀ MÂU THUẪN

Đây là nơi cần làm rõ một ranh giới. Trong ngôn ngữ đời thường, “mâu thuẫn” có thể chỉ đơn giản là hai ý kiến khác nhau. Nhưng trong truyền thống biện chứng, vấn đề sâu hơn.

Có những quan hệ mà trong đó hai xu hướng vừa đối lập vừa phụ thuộc lẫn nhau. Ví dụ đơn giản trong kinh tế doanh nghiệp cần giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh.

Nhưng doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào con người, công nghệ và chất lượng để duy trì năng lực cạnh tranh lâu dài. Nếu chỉ giảm chi phí trước mắt, doanh nghiệp có thể làm suy yếu năng lực sản xuất tương lai, chỉ tăng chi phí mà không quan tâm hiệu quả, doanh nghiệp có thể mất khả năng tồn tại. Đây không phải một “mâu thuẫn biện chứng” theo nghĩa Marxist chỉ vì có hai lựa chọn.

Nó là một xung đột lợi ích và mục tiêu có cấu trúc, và muốn giải quyết phải nghiên cứu quan hệ giữa chúng. Biện chứng có giá trị khi nó giúp ta nhìn thấy cái gì phụ thuộc vào cái gì; cái gì tạo ra cái gì; một giải pháp hôm nay có thể tạo ra vấn đề ngày mai như thế nào; một thành công trong lĩnh vực này có thể tạo chi phí ở lĩnh vực khác ra sao; một thiết chế được tạo ra để giải quyết vấn đề cũ có thể trở thành trở ngại khi hoàn cảnh thay đổi.

Như vậy, mâu thuẫn không phải câu trả lời. Mâu thuẫn là điểm bắt đầu của việc phân tích. Đây là một nguyên tắc quan trọng để tránh biến biện chứng thành khẩu hiệu.

5. ENGELS VÀ BƯỚC CHUYỂN TỪ BIỆN CHỨNG XÃ HỘI SANG BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN

Ở đây xuất hiện một đóng góp rất quan trọng của Engels.

Nếu Marx tập trung chủ yếu vào lịch sử, xã hội và kinh tế chính trị, Engels có tham vọng rộng hơn: tìm kiếm những nguyên lý vận động có thể được nhận diện trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Trong Anti-Dühring, Engels dành phần đầu cho triết học tự nhiên, đạo đức, pháp luật và sau đó trình bày trực tiếp về phép biện chứng. Tác phẩm được xuất bản thành sách năm 1878, sau khi xuất hiện trước đó dưới dạng bài viết.

Trong các bản thảo Biện chứng của tự nhiên, Engels còn phát triển ý tưởng rằng những quy luật biện chứng có thể được trừu tượng hóa từ lịch sử của tự nhiên và xã hội, đồng thời ông nêu ba quy luật nổi tiếng , sự chuyển hóa từ lượng thành chất và ngược lại; sự thâm nhập/chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập;phủ định của phủ định. Đây là một bước phát triển quan trọng. Nhưng cũng chính tại đây, chúng ta phải cẩn thận.

Ba “quy luật” này không nên được đọc như ba định luật vật lý. Không thể lấy bất kỳ hiện tượng nào, tìm một sự tăng giảm về lượng, rồi kết luận rằng nó nhất định sẽ tạo ra một bước nhảy về chất. Không thể thấy hai xu hướng đối lập rồi mặc nhiên kết luận rằng chúng sẽ tạo ra một hình thái mới. Càng không thể dùng “phủ định của phủ định” như một chiếc khuôn để chứng minh rằng lịch sử nhất định phải đi đến một kết quả định trước.

Đó là sự khác biệt giữa tư duy biện chứng và cơ giới hóa phép biện chứng.

6. “LƯỢNG – CHẤT”: MỘT TRỰC GIÁC HỮU ÍCH NHƯNG KHÔNG PHẢI CÔNG THỨC VẠN NĂNG

Trong Anti-Dühring, Engels sử dụng những ví dụ về sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất. Trực giác này có giá trị.Một hệ thống có thể chịu đựng những thay đổi nhỏ mà chưa biến đổi căn bản. Nhưng khi những thay đổi tích lũy vượt qua một ngưỡng nhất định, cấu trúc của hệ thống có thể thay đổi. Điều này có thể được quan sát trong rất nhiều lĩnh vực.

Trong tự nhiên, thay đổi nhiệt độ có thể dẫn đến chuyển pha. Trong công nghệ, một số cải tiến nhỏ tích lũy có thể làm thay đổi toàn bộ trải nghiệm của sản phẩm. Trong tổ chức, một số lượng nhân sự nhỏ có thể được quản lý bằng quan hệ trực tiếp; khi tổ chức mở rộng rất lớn, nó cần hệ thống quản trị khác. Trong xã hội, một thay đổi nhỏ về dân số, đô thị hóa, giáo dục hay công nghệ có thể đến một thời điểm tạo ra nhu cầu cải cách thể chế.

Nhưng cần nhấn mạnh ngưỡng không tự xuất hiện chỉ vì lượng tăng. Ngưỡng phụ thuộc vào cấu trúc.Một hệ thống có thể hấp thụ rất nhiều thay đổi mà không biến đổi căn bản. Một hệ thống khác có thể rất nhạy cảm với một thay đổi nhỏ. Vì vậy, bài học hiện đại không phải tăng đủ lượng thì chắc chắn thành chất. Mà là muốn hiểu bước ngoặt, phải nghiên cứu cấu trúc, ngưỡng chịu đựng và quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống. Đây là cách đọc biện chứng có ích hơn nhiều.

7. “PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH” VÀ NGUY CƠ BIẾN LỊCH SỬ THÀNH CÔNG THỨC

Khái niệm “phủ định của phủ định” là một trong những phần dễ bị giản lược nhất.

Trong Anti-Dühring, Engels sử dụng hình ảnh hạt giống: hạt bị phủ định khi trở thành cây, rồi cây tạo ra hạt mới. Nhưng chính Engels cũng lưu ý rằng không phải cứ gọi một quá trình là “phủ định của phủ định” thì đã giải thích được quá trình ấy. Điều này rất quan trọng.

Nếu biến nó thành công thức lịch sử A → phủ định A → phủ định lần hai → A mới cao hơn, thì lịch sử dễ bị biến thành một đường ray. Nhưng lịch sử thực tế không vận hành đơn giản như vậy. Có những xã hội tiến lên hoặc suy thoái hay bị đứt đoạn hay tiếp thu một phần cái cũ và loại bỏ phần khác.

Có những thiết chế quay trở lại trong hình thức mới. Những phát minh bị mất rồi được tái phát hiện.Và những quốc gia học hỏi lẫn nhau theo nhiều hướng.

Do đó, “phủ định” trong một cách đọc nghiêm túc phải được hiểu như quá trình biến đổi có tính kế thừa và loại bỏ, chứ không phải lời tiên tri rằng lịch sử luôn tiến lên theo một chu kỳ ba bước.

8. “DIALECTICS OF NATURE”: KHI ENGELS ĐI XA HƠN MARX

Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với dự án nghiên cứu Marxism và Engelsism. Engels không chỉ sử dụng biện chứng để phân tích xã hội. Ông muốn đưa nó vào nghiên cứu tự nhiên.

Trong Dialectics of Nature, Engels tìm cách trình bày tự nhiên như một quá trình liên hệ, biến đổi và phát triển, thay vì một tập hợp những vật thể hoàn toàn tách biệt và bất biến. Điều này phù hợp với một đặc điểm nổi bật của khoa học thế kỷ XIX: thế giới tự nhiên ngày càng được nhìn nhận như một thế giới của lịch sử và biến đổi.

