NGUYỄN CAO KHỔI
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là
một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở
nước ta hiện nay, thì việc cổ phần hóa còn là cơ hội để huy động vốn của
các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; đồng thời, có điều kiện tăng
năng lực tài chính, đổi mới công nghệ và phương thức quản lý cho phù hợp
với tình hình mới. Thực tiễn, trong những năm qua, phần lớn các doanh
nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều hoạt động kinh doanh có hiệu quả
hơn. Điều đó, càng khẳng định tính đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chủ
trương chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần.
Trong những năm bao cấp trước đây, các
doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, nên các doanh
nghiệp này thường không quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
mình mà chỉ tìm mọi cách để hoàn theo chỉ tiêu, kế hoạch do cơ quan cấp
trên phân bổ xuống vì mọi công việc đều đã được Nhà nước làm thay, kể cả
việc tính toán đầu vào và đầu ra. Cho nên, khi nước ta chuyển từ nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, những
yếu kém và hạn chế của các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ, như: nợ
nần kéo dài, quản lý yếu kém, máy móc – thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu…
Do đó, các doanh nghiệp nhà nước khó có thể cạnh tranh với các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Để bảo đảm cho thành phần kinh tế nhà
nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo và Nhà nước có thể kiểm soát, quản lý
được hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trên thị trường,
trong giai đoạn đầu của quá trình cổ phần hoá, Nhà nước chỉ cổ phần hoá
những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp
nhà nước được chọn để cổ phần hóa có vốn điều lệ thấp (dưới 10 tỷ đồng)
và hoạt động kinh doanh không có hiệu quả (không có lãi hoặc có lãi
không đáng kể), nên việc bán cổ phần của các doanh nghiệp này khi cổ
phần hóa thường không thể tổ chức bán đấu giá công khai ra công chúng mà
thường thực hiện bán đấu giá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp cổ phần
hóa. Mặt khác, năm 2000 thị trường chứng khoán nước ta được hình thành
và đi vào họat động, nhưng số đông các doanh nghiệp cổ phần hóa nêu trên
không đủ điều kiện để niêm yết (mức vốn thấp…). Một số ít doanh nghiệp
cổ phần hóa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán, song cổ
phiếu của các doanh nghiệp này không đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà
đầu tư. Do đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đầu những năm 2000 luôn ở
trong tình trạng thiếu hàng có chất lượng cao. Chính vì lẽ đó, Chính
phủ đã quyết định mở rộng diện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX.
Trong lĩnh vực ngân hàng, theo lộ trình
được Chính phủ phê duyệt, năm 2005 – 2006 Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long
(MHB) phải thực hiện cổ phần hóa. Năm 2007 – 2008, cổ phần hóa Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Incombank). Cuối cùng là cổ phần hóa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) vào năm 2008. Tuy nhiên, vì nhiều lý
do khác nhau, đặc biệt là sự bất cập và quy định thiếu đầy đủ của pháp
luật hiện hành, nên cả 4 ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên không
thể thực hiện được các công việc cổ phần hóa theo đúng lộ trình được
duyệt. Cho đến nay, Chính phủ đã nhiều lần sửa đổi và ban hành các nghị
định khác nhau hướng dẫn về việc chuyển đổi các doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước sang công ty cổ phần, nhưng tiến độ cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước vẫn không thực hiện theo đúng kế hoạch. Mới đây, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007
(sau đây gọi tắt là Nghị định số 109) hướng dẫn về việc chuyển các doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó có các ngân
hàng thương mại nhà nước. Nghị định số 109 được đánh giá là cởi mở,
thông thoáng, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tuy
nhiên, dưới góc độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước, chúng
tôi thấy có một số khó khăn, vướng mắc dưới đây khi thực hiện Nghị định
số 109:
1. Tổ chức đấu thầu hay đấu giá riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược?
Cho đến nay, có 4/5 ngân hàng thương mại
nhà nước đang thực hiện việc cổ phần hoá theo chỉ đạo của Chính phủ, bao
gồm: Vietcombank, MHB, BIDV, Incombank. Nhận thấy những hạn chế của
mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế (như sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu,
vốn thấp, công nghệ lạc hậu… so với các tổ chức tín dụng nước ngoài),
nên khi cổ phần hoá, các ngân hàng này đều mong muốn bán cổ phần cho nhà
đầu tư chiến lược nước ngoài để nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của họ.
Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện thực tế của từng ngân hàng, các ngân hàng
thương mại nhà nước có thể xây dựng tiêu chí và điều kiện lựa chọn nhà
đầu tư chiến lược riêng cho phù hợp. Theo quy định chung của Chính phủ,
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được lựa chọn phải am hiểu thị trường,
văn hóa Việt Nam và có tiềm năng tài chính mạnh thực sự, có những thế
mạnh mà ngân hàng cổ phần hóa đang cần mở rộng, phát triển. Chính phủ có
những quy định riêng về bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài. Trước đây, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính
phủ (sau đây gọi là Nghị định số 187) quy định nhà đầu tư chiến lược
được mua tối đa 20% số cổ phần bán ra với giá giảm 20% so với giá đấu
bình quân. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần phổ thông của
ngân hàng cổ phần hóa theo giá ưu đãi sau khi ngân hàng đó đã tổ chức
bán xong cổ phần lần đầu ra công chúng. Đổi lại, nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài phải có văn bản cam kết và bảo đảm hỗ trợ ngân hàng cổ phần
hóa trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực
quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại. Trong thời hạn 5 năm
kể từ ngày trở thành nhà đầu tư chiến lược tại một ngân hàng Việt Nam,
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan không được phép
chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác
(kể cả trong nước và ngoài nước).
Sau một thời gian thực hiện Nghị định số
187, Chính phủ thấy rằng việc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được mua
cổ phần theo giá ưu đãi nêu trên là không còn phù hợp nữa. Cho nên,
Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 109 sửa đổi quy định nêu trên,
theo đó nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần theo giá không thấp hơn
giá đấu thành công bình quân. “Đối với các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà
nước (bao gồm cả các ngân hàng thương mại nhà nước), nếu nhất thiết phải
chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hóa báo cáo
Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà
đầu tư chiến lược” (điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị định số 109). Quy định
này đã làm cho các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá trở nên lúng túng
khi tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đấu thầu là một hình thức mua hàng
hóa, dịch vụ giữa nhà đầu tư với nhà thầu (người bán hàng, dịch vụ),
trong đó nhà đầu tư xác định mức giá cao nhất và các nhà thầu (nhà đầu
tư chiến lược) không được trả giá cao hơn mức giá đã được chủ đầu tư xác
định. Trong khi mục đích bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài là bán được giá càng cao càng tốt và nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật
tối đa của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Tinh thần của quy định trên
cũng được áp dụng đối với các nhà đầu tư thông thường khác, họ phải
tham gia đấu giá trên thị trường chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng
khoán/Sở Giao dịch chứng khoán) để mua được cổ phần phổ thông của ngân
hàng cổ phần hoá. Mặt khác, đấu giá tài sản, dịch vụ là việc bên bán đấu
giá tài sản, dịch vụ xác định mức giá tối thiểu (giá khởi điểm) để
những người tham gia đấu giá trả giá. Người mua được tài sản, dịch vụ là
người trả giá cao nhất và không được thấp hơn giá khởi điểm. Do vậy,
nếu căn cứ vào quy định trên đây và quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6
của Nghị định số 109, thì ngân hàng thương mại nhà nước phải chọn nhà
đầu tư chiến lược nước ngoài trả giá thấp nhất để bán cổ phần. Điều này
không nằm trong mong muốn của cả doanh nghiệp cổ phần hoá và Chính phủ
vì khi bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược theo hình thức đấu thầu nêu
trên, lợi ích của Nhà nước sẽ bị thiệt so với hình thức đấu giá riêng
giữa các nhà đầu tư chiến lược.
Chính vì lý do trên, để bảo đảm lợi ích
của Nhà nước khi bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược tại các doanh
nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6
của Nghị định số 109 “tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến
lược” nên được sửa lại thành “tổ chức đấu giá riêng giữa các nhà đầu tư
chiến lược”.
2. Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản là bắt buộc?
Một trong các điều kiện để doanh nghiệp
được cổ phần hoá là phải còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài
chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực,
từng doanh nghiệp và mục tiêu cổ phần hoá, Nhà nước có thể giữ nguyên
vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng
vốn điều lệ hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước, vừa phát
hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Theo quy định của Nghị định số
109, thì doanh nghiệp cổ phần hoá có tổng giá trị tài sản theo sổ kế
toán từ 30 tỷ đồng trở lên phải thuê tổ chức có chức năng định giá để
thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp. Với quy định này, thì
tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay đều phải thuê tổ chức
tư vấn định giá để xác định giá trị doanh nghiệp. Về nguyên tắc, tổ chức
tư vấn định giá được lựa chọn các phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp thích hợp để định giá, bảo đảm các nguyên tắc quy định của Nhà
nước và chịu trách nhiệm về kết quả xác định giá trị doanh nghiệp. Các
phương pháp mà tổ chức tư vấn định giá được lựa chọn để xác định giá trị
doanh nghiệp gồm có: phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết
khấu và các phương pháp khác được Bộ Tài chính chấp thuận. Tuy nhiên,
Nghị định số 109 lại yêu cầu giá trị doanh nghiệp được xác định và công
bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương
pháp tài sản (Điều 23 – Nghị định số 109).
Như vậy, về lý thuyết, tổ chức tư vấn
định giá có quyền lựa chọn một trong các phương pháp nói trên để xác
định giá trị doanh nghiệp, nhưng thực tế, tổ chức này có thể phải xác
định giá trị doanh nghiệp theo hai phương pháp khác nhau nếu phương pháp
được chọn để xác định giá trị doanh nghiệp không phải là phương pháp
tài sản. Quy định trên đã vô hình trung làm kéo dài thời gian và tăng
chi phí cổ phần hóa trong trường hợp tổ chức tư vấn định giá chọn các
phương pháp khác (không phải là phương pháp tài sản) để xác định giá trị
doanh nghiệp, kể cả những phương pháp theo thông lệ quốc tế tốt nhất.
Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản sẽ làm cơ sở
cho tổ chức tư vấn định giá so sánh với các phương pháp khác. Do vậy,
giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp khác có thể trở nên
“vô nghĩa” khi giá trị này nhỏ hơn giá trị doanh nghiệp được xác định
theo phương pháp tài sản vì trong trường hợp này, giá trị doanh nghiệp
được công bố là giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài
sản chứ không phải là giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương
pháp khác.
Đối với các tổ chức tín dụng, nếu áp dụng
phương pháp tài sản để xác định giá trị doanh nghiệp, thì tổ chức tư
vấn định giá được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác
định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm
kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn và giá
trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định. Vừa qua, Quyết định
số 1289/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng quy
định “Ngoài áp dụng các phương pháp quốc tế trong xác định giá trị doanh
nghiệp, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện các bước xử lý tài
chính, xác định giá trị quyền sử dụng đất và hình thức sử dụng đất sau
cổ phần hóa, đánh giá tài sản khác … kết hợp với kết quả xác định giá
trị doanh nghiệp của tổ chức tư vấn cổ phần hóa và định giá nước ngoài
…. công bố giá trị doanh nghiệp và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
theo số đánh giá lại” (khoản 5 Điều 1). Do vậy, sau khi xác định giá trị
doanh nghiệp theo phương pháp tài sản, ngân hàng phải hạch toán và điều
chỉnh lại giá trị sổ sách. Điều này thường làm cho các nhà đầu tư thắc
mắc về số liệu được hạch toán trong số sách kế toán của ngân hàng cổ
phần hoá. Nhiều nhà đầu tư còn cho rằng việc không công nhận các số liệu
trong báo cáo tài chính hằng năm của ngân hàng đã được kiểm toán quốc
tế kiểm tra và xác nhận là không phù hợp với thông lệ quốc tế. Thêm nữa,
giá trị doanh nghiệp có thể thay đổi theo thời gian (thậm chí là thay
đổi theo từng ngày) do giá trị tài sản biến động theo giá thị trường.
