Showing posts with label Nghiên cứu - Bình luận. Show all posts
Showing posts with label Nghiên cứu - Bình luận. Show all posts

Tuesday, January 21, 2014

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 16/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004 đã có những đóng góp quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (viết tắt: TCTD). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luật các TCTD năm 1997 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cản trở sự phát triển của hệ thống các TCTD, cần phải được sửa đổi, hoàn thiện. Do đó, việc ban hành Luật các TCTD mới là rất cần thiết, cụ thể:
1. Khắc phục những bất cập của Luật các tổ chức tín dụng hiện hành:
- Nâng cao quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng. Luật các TCTD năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2004 (sau đây gọi tắt là Luật Các TCTD hiện hành) chưa quy định thật cụ thể và rõ ràng quyền chủ động kinh doanh, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của TCTD. Luật chưa quy định rõ phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD, đặc biệt trong việc xác định loại nghiệp vụ được phép thực hiện.
- Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực ngân hàng. Một số quy định của Luật các TCTD hiện hành chưa theo kịp so với công cuộc cải cách hành chính chung đang được thực hiện. Một số công việc chỉ cần giao cho Ngân hàng Nhà nước nhưng Luật lại giao cho Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, nên phát sinh nhiều đầu mối quản lý, làm chậm trễ quá trình hướng dẫn thực hiện Luật và việc xử lý các vấn đề phát sinh trên thực tiễn. Ngoài ra, thủ tục xin chấp thuận, chuẩn y các thay đổi của TCTD trong Luật các TCTD hiện hành mang tính hành chính, không cần thiết và làm tăng thêm chi phí cho các TCTD cũng cần được xem xét để thay đổi cho phù hợp.
- Đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Luật các TCTD hiện hành chưa tạo lập được cơ sở pháp lý để cụ thể hoá hoặc đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng, nên chưa khai thác được hết tiềm năng, nội lực của các TCTD. Các quy định của Luật các TCTD hiện hành chưa phân biệt phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD, do vậy, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của các loại hình TCTD.
Các bất cập của Luật các TCTD hiện hành không chỉ làm hạn chế sự phát triển và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, mà còn ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý, thanh tra, giám sát an toàn của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống TCTD. Việc soạn thảo và ban hành Luật các TCTD mới gắn với việc khắc phục bất cập của Luật hiện hành, đặc biệt là các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành, kiểm soát, hoạt động và bảo đảm an toàn, tạo lập khung pháp lý hoàn chỉnh, minh bạch cho tổ chức và hoạt động của các TCTD là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.
2. Đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đại:
Một số quy định của Luật các TCTD hiện hành còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế như các quy định về an toàn vốn, dịch vụ ngân hàng được phép cung cấp… Do vậy, việc ban hành Luật các TCTD mới với mục tiêu thể chế hóa các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế vào trong Luật, phù hợp với điều kiện Việt Nam là rất cần thiết để tạo cơ sở pháp lý xây dựng hệ thống TCTD hiện đại, có đủ năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập, cũng như cho việc giám sát an toàn trong hoạt động của các TCTD.
3. Đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các Luật khác:
Luật các TCTD năm 1997 thiếu các quy định cụ thể, đặc thù về tổ chức, quản trị, điều hành, kiểm soát, hoạt động của các TCTD, do vậy, trên thực tiễn đã phát sinh xung đột luật giữa các quy định hướng dẫn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước với các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật chứng khoán, Luật cạnh tranh, Luật hợp tác xã, Luật phá sản… Điều này đã ảnh hưởng lớn để hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với các TCTD. Do vậy, việc ban hành Luật các TCTD mới với các quy định cụ thể về tổ chức, quản trị điều hành và quy định rõ ràng về nguyên tắc áp dụng luật là yêu cầu cấp thiết.
Từ các lý do nêu trên, việc ban hành Luật các TCTD mới là cần thiết, không chỉ đáp ứng yêu cầu khách quan của nền kinh tế mà còn thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, đáp ứng nhu cầu hội nhập và tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động trên lĩnh vực ngân hàng.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1. Luật các TCTD phải thể chế hoá được quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển hệ thống các TCTD nói chung và ngân hàng nói riêng tại Việt Nam.
2. Kế thừa được những nội dung tốt, đã được trải nghiệm qua thực tiễn 10 năm thi hành Luật các tổ chức tín dụng hiện hành, bảo đảm tính kế thừa trong quản lý.
3. Phù hợp hơn với những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế trong hoạt động ngân hàng.
4. Tạo ra được một cơ sở pháp lý bảo đảm sự tự chủ trong kinh doanh của các TCTD, đồng thời bảo đảm sự chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là nâng cao được khả năng kiểm soát, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của từng TCTD và sự ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng.
5. Khắc phục bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Luật các TCTD hiện hành như quy định về phạm vi điều chỉnh, tổ chức, quản trị, điều hành, hình thức sở hữu, tỷ lệ an toàn…; đồng thời, khắc phục các bất cập do xung đột với Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự, Luật chứng khoán…
III. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
A. Bố cục và nội dung chủ yếu
Luật các tổ chức tín dụng có 10 chương, bao gồm 163 điều, cụ thể như sau:
1. Chương I – Các quy định chung: Có 17 điều (từ Điều 1 đến Điều 17) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, áp dụng luật và điều ước quốc tế; giải thích từ ngữ, sử dụng các thuật ngữ liên quan đến hoạt động ngân hàng, hình thức pháp lý của TCTD, ngân hàng chính sách, quyền tự chủ của TCTD, hợp tác, cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi của khách hàng, cung cấp và bảo mật thông tin, phòng chống rửa tiền, cơ sở dữ liệu thông tin dự phòng.
Luật các TCTD quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Đối tượng áp dụng của Luật là các tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng chính sách cũng là một loại hình TCTD. Tuy nhiên, hoạt động của ngân hàng chính sách có những đặc thù khác hẳn so với các ngân hàng thương mại như hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, hoạt động không dựa trên cơ sở thị trường (lãi suất được hỗ trợ, đối tượng cho vay được Nhà nước xác định trước…). Do đó, Luật các TCTD chỉ có một số quy định điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của ngân hàng chính sách. Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ quy định cụ thể việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của loại hình ngân hàng này (Điều 17).
2. Chương II – Giấy phép: Có 12 điều (từ Điều 18 đến Điều 29) bao gồm các quy định về thẩm quyền cấp phép, vốn pháp định, điều kiện cấp phép đối với từng loại hình tổ chức tín dụng, thời hạn, lệ phí cấp phép, đăng ký kinh doanh, công bố Giấy phép, điều kiện khai trương hoạt động, sử dụng Giấy phép, thu hồi Giấy phép, những thay đổi phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Các điều kiện để được hoạt động ngân hàng bao gồm điều kiện về vốn; về cổ đông, thành viên sáng lập; về người quản lý, điều hành; về cơ sở vật chất, kỹ thuật… Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đối với hoạt động ngân hàng là Ngân hàng Nhà nước (Giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD). Sau khi được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, tổ chức tín dụng phải thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.
3. Chương III – Tổ chức, quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng: Có 60 điều 8 mục (từ Điều 30 đến Điều 89) bao gồm các quy định về cơ cấu mạng lưới của tổ chức tín dụng, điều lệ của TCTD, cơ cấu tổ chức quản lý, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc của TCTD và các quy định đặc thù về tổ chức, quản trị, điều hành của từng loại hình TCTD theo hình thức pháp lý (như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hai thành viên trở lên, hợp tác xã…).
Tổ chức, quản trị, điều hành TCTD khác với tổ chức, quản trị, điều hành các doanh nghiệp thông thường, vì hoạt động của TCTD có liên quan đến quyền lợi của công chúng gửi tiền và liên quan đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế. Nói chung các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD tại Luật các TCTD được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật doanh nghiệp nhưng trên nguyên tắc là đưa ra các yêu cầu, điều kiện cao hơn so với tổ chức, quản trị, điều hành các doanh nghiệp thông thường để phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ.
