Showing posts with label LTM - Tinh huong thuc tien. Show all posts
Showing posts with label LTM - Tinh huong thuc tien. Show all posts

Wednesday, May 28, 2014

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: THIẾU HỢP ĐỒNG THANH LÝ . . . ĐƯA NHAU RA TÒA

HỮU TUẤN
Hơn 100 tỷ đồng tiền mua bán hàng hoá trong vòng 7 năm mà không hề có hợp đồng thanh lý, chốt nợ là nguyên nhân khiến hai bên phải kéo nhau ra toà…  Toà án Kinh tế, Toà án Nhân dân TP. Hà Nội vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH Daewoo Hanel (Công ty Hanel) và Công ty TNHH Dịch vụ Thảo Anh (Công ty Thảo Anh). Đây là vụ tranh chấp kinh tế khá đặc biệt khi nhà sản xuất kiện ra toà đòi nợ đại lý phân phối sản phẩm.
Từ năm 1998 đến 2005, giữa Công ty Hanel và Công ty TNHH Dịch vụ Thiên Hưng (mà sau năm 2002 là Công ty Thảo Anh) có ký kết hợp đồng mua bán hàng điện tử, điện lạnh do Công ty Hanel sản xuất với giá trị hàng hoá hơn 100 tỷ đồng. Theo hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên về phương thức thanh toán là hàng tháng sẽ quyết toán, cộng sổ sách một lần, một năm sẽ cộng sổ, chốt nợ một lần.
Phương thức thanh toán là không thanh toán theo từng hoá đơn, mà thanh toán trên tổng số tiền hàng bán ra. Cũng từ đây mọi rắc rối bắt đầu nảy sinh. Giữa hai bên đã có hàng chục "thông báo tình hình thanh toán và xác nhận số dư nợ" có ký tên, đóng dấu của ông Đỗ Hữu Nghĩa, Giám đốc Công ty Thảo Anh, với các đại diện Công ty Hanel. Đây là những khoản nợ đọng gối đầu sau các giao dịch mua bán hàng hoá giữa hai bên.
Cho đến ngày 31/8/2005, số công nợ mà hai bên xác nhận với nhau là 1.038.560.213 đồng. Ngày 23/02/2006, Hanel có đơn khởi kiện Công ty Thảo Anh. Đại diện Công ty Hanel, ông Dương Kim Sơn cho rằng, ngoài số tiền nợ trên (tính từ tháng 8/2005 đến tháng 6/2009), bên Thảo Anh phải trả số tiền lãi suất của 46 tháng theo quy định là 418.020.425 đồng. Tuy nhiên, để thể hiện thiện chí, ông Sơn đã đề nghị Công ty Thảo Anh chỉ phải trả số nợ gốc mà không phải trả tiền lãi.

Quan điểm này ngay lập tức bị ông Nghĩa phủ nhận. Ông Nghĩa cho rằng, bản đối chiếu này chỉ mang tính chất tạm thời, không có ý nghĩa về mặt pháp lý. Và theo sổ sách, hoá đơn của Công ty Thảo Anh cộng dồn từ năm 1998 đến năm 2005 thì phía Hanel còn nợ lại Thảo Anh số tiền là 1.714.499.045 đồng. Ông Nghĩa lý giải, trong số tiền dư ra này là do cứ ngày 15 hoặc ngày 30 hàng tháng trả tiền cho Công ty Hanel sẽ được khuyến khích lãi suất 1,5% và cộng cả số tiền thưởng, hoa hồng cho các đại lý.
Trong vụ án này, nhân vật quan trọng là ông Lê Đức Hiền cũng không có mặt. Ông Hiền nguyên là cán bộ bán hàng trực tiếp theo dõi việc bán hàng cho Công ty Thiên Hưng từ 1998 đến năm 2002. Ông Nghĩa đã tố cáo ông Hiền tự ý lấy mã khách hàng của Công ty Thiên Hưng đem đi bán ở nơi khác, nhưng không nộp về Công ty Hanel. Khoản nợ 1.038.560.213 đồng mà ông Nghĩa ký nhận thuộc về số hàng này.
Ông Hiền khai tại cơ quan điều tra là đã lấy mã hàng của Công ty Thiên Hưng, nhận hàng, mang đi nơi khác tiêu thụ và thu tiền nộp về Công ty Hanel, nhưng đều chuyển hoá đơn về Công ty Thiên Hưng để theo dõi. Đại diện Công ty Hanel cho rằng, trong sổ sách kế toán của Công ty Hanel chỉ thể hiện là Công ty Thiên Hưng thanh toán tiền, chứ không thể hiện ai là người nộp tiền. Các vận đơn liên quan đến số hoá đơn mà cơ quan điều tra xác minh Công ty Hanel hiện không nắm giữ.
Cơ quan điều tra xác định giữa ông Nghĩa và ông Hiền có quan hệ kinh doanh hàng hoá với nhau, nhưng đến nay hai bên vẫn chưa quyết toán với nhau, nên chưa có căn cứ để xác định ông Hiền chiếm đoạt tiền hàng.
Điều đáng lưu ý là, tuy giao dịch trong một khoảng thời gian dài, tổng số tiền lớn như vậy, nhưng giữa hai bên không hề có một hợp đồng thanh lý, quyết toán, chốt nợ nào cả. Bên nguyên đơn (Công ty Hanel) đưa ra bản đối chiếu công nợ dựa trên tài liệu bán hàng chứ không dựa vào hợp đồng quyết toán, còn Công ty Thảo Anh dựa trên sổ sách, hoá đơn, ký nhận của nhân viên Công ty Hanel việc nhập hàng, thanh toán của mình.
Toà cũng xác định việc không có hợp đồng thanh lý, chốt nợ trong giao dịch giữa hai bên đã vi phạm Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế trước đây và Luật Thương mại sau này, gây khó khăn trong việc xác định có hay không khoản nợ này. Ông Phạm Tuấn Anh, chủ toạ phiên toà, đã nhiều lần nhắc nhở rằng, toà án đã cho thời gian để hai bên đối chiếu sổ sách, hoá đơn, nhưng các đương sự không làm được.
Ông Nghĩa mang đến phiên toà 3 va li giấy tờ, sổ sách và sẵn sàng đối chiếu hoá đơn, chứng từ. Đại diện Công ty Hanel cho rằng, việc này là không cần thiết, bởi đã có bảng đối chiếu, hơn nữa mỗi một sản phẩm là một hoá đơn nên nếu đối chiếu hơn 10.000 hoá đơn trong khoảng thời gian dài như vậy là việc làm khó khả thi. Mặt khác, việc thanh toán giữa 2 bên không cụ thể cho một hoá đơn nào mà thanh toán cho tổng số tiền hàng tháng, hàng năm.
Tại phiên toà, Công ty Hanel cũng chỉ xuất trình được 2 hợp đồng số 002/2004/HĐKT ký ngày 1/4/2004 và hợp đồng số 40/2005/HĐKT ký ngày 10/6/2005 thể hiện hoạt động kinh doanh giữa hai bên là mua bán hàng điện tử.
Toà cho rằng, phía nguyên đơn không chứng minh được khoản nợ trên nằm trong hợp đồng nào, cũng không chứng minh được số nợ đó qua các hoá đơn chứng từ mà toà yêu cầu cung cấp. Đồng thời, toà cho rằng: "thông báo tình hình thanh toán và xác nhận số dư nợ" không phải là bản hợp đồng thanh lý, chốt nợ hàng năm như trong điều 14 của hợp đồng hai bên đã ký…
Vì vậy, Toà án kinh tế, Toà án Nhân dân TP.Hà Nội đã bác đơn khởi kiện yêu cầu đòi trả khoản nợ 1.038.560.213 đồng ùcủa Công ty Hanel với Công ty Thảo Anh. Ông Nguyễn Chí Kiên, Trưởng phòng Pháp chế của Công ty Hanel cho biết, ngay sau phiên toà, Công ty Hanel sẽ nộp đơn kháng cáo lên toà phúc thẩm.
SOURCE: BÁO ĐẦU TƯ

Wednesday, March 19, 2014

PHÁN QUYẾT LẠ THƯỜNG VỀ VẬN ĐƠN

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC
Thực tiễn thương mại và hàng hải quốc tế cũng như quy định của Bộ Luật Hàng hải VN đã có quy định rõ ràng về vận đơn (trong đó có 2 loại: vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh). Tuy nhiên, vừa qua có một vụ việc mà tòa án lại ra phán quyết trái ngược với luật pháp VN và thông lệ quốc tế.
Cuối năm 2006, Cty S ở phía Nam bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Cty E Sydney – Autralia theo giá FOB TP HCM: 87.035 USD, mã số DN của E ở Autralia là ABN 29112062554-NSW2020 (thực tế đây là một Cty ma tại Autralia). Hợp đồng mua bán chỉ có 1 trang và hết sức sơ sài, đặc biệt không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.
Sau khi ký hợp đồng mua bán, E uỷ thác Cty giao nhận vận tải T ở phía Bắc thuê tàu chở hàng từ TP HCM đi Sydney. T ký hợp đồng lưu cước với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, Hãng tàu MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho T, trên cơ sở đó T cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho S với tư cách là người giao hàng (vận đơn của T theo mẫu FIATA). Vận đơn ghi rõ E (cùng với địa chỉ của họ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.
Hàng đến Sydney 6/1/2007, Hãng tàu MOL giao hàng cho đại lý của T ngày 14/1/2007. Từ đó trở đi E không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 đôla Australia, hàng hoá có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn.
Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở VN) ngày 1/3/2007 đại lý của Cty T đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi ngày 14/4/2007, Cty S mới ra lệnh cho Cty T đưa hàng về VN nhưng T không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên Cty S không thể ra lệnh chở hàng về. Tuy vậy, ngày 14/5/2007, Cty E đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý của Cty T không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi, Cty S luôn khẳng định rằng tuy hàng bán theo giá FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, Cty S vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Vì vậy, do không đòi được tiền hàng từ E, Cty S đã khởi kiện Cty T tại một Toà án ở phía Bắc đòi bồi thường 1,7 tỷ VND bao gồm trị giá hàng FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000.000 VND các loại tiền phạt lưu kho bãi.

Trước tòa, Cty S (nguyên đơn) cho rằng vận đơn này về hình thức có vẻ đích danh nhưng thực chất là vận đơn theo lệnh. Ô chữ “người nhận hàng” ở mặt trước chỉ là ô chữ ghi lại tên và địa chỉ chứ không có nghĩa đấy là người nhận hàng đích danh. Cty S đang nắm giữ bản gốc nên vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Hơn thế nữa vận đơn Cty S đang có trong tay, tuy Cty T khẳng định là vận đơn đích danh nhưng vẫn chuyển nhượng được (nghĩa là S vẫn có quyền ra lệnh giao hàng) vì điều 3.1 mặt sau ghi rằng “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thể chuyển nhượng được trừ khi nó được ghi không thể chuyển nhượng được”. Nguyên đơn cũng cho rằng hợp đồng mua bán của họ là hợp đồng có giá  FOB TP HCM 87.035 USD chứ không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB Incoterms 2000. Vì vậy họ vẫn có quyền khởi kiện người vận chuyển để đòi bồi thường.
Cty T lại khẳng định Cty S đã ký hợp đồng mua bán quá sơ sài và lỏng lẻo thì phải tự gánh lấy hậu quả. Mặt khác, theo Điều 62 Luật Thương mại VN, do hợp đồng mua bán không quy định về việc khi nào quyền sở hữu về lô hàng chuyển từ người bán sang người mua nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày 20/12/2006, (tức ngày giao hàng ở TP HCM). Ngoài ra Cty T còn khẳng định rằng vận đơn do họ cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh” như Điều 86, khoản 1, Mục a BLHH VN quy định. Đã là vận đơn đích danh thì không chuyển nhượng được và người nhận hàng có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp và phù hợp với quy định trong Incoterms 2000, chỉ có họ mới có quyền khởi kiện người vận chuyển nếu thiệt hại thực tế xảy ra do lỗi của người vận chuyển.      
Phán quyết của tòa:
1. Căn cứ vào Điều 3.1 mặt trước (ở đây Toà đã nhầm lẫn, thực tế là mặt sau hoặc nói chính xác là mặt đối diện với mặt trước, nguyên văn tiếng Anh là: Overleaf of Reverse Side) vận đơn này không phải là vận đơn đích danh mà thực chất là vận đơn theo lệnh.
2. Toà cho rằng các chứng từ Hợp đồng mua bán, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu của lô hàng này không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB.
3. Công ty T phải bồi thường cho Công ty S 57.000 USD (sau khi đã trừ đi phần không ăn khớp giữa hợp đồng mua bán, hoá đơn thương mại, tờ khai thương mại, tờ khai hải quan hàng xuất khẩu và số lượng hàng trên vận đơn).
Rõ ràng phán quyết trên của toà án này đã đi ngược lại thông lệ hàng hải và thương mại quốc tế cũng như luật pháp VN và luật pháp Australia (nơi hàng đến).
Có lẽ trong lịch sử phát triển hơn 300 năm của ngành hàng hải thế giới lần đầu tiên có một toà án lại căn cứ vào mặt sau (toà nhầm lẫn gọi là mặt trước) để phán quyết một vận đơn là đích danh hay theo lệnh.
Bản thân Toà nói rằng Hợp đồng thương mại, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hàng xuất khẩu không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB, trong khi đó Hợp đồng mua bán ghi rõ: “Giá hàng FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD” và Hoá đơn thương mại cũng ghi rõ: “Giá FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD, đồng thời Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu lô hàng này đề ngày 18/12/2006 ở ô số 20 ghi rõ: “Điều kiện giao hàng: FOB”. Đây không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB thì nó là hợp đồng giao hàng theo điều kiện gì?”.
Từ vụ kiện nói trên vấn đề đặt ra là các DN VN khi xuất khẩu hàng hoá theo Incoterms 2000 ra nước ngoài, nhất là thị trường Anh, Mỹ, Australia, Ấn Độ… nên sử dụng vận đơn theo lệnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, hết sức tránh dùng vận đơn đích danh, nhất là khi xuất hàng sang các thị trường áp dụng luật án lệ như những nước nói trên.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ

TRANH CHẤP DO VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH: CÔNG TY CỔ PHẦN SINH HÓA MINH ĐỨC CẠNH TRANH THIẾU LÀNH MẠNH?

NGUYỄN MINH
Với mục tiêu hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, bền vững, những năm gần đây, các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nông dân hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học trong trồng trọt. Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã sản xuất phân bón giả, kém chất lượng dưới nhãn mác phân hữu cơ sinh học, đánh lừa nông dân. Vụ việc mới xảy ra tại Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức ở Phú Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là một ví dụ.
Biến phân vô cơ thành phân hữu cơ
Năm 2006, Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức tung ra thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học K-Humat 18.000ppm loại 15ml và 10ml. Điều đáng nói là loại phân này không hề có trong Danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.
Tại văn bản ngày 27/11/2006 do ông Trương Hợp Tác, Trưởng phòng Sử dụng đất và phân bón (Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT) trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam có ghi: “Phân hữu cơ sinh học K-Humat do Công ty Minh Đức sản xuất hiện nay chưa thấy có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 19/8/2004; Quyết định số 77 ngày 23/11/2005; Quyết định số 55 ngày 7/7/2006”.
Cũng tại văn bản số 942 do Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc ký ngày 5/8/2008 về việc xác nhận sản phẩm phân bón K-H của Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức và Công ty cổ phần Thanh Hà cho Trung tâm Thông tin doanh nghiệp cho thấy: Sản phẩm K-Humat của Công ty Minh Đức không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam. Trong danh mục này, chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT của Công ty Minh Đức, nhưng chúng nằm trong mục phân vô cơ chứ không phải hữu cơ sinh học.
Trong Công văn số 23/CV/MĐ-2008 của Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức gửi các ban ngành, ông Nguyễn Thanh Đức, Giám đốc Công ty cho rằng: “Chúng tôi không có sản phẩm nào có tên thương mại là K-H… Việc quảng cáo thành phần K-Humat 18.000ppm tuân thủ theo đúng pháp luật”. Tuy nhiên, ông Đức không biết rằng, theo quy định về nhãn mác, tên thành phần bao giờ cũng phải ghi nhỏ hơn tên thương mại của sản phẩm. Một điều nữa là trong bản tự công bố sản phẩm của Công ty Minh Đức không hề có thành phần nào là hữu cơ sinh học K-Humat.

Trong đợt kiểm tra sản phẩm Minh Đức của Đội Quản lý thị trường Phú Lương (Chi cục Quản lý thị trường Thái Nguyên – Thái Nguyên), hoá đơn bán lẻ mà Công ty cổ phần Vật tư bảo vệ thực vật Thái Nguyên cũng ghi là “Tên hàng: K-Humat 10ml”. Vậy thực chất đâu là tên thương mại của những loại phân bón do Công ty Minh Đức sản xuất?
Đúng, sai… chờ Toà
Theo nội dung Công văn số 100/CV của Hiệp hội Phân bón Việt Nam gửi các ban ngành chức năng, Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức đã cố tình lách luật để lừa dối nông dân. Bên trong là phân vô cơ, nhưng bên ngoài lại dán nhãn phân hữu cơ sinh học. Ngoài ra, chữ K-H lại được in màu đỏ giống nhãn mác, bao bì của Công ty cổ phần Thanh Hà. Theo văn bản số 54 ngày 9/1/2007 do ông Trần Việt Hùng, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ ký gửi Công an quận Cầu Giấy (Hà Nội) ghi: “Công ty TNHH Minh Đức (nay là Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức – PV) đã được cấp một số bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và đã nộp đơn đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp bao bì phân bón. Tuy nhiên, mẫu bao bì phân bón lá như quý cơ quan gửi đến (tức mẫu sản phẩm K-Humat – PV) không nằm trong số trên. Trong mẫu bao bì nêu trên chỉ có phần chữ Minh Đức Co.Ltd-MĐ1 và hình logo là đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu số 4-2002-04467 ngày 29/7/2002, nhưng đơn này chưa được cấp văn bằng bảo hộ”.
Xung quanh vấn đề chữ K-H của Công ty Minh Đức và Công ty Thanh Hà cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Tại Công văn 230/Ttra của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ gửi Công ty Sở hữu trí tuệ Invenco, ông Hoàng Minh Hiền, Phó chánh thanh tra cho rằng: “Do nhãn hiệu “K-H & Hình” được bảo hộ tổng thể nên việc Công ty Minh Đức sử dụng các dấu hiệu nêu trên là không trùng và chưa tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “K-H & Hình” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá số 68723 của Công ty Thanh Hà. Vì vậy, Công ty Minh Đức không xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá “K-H & Hình” của Công ty Thanh Hà…”. Tuy nhiên, cũng trong văn bản này, ông Hiền lại khẳng định: “Phần chữ “K-H” màu đỏ được trình bày nổi bật giống với cách trình bày phần chữ “K-H” của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá 68723 nên thành phần này có dấu hiệu tương tự với thành phần tương ứng của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá này”. Rõ ràng nếu không phải những người có chuyên môn thì không ai có thể tránh khỏi sự nhầm lẫn giữa hai sản phẩm của hai công ty.
Nếu K-Humat 18.000ppm của Minh Đức là tên phân bón mới thì chiếu theo Quy định khảo nghiệm, công nhận và đặt tên phân bón mới số 37 ngày 24/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tên gọi đó không có tính pháp lý. Bởi khi đặt tên phân bón mới (trước đó Công ty Minh Đức chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT), doanh nghiệp sẽ phải làm đơn Đăng ký khảo nghiệm phân bón, Chứng nhận đăng ký khảo nghiệm phân bón, Hình thức khảo nghiệm, biên bản Hội đồng nghiệm thu đánh giá… Nhưng trong buổi làm việc với Ban Thời sự – VTV1 (Đài Truyền hình Việt Nam), bà Nguyễn Thị Đức Dương – đại diện của Công ty Minh Đức đã không thể có được những giấy tờ này.
Rõ ràng, sự việc của Công ty Minh Đức có nhiều điều cần làm rõ. Cũng trong buổi làm việc với Ban Thời sự – VTV1, bà Dương đã không lý giải được về dòng chữ “Nguyên liệu chính được nhập khẩu từ Mỹ” như đã ghi trên bao bì, bởi không cung cấp được tờ khai hải quan, giấy thông quan cũng như hóa đơn nộp thuế nhập khẩu. Sau đó bà Dương mới thừa nhận, Công ty Minh Đức mua nguyên liệu trôi nổi trên thị trường, không nhập khẩu theo lô hàng lớn nên không có những giấy tờ trên.
SOURCE: BÁO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trích dẫn từ:

TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP: TÒA KHÔNG CHO DOANH NGHIỆP “CHẾT” THEO LUẬT ĐỊNH

HỒNG NGÂN
Làm ăn liên tục thua lỗ, nợ lương công nhân và nợ ngân hàng, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú xin mở thủ tục phá sản theo luật định nhưng Tòa lại khước từ. Hàng trăm công nhân đang đứng trước nguy cơ không nhận được một cắc tiền nợ lương.
Chúng tôi có mặt tại tỉnh Phú Thọ khi dư luận đang xôn xao về chuyện Công ty CP xi măng Vĩnh Phú xin được phá sản để trả nợ lương cho toàn bộ công nhân công ty và Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ nhưng lại bị Tòa từ chối.
Quyết định từ chối của Tòa đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các công nhân vì toàn bộ số tiền hơn 5 tỉ đồng nợ ngân hàng có thể phải chuyển đủ cho Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ trong khi định giá sơ bộ tài sản của doanh nghiệp hiện không còn nhiều.
Theo tìm hiểu, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú làm ăn thua lỗ nghiêm trọng trong nhiều năm là sự thật. HĐQT của công ty đã nhiều lần họp bàn việc xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp và tính phương án trả nợ ngân hàng, trả nợ lương công nhân.
Tại Nghị quyết họp HĐQT Công ty CP xi măng Vĩnh Phú ngày 8/7/2009 do ông Phan Hồng Phong, Chủ tịch HĐQT ký có nêu việc thanh toán các khoản nợ sau khi bán đấu giá tài sản công ty sẽ: “Trả nợ gốc món vay trung hạn, ngắn hạn và một phần lãi trong hạn, xin miễn lãi phạt (trả nợ ngân hàng); trả nợ ngân sách Nhà nước, bảo hiểm xã hội, thuế đọng, lương CBCNV…”.
Ngày 29/6/2009, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú có công văn số 41/XMVP gửi Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Phú Thọ đề nghị mở thủ tục phá sản nhưng điều khó hiểu là sau 15 ngày (ngày 14/7), TAND tỉnh mới nhận được công văn này.

Cũng tại thời điểm này, Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ có đơn khởi kiện đề ngày 10/7 nhờ Tòa “can thiệp” đòi nợ Công ty CP xi măng Vĩnh Phú thì 3 ngày sau (ngày 13/7), TAND tỉnh Phú Thọ đã nhận được.
Với lý do trên, ngày 15/7/2009, ông Nguyễn Đình Huấn, Chánh tòa Kinh tế, TAND tỉnh Phú Thọ có công văn số 59/TA- KT gửi Công ty CP xi măng Vĩnh Phú với nội dung “do ngày 13/7 đã nhận được đơn khởi kiện của ngân hàng trước nên sẽ tiến hành thụ lý trước”. Điều đáng nói là sau khi nhận được công văn của công ty tới 14 ngày (ngày 27/7), Tòa mới ra thông báo việc thụ lý vụ án đòi nợ giữa ngân hàng và công ty.
Đến ngày 17/8/2009, TAND tỉnh Phú Thọ đã nhanh chóng ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và quyết định: Giao cho Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ phát mại tài sản của Công ty CP xi măng Vĩnh Phú đã thế chấp để thu hồi nợ với số tiền hơn 5 tỷ đồng.
Như vậy, khi TAND tỉnh Phú Thọ ra quyết định cho ngân hàng phát mại tài sản của Công ty CP xi măng Vĩnh Phú thì có nghĩa quyền lợi của công nhân và công nợ của các đối tác khác bị gác sang một bên.
Việc đảm bảo thu hồi nợ cho ngân hàng khiến công nhân Công ty CP xi măng Vĩnh Phú không biết đến bao giờ mới có thể lấy được nợ lương cùng những khoản tiền khác. Đứng trước nguy cơ thất nghiệp họ đã rất khốn khó lại thêm lo lắng không được nhận lương nợ nên đại diện người lao động đã liên tục gửi đơn thư khiếu nại đến các cơ quan chức năng, đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xem xét lại quyết định.
Về vấn đề này, Luật sư Trần Minh Tân, Đoàn Luật sư Hà Nội cho biết: Nếu công văn gửi theo đường bưu điện thì Tòa phải căn cứ vào dấu bưu điện để xử lý chứ không thể căn cứ vào ngày nhận được. Kể cả trong trường hợp ngân hàng gửi đơn trước thì theo luật định, TAND tỉnh Phú Thọ vẫn phải ra quyết định thụ lý việc mở thủ tục phá sản của Công ty CP xi măng Vĩnh Phú.
Theo Luật sư Tân, việc tòa án giải quyết phá sản là nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ và các bên liên quan, trong đó có người lao động. Chi nhánh ngân hàng Công thương Phú Thọ thực chất cũng chỉ là một trong những chủ nợ. Trong trường hợp này, các công nhân hoặc doanh nghiệp có thể gửi văn bản đề nghị Viện KSND tỉnh hoặc Viện KSNDTC “xét lại” quyết định của tòa.
SOURCE: BÁO DÂN TRÍ ĐIỆN TỬ
Trích dẫn từ:

NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÒI CHIA LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG TIỀN: BÀI HỌC TỪ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

HẢI YẾN
Thời gian gần đây, Cty cổ phần Tràng Tiền được khá nhiều báo chí nhắc đến không phải vì sản phẩm kem nổi tiếng mà vì những mâu thuẫn xung quanh sự việc người lao động đòi được trả “lương hiệu quả kinh doanh bằng 50% lợi nhuận sau thuế”. Theo các chuyên gia pháp lý, đây là sự đòi hỏi hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Trước hết, cần phân biệt giữa tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương và chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu được tính vào cuối năm bằng cách lấy tổng doanh thu cộng các khoản thu nhập khác trừ tổng chi phí sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hợp lệ và thuế TNDN phải nộp.
Vô lý
Vì vậy, nếu xác định “lương hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ % lợi nhuận sau thuế” là xác định một khoản phải chi ngay trên cơ sở một chỉ tiêu chưa biết hoặc mới chỉ là ước tính. Bên cạnh đó, sau khi đã bù đắp các khoản chi phí, trong đó có chi phí tiền lương và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, trong các DN, lợi nhuận sau thuế là của chủ sở hữu. Với các DNNN, đó là của Nhà nước, với các Cty cổ phần, đó là của các cổ đông – những người là chủ sở hữu của Cty. Quy định đó là hợp lý vì khi DN có lãi thì chủ sở hữu được hưởng phần lợi nhuận sau thuế, ngược lại, nếu DN kinh doanh thua lỗ, thì chủ sở hữu sẽ bị mất vốn góp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Cty. Khoản 12, Điều 22 Luật DN năm 2005 quy định một trong những Nội dung của Điều lệ Cty là: “12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh”. Điều lệ Cty do các cổ đông thông qua, không có quy định nào bắt buộc phải lấy ý kiến của người lao động vào văn bản này.

Nếu thừa nhận việc người lao động được trả “lương hiệu quả kinh doanh bằng cách trích từ lợi nhuận sau thuế” thì khi Cty kinh doanh bị lỗ vì lý do khách quan, người lao động cũng phải góp tiền để bù lỗ cho Cty. Điều đó không được quy định ở bất kỳ văn bản luật nào và ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Và thiếu căn cứ pháp lý
Căn cứ Luật Lao động, Luật DN, Luật thuế thu nhập DN hiện hành, tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất lương mà DN trả cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật là một trong những khoản chi phí phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của DN. DN phải xây dựng quy chế lương và đăng ký với Sở LĐ – TB và Xã hội nơi Cty đóng trụ sở thì các khoản lương và phụ cấp DN chi trả cho người lao động mới được thừa nhận tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập DN.
Lợi nhuận sau thuế của Cty cổ phần là của các cổ đông. Bởi lẽ, theo quy định của Luật DN VN và thông lệ quốc tế, “Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN”. Điều đó có nghĩa là, nếu Cty hoạt động kinh doanh có lãi, các cổ đông được chia cổ tức, ngược lại, nếu Cty hoạt động kinh doanh bị lỗ, hoặc bị phá sản, thì cổ đông sẽ bị mất (một phần hoặc toàn bộ) số vốn góp. Hơn nữa, kể cả khi có lãi, song do nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng thương hiệu… các cổ đông có thể quyết định sử dụng toàn bộ lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư. Điều đó luôn luôn được khuyến khích nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, việc Cổ đông và Hội đồng Quản trị Cty quyết định trích tỷ lệ 50% (hoặc bất kỳ một tỷ lệ nào khác) từ lợi nhuận sau thuế để chi trả lương hiệu quả kinh doanh, là không đúng về nội dung kinh tế của tiền lương. Đòi hỏi của người lao động về “lương hiệu quả kinh doanh bằng 50% lợi nhuận sau thuế” về bản chất là đòi chia lãi với chủ sở hữu. Đó là đòi hỏi vượt quá các quyền của người lao động và có lẽ là “chuyện lạ, có thật” chỉ xảy ra ở Cty cổ phần Tràng Tiền!
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

TRANH CHẤP GIỮA LỢI ÍCH CỦA CÔNG TY VÀ CỔ ĐÔNG: TRANH CHẤP QUYỀN MUA CỔ PHẦN

NGUYỄN TRUNG NAM
Trong rất nhiều trường hợp chúng ta thấy nguyên nhân của tranh chấp chính là sự lạm quyền của giám đốc, sự thiếu giám sát, tắc trách, tiền hậu bất nhất của HĐQT. Các thành viên HĐQT chưa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cẩn trọng vì lợi ích của Cty và cổ đông.
Phiên toà đầu tiên tại Thái Bình xử vụ tranh chấp cổ phần với nguyên đơn là các cổ đông bị mất quyền mua cổ phần phát hành mới, trong khi lãnh đạo công ty gốm sứ lý giải việc “tước” quyền vì số đông người lao động.
Cty CP gốm sứ Thái Bình tiền thân là Xí nghiệp sứ Thái Bình (cổ phần hoá năm 2005) với vốn điều lệ là 2,5 tỷ đồng, chia thành 250.000 cổ phần cho 272 cổ đông. Mặc dù hoạt động chưa được 5 năm nhưng nội bộ công ty đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn.
Tháng 4/2008, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty nhất trí thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 2,5 tỷ lên 5 tỷ đồng (chia thành 500.000 cổ phần) theo phương thức phát hành cổ phiếu phổ thông để huy động vốn.
Tuy nhiên, danh sách cổ đông được lập đưa quá nửa số người lao động chưa từng có cổ phần tại Cty vào trong khi lại cố ý bỏ qua nhiều người đang nắm giữ tỷ lệ gần nửa số cổ phần vào thời điểm đó.
Ngày 15/2/2009, ông Nguyễn Viết Xuân – Chủ tịch HĐQT Cty ký Nghị quyết chào bán 12.280 đồng/cổ phần. Theo đó, thành viên HĐQT mỗi người được mua 10.000 cổ phần.
Riêng Chủ tịch HĐQT và GĐ được ưu ái thêm 10.000 cổ phần, phó GĐ tăng thêm 5.000 cổ phần, Trưởng, phó các phòng, quản đốc… mỗi người được tăng 10.000 cổ phần, kế toán trưởng được thêm 5.000 cổ phần, nhân viên quản lý là 2.000 cổ phần/người, người lao động làm việc thường xuyên mỗi người được 300 cổ phần… Xác minh trước toà, chỉ 40% số người được mua cổ phần theo sự phân chia này là cổ đông của công ty. Còn các cổ đông không phải là lao động của Cty hoàn toàn không được đả động trong khi nếu được mua đúng quyền, số này sẽ nắm quyền kiểm soát Cty.

Hai cổ đông phổ thông là ông Ngô Duy Thân và Lương Xuân Định đại diện cho 14 người khác đệ đơn kiện yêu cầu được trả lại quyền mua đúng, mua đủ cổ phần mới phát hành theo tỷ lệ vốn họ đang sở hữu. Nguyên đơn cũng đề nghị Toà huỷ Nghị quyết “chia chác” quyền mua cổ phần mới.
“Chọi” lại yêu cầu của nguyên đơn, bảo vệ quan điểm “bài” cổ đông bên ngoài, Chủ tịch HĐQT Nguyễn Viết Xuân biện minh, việc phát hành cổ phần mới lần này ưu tiên cho người quản lý và người lao động với mục đích là để gắn thêm trách nhiệm, tâm huyết của người lao động với Cty.
Cuộc tranh luận chứng lý chỉ được kết lại bằng phán quyết của HĐXX. Bản án tuyên ngày 15/5/2009, TAND tỉnh Thái Bình nhận định, việc tăng vốn điều lệ được ĐHĐCĐ thông qua bằng phương pháp phát hành cổ phần phổ thông thì buộc Cty phải thực hiện theo nghị quyết này. Việc Cty phát hành cổ phần kiểu “bài” cổ đông không phải người lao động trong Cty là trái với nghị quyết của ĐHĐCĐ năm 2008, trái điều lệ của Cty CP gốm sứ Thái Bình. Cty đã không thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục phát hành cổ phần phổ thông, tước mất quyền ưu tiên được mua cổ phần chào bán theo đúng tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của các cổ đông trong Cty quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 79 luật DN 2005.
Toà đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên buộc Công ty CP gốm sứ Thái Bình trả lại quyền được mua cổ phần mới chào bán theo tỷ lệ cổ phần đang sở hữu của cổ đông phổ thông cho ông Ngô Duy Thuân, Lương Xuân Định và 14 người có quyền nghĩa vụ liên quan. Về yêu cầu huỷ Nghị quyết “phân chia” quyền mua cổ phần cho người quản lý và người lao động của ban lãnh đạo Cty, Toà án Thái Bình cho rằng, thực tế, việc đưa danh sách cổ đông vào biểu quyết tại ĐHĐCĐ năm 2009 dựa trên danh sách bán cổ phần sai đã lập. Danh sách này không hợp lệ là vô hiệu, toà đã tuyên huỷ và giao Cty phải tổ chức lại việc phát hành cổ phần tăng vốn điều lệ theo trình tự phát hành cổ phần phổ thông và ĐHĐCĐ thường niên 2009.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

Thursday, February 13, 2014

TIN LUẬT HAY TIN … “CÒ”?

QUỐC DŨNG
Trong các Hợp đồng môi giới, bà Nguyễn Thị Kim Dung (xã Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội) cam kết sẽ đền bù gấp đôi số tiền đặt cọc nếu không “mua” được đất cho những người thuê bà. Nhưng khi đất không có, bà Dung hoàn toàn… vô sự, trong khi người thuê thì… mất tiền. Thực tế ấy đã đặt câu hỏi, người sử dụng dịch vụ phải tin vào luật, hay tin… “cò”, để tham gia thị trường bất động sản ?
Đúng lý: Vẫn mất tiền !
Để thực hiện thương vụ môi giới mua đất tại khu đô thị mới Nam An Khánh thuộc các xã An Khánh, An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bà Dung đã thể hiện thỏa thuận thành văn bản cụ thể với những người có nhu cầu với “tên” rất kêu: “Hợp đồng thuê làm thủ tục Đăng ký và mua quyền sử dụng” – nghĩa là ngay từ tiêu đề đã thể hiện người muốn mua đất đã chủ động thuê môi giới. Các hợp đồng đều có người làm chứng, có các điều khoản ràng buộc, có thời gian thực hiện, mức tiền, mức bồi hoàn, điều khoản xử lý vi phạm… Tóm lại là rất đầy đủ nội dung đối với một thỏa thuận dân sự và chắc chắn về pháp lý.
Chính vì thế, chỉ với hai khách hàng trong giai đoạn tháng 12/2007 và tháng 1/2008, bà Dung đã thu được tới 3,9 tỷ VND…. Trên hợp đồng, bà Dung và người giao tiền công nhận đó là tiền đặt cọc để phục vụ nhu cầu mua được đất. Nhưng cầm tiền xong, bà Dung không thực hiện được cam kết “mua được đất với giá gốc… trong vòng 15 ngày từ khi ký Hợp đồng tại khu đô thị mới Nam An Khánh”. Thế nên, bà Dung viết các giấy hẹn ghi rõ ngày thanh toán, trả lại tiền đặt cọc cho khách. Kết quả là tới tận bây giờ, những nạn nhân của bà vẫn chưa lấy lại được một xu trong số tiền 3,9 tỷ trên.
Theo quy định của các Hợp đồng môi giới, khi có mâu thuẫn hoặc một bên vi phạm cam kết thì các bên phải tiến hành hòa giải, không hòa giải được thì tòa dân sự là nơi giải quyết tranh chấp. Như vậy, nếu làm đúng luật để buộc “cò” phải trả tiền cho mình, các nạn nhân sẽ phải khởi kiện ra Tòa án. Phải theo đuổi suốt thời gian dài kiện tụng. Theo đuổi mà không biết có đòi lại được tiền hay không. Vì chắc chắn tòa án tuyên họ thắng kiện, nhưng việc lấy lại tiền thì do cơ quan thi hành án quyết định, và phụ thuộc vào tình trạng gia sản của “cò”. Vậy là, dù rất đúng luật, nhưng nguy cơ mất trắng tiền môi giới rất rõ ràng với những người mua đất qua “cò”. Thế nên, nếu các cơ quan chức năng không vào cuộc làm rõ đây có phải một vụ lừa đảo hay không, thì dường như những người tin “cò” chẳng biết bấu víu vào đâu để mà bảo đảm quyền lợi cho mình.

Vì sao?
VN hiện đã có, đang vận hành Luật Kinh doanh bất động sản, kèm theo đó là văn bản như nghị định, thông tư hướng dẫn… Việc xây dựng và vận hành các quy định đối với thị trường bất động sản là một bước tiến dài về phương diện quản lý. Nhưng câu hỏi đặt ra là hiệu quả thực sự của những quy định này đến đâu thì quá khó để trả lời. Chẳng hạn, theo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản thì các cá nhân hoạt động môi giới, định giá bất động sản, quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải qua đào tạo để được cấp chứng chỉ môi giới, định giá bất động sản. Các cá nhân này không được là cán bộ, công chức nhà nước, phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng, hoặc đại học. Đồng thời, người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản. Còn với các tổ chức, để được phép kinh doanh bất động sản, thì phải có vốn pháp định tối thiểu 6 tỷ VND…
Quy định thế, nhưng việc xử phạt các vi phạm lại quá nhẹ nhàng. Và vì thế, không quá khó để nhận thấy các vi phạm trong thực hiện dịch vụ bất động sản sẽ gia tăng, chứ không giảm. Hiện, mức xử phạt các vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản là 60 – 70 triệu VND, kèm theo là buộc khắc phục hậu quả. Nhưng như trên đã nói, việc khắc phục hậu quả lại liên quan tới các quy định pháp luật khác và khả năng kinh tế của người vi phạm. Như vậy, thu nhập từ hoa hồng môi giới cao hơn mức xử phạt lại trở thành “thuốc kích thích” nhà môi giới cung cấp thông tin sai lệch với khách hàng. Đó là thực tế đã xảy ra trong ví dụ nêu trên, cũng như trong vụ mua căn hộ Adonis 1, 2 của Cty Vạn Thịnh Hưng tại TP HCM.
Mặt khác, các khách hàng chắc chắn sẽ không nộp tiền nếu không có niềm tin vào nhà môi giới. Mà để tin, thì chính khách hàng đã phải thẩm định những thông tin nhà môi giới cung cấp, gồm cả thông tin chính thức và… không “chính thức”. Có nghĩa, là giữa nhà môi giới và chủ dự án, cơ quan quản lý vẫn tồn tại một… khoảng trống mà quy định của văn bản quản lý không giám sát được hết. Đó cũng là khoảng trống lớn giữa quy định tại văn bản quản lý và hiệu quả áp dụng thực tế.
Tại hội nghị quốc tế về môi giới và đầu tư bất động sản vừa tổ chức ngày 28/3/2009, đại diện một DN kinh doanh bất động sản nhận xét, Luật Kinh doanh bất động sản chỉ quy định “suông” về nghề môi giới mà thiếu cơ chế giám sát, chế tài. Vì thế mà thị trường vẫn còn nhiều môi giới “dỏm” và đó là nguyên nhân gây thiệt hại cho người mua. Một thông tin do DN đưa ra tại Hội nghị này, là cả nước hiện mới có dưới 50 sàn giao dịch bất động sản, nhưng một nửa trong số đó chỉ phục vụ các kinh doanh các dự án do Cty quản lý sàn làm chủ đầu tư. Và có rất ít sàn giao dịch bất động sản có chức năng chuyên về môi giới. Thông tin này được xác nhận bởi đại diện của Bộ Xây Dựng.
Thế nên, chuyện không khách hàng nào đòi được tiền môi giới, chứ chưa nói là đòi được tiền phạt khi hợp đồng bị phá vỡ thì cũng là điều dễ hiểu. Mà khi không được Luật bảo vệ có hiệu quả, thì người phải tin vào ai trên thị trường bất động sản đây? Tin vào “cò” – vốn được luật hóa bằng tên gọi người môi giới chăng ?
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN
Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.
Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).
Rắc rối ngoài hợp đồng
Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.
Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Xem xét về các điều khoản trong hợp đồng mua bán này LS Võ Xuân Trung, Đoàn LS TP HCM khẳng định về phía bên Mua không hề có lỗi. Theo điều 7.2 của hợp đồng có đề nghị rõ bên thụ hưởng là Southern Bank và ngay từ đầu chứng thư bảo lãnh này đã đúng còn việc bên Bán đề nghị đổi sang ngân hàng khác không được ghi trong hợp đồng. Do đó, trong vụ việc này thì việc chuyển đổi ngân hàng hay không là do quyền của bên Mua chứ không thể bắt buộc. Đồng nhất với quan điểm trên, Luật gia Nguyễn Thành Sinh nói: Với tất cả các vụ án tranh chấp thương mại kiểu này thì điều trước tiên là phải căn cứ trên hợp đồng giữa hai bên. Giải thích về việc bên Bán về nội dung Chứng thư bảo lãnh hợp đồng, ông Sinh cho rằng với nội dung chứng thư bảo lãnh của BIDV là phù hợp và việc nội dung của bảo lãnh có thêm điều kiện “kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng” chỉ chứng minh thêm khi thực hiện đúng nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh với các bên liên quan.
Đề nghị đổi thẩm phán!
Trước khi khởi kiện ra tòa, ngày 10/11/2009 bên Bán đã có đơn yêu cầu TAND Q 7 TP HCM ngăn chặn và phong tỏa tài khoản tiền gửi khẩn cấp tài khoản số 1702201128071 tại NH NN-PTNT CN 8. Theo đó, ngày 13/11/2009 TAND Q 7 đã ban hành Thông báo số 45 về việc thu lý vụ án và đồng thời cùng ngày thẩm phán tiếp tục ban hành Công văn số 267/CV-TA gửi NH NN-PTNT CN 8 yêu cầu không cho hai bên giao dịch số tiền 1,856 tỷ đồng. Do đó, tại văn bản gửi các cơ quan chức năng bên Mua đã khiếu nại việc thẩm phán ban hành văn bản trên là trái luật và không đủ hiệu lực về pháp luật để các bên thi hành. Tiếp theo đó, thẩm phán lại ban Quyết định số 1/2010/QĐ-BPKCTT ngày 3/2/2010 về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tiếp tục đề nghị ngân hàng không cho thực hiện việc giao dịch trên. Thậm chí, quyết định trên TA cũng không gửi cho người bị đơn trong vụ kiện mà ngày 11/3/2010 người của công ty đến trực tiếp nhận tại TAND Q 7.
Trong khi những rắc rối trên chưa được giải quyết thì ngày 30/3/2010 thẩm phán lại tiếp tục có Quyết định số 02/2010/QĐ- BPKCTT áp dụng biện pháp phong tỏa  khẩn cấp tạm thời số tài khoản và số tiền trên với thời hạn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định. Như vậy, có thể hiểu ở thời điểm hiện tại thì một văn bản và hai quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa khẩn cấp tạm thời của TAND Q7 đều có hiệu lực như nhau. LS Võ Xuân Trung cho rằng cần xem xét lại trình độ của thẩm phán bởi giải quyết một vụ án tranh chấp thương mại chỉ giải quyết trong vòng 2 tháng, còn trong trường hợp thẩm phán và các bên phải thu thập chứng cứ để chứng minh thêm cho vụ án thì mới kéo dài thời hạn thêm 1 tháng nữa. Vậy dựa vào đâu để thẩm phán ra một quyết định phong tỏa tài khoản  tới 6 tháng ?
Trước những quyết định, văn bản của tòa bên Mua đã chính thức có văn bản đề nghị thay đổi thẩm phán với lý do “Trong quá trình làm việc thẩm phán không khách quan, ban hành một số văn bản có liên quan đến vụ án, không đúng pháp luật”.
Theo giới chuyên môn, đối với các đối tác nước ngoài khi có giao dịch với số lượng tiền lớn như trong hợp đồng này thì họ lựa chọn rất kỹ ngân hàng mở L/C cho việc thực hiện hợp đồng. Trong đó, thông thường họ chọn các ngân hàng nhà nước hoặc một trong 4 ngân hàng TMCP của nhà nước tham gia việc bảo lãnh và mở L/C về lĩnh vực này, đồng thời có uy tín trong nước và quốc tế. Với lựa chọn ngân hàng không phù hợp với đối tác nước ngoài thì việc bị hủy L/C là một điều rất dễ hiểu.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN PHÁP LÝ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẢI

NGUYỄN THU PHƯƠNG (Sưu tầm)
Nguyên đơn: Công ty May Xuất khẩu Việt Nam ( Người mua )
Bị đơn: Công ty Hàn Quốc ( Người bán )
CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP:
- Mua hàng theo mẫu;
- Giá trị pháp lý của mẫu hàng;
- Nghĩa vụ cung cấp mẫu hàng;
- Giá trị pháp lý của chứng thư giám định.
TÓM TẮT VỤ VIỆC:
Nguyên đơn và Bị đơn ký hai Hợp đồng mua vải. Trong các điều khoản của Hợp đồng, đáng lưu ý có các điều khoản sau:
- Chất lượng của hàng hóa sẽ dựa theo mẫu LABDIP ( Điều 2 Hợp đồng );
- Giám định trước khi gửi hàng do nhà sản xuất thực hiện là cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên ( Điều 7 Hợp đồng ).
Sau khi nhận hàng của Bị đơn, Nguyên đơn đã chuyển số vải cho một đơn vị gia công hàng của Nguyên đơn để kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào gia công.Tuy nhiên, do lỗi vải quá nhiều nên đơn vị gia công đã từ chối nhận vải của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã mời đại diện của Bị đơn là ông A (Trưởng văn phòng đại diện của Bị đơn ) đến kiểm tra chất lượng vải. Sau khi kiểm tra vải đại diện Bị đơn đồng ý để Nguyên đơn mời Công ty X giám định chất lượng vải của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn nhận được kết quả giám định của Công ty X với nội dung “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt may công nhiệp hàng loạt”.
Do hai bên không giải quyết được tranh chấp về chất lượng nên Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn ra Trọng tài, yêu cầu Bị đơn hoàn trả lại cho Nguyên đơn 44.089,2USD gồm các khoản sau:
- Trị giá Hợp đồng : 31.669,2USD
- Chi phí nhận hàng : 300USD
- Lãi suất đến ngày khởi kiện : 675,61USD
- Tiền phạt mà Nguyên đơn bị khách hàng phạt do không có hàng để giao : 11.445USD.

Lập luận của Bị đơn :
- Bị đơn đã hoàn thành các cam kết theo Hợp đồng; chất lượng hàng giao phù hợp với Hợp đồng và mầu sắc như mẫu chào bán, mẫu LABDIP theo như Điều 2 của Hợp đồng. Hàng đã được giám định bởi nhà sản xuất trước khi gửi hàng đúng theo như Điều 7 của Hợp đồng.
- Khiếu nại của Nguyên đơn về chất lượng và mầu sắc vải là thiếu căn cứ vì Bên mua đã đơn phương trưng cầu Công ty X giám định, một giám định ngoài Hợp đồng, không có giá trị pháp lý ràng buộc. Theo Điều 7 của Hợp đồng, giám định trước khi gửi hàng được thực hiện bởi nhà sản xuất và giám định này là cuối cùng, có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên.
- Biên bản làm việc với ông A là vô hiệu vì ông A không được ủy quyền để ký Biên bản làm việc và cũng không được ủy quyền để giải quyết vụ tranh chấp này. Vào thời điểm ký Biên bản, ông A không còn làm việc cho Bị đơn.
- Giám định của Công ty X không chính xác, cách thức kiểm tra không chuẩn, không có căn cứ vào mẫu LABDIP để giám định chất lượng và mầu sắc của lô hàng. Việc giám định mà không đối chiếu với mẫu LABDIP là không có giá trị pháp lý.
Từ những lập luận nêu trên, Bị đơn đề nghị Hội đồng Trong tài tuyên bố Bị đơn đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng và bác đơn kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên xét xử, Hội đồng Trọng tài đã yêu cầu Nguyên đơn và Bị đơn cung cấp mẫu LABDIP. Nguyên đơn đã cung cấp cho Hội đồng Trọng tài mẫu LABDIP, còn Bị đơn không cung cấp được mẫu LABDIP với lý do bị Nguyên đơn lấy mất mẫu LABDIP. Bị đơn đã phản bác mẫu LABDIP do Nguyên đơn xuất trình và trên mẫu LABDIP không có chữ ký và con dấu của đại diện có thẩm quyền của hai bên.
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
Nguyên đơn và Bị đơn ký Hợp đồng mua bán theo mẫu LABDIP. Tuy nhiên, cả hai bên đã không tuân thủ các quy định về việc lấy mẫu và bảo quản mẫu.
- Về mẫu LABDIP do Nguyên đơn xuất trình : Nguyên đơn đã không tuân thủ các quy định về việc lấy mẫu. Cụ thể, trên mẫu LABDIP không có chữ ký và con dấu của đại diện Nguyên đơn và Bị đơn, không được niêm phong. Do vậy, không có cơ sở để xác định đây là mẫu LABDIP.
- Về việc Bị đơn không xuất trình mẫu LABDIP : Hội đồng Trọng tài không chấp nhận trình bày của Bị đơn. Hai bên thỏa thuận mua bán theo mẫu, với tư cách là Bên bán, Bị đơn phải có nghĩa vụ cung cấp mẫu vải và đặc biệt phải giữ và bảo quản mẫu trong mọi trường hợp để làm căn cứ chứng minh khi có khiếu nại về chất lượng hàng hóa. Là Bên bán nên Bị đơn biết rõ giá trị pháp lý và tầm quan trọng của mẫu LABDIP. Lý do bị mất mẫu mà Bị đơn đưa ra không chính đáng. Bị đơn đã không có bất kỳ hành động gì để bảo vệ quyền lợi của mình ngay khi bị mất mẫu. Bị đơn không chứng minh được Nguyên đơn đã lấy mẫu LABDIP của Bị đơn. Do vậy, Bị đơn phải tự chịu trách nhiệm về việc này.
- Về kết quả giám định của Công ty X :
Việc Nguyên đơn khi phát hiện hàng hóa chất lượng không phù hợp với Hợp đồng nên mời giám định là quyền của Nguyên đơn. Tuy giám định của Công ty X không được quy định trong Hợp đồng nhưng, trong trường hợp không đồng ý với kết luận giám định của Công ty X thì Bị đơn có quyền chỉ định tổ chức giám định khác giám định lại chất lượng lô hàng để chứng minh mình đã giao hàng phù hợp với quy định của Hợp đồng. Tuy nhiên, Bị đơn đã không làm việc này và cũng không xuất trình được mẫu LABDIP. Vậy, Bị đơn dựa trên căn cứ nào để bảo vệ quyền lợi của mình khi có khiếu nại về chất lượng lô hàng đã giao?
Công ty X là một Công ty giám định độc lập. Hội đồng trọng tài không chấp nhận giải trình của Bị đơn cho rằng ông A không được ủy quyền để ký Biên bản nêu trên với lý do vào thời điểm ký Biên bản ông A không còn làm việc cho Bị đơn vì trong suốt quá trình thực hiện Hợp đồng, ông A là đại diện của Bị đơn, trực tiếp giao dịch với Nguyên đơn. Biên bản chọn giám định ghi: Đại diện Bị đơn là ông A. Lẽ ra, nếu có thay đổi Trưởng đại diện, nhất là vào thời điểm đang có tranh chấp, thì Bị đơn phải thông báo cho Nguyên đơn biết. tuy nhiên, Bị đơn đã không làm việc này.
Tuy không hoàn toàn dựa vào kết quả giám định của Công ty X trong việc giải quyết vụ kiện, nhưng Hội đồng Trọng tài công nhận kết luận giám định của Công ty X “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt, may công nghiệp hàng loạt”. Hội đồng Trọng tài cho rằng Bị đơn đã biết rất rõ Nguyên đơn mua vải của Bị đơn là để gia công may xuất khẩu. Quá trình xác định mẫu vải còn có đại diện khách hàng của Nguyên đơn cùng tham gia. Do vậy, Bị đơn phải chịu trách nhiệm về chất lượng lô hàng này. Mặt khác, Nguyên đơn cũng chưa xuất trình đầy đủ chứng cứ để yêu cầu Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn toàn bộ số tiền nêu trong đơn kiện là 44.089,81 USD.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng Trọng tài cho rằng cả Nguyên đơn và Bị đơn đều có lỗi trong vụ việc này và quyết định như sau:
- Buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn các khoản tiền sau:
+ 10.556,4 USD, tức 1/3 tổng trị giá lô hàng thuộc Hợp đồng là 31.669,2 USD.
+ 225,20 USD, tức 1/3 số tiền lãi tính đến ngày xét xử.
- Nguyên đơn được sở hữu toàn bộ lô hàng nhập khẩu nói trên.
- Bác các yêu cầu khác của Nguyên đơn.
- Nguyên đơn phải chịu 2/3 phí Trọng tài. Bị đơn phải chịu 1/3 phí Trọng tài.
BÌNH LUẬN VÀ LƯU Ý
Trong vụ kiện trên, hai bên mua bán theo mẫu nhưng cả hai bên đều không thực hiện đúng quy trình lấy mẫu và bảo quản mẫu. Thông thường, trong mua bán quốc tế, khi mua bán hàng theo mẫu thì phải có tối thiểu là 3 mẫu. Người bán giữ một mẫu, người mua giữu một mẫu và một mẫu gửi cho tổ chức độc lập, trung gian. Ngoài ra, khi lấy mẫu thì các bên phải ký xác nhận, niêm phong, đóng dấu. Sau đó, mẫu phải được bảo quản trong điều kiện an toàn để làm căn cứ đối chiếu với hàng thực giao.
Về giám định chất lượng hàng hóa, việc Bên mua thỏa thuận để kết quả giám định của nhà sản xuất có giá trị cuỗi cùng là một sơ suất lớn. Trong thực tế, khi sản xuất ra một sản phẩm,nhà sản xuất phải công bố các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm. Đây là nghĩa vụ đương nhiên của nhà sản xuất. Các kết luận của nhà sản xuất về quy cách, phẩm chất của hàng hóa chỉ là sự xác nhận đơn phương, không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba, nhất là với bên mua. Trong thực tế có thể có sự khác nhau về chỉ tiêu chất lượng giữa sản phẩm được sản xuất ra và các chỉ tiêu do nhà sản xuất công bố. Trong trường hợp đó phải có sự kết luận của tổ chức giám định trung gian, độc lập mới có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý. Tuy nhiên, trong vụ kiện này, Nguyên đơn đã chấp nhận kết quả kiểm tra của nhà sản xuất có giá trị cuối cùng tức là đã loại trừ vai trò của tổ chức giám định.
SOURCE: VIETSHIP.VN

NGHIÊN CỨU MỘT VỤ TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG

Diễn biến của một vụ kiện do trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thụ lý. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu và thảo luận. Nguyên đơn: Công ty TNHH THÉP THÀNH LONG (Người mua Việt Nam). Bị đơn: Công ty XINXIN TRADING DEVELOPMENT CO.,LTD (Người bán Trung Quốc).
Ngày 15/5/2006 Nguyên đơn ký hợp đồng số TL/XX0306 mua của Bị đơn 750MT thép góc Q235 (+/- 10%) giá 445 USD/MT CNF FO cảng Hải Phòng theo Incoterms 2000.
  • Giao hàng chậm nhất 30/6/2006.
  • Thanh toán bằng L/C không huỷ ngang trả tiền ngay.
  • Điều 8 của hợp đồng quy định: trong trường hợp chất lượng của hàng ở cảng đến không phù hợp với hợp đồng, Người mua có thể khiếu nại Người bán bằng biên bản giám định do SGS cấp và gửi cho Người bán trong vòng 40 ngày kể từ ngày hàng đến cảng đến.
Ngày 17/5/2006, Nguyên đơn mở L/C số 009LC01061370002 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á cho Bị đơn hưởng lợi.
Ngày 8/6/2006 lô hàng đầu tiên 436,484 MT đã cập cảng Hải Phòng. Nguyên đơn tự thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng nên đã không nhận hàng và thông báo cho Bị đơn về những khiếm khuyết của lô hàng.
Ngày 25/7/2006, Nguyên đơn đã kiện Bị đơn lên VIAC. Trong đơn kiện Nguyên đơn đưa ra bằng chứng nói Bị đơn thừa nhận lô hàng “có vấn đề nghiêm trọng” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 23/6/2006) và cam kết “sớm giải quyết vấn đề tái xuất hàng trong thời gian sớm nhất” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 27/6/2006).
Đồng thời trong công văn gửi cho Hải quan Việt Nam và cho Nguyên đơn, Bị đơn đã thừa nhận lô hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo hợp đồng, và cam kết sẽ thay thế hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên đến nay Bị đơn vẫn chưa thực hiện việc thay thế lô hàng.
Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị toàn bộ lô hàng, tương đương 26.700 USD, cộng với các khoản thiệt hại khác sẽ tính toán sau.
Trong bản tự bảo vệ ngày 1/10/2006 Bị đơn khẳng định đã giao hàng đúng hợp đồng là loại thép Q235B, cho rằng “dù mặt lô thép có vết chân chim trong phạm vi cho phép, nhưng không hề ảnh hưởng đến việc sử dung nó một cách bình thường”.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã đặt nhầm hàng vì sau đó ngày 2/8/2006 lại kí hợp đồng mua của Bị đơn thép Q345 với cung quy cách như hợp đồng TL/XX0306, nên không có thiện chí nhận hàng.
Lô hàng thứ hai 286,898 MT đưa lên thuyền ngày 18/6/2006 cập cảng Hải Phòng ngày 28/6/2006 nhưng Nguyên đơn không đến xem hàng. Bị đơn nhiều lần đề nghị Ngân hàng thanh toán nhưng không được thanh toán. Đồng thời Bị đơn đưa ra văn bản Nguyên đơn gửi cho Ngân hàng Đông Á trong đó đề nghị huỷ L/C ngày 20/6/2006.
Bị đơn cũng đưa ra lí do đã hơn 80 ngày nhưng chưa nhận được bất kì chứng từ nào của SGS tức là Nguyên đơn đã tự mình từ chối quyền yêu cầu bồi thường theo hợp đồng.
Trong văn bản trả lời Nguyên đơn phủ nhận việc mua nhầm hàng và nói rằng chất lượng lô hàng Bị đơn cung cấp là quá kém. Giám đốc bên Bị đơn cũng thừa nhận “hàng có vấn đề nghiêm trọng về chất lượng” nên không cần mời SGS giám định.
Nguyên đơn cũng khẳng định việc Ngân hàng Đông Á không tiến hành thanh toán là theo yêu cầu của Ngân hàng của Bị đơn. Nguyên đơn cho rằng việc Ngân hàng này yêu cầu Ngân hàng Đông Á ngừng việc thanh toán và trả lại bộ chứng từ là do họ cũng đã nhận ra bộ chứng từ không phù hợp với chất lượng của lô hàng trên thực tế và không phù hợp với quy định của hợp đồng.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng là phía Trung Quốc đã vi phạm hợp đồng, tuy nhiên, với những hành vi dẫn tới hậu quả tước bỏ quyền lợi của Việt Nam, liệu phía Việt Nam có được bồi thường đầy đủ. Xin các Saganor nêu ra ý kiến của mình.
SAGA.VN – S.T

ÁP DỤNG ÁN LỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC DUY MỸ
Có một thực tế là, dù VN rất tích cực đổi mới pháp luật theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng pháp luật về kinh tế, thương mại của nước ta vẫn còn có những khoảng cách nhất định so với pháp luật về thương mại của các nước, đặc biệt là với những chuẩn mực pháp lý của WTO mà VN sẽ trở thành thành viên trong một tương lai gần. Vấn đề không chỉ là những cách biệt về mặt quan điểm và kỹ thuật pháp lý, mà trong thực tiễn, chúng tạo nên những khó khăn cho việc hội nhập và nhất là đối với các quan hệ thương mại quốc tế. Một dẫn chứng sau đây cho thấy điều đó:
Vụ việc
Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung VN. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết.
Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại VN.
Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại VN. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ tư pháp, phán quyết của Trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại VN.
Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật VN khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại VN.
Vấn đề
Vụ việc trên đặt ra những vấn đề sau:
- Có sự khác biệt giữa pháp luật VN và quốc tế về khái niệm thương mại:
Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất, mua bán và dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của VN. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loạt các hành vi thương mại, theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thác hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán, các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian thương mại, ngân hàng, hối đoái, … đều được xem là hành vi thương mại.
Ngược lại, trong Luật thương mại VN năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hoá, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm thương mại. Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp; tức chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá và những tác vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hoá. Luật thương mại năm 2005, tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại, là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành có liên quan. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không nhất quán trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
- Nếu cho phép vận dụng án lệ, vấn đề trở nên dễ dàng hơn:
Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại VN qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ.
Đăt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại VN, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.
Án lệ
Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật đặc thù, đó là án lệ. An lệ là trường hợp các quyết định xét xử của toà án hoặc của cơ quan hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc toà án tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của toà trong trường hợp này có giá trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan toà đưa ra các bản án. Nói cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của toà án về một hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc bản thân các quy định của pháp luật có thiếu sót, hoặc không thể giải thích.
Các luật gia ở các nước thuộc hệ thống luật Anh, Mỹ chứng minh sự cần thiết của án lệ khi cho rằng toà án trong nhiệm vụ xét xử của mình có quyền sáng tạo các quy tắc mang tính chuẩn mực trong án lệ, giúp tạo ra quan niệm đồng nhất trong xét xử, nhất là trong điều kiện pháp luật thường lạc hậu hơn so với những gì đang diễn ra trong đời sống. Trong thực tiễn, việc vận dụng án lệ buộc các thẩm phán phải đọc các án văn của các toà án khác cũng như những bản án của toà án cấp trên trong quá trình phúc thẩm, nhất là các bản án giám đốc thẩm.
Thực ra, án lệ có lịch sử xuất hiện từ rất lâu. Trong pháp luật La Mã có một nguyên tắc là “Stare decisis”, nghĩa là phải tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc). Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một ”tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này. Có thể được tóm tắt án lệ qua những đặc điểm như: tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ giống nhau; giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp, điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng; tiết kiệm công sức của các thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc …
Thông thường, người ta có quan niệm rằng án lệ là một hình thức pháp luật đặc thù của các nước thuộc hệ thống Anh, Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của toà phúc thẩm có giá trị như một nguồn luật qua việc công bố các bản án của toà cấp phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc tương tự.
Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, từ lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để toà án, trọng tài thương mại dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp thương mại. Cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc tương tự. Điểm khác là, các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông luật.
Áp dụng ở VN
VN trước nay không xem án lệ là một nguồn luật. Thẩm phán khi xét xử vụ việc chỉ dựa vào các quy định trong văn bản pháp luật, không đặt ra những tiền lệ để áp dụng sau này. Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 3 có đề cập đến khả năng áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự nhưng không đề cập đến án lệ như là hình thức vận dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại toà. Việc không thừa nhận án lệ trong các tranh chấp thương mại ở VN có thể làm tăng thêm khó khăn cho các chủ thể tố tụng như các thẩm phán, luật sư và cả các bên đương sự. Sở dĩ như vậy là vì từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá bao cấp sang nền kinh tế thị trường, các vụ việc tranh chấp trong kinh doanh có một số điểm đặc thù so với tranh chấp trong dân sự thông thường.
Mặt khác, một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc khả năng áp dụng án lệ ở VN là việc VN đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và sắp tới là việc gia nhập WTO. Điều này đặt ra yêu cầu là công tác tài phán phải biết cách tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài qua việc công nhận và cho thi hành tại VN. Phương án sử dụng án lệ có thể được xem như là một nguồn luật bổ sung tuỳ theo mức độ để hoà nhập hệ thống tài phán của VN với hệ thống tài phán quốc tế. Điều này không hề làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp nước ta mà trái lại tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại VN thay vì phải đưa vụ tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài.
Thực hiện áp dụng án lệ tại VN là một quá trình lâu dài, song hành với tiến trình hội nhập. Trước mắt, Toà án nhân dân tối cao đã hoàn chỉnh và công khai hóa các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại điển hình của năm 2004, trong đó có các quyết định giám đốc thẩm về các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại. Đây là cách tiến hành theo hướng hình thành và công nhận án lệ. Cần phải thừa nhận những nỗ lực từ lâu của ngành toà án với việc trong các báo cáo tổng kết hàng năm của mình, Tòa án nhân dân tối Cao đều có trình bày, phân tích những vụ án điển hình, chỉ ra những vướng mắc, sai sót trong tố tụng ở cấp sơ thẩm và ban hành các thông tư hướng dẫn để các Tòa án nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong công tác xét xử khi gặp những vụ việc tương tự. Điều này có thể xem là những nỗ lực ban đầu theo hướng tiếp cận án lệ phục vụ công tác xét xử. Về lâu dài, cần xuất bản hẳn một tập san án lệ như cách làm của nhiều nước. Tập san án lệ sẽ thường xuyên phổ biến những quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao làm căn cứ cho tòa án các cấp. Tất nhiên, cùng với điều này, phải có những quy định bắt buộc đối toà án các cấp trong việc sử dụng có hiệu quả các phán quyết của toà cấp trên khi gặp những vụ việc tương tự.
Phổ biến án lệ cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải. Cần phải nghĩ đến việc phổ biến công khai các bản án của Toà án nhân dân tối cao trên các phương tiện thông tin như internet chẳng hạn. Điều này góp phần không nhỏ vào việc tăng cường giáo dục pháp luật và tạo niềm tin nơi doanh nhân và công chúng vào tính minh bạch, công khai của hệ thống toà án – một điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của VN ª
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 5/2006

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG PHÂN PHỐI THIẾT BỊ

VŨ ÁNH DƯƠNG

Các bên
Các vấn đề được đề cập:
Nguyên đơn: Nhà xuất khẩu Mỹ
Bị đơn: Nhà phân phối Argentina
Hợp đồng phân phối hàng hoá
Phán quyết bộ phận
Chọn luật thực chất và hợp đồng không đàm phán (adhesion contract)
Chấm dứt hợp đồng
Rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng
Quan hệ trước khi ký kết hợp đồng
Giảm thiểu thiệt hại
Tóm tắt vụ việc:
Trong Hợp đồng phân phối hàng hoá quốc tế (sau đây gọi là hợp đồng) ký ngày 8/8/1979, nguyên đơn đã chỉ định bị đơn làm nhà phân phối thiết bị của mình ở Argentina.
Điều 15 của hợp đồng quy định khi có tranh chấp hoặc bất đồng xảy ra giữa các bên mà không thể dàn xếp thông qua thương lượng thì các bên sẽ đưa ra trọng tài theo các quy tắc của Phòng Thương mại quốc tế (ICC). Nơi xét xử trọng tài (như đã sửa đổi ngày 31/8/1979) là Trinidad và Tobago, West Indies. Hợp đồng sẽ tự động chấm dứt sau hai năm nhưng có thể gia hạn hợp đồng bằng một văn bản thoả thuận giữa hai bên. Hợp đồng đã hết hạn ngày 8/8/1981. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đã ký các thoả thuận gia hạn hợp đồng ngắn hạn và vì vậy, cả hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Ngày 9/3/1983, nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn là nguyên đơn đang trong quá trình soạn thảo một Hợp đồng phân phối hàng hoá quốc tế mới và chỉ còn vài tháng nữa hợp đồng mới này sẽ hoàn thành. Do đó, nguyên đơn quyết định gia hạn hợp đồng đang thực hiện thêm hai tháng tính từ thời điểm nguyên đơn đưa hợp đồng mới cho bị đơn để bị đơn có đủ thời gian để xem xét hợp đồng mới này. Nhưng sau đó nguyên đơn đã không gửi bản hợp đồng mới này.
Trong thời gian này ở Argentina, sau cuộc tuyển cử, một đảng chính trị khác lên nắm quyền. Chính phủ mới dự định sẽ ban hành các chính sách hoàn toàn mới liên quan đến tỷ lệ nội địa hoá của hàng hoá. Vì vậy, nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành một số cuộc thương lượng về vấn đề này và đây dần dần trở thành vấn đề chính đối với nguyên đơn. Tháng 11/1983, nguyên đơn nhận thấy các quy định thương mại đối với hoạt động của nguyên đơn ở Ac-hen-ti-na đã thay đổi và buộc nguyên đơn phải có sản xuất thực tế ở Argentina. Vì vậy, nguyên đơn muốn chỉ định một Cty khác làm đối tác và nhà phân phối.
Ngày 2 /12/1983, nguyên đơn đã gửi telex cho bị đơn chính thức thông báo từ ngày 1/2/1984 kết thúc bản hợp đồng đã được gia hạn liên tiếp. Cũng trong bản telex đó, nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn là nguyên đơn sẽ chọn một Cty Argentina khác làm nhà phân phối.
Bị đơn phản đối bản telex của nguyên đơn và thông báo nếu nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng, bị đơn sẽ kiện ra Toà án của Argentina. Nguyên đơn đề nghị nên cố gắng đàm phán và giải quyết một cách hữu nghị những thay đổi trong quan hệ thương mại giữa hai bên, đồng thời yêu cầu bị đơn đến California để làm việc với nguyên đơn. Sau đó, ngày 11/1/1984 nguyên đơn gửi một bản telex cho bị đơn để huỷ bỏ bản telex thông báo chấm dứt hợp đồng ngày 2/12/1983 nhằm “tạo điều kiện cho hai Cty đàm phán một bản hợp đồng liên quan đến việc tiếp tục các hoạt động của nguyên đơn ở Argentina”. Tháng 2/1984 nguyên đơn và bị đơn đã gặp nhau tại California, nhưng không giải quyết được bất đồng giữa hai bên.
Nhiều cách giải quyết đã được đưa ra nhằm rút dần các hoạt động hiện tại của nguyên đơn ở Argentina, nhưng bị đơn đã bác các đề nghị của nguyên đơn và yêu cầu bồi thường. Trong bản telex ngày 29/3/1984, nguyên đơn chính thức đề nghị gia hạn hợp đồng thêm hai năm với các điều khoản và điều kiện tương tự như bản hợp đồng gốc. Nhưng trong bản telex ngày 4/4/1984, bị đơn đã bác đề nghị của nguyên đơn và cho rằng nguyên đơn đã tự ý chấm dứt quan hệ giữa hai bên vào 2/12/1983.
Ngày 16/5/1984 bị đơn đã ký hợp đồng phân phối độc quyền với một Cty Pháp, đối thủ cạnh tranh của nguyên đơn. Đổi lại, nguyên đơn đã ký hợp đồng phân phối độc quyền với một Cty Argentina khác vào tháng 4/1985. Tháng 8/1984, nguyên đơn nộp yêu cầu xét xử trọng tài cho ICC, và muốn có một phán quyết trọng tài “tuyên bố hợp đồng đã được chấm dứt hợp lệ” và “cấm bị đơn khởi kiện ở Argentina”. Bị đơn đã kiện lại đòi bồi thường thiệt hại 19.000.000 USD liên quan đến các thiệt hại về: Dự trữ phụ tùng thiết bị; Thiết bị thuộc sở hữu của bị đơn và thiết bị cho người khác thuê; Hợp đồng cho thuê thiết bị; Hợp đồng bảo dưỡng thiết bị; Tổn thất liên quan đến việc bán phụ tùng nâng cấp thiết bị đã được lắp đặt; Tổn thất hợp đồng trong quá trình thực hiện; Lợi nhuận bị giảm do mất thị phần tương lai; Chi phí đi lại. Ngày 26/11/1985, các bên và các trọng tài viên đã ký Văn bản về thẩm quyền của trọng tài. Các vấn đề sẽ giải quyết là:
Khiếu kiện của nguyên đơn:
Bản telex nguyên đơn gửi cho bị đơn ngày 2/12/1983 trong đó nguyên đơn thông báo cho bị đơn ý định (hoặc quyết định) chấm dứt hợp đồng từ ngày 1/2/1984 có phải là chấm dứt bất hợp pháp hợp đồng và những bản gia hạn hợp đồng mà hai bên đã thoả thuận không? Giả sử bản telex ngày 2/12/1983 vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thì liệu bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn (bị đơn đã trả lời bản telex này bằng bản telex ngày 19/1/1984) có được coi là rút lại hợp pháp yêu cầu chấm dứt hợp đồng không?
Đề nghị của nguyên đơn ngày 29/3/1984 (gia hạn hợp đồng thêm hai năm với các điều khoản và điều kiện giống như hợp đồng gốc) cùng với bản telex ngày 4/4/1984 của bị đơn có chấm dứt quan hệ thương mại giữa hai bên và giải phóng nguyên đơn khỏi các trách nhiệm và nghĩa vụ đối với bị đơn không?
Việc nguyên đơn ký kết hợp đồng với một Cty Argentina khác hoặc bị đơn ký kết hợp đồng với một Cty Pháp, hoặc các hoạt động hay ký kết hợp đồng của nguyên đơn và bị đơn với các Cty khác có phải là sự vi phạm nghĩa vụ của một bên với bên kia trong hợp đồng hay không?
Khiếu kiện của bị đơn:
Bị đơn có quyền đòi nguyên đơn bồi thường các thiệt hại và tổn thất không?
Nếu cho rằng bị đơn sẽ được bồi thường, liệu bị đơn có quyền nhận toàn bộ số tiền yêu cầu không?
Phí trọng tài:
Bên nào sẽ chịu phí trọng tài và các chi phí pháp lý? Nếu cả hai bên đều phải chịu phí trọng tài và các chi phí pháp lý thì tỷ lệ phân chia cho các bên sẽ như thế nào?
Trong bản biện hộ ngày 16/1/1986, bị đơn đã điều chỉnh lại số tiền đòi bồi thường là 27.500.000 USD.
Vì vậy, với thời hạn hai tháng gia hạn hợp đồng lần cuối cùng kết thúc vào 30/4/1983, nguyên đơn đã gia hạn hợp đồng trong một khoảng thời gian không hạn định, hợp đồng được gia hạn thêm hai tháng sau một thời điểm không xác định, tức là khi bị đơn nhận được bản hợp đồng phân phối quốc tế mới. Dù có quan điểm khác nhau về cách diễn đạt trên, các bên hoàn toàn chấp thuận rằng văn thư ngày 9/3/1983 là cơ sở của việc gia hạn hợp đồng. Tuy nhiên, các bên không thống nhất quan điểm về hiệu lực pháp lý của nội dung văn thư này liên quan đến việc cung cấp bản hợp đồng mới của nguyên đơn và thời gian trả lời hai tháng dành cho bị đơn.
UBTT không cho rằng với văn thư ngày 9/3/1983 nguyên đơn đã cam kết không chấm dứt hợp đồng hiện tại nếu không đưa trước bản hợp đồng phân phối quốc tế mới để bị đơn xem xét. Trước hết, quan hệ pháp lý giữa các bên ngày 9/3/1983 về cơ bản là trên cơ sở hợp đồng không thời hạn, mà theo Luật California các bên có quyền chấm dứt hợp đồng không thời hạn, miễn là hợp đồng đã thực hiện được một khoảng thời gian hợp lý.
Tuy nhiên, các bên cần biết rằng các điều kiện thực hiện của hợp đồng không thời hạn về cơ bản dễ bị thay đổi. Trong vụ này, bị đơn đã biết nguyên đơn rất cần đối tác ở Argentina. Ngoài ra, các điều khoản mới của hợp đồng phân phối hàng hoá mớitrong đó đặc biệt là các điều khoản liên quan đến các điều kiện thực hiện hợp đồng, thời hạn,… đã không được xác định rõ.Điều này cho thấy giữa các bên chưa hề đạt được một thoả thuận nào về các điều kiện này cũng như chưa hề bàn bạc cụ thể trước ngày 9/3/1983 hoặc vào bất kỳ thời điểm nào trước khi thông báo chấm dứt hợp đồng vào tháng 12.
Từ các căn cứ nêu trên, UBTT kết luận nguyên đơn không bị mất quyền chấm dứt hợp đồng. Nếu UBTT quyết định khác thì nguyên đơn, để giải quyết những khó khăn do có thay đổi hoàn cảnh trong quá trình thực hiện hợp đồng vô thời hạn, sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đưa vào bản hợp đồng mới những điều khoản mà bị đơn không thể chấp nhận được.
Tuy nhiên, đây chưa phải là kết luận cuối cùng của UBTT. UBTT thấy rằng tuyên bố rõ ràng của nguyên đơn trong văn thư ngày 9/3/1983 về bản hợp đồng mới cùng với một loạt tuyên bố rõ ràng hoặc ngụ ý của nguyên đơn trong năm 1982 và 1983 về quan hệ tương lai giữa nguyên đơn và bị đơn đã khiến bị đơn hi vọng về triển vọng một quan hệ lâu dài. Trong hoàn cảnh này, quyền tự do đơn phương chấm dứt quan hệ hợp đồng của nguyên đơn không còn ở mức độ tuyệt đối như trước khi các tuyên bố trên chưa được đưa ra. UBTT thấy việc nguyên đơn chấm dứt hợp đồng là quá bất ngờ. Nguyên nhân chủ yếu của việc chấm dứt hợp đồng từ phía nguyên đơn là những thay đổi trong chính sách kinh tế của đảng chính trị mới thắng cử ở Argentina ngày 30/10/1983. Nhưng rõ ràng là vào thời điểm tháng 11 hoặc 12/1983 các chính sách mới của đảng thắng cử chưa thể thành hiện thực và vì thế động cơ thúc ép nguyên đơn chấm dứt ngay hợp đồng.
Nguyên đơn lập luận rằng vào năm 1983, bị đơn đã đưa ra rất nhiều bằng chứng về sự bấp bênh trong quan hệ hiện tại và tương lai với nguyên đơn. Thực tế hồ sơ vụ kiện cũng phản ánh sự bấp bênh đó và cũng có nhiều lời khai của các nhân chứng của cả hai bên về điều này. Tuy nhiên hồ sơ vụ kiện cũng cho thấy trong suốt thời gian đó nguyên đơn vẫn khích lệ bằng văn bản và bằng lời với bị đơn về triển vọng tiếp tục hợp tác giữa hai bên. Như vậy, ở đây có cả những yếu tố khẳng định và phủ định việc bản thân bị đơn nhận thức được về khả năng nguyên đơn sẽ chấm dứt hợp đồng. UBTT nhận định rằng vào ngày 9/3/1983 và sau đó, các yếu tố phủ định có vẻ có ưu thế hơn do đó bác lập luận của nguyên đơn rằng trong trường hợp này không cần phải thông báo trước cho bị đơn về việc chấm dứt hợp đồng vì bị đơn đã biết rõ về khả năng này. Luật áp dụng để giải quyết vấn đề này là luật California. Mặc dù về nguyên tắc luật California không bắt buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ nêu tại các hợp đồng chưa được các bên chấp thuận chính thức, nhưng luật này cũng đồng thời qui định nghĩa vụ hành động của các bên phải một cách thiện chí cho dù hợp đồng chưa chính thức ký kết. Trong vụ này, nghĩa vụ thiện chí của nguyên đơn đối với bị đơn đòi hỏi Nguyên đơn phải thông báo chấm dứt hợp đồng trước một khoảng thời gian nhiều hơn là nguyên đơn đã làm trên thực tế.
Tóm lại, vì những lý do nói trên, UBTT cho rằng thông báo hai tháng trước khi chấm dứt hợp đồng là quá ngắn và vì vậy, hợp đồng đã bị chấm dứt đột ngột. Do đó, việc chấm dứt hợp đồng và các hợp đồng đã gia hạn của nguyên đơn là trái pháp luật.
4. Rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng:
Luật Thương mại California quy định trước khi kết thúc thời hạn thực hiện nghĩa vụ của bên muốn chấm dứt hợp đồng, bên muốn chấm dứt hợp đồng có thể rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng của mình, với điều kiện là bên kia không phản đối việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc không coi quyết định chấm dứt hợp đồng đó là quyết định cuối cùng. Các toà án California, trong một số vụ việc, đã cho rằng bên quyết định chấm dứt hợp đồng sẽ không bị coi là vi phạm hợp đồng nữa nếu sau đó bên này rút lại quyết định huỷ bỏ hợp đồng. Vì vậy, nguyên đơn lập luận là với bản telex ngày 11/1/1984, nguyên đơn không còn bị coi là đã vi phạm hợp đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng nữa.
Tuy nhiên, các toà án cũng nhấn mạnh là để rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng một cách rõ ràng, bên muốn rút lại quyết định phải thể hiện ý định rõ ràng. Bên đó phải khôi phục lại quan hệ pháp lý như trước khi nó bị vi phạm hợp đồng. Bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn thực tế không đề cập đến việc khôi phục hợp đồng phân phối; ngược lại, nó lại được chú thích là “Đàm phán để giải quyết quan hệ hiện tại giữa nguyên đơn và bị đơn”. UBTT nhận thấy bản telex này giống một lời đề nghị rút dần quan hệ hơn là để khôi phục lại quan hệ trước đó.
Như tuyên bố của Toà án tối cao California trong vụ Taylor, bên bị thiệt hại có thể lựa chọn nhiều cách giải quyết. Bên đó có thể coi việc chấm dứt hợp đồng là một sự vi phạm hợp đồng trước thời hạn và ngay lập tức đòi bồi thường cho sự vi phạm hợp đồng đó, … hoặc bên đó có thể coi yêu cầu chấm dứt hợp đồng đơn giản chỉ là một sự đe doạ không mấy giá trị… Theo ý kiến của UBTT, văn bản trả lời ngày 19/1/1984 của bị đơn không thể coi là bị đơn đã quyết định bỏ qua vi phạm này của nguyên đơn. Bị đơn chỉ bày tỏ rõ nguyện vọng muốn đến California để tìm ra một giải pháp bảo vệ các quyền lợi của mình.
Vì vậy, các trọng tài viên quyết định rằng bản telex ngày 11/1/1984 của nguyên đơn không được coi là sự sửa đổi hợp pháp vi phạm của nguyên đơn do đơn phương chấm dứt hợp đồng.
5. Chấm dứt quan hệ thương mại:
UBTT cho rằng trong bản telex ngày 29/3/1984 nguyên đơn chính thức đề nghị bị đơn gia hạn hợp đồng với các điều khoản và điều kiện tương tự như hợp đồng gốc thêm hai năm kể từ ngày bị đơn chấp thuận. Đây là một đề nghị hợp lý và có thiện ý để tiếp tục thực hiện hợp đồng theo bản hợp đồng gốc.
Bị đơn không tiếp tục chấp thuận các điều khoản của hợp đồng gốc vì thời hạn của hợp đồng được nguyên đơn đề nghị là hai năm và hơn nữa, trong đó có những điều khoản đã làm tổn hại quan hệ giữa hai bên. Tuy nhiên, sau khi nhận được lời đề nghị, lẽ ra bị đơn phải trình bày rõ tất cả các lý do phản đối các điều khoản đó, kể cả điều khoản về thời hạn hợp đồng vì như vậy sẽ buộc người đưa ra lời đề nghị phải xem xét sửa đổi đề nghị của mình. Nhưng bị đơn đã đương nhiên coi lời đề nghị đó là hoàn toàn không thể chấp nhận và không có thiện ý, và vì lý do này bị đơn đã bác lời đề nghị thông qua bản telex 2379 ngày 4/4/1984. Theo quan điểm của các trọng tài viên, sự bác bỏ như vậy không có đủ cơ sở.
Tuy nhiên, điều này cũng không giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị đơn từ phía nguyên đơn. UBTT đã quyết định rằng nguyên đơn đột ngột thông báo chấm dứt quan hệ hợp đồng cho bị đơn ngày 2/12 /1983. Vì vậy, bị đơn có quyền đòi bồi thường cho những tổn thất phát sinh mà bên đó có thể chứng minh được, nhưng chỉ xét những tổn thất phải gánh chịu cho đến khi bị đơn vô lý bác đề nghị gia hạn hợp đồng của nguyên đơn.
UBTT thấy rằng phù hợp với Bộ luật dân sự California việc trì hoãn thực hiện hợp đồng buộc một bên có thể phải bồi thường toàn bộ và đầy đủ các thiệt hại cho bên kia. Trong hợp đồng này, thời gian không phải là vấn đề cốt lõi đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy tắc Luật California về giảm thiểu thiệt hại. UBTT tin rằng sẽ không công bằng khi một bên từ chối cho bên kia cơ hội để sửa chữa sai lầm.
Các trọng tài viên không quyết định làm thế nào để đánh giá hoặc giảm thiểu thiệt hại gây ra bởi sự chấm dứt hợp đồng sai trái. Điều đó sẽ được giải quyết trong phán quyết cuối cùng khi UBTT dựa trên tất cả những chứng cứ để ra quyết định về vấn đề thứ năm và điểm thứ sáu trong số các vấn đề cần quyết định.
6. Ký kết hợp đồng với các đối thủ cạnh tranh (tiềm tàng):
UBTT đã tuyên bố Luật California thừa nhận một nghĩa vụ ngầm định về thiện chí và công bằng khi giao kết hợp đồng và không làm tổn hại đến quyền lợi của bên kia nhằm đạt được lợi ích từ hợp đồng.Từ các tài liệu và chứng cứ do các bên trình bày, các trọng tài viên nhận thấy nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành giao dịch và đàm phán không chính thức với các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của bên kia. Không bên nào đã cư xử thiện chí khi thực hiện các cuộc đàm phán và giao dịch đó.
Có thể thấy cả hai bên đều vi phạm nghĩa vụ về thiện chí. Nhưng UBTT không có ý định xem xét sự công bằng giữa các bên trong những giao dịch đó bởi vì không bên nào có chứng cứ thuyết phục UBTT rằng việc làm sai trái của bên kia nghiêm trọng đến mức phải bồi thường.
Các trọng tài viên đã quyết định như sau:
Thông báo chấm dứt hợp đồng của nguyên đơn quá bất ngờ và vì thế bị coi là chấm dứt hợp đồng bất hợp pháp.
Bản telex ngày 11/1/1982 của nguyên đơn không có giá trị rút lại việc chấm dứt hợp đồng bất hợp pháp nói trên.
Đề nghị ngày 24/3/1984 của nguyên đơn cùng với bản telex ngày 4/4/1984 của bị đơn, chấm dứt quan hệ thương mại giữa hai bên, nhưng không làm cho nguyên đơn thoát khỏi trách nhiệm phải bồi thường cho bị đơn các thiệt hại và tổn thất phát sinh.
Không có đủ chứng cứ chứng minh các bên ký kết hợp đồng với đối thủ cạnh tranh (tiềm tàng) của bên kia.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code