Darwin là một ví dụ quan trọng. Trong On the Origin of Species năm 1859, Darwin lập luận rằng các loài không bất biến; ông giải thích sự biến đổi của sinh vật bằng cơ chế chọn lọc tự nhiên và sự tích lũy của những khác biệt qua thời gian. Điều đáng chú ý không phải là nói Darwin chứng minh Marx và Engels đúng. Cách nói đó không có cơ sở.Darwin xây dựng một lý thuyết sinh học bằng những bằng chứng và phương pháp riêng của sinh học. Điều đáng nói hơn là khoa học tự nhiên thế kỷ XIX đang làm suy yếu hình ảnh một tự nhiên hoàn toàn bất biến và tĩnh tại. Đó là bối cảnh trí tuệ quan trọng giúp ta hiểu tại sao Engels đặc biệt quan tâm đến sự phát triển, liên hệ và chuyển hóa trong tự nhiên.

Nhưng cũng phải giữ ranh giới tiến hóa sinh học không phải là “phép biện chứng Marxist. Darwin không cần ba quy luật của Engels để xây dựng lý thuyết chọn lọc tự nhiên, và không thể lấy Darwin làm bằng chứng thực nghiệm cho toàn bộ triết học của Engels.

9. ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU CỦA “BIỆN CHỨNG TỰ NHIÊN”

Ý tưởng của Engels có một điểm mạnh rõ ràng. Nó chống lại quan niệm về tự nhiên như một bộ sưu tập những vật thể hoàn toàn cô lập. Khoa học hiện đại thực sự nghiên cứu các hệ thống tương tác sinh thái, di truyền, hóa học, địa chất, vật lý, khí hậu, não bộ, và nhiều hệ thống phức tạp khác.

Nhưng từ đó không thể suy ra rằng mọi quy luật của tự nhiên đều có thể được diễn đạt bằng một vài quy luật triết học tổng quát.

Đây là vấn đề phương pháp. Một nguyên lý triết học có thể giúp đặt câu hỏi. Nhưng đặt câu hỏi không đồng nghĩa với chứng minh một định luật khoa học. Một nhà khoa học phải có quan sát, dữ liệu, thực nghiệm hoặc mô hình phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu. Vì vậy, khi đọc Engels ngày nay, cần phân biệt Engels như một nhà tư tưởng triết học về khoa học với Engels như người đưa ra những mệnh đề khoa học cụ thể về tự nhiên. Hai vai trò đó không giống nhau.

Đây cũng là một trong những lý do khiến đánh giá Engels chỉ bằng nhãn “duy vật cơ giới” là quá đơn giản. Nghiên cứu gần đây của S. H. Rigby cho rằng Engels có những lập luận phức tạp hơn nhiều: ông vừa phê phán chủ nghĩa duy vật cơ giới và chủ nghĩa thực chứng, vừa phát triển một quan niệm biện chứng về tự nhiên. Đồng thời, Rigby cũng nhấn mạnh rằng cần phân biệt giữa một phiên bản tối giản và một phiên bản mạnh hơn của “duy vật biện chứng”.

10. MARX VÀ ENGELS: GIỐNG NHAU ĐẾN ĐÂU?

Đây là một câu hỏi mà chương này không thể né tránh. Có một cách đọc truyền thống Marx và Engels cùng xây dựng một hệ thống triết học thống nhất. Có một cách đọc khác: Marx là nhà phê phán xã hội và kinh tế chính trị, còn Engels về sau đã hệ thống hóa thành “duy vật biện chứng” và “biện chứng của tự nhiên”. Cả hai cách đọc đều có phần đúng và đều có nguy cơ nếu bị tuyệt đối hóa.

Marx rõ ràng sử dụng biện chứng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hegel. Marx xem hình thái xã hội là lịch sử, vận động và có những quan hệ nội tại. Nhưng Marx không để lại một tác phẩm hoàn chỉnh tương đương với một “giáo trình duy vật biện chứng”.

Engels thì đi xa hơn trong việc trình bày một thế giới quan có phạm vi bao gồm tự nhiên, xã hội và tư duy. Đây là một khác biệt đáng nghiên cứu.

Một nghiên cứu năm 2026 của S. H. Rigby về sự hình thành Marxism đặt chính vấn đề này vào trung tâm: liệu Marx có thực sự chia sẻ toàn bộ quan niệm về “dialectical materialism” mà Engels phát triển trong các tác phẩm sau này hay không. Rigby lưu ý rằng không thể đơn giản giả định Marx chấp nhận tất cả những khẳng định của Engels về các “quy luật biện chứng” trong tự nhiên.