4. Chương IV – Hoạt động của tổ chức tín dụng: Có 34 điều (từ Điều 90 đến Điều 123), trong đó có các quy định chung về hoạt động của tổ chức tín dụng và phạm vi hoạt động đặc thù của từng loại hình tổ chức tín dụng.
Các quy định chung về hoạt động của TCTD là TCTD phải kinh doanh theo nội dung ghi trong Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp; các TCTD có quyền thoả thuận với khách hàng về lãi suất, phí cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; ngoài ra, các TCTD phải xây dựng các quy định nội bộ về cấp tín dụng; về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; về đánh giá chất lượng tài sản có; về quản lý thanh khoản; về kiểm soát nội bộ; về xếp hạng tín dụng nội bộ; về quản trị rủi ro; về phòng chống rửa tiền… để bảo đảm hiệu quả và an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Phạm vi hoạt động được phân theo từng loại hình tổ chức tín dụng bao gồm hoạt động của ngân hàng thương mại; hoạt động của công ty tài chính; hoạt động của công ty cho thuê tài chính; hoạt động của ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân; hoạt động của tổ chức tài chính vi mô và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác với các ngân hàng là không được nhận tiền gửi của cá nhân và không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
5. Chương V – Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng: Có 02 điều (Điều 124, 125) quy định về quyền đặt văn phòng đại diện và phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
Văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng không được thực hiện các hoạt động kinh doanh, chỉ được thực hiện các hoạt động mang tính chất nghiên cứu thị trường, liên lạc, xúc tiến các dự án đầu tư, thúc đẩy và theo dõi việc thực hiện các hợp đồng….
6. Chương VI – Các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng: Có 10 điều (từ Điều 126 đến Điều 135) quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Hoạt động của các TCTD tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, liên quan đến quyền lợi của công chúng gửi tiền và sự ổn định, phát triển của nền kinh tế, việc bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD là rất quan trọng. Do đó, Luật các TCTD đã có nhiều quy định mang tính hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD. Các quy định này bao gồm những trường hợp không được cấp tín dụng; những trường hợp hạn chế cấp tín dụng; giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan; giới hạn góp vốn, mua cổ phần của TCTD; các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD (tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn); quy định về dự phòng rủi ro; quy định về cấm kinh doanh bất động sản và các hạn chế trong việc góp vốn chéo, góp vốn ngược giữa TCTD với công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm soát của TCTD.
7. Chương VII – Tài chính, hạch toán, báo cáo: Có 9 điều (từ Điều 136 đến Điều 144) quy định về chế độ tài chính; năm tài chính; hạch toán kế toán; quỹ dự trữ; mua, đầu tư vào tài sản cố định; báo cáo; công khai báo cáo tài chính; chuyển lợi nhuận, chuyển tài sản ra nước ngoài.
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua, đầu tư vào tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đối với tổ chức tín dụng hoặc không quá 50% vốn được cấp và quỹ dự trữ bổ sung vốn được cấp đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
8. Chương VIII – Kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, phá sản, giải thể, thanh lý TCTD: Có 13 điều (từ Điều 145 đến Điều 157) được chia thành 2 mục, quy định về kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể, phá sản, thanh lý tổ chức tín dụng, phong toả vốn, tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Khi có nguy cơ mất khả năng chi trả, tổ chức tín dụng phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước về thực trạng tài chính, nguyên nhân, các biện pháp đã áp dụng, dự kiến áp dụng để khắc phục và Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt để bảo đảm an toàn hoạt động của TCTD, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và phục hồi hoạt động kinh doanh của TCTD. Trong quá trình kiểm soát đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để khôi phục hoạt động bình thường của TCTD. Trường hợp sau quá trình kiểm soát đặc biệt mà TCTD vẫn không khôi phục được khả năng thanh toán (mất khả năng thanh toán khi chủ nợ có yêu cầu) thì TCTD được chuyển sang giải quyết theo thủ tục phá sản do Toà án tiến hành.
Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, Ngân hàng Nhà nước có quyền phong tỏa một phần hoặc toàn bộ vốn, tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể các trường hợp phong tỏa, chấm dứt phong tỏa vốn và tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
9. Chương IX – Cơ quan quản lý nhà nước: Có 3 điều (từ Điều 158 đến Điều 160) quy định về cơ quan quản lý nhà nước; thẩm quyền thanh tra, giám sát, kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, giám sát.
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý Nhà nước về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
10. Chương X – Điều khoản thi hành: Có 3 điều (từ Điều 161 đến Điều 163) quy định về hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp đối với các TCTD và thẩm quyền hướng dẫn Luật.
Để các TCTD đang hoạt động có thời gian chuyển đổi về tổ chức và hoạt động, Luật các TCTD quy định các nội dung chuyển tiếp áp dụng Luật các TCTD đối với các TCTD.
Về hướng dẫn thi hành Luật, Chính phủ sẽ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật hoặc hướng dẫn những nội dung cần thiết khác trong Luật để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với các TCTD.
B. Những nội dung mới
1. Phạm vi điều chỉnh:
Luật các TCTD điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể TCTD; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
Thay đổi so với Luật các TCTD năm 1997 là Luật các TCTD năm 2010 bỏ phần quy định về “các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng”. Bởi vì, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Những điều kiện để được hoạt động ngân hàng đều rất chặt chẽ, từ tổ chức bộ máy đến quản lý nội bộ, quản trị rủi ro. Những điều kiện này thông thường các tổ chức khác không phải là TCTD đều không đáp ứng được. Đó là lý do Chính phủ không thể ban hành được các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD năm 1997 về hoạt động ngân hàng của tổ chức khác. Điều này có nghĩa là để được cấp phép hoạt động ngân hàng các tổ chức phải được thành lập như là một TCTD. Những tổ chức nào có hoạt động ngân hàng đều phải được tổ chức lại dưới hình thức là một TCTD hoặc phải chấm dứt hoạt động này (trừ việc công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán).
Mặt khác, phạm vi điều chỉnh của Luật đã được quy định cụ thể hơn. Phạm vi điều chỉnh của Luật được mở rộng từ chỗ chỉ điều chỉnh chủ yếu về hoạt động sang điều chỉnh về tổ chức quản lý và hoạt động của TCTD. Trong đó, nội dung về tổ chức quản lý là nội dung có được bổ sung nhiều nhất được thể hiện ở Chương III của Luật.
2. Về một số khái niệm cơ bản:
Luật các TCTD thay đổi tiêu chí xác định một tổ chức là TCTD bằng việc thay đổi nội hàm của khái niệm “hoạt động ngân hàng”: bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán thay cho việc phải đồng thời thực hiện cả ba hoạt động trên. Khái niệm “hoạt động ngân hàng” theo hướng nói trên hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế và là tiêu chí quan trọng để xác định thế nào là một TCTD. Theo đó, chỉ các TCTD mới được thực hiện hoạt động ngân hàng (đây là thay đổi căn bản so với Luật các TCTD năm 1997). Tuy nhiên, phạm vi hoạt động kinh doanh của TCTD không chỉ giới hạn trong khuôn khổ các hoạt động ngân hàng mà còn có thể có các hoạt động kinh doanh khác theo quy định.
Luật cũng đã bổ sung một số thuật ngữ quan trọng như:  “khoản đầu tư nhằm nắm quyền kiểm soát” , “người có liên quan”, “người quản lý”, “người điều hành”… nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn so với quy định của Luật Doanh nghiệp.
3. Về nguyên tắc áp dụng Luật:
Luật các TCTD 2010 có điểm mới so với Luật các TCTD năm 1997 là xác định rõ nguyên tắc áp dụng Luật theo hướng: Luật các TCTD quy định cụ thể các đặc thù trong việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của TCTD; khi có các quy định khác nhau giữa Luật các TCTD và luật khác thì Luật các TCTD sẽ được ưu tiên áp dụng.
Tùy theo hình thức pháp lý của TCTD, các nội dung không được quy định trong Luật các TCTD sẽ được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã.
4. Về hình thức tổ chức của TCTD:
Luật các TCTD quy định TCTD được tổ chức theo các hình thức pháp lý của Luật doanh nghiệp (hoặc Luật Hợp tác xã). Cụ thể, ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ). TCTD phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã. Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
5. Về cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCTD:
Luật đã quy định cụ thể các điều kiện cấp phép đối với từng loại hình TCTD theo hướng nâng cao các yêu cầu, tiêu chí về đảm bảo an toàn của từng TCTD và cả hệ thống các TCTD. Các điều kiện cấp phép được rà soát theo hướng vừa chặt chẽ (bảo đảm việc gia nhập thị trường của các TCTD mới không ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống TCTD), vừa tuân thủ các cam kết của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đồng thời cũng làm rõ sự khác biệt về điều kiện cấp phép đối với mô hình quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô là những TCTD có mục tiêu hoạt động khác với các ngân hàng thương mại và TCTD phi ngân hàng (điều kiện cấp giấy phép sẽ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước).
6. Về các thay đổi cần chấp thuận của NHNN:
So với quy định của Luật Các TCTD năm 1997, Luật các TCTD năm 2010 đã quy định theo hướng quán triệt nguyên tắc cải cách thủ tục hành chính và tăng quyền tự chủ cho TCTD trong vấn đề về những thay đổi cần chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước. Luật các TCTD năm 2010 đã giảm bớt các nội dung cần phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước như chuyển nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định, thay đổi thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc của TCTD; bỏ thủ tục chuẩn y điều lệ thay bằng đăng ký điều lệ.
7. Về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD:
Tổ chức, quản trị, điều hành các TCTD là một trong những nội dung có nhiều điểm mới nhất của Luật các TCTD năm 2010. So với Luật các TCTD năm 1997 chỉ có 6 điều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD thì Luật các TCTD năm 2010 với hơn 60 điều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD là một sự bổ sung và thay đổi căn bản về nội dung này.
Việc bổ sung thêm nhiều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD tại Luật các TCTD năm 2010 xuất phát từ lý do Luật các TCTD năm 1997 thiếu các quy định cụ thể, đặc thù về tổ chức, quản trị, điều hành các TCTD. Do vậy, trong thực tiễn đã phát sinh xung đột luật giữa các quy định hướng dẫn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (có giá trị pháp lý thấp hơn so với các Luật) với các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, Luật đầu tư, Luật chứng khoán…. Điều này đã gây khó khăn cho việc xác định tính đặc thù trong việc tổ chức, quản trị, điều hành TCTD so với các loại hình doanh nghiệp khác. Từ đó, ảnh hưởng lớn đến việc quản lý và bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và hệ thống các TCTD.
Luật các TCTD năm 2010 đã quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tổ chức và công tác quản trị, điều hành, kiểm soát của từng loại hình tổ chức của TCTD. Tổ chức, quản trị, điều hành TCTD theo Luật các TCTD năm 2010 không phân loại theo loại hình hoạt động của TCTD hay theo hình thức sở hữu của TCTD mà phân loại theo các hình thức tổ chức doanh nghiệp của Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã. Cụ thể, Luật các TCTD năm 2010 quy định cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành của các loại hình tổ chức của TCTD bao gồm: Tổ chức tín dụng là công ty cổ phần; Tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm từ hai thành viên trở lên và Tổ chức tín dụng là hợp tác xã.
Các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với TCTD là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn về cơ bản được xây dựng dựa trên cơ sở các quy định của Luật doanh nghiệp đối với loại hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, đồng thời kế thừa các quy định pháp luật hiện hành từ các Nghị định của Chính phủ, văn bản của Ngân hàng Nhà nước còn phù hợp và tham khảo các thông lệ quốc tế. Các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với TCTD là hợp tác xã về cơ bản được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật hợp tác xã và trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành. Mặc dù, các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với các TCTD được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã nhưng có rất nhiều điểm khác biệt so với các Luật này để phù hợp với đặc thù trong hoạt động của các TCTD, trên nguyên tắc là đưa ra các yêu cầu cao hơn về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD so với các doanh nghiệp thông thường. Do đó, các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với các TCTD thường được thiết kế chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Đây cũng là một thông lệ chung được thừa nhận rộng rãi trên bình diện quốc tế (nguyên tắc số 3 và 7 của 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban Basel, Luật ngân hàng Singapore, Luật ngân hàng Canada…). Những nội dung có thể áp dụng được Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã không được quy định lại trong Luật các TCTD năm 2010 để tránh trùng lắp và bảo đảm để những quy định chung vẫn có thể được áp dụng khi có thay đổi trong Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã.
Một số nội dung cụ thể về tổ chức, quản trị, điều hành:
- Về việc chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của TCTD: Theo Luật Các TCTD năm 1997, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của TCTD sau khi được bầu, bổ nhiệm phải được NHNN chuẩn y. Khi thực hiện quy định này đã có những vướng mắc như việc can thiệp sâu vào quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông (hoặc Hội đồng quản trị) của TCTD, hơn nữa trong thời gian các chức danh trên đã được bầu, bổ nhiệm nhưng chưa được NHNN chuẩn y thì việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh này như thế nào? Để giải quyết những vướng mắc trên, Luật các TCTD năm 2010 quy định: NHNN chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của TCTD. Những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của TCTD phải thuộc danh sách đã được NHNN chấp thuận.
- Về thành viên độc lập của Hội đồng quản trị: Luật các TCTD năm 2010 quy định về thành viên độc lập của Hội đồng quản trị. Việc yêu cầu có thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị là nhằm phát huy trí tuệ và tăng tính độc lập, khách quan trong các quyết định của Hội đồng quản trị, hạn chế việc chi phối trong quá trình ra quyết định của các thành viên không độc lập (thường là đại diện của các cổ đông lớn), bảo vệ lợi ích của tổ chức tín dụng và các cổ đông nhỏ, qua đó nhằm ổn định và bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và hệ thống các TCTD. Luật các TCTD năm 2010 quy định Hội đồng quản trị của TCTD cổ phần phải có tối thiểu 01 thành viên độc lập; Hội đồng quản trị tối thiểu phải có 1/2 tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành TCTD. Luật cũng quy định những điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị độc lập, để bảo đảm thành viên này có được tính độc lập trong hoạt động của mình.
- Về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần: Tổ chức và hoạt động của TCTD cổ phần phải mang tính đại chúng cao để bảo đảm sự minh bạch, hạn chế sự thâu tóm có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của công chúng gửi tiền, gây mất an toàn hệ thống. Do đó, Luật quy định các giới hạn về tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông: Một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD. Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD, trừ một số trường hợp đặc biệt. Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD.
8. Về hoạt động của TCTD:
Luật Các TCTD năm 1997 không quy định phân biệt phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD nên khi triển khai thực hiện đã gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định loại nghiệp vụ mà một loại hình TCTD cụ thể được phép thực hiện. Do vậy, đã ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của các loại hình TCTD.
Khắc phục hạn chế nói trên, Luật các TCTD năm 2010 quy định cụ thể phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD, trong đó lấy hoạt động của ngân hàng thương mại làm căn cứ dẫn chiếu khi quy định phạm vi hoạt động của các loại hình TCTD khác. Cụ thể tại Chương IV của Luật về hoạt động của TCTD, ngoài mục quy định chung, có 6 mục quy định về hoạt động của từng loại hình TCTD: Hoạt động của ngân hàng thương mại; Hoạt động của công ty tài chính; Hoạt động của công ty cho thuê tài chính; Hoạt động của TCTD là hợp tác xã; Hoạt động của tổ chức tài chính vi mô; Hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Luật các TCTD năm 2010 đã thay đổi tiêu chí phân biệt giữa ngân hàng và TCTD phi ngân hàng. Theo đó, phạm vi hoạt động của các TCTD phi ngân hàng khác với các ngân hàng là không được phép nhận tiền gửi của cá nhân và không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Theo tiêu chí này, ranh giới phân biệt hoạt động giữa ngân hàng và TCTD phi ngân hàng được làm rõ hơn. Tiêu chí phân biệt này cũng phù hợp với thông lệ áp dụng tại hầu hết các nước và tạo điều kiện để một mặt giảm bớt được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mặt khác cho phép các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính được mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác của mình do các quy định về an toàn sẽ được áp dụng ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng thương mại là những tổ chức nhận tiền gửi của dân cư và tham gia vào hệ thống thanh toán.
Đối với mỗi loại hình TCTD, Luật các TCTD năm 2010 quy định rõ những nghiệp vụ TCTD đương nhiên được kinh doanh sau khi được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, những nghiệp vụ kinh doanh phải được phép của Ngân hàng Nhà nước trước khi thực hiện, những nghiệp vụ khi thực hiện phải thành lập công ty con, công ty liên kết và những nghiệp vụ TCTD không được thực hiện. Việc quy định theo hướng này dẫn đến giảm đi nhiều “giấy phép con” so với quy định hiện nay, thực hiện tinh thần cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho các TCTD. Ví dụ, ngân hàng thương mại (Mục 2 Chương IV) ngay sau khi được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thì đương nhiên được thực hiện khoảng 20 nhóm hoạt động kinh doanh, còn khoảng 6 nhóm hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro thì ngân hàng thương mại trước khi thực hiện phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận (như thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế; tham gia hệ thống thanh toán quốc tế, góp vốn, mua cổ phần; kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối; kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh…).
9. Các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD:
Trên cơ sở thay đổi phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD, Luật đã quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn của từng loại hình TCTD theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các ngân hàng thương mại và nới lỏng tỷ lệ an toàn áp dụng đối với công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính như các quy định về giới hạn cấp tín dụng, các quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần….
Về nhóm các quy định nhằm hạn chế sự tập trung rủi ro quá mức của TCTD vào một hoặc một nhóm khách hàng, Luật các TCTD năm 2010 có một điều chỉnh quan trọng so với Luật các TCTD năm 1997 là không xác định hạn mức tín dụng cho một khách hàng theo từng loại nghiệp vụ tín dụng, mà đưa ra hạn mức cấp tín dụng tổng thể đối với một khách hàng. Đây là cách quy định phản ảnh thực tế là rủi ro của TCTD khi cấp tín dụng cho một khách hàng không phụ thuộc vào nghiệp vụ tín dụng mà phụ thuộc vào rủi ro của đối tác liên quan.
Các quy định về góp vốn, mua cổ phần của các TCTD tại Luật các TCTD năm 1997 và văn bản hướng dẫn còn chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở để các TCTD mở rộng phạm vi hoạt động sang quá nhiều các lĩnh vực không có liên quan nhiều, thậm chí không có liên quan với hoạt động chính, chủ yếu của các TCTD. Điều này về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của TCTD trên lĩnh vực hoạt động chính, chưa nói đến những rủi ro khác có thể phát sinh từ những lĩnh vực hoạt động không phải là chuyên môn sâu của TCTD. Chính vì lý do đó, Luật các TCTD năm 2010 đã đưa ra các quy định cụ thể theo hướng thông lệ chung được áp dụng đối với hoạt động ngân hàng là giới hạn phạm vi hoạt động của các TCTD vào các hoạt động chính và những lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp đến hoạt động chính bằng việc quy định cụ thể các giới hạn góp vốn, mua cổ phần của TCTD.
Luật các TCTD năm 2010 đưa ra các quy định nhằm hạn chế các quan hệ cấp tín dụng nội bộ như: không được cấp tín dụng cho thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc – là những người có quyền lực trong TCTD, nhằm hạn chế xung đột lợi ích, tránh tình trạng lạm dụng ảnh hưởng của những người này đến việc ra quyết định cấp tín dụng của TCTD, có thể gây mất an toàn cho TCTD và hệ thống TCTD; không được cấp tín dụng đối với pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của TCTD, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng; hạn chế cấp tín dụng đối với cổ đông lớn, cổ đông sáng lập của TCTD nhằm hạn chế việc các tập đoàn, tổng công ty lạm dụng việc thành lập TCTD để huy động vốn và cho vay nội bộ – hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro, nhằm bảo đảm an toàn cho TCTD và phù hợp với thông lệ chung trong hoạt động ngân hàng…
Luật các TCTD năm 2010 hạn chế việc góp vốn, mua cổ phần chéo, góp vốn, mua cổ phần ngược giữa TCTD, công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm soát. Cụ thể, Luật quy định công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của nhau; Công ty con, công ty liên kết của một TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của chính TCTD đó; TCTD đang là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát đó và TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD đó.
10. Về kiểm soát đặc biệt:
Để chủ động xử lý các TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, trên cơ sở kế thừa các quy định pháp luật hiện hành, các nội dung về kiểm soát đặc biệt được quy định đầy đủ, chi tiết hơn. Cụ thể:
- Luật đã quy định bổ sung thêm 2 trường hợp mà một TCTD có thể bị Ngân hàng Nhà nước đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt: Hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định trong thời hạn một năm liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 4% trong thời hạn 6 tháng liên tục.
- Đồng thời, Luật quy định theo hướng trao cho Ngân hàng Nhà nước thẩm quyền lớn hơn trong việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD như Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng vốn, xây dựng, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt, nếu chủ sở hữu không có khả năng hoặc không thực hiện việc tăng vốn; trực tiếp hoặc chỉ định TCTD khác góp vốn, mua cổ phần của TCTD được kiểm soát đặc biệt trong một số trường hợp nhất định….
11. Về chuyển tiếp áp dụng Luật các TCTD:
Để không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các TCTD được thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD năm 1997 và để TCTD đang hoạt động có đủ thời gian điều chỉnh tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật mới, Luật đưa ra các quy định về việc chuyển tiếp đối với các tổ chức đang hoạt động theo 3 nhóm:
- Các quy định của Luật mà TCTD phải tuân thủ ngay như các quy định về phạm vi hoạt động ngân hàng…;
- Các quy định của Luật sẽ được thực hiện chuyển tiếp trong thời hạn 02 năm như một số quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD…;
- Các quy định thực hiện chuyển tiếp theo hướng dẫn của NHNN đối với các quy định phức tạp cần có lộ trình cụ thể để tuân thủ như quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần, các quy định về góp vốn, mua cổ phần….
IV. Tổ chức thực hiện Luật các tổ chức tín dụng
Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011.  Để Luật có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Luật các tổ chức tín dụng với trọng tâm bao gồm nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến khác nhau như tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật, phối hợp với các trường ngân hàng đưa nội dung Luật vào chương trình giảng dạy cho cán bộ và sinh viên, xuất bản ấn phẩm hỏi đáp về Luật, giới thiệu nội dung của Luật trên các chuyên trang, chuyên mục của các phương tiện thông tin đại chúng… Đồng thời để bảo đảm có thể thực hiện ngay các quy định của Luật khi có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã và đang tiến hành rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật. Các quy định của Luật các tổ chức tín dụng được xây dựng theo hướng quy định chi tiết, cụ thể hóa ở mức tối đa. Do đó, sẽ giảm bớt số lượng lớn các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, còn một số vấn đề thuộc lĩnh vực điều hành nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước và một số nội dung khác không thể quy định ngay trong Luật mà cần văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo tính linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo dự kiến, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước theo thẩm quyền sẽ ban hành trong quý III, IV năm 2010 các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của Ngân hàng Nhà nước để hướng dẫn thi hành Luật. Ngoài ra, một số Nghị định hoặc văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước đang có hiệu lực vẫn tiếp tục được áp dụng và sẽ được sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.

Pháp luật – phương tiện quan trọng bảo vệ quyền con người

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 1 /2004
Pháp luật – phương tiện quan trọng bảo vệ quyền con người
NGUYỄN QUANG HIỀN
Phòng Đào tạo không chính quy trường ĐH Luật TP.HCM
Quyền con người là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm thay đổi nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1992 được ban hành, sửa đổi, bổ sung một số điều đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực với sự giám sát chặt chẽ của lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân. Sự nghiệp bảo vệ quyền con người đã trở thành ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân.
Thành tựu của công cuộc đổi mới đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam. Hàng loạt vấn đề mới xuất hiện, hàng loạt vấn đề của cơ chế cũ đang được xem xét, nhìn nhận lại trong điều kiện mới với sự hội nhập quốc tế và khu vực. Bằng sự đánh giá khách quan, khoa học ở Việt Nam và trên thế giới chúng ta càng nhận thức rõ hơn về những quyền con người.
Bảo vệ quyền con người là một quá trình. Nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa…) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu. Bởi vì, pháp luật có các đặc điểm mà các điều kiện khác không có như:
- Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người; các quyền đó được pháp luật hóa và mang tính bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ. Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua pháp luật thì quyền tự nhiên vốn có của con người chưa trở thành quyền thực sự. Ngược lại, quyền con khi đã được quy định trong pháp luật thì nó sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận phục tùng, được quyền lực Nhà nước tôn trọng bảo vệ. Khi quyền con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật thì nó sẽ trở thành “tối thượng” có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với cơ quan cao nhất của Nhà nước.
- Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người. Tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người được thể hiện ở các quy định về quyền con người trong pháp luật được đảm bảo bằng bộ máy, cách thức tác động quyền lực của Nhà nước, khi cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền con người, quyền công dân được thực hiện và bảo vệ. Bên cạnh đó, nhờ hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời.
- Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ở đây pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà nước mà còn là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện, bảo vệ quyền con người. Bởi vì pháp luật là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, do đó có thể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ quan tổ chức, công chức Nhà nước. Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nước và các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã hội, bởi vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý cho nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ xâm hại cao. Trong hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan hành chinh Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ làm phương hại đến các quyền con người, quyền công dân rất cao. Bởi vì, các quyết định quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật đều trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích của công dân.
Trong mối quan hệ với các cơ quan này, công dân là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi. Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữu hiệu hơn là sử dụng pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ lấy các quyền và lợi ích của mình. Chỉ có pháp luật, bằng các qui phạm pháp luật quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, các quyền và nghĩa vụ của công dân, mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa …) các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên qui mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người, cụ thể như:
+ Điều kiện chính trị: Đường lối chính trị của một quốc gia là nhằm xây dựng vào bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nền kinh tế phát triển, nền dân chủ thực sự. Đường lối chính trị đó phải được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp quy định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, tổ chức hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Đó chính là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hướng tới tôn trọng, bảo vệ quyền con người.
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều kiện tiên quyết bảo đảm Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. Muốn dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, tạo điều kiện bảo dảm thực hiện, bảo vệ quyền con người, muốn đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực trong cuộc sống xã hội thì sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật.
+ Điều kiện kinh tế: Phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện quyền con người. Nhưng muốn phát triển kinh tế thì đường lối chính sách, cơ chế phải được cụ thể hóa trong pháp luật. Pháp luật sẽ tạo khuôn khổ môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát huy được mọi tiềm năng, hạn chế được các mặt tiêu cực.
+ Điều kiện văn hóa: Phát triển văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí cũng phải được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, bảo đảm cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người được độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt. Mặt khác, pháp luật có vai trò giáo dục tích cực, mạnh mẽ đối với tất cả các thành viên trong xã hội góp phần hình thành văn hóa pháp lý ở mọi người, giúp cho mọi người biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, biết “tự bảo vệ” các quyền và lợi ích hợp pháp của mình và biết tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác trong cộng đồng.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta thấy pháp luật hiện diện ở tất cả các điều kiện khác, tạo cơ sở pháp lý cho các điều kiện ấy phát huy được vai trò và hiệu quả của chúng trong việc thực hiện quyền con người trên quy mô toàn xã hội.
- Pháp luật là phương tiện để thực hiện sự cam kết và hòa nhập giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo đảm việc bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Trong điều kiện hiện nay, nhiều nội dung cụ thể của quyền con người cũng như việc bảo vệ quyền con người đòi hỏi phải có sự đấu tranh, hợp tác giải quyết, phối hợp của nhiều quốc gia hoặc cộng đồng quốc tế (đấu tranh chống tội phạm, giải trừ vũ khí hạt nhân, đói nghèo và các vấn đế xã hội khác…). Những nội dung này đều là những vấn đề đòi hỏi cần có sự hợp tác, phối hợp của các quốc gia với nhau trong cộng đồng thế giới.
Trách nhiệm của các quốc gia khi tham gia ký kết, hay phê chuẩn các công ước, tuyên ngôn về quyền con người là phải thực hiện các cam kết đó, mỗi nước phải cụ thể hóa những quy định của pháp luật quốc tế sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của đất nước mình, hòa nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm thực hiện bảo vệ quyền con người trước cộng đồng quốc tế. Hơn nữa trong bối cảnh giao lưu, hòa nhập quốc tế giữa các nước ngày nay ngày càng mở rộng ở tất cả các lĩnh vực (lao động, học tập, kinh tế, ngoại giao, du lịch, hôn nhân…) vấn đề bảo vệ quyền con người của công dân ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài đang là vấn đề phức tạp cần quan tâm. Vì vậy cần phải có sự phối hợp hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan, mà phương pháp giải quyết đó là bằng con đường cụ thể hóa các quyền trong các văn bản pháp luật. Việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp sẽ tạo cơ sở pháp luật giải quyết vấn đề quyền con người trong điều kiện có xung đột pháp luật.
Từ các điều kiện của pháp luật như đã trình bày, chúng ta thấy pháp luật có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ quyền con người. Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật, phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật.
Thể chế hóa quyền con người trong hệ thống pháp luật, không chỉ là cụ thể hóa quyền con người thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân và những người không phải là công dân hoặc bị tước đi quyền công dân. Nó còn bao hàm cả việc quy định các hình thức, biện pháp xử lý những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân, quy định về tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước, chức năng nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công chức Nhà nước, xây dựng hệ thống các thủ tục trong tố tụng trong đó có tố tụng hình sự, cụ thể hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà các quốc gia đã tham gia ký kết hay phê chuẩn nhằm đảm bảo thực hiện bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật thành hệ thống các quy định nêu trên, nhưng nếu không có cơ chể bảo đảm thực hiện các quy định đó thì không thể nói đã có đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người. Vì vậy, phải triển khai các hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, giải thích pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật… nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho các thành viên xã hội, hình thành văn hóa pháp lý trong đời sống xã hội.
Đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, nhất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của bộ máy Nhà nước, phải bảo đảm cho các quy định nhằm thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân ngày càng giảm, còn có hiện tượng vi phạm thì càng phải được phát hiện, xử lý kịp thời.
Tóm lại, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người là hệ thống các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm cụ thể hóa, bảo đảm thực hiện bảo vệ quyền con người và cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó trong thực tiễn đời sống.
Quá trình thể chế hóa quyền con người, xây dựng các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật cũng chính là quá trình xây dựng đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa nếu việc tổ chức thực hiện không được thường xuyên. Khả năng bảo đảm bảo vệ quyền con người trong quá trình tổ chức thực hiện trước hết phụ thuộc vào chất lượng của việc thể chế hóa quyền con người tự nhiên thành quyền công dân, cùng với các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật như: bảo đảm tính cụ thể, đồng bộ thuận tiện khả thi của các quy định pháp luật về quyền công dân; xây dựng thiết chế tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước hướng đến mục tiêu thực hiện bảo vệ quyền con người; xây dựng hệ thống các thủ tục tố tụng ngăn ngừa sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng, hòa nhập pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

Sunday, January 5, 2014

Chuyên đề: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN.

I. Khái niệm

1)     Ngân hàng thương mại cổ phần:

Theo Nghị Định 49/2000/CP quy định về tổ chức và họat động của ngân hàng thương mại, tại Mục 2 Điều 37 Khỏan 1 quy định “Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nuớc và nhân dân (gọi tắt là ngân hàng thương mại cổ phần) là ngân hàng thuơng mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó doanh nghiệp nhà nuớc, tổ chức tín dụng nhà nước và tố chức khác, cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nuớc”.

Từ khái niệm trên ta thấy rằng, pháp lệnh của Việt Nam đặt ra điều kiên bắt buộc là đối với ngân hàng thuơng mại cổ phần phải có vốn góp của Nhà nước. Và trên thực tế ngòai quy định về mô hình ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước và nhân dân, pháp luật hiện hành không có quy định các mô hình thuơng mại cổ phần nào khác.

Điều này càng chứng minh một điều: Ngân hàng là một trong những ngành độc quyền của nứơc ta. Theo số liệu của Ngân hàng Trung Ương – SBV, tính đến tháng 8/ 2008, cả nước có 47 ngân hàng; trong đó, có 37 ngân hàng là ngân hàng thương mại cổ phần.Và tính cho đến thời điểm hiện nay, có 2 ngân hàng thương mại cổ phần là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP HCM.

Có cơ chế quản lý và điều hành kinh doanh năng động, với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, cho nên họat động của ngân hàng thương mại cổ phần rất đa dạn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Vì vậy, mô hình này ngày càng chiếm thị phần lớn và giữ vai trò ngày càng quan trong trên thị trường tài chính tín dụng.

2)     Hoạt động huy động vốn:

Vì ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng là tổ chức tài chính trung gian nên họat động huy động vốn trong ngân hàng  là họat động thu hút vốn từ 1 chủ thể đang tạm thời thừa vốn sang 1 chủ thể đang tạm thời thiếu vốn.

II. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần.

Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 49 quy định năm hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1)     Hình thức huy dộng vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các lọai tiền gửi khác của ngân hàng thương mại cổ phần.

Đây là hình thức huy động vốn quan trọng và nó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động của mỗi tổ chức tín dụng cũng như ngân hàng thương mại cổ phần.

Theo khỏan 9 Điều 20 LCTCTD thì “tiền gửi” là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi có thể được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.

a)     Tiền gửi không kỳ hạn:

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền (chủ tài khỏan) được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không bị rằng buộc về mặt thời gian.

Thông thường khách hàng sử dụng hình thức này nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh toán như trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ ATM, chuyển tiền… cho nên, tài khỏan này còn được biết với tên là tài khỏan thanh toán. Vì nhu cầu sử dụng chính của hình thức này là thanh tóan, nên mức lãi suất trên tài khỏan tiền gửi không phải là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng.

Tiền gửi không kỳ hạn được quản lý ở Ngân hàng thương mại cổ phần trên tài khỏan tiền gửi thanh toán hoặc tài khỏan vãng lai. Sở dĩ, tai khỏan thanh tóan còn được gọi là tải khỏan vãng lai vì trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua một loạt các kênh khác nhau.

Xét về tính chất thì tiền gửi không kỳ hạn không ổn định như tiền gửi có kỳ hạn mà biến động thường xuyên, nhưng trong thực tế ngân hàng vẫn sử dụng vào hoạt động cho vay và đầu tư trên cơ sở số dư ổn định.

b)     Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ có thế rút ra và được hưởng trọn vẹn lợi tức theo thời hạn đã quy định trước. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn, với điều kiện họ chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn.

Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, nên các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng thường chú trọng áp dụng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau.

Đối với khách hàng mục đích gửi tiền có kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở chỗ người gửi tiền nhắm tới khả năng sinh lời của tiền tệ, vì vậy đối với loại tiền gửi này, ngân hàng thương mại cổ phần phải trả lãi suất thỏa đáng cho khách hàng.

c)     Tiền gửi tiết kiệm:

Theo khoản 1 Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về quy chế tiền gửi tiết kiệm: “ Tiền gửi tiết kiệm là khỏan tiền của cá nhân được gửi vào tài khỏan tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”

Tiền gửi tiết kiệm có hai loại: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút ra bất kỳ lúc nào.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở chỗ: Tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh tóan bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khỏan tiền gửi tiết kiệm bằng Việt Nam đồng của người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh tóan tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khỏan khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khỏan tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là hình thức tiền gửi được rút ra sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên, nếu khách hàng có nhu cầu lúc trước hạn cũng có thể được đáp ứng nhưng phải chịu lãi suất thấp.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tương tự như tiền gửi có kỳ hạn chỉ khác ở chỗ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì người gửi tiền chỉ là cá nhân. Hai hình thức này là loại tiền gửi phi giao dịch. Chúng có cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khỏan không được phát hành séc.

Như vậy, với bốn hình thức trên và việc pháp luật quy định các loại tiền gửi và quyền huy động các khoản tiền gửi đối với từng tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng để nhằm mục đích:

+ Đối với ngân hàng: Đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh và khả năng chi trả bằng hoạt động huy động vốn hiệu quả. Thông qua đó nhà nước có thể kiểm soát hoạt động và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

        + Đối với khách hàng: Để người có tiền lựa chọn hình thức gửi thích hợp tùy thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của người gửi tiền.

2)    Hình thức huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần:

a)    Khái niệm:

Theo Khoản 1 Điều 4 07/2008/QĐ-NHNN về Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước : “Giấy tờ có giá là là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.

b)     Phân lọai giấy tờ có giá trong hoạt động huy đông vốn của ngân hàng thương mại cồ phần

v     Giấy tờ có giá ngắn hạn: theo Điều 4 Khỏan 2 Quy chế 07 về Phát hành giấy tờ có giá quy định: ”là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một 1 năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác”

+Kỳ phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác.

 +Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiên gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Như vậy, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn thì thời hạn tiền gửi sẽ dưới 1 năm

+ Tín phiếu: Ngân hàng thương mại cổ phần không được phép phát hành. Chỉ có Ngan hàng nhà nước mới có quyền phát hành và các ngan hàng khác có nghĩa vụ phải mua tín phiếu kho bạc với một khối lượng tín phiếu ấn định theo Quy định của pháp luật

v     Giấy tờ có giá dài hạn: theo Điều 4 Khoản 3 Quy chế 07 về Phát hành giấy tờ có giá quy định: ”là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác

+ Trái phiếu: theo Luật chứng khóan 2006 “Trái phiếu là loại chứng khóan xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành”

+Chứng chỉ tiền gửi dài hạn là chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm.Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu “có thể trao đổi”, nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chúng chỉ tiền gửi được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm

c)     Các yếu tố của giấy tờ có giá.

Hình thức hợp pháp chung cho các giấy tờ có giá được quy định tại Khoản 1 Điều 8 07/2008/QĐ-NHNN ,bao gồm các yếu tố sau:

- Tên tổ chức tín dụng phát hành

- Tên gọi giấy tờ có giá

- Mệnh giá là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ.

- Thời hạn là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày đến hạn thanh toán.

- Ngày phát hành

- Ngày đến hạn thanh toán.

- Lãi suất

- Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi,

- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá.

- Ghi rõ là giấy tờ có giá ghi danh hoặc vô danh.

Trường hợp là giấy tờ có giá ghi danh ghi rõ: Tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức); Tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).

- Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ: Thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu.

- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải ghi rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.

- Chữ ký của Tổng Giám đốc hay người được ủy quyền và các chữ ký khác do tổ chức tín dụng quy định.

- Ký hiệu, số sê-ri phát hành.

- Các điều kiện, điều khoản về chuyển nhượng, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá tại chính tổ chức tín dụng phát hành; Xử lý đối với các trường hợp rủi ro, các trường hợp không được thanh toán.

d)     Điều kiện để huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá .

Ngân hàng thương mại cổ phần muốn huy vốn bằng hình thức phát hành các giấy tờ có giá thì phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Đối với giấy tờ ngắn hạn thì việc phát hành phải thoả điều 18  07/2008/QĐ-NHNN :“Tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn khi tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.”

  • Đối với giấy tờ có giá dài hạn thì việc phát hành phải thỏa điều 22, 07/2008/QĐ-NHNN :“Tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá dài hạn khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

    • Tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

    • Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động.

    • Tổng lợi nhuận trước thuế so vốn chủ sở hữu của năm liền kề trước năm phát hành phải đạt từ 10% trở lên và tính đến thời điểm gần nhất phải có lãi.

    • Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng.”

e)     Trình tự và thủ tục phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại cổ phần muốn phát hành giấy tờ có giá phải lập hồ sơ đề nghị phát hành ,gửi đến Ngân hàng Nhà nước Trung Ương (Vụ chính sách tiền tệ) hoặc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

  • Trường hợp muốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn thì hồ sơ đề nghị phát hành bao gồm:

 

  • Điều lệ và giấy phép hoạt động(đối với ngân hàng cổ phần thương mại lần đầu)

  • Đơn đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính

  • Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.Trong đó nêu rõ; mục đích phát hành, phương án sử dụng, tổng số dư giấy tờ có giá ngắn hạn đầu năm tài chính,tổng mệnh giá phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính,số đợt, thời điểm dự kiến phát hành, đồng tiền phát hành)

  • Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành.

  • Kế hoạch kinh doanh trong năm tài chính.

  • Các thay đổi về bộ máy tổ chức và thay đổi khác nếu có.

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần thì ngân hàng nhà nước có quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận đề nghị trên.

  • Trường hợp muốn phát hành giấy tờ có giá dài hạn thì hồ sơ đề nghị phát hành bao gồm:

  • Điều lệ và giấy phép hoạt động(đối với ngân hàng cổ phần thương mại lần đầu)

  • Mẫu giấy tờ có giá phá hành

  • Đơn đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính hoặc dài hạn

  • Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.Trong đó nêu rõ; mục đích phát hành, phương án sử dụng, tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá,tên gọi của giấy tờ có giá, thời hạn lãi suất, phạm vi phát hành,cách thức địa điểm trả gốc và lãi

  • Các điều kiện về quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại cổ phần và người mua

  • Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành.

  • Kế hoạch kinh doanh trong năm tài chính

  • Các thay đổi về bộ máy tổ chức và thay đổi khác nếu có

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần thì ngân hàng nhà nước có quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận đề nghị trên.

Thời điểm ngân hàng thương mại cổ phần phát hành giấy tờ có giá dài hạn là chậm nhất không quá 45 ngày kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận.

Trước khi phát hành thì phải công bố công khai trên thông tin đại chúng trong thời gian tối thiểu 5 ngày về việc phát hành giáy tờ có giá.

 Đặc điểm của hình thức huy động vốn bằng giấy tờ có giá:

 

Về phương diện kinh tế, giao dịch phát hành giấy tờ có giá được hiểu là một nghiệp vụ huy động vốn của tổ chức tín dụng. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua việc tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng các giấy tờ có giá dưới dạng chứng khoán nợ để vay tiền của công chúng, với cam kết hoàn trả số tiền đó kèm theo một khoản lãi vào ngày đáo hạn. Số vốn huy động bằng việc phát hành các chứng khoán nợ ra công chúng được coi là một thành tố quan trọng trong cấu trúc tài sản Nợ của tổ chức tín dụng, cùng với các bộ phận khác của tài sản Nợ như tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, hay tiền gửi tiết kiệm, các khoản vay Ngân hàng Trung ương và vay của các định chế tài chính phi ngân hàng khác…

Về phương diện pháp lý, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng được hiểu là hành vi pháp lý theo đó tổ chức tín dụng cam kết vay tiền của khách hàng là tổ chức, cá nhân trong một thời hạn nhất định với điều kiện sẽ hoàn trả cho khách hàng số tiền ghi trên chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành.

Giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, về bản chất pháp lý, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ra công chúng thực chất là một hành vi vay tiền của khách hàng chứ không phải là hành vi “bán” giấy tờ có giá cho khách hàng. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là bởi vì, trong quan hệ giao dịch này, tổ chức tín dụng không hề có quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá mà nó dự định phát hành, nên không thể đóng vai trò là người bán. Mặt khác, trước khi các giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng chuyển giao cho khách hàng sở hữu như một chứng thư xác nhận quyền chủ nợ và tổ chức tín dụng cũng chưa nhận được nguồn vốn tiền tệ do khách hàng chuyển giao thì các chứng thư này thực chất chưa hề có giá trị thực tế, nghĩa là không thể hoán đổi chúng thành tiền hay các tài sản khác có giá trị tương đương với số tiền ghi trên mệnh giá của chứng thư. Điều đó cho thấy, chỉ khi nào khách hàng chấp nhận trao đổi chứng thư đó với tổ chức tín dụng bằng số tiền tương đương mệnh giá của chứng thư thì khi đó, chứng thư này mới thực sự là có giá trị và mới phản ánh đúng tên gọi của nó là “giấy tờ có giá” hay “tư bản giả”.

Hai là, về đối tượng của giao dịch, mặc dù tên gọi của giao dịch là “phát hành các giấy tờ có giá” nhưng đối tượng của giao dịch này không phải là các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành, mà chính là các khoản tiền vốn do khách hàng đồng ý chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng với điều kiện tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho khách hàng sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Về lý thuyết, tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư này được coi là hình thức pháp lý của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ giao dịch. Mặt khác, xét về phương diện kinh tế, các chứng thư này cũng được coi là một loại “tiền ngân hàng” nhưng không phải là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành, mà là tiền được tạo ra bởi tổ chức tín dụng trong quá trình huy động vốn, thông qua chức năng “tạo tiền” của tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng có thể là chứng khoán nợ ngắn hạn – có thời hạn thanh toán dưới 1 năm, ví dụ chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu của tổ chức tín dụng, hoặc là chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn thanh toán từ 1 năm trở lên, ví dụ chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…).

Sự phân biệt giữa hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát hành và lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi tổ chức tín dụng (phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?).

Ba là, về tư cách pháp lý, khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng, tổ chức tín dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ, còn khách hàng “mua” giấy tờ có giá có tư cách là người cho vay hay chủ nợ của tổ chức tín dụng. Mặc dù có tư cách là người cho vay nhưng do giao dịch này được tổ chức tín dụng và khách hàng xác lập, thực hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc, khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kỳ hạn như trong trường hợp họ gửi tiền có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng (bằng cách chịu lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi). Nếu muốn thu hồi vốn về trước kỳ hạn, cách duy nhất là người sở hữu giấy tờ có giá (bên cho vay) ký hợp đồng chuyển nhượng chứng thư đó cho người khác (chẳng hạn, có thể “bán” cho ngân hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán).

Những đặc trưng pháp lý trên đây cho ta thấy, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là một loại hình giao dịch huy động vốn khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này còn được phản ánh cả trong cơ chế hình thành quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có giá.

3)     Hình thức vay vốn của ngân hàng thương mại cổ phần đối với tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tố chức tín dụng nước ngoài

a)     Khái niệm và đặc điểm:

“Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của tổ chức tín dụng (bên cho vay) cho một tổ chức tín dụng khác (bên vay)” theo quy định tại Điều 47 Luật các tổ chức tín dụng.

Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế xã hội, pháp luật còn cho phép ngân hàng thương mại cổ phần được vay vốn của các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước (theo khoản 3 Điều 3 NĐ 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại).

Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ, và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng vay và cho vay là tất cả các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động ở Việt Nam theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm:

+Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác.

+Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; Ngân hàng liên doanh.

+Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

+Quỹ tín dụng nhân dân.

Về nguyên tắc, khi thực hiện việc cho vay, đi vay các bên phải bảo đảm các nguyên tắc: i) Bên vay phải hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay và các loại phí (nếu có) đúng hạn cho bên cho vay. ii) Việc cho vay, đi vay giữa các bên phải bảo đảm an toàn, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Về lãi suất, do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên có thể thoả thuận áp dụng lãi suất quá hạn đối với số tiền vay không hoàn trả đúng hạn và không được bên cho vay gia hạn. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay.

Về thời hạn cho vay, các bên có thể thỏa thuận cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng, cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, cho vay dài hạn: từ trên 60 tháng.

Về biện pháp bảo đảm, các bên thoả thuận việc áp dụng hoặc không áp dụng hình thức bảo đảm đối với khoản vay trong từng trường hợp cụ thể. Hình thức bảo đảm cho khoản vay bao gồm bảo đảm bằng tài sản, bảo lãnh của một tổ chức tín dụng khác. Việc áp dụng hình thức bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về phương thức cho vay, các bên thoả thuận áp dụng phương thức cho vay từng lần, theo hạn mức tín dụng hoặc các phương thức khác phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về đồng tiền giao dịch, các tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay, đi vay lẫn nhau bằng ĐồngViệt Nam. Tổ chức tín dụng được cho vay bằng ngoại tệ hoặc đi vay bằng ngoại tệ hoặc được thực hiện cả cho vay và đi vay bằng ngoại tệ, trên cơ sở phạm vi hoạt động ngoại hối được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

b)     Về quyền và nghĩa vụ các bên:

  • Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

  • Yêu cầu bên vay cung cấp các tài liệu cần thiết liên quan đến khoản vay; từ chối yêu cầu xin vay của bên vay nếu thấy không đủ điều kiện cho vay;

  • Có quyền yêu cầu bên vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khoản cho vay;

  • Gia hạn khoản vay, điều chỉnh các kỳ hạn trả nợ; giảm lãi suất cho vay, chuyển nợ quá hạn;

  • Yêu cầu bên vay trả nợ trước hạn nếu các bên có thoả thuận về việc trả nợ trước hạn, các điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ trước hạn của bên vay và bên vay vi phạm một trong các điều kiện đó;

  • Khi đến hạn trả nợ mà bên vay, bên bảo lãnh không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, nếu các bên không có thoả thuận nào khác, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay hoặc khởi kiện bên vay, bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật;

  • Thực hiện các cam kết đã thoả thuận với bên vay.

  • Quyền và nghĩa vụ của bên vay

  • Trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc, lãi và các loại phí (nếu có) theo thoả thuận;

  • Cung cấp trung thực các thông tin, tài liệu có liên quan theo yêu cầu của bên cho vay;

  • Có quyền trả nợ trước hạn nếu hai bên có thoả thuận hoặc khi được bên cho vay chấp thuận;

  • Thực hiện các cam kết khác đã thoả thuận với bên cho vay;

  • Khởi kiện bên cho vay theo quy định của pháp luật nếu bên cho vay vi phạm các cam kết đã thoả thuận.

  • Tổ chức tín dụng phải tổng hợp, báo cáo Ngân hàng Nhà nước tình hình thực hiện cho vay và đi vay với các tổ chức tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Khi tổ chức tín dụng thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng nước ngòai. Hoạt động vay vốn của các tổ chức tín dụng nước ngòai do tổ chức tín dụng thực hiện thuộc diện quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, Ngân hàng thương mại cổ phần có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác. Hoạt động vay mượn này nhằm mục đích điều hòa nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển thông suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng.

4)     Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khỏan 1 Điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

a)      Điều kiện để được vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Trung Ương

            Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một Ngân hàng thương mại cổ phần cũng khó tránh những rủi ro, có thể thiếu vốn ngắn hạn để chi trả hoặc quá kẹt tiền mặt. Với vai trò là Ngân hàng của các ngân hàng, ngận hàng Trung Ương là cứu tinh của các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng trong những hòan cảnh như trên, và là nguổn vay cuối cùng.

Vai trò của Ngân hàng Trung Ương là quản lý Nhà nước về mặt tiền tệ cũng như giúp cho việc lưu thông tiền tệ được trôi chảy nguồn vốn của ngân hàng Trương Ương phải điều phối liên tục, vì vậy Ngân hàng thương mại cổ phần chỉ được phép vay vốn ngắn hạn từ Ngân hàng Trung Ương..

            Đặc biệt, trong trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống tiền tệ của các tổ chức tín dụng thì các Ngân hàng Thương mại cổ phần có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay khôi phục chi trả khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của Ngân hàng thương mại cổ phần.(Điều 96 Luật các tổ chức tín dụng 1997, K2 Điều 30 Luật  Ngân hàng Nhà nước 2003)

b)     Các loại hình cho vay vốn của Ngân hàng Trung Ương với Ngân hàng thương mại cổ phần:

            Các Ngân hàng thương mại vổ phần có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay với các loại hình sau :

  • Hình thức tái cấp vốn

            Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.Theo Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2004, công cụ tái cấp vốn được Nhà nước sử dụng dưới các hình thức như:

  • Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn.

  • Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.

  • Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.

+ Trong tài chínhchiết khấu là quy trình xác định giá trị hiện tại của một lượng tiền tệ tại một thời điểm trong tương lai và việc thanh toán tiền dựa trên cơ sở các tính toán giá trị thời gian của tiền tệ.

+Tái chiết khấu là việc ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng trung ương thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán và đáng tin cậy thuộc sở hữu của các ngân hàng khác theo tỉ suất tái chiết khấu nhất định. Các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàngchiết khấu, tái chiết khấu trên thị trường cấp.

+ Thương phiếu, theo  “Pháp lệnh thương phiếu và Nghị định số 32/2001/NĐ CP ngày 5-7-2001của Chính phủ hướng dẫn thi hành của Pháp lệnh thương phiếu” :

“1- Thương phiếu là chứng chỉ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định.

 2- Thương phiếu theo Luật này gồm hối phiếu và lệnh phiếu.”

  • Hình thức cho vay thanh toán

              Khi các Ngân hàng Thương mại cổ phần tham gia hệ thống thanh toán bù trừ (Bao gồm cả thanh toán bù trừ thủ công và thanh toán bù trừ điện tử) nếu Ngân hàng nào thiếu vốn để thanh toán, thì sẽ được Ngân hàng Nhà nước tạm thời cho vay để đảm bảo các khoản giao dịch thanh toán bù trừ được thực hiện. Nhờ loại vay này mà hệ thống thanh toán bù trừ được tiến hành một cách thuận lợi, trôi chảy.

Thanh toán bù trừ là một phương thức thanh toán trong ngoại thương, trong đó tiền hàng không được thanh toán trực tiếp và ngay giữa người bán và người mua mà được ghi vào một tài khoản được gọi là tài khoản Clearing, đến cuối kỳ tiến hành bù trừ giữa tài khoản của hai bên. Cụ thể là, tài khoản Clearing được chia làm hai bên, bên Nợ và bên Có, thường là trong một năm xuất hiện nhiều thương vụ giữa bên A và bên B, khi bên A mua của bên B một lô hàng thì trị giá hàng sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản bên A và Nợ vào tài khoản bên B, còn nếu bên B mua của bên A một lô hàng thì trị giá sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản B và ghi vào bên Nợ của tài khoản A. Đến cuối năm sẽ tiến hành bù trừ giữa bên Có và Nợ của hai tài khoản, và theo nguyên tắc số liệu cuối cùng ở hai tài khoản phải trùng khớp nhau. Khi đó nếu tài khoản A có số dư bên Có, tức là tài khoản B sẽ có số dư bên Nợ, và số dư đó chính là số tiền mà bên B phải thanh toán cho bên A. Ngược lại, nếu tài khoản B có số dư bên Có, tức là tài khoản A có số dư bên Nợ, lúc đó số dư đó chính là khoản tiền mà bên A phải trả cho bên B

                Khi cho vay thanh toán, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng một trong hai phương thức cho vay sau: Cho vay qua đêm ( Over night lend) hoặc cho vay thấu chi (overdrapt).

  • Cho vay qua đêm (Overnight lend)

+ “Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các ngân hàng vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá trong khoảng thời gian tính từ cuối ngày làm việc hôm trước đến 8 giờ 30 phút ngày làm việc liền kề tiếp theo.” Theo điều 2 khỏan 2 quyết định số 04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nứơc về vay thấu chi và cho vay qua đêm.

+Theo đó, mục đích của vay qua đêm nhằm để tất toán khoản thấu chi tại thời điểm cuối ngày làm việc.

  • Cho vay thấu chi (overdrapt):

+Theo quyết định số 04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nứơc về vay thấu chi và cho vay qua đêm, tại Điều 2 khỏan 1 quy định :”Thấu chi trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc các ngân hàng được chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại Sở Giao dịch – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngày thanh toán.”

+Cho vay thấu chi là việc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản cho Ngân hàng thương mại cổ phần hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản vãng lai thanh toán của mình. Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần một hạn mức sử dụng tiền trên tài khoản tại ngân hàng Trung Ương, với hạn mức thấu chi này, Ngân hàng đi vay có thể dùng tiền trong hạn mức này khi tài khoản không có số dư. Cho nên mục đích của vay thấu chi là để giúp Các ngân hàng được thấu chi để bù đắp thiếu hụt vốn thanh toán tạm thời trong ngày trong thanh toán điện tử liên ngân hàng(theo Điểu 3 khỏan 1 của Quyet định 04/2007)

+ Đặc điểm của hình thức cho vay thấu chi:

  • được thực hiện trên tài khoản vãng lai

  • chủ yếu nhằm mục đích cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nảy sinh bất chợt, ngân hàng có thể tùy vào uy tín hoặc chính sách của mình mà cấp cho hạn mức thấu chi có tài sản đảm bảo hoặc không

  • lãi suất thấu chi rất cao, gấp 1,5 lần lãi suất vay thông thường.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ ngân hàng thương mại cổ phần nào cũng được quyền vay thấu chi hay được vay qua đêm. Muốn thực hiện được hình thức cho vay thanh tóan này Ngân hàng Trung Ương đỏi hỏi Ngân hàng Thương mại cổ phần phải thỏa mãn những điều kiên nhât định như sau:

  • Có giấy đề nghị thấu chi và vay qua đêm được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp nhận;

  • Thừa nhận và chấp hành các quy định của Quyết định này;

  • Có tài sản cầm cố để thực hiện bảo đảm tiền vay.

5)     Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

-         Khoản vay đặc biệt :Điều 96 LTCTD “Trong trường hợp cấp bách để bảo đảm khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng , TCTD có thể được các TCTD khác hoặc NHNN cho vay đặc biệt . Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước các khoản nợ khác của TCTD”

 

-         Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại cổ phần có thực hiện nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng. Như vậy, NH đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký quỹ (điều 360 cua Bộ Luật Dân Sự 2005) vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.

-         Ngân hàng thương mại cổ phần có thể huy động vốn từ hình thức như: Tiền gửi để bảo đảm thanh tóan trong các hợp đồng mua bán, đặc biệt là hợp đồng mua bán có yếu tố nứơc ngoài.

-         Ngoài ra, Ngân hàng thương mại cổ phần còn có các nguồn vốn khác phát sinh trong quá trình hoạt động như các khỏan phải trả, các khoản tiềm tạm gửi theo quyết định của tòa án..

-         Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại cổ phần có thể từ nguồn vốn tài trợ của Chính phủ, của các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức đoàn thể-xã hội để tài trợ cho các chương trình dự án về phát triển kinh tế- xã hội, cải tạo môi trường sinh thái…và đuợc chuyển qua ngân hàng thương mại cổ phần thực hiện.

 +    Nguổn vốn tiếp nhận này vì đã có đối tượng sử dụng xác định với mục đích cụ thể, rõ ràng, nên các Ngân hàng thương mại cổ phần nào được tiếp nhận nguồn vốn này đều bắt buộc phải thực hiện đúng hướng dẫn và yêu câu của nhà tài trợ

+    Khi thực hiện các dịch vụ, Ngân hàng huy động được vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc bên nước ngoài. Trong thời gian chờ giải ngân, Ngân hàng thương mại có thể huy động  làm nguồn vốn kinh doanh.

            +    Chỉ những Ngân hàng thương mại cổ phần nào có uy tín, có đủ điều kiện về mạng lưới, về đội ngũ cán bộ chuyên môn và yêu cầu trình độ kỹ thuật, mới có thể tiếp nhận được nguồn vốn tài trợ.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code