Đối với ngân hàng, thì nợ và doanh thu phát sinh hằng ngày tương đối
lớn. Cho nên, kể cả trong trường hợp xác định lại theo phương pháp tài
sản, thì giá trị doanh nghiệp cũng chỉ mang tính tương đối tại thời điểm
xác định.
Hiện nay, một số tổ chức tư vấn quốc tế
đang tư vấn định giá Vietcombank, MHB, Incombank, BIDV để thực hiện các
thủ tục chuyển đổi các ngân hàng này sang ngân hàng thương mại cổ phần
và họ rất ngạc nhiên về quy định nêu trên của Nghị định số 109. Việt Nam
đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), nên pháp luật Việt Nam không nên có những quy định khác biệt so
với pháp luật quốc tế và thông lệ quốc tế. Vì vậy, Bộ Tài chính – cơ
quan được giao chủ trì soạn thảo Nghị định số 109 cần xem xét lại các
phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tại Điều 23 của Nghị định số
109 để có đề xuất sửa đổi quy định đó cho phù hợp với thông lệ quốc tế
và pháp luật quốc tế.
3. Có nhất thiết thanh toán tiền mua cổ phần bằng đồng Việt Nam?
Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số
109, thì các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài mua cổ phần của doanh
nghiệp bằng đồng Việt Nam. Cho nên, khi mua cổ phần của các ngân hàng
thương mại nhà nước, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài phải thanh toán
bằng đồng Việt Nam. Tuy nhiên, Nghị định số 109 lại không hướng dẫn nhà
đầu tư nước ngoài về thủ tục chuyển ngoại tệ ra nước ngoài vì rõ ràng
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chỉ có vốn bằng ngoại tệ để thanh toán
tiền mua cổ phần chứ không có đồng Việt Nam. Do đó, các nhà đầu tư chiến
lược nước ngoài rất khó trả lời về việc liệu có đủ số tiền đồng Việt
Nam để thanh toán tiền mua cổ phần đúng thời hạn hay không khi đàm phán
mua cổ phần với bên Việt Nam.
Số tiền đồng Việt Nam mà nhà đầu tư chiến
lược nước ngoài phải thanh toán tiền mua cổ phần bằng 20% vốn điều lệ
của ngân hàng thương mại nhà nước là rất lớn. Tại Quyết định số
1289/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hóa Vietcombank nêu trên, Thủ
tướng Chính phủ đồng ý bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
tối đa không quá 20% vốn điều lệ. Cũng theo Quyết định này, vốn điều lệ
của Vietcombank được xác định là 15.000 tỷ đồng. Cho nên, 20% vốn điều
lệ của Vietcombank là 3.000 tỷ đồng. Đây là số tiền lớn hơn vốn điều lệ
của bất kỳ ngân hàng thương mại cổ phần nào ở nước ta hiện nay. Do vậy,
nếu nhà đầu tư chiến lược nước ngoài muốn mua đồng Việt Nam tại một ngân
hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, thì không có ngân hàng nào đủ
lượng tiền đồng Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài trong một khoảng thời gian không phải là dài (thời gian mà
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đã thỏa thuận nộp đủ tiền mua cổ phần
theo hợp đồng mua cổ phần và quy định của Chính phủ).
Theo Nghị định số 109, sau thời hạn 3
tháng kể từ ngày được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần
hoá, ngân hàng phải hoàn thành việc bán cổ phần (kể cả bán cổ phần theo
phương thức bảo lãnh phát hành và bán thỏa thuận trực tiếp). Tiếp theo
ngày hoàn thành việc bán cổ phần (thời hạn là 1 tháng), ngân hàng phải
tổ chức Đại hội đồng cổ đông lần đầu để chuyển ngân hàng thương mại nhà
nước thành ngân hàng thương mại cổ phần và đăng ký kinh doanh. Trong một
khoảng thời gian không dài như trên (không quá 4 tháng), nhà đầu tư
chiến lược nước ngoài vừa phải hoàn thành các thủ tục nội bộ (bao gồm
thủ tục xin phép, chấp thuận tại tổ chức tín dụng nước ngoài và tại cơ
quan có thẩm quyền nước ở sở tại để đầu tư ra nước ngoài), vừa phải đàm
phán, thương lượng với ngân hàng cổ phần hoá để ký được hợp đồng mua cổ
phần. Cho nên, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài khó có thể thu xếp được
đủ một lượng tiền đồng Việt Nam bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng cổ
phần hoá nếu không được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam hỗ trợ.
Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước không thể
mua ngay một số lượng ngoại tệ bằng 20% vốn điều lệ của Vietcombank nói
trên, vì việc Ngân hàng Nhà nước mua vào hoặc bán ra một lượng ngoại tệ
nhất định phải cân nhắc thận trọng và tính toán kỹ lưỡng trên cơ sở
chính sách tiền tệ quốc gia và cung – cầu ngoại tệ trên thị trường.
Chẳng hạn như lượng ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại được phép hoạt
động ngoại hối không đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngoại tệ của các
tổ chức, cá nhân, thì Ngân hàng Nhà nước có thể “bơm thêm” vào nền kinh
tế một lượng ngoại tệ thông qua các ngân hàng được phép nhằm bù đắp phần
chênh lệch thiếu ngoại tệ trên thị trường. Ngược lại, Ngân hàng Nhà
nước có thể mua vào một lượng ngoại tệ để cân đối cung – cầu ngoại tệ
trên thị trường và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Do đó, nếu thị trường
ngoại tệ đang trong tình trạng bình thường mà Ngân hàng Nhà nước mua số
ngoại tệ của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài bằng 20% vốn điều lệ của
Vietcombank, thì có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ quốc gia.
Chính vì lo sẽ không mua được đủ lượng
đồng Việt Nam tại một ngân hàng thương mại ở Việt Nam hoặc tại Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, nên nhiều đầu tư chiến lược nước ngoài đã đề nghị
bên Việt Nam làm rõ cơ chế chuyển đổi. Trên thực tế, tỷ giá giao dịch
bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước
công bố chỉ là tỷ giá mang tính chất định hướng, không phải là tỷ giá
giao dịch thực sự trên thị trường. Do vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền của Việt Nam cần xem xét và có quy định về cơ chế mua ngoại tệ cho
các nhà đầu tư chiến lược theo hướng sau:
- Đối với số tiền nhỏ (ví dụ dưới 100 triệu USD): nhà đầu tư có thể bán trên thị trường liên ngân hàng;
- Đối với số tiền lớn (ví dụ từ 100 triệu
USD trở lên): thị trường liên ngân hàng có thể không hấp thụ được số
lượng ngoại tệ lớn mà nhà đầu tư cần bán. Cho nên, Ngân hàng Nhà nước
cần có ý kiến về việc có mua số ngoại tệ này hay không và cơ chế thực
hiện, vì việc cung một lượng tiền đồng Việt Nam lớn để mua ngoại tệ có
thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và mục tiêu tăng trưởng của Ngân
hàng Nhà nước. Ngoài ra, để giảm sức ép về mua ngoại tệ, cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền có thể quy định phần góp vốn của nhà đầu tư (theo
mệnh giá) và phần thặng dư để lại cho doanh nghiệp được thanh toán bằng
đồng Việt Nam, còn phần Nhà nước thu về có thể được thanh toán bằng
ngoại tệ.
Từ thực trạng về việc thực hiện những quy
định của pháp luật về cổ phần hoá liên quan đến các ngân hàng thương
mại nhà nước trên đây, thiết nghĩ, bên cạnh những quy định của pháp luật
(Nghị định số 109) áp dụng chung cho việc cổ phần hoá các doanh nghiệp
nhà nước, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể tham khảo các kiến nghị
trên đây để ban hành quy định riêng áp dụng đối với việc cổ phần hoá các
ngân hàng thương mại nhà nước cho phù hợp với ngành nghề hoạt động kinh
doanh đặc thù có điều kiện này.
TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 22/2007



6:56 PM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment