Showing posts with label Hoc Kỳ I Lý luận về nhà nước. Show all posts
Showing posts with label Hoc Kỳ I Lý luận về nhà nước. Show all posts

Sunday, August 18, 2013

Trình bày hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống ở Mỹ. Nêu rõ tính chất phân quyền

Trình bày hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống ở Mỹ. Nêu rõ tính chất phân quyền và chế ước trong mô hình Bộ máy tổ chức nhà nước ở Mỹ
ĐẶT VẤN ĐỀ

- Nguyên nhân nào dẫn đến sự ra đời của nước Mỹ?

- Thượng nghị viện và Hạ nghị viện có vai trò như thế nào trong việc thực hiện quyền lập pháp?

- Tổng thống Mỹ có vai trò như thế nào trong bộ máy nhà nước mà chính thể ở Mỹ còn được gọi là chế độ “Tổng thống chế”?

- Luật pháp Mỹ vừa tồn tại luật liên bang và luật tiểu bang. Như vậy, khi xét xử tòa án sẽ vận dụng luật như thế nào trong quá trình xử án?

Hình thức chính thể là 01 trong 03 yếu tố của hình thức nhà nước.

---

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 7 - 3A - MÔN HỌC LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC

GVHD: Cô giáo Vũ Thị Bích Hường
1. Khái quát về sự ra đời của nước Mỹ

1.1. Nước Mỹ thời trước thuộc địa

- Nằm tại khu vực Bắc Mỹ với cư dân đầu tiên là người da đỏ bản xứ và về sau có thêm người nhập cư từ các nước khác như Na Uy, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, …

- Bắt đầu từ năm 1600 là làn sóng nhập cư ồ ạt từ Châu Âu để tìm kiếm cơ hội tự do hành đạo, tránh khó khăn kinh tế cũng như sự cai trị chuyên quyền đang diễn ra ở chính quốc, … dưới thời Vua Charles Đệ nhất.

- Thuộc địa đầu tiên của nước Anh được thiết lập ở Bắc Mỹ là Jamestown (1607).

1.2. Nước Mỹ thời thuộc địa

- Năm 1618, những cư dân tự do trong các đồn điền được quyền bầu ra những người đại diện để cùng với viên thống sứ và hội đồng được bổ nhiệm thông qua các sắc lệnh vì lợi ích của thuộc địa. Điều này đã có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong toàn bộ thời kỳ thuộc địa. Kể từ đó, người ta đã nhất trí rằng những người đi khai hoang có quyền tham gia vào vào chính quyền của riêng họ. Trong mọi trường hợp, sau này khi ban chiếu, Vua Anh đều quy định người dân tự do của xứ thuộc địa có quyền có tiếng nói trong việc ban hành những đạo luật ảnh hưởng đến họ.

- Năm 1643, Vịnh Massachusetts, Plymouth, Connecticut và New Heaven đã thành lập Liên minh New England. Đó là nỗ lực đầu tiên của những người châu Âu đi khai hoang nhằm thống nhất địa giới. Trong nhiều năm ở vùng New England, thậm chí đã có một chính phủ tự trị hoàn thiện hơn so với ở các thuộc địa khác.

- Năm 1660, do nhu cầu về lao động trong các đồn điền ở thuộc địa miền Nam ngày càng gia tăng nên nhiều người Châu Phi bị đưa sang Mỹ làm cho chế độ nô lệ bắt đầu trở nên hà khắc.

- Tuyên ngôn về Quyền và Đạo luật Khoan dung của người Anh ban hành năm 1689 đã khẳng định quyền tự do thờ phụng của tín đồ Cơ- đốc giáo ở các thuộc địa cũng như ở Anh, và có những quy định hạn chế quyền lực của hoàng gia. Đến đầu thế kỷ XVIII gần như tất cả mọi thuộc địa đều nằm dưới quyền tài phán trực tiếp của Hoàng gia Anh.

- Năm 1732, thuộc địa Georgia được thành lập nâng tổng số thuộc địa lên 13. Bao gồm: Georgia , Bắc-Carolina, Nam-Carolina, Maryland, Virginia, Pennsylvania, Delaware, New-Jersey, New-Hampshire, Vịnh Massachusetts, Rhode Island & Providence, Connecticut, New York.

- Đến năm 1754, Pháp đã kiểm soát sông Mississippi và xây dựng một đế chế hùng mạnh hình lưỡi liềm trải dài từ Quebec tới New Orleans nhờ việc xây dựng hệ thống các cảng biển và thương điếm. Điều này đe dọa đế chế Anh và cả những người đi khai hoang ở Mỹ bởi lẽ khi đã chiếm được thung lũng Mississippi, Pháp có thể ngăn chặn việc mở rộng cương vực của họ sang phía Tây. Vì vậy, đã xảy ra xung đội giữa người Pháp và thổ dân da đỏ với thất bại thuộc về nước Pháp. Thông qua Hòa ước Paris ký kết năm 1763, nước Pháp đã bỏ tất cả vùng đất Canada, Hồ Lớn và lãnh thổ phía Đông sông Mississippi cho người Anh. Nhờ đó, diện tích nước Anh đã tăng lên gấp đôi.

- Suốt thế kỷ XVIII, tất cả các thuộc địa ở Bắc Mỹ của Anh đang trưởng thành tất yếu đều xây dựng một bản sắc riêng. Họ đã lớn mạnh cả về kinh tế và văn hóa. Gần như tất cả đều trải qua nhiều năm được hưởng chế độ tự trị. Tuy nhiên, mãi đến tận năm 1763, Anh và Mỹ mới thực sự bắt đầu công khai chia tách sau hơn một thế kỷ rưỡi xây dựng khu định cư lâu dài đầu tiên ở Jamestown, bang Virginia.

1.3. Chặng đường giành độc lập

- Bắt nguồn từ căng thẳng giữa nước Anh và 13 thuộc địa về việc cấm các thuộc địa mở rộng biên giới về phía Tây thông qua việc tuyên bố chuyển tất cả lãnh thổ phía tây nằm giữa dãy Allegheny, bang Florida, sông Mississippy và Quebec cho thổ dân da đỏ sử dụng, ban hành các sắc thuế hà khắc như Đạo luật Đường 1764, Đạo luật Tiền tệ , Đạo luật Đường, Đạo luật Hậu cần 1765, Đạo luật Townshend, … đã dẫn đến sự kiện người dân thuộc địa đổ chè trên tàu Anh xuống cảng Boston ngày 16/12/1773. Và để đáp trả cho hành động này, nước Anh đã cho ban hành các đạo luật mới như Đạo luật cảng Boston, Đạo luật Hậu cần, Đạo luật Quebec, … (thường gọi là “Năm đạo luật không thể dung thứ”)

- 5/9/1774 , tại đại hội các thuộc địa tại Philadelphia thành lập “Liên hiệp Lục địa” nhằm khôi phục các biện pháp tẩy chay thương mại và hướng dư luận thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng và đã nổ ra xung đột vũ trang giữa lính Anh và du kích quân thuộc địa.

- Đại hội Lục địa lần thứ hai đã khai mạc ở Philadelphia, bang Pennsylvania, ngày 10/5/1775. Đại hội đã bỏ phiếu quyết định tham chiến, tuyển mộ du kích quân thuộc địa vào lực lượng quân đội lục địa nhưng vẫn có một số đại biểu vẫn phản đối ý tưởng ly khai hoàn hoàn khỏi nước Anh. Vào tháng 07/1775, Đại hội thông qua Lời thỉnh cầu Cành Ôliu, cầu xin nhà vua George Đệ Tam ngăn chặn mọi hành động thù địch leo thang cho đến khi đạt được một thỏa thuận nào đó nhưng đã bị nhà vua bác bỏ. Ngày 23/8/1775, Vua George Đệ Tam tuyên bố các thuộc địa đang gây ra tình trạng nổi loạn.

- Điều này đã dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang giữa quân Anh và quân đội cách mạng. Ngay tại Đại hội Lục địa lần thứ hai, Richard Henry Lee tuyên bố rằng những thuộc địa hợp nhất này được, và có quyền phải được trở thành những quốc gia tự do và độc lập... và lập 01 ủy ban có nhiệm vụ soạn thảo tuyên ngôn chính thức.

- Ngày 04/07/1776, Tuyên ngôn độc lập được thông qua với nội dung đã khẳng định :

“ …mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc…”

“…các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới…”

- (Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ)

- Năm 1776, John Dickinson đã soạn thảo Những điều khoản của Liên bang và Liên minh vĩnh cửu. Đại hội Lục địa đã thông qua các điều khoản này vào tháng 11/1777 đã quy định thành lập một liên minh nhưng rất lỏng lẻo.

- 6/2/1778, Mỹ và Pháp đã ký Hiệp ước Thân thiện và Thương mại và Mỹ nhận được sự trợ giúp khí tài cho Mỹ để chiến đấu chống lại nước Anh. Ngoài ra, Tây Ban Nha, Hà Lan cũng tham chiến và trải qua những chiến thắng cũng như thất bại, chính phủ mới ở Anh đã quyết định hòa đàm ở Paris.

- Ngày 15/4/1783, Đại hội Lục địa đã thông qua hiệp ước cuối cùng. Hòa ước Paris được ký ngày 3/9/1783 đã thừa nhận nền độc lập, tự do và chủ quyền của 13 thuộc địa cũ, nay là các tiểu bang và Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ ra đời. Đây là nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới.

- Năm 1787, Đại hội Lục địa đã thông qua một nghị quyết kêu gọi các thuộc địa thành lập các chính phủ mới đảm bảo tốt nhất việc mưu cầu hạnh phúc và an toàn cho tất cả mọi cử tri.

- 17/9/1787, bản Hiến pháp chính thức đã được 39/42 đại biểu tham dự ký kết. Đây là bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại và tồn tại hơn 200 năm với mục đích của Hiến pháp được nêu rõ trong lời nói đầu :

“1- Xây dựng một liên bang hoàn hảo hơn; 2- Thiết lập công lý; 3- Tạo dựng phòng thủ chung để chống ngoại xâm; 4- Thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối; 5- Giữ vững nền tự do”

- Hiến pháp Hoa Kỳ

- 30/04/1789, George Washington đã được bầu là Tổng thống đầu tiên của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

- 12/1791, thông qua Tuyên ngôn nhân quyền chính là 10 Tu chánh án đầu tiên của Hiến pháp.

- Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn mở rộng lãnh thổ, xây dựng hiến pháp tiểu bang, củng cố chính quyền, xung đột địa phương …

1.4 Giai đoạn chia rẽ, nội chiến và thống nhất

- Thỏa hiệp năm 1850 với những điều khoản như việc mua và bán nô lệ bị bãi bỏ ở quận Columbia, Đạo luật Nô lệ bỏ trốn, …Vấn đề về nô lệ đã gây chia rẽ trong lòng nước Mỹ giữa một bên là các bang miền Nam ủng hộ chế độ nô lệ và một bên là các bang miền Bắc chống chế độ nô lệ và quyết tâm bãi bỏ chế độ này.

- Sự kiện Abraham Lincoln, một người coi chế độ nô lệ là một tội ác, thắng cử tổng thống tháng 11/1860, đã dẫn đến sự ly khai của 11 bang miền Nam như Nam Carolina, Virginia, Arkansas,…

- Ngày 4/3/1861, Abraham Lincoln đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ. Trong diễn văn nhậm chức ông tuyên bố sự ly khai không có hiệu lực về mặt pháp luật và kêu gọi phục hồi những mối liên kết của liên bang. Để đáp lại, ngày 12/4/1861, súng phe ly khai đã nổ nhằm vào các binh đội liên bang đồn trú ở Đồn Sumter tại hải cảng Charleston, bang Nam Carolina. Cuộc nội chiến bắt đầu.

- Bất chấp sự ly khai để phản đối của các bang miền Nam, ngày 1/1/1863, Tuyên bố Giải phóng Nô lệ cuối cùng đã được ban hành.

- Trải qua 4 năm, ngày 9/4/1865, với sự đầu hàng của Tướng Robert E. Lee, cuộc nội chiến gây hao tổn nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ đã chấm dứt. Chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ hoàn toàn trong thực tiễn.

2. Biểu hiện của tư tưởng phân quyền trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước qua Nghị viện, Chính phủ, Tòa án

2.1 Các khái niệm

v Hình thức chính thể: là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ trong các cơ quan đó với nhau.

v Chính thể cộng hòa: là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan hoặc một số cơ quan nhà nước được thành lập bằng cách bầu cử và nắm giữ quyền lực trong một thời gian nhất định gọi là nhiệm kì.

v Cộng hòa Tổng thống: là mô hình ở đó việc tổ chức quyền lực nhà nước được áp dụng một cách tuyệt đối nguyên tắc phân chia quyền lực của học thuyết “Tam quyền phân lập”.

2.2 Tư tưởng phân quyền ở Mỹ

Người đặt nền móng đầu tiên cho tư tưởng phân quyền là Aristote (384 – 322 TCN). Khi bàn vể tổ chức bộ máy nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước, ông phân thành ba bộ phận: lập pháp (hội nghị nhân dân), hành pháp (các viên chức/ các pháp quan) và tư pháp (cơ quan tòa án). Ông cũng đề cập đến mối quan hệ giữa các bộ phận này nhưng chỉ mới ở mức độ khái quát.

Người hoàn thiện học thuyết “Tam quyền phân lập” là Montesquieu (1689 – 1755). Montesquieu cho rằng: khuynh hướng chung của người cầm quyền là lạm dụng quyền lực, vì vậy các quyền lực Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp phải trao cho ba chủ thể khác nhau thực hiện, kiềm chế lẫn nhau, để bảo vệ tự do cho mọi người, tránh tập trung ba quyền vào một chủ thể duy nhất dẫn đến độc tài chuyên chế.

Hệ thống chính trị Mỹ được hình thành và phát triển dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của học thuyết “Tam quyền phân lập”.

Tư tưởng phân quyền được thể hiện trước hết bằng Hiến pháp Mỹ. Hiến pháp Mỹ có năm nguyên tắc chính, đó là: phân chia quyền lực, kiềm chế và đối trọng, chế độ liên bang, chính phủ hạn chế và xét duyệt tư pháp.

Nguyên tắc phân chia quyền lực là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của Hiến pháp Mỹ. Nguyên tắc này qui định rằng: quyền lực nhà nước cần được phân chia và được đặt vào các hợp phần khác nhau của Chính phủ. Theo đó, bộ máy nhà nước chia làm ba nhánh: nhánh lập pháp có nhiệm vụ thông qua các đạo luật được trao cho Nghị viện, nhánh hành pháp có nhiệm vụ thi hành luật được trao cho Tổng thống và nhánh tư pháp có nhiệm vụ giải thích luật được trao cho Tòa án tối cao.

Mục đích của việc phân chia quyền lực là dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn bất cứ một cơ quan nào nắm giữ độc quyền.

2.3 Thẩm quyền của từng nhánh quyền lực

2.3.1 Nhánh quyền lực lập pháp

Quyền lực của nhánh lập pháp được trao cho Nghị viện (Quốc hội). Theo chế độ lưỡng viện, Nghị viện gồm có Viện dân biểu (Hạ viện) và Thượng viện.

Hiến pháp Mỹ trao cho Nghị viện quyền hành rất lớn, đó là quyền lập pháp, quyền sửa đổi Hiến pháp và pháp luật.

Nghị viện có quyền ban hành luật để điều tiết thương mại và tài chính, được phép trao hay bác bỏ quyền tối huệ quốc cho các nước có quan hệ buôn bán với Mỹ. Ngoài các luật trực tiếp điều tiết quan hệ đối ngoại, Nghị viện còn có quyền phê chuẩn hoặc sửa đổi các hiệp định thương mại đã được Chính phủ đàm phán, kí kết.

Ngoài quyền lập pháp, Nghị viện còn có nhiều quyền khác. Những quyền này có khả năng ảnh hưởng đến quá trình làm luật mới, trong đó có hai quyền quan trọng là: quyền giám sát hoạt động của Chính phủ và quyền điều tra.

Nghị viện cũng có quyền thành lập một số cơ quan và giao cho các cơ quan này những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể.

Bên cạnh đó, Nghị viện cũng có quyền tư pháp nhất định. Hạ viện có thể luận tội các quan chức liên bang thông qua một tỉ lệ phiếu quá bán. Sau đó, Thượng viện tổ chức một phiên tòa để buộc tội. Nếu 2/3 phiếu của Thượng viện đồng ý buộc tội các quan chức này, họ sẽ bị buộc phải từ chức.

2.3.2 Nhánh quyền lực hành pháp

Quyền lực của nhánh hành pháp được trao cho Tổng thống và Chính phủ.

2.3.2.1 Tổng thống

Tổng thống là nhân vật quan trọng nhất trên bàn cờ chính trị nước Mỹ.

Theo Hiến pháp: Tổng thống Mỹ phải là người ít nhất 35 tuổi, phải là công dân Mỹ trong 14 năm và được sinh ra ở Mỹ. Nhiệm kỳ của Tổng thống được cố định là 4 năm và mỗi Tổng thống chỉ có thể giữ cương vị tối đa 2 nhiệm kỳ.

Tổng thống được bầu thông qua lá phiếu của đại cử tri. Mỗi bang có số đại cử tri bằng số Thượng nghị sĩ và hạ Nghị sĩ của bang đó cộng lại.

Tổng thống là nguyên thủ quốc qia và là người đứng đầu nhánh hành pháp

Trên thực tế, Tổng thống là cá nhân nắm giữ những quyền lực lớn nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị Mỹ. Có thể nói, người dân thường xem Tổng thống là biểu tượng của đất nước.

Là người đứng đầu nhánh hành pháp, Tổng thống có toàn quyền trong việc thi hành các chính sách, luật lệ được Nghị viện thông qua trên phạm vi toàn quốc. Tổng thống có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan chức cao cấp của nhánh hành pháp và lãnh đạo hoạt động hành pháp.

Tổng thống có quyền ban hành nhiều loại văn bản khác nhau để lãnh đạo các cơ quan thuộc nhánh hành pháp như các lệnh thừa hành, các quy tắc, quy chế… các loại văn bản này ngày càng trở nên thông dụng và chiếm ưu thế hơn so với các đạo luật do Nghị viện thông qua.

Tổng thống cũng là nhà ngoại giao hàng đầu. Tổng thống có quyền thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ngoài, bổ nhiệm đại sứ, kí kết các hiệp ước với sự chấp thuận của 2/3 số thành viên Thượng viện. Trên thực tế, Tổng thống là người hoạch định đồng thời là người thực thi chủ yếu chính sách đối ngoại của Mỹ.

Tổng thống Mỹ đồng thời là tổng tư lệnh quân đội. Mặc dù Hiến pháp trao cho Nghị viện quyền tuyên bố chiến tranh nhưng Nghị viện chưa từng thực hiện quyền này kể từ năm 1941 khi Mỹ bước vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2.

Tổng thống cũng là một nhà lập pháp quan trọng, thể hiện qua 3 quyền:

· Quyền đưa ra sáng kiến lập pháp thông qua hình thức Tổng thống gửi thông điệp cho Nghị viện;

· Quyền đưa ra dự luật ngân sách;

· Quyền phủ quyết.

2.3.2.2 Chính phủ

Chính phủ liên bang Mỹ ngoài Tổng thống còn có nhiều bộ phận khác như văn phòng điều hành của Tổng thống và Nội các, các bộ, các ủy ban điều hành độc lập, các trung tâm…

Nhìn chung, bộ máy quan chức trong nhánh hành pháp củng cố thêm quyền lực của Tổng thống.

2.3.3 Nhánh quyền lực tư pháp

Theo Russau: quyền tư pháp là trung gian giữa Chính phủ và nhân dân, giữa lập pháp và hành pháp. Cơ quan tư pháp “đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữu Chính phủ với nhân dân, giữu Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc cả ba vế ấy khi cần” (Bàn về khế ước xã hội).

Trong ba bộ phận của nhà nước liên bang, nhánh tư pháp có lẽ được trao ít quyền lực nhất. Nhánh tư pháp có các nhiệm vụ chủ yếu: bảo vệ Hiến pháp và pháp luật thông qua hoạt động xét xử mọi hành vi vi phạm; giải thích Hiến pháp và pháp luật phục vụ cho quản lý xã hội, kiềm chế các thiết chế khác trong hệ thống chính trị.

Quyền lực của tòa án được biểu hiện cụ thể như sau:

Thẩm quyền xét xử: ngành tư pháp có thẩm quyền xét xử các vụ án liên quan đến những quy định của Hiến pháp, đến các nhân tố nước ngoài và các hiệp định của Mỹ, các tranh chấp giữa các bang.

Trong một số trường hợp, tòa án liên bang phải đồng thời chia sẻ quyền lực với tòa án các bang.

Quyền định hướng xét xử:thẩm quyền này phái sinh từ thẩm quyền xét xử.

Trong quá trình xét xử, Tòa án phải căn cứ theo pháp luật, nhưng các quy định của luật đôi khi chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung nên Tòa án phải giải thích các quy định đó. Nhiệm vụ này làm cho Tòa án có vai trò như người vạch ra định hướng cho việc xét xử.

Thẩm quyền kiềm chế và đối trọng: đối với 2 nhánh lập pháp và hành pháp. Thẩm quyền này sẽ được làm rõ hơn trong phần 3 của tiểu luận.

2.4 Tiểu kết

Với cách thức tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “Tam quyền phân lập” triệt để, một cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các cơ quan của nhà nước đã được hình thành. Cơ chế này không cho phép quá nhiều quyền lực tập trung trong tay một cá nhân hay một cơ quan nào. Ba cơ quan Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp luôn ở thế cân bằng.

Biện pháp dùng quyền lực để hạn chế quyền lực đã tạo ra một cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu ngay trong bản thân bộ máy nhà nước. Điều này đã làm hạn chế một cách đáng kể khả năng lạm dụng quyền lực của các cơ quan công quyền.

Các thức tổ chức bộ máy nhà nước Mỹ được nhiều người đánh giá là hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của xã hội trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

3. Những biểu hiện cụ thể về sự đối trọng giữa 3 cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp

Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp là ba nhánh quyền lực cùng nhau quản lý đất nước của bộ máy nhà nước Mỹ. Nó có quan hệ độc lập với nhau, nhưng đồng thời cũng có những mối liên hệ với nhau, kiểm soát lẫn nhau, nhằm không để cho cơ quan nào lạm quyền cũng như cùng nhau làm cho bộ máy quản lý nhà nước trở nên thống nhất và chặt chẽ hơn. Điều này người ta thường nói, đó là dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực, hay là sự đối trọng giữa các cơ quan nói trên.

Thứ nhất, đó là mối quan hệ giữa lập pháp với hành pháp và ngược lại.

Quốc hội là cơ quan đưa ra các dự luật, Tổng thống sẽ ký để các dự luật trở thành luật.

Đối với các quan chức do Tổng thống bổ nhiệm, Nghị viện phê chuẩn chấp thuận.

Tuy nhiên, bên cạnh mối quan hệ này, cơ quan hành pháp còn can thiệp sâu hơn vào hoạt động của cơ quan lập pháp. Tổng thống là người vạch ra các chương trình chính trị cho Quốc gia, đưa ra các sang kiến về lập pháp, đưa ra các dự luật, chính sách mà Tổng thống mong muốn. Các quan điểm mà Nhà Trắng đưa ra phải được Quốc hội lắng nghe, bởi vì Hiến pháp cho phép Tổng thống có quyền phủ quyết các dự luật. Để bãi bỏ phủ quyết của Tổng thống, Quốc hội phải có 2/3 số phiếu tán thành ở cả hai viện.

Ngược lại, cơ quan lập pháp có trách nhiệm giám sát và tác động các mặt điều hành của Chính phủ như phê chuẩn ngân sách quốc gia, chất vấn các quan chức chính phủ về những hành động và quyết định của họ nhằm các mục tiêu như chống lãng phí, các hành vi dối trá, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của các thành viên thuộc nhánh hành pháp.

Cơ quan lập pháp có quyền tuyên bố tình trạng chiến tranh nhưng Tổng thống lại là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Đây là nguyên nhân gây căng thẳng giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Mỹ những năm 60 trong chiến tranh Việt Nam cũng như trong cuộc xung đột vùng Vịnh năm 1990 – 1991.

Tổng thống cũng có thể bị luận tội bởi đa số dân biểu ở Quốc hội và bị cách chức bãi nhiệm bởi 2/3 đa số tại thượng viện vì những tội như tham nhũng, phản quốc.

Thứ hai là mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp.

Tổng thống là người chỉ định chánh án tòa án tối cao và các thành viên.

Nếu Tổng thống phạm vào trọng tội và đem ra xét xử thì chánh án tòa án tối cao sẽ làm chủ tọa phiên tòa. Đồng thời cơ quan tư pháp xét xử mọi trường hợp nảy sinh theo quy định của pháp luật và hiến pháp Liên bang.

Cơ quan tư pháp còn có các hình thức kiểm soát cơ bản khả năng Chính phủ lạm dụng quyền lực, bằng cách tuyên bố các hoạt động hành pháp ở mọi cấp chính quyền, xem xét các bộ luật cũng như vô hiệu hóa các luật lệ đó.

Thứ ba, là mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp.

Tổng thống có quyền chỉ định các thành viên của thẩm phán, chánh án tòa án tối cao, nhưng Quốc hội có quyền phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Các thành viên của cơ quan tư pháp do tổng thống đề cử và được Thượng viện thông qua và cũng có thể bị phế truất.

Ngược lại, Tòa án tối cao có quyền giải thích hiến pháp và tuyên bố các hoạt động lập pháp và hành pháp ở mọi cấp chính quyền gọi là vi hiến. Tòa án có quyền xem xét lại các bộ luật và tuyên bố các bộ luật đó vi phạm hiến pháp, vô hiệu hóa các luật lê đó và tạo tiền lệ cho luật pháp và các phán quyết sau này.

Chánh án tòa án tối cao có nhiệm kỳ suốt đời nhằm bảo vệ quyền lực của chánh án, đồng thời bảo vệ ý chí của chánh án.

Quốc hội không có quyền cắt giảm lương của các thẩm phán đương nhiệm nhưng có thể làm luật để ấn định mức lương thấp hơn cho các thẩm phán tương lai.

GIÁ TRỊ CỦA TƯ DUY SỬ HỌC

Sinh viên Việt Nam và thực tập sinh quốc tế
gặp gỡ và nghe TS Sử học Nguyễn Hồng Kiên
nói chuyện tại khu khai quật di tích Hoàng Thành
Thăng Long ngày 20/7/2013 (Ảnh Vietnam 3D Project)

TS. Trần Trọng Dương
Nguồn: Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 12/8/2013,
truy cập đường link gốc tại đây
    
Sử học là một trong những phân môn của khoa học xã hội và nhân văn đem lại những LỢI ÍCH VỀ TƯ DUY, nhưng trong nhiều thập kỷ qua môn sử học không được đưa vào trong nhà trường, thay vào đó là một biến tướng sai lạc của nó: môn lịch sử. 
Sử học là gì? Có thể nói một cách ngắn gọn, sử học là khoa học về lịch sử, hay cao hơn là khoa học về nhận thức lịch sử. Lịch sử là toàn bộ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng không ai dám chắc chắn và khẳng định rằng mình có thể nhận thức được đúng đắn toàn bộ về nó. Cái lịch sử mà chúng ta biết đến chỉ là những kết quả sau những chuỗi dài của hoạt động nhận thức, trong đó không tránh khỏi có sự chủ quan, phiến diện, nếu không muốn nói có khi là sai lầm. Sai lầm trong nhận thức lịch sử được tạo nên bởi nhiều nguyên nhân. Có thể là sai lầm khi ta chỉ có một số dữ liệu giả tạo, hoặc trầm trọng hơn, là sai lầm về mặt phương pháp luận và mục đích luận. Sai lầm về phương pháp luận là sai lầm về mặt tư duy, còn sai lầm do mục đích luận là sai lầm về đạo đức khoa học. Để tránh sai lầm trong nhận thức lịch sử, người làm sử học tuyệt đối không được mang trong mình một một đích nào khác ngoài mục đích thuần túy duy nhất là NHẬN THỨC LỊCH SỬ. Khi biện hộ rằng vì có lợi cho mục đích dân sinh, có lợi cho mục đích chính trị mà ta phải chứng minh một dữ kiện lịch sử nào đó, thì việc chứng minh ấy đã tiềm ẩn sẵn nguy cơ bị thiên lệch, không đúng với thực tế.

Sử học là một khoa học xử lý các nguồn sử liệu để đưa ra nhận thức trung thực về lịch sử, nằm ngoài những định kiến tô hồng hay bôi xấu, nằm ngoài những mục đích có trước, và nằm ngoài những nhiệm vụ chính trị. Người làm sử học phải là người thao tác tư duy trên cơ sở giám định và giải độc sử liệu. Vì thế, lịch sử - với tư cách là cái được tái hiện bởi nhà sử học- không phải là một cái gì bất biến, cố định, vĩnh hằng, mà chỉ là những sử thực tương đối. Ở thời điểm nhất định, với những tư liệu nhất định, chúng ta chỉ có thể nhận thức lịch sử ở mức độ nhất định. Nhưng nếu như có những phát hiện mới về sử liệu, và những sử liệu ấy được xử lý bằng phương pháp mới, góc nhìn mới, thì chúng ta sẽ có nhận thức mới.

Nhận thức là một quá trình tiệm cận đến lịch sử. Và sử học thực chất là một trò chơi trí tuệ để tăng trưởng tư duy về lịch sử (cái đã qua) và quan trọng hơn cả là để tăng trưởng sự tự tư duy về cuộc sống hiện tại với tư cách mỗi cá nhân là tác nhân hay nạn nhân của lịch sử. Như thế lịch sử như là một trang sách để ngỏ, mà nhà sử học là người tái dựng nó từ những gì còn sót lại. Cho nên, một triết gia Phương Tây đã từng thốt lên rằng: sử học là cuộc chơi của những người đang sống đối với những người đã chết!

Khác với các môn khoa học tự nhiên như toán học, sinh học,…, thì sử học với tư cách là bộ môn khoa học về lịch sử đã không được đưa vào trong nhà trường trong nhiều thập kỷ qua, thay vào đó là môn lịch sử. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là bởi chúng ta đã không coi lịch sử như là sản phẩm của quá trình tư duy, nhận thức về lịch sử. Những kiến thức lịch sử trong nhà trường được giảng dạy với tư cách nó là những chân lý tuyệt đối, những sự thực bất di bất dịch, bất khả xâm phạm. Và “môn lịch sử” không hề chỉ dẫn cho học sinh biết phải làm như thế nào để tự nhận thức về lịch sử, cũng như nhận thức về cuộc sống hiện tại, mà nó biến học sinh thành những cỗ máy học thuộc lòng với những sự kiện cụ thể, những mốc thời gian của lịch sử chính trị được hoạch định và được cố định bởi các nhà giáo dục.

Mặt khác, các sách giáo khoa được giảng dạy trong hệ thống nhà trường hiện nay chủ yếu là viết về lịch sử chính trị- kinh tế. Điều này đã dẫn đến nhiều bất cập. Nó khiến cho học sinh hiểu phiến diện về mục đích và đối tượng của sử học, đồng nhất lịch sử với lịch sử chính trị, lịch sử chiến tranh. Các kiến thức được nêu trong sách giáo khoa được giảng dạy và được mặc nhận như là những chân lý, những sự thực bất di bất dịch, không thể sửa đổi. Từ đó dẫn đến hệ quả quan trọng thứ ba, là cách giảng dạy lịch sử một chiều, khô khan, áp đặt. Nó biến lịch sử trở thành một môn học thuộc lòng các sự kiện lịch sử, khiến tư duy của học sinh bị xơ cứng, và quan trọng nhất là không có nhận thức bản thân và tư duy của bản thân, cũng như quan điểm của bản thân các em về lịch sử.

Trước tình hình trên, cần biên soạn lại hệ thống sách giáo khoa lịch sử theo một phương thức mới, để giúp học sinh cũng như xã hội hiểu thêm về khoa học lịch sử và quan trọng nhất là tư duy lịch sử. Trong đó, mỗi một bài học phải trình bày đủ cơ cấu lịch sử- văn hóa. Trong đó, chính trị (triều đại, thể chế, kinh thế, thành phần xã hội,…) chỉ là một nửa, chiếm dưới 50% dung lượng bài giảng. Còn lại trên 50% là lịch sử văn hóa (về cách lĩnh vực sâu hơn như: lịch sử ngôn ngữ- văn học, lịch sử nghệ thuật, lịch sử tôn giáo, lịch sử khoa học, lịch sử văn minh vật chất…). Sách phải đảm bảo tính đa dạng lịch sử và tính đa dạng văn hóa theo tiêu chí tộc người. Lịch sử không chỉ là lịch sử của người Việt, mà còn là lịch sử của 53 dân tộc anh em khác. Các nhận định và tri thức lịch sử đều phải dựa trên sử liệu gốc. Các tri thức về lịch sử văn hóa luôn phải đặt HIỆN VẬT KHẢO CỔ lên hàng đầu. Quan trọng nhất, lịch sử cần được trình bày như là những tri thức còn bỏ ngỏ, chưa được giải mã, cần được tìm hiểu, để kích thích tư duy phán đoán, và óc suy luận của học sinh.

Tất cả những thay đổi trên sẽ góp phần đưa môn sử học vào nhà trường, biến sử học trở thành một môn học sống động, rèn luyện về sự độc lập trong tư duy. Bởi tư duy độc lập sẽ là xung lực để tạo nên sự phát triển xã hội!

Một ví dụ về nhận thức sử học dưới tác động của mục đích chính trị là nhận thức về phong trào Tây Sơn. Với chủ ý muốn đề cao nhân dân, sức mạnh của nhân dân, chúng ta đã chứng minh rằng quân Tây Sơn với những chiến công lẫy lừng của họ là một biểu hiện sống động cho cuộc chiến tranh nhân dân, và đại diện tiêu biểu của phong trào đó là người “anh hùng áo vải cờ đào”- Quang Trung Nguyễn Huệ. Ngay hình ảnh “áo vải cờ đào” cũng đã được sử dụng như một thủ pháp ở đây? Đoạn trên vốn được trích từ bài “Ai tư vãn” tương truyền của công chúa Lê Ngọc Hân dùng để khóc chồng: “mà nay áo vải cờ đào, giúp dân dựng nước xiết bao công trình”. Những lời ai điếu theo kiểu “cái quan định luận” như vậy hẳn không phải là không có cơ sở, nhưng các chữ “áo vải” đã được đời sau đặt thành phương trình “áo vải = nông dân” thì cần phải xem xét lại khi so sánh với những sử liệu hữu quan. Mặt khác, việc Quang Trung ra Bắc với mục đích “phò Lê diệt Trịnh” cũng cần giải mã rằng đây là một thao tác chính trị. Chúng ta sẽ hiểu điều này hơn khi đọc nhiều văn bản địa phương tại miền Bắc, với danh từ “Tây tặc” để miêu tả tình trạng phá chùa, lấy chuông đồng đúc súng.
Chúng ta có xu hướng không chấp nhận những góc nhìn khác về Nguyễn Huệ, được phản ánh qua nhiều tư liệu, trong đó điển hình như “Tây Sơn hành” mới được phát hiện, là bài thơ của tiến sĩ Trần Danh Án1. Mặc dù đối với giới nghiên cứu lịch sử, và nghiên cứu văn học thì đây hẳn là một tư liệu vô cùng đặc sắc, nó gợi mở những câu hỏi mới, những góc nhìn mới về một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào dám đề cập về bài thơ này trên các tạp chí khoa học.
Mặt khác, chúng ta đã an nhiên bỏ qua những mâu thuẫn nội bộ trong anh em nhà Tây Sơn từ việc chia chiến lợi phẩm, cũng như ân oán cá nhân được ghi chép trong sử sách như đoạn trích dưới đây: “Nhạc đã đắc chí, ngày càng dâm ô, bạo ngược, giết Nguyễn Thung, lại thông dâm với vợ Huệ, người đều chê là xấu. Việc đi xâm lấn miền Bắc, của báu ở phủ chúa Trịnh, về cả tay Huệ, Nhạc đòi không cho. Huệ muốn lấy cả đất Quảng Nam, Nhạc cũng không cho, mới thành ra cừu thù hiềm khích nhau. Huệ bèn truyền hịch kể tội ác của Nhạc, đến nỗi bảo Nhạc là giống sài lang chó lợn”2. Chúng ta chưa biết những ghi chép trên (nhất là việc Nguyễn Nhạc thông dâm với em dâu) có phải là sự thực, hay đó là sự bôi bác, thêu dệt của sử quan triều Nguyễn sau này. Nhưng nếu như có được một sử liệu khách quan khác thì hẳn là những ghi chép trên không phải là không có cơ sở3.

---

1 Bài thơ được chép trong ba văn bản Tản Ông di cảo (散翁遺稿 ký hiệu A.2157), Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432), kho sách Viện NC Hán Nôm. Có thể tìm kiếm một số bản dịch trên mạng.

2 Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Ðại Nam Liệt Truyện tập II (Ngô Hữu Tạo, Ðỗ Mộng Khương dịch) (1997) Nxb Thuận Hoá. Huế. tr. 531-532.

3 Hoàng Xuân Hãn, “Thống Nhất Thời Xưa”, trong La Sơn Yên Hồ- Hoàng Xuân Hãn tập II (1998). Nxb. Giáo dục. Hà Nội. tr. 1375

Saturday, August 10, 2013

Đề cương chi tiết môn Lý luận nhà nước 2

BÀI 5: CHỨC NĂNG NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm chức năng nhà nước
1.1 Khái niệm chức năng nhà nước

- Chức năng nhà nước là những phương hướng, phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước.

- Khái niệm và phân loại nhiệm vụ của nhà nước
1.2 Tính khách quan và tính chủ quan của chức năng nhà nước
1.2.1 Tính khách quan của chức năng nhà nước: Chức năng nhà nước được hình thành một cách khách quan dưới tác động chủ đạo của nhiệm vụ nhà nước.
1.2.2 Chức năng nhà nước là phạm trù mang tính chủ quan: Chức năng nhà nước phản ánh hoạt động của nhà nước có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế xã hội.
1.3 Các mối quan hệ của chức năng nhà nước
1.3.1 Mối quan hệ giữa chức năng với nhiệm vụ của Nhà nước

- Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước cần đạt được, những vấn đề đặt ra mà nhà nước phải giải quyết.

- Nhiệm vụ chiến lược của nhà nước là cơ sở để xác định số lượng, nội dung, vị trí các chức năng và tác động lên hình thức, phương pháp thực hiện chức năng nhà nước.

- Chức năng nhà nước là phương diện thực hiện nhiệm vụ của nhà nước.
1.3.2 Mối quan hệ giữa chức năng với bản chất nhà nước

- Mối quan hệ giữa chức năng và bản chất nhà nước là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, trong đó chức năng thuộc phạm trù hình thức còn bản chất thuộc phạm trù nội dung.
- Chức năng nhà nước là sự biểu hiện ra bên ngoài thuộc tính cơ bản và bản chất của nhà nước.
1.3.3 Mối quan hệ giữa chức năng với bộ máy nhà nước

- Nhiệm vụ và chức năng nhà nước được thực hiện chủ yếu bằng bộ máy nhà nước.

- Bộ máy nhà nước được xây dựng nhằm thực hiện chức năng của nhà nước.

2. Phân loại chức năng nhà nước

- Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền lực nhà nước, ta có: Chức năng lập pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp.

- Căn cứ vào vị trí vai trò từng hoạt động của nhà nước ta phân chia chức năng nhà nước thành hai loại: Chức năng cơ bản và chức năng không cơ bản.

- Căn cứ vào thời gian hoạt động ta có chức năng lâu dài và chức năng tạm thời (trước mắt).

- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của nhà nước ta có: Chức năng kinh tế, chức năng xã hội của nhà nước…

- Phổ biến nhất hiện nay là cách phân chia các chức năng nhà nước căn cứ vào phạm vi hoạt động chủ yếu của nhà nước, ta có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng nhà nước

- Cơ sở kinh tế ảnh hưởng đối với chức năng nhà nước.

- Sự biến đổi của đời sống xã hội, kết cấu giai cấp, tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo trong xã hội cũng ảnh hưởng đến chức năng nhà nước.

- Trách nhiệm của nhà nước trong việc xác định vị trí vai trò của các chức năng và mức độ can thiệp của nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Hoàn cảnh quốc tế và hợp tác quốc tế là yếu tố quan trọng tác động, ảnh hưởng đến chức năng nhà nước.

4. Hình thức, phương pháp thực hiện chức năng nhà nước
4.1. Hình thức thực hiện chức năng nhà nước
4.1.1 Hình thức pháp lý: Hình thức pháp lý là hình thức cơ bản để thực hiện chức năng nhà nước.

4.1.2 Hình thức tổ chức: Phương thức mang tính tổ chức của hoạt động nhà nước là hình thức đặc thù của hoạt động nhà nước, bổ sung cùng với phương thức pháp luật làm cho hoạt động của nhà nước trở nên nhịp nhàng đồng bộ và hiệu quả hơn.
4.2 Phương pháp thực hiện chức năng nhà nước
- Phương pháp thực hiện chức năng nhà nước là những cách thức mà Nhà nước sử dụng để tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng nhà nước.

- Phương pháp cưỡng chế; Phương pháp giáo dục thuyết phục

- Phương pháp trực tiếp; gián tiếp

- Nhà nước thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế.

5. Chức năng của Nhà nước Chủ nô, nhà nước Phong kiến, nhà nước Tư sản
5.1 Chức năng đối nội của Nhà nước Chủ nô, Phong kiến, Tư sản
5.1.1 Chức năng bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân về các tư liệu sản xuất của giai cấp thống trị
5.1.2 Chức năng trấn áp giai cấp bị trị
5.1.3 Chức năng kinh tế – xã hội
5.2 Chức năng đối ngoại của Nhà nước Chủ nô, Phong kiến, Tư sản
5.2.1 Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
5.2.2 Chức năng phòng thủ đất nước
5.2.3 Chức năng ngoại giao
* Nhận diện và đánh giá một chức năng cụ thể của nhà nước hiện đại[1]



[1] Yêu cầu cho các lớp chất lượng cao. Sinh viên lựa chọn tình huống, làm việc nhóm để đánh giá.

 BÀI 6: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm bộ máy nhà nước

- Khái niệm: Bộ máy nhà nước được hiểu là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương được tồ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành cơ chề đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

- Bộ máy nhà nước là một hệ thống các cơ quan nhà nước.

- Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất.

- Vai trò của bộ máy nhà nước là phương tiện, công cụ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

2. Cơ quan nhà nước

- Khái niệm: Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Đó là một tồ chức chính trị mang quyền lực nhà nước, được thành lập trên cơ sở pháp luật và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong phạm vi luật định.

- Căn cứ vào hình thức pháp lý của việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan nhà nước được chia thành cơ quan lập pháp, cơ quan hành phápcơ quan tư pháp.

- Căn cứ vào cấp độ thẩm quyền, các cơ quan nhà nước được chia thành các cơ quan nhà nước ở Trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương.

3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước

- Nguyên tắc tập quyền: tập quyền nghĩa là tập trung quyền lực nhà nước vào trong tay một người hay một cơ quan nào đó.

- Nguyên tắc phân quyền hay còn gọi là nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước. Theo đó, quyền lực nhà nước được phân thành các bộ phận khác nhau và giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ.

4. Bộ máy nhà nước của các kiểu nhà nước trong lịch sử

4.1. Bộ máy Nhà nước chủ nô: tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chủ nô mang nặng tính quân sự và tập trung quan liêu.

4.2. Bộ máy Nhà nước phong kiến: so với nhà nước chủ nô, bộ máy nhà nước phong kiến đồ sộ hơn, có sự phân công về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

4.3. Bộ máy Nhà nước tư sản: bộ máy nhà nước tư sản phổ biến được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước.
* Giới thiệu và đánh giá cách thức tổ chức bộ máy nhà nước hiện đại[1]



[1] Yêu cầu cho các lớp chất lượng cao. Giảng viên giới thiệu, sinh viên lựa chọn tình huống, làm việc nhóm để đánh giá.

BÀI 7: HÌNH THỨC CỦA NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm hình thức Nhà nước
1.1 Hình thức chính thể
1.1.1 Khái niệm hình thức chính thể

- Nguồn gốc quyền lực nhà nước.

- Quyền lực nhà nước thuộc về những cơ quan nào, do cơ quan nhà nước nào nắm giữ?

- Các cơ quan nhà nước nắm giữ quyền lực nhà nước được thành lập như thế nào?

- Mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước nắm giữ quyền lực nhà nước?

- Mội dung, cách thức tham gia của nhân dân vào việc thiết lập cơ quan nhà nước
1.1.2 Phân loại hình thức chính thể
1.1.2.1 Chính thể quân chủ
1.1.2.2 Chính thể cộng hoà
1.2 Hình thức cấu trúc Nhà nước
1.2.1 Khái niệm

Hình thức cấu trúc là sự cấu tạo Nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau, giữa trung ương với địa phương.
1.2.2 Phân loại

- Nhà nước đơn nhất là nhà nước mà lãnh thổ của nhà nước được hình thành từ một lãnh thổ duy nhất, lãnh thổ này được chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc.

- Nhà nước liên bang là nhà nước hợp thành từ hai hay nhiều nước thành viên.
1.3 Chế độ chính trị
1.3.1 Khái niệm
Là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực Nhà nước.
1.3.2 Phân loại

- Dân chủ là hình thức dân chủ với những thiết chế, quy chế để người dân trực tiếp thực hiện quyền lực của mình.

- Phản dân chủ là là những cách thức thực hiện quyền lực nhà nước trong đó không đảm bảo được nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân.

2. Hình thức của các Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản
2.1 Hình thức chính thể
2.1.1 Nhà nước chủ nô: Chính thể của nhà nước chủ nô chủ yếu là quân chủ tuyệt đối ở Phương Đông và cộng hòa quy tộc ở Phương Tây.

2.1.2 Nhà nước phong kiến: Hình thức chính thể của nhà nước phong kiến chủ yếu vẫn là quân chủ chuyên chế (tuyệt đối) nhưng ở Phương Tây có hình thức cộng hòa quý tộc.
2.1.3 Nhà nước tư sản
2.1.3.1 Chính thể quân chủ: Chính thể quân chủ trong nhà nước tư sản phổ biến là chính thể quân chủ hạn chế.

2.1.3.2 Chính thể cộng hòa: Trong nhà nước tư sản tồn tại chủ yếu chính thể cộng hòa dân chủ với ba loại cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghịcộng hòa lưỡng thể (lưỡng tính).
2.2 Hình thức cấu trúc nhà nước của các Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản

2.2.1 Nhà nước chủ nô, phong kiến: Trong các nhà nước chủ nô và phong kiến hình thức cấu trúc nhà nước tồn tại chủ yếu là hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất.
2.2.2 Nhà nước tư sản: Trong các nhà nước tư sản có cả hai hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất và liên bang.
2.3 Chế độ chính trị

2.3.1 Nhà nước chủ nô, phong kiến: Trong các nhà nước chủ nô, phong kiến phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước chủ yếu là phương pháp phản dân chủ, sử dụng bạo lực công khai.

2.3.2 Nhà nước tư sản: Phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong các nhà nước tư sản bao gồm cả phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ, tùy vào giai đọan phát triển của chủ nghĩa tư bản và điều kiện hoàn cảnh trong từng nhà nước cụ thể.
* Đánh giá mô hình tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước hiện đại[1].



[1] Yêu cầu cho các lớp chất lượng cao. Sinh viên lựa chọn tình huống, làm việc nhóm để đánh giá.

BÀI 8:NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ (TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN)

1. Khái niệm chung về hệ thống chính trị
1.1 Khái niệm hệ thống, chính trị và hệ thống chính trị
1.1.1 Khái niệm hệ thống
1.1.2 Khái niệm chính trị
1.1.3 Khái niệm hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là tập hợp các thiết chế chính trị, chính trị - xã hội, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất cùng tham gia vào việc thực hiện quyền lực chính trị.
1.2 Cơ cấu của hệ thống chính trị
- Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị.

- Các đảng phái chính trị.

- Các tổ chức khác.
1.3 Phân loại hệ thống chính trị

- Dựa vào ý thức hệ chính trị, hệ thống chính trị được chia thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa.

- Dựa vào chế độ đảng phái, chia thành hệ thống chính trị một đảng, hệ thống chính trị đa đảng.

- Dựa trên tính chất của chế độ chính trị, hệ thống chính trị được chia thành hệ thống chính trị nhất nguyên, hệ thống chính trị đa nguyên.

- Dựa trên tính chất và mức độ dân chủ của chế độ chính trị, chia thành hệ thống chính trị dân chủ, hệ thống chính trị bán dân chủ, hệ thống chính trị toàn trị, hệ thống chính trị độc tài, hệ thống chính trị chuyên chế.

2. Vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị
2.1 Vị trí, vai trò pháp lý của nhà nước trong hệ thống chính trị

- Nhà nước thiết lập khung khổ, cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các thành phần trong hệ thống chính trị.

- Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.

- Vai trò bảo vệ pháp luật về hệ thống chính trị của nhà nước.
2.2 Vị trí, vai trò chính trị của nhà nước trong hệ thống chính trị

- Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị, quyền lực chính trị.

- Nhà nước là đối tượng tác động chính trị của các đảng phái, nhóm, cá nhân.
2.3 Sự tác động của nhà nước tới các thành phần của hệ thống chính trị

- Nhà nước tác động tới các đảng phái chính trị.

- Nhà nước tác động tới các tổ chức chính trị – xã hội.
Trả Lời Với Trích Dẫn Bài 9: NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1. Tính tất yếu khách quan và sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.1 Những tiền đề cho sự xuất hiện của nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Tiền đề kinh tế.
1.1.2 Tiền đề chính trị - xã hội.
1.1.3 Những yếu tố dân tộc và thời đại.
1.2 Sự xuất hiện của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong lịch sử
1.2.1 Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời nhà nước Nga-Xô Viết XHCN
1.2.2 Sự ra đời các nhà nước XHCN ở đông châu Âu

2. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
2.1 Tính giai cấp: Nhà nước XHCN là bộ máy để củng cố địa thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đảm bảo sự thống trị của đa số đối với thiểu số.

2.2 Tính xã hội: Nhà nước XHCN tồn tại trên cơ sở xã hội rộng rãi hơn so các kiểu nhà nước trước đó chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

3. Hình thức của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
3.1 Hình thức chính thể của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

- Công xã Pari.

- Cộng hoà xô viết.

- Nhà nước dân chủ nhân dân.
3.2 Hình thức cấu trúc của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa tồn tại cả hai loại hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất và liên bang.
3.3 Chế độ chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

- Dân chủ xã hội chủ nghĩa khẳng định nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.

- Nguyên tắc Đảng cộng sản lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

- Quyền lực Nhà nước là thống nhất, không phân chia.

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

- Nguyên tắc tập trung dân chủ
3.4 Hình thức nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3.4.1 Hình thức chính thể: hình thức chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân trong thời kỳ đầu, còn hiện nay là chính thể cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
3.4.2 Hình thức cấu trúc nhà nước: Nhà nước Việt Nam là nhà nước đơn nhất.

3.4.3 Chế độ chính trị: Chế độ chính trị ở nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chế độ chính trị dân chủ, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

4. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
4.1 Chức năng đối nội của nhà nước XHCN
4.1.1 Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế
- Hoạch định chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế.

- Điều hành kinh tế vĩ mô.
4.1.2 Khái niệm chức năng xã hội của nhà nước XHCN
4.1.3 Nội dung có bản của chức năng xã hội
- Chức năng xã hội trong lĩnh vực văn hóa

- Chức năng xã hội trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

- Chức năng xã hội trong lĩnh vực khoa học – công nghệ

- Chức năng xã hội trong lĩnh vực lao động.
- Chức năng xã hội trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội
- Chức năng xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Chức năng xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

- Chức năng xã hội trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng.
- Chức năng xã hội trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, chính sách bảo đảm xã hội (bảo đảm xã hội, cứu trợ xã hội, cứu đói xã hội).
4.2 Chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa
4.2.1 Chức năng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

- Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh
4.2.2 Chức năng mở rộng quan hệ đối ngoại vì sự phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa

5. Bộ máy nhà nước XHCN

- Đặc trưng cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.

- Hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
*So sánh mô hình nhà nước XHCN về lý thuyết và thực tiễn[1]


[1] Yêu cầu cho các lớp chất lượng cao. Sinh viên lựa chọn tình huống, làm việc nhóm để so sánh
 BÀI 10: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN (TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN)

1. Sự phát triển của tư tưởng về Nhà nước pháp quyền
1.1 Sự cai trị coi trọng luật pháp đặt nền móng cho vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với nhà nước

- Thời kỳ cổ đại xuất hiện những tư tưởng coi trọng pháp luật.

- Thời kỷ phong kiến tiếp tục phát triển tư tưởng về Nhà nước pháp quyền.
1.2 Chế ngự quyền lực quân chủ chuyên chế bằng pháp luật

- Xuất hiện sự đấu tranh với quyền lực chuyên chế của nhà vua.

- Sự đấu tranh này thể hiện bằng pháp luật là tiền đề cho tư tưởng về nhà nước pháp quyền.
1.3 Chế ngự quyền lực nhà nước và mở rộng nội dung dân chủ

- Cách mạng tư sản tiếp tục phát triển tư tưởng chế ngự quyền lực nhà nước bằng pháp luật.

- Cách mạng tư sản đã hình thành và mở rộng nội dung dân chủ cho khái niệm Nhà nước pháp quyền.
1.4 Nhà nước pháp quyền hiện đại

- Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền hiện đại tiếp tục có mối liên hệ chặt chẽ với các tư tưởng chính trị pháp lý khác như chủ nghĩa lập hiến, thuyết tam quyền phân lập, chủ nghĩa đa nguyên…

- Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có sự phát triển và mở rộng hơn về tính chất và sự đảm bảo thực hiện trên thực tế.

2. Một số dấu hiện cơ bản của Nhà nước pháp quyền

- Nhà nước quản lý bằng pháp luật.

- Nhà nước phải bị hạn chế bằng pháp luật.

- Nội dung và tính chất của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải tiến bộ.

- Tính tối cao của pháp luật cần phải được tôn trọng và bảo vệ.

3. Phân biệt tư tưởng Nhà nước pháp quyền với tư tưởng pháp trị và chế độ pháp trị

- Điểm tương đồng với Nhà nước pháp quyền là đều coi trọng pháp luật

- Sự khác biệt căn bản giữa tư tưởng Pháp trị và tư tưởng Nhà nước pháp về hoàn cảnh ra đời và mục đích của chúng.

4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
4.1 Tính tất yếu của xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

- Vì Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện và thành tựu của dân chủ.

- Nền kinh tế thị trường và hội nhập cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền.
4.2 Những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một quá trình thực hiện dân chủ.

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải trong mối quan hệ chặt chẽ và có hệ thống với các phương thức thực hiện dân chủ khác.

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải chú ý đến tính chất và trình độ phát triển của kinh tế, các điều kiện văn hóa chính trị pháp lý cụ thể của Việt Nam. 
 1. Bộ Giáo Dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác-Lênin, NXB Chính Trị Quốc gia, 2004.

2. C. Mác- Ph. Ang ghen, Tuyển tập, Tập 1,5,6. NXB Sự thật. Hà Nội 1984.

3. Chiêm Tế, Lịch sử Thế giới Cổ Đại, tập 1, 2, NXB Giáo Dục, 1977.

4. Đảng Công sản Viêt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia.

5. Đào Trí Úc, Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp Luật, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1995.

6. Đào Trí Úc, Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997

7. Đinh Văn Mậu, PTS. Phạm Hồng Thái, Lịch sử các học thuyết chính trị – pháp lý, NXB Thanh Phố Hồ Chí Minh, 1997.

8. Đỗ Hoàng Toàn, Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế, NXB Lao đông –Xã hội.

9. Hàn Phi Tử, sự phát triển của tư tưởng pháp gia, Nhà xuất bản Đồng Nai, 1995.

10. Hoàng Thị Kim Quế, Nhận diện Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2004.

11. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997.

12. Hoc viện hành chính quốc gia, Giáo trình về Quản lý hành chính Nhà nước, NXB Giáo dục. Tâp. I, II, III.

13. Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, 1993.

14. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý Luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

15. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999.

16. Konrad-Adenaer-Sfiftung, Josef Thesing, Nhà nước pháp quyền, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002.

17. Lê Cảm, Học thuyết Nhà nước pháp quyền: Một số vấn đề trong lịch sử hình thành và phát triển, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 2002(10).

18. Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, NXB CTQG, Hà Nội 2004.

19. Lương Ninh, Đinh Ngọc Bảo, Đặng Quang Minh, Nguyễn Gia Phu, Nghiêm Đình Vì, Lịch sử thế giới cổ đại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội, 1998.

20. Ngô Huy Cương, Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, 2006.

21. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thi Khế, Nhà nước và pháp luât đại cương, NXB TP HCM.

22. Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Nhà nước và Pháp luật Đại cương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.

23. Nguyễn Đăng Dung, Hình thức của các nhà nước đương đại, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2004.

24. Nguyễn Đình Tấn, Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, NXB, Lý luận chính trị. 2005

25. Nguyễn Hữu Khiển, Phân tích triết học những vấn đề cơ bản về chính trị và khoa học chính trị, NXB Lý luận chính trị.

26. Nguyễn Vân Nam, Toàn cầu hoá và sự tồn vong của Nhà nước, NXB trẻ,2006

27. Phạm Hồng Thái, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật.

28. Ph. Ănghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước.

29. Robert Lowie, Luận bàn về xã hội học nguyên thuỷ, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001.

30. Roscoe Pound, Tự do và hiến pháp, Nhà xuất bản Đại học Yale, USA, 1957.

31. Trần Hậu Thành, Cơ sở lý luận và thực tiễn Xây dưng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Lý luận chính trị, HN 20005.

32. Trần Ngọc Đường, Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật.

33. Trần Trọng Hựu, Chính sách xã hội- Những vấn đề pháp lý, NXB Khoa học.

34. Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam.

35. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Công An Nhân Dân, 1997.

36. Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình Lý Luận Nhà nướcvà Pháp luật, NXB Công An Nhân Dân, 2004.

37. Từ điển triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1975.

38. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Những vấn đề Lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị Quốc gia, 1995.

39. V. I. Lênin, Nhà Nước và Cách Mạng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2004.

40. V. Lênin toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến Bộ 1976.

41. Vũ Quốc Thông, Pháp chế sử Việt Nam, Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1972.

42. Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật - Trường đại học Luật Hà Nội năm 2003, NXB CAND, trang 375 - 392.

43. An lệ và hệ thống toà án nước Anh - Nguyễn Văn Nam - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2 năm 2003.

44. Áp dụng pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, trang 225 - 246.

45. Bàn thêm về cơ cấu của quy phạm pháp luật - Tạp chí Luật học, số 3 năm 2000, trang 17.

46. Bàn thêm về cơ cấu của quy phạm pháp luật - Tạp chí Luật học, số 6 năm 2000, trang 17.

47. Bàn về hành vi giao tiếp pháp lý - Nguyễn Minh Đoan - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9 năm 2002, trang 13.

48. Bàn về khái niệm khung pháp luật và khung pháp luật kinh tế - Trịnh Đức Thảo- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10 năm 1999, trang 11.

49. Bàn về mục đích của hình phạt - Dương Tuyết Miên - Tạp chí Luật học, số3 năm 2000, trang 27.

50. Bàn về tính minh bạch của pháp luật và vấn đề dân chủ trong việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Bùi Sỹ Hiển - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp - số 11 năm 2002.

51. Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến phápPháp luật - Trương Đắc Linh - NXB CTQG năm 2003, trang 57 - 64, trang 92 - 95, 177 - 195.

52. Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật việc bảo đảm thực hiện chính sách xã hội - Phạm Hữu Nghị - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm 2001.

53. Con người trong mối quan hệ giữa luân lí, giáo lý và pháp lý - Nguyễn Ngọc Đào - Tạp chí Luật học, số 1 năm 2001, trang 3.

54. Điều chỉnh Pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, trang 214 - 224.

55. Giá trị của Luật tục - Nhìn từ góc độ pháp lý - Nguyễn Việt Hương - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 năm 2000, trang 22.

56. Giao tiếp và giao tiếp pháp luật - Nguyễn Thành - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 5 năm 2000, trang 69.

57. Hành vi hợp pháp và văn hoá pháp lý - Trong chuyên khảo "Quyền con người, quyền công dân" - Trần Ngọc Đường - NXB CTQG, 2004, trang 141 - 150.

58. Hành vi không hợp pháp - Trong chuyên khảo "Quyền con người, quyền công dân - Trần Ngọc Đường - NXB CTQG năm 2004, trang 150 - 162.

59. Hành vi Pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, trang 226 - 287, 294 - 306.

60. Hệ thống Pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, trang 82 - 213.

61. Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, NXB Chính trị quốc gia, năm 1995, trang 437 - 448.

62. Hương ước và mối quan hệ giữa hương ước và pháp luật - Đào Trí Úc và Đoàn Đức Thắng - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 năm 1997, trang 3.

63. Khái niệm và những mối liên hệ của pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB CTQG năm 1995, trang 120 - 158.

64. Lời nói đầu, phần mở đầu các văn bản quy phạm pháp luật - Lương Minh Tuân - Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 5 năm 2000, trang 57.

65. Luật tục Ê Đê- Nhìn từ góc độ văn hóa pháp lý – Vũ Thị Bích Hường – Tạp chí khoa học pháp lý, số năm 2000

66. Luật tục: sự hình thành của nó trong đời sống của một số cộng đồng dân cư ở nước ta - Lê Sĩ Giáo - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7 năm 2000, trang 57.

67. Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong hệ thống điều chỉnh xã hội, Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7, 1999, trang 9.

68. Nhận thức về vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam - Đỗ Ngọc Thịnh - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 năm 1999, trang 41.

69. Những hệ thống Pháp luật quan trọng nhất - So sánh các hệ thống Pháp luật - Michael Bordan - …

70. Pháp luật không chỉ là công cụ của Nhà nước - Nguyễn Đăng Duy - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 11 năm 2001, trang 53.

71. Pháp luật trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước - Trần Thái Dương - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 năm 2001, trang 59.

72. Pháp luật và đạo Hồi - Ngô Huy Cương - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 11 năm 2001, trang 66.

73. Pháp luật và lợi ích xã hội - Nguyễn Văn Luyện & Võ Khánh Vinh - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2 năm 2003.

74. Quan hệ giữa chính trị và Pháp luật - Trần Mạnh Đạt - Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 6 năm 2002.

75. Tác động của toàn cầu hoá và sự phát triển và đổi mới của pháp luật Việt Nam - Đào Trí Uc - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10 năm 2001, trang 3.

76. Anghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước”, Mác-Ăngghen toàn tập, tập I,NXB Sự thật. Hà Nội 1984.

77. Trở lại khái niệm văn bản quy phạm pháp luật - Nguyễn Cửu Việt - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4 năm 2007.

78. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, đạo đức và lợi ích công dân, Thành Duy, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, 1995, trang 3.

79. Vai trò của Luật tục Tây nguyên trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và thực hiện dân chủ cơ sở - Phan Đăng Nhật - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 năm 2003, trang 10.

80. Vấn đề án lệ ở nước ta hiện nay - Nguyễn Đức Mai - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 năm 1998, trang 46.

81. Văn hoá pháp lý - Chuyên khảo "Quyền con người, quyền công dân - Trần Ngọc Đường - NXB CTQG năm 2004, trang 162 - 176.

82. Về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật - Nguyễn Cửu Việt - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11 năm 1998, trang 3.

83. Về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật (tiếp theo) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật - Nguyễn Cửu Việt - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5 năm 2007.

84. Về trách nhịêm pháp lý - Hoàng Thị Ngân - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - số 2 năm 2001.

85. Allan TRS. Constitutional justice: a liberal theory of the rule of law, Oxford University Press, 2001

86. Endicott TAO, The impossibility of the Rule of Law, Oxford Journal of legal studies 1999;19(spring 1999).

87. Heywood A, Political ideas and concepts: An introduction, Basingstoke, England Macmillan, 1994

88. Heywood. A, Political Ideologies An introduction, Palgrave Macmillan, 2003.

89. Modern Political Analysis, Robert A Dahl, Bruce Stinebrickner, Prentice Hall, 2002

90. Morris. CW. (1998) An essay on the modern state Cambridge University Press; 1998

91. O'donnell G, Why rule of law matters, Journal of Democracy, 2004.

92. O'donnell G, Democracy, Law and Comparative Politics, Study in Comparative Intrenational Development 2001;36(1)

93. Randall, Peerenboom, Asian discourses of rule of law, Routledge Taylor and Francis Group Press, 2004.

94. Rod Hague and Martin Harrop (2001) Comparative government and politics : An introduction, 5th, Basingstoke ; New York : Palgrave; 2001.

95. Wacks R, Jurisprudence, Blackstone Press Limited, 1999. 

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

1. Tên học phần: Lý luận về nhà nước và pháp luật

2. Số tín chỉ: 3

3. Trình độ: Sinh viên năm 1

4. Phân bổ thời gian:

- Giảng lý thuyết: 35 giờ tín chỉ

- Thảo luận: 10 giờ tín chỉ

5. Điều kiện tiên quyết: Đã hoàn thành môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

6. Mục tiêu của học phần:
6.1 Về kiến thức:

- Hiểu và phân tích được những nguyên nhân và quá trình ra đời của nhà nước và pháp luật;

- Hiểu được khái niệm bản chất, các biểu hiện của bản chất nhà nước và pháp luật, các dấu hiệu đặc trưng và vai trò của nhà nướcpháp luật, chức năng và các kiểu nhà nước và pháp luật về lý thuyết và thực tế;

- Hiểu được khái niệm bộ máy nhà nước và các nguyên tắc chủ yếu chi phối việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước;

- Hiểu và đánh giá được cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.

- Hiểu được những vấn đề lý luận chung nhất về nhà nước xã hội chủ nghĩa.

- Hiểu và phân tích được các hiện tượng pháp lý như: Quan hệ pháp luật; Vi phạm pháp luật; Trách nhiệm pháp lý; Ý thức pháp luật; Pháp chế…
6.2 Về kỹ năng nghề nghiệp:

- Nâng cao khả năng tư duy các vấn đề pháp lý một cách khoa học và khách quan.

- Sử dụng đúng những khái niệm, thuật ngữ phản ánh các hiện tượng về nhà nước và pháp luật.

- Nâng cao kỹ năng thuyết trình, viết và kỹ năng phân tích, đánh giá các hiện tượng pháp lý.

- Nâng cao khả năng tranh luận, phản biện các vấn đề pháp lý.
6.3 Thái độ

- Chủ động trang bị những kiến thức Lý luận về nhà nước và pháp luật làm cơ sở cho những môn khoa học pháp lý khác và lý giải những hiện tượng nhà nước và pháp luật.

- Tích cực nâng cao trình độ nhận thức về nhà nước và pháp luật.

- Có thái độ khách quan và khoa học trong nghiên cứu và trao đổi những vấn đề về nhà nước và pháp luật.
6.4 Các mục tiêu khác

- Góp phần hoàn thiện kỹ năng thu thập và xử lý thông tin.

- Góp phần hoàn thiện kỹ năng thuyết trình.

- Góp phần phát triển kỹ năng cộng tác, làm việc nhóm

- Góp phần phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo, hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học.

- Góp phần trau dồi, phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá.

- Góp phần rèn kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, theo dõi kiểm tra việc thực hiện chương trình học tập.

7. Mô tả vắn tắt nội dung học phần:

- Học phần Lý luận về Nhà nước và pháp luật nghiên cứu hiện tượng Nhà nước và pháp luật theo quan điểm của chủ nghĩa Max- Lenine.

- Học phần giải quyết các vấn đề lý luận chung nhất về Nhà nước và pháp luật:

+ Nguồn gốc, bản chất, các kiểu, chức năng của nhà nướcpháp luật.

+ Các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.

+ Các khái niệm, hiện tượng pháp lý cơ bản như: quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, vi phạm pháp luật, ý thức pháp luật…
Trả Lời Với Trích Dẫn 

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code