Showing posts with label TTDS - Quan diem cua Toa an va ve Toa an. Show all posts
Showing posts with label TTDS - Quan diem cua Toa an va ve Toa an. Show all posts

Thursday, February 13, 2014

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ
Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:
Vụ việc
Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.
Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.
Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.
Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.
Vấn đề
Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:
- Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:
Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.
Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
- Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:
Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.
Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.
Án lệ
Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.
Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.
Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …
Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.
Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.
Áp dụng ở VN
VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.
Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.
Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.
Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

Wednesday, January 22, 2014

NGƯỜI GỬI TIỀN, VIETINBANK, HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ VÀ 4.000 TỶ

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA
Huỳnh Thị Huyền Như kêu gọi khách hàng gửi tiền về Vietinbank, bằng hình thức ủy thác, gửi tiền trực tiếp… Sau khi khách hàng gửi tiền vào Vietinbank, Huyền Như có hai thủ đoạn chính để rút tiền. Một là, dùng chứng từ giả để rút ra, giả chữ ký của chủ tài khoản. Hai là, dùng chứng từ giả, giả chữ ký và thế chấp khoản tiền đó để vay Vietinbank, chiếm đoạt tiền vay; sau đó bị bắt, Vietinbank trích tiền gửi của khách hàng để bù đắp cho việc cho vay này, mặc dù hợp đồng thế chấp là giả. Tóm lại là người gửi tiền đã chuyển vào tài khoản hợp pháp của ngân hàng Vietinbank, sau đó Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối để lấy tiền ra.
Vụ án phức tạp, thời gian xét xử dự kiến kéo dài từ ngày 6/1/2014 đến 25/1/2014. Trong những ngày qua trên các báo phản ánh câu chuyện phức tạp, nóng bỏng là Huyền Như chiếm đoạt tiền của ai, Vietinbank có phải đền tiền cho khách hàng hay không? Để bạn đọc tiện theo dõi và bình luận tôi xin tổng hợp các tin bài từ trang website: Cafef.vn và VnEconomy.vn, như sau.
QUAN ĐIỂM VIỆN KIỂM SÁT
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát cho rằng trong vụ án này, Huỳnh Thị Huyền Như phạm tội lừa đảo, Vietinbank không bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm về dân sự đối với các khoản tiền mà các đơn vị, cá nhân gửi vào ngân hàng. Theo đó Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng gần 4.000 tỷ đồng.
QUAN ĐIỂM BẢO VỆ VIETINBANK
Trả lời Hội đồng xét xử các câu hỏi của luật sư liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của VietinBank, ông Nguyễn Mạnh Toàn, chuyên viên phòng Pháp chế ngân hàng VietinBank đã khẳng định rằng, các bộ luật, nghị định, quyết định hoặc các văn bản dưới luật khác không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, tài khoản của khách hàng được mở tại ngân hàng cũng như quản lý số dư trên các tài khoản này tại ngân hàng. Mấu chốt nhất trong nội dung trả lời là không có định nghĩa về “quản lý tài khoản” nên không có “trách nhiệm quản lý tài khoản”; số dư tài khoản thuộc quyền sở hữu và định đoạt của khách hàng.
Luật sư Nguyễn Thị Bắc bảo vệ quyền lợi cho Vietinbank đã trình bày quan điểm khẳng định Vietinbank không phải là bị hại của vụ án và Vietinbank không thiệt thòi gì. Việc xảy ra vụ án lớn như thế không chỉ bởi lỗi tinh vi của bị cáo Huyền Như mà còn bởi sai phạm quá tinh vi của các ngân hàng, doanh nghiệp cá nhân bị hại.
Phản bác mọi ý kiến, quan điểm của các luật sư khác, đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát, luật sư Bắc cho rằng Vietinbank không chịu trách nhiệm gì về những tổn thất mà Huyền Như gây ra. Bởi toàn bộ hợp đồng này do Như ký với các bị hại, không diễn ra trong văn phòng của Vietinbank, và đây hoàn toàn là những giao dịch bất hợp pháp. Bởi vậy, Vietinbank không chịu bất kể trách nhiệm dân sự nào của vụ việc.
Lý giải về việc thời gian sai phạm của Huyền Như kéo dài và số tiền Như chiếm đoạt rất lớn nhưng Vietinbank không hề biết, luật sư Bắc khẳng định trong suốt thời giandài, các cơ quan thanh tra Chính phủ, kiểm toán Nhà nước và cả kiểm toán Quốc tế đã làm việc ở Vietinbank nhưng không phát hiện ra bởi Như phạm tội hết sức tinh vi và do sai phạm tinh vi của các cá nhân, bị hại.
QUAN ĐIỂM BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN
Luật sư Trương Thanh Đức (bảo vệ quyền và lợi ích của NaviBank) đã bắt đầu bài trình bày quan điểm của mình trong ngày xét xử t(16-1) : Tại trang web của VietinBank sáng nay 16-1 vẫn đang khẳng định rằng “Tiền trong tài khoản của khách hàng được VietinBank quản lý, bảo mật”.
Ai quản lý tài khoản?
Theo luật sư Đức, hiện nay, các quy định về mở và sử dụng tài khoản của ngân hàng đã xác định không thật rõ về trách nhiệm quản lý tài khoản. Tuy nhiên vẫn hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm này. Chẳng hạn, khoản 2, Điều 67 về “Phong tỏa tài khoản”, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định “Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải thực hiện ngay quyết định của Chấp hành viên về phong toả tài khoản.”
Đương nhiên phải hiểu rằng người “quản lý tài khoản” là ngân hàng chứ không phải là chủ tài khoản, vì nghiệp vụ “phong tỏa tài khoản” chỉ dành riêng cho ngân hàng, chứ không dành cho khách hàng. Hay khoản 5, Điều 3 về “Nhận biết khách hàng”, Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04-10-2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Phòng chống rửa tiền cũng quy định, ngân hàng phải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng trong “dịch vụ quản lý tài khoản của khách hàng”.
Như vậy thì khách hàng có trách nhiệm quản lý tài khoản của mình tại ngân hàng hay không? Luật sư Đức đặt câu hỏi và tự trả lời luôn: “Xin khẳng định rằng khách hàng cũng có trách nhiệm quản lý tài khoản. Điều này đã được quy định trong Điều 10 về “Trách nhiệm của chủ tài khoản”, Quy chế Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN2 ngày 21-11-2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là phải hiểu trách nhiệm ở đây là như thế nào?
Trách nhiệm quản lý đến đâu?
Cho rằng liên quan đến hậu quả mất tiền trong vụ án nói trên, ngân hàng đã viện dẫn quy định quan trọng nhất tại khoản 2, Điều 10, Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2, đó là khách hàng có trách nhiệm: “Tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư trên tài khoản, đối chiếu với Giấy báo Nợ, Giấy báo Có, hoặc Giấy báo số dư tài khoản do Ngân hàng nơi mở tài khoản gửi đến”.
Theo ông Đức, một trong những quyền quan trọng nhất của chủ tài khoản là được ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các yêu cầu thanh toán, rút tiền, chuyển tiền. Nhưng để thực hiện được quyền này, thì đồng thời khách hàng phải có trách nhiệm tổ chức hạch toán kế toán như thanh toán tiền hàng hay trả lương và theo dõi xem tiền còn hay hết, chứ không thể yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mục đích trái luật hay chuyển tiền khi tài khoản trống rỗng. Chủ tài khoản không thể tự mình giao dịch rút tiền, chuyển tiền, thanh toán nếu như không có sự cho phép của ngân hàng. Thậm chí đúng là chủ tài khoản đã ký lệnh thanh toán, nhưng nếu chữ ký không giống với đăng ký hay ký bằng mực đỏ, thì ngân hàng có quyền đồng thời phải từ chối thực hiện lệnh chi.
Như vậy, khách hàng chỉ quản lý một phần tài khoản và những gì ngoài phạm vi ngân hàng, còn lại thì chủ yếu thuộc về trách nhiệm của ngân hàng. Điều đó có nghĩa là, dù tội phạm có giật được tài khoản, thì cũng không dễ gì chiếm đoạt được tiền trong tài khoản của khách hàng, vì ngân hàng mới là người quyết định trong việc mở két và xuất tiền. Ngân hàng là hầu bao giữ tiền, tội phạm muốn lấy tiền, thì buộc phải tìm cách rút ruột ngân hàng.
Trách nhiệm pháp lý
Với cơ sở nói trên, theo luật sư Đức tài khoản bị “chọc thủng” ở khâu nào, thì sẽ tương ứng với trách nhiệm liên quan của khách hàng hay ngân hàng ở đó. Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2 cũng đã đồng thời quy định tại Điều 10 và Điều 12, khách hàng thì phải “chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.”, còn ngân hàng thì phải “chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng trên tài khoản của khách hàng do lỗi của mình.” Nếu khách hàng không hề ký lệnh rút tiền hay thanh toán, cũng không hề ký hợp đồng cầm cố tiền gửi,… thì đương nhiên là không có lỗi trong việc tiền cứ “biến” khỏi tài khoản.
Tại phiên tòa này, đại diện Vietinbank cho rằng, những quy định trên chỉ áp dụng đối với tài khoản tiền gửi, chứ không áp dụng đối với tài khoản thanh toán của khách hàng. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của pháp luật luật sư Đức cho rằng: “tài khoản thanh toán cũng chính là một loại tiền gửi và không có sự khác nhau về trách nhiệm pháp lý giữa hai loại tài khoản này. Khoản 22, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã giải thích rõ “Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.” Không những thế, Quy chế số 1284/2002/QĐ-NHNN2 còn xác định cụ thể hơn, “tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản séc bảo chi, tài khoản chuyển tiền, tài khoản tiền vay,…” đều là “các tài khoản thanh toán khác”. Luật sư Trương Thanh Đức viện dẫn.
Do vậy, vấn đề pháp lý mấu chốt trong việc tranh cãi nói trên không phải ở chỗ ai là người có trách nhiệm quản lý tài khoản, mà là ai đã có lỗi chủ yếu và trực tiếp dẫn đến nguyên nhân thất thoát hàng ngàn tỷ đồng trong tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Luật sư Đức nói.
Yêu cầu Vietinbank dũng cảm nhận trách nhiệm
Tương tự, luật sư Trần Minh Hải (bào chữa cho Công ty CP chứng khoán Phương Đông) lập luận, từ khi tiền của khách hàng chuyển vào tài khoản tiền gửi mở tại Vietinbank, sau khi được hạch toán chuyển tiền liên ngân hàng, từ đây trách nhiệm quản lý tiền gửi đã phát sinh. Lúc này, một lằn ranh pháp lý rõ rệt đã được hình thành: Tiền gửi của khách hàng lập tức thuộc trách nhiệm quản lý của Vietinbank.
“Từ đây, nếu như tiền gửi của khách hàng đang nằm trong sự quản lý an toàn của cả hệ thống ngân hàng Vietinbank, bao gồm các yếu tố công nghệ, con người, quy trình… mà bị thất thoát do lỗi của ngân hàng, thì đương nhiên ngân hàng Vietinbank phải gánh chịu trách nhiệm”, luật sư Hải nói.
Theo luật sư Hải, ngân hàng để xảy ra hiện tượng cán bộ của mình dùng thẩm quyền ngân hàng giao phó, chiếm đoạt tiền gửi trên tài khoản của khách hàng, thì đương nhiên ngân hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ngân hàng quản lý tài khoản của khách hàng nhưng lại để tiền chuyển khỏi tài khoản tiền gửi của khách hàng mà không hề có chứng từ, lệnh chuyển tiền hợp pháp. Huyền Như dùng thủ đoạn lập khống các ủy nhiệm chi để che dấu sai phạm chỉ là trì hoãn sự phát giác của Vietinbank. Nói cách khác, hành vi phạm tội của Huyền Như đã hoàn thành ngay tại thời điểm tiền được chuyển ra khỏi tài khoản của khách hàng. Đó là thời điểm tiền gửi của khách hàng đang nằm dưới sự quản lý của Hệ thống Vietinbank, đó là hành vi rút ruột tiền của Vietinbank, Vietinbank phải chịu trách nhiệm về sự chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng, luật sư Hải lập luận.
Theo điều 18, Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20.9.2001: “Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, người sử dụng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho bên liên quan do vi phạm quy định hoặc thỏa thuận giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán”, luật sư Hải viện dẫn.
Luật sư Trấn cho rằng kết luận của vị công tố là không phù hợp với pháp luật.
Cụ thể, Huỳnh Thị Huyền Như và Võ Anh Tuấn đều là người của pháp nhân Vietinbank do Vietinbank bổ nhiệm, quản lý. Cả hai được Vietinbank giao trách nhiệm huy động vốn cho Vietinbank. Theo quy định của điều 618 Bộ luật dân sự thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân giao.
Bảo vệ cho Ngân hàng ACB, luật sư Lưu Văn Tám đề nghị
Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Vietinbank thừa nhận tại tòa trong quá trình xét hỏi chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền bị chiếm đoạt trong trường hợp nếu đó là hợp đồng thật.
“Cụ thể, đối với các hợp đồng do Vietinbank xác lập với khách hàng, có chữ ký, con dấu thật thì Vietinbank sẽ chịu trách nhiệm trả cho khách hàng. Có 32 hợp đồng của ACB là hợp đồng thật, chữ ký và con dấu thật của Vietinbank và đã chuyển tiền cho Vietinbank”, luật sư Tám nói.
Việc vị công tố lập luận khách hàng không giao dịch trực tiếp với người có trách nhiệm của Vietinbank dẫn đến mất tiền là không thỏa đáng, vì lãnh đạo của Vietinbank chỉ có vài người, làm sao có thể tiếp xúc với hàng trăm, hàng ngàn khách hàng một ngày, luật sư Tám phân tích.
Nếu việc trả lãi suất vượt trần là sai thì cũng không thể dẫn đến hậu quả ACB bị mất tiền và không thể phủ nhận trách nhiệm của Vietinbank trong việc hoàn trả ACB số tiền gốc, lãi hợp pháp theo quy định, theo luật sư Tám.
Cũng theo luật sư Tám, nếu Cơ quan công tố cho rằng hợp đồng (giao dịch) ủy thác của lãnh đạo ACB cho nhân viên mình là trái pháp luật, bị vô hiệu, dẫn đến 32 hợp đồng tiền gửi cũng vô hiệu theo, thì Vietinbank vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho ACB toàn bộ các khoản tiền gốc đã nhận là 668,908 tỉ đồng theo quy định tại điều 137 Bộ luật dân sự, chứ không thể “quỵt” tiền.
Đặc biệt, luật sư Tám còn cho rằng, cùng một hành vi, cùng một hậu quả, nhưng Cơ quan công tố lại tự mâu thuẫn cho hai kết quả khác nhau. Cụ thể, với hành vi Huyền Như làm giả hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng VIB thì cơ quan công tố xác định Huyền Như chiếm đoạt tiền vay của VIB.
Trong khi đó, cũng là hành vi thế chấp giả, hồ sơ vay giả tại Vietinbank với cùng tính chất, thì công tố cho rằng Huyền Như không chiếm đoạt tiền của Vietinbank dẫn đến hậu quả ACB trở thành nạn nhân bị Huyền Như chiếm đoạt tiền, theo kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia.
Trong suốt quá trình tố tụng, ACB luôn khẳng định Vietinbank phải có trách nhiệm, chứ không yêu cầu Huyền Như, do đó cần xem xét lại tư cách tham gia tố tụng của Vietinbank là bị đơn dân sự, còn ACB là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trách nhiệm này còn xuất phát từ việc trong thời gian xảy ra sự việc, theo sơ đồ của Vietinbank thì Huyền Như là Phó trưởng phòng Giao dịch. Chức danh này là chức danh quản lý nên Như là người có trách nhiệm quản lý giao dịch về tiền của ACB, được phân công việc huy động vốn chứ không phải thông qua Huyền Như để gửi tiền như nhận định của Viện Kiểm sát.
Đặc biệt, luật sư Tám yêu cầu Hội đồng Xét xử xem xét bản chất vụ án này Huyền Như phạm tội tham ô tài sản, đồng thời kiến nghị yêu cầu khởi tố lãnh đạo Vietinbank và Vietinbank chi nhánh Tp.HCM về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ án này.
Luật sư Nguyễn Minh Tâm bảo vệ quyền lợi cho Công ty Cổ phần Chứng khoán Saigonbank – đã phản bác các lý lẽ mà đại diện Viện Kiểm sát đã kết luận
Khi đại diện Viện Kiểm sát lập luận hành vi tội phạm của Như đã hoàn thành khi các bị hại gửi tiền vào tài khoản của họ tại Vietinbank, luật sư Tâm đặt câu hỏi: “Không hiểu được thời điểm hoàn thành tội phạm mà Viện Kiểm sát dựa trên căn cứ và lý lẽ nào? Phải chăng, việc quy kết như vậy để “giải thoát” cho Vietinbank?”.
Theo ông, SBBS không phải là nguyên đơn dân sự, không phải là đơn vị bị thiệt hại do hành vi tội phạm của Như. Bởi lẽ, ngay từ đầu, SBBS hoàn toàn tin tưởng giao dịch với Vietinbank thông qua tư cách của Như là quyền Trưởng phòng giao dịch, sau khi tiền đã vào tài khoản, Như mới làm giả chữ ký của chủ tài khoản, lừa các giao dịch viên, chuyển đi các địa chỉ của Như. Do đó, luật sư Tâm lập luận chính Vietinbank đã bị Như qua mặt và những sơ hở trong quản lý của Vietinbank mới là điều kiện cho Như tiếp tục chiếm đoạt. “Trong phần luận tội VKS cũng thừa nhận rằng, Huyền Như đã lừa dối cả lãnh đạo Vietinbank rằng Vietinbank đã có những sơ hở trong quản lý nghiệp vụ để Huyền Như qua mặt, làm giả các lệnh chuyển tiền để rút tiền từ tài khoản của khách hàng.” “Nạn nhân trong vụ án này chính là Vietinbank, chứ không phải SBBS”.
Để chứng minh cho yêu cầu này, ông đã làm rõ tài khoản của SBBS mở tại Vietinbank là hoàn toàn hợp pháp, dựa trên hồ sơ gốc, do chính những người đại diện SBBS lập, chứ không phải bị Như làm giả như một số trường hợp khác. Căn cứ theo điều 12 của Quyết định 1284, Vietinbank phải chịu trách nhiệm về tài khoản của khách hàng, bên cạnh việc cung ứng kịp thời các dịch vụ, để cho Như dùng hồ sơ giả để rút tiền chiếm đoạt, Vietinbank còn không gửi kịp thời giấy báo nợ, báo có, không thông tin kịp thời số dư tài khoản hàng tháng theo quy định. Nếu Vietinbank thực hiện đúng trách nhiệm thì ngay lần đầu tiên đã có thể phát hiện Như lừa đảo.
Luật sư Tâm nói: “Vietinbank hoàn toàn có lỗi, họ phải chịu trách nhiệm trước những thiệt hại. Lỗi vi phạm là căn cứ phát sinh trách nhiệm buộc Vietinbank phải bồi thường SBBS”.
Trước khi kết thúc bài phát biểu, ông hướng về Hội đồng Xét xử và nói: “Một tổ chức tín dụng bị mất lòng tin của khách hàng thì liệu họ có tồn tại được hay không!”.
BÌNH LUẬN CỦA TÁC GIẢ
Phản bác quan điểm của Viện Kiểm sát và Vietinbank, tác giả đặt câu hỏi: Trường hợp Vietinbank đã cho công ty A vay tiền, sau đó ông giám đốc công ty A dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền vay của Công ty A thì nghĩa vụ trả nợ VietinBank thuộc về Công ty A hay ông giám đốc? Tòa án chưa có phán quyết cuối cùng, nhưng quan điểm của Viện kiểm sát và quan điểm của Vietinbank trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như đã làm dư luận, đặc biệt hàng triệu người đang gửi tiền và sẽ gửi tiền vào ngân hàng phải lo sợ vì gửi tiền vào Ngân hàng mà không may gặp phải cán bộ ngân hàng gian dối thì mất trắng.
SOURCE: TÁC GIẢ CUNG CẤP
VIỆC SỬ DỤNG BÀI VIẾT VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI PHẢI CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ
TRA CỨU CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ TẠI ĐÂY

Wednesday, January 1, 2014

PHÂN TÍCH SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT, XÉT XỬ CÁC LOẠI VỤ ÁN CỦA NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phán – Vụ trưởng Vụ tổng hợp Toà án nhân dân tối cao
Số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án của ngành Tòa án nhân dân nói chung và của các cấp Tòa án nói riêng chính là thước đo quan trọng bậc nhất để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành và của từng Tòa án, từng cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án.
Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm trước, dự báo tình hình, nhiệm vụ của năm tiếp theo và các điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, hàng năm Hội nghị tổng kết và triển khai công tác của ngành đều bàn bạc và thống nhất đưa ra các chỉ tiêu công tác, trong đó có chỉ tiêu về công tác xét xử, giải quyết các loại vụ án. Chỉ tiêu về số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của các vụ án đã giải quyết trên tổng số các vụ án phải giải quyết. Trên cơ sở các chỉ tiêu công tác do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, các Tòa án đều phải quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện trong toàn đơn vị. Kết quả thực hiện trong từng thời điểm thống kê, báo cáo được tổng hợp từ Tòa án nhân dân cấp huyện đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thống kê, tổng hợp chung của toàn ngành tại Tòa án nhân dân tối cao.
Các số liệu thống kê được phân tích, đánh giá để có thể vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về công tác giải quyết, xét xử của toàn ngành Tòa án nhân dân trong quý, 9 tháng, một năm. Từ những số liệu này có thể nhận biết được những điểm mạnh, những điểm yếu kém, tồn tại trong công tác giải quyết, xét xử chung của toàn ngành, hơn thế còn có thể đánh giá được việc giải quyết, xét xử từng loại vụ án, từng loại tội, từng loại tranh chấp hay việc dân sự. Trên cơ sở các số liệu đó, lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân, lãnh đạo các Tòa án nhân dân địa phương có thể rút ra những bài học về chất lượng và quản lý, điều hành hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án. Cũng căn cứ vào các số liệu của ngành Tòa án nhân dân, của Viện kiểm sát nhân dân, Công an nhân dân, Bộ Tư pháp, Nhà nước có thể hoạch định những chính sách, đề ra những chủ trương thích hợp nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói riêng và toàn xã hội nói chung tốt hơn.

Như vậy, yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo số liệu báo cáo, thống kê đầy đủ, trung thực, chính xác và kịp thời. Nhìn chung, trong những năm gần đây, do có sự quan tâm đúng mức của Lãnh đạo, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, đồng thời có sự hỗ trợ tốt của công nghệ thông tin nên các số liệu thống kê, báo cáo của ngành Tòa án nhân dân đã đầy đủ hơn, chính xác hơn, kịp thời và đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, việc đánh giá về số lượng, chất lượng của công tác giải quyết xét xử các loại vụ án cũng còn có những ý kiến khác nhau, cần phân tích để làm rõ. Chúng tôi xin nêu một số vấn đề như sau:
1- Về số lượng vụ án, vụ việc (sau đây xin gọi chung là vụ án)
Số lượng các vụ án phải giải quyết (tức là đã thụ lý) bao gồm cả số vụ án chưa giải quyết của các kỳ thống kê trước và số vụ án đã thụ lý trong kỳ thống kê (cũ còn lại cộng với mới thụ lý).
Số lượng các vụ án đã giải quyết là số vụ án, vụ việc các Tòa án đã giải quyết bằng các bản án, quyết định (Quyết định giải quyết vụ án, vụ việc như Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, công nhận thỏa thuận của các đương sự, trả hồ sơ vụ án, chuyển hồ sơ vụ án…).
Số lượng các vụ án đã được giải quyết, xét xử trên tổng số các vụ án phải giải quyết sẽ cho kết quả thực hiện chỉ tiêu (%).
Cách tính tỷ lệ giải quyết, xét xử nêu trên đã được thực hiện trong ngành Tòa án nhân dân nhiều năm qua và cũng phù hợp với cách tính được quy định trong Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 01-7-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện cũng nảy sinh vướng mắc về số vụ án phải giải quyết còn trong thời hạn luật định, nhưng Tòa án không thể giải quyết, xét xử trong thời điểm thống kê được vì mới thụ lý, thế nhưng khi xác định tỷ lệ giải quyết, xét xử thì không tách (trừ) những vụ án đó ra, vì vậy tỷ lệ giải quyết, xét xử thấp hơn thực tế đã giải quyết, xét xử.
Ví dụ: Tòa án nhân dân huyện A, phải giải quyết 150 vụ án các loại, trong số đó có 100 vụ án cũ còn lại, mới thụ lý 50 vụ án. Đã giải quyết trong thời điểm thống kê, báo cáo 70 vụ án. Nếu tính theo phương pháp truyền thống thì tỷ lệ giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện A là: 70 vụ án : 150      vụ án = 46,6%. Nếu không tính số vụ án mới thụ lý (còn trong thời hạn giải quyết, xét xử) thì tỷ lệ giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện A là 70 vụ         án : 100 vụ án = 70%.
Như vậy, nếu không tính số vụ án mới thụ lý thì tỷ lệ giải quyết, xét xử cao hơn, tưởng như mức độ hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn nhưng thực chất số vụ án còn phải giải quyết không phải chỉ là 30 vụ án (100 vụ án – 70 vụ án) mà là 30 vụ án + 50 vụ án = 80 vụ án. Điều này sẽ dẫn tới hai bất cập:
Một là: Không nắm chắc được số vụ án còn lại phải giải quyết nên ảnh hưởng đến việc quản lý, điều hành của lãnh đạo đơn vị, thậm chí còn tư tưởng chủ quan cho rằng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hai là: Công tác thống kê, báo cáo, đối chiếu số liệu giữa các cơ quan tư pháp sẽ không thống nhất, số liệu giữa các ngành không thể nào trùng khớp mỗi khi thực hiện báo cáo trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân, hoặc các cơ quan, tổ chức khác.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng phương pháp tính số liệu theo cách tính truyền thống mà ngành Tòa án nhân dân và các cơ quan tư pháp đang thực hiện chính xác hơn, khoa học hơn, đúng với quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2005 về thống kê án hình sự, tội phạm.
2- Về chất lượng vụ án
Chỉ tiêu về số lượng cũng quan trọng, nhưng chỉ tiêu về chất lượng giải quyết, xét xử càng quan trọng hơn. Đây là vấn đề có tính thời sự và luôn là trọng tâm phấn đấu của từng cán bộ, Thẩm phán. Tỷ lệ các vụ án bị sửa, bị hủy được tính trên tổng số vụ án đã giải quyết chứ không phải là tính trên tổng số các vụ án có kháng cáo, kháng nghị.
Ví dụ: Tòa án nhân dân tỉnh B đã giải quyết 1000 vụ án các loại, trong số đó có 200 vụ án có kháng cáo, bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Tòa phúc thẩm đã xét xử, giải quyết 200 vụ án này, kết quả: giữ nguyên bản án sơ thẩm 150 vụ án; sửa bản án, quyết định sơ thẩm đối với 40 vụ án; hủy 10 vụ án. Số 800 vụ án không có kháng cáo, kháng nghị nhưng qua công tác giám đốc thẩm có 10 vụ án bị kháng nghị vì có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật và    10 vụ án này đã bị hủy theo quyết định giám đốc thẩm.
Như vậy tỷ lệ các vụ án bị sửa của Tòa án nhân dân tỉnh B là:
40 vụ : 1000 vụ án = 4%
Tỷ lệ các vụ án bị hủy của Tòa án nhân dân tỉnh B là:
(10 vụ án theo thủ tục phúc thẩm + 10 vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm) : 1000 vụ án = 2%.
Nếu tính trên tổng số vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì tỷ lệ án bị sửa, bị hủy sẽ rất cao (án sửa 40 vụ án : 200 vụ án = 20% và tỷ lệ vụ án bị hủy là 20 vụ án : 200 vụ án = 10%). Cách tính này không chính xác khi đánh giá số vụ án bị sửa, bị hủy của Tòa án và dễ gây ra bức xúc dư luận về chất lượng giải quyết, xét xử của Tòa án.
Ví dụ nêu trên mới chỉ là số liệu "mộc" mà chưa phân tích, mổ xẻ để tìm ra cái lõi của việc sửa, hủy bản án, quyết định. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án cho thấy rất nhiều vụ án tuy bị sửa, bị hủy nhưng Tòa án cấp dưới không có lỗi, vì việc sửa, hủy đó của Tòa án cấp trên là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, chúng ta chỉ tính số liệu các vụ án bị sửa, bị hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán và số liệu đó mới là căn cứ để đánh giá chất lượng xét xử của từng Thẩm phán, từng Tòa án và toàn ngành Tòa án nhân dân. Đây là một vấn đề rất quan trọng nên cần được xem xét, đánh giá tỷ mỉ, thận trọng để xác định chính xác lỗi chủ quan hay lỗi khách quan. Chúng tôi xin nêu một số căn cứ phân biệt như sau:
A- Đối với các vụ án hình sự
1- Về việc sửa bản án, quyết định
* Hội đồng xét xử có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:
- Xác định tội danh không chính xác dẫn tới bị sửa về tội danh và có thể bị sửa về hình phạt chính, hình phạt bổ sung;
- Xác định sai khung hình phạt dẫn tới bị sửa khung hình phạt, sửa hình phạt;
- Quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (áp dụng hình phạt quá nặng, quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự không đúng nên quyết định hình phạt không đúng pháp luật…);
- Xác định mức độ thiệt hại không chính xác nên quyết định việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) không đúng quy định của Bộ luật dân sự;
- Không quyết định về án phí hoặc tính sai về án phí;
- Không quyết định hoặc quyết định xử lý vật chứng, áp dụng các biện pháp tư pháp không đúng quy định của pháp luật.
* Hội đồng xét xử không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:
- Trước hoặc trong khi xét xử phúc thẩm, bị cáo (hoặc gia đình bị cáo) tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;
- Người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, tự nguyện không nhận bồi thường thiệt hại (rút yêu cầu bồi thường thiệt hại) hoặc có thỏa thuận khác về mức bồi thường thiệt hại;
- Bị cáo xuất trình thêm các chứng cứ mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự;
- Bị cáo thành khẩn khai nhận tội phạm, ăn năn, hối cải, khai thêm các đồng phạm khác hoặc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra về tội phạm khác.
2- Về việc hủy bản án, quyết định
* Hội đồng xét xử có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy
- Giải quyết vụ án sai thẩm quyền;
- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;
- Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các thành viên của Hội đồng xét xử. (Thành phần Hội đồng xét xử bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là giáo viên, công tác Đoàn thanh niên, thành phần Hội đồng xét xử phải có 5 người…);
- Vụ án đó có bị cáo bị truy tố ở mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình hoặc bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất nhưng không có sự tham gia bào chữa của Luật sư;
- Việc thu thập chứng cứ trong vụ án không đúng quy định của pháp luật nhưng Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà vẫn đưa vụ án ra xét xử (lấy lời khai của người chưa thành niên nhưng không có mặt người đại diện hợp pháp của họ; luật sư hoặc người bào chữa không được tham gia từ giai đoạn điều tra; tài liệu trong hồ sơ bị tẩy xóa nhưng không có xác nhận của người tham gia tố tụng…);
- Đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, thực hiện việc xét xử tại phiên tòa không đầy đủ, không đúng quy định tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Ngược lại, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án;
- Tòa án không tổng hợp hình phạt của nhiều tội, nhiều bản án, tính sai thời gian chấp hành hình phạt tù, không trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam;
- Không quyết định về trách nhiệm dân sự, tách phần dân sự thành một vụ kiện dân sự không đúng quy định của pháp luật;
- Vi phạm các quy định về tố tụng hình sự như không tuyên quyền kháng cáo hoặc tuyên quyền kháng cáo không đúng quy định của pháp luật hình sự.
* Hội đồng xét xử không có lỗi khi bản án, quyết định bị hủy.
- Vụ án có kháng cáo, kháng nghị nhưng bị cáo chết trước khi xét xử phúc thẩm;
- Người bị hại khởi tố vụ án nhưng trước khi xét xử phúc thẩm họ rút yêu cầu khởi tố’;
- Do có sự thay đổi của pháp luật;
- Do có sự thay đổi về kết quả giám định năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, sự thay đổi kết quả giám định thương tật, sức khỏe làm cho hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm…
B- Đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động.
1- Về việc sửa bản án, quyết định
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:
- áp dụng sai quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự;
- Thu thập chứng cứ, tài liệu ở Tòa án cấp dưới không đầy đủ nhưng Tòa án cấp trên đã bổ sung được nhưng thiếu sót đó;
- Tính sai lãi suất;
- Tính sai án phí;
- Xác định sai quan hệ pháp luật.
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:
- Có sự thay đổi về quy định của các văn bản pháp luật, Tòa án cấp trên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mới để sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới;
- Đương sự thỏa thuận lại về các vấn đề có tranh chấp, Tòa án cấp trên ghi nhận thỏa thuận đó của các đương sự;
- Đương sự xuất trình thêm chứng cứ mới.
2- Về việc hủy bản án, quyết định
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy:
- Giải quyết vụ việc dân sự sai thẩm quyền;
- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật tố tụng như xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng không đúng quy định của pháp luật; không tiến hành hòa giải đối với những vụ án bắt buộc phải hòa giải; hòa giải với những vụ án không được hòa giải; xác định sai về vụ án và vụ việc dẫn tới áp dụng sai thủ tục giải quyết; vi phạm thủ tục thụ lý hoặc ban hành văn bản tố tụng (ví dụ: không giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự, thụ lý đơn khởi kiện không đúng thẩm quyền như người khởi kiện không có quyền khởi kiện, người đại diện không có tư cách đại diện…); vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử…;
- Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hoặc thực hiện không đầy đủ mà Tòa án cấp trên không thể bổ sung được;
- Bỏ lọt tài sản tranh chấp;
- Giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc giải quyết không đầy đủ các yêu cầu của đương sự;
- Tách hoặc nhập vụ án không đúng quy định của pháp luật.
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị hủy:
- Có sự thay đổi cơ bản trong quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật.
- Đương sự xuất trình chứng cứ mới làm thay đổi hoàn toàn bản chất, nội dung của vụ việc;
- Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án: (đương sự rút yêu cầu khởi kiện);
- Nguyên đơn, bị đơn là cá nhân chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của họ hoặc nguyên đơn, bị đơn là cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng. Tòa án cấp trên hủy bản án, quyết định và đình chỉ vụ án;
C- Đối với các vụ án hành chính
1- Việc sửa bản án, quyết định
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị sửa:
- áp dụng sai quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án;
- Thu thập chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ ở Tòa án cấp dưới nhưng Tòa án cấp trên đã bổ sung đầy đủ;
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:
- Có chứng cứ mới mà Tòa án cấp dưới không thể biết được;
- Có sự thỏa thuận mới của các đương sự về việc bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính.
2- Về việc hủy bản án hoặc quyết định
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán có lỗi chủ quan khi bản án, quyết định bị hủy:
- Giải quyết vụ án sai thẩm quyền;
- Xác định thiếu hoặc sai tư cách người tham gia tố tụng;
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính;
- Việc điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, không đúng quy định.
* Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán không có lỗi khi bản án, quyết định bị sửa:
- Xuất hiện chứng cứ mới làm thay đổi bản chất, nội dung của vụ án;
- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện;
- Đương sự là cá nhân chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của họ hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Để xác định được lỗi chủ quan hay khách quan (không có lỗi) của Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán, phải căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án cấp trên ở thời điểm thống kê, báo cáo. Trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án cũng không ít trường hợp bản án, quyết định phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thiếu căn cứ, không thuyết phục, thậm chí có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng chưa chính xác. Việc sửa, hủy án của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới nếu đúng pháp luật, có căn cứ xác đáng là những bài học bổ ích, rất thiết thực cho các Tòa án cấp dưới. Ngược lại nếu không đúng, không chính xác, không phải là mẫu mực thì tác dụng hướng dẫn không có, thậm chí còn là tác hại khi các Tòa án cấp dưới "rút kinh nghiệm" và thực hiện theo "án lệ" Tòa án cấp trên.
Những vấn đề chúng tôi nêu trên có thể không mới, nhưng theo chúng tôi nó luôn luôn là câu chuyện thời sự hàng ngày của ngành Tòa án nhân dân vì đó là yêu cầu đánh giá đúng chất lượng xét xử, từ đó rút ra các bài học, có các giải pháp cụ thể, khả thi nhằm đáp ứng sự mong mỏi và yêu cầu nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trích dẫn từ:

TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM

VŨ THỊ NGỌC HÀ
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án cần bắt đầu từ thẩm phán, những người đại diện cho công lý, bảo vệ công lý. Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động xét xử theo nguyên tắc Hiến định: “…Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử
Nguyên tắc: “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được đề cập một cách manh nha trong Bộ luật Hồng Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan kể trên phải xét xử cho công bằng và đúng pháp luật”. Điều 720 cũng qui định: “Không ai được cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo”. Tuy nhiên, đấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử độc lập.
Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 04 bản Hiến pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy có sự thay đổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử đều được qui định trong các bản hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của tòa án. 
Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã nâng cao trách nhiệm của các thẩm phán, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện Kiểm sát đưa ra.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực. Trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước Việt Nam những nguyên lý cơ bản của việc phân công quyền lực, kiểm soát và giám sát lẫn nhau. Tính độc lập của thẩm phán là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam. Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động của bộ máy Nhà nước sẽ mất đi những giá trị xã hội to lớn của nó nếu tính độc lập của thẩm phán không được đảm bảo. Sự vi phạm nguyên tắc này dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này.
Tính độc lập của thẩm phán chính là sự gắn kết tuyệt đối các thẩm phán với luật pháp. Tính độc lập của thẩm phán bảo vệ quyền lực tư pháp trước sự can thiệp từ phía lập pháp và hành pháp. Montesquieu cho rằng: Quyền lực nào cũng bị đe dọa lạm dụng, như vậy người nào cũng có xu thế lạm dụng quyền lực mình đang có trong tay, cho tới khi chạm phải rào cản. Với quyền lực tư pháp, Montesquieu chủ trương khi xét xử thẩm phán không cần nhận chỉ thị từ đâu, mà chỉ tuân thủ luật pháp. Khi giải thích, áp dụng các chuẩn mực, thẩm phán không cần phải theo ý kiến đa số và cần hành động dựa vào pháp luật và niềm tin nội tâm.
Ở Việt Nam việc xét xử còn do các hội thẩm nhân dân thực hiện. Vì vậy, nguyên tắc xét xử độc lập động chạm đến không chỉ thẩm phán mà cả hội thẩm nhân dân. “Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Độc lập xét xử được xem xét từ các khía các yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài. Thông thường thì độc lập với yếu tố bên ngoài được hiểu là khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra, cáo trạng và quyết định truy tố của cơ quan điều tra, công tố. Tại phiên tòa, thẩm phán phải trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không căn cứ vào các kết luận trong hồ sơ của vụ án. Thẩm phán chỉ được căn cứ vào những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa để đưa ra bản án.
Ngoài mối quan hệ với cơ quan điều tra, viện kiểm sát, thẩm phán, hội thẩm nhân dân còn mối quan hệ với các luật sư, các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội. Thực tế, trong rất nhiều trường hợp, thẩm phán, hội thẩm nhân dân bị ảnh hưởng, tác động từ phía luật sư, các tổ chức, cá nhân, các cơ quan Nhà nước, làm sai lệch quá trình tố tụng, ảnh hưởng không ít tới hoạt động tố tụng nhằm hướng tới việc xét xử có lợi cho mình. Do đó, thẩm phán phải luôn ý thức được rằng mình là người phải chịu trách nhiệm về nội dung, về tính công minh của bản án. Vì thế, thẩm phán phải có bản lĩnh và phải đứng vững trước những tác động từ các yếu tố bên ngoài. Như vậy, xét từ những yếu tố bên ngoài thì nguyên tắc: “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không cho phép bất cứ ai, cơ quan Nhà nước nào can thiệp vào việc xét xử của tòa án dưới bất cứ lý do nào.
2. Khái quát về thực tiễn thực hiện nguyên tắc độc lập khi xét xử
Nguyên tắc thẩm phán độc lập khi xét xử không chỉ được thực hiện trong việc đánh giá chứng cứ mà cả trong thẩm vấn, tranh luận trước phiên tòa và việc ra bản án, quyết định. Hiện tại, còn rất nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập của thẩm phán. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động xét xử của các thẩm phán thiếu khách quan. Những hạn chế, bất cập này tồn tại trong cả nhận thức lẫn trong thực tiễn tổ chức thực hiện hoạt động xét xử. Có khá nhiều sự lẫn lộn giữa các cơ quan  tiến hành tố tụng làm ảnh hưởng đến tính độc lập của thẩm phán. Điều này liên quan trước hết đến chức năng điều tra, truy tố và xét xử. Một số các nhà nghiên cứu có quan điểm rằng: Hiện nay, ở Việt Nam mặc dù nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử của thẩm phán được đề cao nhưng địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng nhìn chung chưa được xác định một cách thoả đáng. Trong tố tụng, nhất là Tố tụng Hình sự có sự tham gia của hai chủ thể gần như đối lập nhau là bên bị buộc tội và bên buộc tội. Trong quan hệ tố tụng, thẩm phán là hành động như một người đứng giữa để phân xử đúng sai nhân danh Nhà nước. Địa vị của thẩm phán phải khác với bên buộc tội hay bên gỡ tội. Cách tiếp cận phổ biến của các cơ quan tiến hành tố tụng hiện nay là bên bị buộc tội bị coi như là bên đã có tội rồi. Cách ăn mặc, cách xưng hộ, sự đối xử đối với bên bị buộc tội gần như tạo ra tâm lý là đã ra công đường đương nhiên có tội trong khi đó pháp luật qui định rất rõ rằng mọi công dân chỉ coi là có tội khi có một bản án của tòa án có thẩm quyền và đã có hiệu lực. Như vậy, sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử đòi hỏi thẩm phán phải có trách nhiệm xét xử đúng pháp luật, phải ngăn chặn được sự lạm dụng địa vị pháp lý trong quan hệ tố tụng. Do vậy, pháp luật về tố tụng cần có những qui định cụ thể hơn về địa vị pháp lý của các cơ quan tham gia tố tụng trong đó có sự quán triệt giả định vô tội trong thiết kế các qui trình thủ tục tố tụng. Trong quan hệ tố tụng có nhiều chủ thể tham gia với ba xu hướng rất rõ ràng: Buộc tội, gỡ tội và  xét xử. Mỗi xu hướng thường được hiện thực hóa với nhưng qui trình, thủ tục và yêu cầu đặc trưng. Ba xu hướng này phải được tôn trọng và được đảm bảo độc lập thực sự. Xét ở khía cạnh này, một số qui định của pháp luật hiện hành chưa thực sự đảm bảo được yêu cầu về tính độc lập. Ví dụ, Khoản 1, Điều 104 BLTTHS quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới mới cần điều tra”. Quy định này đã khiến cho thẩm phán vừa có chức năng xét xử, vừa có chức năng buộc tội. Quyết định khởi tố vụ ánh hình sự là khởi đầu cho hoạt động buộc tội. Tương tự, khi nghiên cứu kỹ các qui định của pháp luật hiện hành thì có thể thấy về hình thức có gì mâu thuẫn với yêu cầu về tính độc lập trong hoạt động xét xử của tòa án. Tuy nhiên, phân tích kỹ về nội dung chúng ta có thể thấy một số những yếu tố có khả năng làm ảnh hưởng tới tính khách quan, vô tư của thẩm phán. Ví dụ, Điều 176 BLTTHS: “Tòa án chỉ đưa vụ án ra xét xử khi có đủ điều kiện cần thiết nếu tòa án cho rằng có đủ cơ sở để chứng minh tội phạm và người phạm tội”. Quy định này xem ra đã tạo cho thẩm phán quyền quyết định quá lớn. Theo chúng tôi, việc đưa vụ án ra xét xử phải được coi là một thủ tục và vì thế phải đảm bảo chính xác yếu tố thời hạn. Thẩm phán phải đưa vụ án ra xét xử trong phạm vi thời hạn theo qui định của pháp luật. Còn việc vụ án có đủ cơ sở hay không, có thể được làm rõ tại phiên tòa với sự tham gia của các bên trong quan hệ tố tụng.
3. Những điều kiện để các thẩm phán có thể độc lập trong hoạt động xét xử
Độc lập là điều kiện cần thiết để thẩm phán và hội thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên sự độc lập của thẩm phán là độc lập để tuân theo pháp luật. Sự độc lập này đòi hỏi thẩm phán không được  pháp luật, không có bất kỳ sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không bỏ lọt bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào. Xixeron một luật sư, nhà hùng biện nổi tiếng của La mã thời cổ đại từng nói: “Quan tòa, đó là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”.
Tuy nhiên, duy trì tính độc lập của thẩm phán không dễ. Họ cũng là con người, có gia đình, quan hệ bạn bè, có họ hàng thân thích. Tương tự, họ không thể đứng ngoài những quan hệ quản lý hành chính, những ràng buộc, ảnh hưởng của quan chức trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. Xuất phát từ lý đó, nhiều thẩm phán bị vật chất, quyền lực cám dỗ, bao che, ô dù cho những người vi phạm pháp luật. Tính “độc lập và tuân theo pháp luật” của các thẩm phán trong hoạt động xét xử bị ảnh hưởng tiêu cực.
Trong hoạt động xét xử, các thẩm phán là vị “quan tòa” đại diện cho cái thiện chống lại cái ác, là người cầm cân nẩy mực, đại diện cho quyền lực Nhà nước, thực hiện quyền xét xử với mục đích đem lại công bằng cho xã hội, đảm bảo sự ổn định, phát triển mang ý nghĩa xã hội to lớn. Nghề nghiệp của thẩm phán liên quan đến cái sống, cái chết của con người, liên đến việc định đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức. Bản án, quyết định của Thẩm phán chứa đựng trách nhiệm không chỉ của cá nhân thẩm phán mà cả trách nhiệm của xã hội. Chính vậy nghề của thẩm phán vừa mang tính sáng tạo, vừa mang tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do tính đặc thù của nghề nghiệp, muốn độc lập trong hoạt động xét xử của mình, thẩm phán cần hội tụ các phẩm chất sau:
(i) Thẩm phán phải có đạo đức, nhân cách trong sáng, có năng lực chuyên môn tốt được nhân dân  kính mến về đạo đức, về khả năng và sự dũng cảm trong việc bảo công lý, bảo vệ niềm tin. Điều gì sẽ xảy ra nếu thẩm phán chỉ chạy theo lợi ích cá nhân, đánh mất đạo đức nghề nghiệp? Đương nhiên, niềm tin vào công lý sẽ bị xói mòn mà xã hội chỉ còn dựa vào luật rừng.
(ii) Thẩm phán phải là người có hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật cao hơn những người khác và luôn luôn cập nhật được những thành tựu mới của hoạt động lập pháp, của khoa học và thực tiễn pháp lý. Thẩm phán có nghiệp vụ cao tức là phải nắm vững quy định của pháp luật, có tư duy và khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra.
(iii) Thẩm phán phải được lựa chọn từ những luật gia, luật sư ưu tú nhất và phải được đảm bảo những chế độ và điều kiện làm việc thích hợp nhất. Chế độ trách nhiệm của thẩm phán phải rõ ràng và họ phải được bảo vệ theo những trình tự thích hợp nhằm tránh những sự xâm hại về tài sản, tính mạng, danh dự và nhân phẩm do những bị cáo hay đương sự gây ra. Có như vậy, thẩm phán mới có thể yên tâm thực hiện sứ mệnh của mình.
5. Một số giải pháp nâng cao tính độc lập của thẩm phán
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được Nhà nước giao trọng trách đảm bảo công lý. Thẩm phán có trách nhiệm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nên rất cần những vị “quan tòa” dũng cảm cao, công bằng, tôn trọng sự thật khách quan. “Tính khách quan tột bậc, sự lịch thiệp, sự tế nhị cao trong xử sự cá nhân và những điều kiện khác làm hình thành nên cơ sở đạo đức trong hoạt động của Thẩm phán”.
(Trích Đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán – Sổ tay nghiệp vụ Thẩm phán)
Mặt khác, năng lực xét xử và đạo đức phẩm chất trong sáng không thể tách rời nhau trong con người của thẩm phán. Có năng lực thì đạo đức mới được phát huy, có đạo đức thì năng lực mới giữ vững phẩm chất trong sạch. Một yếu tố quan trọng nữa là, nếu thẩm phán chỉ có trình độ nghiệp vụ cao nhưng không có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp chỉ trở thành những phán quan độc tài, vô cảm, không thể bảo vệ được công lý. Ngược lại các thẩm phán chỉ có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp thì họ dễ có thể bị cám dỗ về chất làm mất lòng tin của dân vào Đảng, giảm uy tín chất lượng độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử, khó có thể trở thành những thẩm phán đủ mạnh và độc lập thực sự, kiên định với Hiến định, “phụng công, thủ pháp”, chí công vô tư .
Thẩm phán phải là người có ý thức pháp luật cao hơn ý thức pháp luật của những người khác mà ý thức pháp luật đó cần theo kịp những thành tựu khoa học pháp lý, thực tiễn pháp lý và văn hóa pháp lý, Thẩm phán có nghiệp vụ cao  tức là họ phải nắm được qui định của pháp luật như lòng bàn tay, có tư duy pháp lý sâu sắc, có thói quen và phương pháp khoa học để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra có như vậy họ mới có thể độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật.
Qua một số lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi xin đề xuất kiến nghị các biện pháp thực hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo không bị mâu thuẫn, chồng chéo giữa các lĩnh vực hay chế định khác nhau.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ Thẩm phán “có tâm và có tầm” thông qua chế độ tuyển cử thẩm phán thi tuyển và thẩm phán bổ nhiệm đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu được qui định trong luật để trở thành thẩm phán suốt đời như:
- Sức khỏe và tinh thần trách nhiệm cao, có niềm tin nội tâm vững chắc;
- Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp;
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ (phải hiểu biết pháp luật sâu);
- Kinh nghiệm thực tế đã trải qua các kỳ sát hạch trong thời gian công tác trong lĩnh vực luật;
- Tiêu chuẩn hóa độ tuổi của Thẩm phán bổ nhiệm;
Thứ ba, Nhà nước đảm bảo về đời sống vất chất “cần đủ” cho đội ngũ thẩm phán suốt đời để tăng “đề kháng” trước cám dỗ vật chất; tăng cường biện pháp thưởng phạt nghiêm minh và có chế độ đãi ngộ đặc biệt cho thẩm phán tận tụy, liêm chính có công lao đóng góp cho nền tư pháp Việt Nam.
Việc trả lương cho thẩm phán và các chức danh khác của tòa án nên từ ngân sách riêng, không phụ thuộc vào ngân sách địa phương. Việc khen thưởng thẩm phán, tăng lương, tăng ngạch nên thực hiện theo kênh độc lập, không theo phương pháp quản lý đặc trưng của hệ thống hành chính.
Thứ tư, để đảm bảo tính độc lập khi xét xử, thẩm phán được tự do theo qui định của pháp luật tham gia vào Hiệp hội Luật gia Việt Nam để hưởng các quyền lợi, củng cố bồi dưỡng nghiệp vụ của mình và có quyền thực hiện những hành vi thích hợp bảo vệ sự độc lập trong hoạt động xét xử của mình
Thứ năm, nghiên cứu xem xét và học hỏi kinh nghiệm cải cách tư pháp ở một số nước trên thế giới như Nhật và Hàn Quốc để xây dựng mô hình đào tạo, sử dụng và quản lý thẩm phán theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc của thẩm phán vào chính quyền địa phương, vào tòa án cấp trên.
Thứ sáu, cần áp dụng việc bổ nhiệm thẩm phán suốt đời sau khi tổ chức thi và tuyển chọn một cách khách quan, nghiêm túc. Các cuộc thi vào ngạch thẩm phán do do hội đồng quốc gia tổ chức. Hội đồng phải gồm những thẩm phán và hội thẩm nhân dân, các luật sư giỏi, có đạo đức và có kinh nghiệm công tác.
Thứ bảy, cần có chế tài áp dụng riêng dành cho các thẩm phán theo nguyên tắc khoa học, chế độ trách nhiệm rõ ràng, thể hiện rõ nguyên tắc dân chủ và bình đẳng, đảm bảo cả chất và lượng hoạt động, về uy tín của hệ thống tư pháp trong nhà nước XHCN để ngăn cản hiện tượng tiêu cực.
Cuối cùng, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử cũng cần được chú trọng như một giải pháp nâng cao tính độc lập của thẩm phán.Tính độc lập của Thẩm phán trong xét xử không phải là một vấn đề mới. Tuy nhiên, để hoàn thiện các định chế đảm bảo cho nguyên tắc hiến định này được thực hiện không phải là vấn đề đã được giải quyết trọn vẹn. Cho đến thời điểm hiện nay đây vẫn là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM
Trích dẫn từ:

Sunday, December 22, 2013

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XEM XÉT, THẨM ĐỊNH TẠI CHỖ KHI GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ


LÊ THỊ HIỀN, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Theo quy định tại điều 85, điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán tiến hành khi thấy cần thiết, có thể là theo yêu cầu của đương sự hoặc do Thẩm phán chủ động tiến hành và phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hai vướng mắc chính trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xem xét, thẩm định tại chỗ: thứ nhất là chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ; thứ hai là cách xử lý khi đương sự không hợp tác với Tòa án trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
1. Về vấn đề chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ
Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những chi phí tố tụng. Tuy nhiên, Mục 2 chương IX Bộ luật tố tụng dân sự về các chi phí tố tụng khác (ngoài án phí, lệ phí Tòa án) chỉ quy định về chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, luật sư mà không có điều nào quy định về chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và cũng không có điều luật nào quy định rằng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ không phải một trong những chi phí tố tụng khác và không cho phép Tòa án thu tiền của đương sự để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, việc các Tòa án hiện nay vẫn xác định chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chi phí tố tụng khác và thực hiện việc thu, chi liên quan đến hoạt động tố tụng này là không sai. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục thu, chi, xác định trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này nên mỗi Tòa án thực hiện một cách khác nhau, trong cùng một Tòa án, mỗi thẩm phán cũng có cách thực hiện khác nhau, thậm chí cùng một Thẩm phán nhưng cũng có những vụ án thực hiện không giống nhau; nhưng nhìn chung, các Tòa án đã áp dụng các nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về các chi phí tố tụng khác tại Mục 2 chương IX Bộ luật này trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế chi phí được vận dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể trên tinh thần tiết kiệm chi.
Thực tế những khoản chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ thường bao gồm những khoản sau:
- Chi phí đo vẽ nhà đất: được tính theo giá của cơ quan có chức năng đo vẽ nhà, đất (có hợp đồng, biên lai thu tiền của những cơ quan này nên việc quyết toán khoản này không có gì vướng mắc). Cán bộ thực hiện đo vẽ không được bồi dưỡng, nhưng đối với những vụ án mà việc đo vẽ vất vả như: phải lội bùn, ruộng để đo hoặc phải phạt bờ bụi mới đo được hay phải đi xa, đi lại nhiều lần mới đo vẽ được do đương sự không hợp tác…, một số Thẩm phán đã chi bồi dưỡng cho cán bộ đo vẽ tùy từng trường hợp cụ thể, mức chi khoảng 100.000đ/lượt/người; nhưng cũng có Thẩm phán chỉ chi 50.000đ/lượt/người và chỉ chi trong trường hợp đương sự không hợp tác nên không thực hiện được việc đo vẽ, các trường hợp còn lại không chi;
- Chi phí cho phương tiện đi lại: nếu địa điểm xem xét, thẩm định ở xa thì cho phí được tính theo giá vận chuyển có biên lai; đối với các địa điểm gần, cán bộ Tòa án và thành viên đo vẽ tự túc phương tiện;
- Chi phí cho đại diện Uỷ ban nhân dân phường, xã tham gia xem xét thẩm định: mức chi bồi dưỡng được các Tòa án áp dụng khác nhau. Thường là việc xem xét, thẩm định tại chỗ được thực hiện trong một ngày, có Tòa án áp đặt mức chi 50.000đ/người (mặc dù không ít Thẩm phán tại chính đơn vị đó thấy đây là điều bất hợp lý muốn chi thêm nhưng không được vì cơ quan đã thống nhất định mức như vậy), có Tòa án chi 100.000đ/người, cũng có Thẩm phán chi 200.000đ/người vì cho rằng Tòa án rất cần sự hỗ trợ, phối hợp của Uỷ ban nhân dân không chỉ trong hoạt động xem xét, thẩm định tại chỗ, nên cần phải giữ mối quan hệ tốt với cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp địa phương. Mặc dù, đối với phần lớn các vụ án, đại diện Uỷ ban nhân dân có mặt chỉ là thủ tục tố tụng bắt buộc, trên thực tế họ không phải làm gì, nhưng về nguyên tắc, họ đã phải bỏ thời gian tham gia và chịu trách nhiệm trong hoạt động tố tụng của Tòa án nên cần tính toán việc chi bồi dưỡng cho họ hợp lý. Ngoài ra, có những vụ phải xem xét, thẩm định hơn 1 buổi, địa điểm ở xa, Tòa án phải bố trí ăn trưa cho tất cả những người tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ mà không biết lấy kinh phí từ nguồn nào.
Để thống nhất về trình tự, thủ tục thu, chi đối với chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ tạo điều kiện cho Thm phán thực hiện nhiệm vụ và xác định rõ trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này, tác giả kiến nghị:
- Cần phải đưa quy định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ vào Bộ luật tố tụng dân sự, coi đây là một trong những chi phí tố tụng khác để có căn cứ pháp lý cho việc thực hiện;
- Trước mắt, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định cụ thể về loại chi phí này trong đó cần xác định nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí, nghĩa vụ nộp chi phí, mức chi phí, trình tự thủ tục thu chi… Cụ thể:
+ Người yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
+ Các đương sự phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; việc xem xét, thẩm định tại chỗ cần thiết cho việc giải quyết cho những yêu cầu hay quyền lợi của đương sự nào thì những đương sự đó phải chịu chi phí; mức chi phí cụ thể tùy thuộc vào kết quả giải quyết vụ án trên cơ sở quyết định của Tòa án;
+ Người nào gây cản trở cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí phát sinh do hành vi gây cản trở này; chi phí cho những người tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ ngoài đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã phải bao gồm cả thư ký, Thẩm phán.
2. Về vấn đề đương sự không hợp tác, cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ
Hiện nay, việc xem xét, thẩm định tại chỗ chủ yếu được thực hiện đối với các vụ án sơ thẩm và chủ yếu là đo vẽ nhà đất tranh chấp, một số ít là xem xét thực địa để giải quyết vụ án cho đúng. Trên thực tế, đã có không ít trường hợp đương sự đang trực tiếp quản lý tài sản là nhà đất tranh chấp không hợp tác với Tòa án, gây khó khăn, cản trở hoặc không cho đo vẽ nhà đất bằng việc đóng cổng, đóng cửa, bỏ đi khỏi nhà đất tranh chấp mỗi khi Tòa án đến xem xét, thẩm định tại chỗ dẫn tới việc Tòa án không thể giải quyết được vụ án, không ít vụ án phải tạm đình chỉ không thời hạn. Các khoản 6 và 7 Điều 9 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hướng dẫn Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP) thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 hướng dẫn thực hiện Điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
“…6. Nếu có người nào cản trở Toà án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, thì Thẩm phán yêu cầu đại diện của Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10-9-2003 của Bộ Công an hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân.
7. Trường hợp đã thực hiện đầy đủ các biện pháp được hướng dẫn tại khoản 6 Điều này mà vẫn không tiến hành được, thì Thẩm phán lập biên bản về việc đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ để lưu vào hồ sơ vụ án. Biên bản về việc đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đồng thời, phải được gửi cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật về hành vi chống người thi hành công vụ của đương sự ».
So với Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “chứng minh và chứng cứ” thì Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP đã bổ sung thêm khoản 7 ở trên khi hướng dẫn Điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự. Quy định này của Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP được áp dụng khi đương sự hoặc những người khác có hành động chống đối, gây rối khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ; nhưng với trường hợp đương sự đóng cửa, bỏ đi, Tòa án không thể vào xem xét, đo vẽ nhà đất thì có được coi là hành vi “cản trở” được nêu tại khoản 6 Điều 9 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP và có được áp dụng các biện pháp nêu tại khoản 7 hay không thì vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo ý kiến của tác giả vì lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc lực lượng Công an nhân dân không thể can thiệp, hỗ trợ Tòa án trong trường hợp đương sự khóa cửa, khóa cổng nhà đất bỏ đi; cơ quan có thẩm quyền cũng không thể xem xét, xử lý theo pháp luật về hành vi chống người thi hành công vụ của đương sự vì không có việc chống người thi hành công vụ nên không thể áp dụng khoản 7 Điều 9 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP trong trường hợp đương sự khóa cửa, khóa cổng, bỏ đi khỏi nhà đất là đối tượng cơ quan Tòa án cần xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trên thực tế, các Thẩm phán ở địa phương đã phải vận dụng nhiều cách khác nhau từ việc phối hợp với chính quyền địa phương, Mặt trận tổ quốc, tổ chức Đảng… để giải thích, thuyết phục đương sự hợp tác, để Tòa án tiến hành đo vẽ, định giá nhà đất, tài sản tranh chấp. Trong trường hợp không thể xem xét, thẩm dịnh tại chỗ được, Tòa án phải thu thập các chứng cứ khác như sử dụng những bản vẽ nhà đất cũ hoặc những số liệu về diện tích nhà đất có tại những tài liệu khác như sổ mục kê, sổ kê khai đăng ký ruộng đất…(nếu có) để giải quyết vụ án. Nếu việc này không đem lại kết quả thì Tòa án buộc phải tạm dừng việc giải quyết vụ án.
Được biết, để khắc phục tình trạng này, từ nhiều năm nay, các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng khoản 12 Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự, ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm đương sự thực hiện hành vi cản trở việc đo vẽ, định giá tài sản. Đây là một biện pháp rất có hiệu quả, nếu tất cả các Tòa án đều thực hiện theo cách này thì sẽ tháo gỡ được vướng mắc khi đương sự cản trở Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ khi giải quyết vụ án, tránh tình trạng tồn đọng án vì lý do này. Tuy nhiên, không phải Tòa án địa phương nào cũng mạnh dạn thực hiện như các Tòa án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh vì pháp luật không quy định về vấn đề này và Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Về việc áp dụng khoản 12 Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm đương sự thực hiện hành vi cản trở việc đo vẽ, định giá tài sản như các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, tác giả có một số ý kiến như sau:
Theo điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 1 Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật tố tụng dân sự thì biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
a. Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Toà án giải quyết và cần phải được giải quyết ngay, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm… của đương sự;
b. Để bảo vệ chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được;
c. Để bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng hiện có liên quan đến vụ án đang được Toà án giải quyết;
d. Để bảo đảm việc thi hành án tức là làm cho chắc chắn các điều kiện để khi bản án, quyết định của Toà án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án.”
Như vậy, “để bảo vệ chứng cứ” đã được quy định là một trong những căn cứ để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng “để thu thập chứng cứ” thì không được quy định là một trong những căn cứ để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ hay để thu thập chứng cứ có cùng chung đối tượng đó là chứng cứ và chung mục đích cuối cùng là có được chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự; bảo vệ và thu thập chứng cứ đều cần thiết như nhau, có thể là tiền đề và hệ quả của nhau và đều không trái nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự. Do pháp luật không quy định cụ thể nên việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để thu thập chứng cứ cần thiết phải có hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để tạo điều kiện cho các Tòa án nhân dân địa phương trong việc giải quyết các vụ việc cần phải xem xét và thẩm định tại chỗ.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2006/DS-GĐT ngày 05/7/2006 về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được đăng trong tập Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao năm 2006, từ trang 261 đến trang 269, liên quan đến việc đương sự cản trở các cấp Tòa án không cho đo vẽ nhà đất tranh chấp, trong phần xét thấy có nhận định như sau: “Lẽ ra, trong trường hợp phía bị đơn không hợp tác, gây khó khăn cản trở cho các cấp Tòa án trong việc xác minh, đo vẽ cụ thể các diện tích nhà, đất, công trình kiến trúc, thì Tòa án cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong đó có biện pháp “Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định” để Tòa án thực hiện được việc xác minh, đo vẽ theo số đo cụ thể các diện tích nhà, đất, công trình kiến trúc…”.  Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã bị Quyết định giám đốc thẩm nêu trên hủy để giải quyết lại với lý do là không đo vẽ cụ thể diện tích nhà đất tranh chấp. Đây có thể coi là “án lệ”, là hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao không chỉ đối với vụ án này mà có thể áp dụng với các trường hợp tương tự khi giải quyết các vụ án khác. Vì vậy, theo tác giả, cách giải quyết của các Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh là đúng với đường lối xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 
Tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự, bổ sung quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để “thu thập chứng cứ” bên cạnh những căn cứ khác. Trước mắt, cần phối hợp liên ngành hướng dẫn thực hiện theo cách mà các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh đang áp dụng.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trích dẫn từ:

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code