Điều này không có nghĩa Marx đúng, Engels sai. Cũng không có nghĩa: Engels phản bội Marx. Câu hỏi học thuật chính xác hơn là Engels đã mở rộng, hệ thống hóa và diễn giải truyền thống Marx–Engels theo hướng nào, và mức độ tương thích của hướng phát triển ấy với Marx đến đâu? Đó chính là một trong những câu hỏi trung tâm của phần VIII về Engelsism sau này.

11. BIỆN CHỨNG KHÔNG PHẢI LÀ “MỌI THỨ ĐỀU ĐÚNG”

Đây là phản đề quan trọng nhất của chương. Có một kiểu sử dụng biện chứng rất nguy hiểm bất cứ điều gì xảy ra cũng được giải thích bằng “mâu thuẫn.Nếu kinh tế,suy thoái, tăng trưởng: đó là biện chứng. Nếu cải cách thất bại, Thành công : cũng là biện chứng. Nếu dự đoán đúng biện chứng chứng minh đúng. Nếu dự đoán sai: điều kiện chưa chín muồi.

Một lý thuyết có thể giải thích mọi kết quả theo cách đó thì cuối cùng rất khó kiểm nghiệm. Nó trở thành một hệ thống tự bảo vệ. Đây là điểm mà một tư duy nghiên cứu nghiêm túc phải cảnh giác. Một phương pháp tốt phải giúp ta phát hiện điều mình có thể sai.

Nếu “biện chứng” chỉ có nhiệm vụ giải thích mọi thứ sau khi chúng đã xảy ra, nó mất một phần giá trị nhận thức. Do đó, Hưng Quốc không nên tiếp nhận phép biện chứng như một bộ công thức để giải thích mọi biến động. Nếu tiếp nhận, chỉ nên tiếp nhận ở cấp độ phương pháp nhìn sự vật trong quá trình; quan hệ thay vì vật thể cô lập; tìm tác động qua lại; nhận diện lợi ích và lực lượng đối nghịch; tìm những ngưỡng có thể tạo ra bước ngoặt; kiểm tra hậu quả ngoài dự kiến; phân biệt biến đổi bề mặt với biến đổi cấu trúc; và quan trọng nhất: luôn đối chiếu giả thuyết với thực tế.

12. CASE STUDY – KHOA HỌC THẾ KỶ XIX VÀ BÀI HỌC VỀ “THẾ GIỚI ĐANG VẬN ĐỘNG”

Khoa học thế kỷ XIX là một trường hợp đặc biệt hữu ích. Địa chất cho thấy Trái Đất có lịch sử rất dài. Sinh học tiến hóa đặt vấn đề về sự biến đổi của các loài. Hóa học và vật lý phát triển nhanh chóng. Nhiều lĩnh vực khoa học ngày càng nghiên cứu quá trình thay vì chỉ phân loại trạng thái.

Darwin năm 1859 trình bày một lý thuyết về sự biến đổi của sinh vật theo thời gian.

Engels quan sát xu hướng đó và muốn xây dựng một triết học không xem tự nhiên như một tập hợp bất động. Đây là một trực giác có sức sống: Muốn hiểu một hệ thống, đôi khi phải hiểu lịch sử hình thành của nó. Một thành phố không thể được hiểu chỉ bằng bản đồ hiện tại. Một doanh nghiệp không thể hiểu chỉ bằng bảng cân đối năm nay. Một quốc gia không thể hiểu chỉ bằng hiến pháp hiện hành. Một xã hội không thể hiểu chỉ bằng các chỉ số GDP. Phải nhìn vào quá trình tạo thành. Nhưng chính case study này cũng cho ta một giới hạn không phải mọi quá trình phát triển đều có cùng một quy luật.

Tiến hóa sinh học, biến đổi kinh tế, phát triển thể chế và thay đổi văn hóa có những cơ chế khác nhau. Biện chứng có thể giúp ta đặt chúng trong một cách nhìn động và quan hệ. Nhưng nó không thay thế khoa học chuyên ngành. Đây là bài học mà một Hưng Quốc học hiện đại phải giữ rất rõ.

13. HƯNG QUỐC ĐỌC PHÉP BIỆN CHỨNG NHƯ THẾ NÀO?

Nếu Marx và Engels đặt ra câu hỏi Xã hội vận động bởi những quan hệ và mâu thuẫn nào? thì Hưng Quốc có thể tiếp tục bằng một câu hỏi khác làm thế nào để nhận diện những lực vận động ấy và biến chúng thành năng lực phát triển quốc gia?Đây là điểm chuyển từ phê phán sang kiến tạo. Một quốc gia luôn chứa nhiều cặp quan hệ căng thẳng tăng trưởng và công bằng; tự do và trật tự; hiệu quả và an toàn; tập trung và phân quyền; truyền thống và đổi mới;quyền lực nhà nước và quyền tự chủ xã hội;cạnh tranh và hợp tác; toàn cầu hóa và năng lực tự chủ.

Không nên giải quyết những quan hệ này bằng cách tuyên bố một phía luôn đúng. Nhưng cũng không nên dùng chữ “biện chứng” để né tránh quyết định. Việc cần làm là xác định mục tiêu → xác định lợi ích → xác định giới hạn → đo lường chi phí → thiết kế thể chế → thử nghiệm → đánh giá → điều chỉnh. Đó là một phiên bản thực dụng của tư duy biện chứng. Nó không coi mâu thuẫn là cái để tôn thờ. Nó coi mâu thuẫn là thông tin về cấu trúc của vấn đề.

14. TỪ BIỆN CHỨNG ĐẾN “QUY LUẬT VẬN HÀNH”

Từ Marx và Engels, chúng ta có thể rút ra một nguyên tắc phương pháp quan trọng:

Một: Không nhìn hiện tượng như bất biến.

Hai:Không tách sự vật khỏi quan hệ của nó.

Ba: Không chỉ hỏi “cái gì đang xảy ra?” mà phải hỏi “vì sao nó đang vận động theo hướng này?”

Bốn: Không chỉ nhìn nguyên nhân trực tiếp mà phải tìm cấu trúc phía sau.

Năm: Không coi một giải pháp là kết thúc; phải xem giải pháp ấy tạo ra những quan hệ mới nào.

Sáu: Không biến một mô hình lịch sử thành định luật tuyệt đối.

Từ đây có thể hình thành một nguyên tắc Hưng Quốc mọi chính sách đều tạo ra tác động thứ cấp; mọi cải cách đều tạo ra lợi ích và chi phí mới; mọi thiết chế đều có thời điểm phù hợp và giới hạn lịch sử của nó.

Do đó, một quốc gia trưởng thành không chỉ biết thay đổi. Nó phải biết khi nào thay đổi, thay đổi cái gì, thay đổi đến đâu, thay đổi bằng phương thức nào và kiểm soát hậu quả ra sao. Đó là nơi tư duy biện chứng gặp tư duy kiến quốc.

15. RANH GIỚI KHÁI NIỆM

Đến đây cần khóa lại bốn khái niệm thường bị trộn lẫn.

Biện chứng Hegel

Là một cấu trúc triết học về sự vận động của khái niệm, lý tính và hiện thực, trong đó những giới hạn và đối lập nội tại thúc đẩy sự phát triển của tư tưởng và hình thức.

Biện chứng của Marx

Là phương pháp có ảnh hưởng Hegel sâu sắc nhưng được Marx sử dụng để phê phán các quan hệ xã hội và kinh tế lịch sử, đặc biệt là những hình thức của xã hội tư bản. Marx nhấn mạnh tính lịch sử, tính vận động và tính phủ định của những hình thái xã hội.

Biện chứng của Engels

Mở rộng mạnh phạm vi của biện chứng sang tự nhiên, xã hội và tư duy; đặc biệt trong Anti-Dühring và các bản thảo Dialectics of Nature, Engels cố gắng khái quát các quy luật vận động chung.

“Duy vật biện chứng” trong truyền thống Marxism về sau

Là một hình thức hệ thống hóa tiếp theo, không nên tự động đồng nhất với toàn bộ tư tưởng nguyên thủy của Marx.

Đây là một ranh giới mà toàn bộ cuốn sách phải giữ.

Bởi nếu không, chúng ta sẽ rơi vào một vòng tròn:

Marx → Engels → Marxism → đọc ngược Marx qua Marxism → rồi lại dùng Marxism để chứng minh Marx.

Một nghiên cứu nghiêm túc phải phá vòng tròn đó bằng cách trở lại văn bản nguyên bản, hoàn cảnh lịch sử và bằng chứng độc lập.

16. PHẢN ĐỀ: KHI BIỆN CHỨNG TRỞ THÀNH GIÁO ĐIỀU

Phép biện chứng có thể giúp con người nhìn thấy sự thay đổi.Nhưng chính nó cũng có thể bị biến thành một hệ thống đóng.bKhi người ta tin rằng đã nắm được “quy luật lịch sử”, họ dễ chuyển từ câu hỏi thực tế đang cho thấy điều gì? sang thực tế phải diễn ra như thế nào theo quy luật? Đó là bước chuyển rất nguy hiểm. Từ phương pháp sang giáo điều. Từ nghiên cứu sang áp đặt.Từ kiểm chứng sang giải thích hậu nghiệm, và cuối cùng từ biện chứng sang phản-biện chứng.

Bởi bản chất của tư duy biện chứng là không để một hình thức tư duy đứng yên. Ngay cả lý thuyết về sự vận động cũng phải được phép vận động. Học thuyết phê phán cũng phải chịu phê phán.

Và Marx và Engels cũng phải được đọc như những nhà tư tưởng lịch sử, chứ không phải như những người đã có câu trả lời cuối cùng cho mọi thời đại.

Một nghiên cứu năm 2026 về Engels nhấn mạnh chính khó khăn này: Engels không thể được giản lược thành một nhà duy vật cơ giới hay một nhà thực chứng; các tác phẩm của ông chứa nhiều tuyến lập luận khác nhau, và việc đánh giá chúng đòi hỏi phải đối chiếu với thực tế thay vì chỉ dựa vào nhãn triết học.

17. QUY LUẬT VẬN HÀNH HƯNG QUỐC

Từ cuộc đối thoại này, Hưng Quốc học có thể giữ lại một nguyên tắc, nhưng không biến nó thành “định luật lịch sử”:

Muốn kiến tạo một quốc gia, phải nhìn quốc gia như một hệ thống đang vận động.

Một chính sách giáo dục tác động đến năng suất.Năng suất tác động đến thu nhập. Thu nhập tác động đến tiêu dùng. Tiêu dùng tác động đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp tác động đến việc làm. Việc làm tác động đến ổn định xã hội. Ổn định xã hội tác động trở lại chất lượng thể chế. Thể chế lại tác động đến đầu tư, sáng tạo và niềm tin.

Không có một đường thẳng đơn giản. Có vòng phản hồi,độ trễ,tác động ngoài dự kiến,  điểm tới hạn, lợi ích ngắn hạn và chi phí dài hạn. Vì vậy, kiến quốc không thể chỉ là đặt ra một mục tiêu rồi ban hành một chính sách. Kiến quốc là quản trị một hệ thống đang liên tục thay đổi.

Đó là nơi Hưng Quốc học có thể học được nhiều từ tư duy biện chứng mà không cần trở thành một hệ thống biện chứng luận.

KẾT LUẬN CHƯƠNG IV

Marx và Engels tiếp nhận từ Hegel một bài học lớn hiện thực không đứng yên. Nhưng họ không dừng ở triết học về ý niệm. Marx đưa tư duy vận động vào phê phán xã hội, lao động, hàng hóa, tư bản và các quan hệ lịch sử.

Engels đi xa hơn, cố gắng mở rộng biện chứng sang tự nhiên và khoa học, rồi khái quát thành những “quy luật” chung của sự vận động. Chính bước mở rộng này làm cho Engels trở thành một nhân vật đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành Marxism, đồng thời cũng tạo ra một trong những vấn đề lớn nhất của nghiên cứu Engels: liệu “duy vật biện chứng” có phải chỉ là sự hệ thống hóa trung thành tư tưởng chung của Marx–Engels, hay là một bước phát triển có những đặc điểm riêng của Engels? Nghiên cứu học thuật gần đây tiếp tục tranh luận chính điểm này.

Hưng Quốc không cần biến phép biện chứng thành một bộ công thức.

Điều có thể tiếp nhận là một thái độ nhận thức đừng nhìn cái đang tồn tại như cái sẽ tồn tại mãi mãi; đừng nhìn một vấn đề như một vật thể đơn độc; đừng chỉ tìm nguyên nhân đầu tiên mà bỏ qua những vòng phản hồi; và đừng nhầm một mô hình giải thích với một định luật tuyệt đối.

Nhưng cũng phải giữ một giới hạn mâu thuẫn không tự tạo ra tiến bộ. Tiến bộ đòi hỏi tri thức, con người, thể chế, năng lực tổ chức và những lựa chọn cụ thể.

Một xã hội có thể chứa đầy mâu thuẫn mà vẫn trì trệ. Một quốc gia có thể có xung đột mà không tạo ra sáng tạo.Một cuộc khủng hoảng có thể dẫn tới cải cách, nhưng cũng có thể dẫn tới suy thoái. 

Vì vậy Biện chứng giúp ta hiểu sự vận động. Nó không tự mình bảo đảm hướng đi của sự vận động. Đây chính là điểm Hưng Quốc học phải bước thêm một bước: từ hiểu mâu thuẫn sang kiến tạo năng lực giải quyết mâu thuẫn.

Và khi đã đi tới đây, câu hỏi tiếp theo không còn nằm chủ yếu ở triết học.Nó nằm trong đời sống của con người.Nếu lịch sử vận động qua những quan hệ xã hội và sản xuất, thì con người sống trong những quan hệ ấy như thế nào?

Lao động tạo ra con người hay con người bị biến thành công cụ của lao động?

Tại sao một hoạt động vốn có khả năng tạo ra giá trị và phẩm giá lại có thể trở thành nguồn gốc của sự xa lạ? Đó là câu hỏi đưa chúng ta đến Chương V:

LAO ĐỘNG VÀ SỰ THA HÓA

Từ hoạt động sáng tạo của con người đến câu hỏi: con người có đang đánh mất chính mình trong sản phẩm do mình tạo ra?

Hoàng Phong Nhã 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

G. W. F. Hegel, Science of Logic; Encyclopaedia of the Philosophical Sciences. Về cấu trúc của biện chứng Hegel và khái niệm Aufhebung, xem tổng quan học thuật của Stanford Encyclopedia of Philosophy.

Karl Marx, Capital, Vol. I, Afterword to the Second German Edition (1873). Marx trình bày trực tiếp quan hệ của ông với phép biện chứng Hegel và “hạt nhân hợp lý” của nó.

Friedrich Engels, Anti-Dühring (1878), đặc biệt Phần I về triết học và các chương về lượng–chất, phủ định của phủ định.

Friedrich Engels, Dialectics of Nature, các bản thảo về biện chứng và ba quy luật mà Engels cố gắng khái quát.

Charles Darwin, On the Origin of Species (1859), nguồn sơ cấp quan trọng để đặt vấn đề về khoa học tiến hóa trong bối cảnh trí tuệ thế kỷ XIX.

S. H. Rigby, Engels and the Formation of Marxism: History, Dialectics and Revolution (Manchester University Press, 2026), đặc biệt các chương về dialectical materialism và quan hệ giữa Marx với Engels.

Nicholas Devlin, “Who Put Hegel Back into Marxism?”, The Review of Politics (Cambridge University Press, 2026), về lịch sử diễn giải quan hệ Hegel–Marx và sự hình thành các truyền thống Marxist khác nhau.

Chương IV đã khóa theo hướng “phép biện chứng là phương pháp trước khi là hệ thống quy luật”, đồng thời đặt nền cho một vấn đề sẽ quay lại rất mạnh ở Chương XVII–XVIII: Engels sau Marx và Engelsism.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code